Chuyên dề Phát triển năng lực cho học sinh Tiểu học

doc 59 trang ngocly 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên dề Phát triển năng lực cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docchuyen_de_phat_trien_nang_luc_cho_hoc_sinh_tieu_hoc.doc

Nội dung text: Chuyên dề Phát triển năng lực cho học sinh Tiểu học

  1. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net PHẦN I : MỞ ĐẦU I.Nhiệm vụ của dạy học tập đọc ở tiểu học 1. Đọc là gì? Để xác định được nhiệm vụ của dạy đọc cần làm rõ “Đọc là gì?”. Trong thực tế dạy đọc, người ta thường hay phiến diện và cực đoan, không hiểu khái niệm “đọc” một cách đấy đủ. Nhiều khi người ta thường nói đến đọc như nói đến việc sử dụng bộ mã chữ - âm, cho rằng đọc là nhìn chữ phát ra thành lời, nghĩa là đã đọc thì phải thành tiếng. Vì vậy họ đánh giá một giờ dạy chỉ dựa vào một căn cứ duy nhất : đếm xem có bao nhiêu em được đứng dậy đọc. Ngược lại, có người lại quan niệm đọc chỉ là để hiểu những nghĩa lý những gì được đọc, tức là tìm hiểu bài. Vì vậy, thầy - trò sa vào hỏi đáp về văn bản, sa vào bình giá mà không chịu đọc chính văn bản đó. Có nhiều định nghĩa về đọc và mỗi định nghĩa thường nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau của đọc. Trong cuốn “Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga” (1988), Viện sỹ M.R.Lơvôp đã định nghĩa : “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)”. Đây là một định nghĩa rất phù hợp với dạy học Tập đọc ở tiểu học. Định nghĩa này thể hiện một quan điểm đầy đủ về đọc, xem đó là một quá trình giải mã bậc hai : chữ viết → âm thanh và chữ viết (âm thanh) → nghĩa. Như vậy, đọc không chỉ là “đánh vần”, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, cũng không chỉ là quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc. Đó chính là một sự tổng hợp của cả hai quá trình này. 2. Ý nghĩa của dạy học Tập đọc ở tiểu học Dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên, trẻ em phải học đọc, sau đó các em phải đọc để học. Đọc giúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dung trong giao tiếp và học tập. Đọc là một công cụ để học tập các môn học. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ 1 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  2. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net học tập. Đọc tạo điều kiện để học sinh có khă năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Chính vì vậy, trường tiểu học có nhiệm vụ dạy đọc cho học sinh một cách có kế hoạch và có hệ thống. Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này – đó là hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh. 3. Nhiệm vụ của dạy học Tập đọc ở tiểu học Phân môn Học vần (thực hiện nhiệm vụ dạy học chữ) cũng thực hiện nhiệm vụ dạy đọc nhưng mới dạy đọc ở mức sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ - âm. Hết lớp 1, học sinh có nhiệm vụ phải đọc trơn tiếng (âm tiết). Việc đọc trơn các từ, ngữ đoạn, câu chưa trở thành yêu cầu bắt buộc. Việc thông hiểu văn bản chỉ đặt ra ở mức độ thấp và chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang nghĩa (đọc thầm). Như vậy, Tập đọc với tư cách là một phân môn Tiếng Việt tiếp tục những thành tựu dạy học mà Học vần đạt được, năng lên đầy đủ, hoàn chỉnh hơn. Tính đa nghĩa của đọc kéo theo tính đa nghĩa của “biết đọc”. “Biết đọc” được hiểu theo nhiều mức độ. Một em bé mới đi học, biết đánh vần “cờ - o - co”, ngập ngừng đọc từng tiếng một, thế cũng gọi là đã biết đọc. Đọc, thâu tóm được tư tưởng của một cuốn sách trong vài ba trang cũng là biết đọc. Chọn trong biển sách báo của nhân loại những gì mình cần, trong một ngày nắm được tinh thần của hàng chục cuốn sách cũng gọi là biết đọc. Những năng lực này không phải tự nhiên mà có. Không thể chờ đợi gặt hái những gì mà ta không gieo trồng. Nhà trường phải từng bước hình thành và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên. 3.1. Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của đọc : đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc hay (mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm). Cần phải hiểu kỹ năng đọc có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau. Đầu tiên đọc là giải mã chữ - âm một cách sơ bộ. Tiếp theo, đọc là phải hiểu nghĩa của từ, tìm được các từ chìa khóa, câu “chìa khóa” (câu trọng yếu, câu chốt) trong bài, biết tóm tắt nội dung của đoạn ; với 2 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  3. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net những bài văn, biết phát hiện ra những yếu tố “văn” và đánh giá được giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Như vậy, lúc này biết đọc đồng nghĩa với việc có kỹ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản (bài khóa) ở các tầng bậc khác nhau : nội dung các sự kiện, cấu trúc, chủ đề, các phương tiện biểu đạt. Bốn kỹ năng của đọc được hình thành trong hai hình thức đọc : đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng khác. Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và đọc diễn cảm được. Cũng như khó mà nói ra được con gà đẻ ra quả trứng hay quả trứng nở ra con gà, nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc được đúng. Vì vậy, trong dạy đọc, không thể xem nhẹ kỹ năng nào cũng như không thể tách rời chúng. 3.2. Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách vở là một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trường, đó là một trong những điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa. Nói cách khác, thông qua việc dạy học phải làm cho học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có ích lợi cho các em trong cả cuộc đời. phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển. 3.3. Vì việc học không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh những nhiệm vụ rèn kỹ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh. Đọc một cách có ý thức sẽ tác động tích cực tới ngôn ngữ và tư duy của người đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh Dạy đọc không chỉ giáo dục tư tưởng, đạo đức mà còn giáo dục tính cách , thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh. 3 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  4. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Như vậy, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. II.Các cơ sở khoa học để tổ chức dạy học tập đọc ở tiểu học Phương pháp dạy học Tập đọc phải dựa trên những cơ sở khoa học. Nó phải dựa vào những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học, văn học, sư phạm học, tâm lý ngữ học để xây dựng, xác lập nội dung và phương pháp dạy học. Bốn phẩm chất của đọc và cách thức tạo ra chúng không tách rời các cơ sở khoa học này. Thuộc ngôn ngữ học là vấn đề về chính âm, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học) ; vấn đề nghĩa của từ, câu, đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học) ; vấn đề dấu câu, các kiểu câu (thuộc ngữ pháp học) ; vấn đề lý thuyết giao tiếp và tiếp nhận văn bản (thuộc dụng học). Các cơ sở văn học sẽ giúp cho việc đọc hiểu văn bản văn chương. Những hiểu biết về lý thuyết dạy học hiện đại và cơ chế của đọc sẽ giúp chúng ta tổ chức dạy học Tập đọc một cách có hiệu quả. Vai trò quyết định chất lượng dạy học chính là ở giáo viên. Nguyên nhân quan trọng nhất làm cho chất lượng dạy Tập đọc chưa tốt cũng chính là ở những hạn chế của giáo viên. Nhìn chung, hiện nay giáo viên của chúng ta vẫn còn thiếu hụt các kỹ năng đọc, vì vậy không làm chủ được các nội dung dạy học Tập đọc. Nhiều giáo viên đọc không đúng chính âm, đọc không hay, hiểu không đúng những điều được đọc từ cấp độ từ đến câu, đoạn và cả nội dung, đích thông báo của toàn văn bản. Nhiều giáo viên cảm thụ văn học còn yếu. Giáo viên cũng bị thiếu hụt các kỹ năng dạy học Tập đọc, không làm chủ được các phương pháp, thủ pháp dạy học Tập đọc ở tiểu học. Nhiều giáo viên không biết chữa các lỗi phát âm cho học sinh, không có biện pháp luyện cho học sinh đọc to, đọc nhanh, đọc diễn cảm, cũng như không biết một cách nào khác để tổ chức hoạt động “chiếm lĩnh” nội dung văn bản được đọc ngoài cách nói ra những điều mình hiểu biết, cảm nhận về tác phẩm. Sau đây, chúng ta đi vào nghiên cứu các cơ sở cũng như những căn cứ của dạy học đọc, xác định những kiến thức và kỹ năng người giáo viên cần có để tổ chức dạy học đọc ở tiểu học. 1.Cơ chế của đọc 4 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  5. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc đã diễn ra như thế nào và bản chất của kỹ năng đọc là gì. Cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy đọc vì nó sẽ giúp chúng ta xác định mục đích, nội dung của quá trình đọc, cũng như xác định mục đích, nội dung của quá trình dạy học đọc. Đọc là biến hình thức chữ viết của văn bản thành hình thức âm thanh để người đọc, người nghe hiểu được những điều mà tác giả nói qua chữ viết. Đọc là hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác. Chúng ta đi vào xem xét đặc điểm của quá trình này. Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện. Thứ nhất, đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Quá trình này gọi là quá trình đọc thành tiếng. Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là mối lien hệ giứa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc. Quá trình này gọi là quá trình đọc hiểu. Mục đích của đọc thành tiếng là chuyển đổi chính xác và ngày càng nhanh các ký hiệu văn tự thành các ký hiệu âm thanh. Vì vậy, chất lượng của đọc thành tiếng trước hết được đo bằng hai phẩm chất : đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy). Đó cũng chính là hai kỹ năng đầu tiên của đọc. Khi đọc hiểu, mục đích của người đọc là làm rõ nghĩa các ký tự, làm rõ nội dung và đích thông báo của văn bản. Lúc này quá trình đọc không chỉ là sự vân động của cơ quan thị giác và cơ quan phát âm mà còn là sự vận động của trí tuệ. Vì vậy, đọc có ý thức là một yêu cầu quan trọng của đọc, trở thành một kỹ năng của đọc. Ở đây ta gọi là kỹ năng đọc hiểu. Giao tiếp có hai bình diện : tiếp nhận và sản sinh. Đọc hiểu là tiếp nhận, đọc cho mình. Đọc thành tiếng khác đọc hiểu ở chỗ nó không chỉ là hoạt động tiếp nhận nhằm cho mình mà còn là hoạt động nhằm làm cho người khác cũng tiếp nhận được văn bản giống mình. Vì vậy, khi đọc thành tiếng, người đọc đã tham gia vào quá trình tái sinh văn bản. Lúc này anh ta còn có nhiệm vụ truyền cảm xúc của văn bản mà 5 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  6. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net mình đã tiếp nhận được đến người nghe. Chính vì vậy, diễn cảm (có người gọi là truyền cảm) là một phẩm chất cần có của đọc thành tiếng và trở thành một yêu cầu của kỹ năng đọc. Như vậy, đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc. Càng ngày những yếu tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn. Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân biệt người mới biết đọc với người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, chính xác và biểu cảm bấy nhiêu. Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa : theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh) ; theo nghĩa rộng, đọc được hiểu là kỹ thuật đọc cộng với sự thông hiểu điều được đọc (không chỉ hiểu nghĩa của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài). Ý nghĩa hai mặt của thuật ngữ “đọc” được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương pháp dạy học. Từ đây, chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai – đọc được xem như là một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố : ●Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ. ●Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc trơn từng tiếng tùy thuộc vào trình độ nắm kỹ thuật đọc. ●Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài). b. Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài. T.G.Egôrôp (dần theo TLTK 35 ; tr. 101) chia việc hình thành kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn : ●Phân tích. ●Tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động). ●Giai đoạn tự động hóa. 6 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  7. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Giai đoạn dạy học vần (lớp 1) là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo phát âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó sự tiếp nhận “từ” bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp theo, sự thông hiểu ý nghĩa của “từ” trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức là đọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa. Bước sang lớp 2, lóp 3, học sinh bắt đầu đọc tổng hợp. Trong những năm cuối cấp, đọc ngày càng tự động hóa, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh văn bản (bài khóa) : nội dung các sự kiện, cấu trúc, chủ đề, các phương tiện biểu đạt của nó. Thời gian gần đây, người ta đã chú trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng đọc và hình thành kỹ năng làm việc với văn bản, nghĩa là đòi hỏi tổ chức giờ Tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng thời hướng đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc. Việc đọc như thế nhằm vào sự nhận thức. Chỉ có thể xem là đứa trẻ biết đọc khi nó đọc mà hiểu được những điều mình đọc. Đọc là hiểu nghĩa cảu chữ viết. Nếu trẻ không hiểu những từ ta đưa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành công. Do đó, hiểu những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ, hứng thú cho việc đọc. Việc đọc không thể tách rời khỏi việc chiếm lĩnh một công cụ ngôn ngữ (ở đây là tiếng Việt). Mục đích này chỉ có thể đạt được thông qua con đường luyện giao tiếp có ý thức. Một phương tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu phải đạt tới trong sự chiếm lĩnh ngôn ngữ chính là việc đọc, cả đọc thành tiếng và đọc thầm. Quy trình hiểu văn bản bao gồm các bước sau : Hiểu nghĩa các từ, các ngữ. Hiểu các câu. Hiểu các khối đoạn, những là những tập hợp câu dung để phát biểu một ý trọn vẹn mà phức hợp. Hiểu được cả bài. 7 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  8. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu được những điều mình đọc. Hầu như toàn bộ sức chú ý của các em đều tập trung vào việc nhận ra mặt chữ, đánh vần để phát thành âm. Còn nghĩa thì chưa có đủ thì giờ và sức lực để nhận biết. Mặt khác, do vốn từ còn ít, năng lực liên kết thành câu, thành ý còn hạn chế, nên việc hiểu và nhớ nội dung còn khó khăn. Đây là cơ sở để xuất hiện các biện pháp hình thành năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học. 2. Bình diện ngữ nghĩa của văn bản và luyện đọc hiểu ở tiểu học 2.1. Ý nghĩa của dạy đọc hiểu Như ta đã biết, đọc không chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng các ký hiệu chữ viết mà quan trọng hơn, đọc còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc. Đọc thành tiếng không tách tời với việc đọc hiểu những gì được đoc. Chỉ khi biết cách hiểu, hiểu thấu đáo các văn bản được đọc thì học sinh mới có công cụ để lĩnh hội tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản, có công cụ để lĩnh hội tri thức khi học các môn khác của nhà trường. Chính nhờ biết cách đọc hiểu văn bản mà học sinh dần dần có khả năng đọc rộng để tự học, tự bồi dưỡng kiến thức về cuộc sống, từ đó hình thành thói quen, hứng thú với việc đọc sách, với việc tự học thường xuyên. Các tài liệu dạy học của nước ngoài cũng nhấn mạnh sự thông hiểu trong khi đọc. “Đọc là để hiểu nghĩa chữ in” và đề lên thành nguyên tắc phải cho trẻ hiểu những từ đang học đọc, xem việc hiểu những được đọc là động cơ, cái tạo nên hứng thú, tạo nên thành công học đọc của trẻ (xem TLTK 35). Ngay cả giai đoạn đầu lớp 1, khi mục đích chính của dạy học là dạy kỹ thuật đọc, chú trọng mặt phân giải âm thanh của tiếng, cũng vẫn phải chú ý đến việc chọn ngôn liệu để học âm, vần, thanh sao cho việc dạy chữ gắn với việc dạy nghĩa. Đích cuối cùng của dạy đọc là dạy cho học sinh kỹ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản. biết đọc cũng là biết tiếp nhận, xử lý thông tin. Chính vì vậy dạy đọc hiểu có vai trò đặc biệt trong dạy đọc nói riêng, trong dạy học ở tiểu học nói chung. 8 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  9. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Trong khi đó, việc quan sát thực trạng dạy học Tập đọc trên cả hai đối tượng giáo viên và học sinh cho thấy rằng kỹ năng đọc hiểu của cả thầy và trò tiểu học đều yếu. Ngay cả giáo viên cũng có những cách hiểu và giải thích rất sai về các bài đọc ở tiểu học. Học sinh đọc mà không nắm được điều gì là cốt yếu trong văn bản. Kết quả học đọc của học sinh chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành một kỹ năng giao tiếp quan trọng. Nguyên nhân chính của hạn chế này là do giáo viên chưa nắm chắc nội dung và phương pháp dạy đọc hiểu. Sau đây chúng ta đi vào xem xét các cơ sở để xác định nội dung dạy đọc hiểu một bài. 2.2. Văn bản với vấn đề đọc hiểu Để làm rõ dạy đọc hiểu nghĩa là làm gì, chũng ta cần hiểu rõ đối tượng mà đọc hiểu tác động : văn bản. + Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp nhất định. Văn bản có tính chỉnh thể. Tính chỉnh thể này thể hiện ở hai phương diện : +Về mặt nội dung : nó biểu hiện tính nhất quán về chủ đề, ở sự phát triển mạch lạc, chặt chẽ của nội dung và bộc lộ ở tính nhất quán và rõ rệt ở mục tiêu văn bản. + Về mặt hình thức : tính chỉnh thể thể hiện ở kết cấu mạch lạc và chặt chẽ, giữa các bộ phận trong văn bản có các hình thức liên kết và toàn văn bản có một tên gọi. Tính nhất quán chủ đề thể hiện ở chỗ toàn văn bản tập trung vào một chủ đề thống nhất, chủ đề này được triển khai qua các chủ đề bộ phận (các tiểu chủ đề) của từng phần, từng chương, từng mục, từng đoạn. Văn bản (bài) được dạy đọc ở tiểu học có dung lượng không lớn nên cấp độ dưới văn bản thường chỉ là đoạn văn, khổ thơ. Để xác định nội dung của bài lại phải tìm nội dung của đoạn. 9 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  10. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Tính nhất quán của văn bản thể hiện ở mục tiêu văn bản. Văn bản là sản phẩm của quá trình giao tiếp. Mục đích của giao tiếp cũng chính là mục đích của văn bản. Hoạt động giao tiếp nhằm vào các mục đích : thông tin (thông báo tin tức), tự biểu hiện, giải trí, tạo lập quan hệ và đích hành động. Những mục tiêu này được thực hiện đồng thời trong từng văn bản nhưng trong từng phong cách, kiểu loại văn bản, các mục tiêu không được thể hiện đồng đều. Tất cả các văn bản xét cho cùng đều hướng đến mục đích hành động vì dù là đích thông tin hay tự biểu hiện, tạo lập quan hệ hay giải trí, thực chất vẫn là nhằm tác động vào lý trí để thuyết phục hoặc là tác động vào tình cảm để truyền cảm, hướng người đọc, người nghe đến một hành động nào đó. Chính mục đích giao tiếp làm cho văn bản luôn chứa đựng nội dung thông tin và nội dung này tạo ra các bình diện ngữ nghĩa của văn bản. Trước hết, đó là nội dung miêu tả, hay còn gọi là nội dung sự vật, là những hiểu biết, những nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội và về chính bản thân con người. Nội dung này tạo thành nghĩa sự vật của văn bản. Tiếp theo là nội dung thông tin về những cảm xúc, tình cảm, thái độ của người viết đối với đối tượng, sự việc được đề cập đến, đối với người tham gia hoạt động giao tiếp. Nội dung này tạo ra nghĩa liên cá nhân của văn bản. Xét cách thức biểu hiện các thông tin ngữ nghĩa thì cần phân biệt : thông tin ngữ nghĩa tường minh (còn gọi là hiển ngôn) và thông tin ngữ nghĩa hàm ẩn (còn gọi là hàm ngôn). Nghĩa tường minh là các thông tin được biểu hiện bằng các từ ngữ có mặt trong văn bản, và bằng các cấu trúc ngữ pháp của cum từ, của câu, của đoạn văn, của văn bản. Các thông tin này được biểu hiện trên bề mặt của câu chữ và người đọc tiếp nhận nó thông qua nguyên văn từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp. Nghĩa hàm ẩn là các thông tin được suy ra từ thông tin tường minh và từ hoàn cảnh giao tiếp cụ thể của văn bản. Để hiểu được thông tin hàm ẩn của văn bản, người đọc phải tiến hành phân tích và suy ý dựa vào yếu tố ngôn ngữ hiện diện trong văn 10 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  11. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net bản và hoàn cảnh giao tiếp để rút ra thông tin hàm ẩn. Có thể nói đó là phương pháp đọc những gì ẩn dưới các hàng chữ. Các văn bản nghệ thuật thường chứa đựng thông tin này. 2.3. Tác phẩm văn học đối với vấn đề đọc hiểu văn bản nghệ thuật Trong số các văn bản dung để dạy đọc hiểu ở trường tiểu học, loại văn bản nghệ thuật có một vị trí đặc biệt không những bởi tấm quan trọng của loại văn bản này mà còn do tỷ lệ văn bản nghệ thuật được đưa vào chương trình rất cao và nhiệm vụ dạy hiểu loại văn bản này phức tạp hơn. Đọc văn bản nghệ thuật, học sinh không chỉ hiểu nội dung văn bản mà còn phải cảm thụ được một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu. Vì vậy, đọc văn bản nghệ thuât thực hiện nhiệm vụ kép : dạy một kỹ năng tiếng Việt và dạy văn. Từ đây có thể suy ra dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật gồm công việc làm cho học sinh nắm được nội dung của văn bản, mục tiêu của văn bản đồng thời dạy cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, hình tượng văn chương làm nên nội dung văn bản. với nghĩa đó, dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật là dạy tiếp nhận văn học hay còn gọi là dạy cảm thụ văn học. Để dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật, người giáo viên tiểu học phải hiểu rõ đặc trưng văn chương và đặc trưng tiếp nhận văn chương. Lý thuyết tiếp nhận văn học đã chỉ ra ba cấp độ trong tiếp nhận văn học : + Người đọc tri giác, hiểu ngôn từ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn của các chi tiết, các lien hệ. + Người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của người nghệ sỹ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc tư tưởng và tình cảm của tác giả. + Người đọc đưa hình tượng vào đời sống và kinh nghiệm riêng của mình để thể nghiệm, đồng cảm. Cuối cùng nâng cấp lí giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật mang tính đa nghĩa, tính biểu tượng, tượng trưng, gợi cảm. 11 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  12. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net ● Tính nhân văn của văn bản nghệ thuật “Văn học là nhân học”. Nội dung văn bản nghệ thuật chủ yếu nói về con người, tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của con người. Dù nhà văn có quan tâm, có miêu tả hiện tượng nào của cuộc sống đi nữa, một cái cây, một cánh rừng, một ngôi chùa, một ngọn núi, một dòng sông, một đêm trăng, một đàn chim, một bầy cá thì điều mà nhà văn tìm hiểu, điều làm học ngạc nhiên, xúc động và muốn nói lên để người khác cũng quan tâm, ngạc nhiên, xúc động như mình không phải là bản thân các hiện tượng đó mà là mối liên hệ của chúng với con người, ý nghĩa cuộc sống của con người mà những hiện tượng đó thể hiện, cách nhìn, sự rung động của con người trước những hiện tượng cụ thể và trước cuộc sống. Vì vậy, đoạn văn, câu chuyện, bài thơ nói về các con vật, về các loại cây thì cũng là nói về con người. Mà con người thì giàu xúc động, giàu tình cảm và tình yêu. Cũng vì vậy, đích cuối cùng của dạy cảm thụ văn chương không cỉ là cho thấy bài văn đã ghi chép hiện thực gì mà trước hết phải cho thấy bài văn là kết quả của một hành động tự nhận thức, nơi bộc lộ những tình cảm, thái độ của nhà văn trước hiện thực. ●Tính chủ quan của văn bản nghệ thuật Tác phẩm văn chương là nơi người nghệ sỹ bày tỏ thái độ chủ quan của mình, nói lên ước mơ, khát vọng của mình về thế giới, về cuộc sống. Tác phẩm nghệ thuật “là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, là con đẻ tinh thần của nhà văn, là sự sáng tạo, là bản thông điệp để nhà văn gửi tâm tình của mình đến bạn đọc. Chính tính chủ quan, đặc điểm tình cảm, cảm xúc này của tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi khi tiếp nhận văn chương, học sinh không chỉ phải hiểu nội dung sự việc của văn bản mà còn phải nắm nội dung liên cá nhân, giá trị biểu hiện, chất trữ tình, tức là thái độ, tình cảm, sự đánh giá sự việc của tác giả, cái làm nên chức năng bộ lộ văn bản. Không chú ý đến điều này chúng ta sẽ không hướng dẫn học sinh hiểu được nghĩa liên cá nhân của tác phẩm nghê thuật. ●Tính biểu trưng, hình tượng, độc đáo, khác thường của văn bản nghệ thuật Như đi trong vũ ba lê bằng đầu ngón chân chứ không đi bằng bàn chân như trong đời thường, văn chương phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, nó đi tìm cho 12 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  13. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net mình một ngôn ngữ riêng, một cách thể hiện riêng, một cách thức “kí mã” riêng khác với đời thường và khác với các nghệ thuật khác. Chính vì vậy khi tiếp nhận văn chương, học sinh phải tiếp nhận khác với logic thông tục của đời thường. Đó là năng lực biết nghe được, đọc được những bí ẩn dưới những chuỗi âm thanh, ẩn dưới các dòng chữ hay chính là năng lực giải mã nghệ thuật. Để giải mã văn chương, phải chú trọng các đặc điểm diễn đạt hàm ẩn, cách nói biểu trưng, tính đa nghĩa, những cách nói hướng đến “gây ấn tượng” khác với ngôn ngữ đời thường. Nếu chỉ biết tư duy “thật thà” theo lối đời thường, ta không thể hiểu được văn. Khi nói nghệ thuật nhận thức và tái hiện cuộc sống bằng hình tượng, một mặt cần nhấn mạnh rằng tác phẩm nghệ thuật phản ánh cuộc sống một cách sinh động, cụ thể, cảm tính, có hình khối, đường nét, âm thanh chứ không phải phản ánh một cách trừu tượng, bằng khái niệm như trong khoa học. Như vậy, không hiểu được cái nghĩa, cái lý, cái tình của văn chương, không hiểu được đặc điểm phản ánh bằng hình tượng vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa đa nghĩa, vừa mang tính độc đáo, mới mẻ của văn chương, chúng ta sẽ không tìm được chìa khóa mở cửa “văn”, không hướng dẫn học sinh hiểu văn bản văn chương được. ●Văn bản nghệ thuật – nghệ thuật của ngôn từ Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Nhờ chất liệu ngôn ngữ mà chất nhân văn, tính hình tượng, tính cảm xúc và độc đáo của văn chương còn có những sắc thái riêng mà các nghệ thuật khác không có. Ngôn ngữ văn chương phải trau chuốt, cô đọng, hàm súc, có tính biểu cảm, tính hình ảnh. Nếu không, nghĩa, tình, lí của văn chương chỉ là nắm xương khô. Một tác phẩm văn học có giá trị phải là sự hài hòa của nội dung và hình thức, tình ý chứa chan mà lời lẽ phải dạt dào. Vì vậy, ngoài việc giải mã nghĩa, lí, tình, dạy đọc hiểu văn bản văn chương còn phải cho học sinh tiếp nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của cách nói văn chương, khả năng phát hiện được tín hiệu nghệ thuật và cao hơn nữa là cho các em đánh giá được giá trị của các tín hiệu nghệ thuật trong việc biểu đạt nội dung. Đây cũng chính là nội dung dạy cảm thụ văn học ở trường tiểu học. 13 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  14. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức không chỉ hiện ra trong toàn bôn văn bản mà ngay trong từng yếu tố, từng cấp độ của văn bản ở trên tất cả các bình diện : từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp. Việc tìm hiểu tác phẩm văn học phải bắt đâu từ việc khám phá văn bản ngôn từ của nó. Không có chì khóa để mở cánh cửa đi vào cấu trúc ngôn từ của tác phẩm thì chúng ta chỉ có thể đứng ngoài ngôn nhà văn chương. Từ ngữ trong văn bản văn chương thường mang tính gợi tả, gợi cảm, chúng “đi lại”, “nhảy nhót” trong tác phẩm. Chính vì thế, trong các bài miêu tả, lớp từ láy được sử dụng rất nhiều. Về mặt ngữ nghĩa, từ trong văn bản văn chương có biên độ nghĩa được mở rộng tối đa, tạo ra những nghĩa văn cảnh, nghĩa bóng rất đa dạng. Các nhà văn đã vận dụng những nét nghĩa khác nhau và đã sử dụng từ rất là đắc địa. Khi giải mã văn chương, phải nắm được các thế đối lập về nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ mới hiểu văn bản và chỉ ra được sự tài tình của việc dùng từ. Trong văn chương, các từ không chỉ được dựng đứng lên, có hình, có khối, gợi tả rợn người mà chúng còn được sử dụng với tất cả nghĩa biểu thái để bộc lộ hết cái tình của người dùng từ. Vì muốn gây ân tượng, mà các nhà văn nhà thơ đã đi chệch ra khỏi chuẩn mực thông thường của từ toàn dân, sáng tạo ra bao từ mới chẳng hề có trong từ điển. Phải có hiểu biết về ngôn ngữ mới thấy được vẻ đẹp của các từ. Nếu việc nắm các thế đối lập của từ trong hệ thống ngôn ngữ là rất cần thiết, nó cho phép chúng ta chỉ ra cái “đắc địa”, sự tài tình của việc lựa chọn từ trong trục dọc của ngôn ngữ, thì những hiểu biết về những nét nghĩa chung của một trường từ vựng cũng không kém phần quan trọng. Nó sẽ giúp chúng ta giải mã được nhiều bài tập đọc ở tiểu học. Giá trị của tác phẩm văn chương không chỉ là ở cái hay riêng của từng từ đơn lẻ mà còn lá sự hài hòa , lan tỏa, cộng hưởng của cả một trường từ. Chính nét nghĩa chung, sự hòa đồng, cộng hưởng này sẽ tạo ra những giá trị ngữ nghĩa mới của văn bản. Một đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật là sử dụng nhiều biện pháp tu từ. Các biện pháp tu từ thường được sử dụng trong các bài tập đọc ở tiểu học là so sánh, ẩn dụ (so sánh ngầm), hoán dụ, nhân hóa, hòa hợp. Những cách dùng từ đặc sắc cùng với 14 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  15. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net các biện pháp tu từ đã làm cho lớp ngôn từ nghệ thuật kết lại thành những hình ảnh văn chương lung linh sắc màu tạo nên vẻ đẹp của phần Tập đọc trong bộ SGK tiểu học suốt từ lớp 1 đến lớp 5. Chính vì vậy, khi xác định những từ ngữ quan trọng trong những bài tập đọc thuộc phong cách văn chương, không thể không đi tim những hình ảnh, chi tiết nghệ thuật tiêu biểu nhất. Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, nên điều quan trọng đối với tác phẩm văn học không chỉ ở chỗ nó nói về cái gì mà còn ở chỗ nó nói về cái đó bằng cách nào, như thế nào. Làm rõ cái hay của việc dùng từ ngữ, hình ảnh chỉ đặt ra khi đọc hiểu văn bản nghệ thuật. Đó chính là việc chỉ ra cái hay của việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật hay chính là cách đánh giá giá trị của các yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật đối với việc biểu đạt nội dung. Đây chính là một nội dung của dạy cảm thụ văn học trong trường tiểu học. Dạy cảm thụ văn học là dạy học sinh cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều tế nhị, sâu sắc, đẹp đẽ của từ ngữ, câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ, câu chuyện. PHẦN II : NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ TRONG CÁC BÀI THƠ TRỮ TÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 5 I. Thơ và các đặc trưng của thơ 1. Thơ là gì ? Thơ ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại. Thơ là một thể loại văn học hết sức quen thuộc và gần gũi với con người ở mọi thời đại, ở phương Đông cũng như ở phương Tây Thế nhưng, khi ta đặt ra và trả lời câu hỏi thơ là gì thì câu hỏi này hoàn toàn không dễ trả lời. Khác với loại tác phẩm truyện, kí, kịch, thơ trực tiếp gắn với tâm hồn con người, mà tâm hồn con người là một thế giới tinh vi, phức tạp, mờ ảo nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giác nhưng rất khó đúc kết, khái quát thành một định nghĩa thật sự hoàn chỉnh. Nhà lí luận phê bình văn học Lưu Hiệp quan niệm : "Thơ là để nói lên cái chí, lời ca là để làm cho lời nói được lâu dài. ( ) Ở trong lòng thì gọi là chí, nói ra lời thì gọi là thơ" [25,76] , nhằm nhấn mạnh vào mục đích làm thơ. 15 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  16. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Học giả Lê Quý Đôn cho rằng "làm thơ có ba điều chính: một là tình , hai là cảnh, ba là sự .( ) Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất cả trời và đất. Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng" [27; 99]. Nhà thơ cách mạng Tố Hữu nhấn mạnh " Thơ là tiếng lòng hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời, trước trời đất. Thơ là tiếng hát của tình cảm thiết tha mãnh liệt Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy. Bài thơ hay là bài thơ làm cho người ta không còn cảm thấy câu thơ mà chỉ thấy tình người Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu". Nhà thơ Xuân Diệu cũng chung cảm nghĩ ấy khi viết "Thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng , đồng khí tương cầu". Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng của Valêri khi cho rằng "Thơ là sự phân vân giữa nhạc và ý" [20 ;30]. Nhà văn Nguyễn Tuân quan niệm " thơ là ảnh, là nhân ảnh , thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình. Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn. Cũng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la, từ một điểm nhất định , nó mở được ra một cái diện không gian, thời gian trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp Thơ là mở ra được một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó vẫn như là bị phong kín"[25; 172]. Trong bài Tựa tự viết cho tập thơ của mình, nhà thơ Sóng Hồng đã đưa ra những định nghĩa rất sâu sắc và toàn diện về thơ : "Thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp". Thơ là thơ đồng thời là vẽ là nhạc, là chạm khắc theo cách riêng "Thơ là nghệ thuật kì diệu bậc nhất của trí tưởng tượng". Thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên một nhạc điệu khác thường" . "Thơ là một viên ngọc kim cương long lanh dưới ánh sáng mặt trời". “Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân” [ chuyển dẫn theo 29; 43]. Tuy khác nhau nhưng hầu hết các nhà thơ cũng như các nhà nghiên cứu phê bình đều thống nhất ở thơ có hai đặc điểm quan trọng sau đây: 16 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  17. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net + Thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc , nỗi lòng , suy nghĩ của tác giả : tức là khẳng định thơ thuộc phương thức trữ tình, đồng thời nhấn mạnh vai trò của cảm xúc và khả năng tạo nên sức đồng cảm mạnh mẽ đối với người đọc của thơ. + Thơ có một hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt . Thơ : là một loại hình nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Thơ là loại sáng tác văn học có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng, tuân theo các quy luật nhất định. Thơ thường dùng như một hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trước một hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước một phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước một thảm cảnh. Có thể phát biểu một cách ngắn gọn : Thơ là một loại hình văn học tồn tại bên cạnh truyện và kịch, là hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua một tổ chức ngôn từ đặc biệt thành những câu văn vần giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm. 2. Những đặc trưng cơ bản của thơ 2.1. Nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình) - Chủ thể phát ngôn trong thơ Lời văn trong truyện - kí đều có chung một đặc tính là lấy việc mô tả, kể lại những câu chuyện, những sự việc diễn ra trong cuộc sống xã hội làm chính. Cảm nghĩ thái độ , cách đánh giá của nhà văn thường giấu kín trong bản thân câu chuyện chứ không được làm nổi bật lên chiếm vị trí chủ đạo thành đối tượng thưởng thức trực tiếp của người đọc. Lời thơ là sự bộc lộ trực tiếp tâm tư, là tiếng nói tha thiết của tâm hồn, tiếng gọi nồng nhiệt của trái tim của nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình) . Phát ngôn thơ - lời thơ - do vậy không lấy chức năng thông báo làm chính mà chủ yếu là hướng đến chức năng biểu hiện. Đó có thể là những nỗi niềm riêng tư về hạnh phúc ; niềm vui gặp gỡ ; nỗi buồn chia li. Đó cũng có thể là những cảm xúc, những suy tư về nhân tình thế 17 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  18. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net thái, về số phận con người, thăng trầm của xã hội, những cảm xúc về Tổ quốc, đất nước, dân tộc, nhân loại. Tâm hồn nhà thơ như một chiếc cần ăngten thu nhận tất thảy những tín hiệu buồn vui của con người, là chiếc "bình thu hợp trí muôn phương" (Xuân Diệu) . Muốn chinh phục được tâm hồn của độc giả trước hết cảm xúc của nhà thơ phải chân thành ; niềm yêu ghét của nhà thơ phải xuất phát từ chính trái tim nhạy cảm, thành thực của mình. Cảm xúc của nhà thơ, phải ở mức độ mãnh liệt, dồi dào nồng cháy. Mỗi khi có điều gì chất chứa trong lòng không nói ra không chịu được lúc đó là thi sĩ tìm đến thơ để giải tỏa nổi chất chứa ám ảnh đó (theo Tố Hữu) Vì cảm xúc là yếu tố hàng đầu của thơ nên mọi nhà thơ đều rất coi trọng cảm hứng sáng tạo. Cảm hứng làm cho nhà thơ có thể lóe sáng được những ý nghĩ mới lạ, chắp cánh cho trí tưởng tượng của nhà thơ bay bổng, hình thành một cách xuất thần những lời đẹp, tứ hay. Ngoài cái lớn lao của cuộc đời thực, thơ cũng tìm đến thế giới của ước mơ và mộng tưởng. Nó mở rộng thế giới thực để người đọc có thể cảm nhận đến nhiều phạm vi rộng rãi hơn, bao la hơn của hôm qua, hôm nay và ngày mai, của cái có thật và cái có thể có và nên có, của cái ta đang sống và cái mà mọi người mong ước. Thơ mở rộng biên độ sống của con người! Một đêm tháng 4/1948, tại Việt Bắc, được trực tiếp nghe tin giặc đánh phá quê hương mình, Hoàng Cầm xúc động và ngay đêm ấy viết bài thơ "Bên kia sông Đuống", một trong những bài thơ hay nhất của ông, là "chứng minh thư" để ông đi vào ngôi vị những nhà thơ sống mãi trong lòng bạn đọc. Cảm xúc của nhà thơ đồng thời lại phải có tính tiêu biểu điển hình. Cảm xúc trong thơ nhất định là của một con người - cá nhân trong hoàn cảnh cụ thể nhưng đồng thời nó không đóng kín, khép lại cho riêng nhà thơ mà cảm xúc đó còn là sự đại diện phát ngôn cho tâm tình, suy nghĩ của nhiều người .Vichto Hugô từng cho rằng "Lầm lẫn thay nếu anh tưởng tôi không phải là anh". Cảm xúc thơ càng có tính tiêu biểu, điển hình thì càng tạo nên sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. 18 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  19. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Nỗi lòng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương do đâu mà dễ dàng tìm được sự tri âm của nhiều thế hệ độc giả, ngay cả với các thế hệ hiện diện trên cõi đời này sau họ nhiều thế kỉ? Thơ từ xưa đến nay, dù là thơ tỏ lòng, tỏ chí thì thơ vẫn là tiếng lòng chung của nhiều cá nhân, thế hệ Vì thơ là cái chủ quan cưu mang được những nỗi niềm thời đại nên ở đời mới có những người tự nhận là tri âm của thơ. Khi đề cao yếu tố cảm xúc không có nghĩa là phủ nhận yếu tố trí tuệ trong thơ. Trí tuệ rất cần cho mọi loại hình nghệ thuật "Thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữ cảm xúc và trí tuệ" ( Sóng Hồng). Chất suy nghĩ trong một bài thơ bộc lộ ở cách đặt vấn đề của tác giả, ở cấu tứ chung, ở những lập ý và suy tưởng, ở những liên tưởng và ở cả những cảm xúc và hình ảnh cụ thể. Nhà thơ Xuân Diệu quan niệm: " Nhà thơ hay, hay bằng tư tưởng, bằng tình cảm, bằng chí khí, bằng tính tình, nhưng tất cả những cái ấy phải thông qua xúc cảm, cảm giác; Cho nên một thi sĩ có tư tưởng, tình cảm rồi thì phải chứng tỏ cái bản lĩnh của mình trong xúc cảm, cảm giác, hình tượng" (Và cây đời mãi mãi xanh tươi- NXB Văn học, H, 1971,trang273). Nhấn mạnh quan hệ biện chứng giữa cảm xúc và lí trí trong thơ, một nhà thơ Pháp đã khuyên "Hãy học suy nghĩ bằng trái tim và học rung động bằng khối óc". Viên Mai (1716- 1797) một nhà thơ, nhà lí luận phê bình thơ nổi tiếng đời Thanh (Trung Quốc) nhấn mạnh thơ phải có chất suy nghĩ sâu xa " thơ có thịt mà không có xương là con sâu mùa hè vậy" Điều nói ra trong thơ phải sâu sắc nhưng phải thật nhuần nhuyễn, không làm căng đầu óc , giảm sức đồng vọng của người nghe. "Cái suy nghĩ được mặc dù khổ đắng nhưng nói ra phải ngọt ngào. Cái nói ra có thể bất ngờ với người khác nhưng vẫn đọng lại trong ý của họ". Nhân vật trữ tình gắn liền với cái tôi trữ tình của tác giả. Nhân vật trữ tình chính là một cách biểu hiện nghệ thuật, cái tôi của tác giả nhưng nhân vật trữ tình chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với tác giả . Thống nhất vì qua tác phẩm người đọc nhận ra niềm vui, nỗi buồn, khát vọng lí tưởng của tác giả được ẩn chứa nơi cảm xúc, cái nhìn của nhân vật trữ tình nhưng không đồng nhất vì nhân vật trữ tình là một hình tượng 19 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  20. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net nghệ thuật do tác giả sáng tạo ra, còn tác giả lại chính là con người có thực ngoài cuộc đời. Cùng một tác giả, do vậy có thể có nhiều nhân vật trữ tình khác nhau trong toàn bộ sáng tác của mình. Nhân vật trữ tình thường được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau: + Có danh xưng rõ ràng : tôi, ta, anh, em, Khi nhân vật trữ tình trong thơ phát ngôn cho tác giả thực chất là sự " độc bạch" của nhà thơ": + Không trực tiếp xưng danh : lúc này nhân vật trữ tình được nhận biết qua cách bộc lộ cảm xúc, cách quan sát, nhận xét về những điều được nói đến trong bài thơ. Thơ trữ tình trung đại thường sử dụng cách thể hiện này. Không trực tiếp xưng danh, lời thơ dễ trở thành tiếng lòng chung của nhiều cá thể trong những hoàn cảnh tương tự. + Nhân vật trữ tình nhập vai là nhân vật trữ tình không còn đứng ở vai “tác giả” nữa mà đã hoá thân vào một nhân vật khác để bộc lộ cảm xúc. Các hình thức xuất hiện của nhân vật trữ tình có thể thay đổi xen kẽ nhau trong bài thơ. Người thưởng thơ cũng cần phân biệt nhân vật trữ tình với nhân vật trong thơ trữ tình. Nhân vật trong thơ trữ tình là con người được miêu tả, thể hiện trong bài thơ. Người thưởng thơ cũng cần biết đến sự khác biệt giữa nhân vật trong tác phẩm truyện và nhân vật trong tác phẩm thơ - ở chỗ truyện thường chú ý mô tả nhân vật một cách đầy đặn trên nhiều bình diện và vận động theo sự vận động phát triển của cốt truyện (xuất thân, hoàn cảnh sống, ngoại hình, lời nói, hành động, ý nghĩ nội tâm, quan hệ với nhân vật khác) ; còn trong thơ nhân vật trữ tình lại thường không cần miêu tả đầy đủ như thế, nhiều khi chỉ cần thể hiện một khoảnh khắc, hé mở một nỗi niềm. 2.2. Đặc điểm lời thơ : 20 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  21. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Trữ tình là phương thức sáng tạo văn học tiêu biểu nhất cho thơ, nhưng nó không phải chỉ có trong thơ. Trữ tình còn có mặt trong các loại văn xuôi khác, như trong văn tùy bút. Để là thơ, ngoài yếu tố trực tiếp bộc lộ cảm xúc của cái tôi trữ tình còn cần thêm một yếu tố nữa : Là sự diễn đạt nội dung trữ tình bằng một kiểu lời nói đặc biệt thành những câu văn vần giàu nhạc tính, giàu hình ảnh, mang tính chất gợi cảm cao độ, thường gọi là lời thơ. Do chỗ trữ tình là sự thổ lộ những cảm nghĩ rung động của con người trước thế giới nên lời thơ phải hết sức gợi cảm. Tính chất gợi cảm như là đặc điểm chung của ngôn từ văn chương bộc lộ tập trung nhất trong thơ. Có thể hình dung ngôn từ chung như bước đi hằng ngày (mục đích chính là để chuyển chỗ), ngôn từ trong thơ như bước đi trong múa (mục đích chính là biểu hiện tâm hồn, cảm xúc, giàu khả năng tác động thẩm mĩ). Từ cách dùng chữ, đến cách đặt câu, dựng khổ, đoạn, tất cả đều được cân nhắc sao cho mỗi tiếng, mỗi từ, mỗi câu, mỗi dòng, mỗi khổ đoạn có thể tạo ra một không khí tình cảm, truyền tải một cảm xúc mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến người đọc. Tính chất gợi cảm của lời thơ được bộc lộ ở hai đặc điểm : giàu nhạc điệu và tính hình tượng. Ý kiến của GS Phan Ngọc chính là sự nhấn mạnh về phương diện thi pháp của thơ: "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để buộc người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải nghĩ cho chính hình thức ngôn ngữ của nó". Tiếp thu thành tựu của các ngành khoa học hiện đại, thi pháp học thế kỉ XX đã đi tìm những đặc thù cơ bản của thơ ở giác độ tổ chức kết cấu trong văn bản ngôn từ. Và như một hệ quả tất yếu, tìm hiểu thơ trên giác độ này, người thẩm thơ, giảng thơ không thể không được trang bị một vốn liếng ngôn ngữ học dày dặn, để chỉ ra cho được cái đặc trưng, "cái lí của hình thức thơ". Trên một quan điểm toàn diện, thi pháp học Macxit một mặt nghiên cứu cấu trúc hình thức của văn bản ngôn từ, nhưng không chỉ xét cô lập trong cấu trúc nội tại 21 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  22. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net của chúng mà phải xét trong mối tương quan với những yếu tố khác ngoài văn bản - mà yếu tố trực tiếp bộc lộ cảm xúc của cái tôi trữ tình nói bên trên là một trọng điểm. Nhạc điệu của lời thơ. Từ nguồn gốc xa xưa của mình, lời thơ vốn là chuỗi lời nói được sáng tác ra để hát hoặc ngâm lên có thể được các nhạc cụ đệm theo. Thơ với nhạc gần nhau là vì vậy. Chất nhạc trong lời thơ thể hiện qua luật thơ, âm điệu và nhịp điệu của nó. 3. Tính dân tộc trong thơ Cội nguồn của thơ trước hết là dân tộc. Thơ dù cụ thể hoá, hay trừu tượng hoá tới đâu cũng gắn với dân tộc mình, thời mình sống. Ở thời nào, dù bình hay biến, nam hay bắc, mục tiêu nhân văn nhân nghĩa truyền thống đã hướng cho thơ đi về đích chân, thiện, mỹ của dân tộc Việt Nam ta. Bao đời nay thơ đã làm cho con người biết thương con người. Dẫu rằng thơ luôn luôn khai thác số phận con người, niềm vui cũng như nỗi đau, cao thượng cũng như thấp hèn, hùng và bi với những cung bậc khác nhau, âm hưởng khác nhau. Thời nào thi sĩ cũng thờ trên đầu chữ tâm - cái gốc rễ sâu bền của dân tộc, của nhân loại. các nhà thơ không ai cầm bút đứng ngoài dân tộc. Nhưng tiếng đàn chỉ cất cao khi tâm hồn người nghệ sĩ hoà nhập cùng quê hương xứ sở, dân tộc mình. Bằng chức năng sáng tạo nhà thơ góp phần làm giàu cho tâm hồn, tình cảm của dân tộc mình. Đời sống tâm hồn của mỗi người, sự sống còn của dân tộc, tình cảm nhân loại đi vào thơ như một dòng thác. Cái bể chứa hùng vĩ để tạo nên dòng thác của thơ vẫn là cội nguồn gốc rễ từ quê hương mình, dân tộc mình. Trên dòng thác ấy có con sóng chìm, lại có con sóng nổi, có con sóng tung trời trắng xoá, lại có con sóng dịu êm. Tư duy thơ phát triển cùng với sự phát triển của xã hội và trình độ thẩm mỹ của công chúng. Bài thơ có thể hình thành hồn nhiên từ ánh nhìn (đôi mắt sâu thẳm của tình yêu) đến ánh nắng (chói chang mùa hè, thủy tinh mùa đông), từ bất động (một bức tường rong rêu) đến chuyển động (một cơn gió, một cơn mưa). Những bài thơ đi trực tiếp từ trái tim mà ngôn từ chỉ là những cái vỏ bọc đựng. Mỗi bài thơ hay là một định 22 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  23. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net nghĩa cho thơ. Thời gian thấm vào mỗi dòng thơ; cũng bởi sau thời gian chúng ta mới bắt đầu chiêm nghiệm và ký ức. Thời gian không ngừng trôi qua mỗi dòng thơ như nước chảy qua kẽ tay. Bàn luận về sự bồi đắp tính dân tộc, bản sắc dân tộc trong thơ ca nước ta, không thể không đối chiếu thơ hôm nay với thơ ngày xưa. Thơ văn Việt Nam hiện nay viết bằng tiếng Việt, một ngôn ngữ đẹp và phong phú, có khả năng diễn đạt mọi tư tưởng, mọi sắc thái tình cảm, tiếng nói ấy là niềm tự hào chính đáng của mọi người Việt Nam chúng ta, là biểu hiện ngời sáng của bản sắc dân tộc Việt Nam được gìn giữ và bồi đắp từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhiệm vụ ghi tạc bằng những hình ảnh nghệ thuật sống động cuộc sống Việt Nam, tính cách Việt Nam, thiên nhiên Việt Nam - sứ mệnh quan trọng hàng đầu của văn học dân tộc - chỉ được thực hiện trong thời đại mới, khi mà văn hoá Việt Nam đoạn tuyệt với sự câu nệ văn hoá cổ Trung Hoa, từ bỏ những khuôn mẫu cứng nhắc lỗi thời, hướng con mắt sang phương Tây, đón nhận tác động canh tân của văn học châu Âu, trước hết là văn học Pháp. Tính dân tộc trong thơ Việt Nam: Vĩnh cửu và luôn luôn biến đổi! 4. Đặc điểm thơ trữ tình Từ thời cổ đại đến nay, văn chương nhân loại có các loại thơ : thơ sử thi, thơ bi kịch, thơ tự sự, thơ trữ tình, thơ trào phúng, phúng thích, thơ thế sự, thơ quảng bá ý tưởng, tuyên truyền, quảng cáo, thơ thoại trong kịch Trong đó thơ trữ tình được coi nó là tiêu biểu của thơ. Trong quan niệm hiện đại về thơ, giáo sư Đỗ Đức Hiểu đã đúc kết 4 yếu tố cơ bản của thơ là: Cảm hứng mãnh liệt, Nghệ thuật trùng điệp, Khoảng trống, Âm vang. 4.1.Cảm hứng mãnh liệt: Không quá nặng về trình bày tư duy, cảm hứng trữ tình được thu gọn, đau đáu trong tâm trí người cầm bút (không dàn trải ngổn ngang, không chất chứa quá nhiều sự việc ) . Xuất phát từ chính bản thân mình, cảm hứng mãnh liệt tất nhiên phải hướng về nhân sinh, về thế giới. 23 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  24. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net 4.2. Nghệ thuật trùng điệp: Có nhiều cách trùng điệp. Giản đơn nhất là trùng "âm" do gieo "vần" tạo ra. Kế đó là "điệp từ ngữ" là biện pháp dễ thấy. Còn các yếu tố trùng điệp khác như "câu, đoạn, ý, hình ảnh ". Bản chất của trùng điệp là thể hiện tâm trạng day dứt của người làm thơ (day dứt: trở đi trở lại). Tâm trạng day dứt chính là cái trùng điệp gốc! Nếu mọi sự cứ rõ ràng dứt khoát thì chẳng cần đến thơ nữa! 4.3. Khoảng trống: Thi nhân thường nói "thiếu một chút", không nói toạc hết mọi sự, mọi ý. Lí luận thơ cổ điển phương Đông thường cảnh báo rằng "thơ kị lộ" (tránh lộ ý). Chỗ trống này chừa lại cho sự bâng khuâng, đồng sáng tạo của bạn tri âm. 4.4. Âm vang: Nối tiếp cái "khoảng trống". Có chỗ "trống" thì âm mới "vang" lên, ngân lên được, cái âm vang ấy nó sẽ "day dứt" cả người thưởng thức thơ. Âm vang giản đơn nhất trước hết là do gieo "vần", lặp đi lặp lại. Trong các bài thơ "không vần" (thơ tự do) thì âm vang sinh ra do những yếu tố trùng điệp khác (ngoài vần) đã kể trong phần "nghệ thuật trùng điệp". Bốn yếu tố trên thực là căn bản của thơ. Tuy nhiên, một bài thơ không nhất thiết phải hoàn hảo đầy đủ 4 yếu tố. Một bài thơ gọi là "đọc được" chí ít cần đạt được một, hai yếu tố đó. Bên cạnh đó còn có thêm yếu tố thứ 5 : cái Ảo trong thơ. Người ta thường nói nhà thơ hay "mơ mộng" với ý diễu cợt lối sống lối cảm xa thực tế, viển vông. Họ đã lầm lẫn giữa lối sống và lối tư duy thơ. Mơ mộng căn bản là cái ảo trong thơ, cái ảo gắn bó mật thiết với cuộc sống, cái ảo là phần không thể thiếu trong cuộc sống con người. Bản chất của cái ảo chính là tâm tưởng, chủ quan, tương phản bề ngoài với cái "hiện thực" Bài “Em ơi Ba Lan” của Tố Hữu Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan (thực) Đường bạch dương sương trắng nắng tràn (thực) Anh đi nghe tiếng người xưa vọng (ảo) 24 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  25. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Một giọng thơ ngâm một giọng đàn (ảo) Phân tích thi ca mà xác định "thực-ảo" như trên thì có vẻ máy móc, nhưng sự thật quả là vậy. Bạn thử thay tất cả những câu "ảo" trong các bài thơ kể trên bằng những câu "thực" thì có còn thơ nữa không ?! Bài thơ trữ tình có nhiều phương diện khác như: "cảm hứng chủ đạo, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, lời văn nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật, kết cấu .v.v Không ai có thể dạy làm thơ, nhưng chắc chắn làm thơ không thể bỏ qua những yếu tố cơ bản nêu trên Thơ tự do trữ tình, với tính cách kể chuyện tiềm ẩn, tiếp tục là hình thức phổ biến nhất được sử dụng bởi các nhà thơ hiện nay, cũng như đã xảy ra với thế hệ đi liền trước họ. Một lần nữa chúng ta được nhắc nhở rằng thơ trữ tình có thể dung chứa trong nó biết bao bờ cõi mênh mông và phức hợp. Mặc dù hầu hết các bài thơ đều tiến về phía gần với ngôn ngữ trò chuyện hằng ngày hơn là về phía các bài hát, những người làm tuyển tập có khuynh hướng đánh giá cao hơn cho những bài thơ có nhạc tính, giàu biến điệu và sự lập lại của các âm; những điều này làm tăng thêm sự giàu có sang trọng cho ngôn ngữ nói hằng ngày. Thơ trữ tình là một sự dãi bày tâm trạng, một sự thể hiện cảm xúc. 5. Ngôn ngữ thơ Nếu như “giai điệu”, “âm thanh” là ngôn ngữ của âm nhạc; “màu sắc”, “đường nét” là ngôn ngữ của hội họa; “mảng, khối” là ngôn ngữ của kiến trúc, thì “ngôn từ” là chất liệu của tác phẩm văn học. Hình tượng văn học là hình tượng ngôn ngữ. Mắc-xim Gorky (nhà văn Nga) đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Ở đây, xin trình bày một cách ngắn gọn về đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ ca. Từ đó ta có thể lựa chọn từ ngữ như thế nào để đưa vào bài thơ hay truyện cho đúng lúc, đúng chỗ nhằm chuyển tải được những cảm xúc, ý nghĩ của mình đạt hiệu quả thẩm mỹ cao. Một bài thơ hay với nhiều tầng liên tưởng không dễ gì ta cảm nhận ngay được, có khi chỉ bằng linh cảm mà nhận ra cái “ý tại ngôn ngoại” ấy. Đọc rồi, đọc nữa, suy ngẫm, đối chiếu ta mới nhận ra thứ ánh sáng, màu sắc, hương thơm man mát bên trong hình tượng thơ. Chẳng thế mà nhà thơ Hoàng Đức Lương đã rất đề cao nàng 25 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  26. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net thơ: Thơ là sắc đẹp ở ngoài sắc, vị ngọt ở ngoài vị, không thể trông bằng mắt thường được, chỉ có thi nhân trông thì mới thấy đẹp, nếm mới thấy ngon Hay như Sóng Hồng (cố Tổng Bí thư Trường Chinh) viết: Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng tượng. Vì vậy để viết được bài thơ hay nhà thơ không thể không khổ công đi tìm ý, tứ, câu, chữ và bao yếu tố khác trong thơ và ngoài thơ. Ngôn ngữ thơ được gọi là “ngôn ngữ văn học”. Ngôn ngữ văn học có 3 đặc trưng cơ bản là tính chính xác, tính hình tượng và tính biểu cảm. Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm linh con người (TS Hữu Đạt). Do vậy, ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ chính xác, hàm súc, giàu hình tượng, biểu cảm và giàu sức tưởng tượng. Các yếu tố đó hòa quện vào nhau tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa. Đó là thứ ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm góp phần tạo nên tính họa, tính nhạc trong thơ. Nó biến hóa qua nhiều sắc thái ảo thực bất ngờ, thú vị. - Tính chính xác (hay còn gọi là tính tinh luyện, hàm súc): Mỗi từ ngữ trong câu thơ phải diễn tả được đúng điều mà nhà thơ nhìn thấy, cảm thấy và những điều sẽ thấy. Lựa chọn được một từ ngữ “đắt” để diễn đạt một ý không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Trong một trường liên tưởng của từ ngữ có nhiều từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa , người viết cần liệt kê vài từ để chọn. Cũng có khi những từ ngữ trong câu thơ là những hư từ hoặc từ địa phương, từ khẩu ngữ rất bình thường nhưng được đặt đúng vào vị trí câu thơ thì nó vẫn tỏa sáng, diễn tả được đúng ý định của nhà thơ, khắc họa rõ tâm trạng nhân vật trữ tình. Điều này các nhà thơ sẽ học tập được nhiều ở ca dao - dân ca (Vd: Ca dao Nam Bộ có câu: Gió đưa buồn ngủ lên bờ/ Mùng qua có rộng cho bậu ngủ nhờ một đêm). Nói tính chính xác của từ ngữ trong thơ ca có khi mang tính tuyệt đối, có khi chỉ là tương đối - Tính hình tượng : Theo “Từ điển văn học”, thì: Hình tượng: là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, được nhận thức trực tiếp bằng cảm tính (chung cho các loại hình 26 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  27. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net nghệ thuật). Hình tượng văn học: là bức tranh sinh động nhất của cuộc sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng và óc sáng tạo và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ. Hình tượng thơ: là bức tranh sinh động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có vần điệu với trí tưởng tượng sáng tạo và cách cảm nhận của nhà thơ. Từ đó, ta thấy được ngôn ngữ mang tính hình tượng là ngôn ngữ gợi hình cụ thể. Nhà thơ không nói bằng phạm trù của tư duy lô-zic như trong các môn khoa học tự nhiên mà thông qua hình ảnh cụ thể để diễn đạt những ý niệm trừu tượng. Ví dụ: Ước ao có một gian nhà Có trưa đưa võng đón bà lên chơi. (Em đi – Lê Đình Cánh) Hay ở bài thơ “Mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc”, nhà thơ Đồng Đức Bốn đã có liên tưởng như các cô vẫn còn sống đâu đây giữa cỏ cây, hoa lá: Cầm cỏ thì thấy mồ hôi Cầm đất thì thấy dấu môi vẫn hồng Sông La tóc sóng bềnh bồng Cầm mây, áo gái chưa chồng còn thơm. Tố Hữu viết về bốn mùa (đông, xuân, hè, thu) ở Việt Bắc bằng ngôn ngữ giàu tính họa (có người gọi đây là bức tranh tứ bình): Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Có nhà thơ so sánh mái tóc dài của thiếu nữ khá độc đáo: Tóc em dài như một tiếng chuông ngân.(chuyển từ quan sát bằng thị giác sang thính giác). Hay Trần Đăng 27 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  28. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Khoa cảm nhận được âm thanh rất nhẹ của chiếc lá đa rơi trong bài “Đêm ngủ ở Côn Sơn”: Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng (chuyển sự cảm nhận từ thính giác sang thị giác). Tất cả những câu thơ trên đều gợi liên tưởng, tạo hình tượng khá rõ. Nếu không có trí tưởng tượng kỳ diệu thì khó mà viết được những câu thơ như thế. Để có được những từ ngữ “lóe sáng” đó, ngoài vốn từ vựng phong phú, nhà thơ còn phải biết kết hợp các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, điệp từ, tượng trưng, nói quá, nói giảm trong cách diễn đạt. - Tính biểu cảm: Là sự bộc lộ cảm xúc trực tiếp hay gián tiếp qua mỗi từ ngữ thơ. Đó là các cung bậc: ái, ố, hỉ, nộ của lòng người. II. Nghệ thuật ngôn từ trong các bài thơ trữ tình 1. Ngôn từ là chất liệu xây dựng hình tượng văn học Chất liệu của văn chương là ngôn từ. Mỗi nhà văn, nhà thơ đều lao động trên chất liệu đó. Sắp xếp “tiếng lòng” như thế nào cho hay, cho du dương hay có vần điệu để có được “cái thú được nghe lời mình nói” là một việc làm nhọc lòng, nhưng tự nguyện. Thơ là tự giác. Không ai bắt nhà thơ ngồi vào bàn gửi gắm tâm sự của mình. “Tiếng lòng” giống như những sợi tơ lóng lánh sẽ theo ngòi bút chảy xuống trang giấy “bện” thành các con chữ. Chữ viết là hình thức vật chất hóa ý nghĩ, tư tưởng. Ngôn từ thơ “photo” lại “tiếng lòng” của nhà thơ. Thơ vốn được coi là “một ngôn ngữ bí mật”, nhà thơ lao động trên sự bí mật đó. Hội họa dùng màu sắc, đường nét âm nhạc diễn tả bằng âm thanh, tiết tấu điêu khắc dùng chất liệu (kim loại, đá, gỗ ) tạo nên hình khối, đường nét v.v Còn văn học phải diễn tả bằng ngôn từ. Mỗi tác phẩm văn học phải được gắn liền với một thứ ngôn ngữ và văn tự (gốc) nhất định. Ngôn ngữ, văn tự là công cụ của nhà văn. Nhà văn Nguyễn Tuân được ca ngợi là bậc thầy về ngôn ngữ. Văn của ông là tờ hoa, là trang văn. Hồ Chí Minh viết văn làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ, bằng tiếng Pháp, bằng chữ chữ Hán. Thật là kì tài. 28 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  29. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Con người sống và làm việc để duy trì sự tồn tại và hơn nữa là thúc đẩy lịch sử con ngưởi phát triển. Từ mục đích đó thì ngôn ngữ ra đời để chỉ rõ hiện tượng, sự vật và ý nghĩa biểu tượng cần diễn đạt , phục vụ cuộc sống và mục đích của con người. Và còn mang một ý nghĩa khác quan trọng không kém trong cuộc sống của con người là phục vụ trong hoạt động tinh thần, về những sáng tạo nghệ thuật như thơ văn của con người. Trong đó muốn diễn đạt nó bao hàm đầy đủ ý nghĩa, muốn lưu lại và muốn hữu hình ý của mình thì hẳn nhiên con người phải tạo ra một phương thức biểu hiện mới dễ dàng và khô đúc hơn- đó là ngôn từ. Ngôn từ khác ngôn ngữ ở chỗ, ngôn từ là một trong hai bộ phận cấu thành ngôn ngữ. Nó mang nét đặc trưng, cá nhân nhưng phổ biến và khoa học. Ngôn từ là sự biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ trong sự giao tiếp sống động của con người qua lời nói của một cá nhân, mang đậm sắc thái cá nhân để tác động đến một người khác. Ngôn từ có thể là một từ, một nhóm từ, một câu, một đoạn văn khi nói hoặc khi viết. Và ngôn từ là cái tác động trực tiếp nhất, sớm nhất khi con người tiếp xúc với tác phẩm. Nên nói đến một “tác phẩm nghệ thuật đích thực” không thể không bàn đến sự phát minh về hình thức và sự khám phá về nội dung của ngôn từ trong tác phẩm. Nhưng nếu xét trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung thì ngôn từ chưa có trong hầu hết bộ phận này. Cụ thể như trong kiến trúc hay hội họa rất ít có ngôn từ, ít lấy ngôn từ làm cách diễn đạt chính trong tác phẩm đó và không mang ý nghĩa quan trọng, chủ chốt trong ngành. Vì nghệ thuật là tư duy của hình tượng, không có hình tượng thì không có nghệ thuật. Mà hình tượng là một phương tiện cố định thu hút những cái được yêu thích thường hay biến đổi; là một cái gì đơn giản và rõ ràng hơn nhiều so với cái được giải thích. Vì tính hình tượng có mục đích làm xích gần ý nghĩa của hiện tượng với cách hiểu của chúng ta. Nhưng xét trong tác phẩm văn chương thì ngược lại. Nó có ý nghĩa sâu sắc, mạnh mẽ và quyết định tới thành công của tác phẩm Nó là kẻ tạo ra thành công của tác phẩm vì hình tượng được toát ra từ ngôn từ. Ngôn từ vừa mang một nghĩa bên trong nó, tức là tính biểu thị của ngôn từ; vừa gợi ra một vật gì đó ở bên ngoài nó - là tính hàm nghĩa của ngôn từ. Mặt thứ hai này của 29 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  30. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net ngôn từ đưa đến cho con người nét nhìn sâu hơn, xa hơn, phát triển hơn. Giúp chúng ta tư duy nhanh về hình tượng. Nói như nhà văn Nga Leonov: “Tác phẩm nghệ thuật đích thực nhất là tác phẩm mà ngôn từ bao giờ cũng là một phát minh về hình thức, một khám phá về nội dung”. Như trên ta đã nói ngôn từ có thể là một từ, một câu, một đoạn Nó có cấu trúc bên trong và có quy luật, trình tự nhất định của nó. Nhiều khi chúng tạo thành hệ thống, tạo nên mối liên hệ cái này làm nảy sinh cái kia. Có đối lập nhưng lại dựa vào nhau để cùng tồn tại, chi phối nhau, quy định nhau và đòi hỏi nhau. Ngoài ra chúng còn có mối quy luật giữa ngôn từ với những thành tố bên ngoài nó như hoàn cảnh tác động từ bên ngoài tới sự hình thành của tác phẩm. Vì thế con người làm ra ngôn từ và vô tình làm ra quy luật mới. Sự thể hiện rõ ràng lập trường, quan điểm, ý thức tư tưởng, thế giới quan của mỗi người qua ngôn từ trong tác phẩm chính là “phát minh” hình thức của ngôn từ. Tuy nhiên những quy luật đó đều mang tính cộng đồng, tập thể nên rất hiện thực và gần gũi. Nếu “phát minh” đó quá xa lạ hay quá nghịch lí thì khó chấp nhận mà dễ bị phê phán, chống đối. Nó luôn luôn bị chi phối bởi ý thức và tư tưởng của đọc giả, của người trong ngành Còn “sáng tạo nội dung” qua ngôn từ là như thế nào? Ngôn từ rõ ràng không chỉ là hình thức, mà là bắt nguồn từ thực tiễn và ý thức của con người. Hình thức muốn tồn tại được thì phải luôn luôn gắn liền với nội dung, mang dấu ấn của nội dung. Ngôn từ mang nhiều nghĩa khác nhau và gần nhau. Ngôn từ là đa nghĩa và khi đem nó vào sử dụng. Qua phát minh hình thức thành công của ngôn từ sẽ tạo ra được những đoạn văn chương, những tác phẩm nghệ thuật cụ thể. Sẽ tạo ra “văn cảnh” cho tác phẩm mà không một tác phẩm nghệ thuật đích thực nào có thể biểu hiện hơn điều đó. Qua văn cảnh đó, ý muốn và dụng ý sáng tạo của tác giả được bộc lộ sâu sắc, vì thế ngôn từ cũng đã làm tròn nhiệm vụ của mình là “phát minh về hình thức và sáng tạo về nội dung”. 30 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  31. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Trong sáng tạo về nội dung của ngôn từ thể hiện thì không phải người sáng tạo dựa trên quy luật, dựa trên cái đã có để “xếp chữ” tạo ra một hình thức ngôn từ mới là đủ như hiện nay điều này diễn ra rất phổ biến. Vì như vậy tạo ra sự sao chép, học đòi và tính khoe mã không trung thực trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuật qua ngôn từ. Vì như vậy người nghệ sĩ sẽ chẳng khác nào một thợ lắp ráp ngôn từ đơn thuần, ai muốn cũng có thể làm được. Mà họ phải làm chủ được tác phẩm của mình, làm chủ ngôn từ trong tác phẩm của mình. Nó bắt nguồn từ cuộc sống và viết nên từ sâu thẳm tim gan người cầm bút, từ những tư tưởng lớn và những suy nghĩ qua bút pháp riêng. Giúp con người nâng cao tâm hồn, nhận thức, tư tưởng về cuộc sống, về nhân lọai đó cũng là điều dễ hiểu vì sao các tác giả lại đa số không tìm cách phát triển năng lực tư duy hay phân tích trong mình mà lại dồn tất cả năng lượng vào sự say mê đối với vật liệu- ngôn từ hơn. Ngôn từ văn học có thể tồn tại ở nhiêù dạng : lời nói ,câu hát, Đối với văn học viết, ngôn từ là chữ viết. Các bộ môn khoa học khác cũng được hình thành từ ngôn từ.Nhưng văn bản ngôn từ chỉ là tác phẩm văn học khi văn bản ngôn từ ấy dùng lời văn với mọi phương tiện biểu hiện của lời nói như: Nghĩa ,vần, nhịp, ngữ điệu , các biện pháp tu từ , để tạo ra những hình tượng nghệ thuật. 2. Những đặc điểm của ngôn từ văn học: Nhà văn nhà thơ phải sử dụng ngôn từ và trau chuốt nó, tạo thành một thứ ngôn ngữ văn chương giàu có, sang trọng, đẹp đẽ. Ngôn ngữ văn học có những đặc điểm sau: + Tính tổ chức + Tính chính xác + Tính truyền cảm + Tính hình tượng 31 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  32. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net + Tính hàm súc, đa nghĩa + Tính cá thể hoá Trong đó, tính chính xác, tính truyền cảm, tính hình tượng là cực kỳ quan trọng. 2.1. Tính hình tượng: Là đặc điểm quan trọng nhất của ngôn từ văn học, là khả năng của ngôn từ trong việc tái hiện đời sống, làm cho đời sống con người hiện lên như là sự thật. Tính hình tượng của ngôn ngữ có thể được thể hịên ở nhiều mặt : “từ hình tượng” ( từ tượng hình, tượng thanh ; từ miêu tả cảm giác, trạng thái , “Phương thức chuyển nghĩa của từ” ( ví von, ẩn dụ , hoán dụ, ). Tuy nhiên , không phải chỉ từ hình tượng mới tạo nên tính hình tượng cho ngôn từ. Có khi trong một văn bản, người viết sử dụng rất ít, thậm chí là không sử dụng từ hình tượng nhưng ngôn từ trong văn bản vẫn rất giàu tính hình tượng. Tính hình tượng của ngôn từ thể hiện chủ yếu ở cách tái hiện đời sống của lời văn. 2.2. Tính tổ chức: Ngôn từ văn học mang tính tổ chức cao nhằm tạo nên hiệu quả nghệ thuật. Tính tổ chức làm cho ngôn từ văn học khác biệt với ngôn từ của các phong cách khác như: ngôn ngữ sinh hoạt, ngôn ngữ đời sống, + Ngôn từ văn học bao giờ cũng có đầu, có cuối , được sắp xếp , tổ chức theo trình tự lớp lang chặt chẽ.Nếu thay đổi trật tự của nó sẽ làm thay đổi hoàn toàn nội dung của tác phẩm. Tính tổ chức của ngôn từ văn học nhằm mục đích cao nhất là tạo ra hiệu quả văn học + Lời văn lời thơ của VBVH được tổ chức bằng phương thức, phương tiện đặc biệt nhằm khắc phục kiểu diễn đạt thông thường của lời nói tự nhiên . Tính tổ chức của ngôn từ văn học có thể theo luật lệ định sẵn ( thơ Đường luật ) hoặc dựa vào cá tính sáng tạo của tác giả, miễn là tạo được híệu quả nghệ thuật cao nhất . 32 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  33. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net + Ngôn từ văn học đem đến cho người đọc những khoái cảm thẩm mĩ trước vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Lời nói tự nhiên trong giao tiếp hằng ngày không thể đem lại được những điều đó . > Ngôn từ văn học được tổ chức một cách đặc biệt để cho mỗi từ, mỗi câu đều đóng vai trò khêu gợi một cái gì lớn hơn nó, tràn ra ngoài nó, nhằm tạo dựng một ý lớn ở ngoài lời và hình thành một chỉnh thể hình tượng mới có những chuẩn mực riêng, chịu sự quy định của tính hình tượng và tính tổ chức : ● Ngôn ngữ văn học trước hết phải trong sáng và chính xác + “Trong sáng” : Ngôn từ văn học phải phù hợp với chuẩn mực của ngôn ngữ toàn dân , được đông đảo nhân dân hiểu và chấp nhận . + “Chính xác” : Tính chính xác của ngôn từ văn học được thể hiện ở : Phải dựng lên đúng cảnh, đúng người, đúng tình, đúng ý, làm cho người đọc không những hiểu được mà còn cảm nhận được điều mà nhà văn muốn diễn tả đôi khi rất tinh tế và mong manh. Tính chính xác của ngôn từ văn học thể hiện sự phát hiện sâu sắc, im đậm cá tính sáng tạo của nhà văn . ● Ngôn từ văn học phải hàm súc, cô đọng : Nói được nhiều điều nhất bằng số lượng ngôn từ ít nhất. “Ý tại ngôn ngoại” (lời chất ý rộng) ,giàu sức gợi hình, gợi cảm. 2.3. Tính “phi vật thể” của hình tượng ngôn từ và khả năng diễn tả đặc biệt phong phú của ngôn từ văn học - Chúng ta không thể cảm nhận được hình tượng ngôn từ bằng trực giác mà phải nhờ sự liên tưởng, tưởng tượng. Hình tượng ngôn từ có khả năng khêu gợi trí tưởng tượng, óc liên tưởng và đánh thức dậy ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Nó không chỉ làm cho người đọc cảm nhận được những cái cụ thể mà còn giúp cảm nhận những gì mong manh nhất, mơ hồ nhất, thậm chí là vô hình. a. Hình tượng ngôn từ thiếu tính trực quan. Tính độc đáo của chất liệu xây dựng nên hình tượng văn chương là ngôn từ đã khiến cho hình tượng văn chương mang tính phi vật thể. Người ta vẫn thường đối lập văn chương với nghệ thuật. Đây không phải 33 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  34. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net là ngẫu nhiên. Có thể phân chia thế giới nghệ thuật của con người ra làm hai loại: một loại chỉ có một ngành là văn chương, còn loại kia là gồm tất cả các ngành nghệ thuật khác. Căn cứ vào chất liệu xây dựng hình tượng thì cách phân chia này hoàn toàn hợp lí. Các ngành nghệ thuật (ngoài văn chương) hình tượng của nó được xây dựng bằng chất liệu vật chất cụ thể của tự nhiên: gỗ, đá, kim loại, sơn màu, thân thể con người v.v Từ những vật liệu có tính chất vật thể đó, hình tượng các loại hình nghệ thuật được xây dựng nên đều mang tính hữu hình trực tiếp, tính xác thực, tính trực quan. Các hình tượng hữu hình vật thể này có khả năng tác động trực tiếp vào giác quan, gây nên những ấn tượng, cảm xúc thị giác mạnh mẽ. Được xây dựng từ chất liệu ngôn từ, hình tượng văn chương không tác động trực tiếp vào các giác quan của chúng ta, dù là thị giác hay thính giác. Người thưởng thức tác phẩm văn chương được gọi là độc giả còn người thưởng thức tác phẩm nghệ thuật thường được gọi là khán giả, mặc dầu cả 2 loại người này đều dùng mắt cả. Chỉ bởi, đối với văn chương không ai trực tiếp nhìn, ngắm hình tượng của nó bằng mắt cả. Các hình tượng văn chương hiện lên trong óc người thưởng thức bằng trí tưởng tượng. Người đọc phá vỡ ý nghĩa các từ, câu để liên tưởng với các biểu tượng về đối tượng được miêu tả, nhờ vào trí tưởng tượng mà người đọc dường như tái tạo đối tượng miêu tả mà văn bản chỉ ra. Như thế chúng ta không sờ thấy, nghe thấy, nhìn thấy trực tiếp tượng văn chương. Các hình tượng văn chương thiếu tính trực quan, chúng phi vật thể. Nghệ thuật là qui luật của tình cảm, mà tình cảm chỉ xuất hiện khi con người tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng cụ thể. Đứng về phương diện này, văn chương phải nhường chỗ cho các nghệ thuật khác. Tính phi vật thể của hình tượng văn chương đã không thể tạo ra được tri giác cảm tính trực tiếp. Đây là một khiếm khuyết, nhiều khi không phải là nhỏ của văn chương. Để khắc phục tình trạng đó, nghệ sĩ ngôn từ luôn luôn phấn đấu cho các hình tượng vật thể của mình trở nên hữu hình. Vì vậy, mà tính tạo hình là một thuộc tính của hình tượng văn chương. Người xưa thường nói thi trung hữu họa, ngày nay Gorki đã gọi văn chương là nghệ thuật tạo hình bằng phương tiện ngôn ngữ. Chính những biểu tượng hữu hình mà ngôn từ gợi nên đã khiến cho độc giả có cảm giác là có thể cảm thụ nghệ thuật văn chương bằng thị giác. 34 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  35. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net b. Hình tượng nghệ thuật ngôn từ tác động tới mọi giác quan của độc giả. Nếu như các ngành nghệ thuật khác, hình tượng của nó chỉ có thể cảm thụ bằng 2 giác quan là thị giác và thính giác, thì hình tượng phi vật thể của văn chương lại có năng tác động tới người đọc không chỉ ở cơ quan thị giác mà cả thính giác, vị giác và khứu giác. Độc giả dường như phải vận dụng mọi cơ quan cảm giác để tiếp nhận hình tượng văn chương. Những câu thơ sau đây ta phải dùng thị giác để tiếp nhận màu sắc, hình khối của hiện thực: - Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa Những câu thơ sau đây ta phải dùng thính giác để tiếp nhận âm thanh cuộc sống: - Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài biển bắc Giọt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên. - Đùng đùng gió dục mây vần Một xe trong cõi hồng trần như bay. Hình tượng ngôn từ còn đem đến cho con người cả hương vị cuộc sống: - Em ạ! Cu_ba ngọt lịm đường Mía xanh đồng bãi, biếc đồi nương. Hình tượng văn chương còn đem đến cho con người những cảm giác khác: - Cảm giác về sự đau đớn: Cháu buốt ở trong tim này Nơi tang đeo suốt đêm ngày Bác ơi. Đó là những cảm giác ngoài cảm giác vì nó không do các giác quan đem lại mà do sự thể nghiệm của độc giả đưa lại khi các hình tượng văn chương tác động tới sự tưởng tượng trí tuệ của chúng ta. Tính hơn hẳn của nghệ thuật ngôn từ không chỉ ở chỗ nó tác động tới nhiều cơ quan cảm giác của người đọc mà còn ở chỗ tác động tới trí tưởng tượng trí tuệ. Thực sự thì nghệ thuật ngôn từ không lấy mục đích tối thượng là khắc họa bản thân các thuộc tính của sự vật để có thể cảm nhận bằng giác quan của người đọc, mà nó lấy việc khắc học những phản ứng của ý thức con người trước hiện thực làm quan trọng. Do đó, điều quan trọng trong hình tượng nghệ thuật ngôn từ là tâm trạng và muốn thưởng thức nó bạn đọc không phải nhìn ngắm mà là thể nghiệm. Ðây là tâm trạng đau đớn vì mất mát quá lớn của Nguyễn Khuyến: Bác Dương thôi, đã thôi rồi Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta c.Tính chủ quan, cá biệt của hình tượng văn chương Hình tượng nghệ thuật văn chương là phi vật thể nó lại lấy việc khắc họa tâm trạng, thể hiện các môn quan hệ, các phản ứng của ý thức con người - là những cái vô hình - làm chủ yếu, chứ không lấy sự liệt kê các chi tiết có thể thụ cảm bằng thị giác làm cứu cánh. Do đó, trong các liên tưởng ở người đọc do hình tượng ngôn từ gợi nên 35 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  36. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net có tính chủ quan cá biệt, thậm chí tùy tiện. Nhưng đây lại là đặc trưng bản chất của văn chương. Không nói những yếu tố vô hình mà ngay những yếu tố hữu hình - ví dụ như ngoại hình nhân vật, phong cảnh thiên nhiên của hình tượng văn chương, biểu tượng của chúng xuất hiện rất khác nhau ở người đọc, khác với biểu tượng xuất hiện của người xem tranh, xem kịch hay xem chiếu bóng. Trong các người đọc khác nhau sẽ xuất hiện những biểu tượng khác nhau về cùng một nhân vật văn chương. 3.Các đặc trưng cơ bản trong nghệ thuật ngôn từ Việt Nam Công cụ của giao tiếp là ngôn ngữ. W. Humboldt, nhà văn hóa lớn của nhân dân Đức, từng nói ngôn ngữ là "linh hồn của một dân tộc". Nhìn vào tiếng Việt, có thể nhìn thấy đúng là nó phản ánh rõ hơn đâu hết linh hồn, tính cách của người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam. Trước hết, nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có tính biểu trưng cao. Tính biểu tượng thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, công thức (ước lệ) hóa với những cấu trúc cân đối, hài hòa. Xu hướng ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích những cách diễn đạt bằng các con số biểu trưng. Ví dụ : “ba bề bốn bên”, “từ khắp bốn phương trời”, “Nó mở to đôi mắt”. Ở những trường hợp, người châu Âu dùng từ "tất cả" thì người Việt dùng các từ chỉ số lượng ước lệ: ba thu, nói ba phải, ba mặt một lời, năm bè bảy mối, tam khoanh tứ đốm, yêu nhau tam tứ núi cũng trèo , trăm dâu đổ một đầu tằm, trăm khôn ngàn khéo, tiền trăm bạc vạn, trăm họ, vạn sự, muôn dân, muôn vật, Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ổn định có quan hệ tốt với hết thảy mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ - một biểu hiện khác của tính biểu trưng. Tính cân xứng là một đặc tính rất điển hình của tiếng Việt. Theo nguyên lý cấu trúc loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết, song nó chứa một khối lượng không nhỏ các từ song tiết; điều quan trọng hơn nữa là mỗi từ đơn tiết lại hầu như đều có thể có những biến thể song tiết, dạng láy, cho nên thực chất trong ngôn từ, lời nói Việt thì cấu trúc song tiết lại là chủ đạo. Các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt đều cấu tạo theo cấu trúc có 2 vế đối ứng: trèo cao/ ngã đau; ăn vóc/học hay; một quả dâu da/ bằng ba chén thuốc; biết thì thưa thốt/ không biết thì dựa cột mà nghe. Đặc điểm thứ hai của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam là nó rất giàu chất biểu 36 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  37. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net cảm- sản phẩm tất yếu của một nền văn hóa trọng tình cảm. Về mặt từ ngữ chất biểu cảm này thể hiện ở chỗ các từ, bên cạnh yếu tố gốc mang sắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể với những sắc thái nghĩa biểu cảm: Bên cạnh màu xanh trung tính, có đủ thứ xanh rì, xanh rờn, xanh rợn, xanh ngắt, xanh um, xanh lè Bên cạnh màu đỏ trung tính có đỏ rực, đỏ au, đỏ lòm, đỏ loét, đỏ hoe Các từ láy mang sắc thái biểu cảm mạnh cũng rất phổ biến trong tiếng Việt (ở các ngôn ngữ khác, kể cả tiếng Hán, đều hầu như không có). Ở trên vừa nói tiếng Việt thiên về thơ, mà thơ là mang đậm chất tình cảm rồi, cho nên từ láy với bản chất biểu cảm rất phù hợp với nó (xem thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, ). Về mặt ngữ pháp, tiếng Việt sử dụng rất nhiều các hư từ có sắc thái biểu cảm: à, ư, nhỉ, chăng, chớ, hả, hở, phỏng, sao, chứ Cấu trúc "iếc hóa" mang sắc thái đánh giá (sách siết, bàn biếc, ) cũng góp phần quan trọng làm tăng cường hệ thống các phương tiện biểu cảm cho tiếng Việt. Sự phổ biến của thơ hơn văn xuôi đã nói đến ở trên không chỉ là sản phẩm của tính biểu trưng mà rõ ràng cũng đồng thời là sản phẩm của tính biểu cảm. Khuynh hướng biểu cảm còn thể hiện ở chỗ trong lịch sử văn chương truyền thống, không có những tác phẩm anh hùng ca đề cao chiến tranh; có nói đến chiến tranh chăng thì cũng chỉ là nói đến nỗi buồn của nó Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có đặc điểm thứ ba là tính động, linh hoạt. Tính động, linh hoạt này trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp. Trong khi ngữ pháp biến hình của các ngôn ngữ châu Âu là một thứ ngữ pháp chặt chẽ tới mức máy móc thì ngữ pháp tiếng Việt tổ chức chủ yếu theo lối dùng các từ hư để biểu hiện các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp, khiến cho người sử dụng được quyền linh hoạt tối đa. Ngữ pháp phương Tây là ngữ pháp hình thức, còn ngữ pháp Việt Nam là ngữ pháp ngữ nghĩa. Nói bằng một ngôn ngữ châu Âu, ta bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ mọi đòi hỏi tai quái mà hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ đó yêu cầu. Còn trong tiếng Việt thì tùy theo ý đồ của người nói mà anh ta có thể diễn đạt, không thể diễn đạt hay diễn đạt nhiều lần một ý nghĩa ngữ pháp nào đó: Tôi đi Hà Nội, Tôi sẽ đi Hà Nội, Ngày mai tôi đi Hà Nội, Ngày mai tôi sẽ đi Hà Nội. Chính vì linh hoạt như vậy mà tiếng Việt có khả năng diễn đạt khái quát rất cao, có thể nói một câu không thời, không thể, không 37 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  38. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net ngôi. Khả năng diễn đạt khái quát, mơ hồ chính là điều kiện rất quan trọng cho việc phát triển thơ ca đã nói đến ở trên. Tính động, linh hoạt của ngôn từ Việt Nam còn bộc lộ ở chỗ trong lời nói, người Việt rất thích dùng cấu trúc động từ : trong một câu có bao nhiêu hành động thì có bấy nhiêu động từ; “Cảm ơn anh đã tới nhà chơi”.Tính linh hoạt, năng động còn là nguyên nhân khiến cho tiếng Việt rất ít dùng cầu trúc bị động. Người Việt thậm chí dùng cấu trúc chủ động ngay cả trong câu bị động: “Lan bị thầy giáo phạt”. Như vậy, có thể nói rằng trong giao tiếp, người Việt Nam có thiên hướng nói đến những nội dung tĩnh (tâm lý, tình cảm, dẫn đến nghệ thuật thơ ca và phương pháp biểu trưng) bằng hình thức động ( kiến trúc động từ, ngữ pháp, ngữ nghĩa linh hoạt). Trong khi đó thì người phương Tây nói riêng và truyền thống văn hóa trọng dương nói chung lại có thiên hướng nói đến những nội dung động (hành động, sự việc, dẫn đến nghệ thuật văn xuôi và phương pháp tả thực) bằng hình thức tĩnh (kiến trúc danh từ, ngữ pháp hình thức chặt chẽ). Mới hay, ngôn ngữ thực sự là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc và tác động của luật âm dương (trong âm có dương, trong dương có âm; âm sinh dương, dương sinh âm) thật là rộng lớn và sâu xa! rình sáng tạo thi ca vừa là nô lệ, vừa là phù thủy của ngôn từ. Ngôn từ quyến rũ nhà thơ và hoà nhập, lặn sâu vào tiềm thức, làm khuấy đảo tầng sâu vô thức gây nên sự bùng nổ sáng tạo thi ca. Quá trình nhà thơ tìm chữ là hành trình thăm thẳm của sự phân ly, hội tụ giữa bản ngã và ngoại cảnh, giữa vô thức và ý thức, giữa vô ngôn và chuẩn mực ngôn ngữ xã hội Nhà thơ tự nguyện đóng đinh bản ngã trên cây thập tự chữ để dựng lên vũ trụ của ngôn từ và hồi sinh trong thế giới tâm linh của bạn đọc. Nhà thơ sinh ra chữ và chữ cũng sinh ra nhà thơ. Thi ca giống như một ngôi đền và nhà thơ giống kẻ tử đạo bật ra những ngôn từ tươi rói từ tiềm thức nhưng lại không bị sự linh thiêng của những biểu tượng làm mê hoặc, tê liệt tâm linh. Chính vì thế ngôn ngữ thi ca có sức lay động, khơi gợi những vùng sâu thẳm của vô thức mà không ngôn ngữ nào sánh nổi. Ngôn ngữ thi ca gần gũi với sự bí ẩn của ngôn ngữ thần chú và công án thiền. Sự mã hóa 38 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  39. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net của ngôn ngữ thần chú và công án thiền không nằm ở lớp vỏ ngữ nghĩa mà là ở chiều sâu và khoảng lặng của ngôn từ. Chất thơ của ngôn ngữ thi ca không chỉ là nhạc tính như một số nhà thơ đã quan niệm. Ngôn ngữ thi ca ra đời từ sự tương tác giữa chữ và âm thanh, giữa hình ảnh và ý nghĩa. Paul Valéry đã viết: “Thơ là sự giao động miên man giữa âm thanh và ý nghĩa ”. Nhà văn sử dụng ngôn từ để xây dựng hình tượng văn học. Vì thế đọc sách hoặc phân tích thơ văn không được thoát li văn bản và ngôn từ. III.Phân tích nghệ thuật ngôn từ của các bài thơ trong Tiếng Việt lớp 5 Sắc màu em yêu Em yêu màu đỏ : Em yêu màu xanh : Như máu trong tim, Đồng bằng, rừng núi, Lá cờ Tổ quốc Biển đầy cá tôm, Khăn quàng đội viên. Bầu trời cao vợi. Em yêu màu vàng : Em yêu màu tím : Lúa đồng chín rộ, Hoa cà, hoa sim, Hoac cúc mùa thu, Chiếc khăn của chị, Nắng vàng rực rỡ. Nét mực chữ em. Em yêu màu trắng : Em yêu màu nâu : Trang giấy tuổi thơ, Áo mẹ sờn bạc, Đóa hoa hồng bạch, Đất đai cần cù, Mái tóc của bà. Gỗ rừng bát ngát. Em yêu màu đen : Trăm nghìn cảnh đẹp Hòn than óng ánh, Dành cho em ngoan. Đôi mắt bé ngoan, Em yêu tất cả 39 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  40. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Màn đêm yên tĩnh. Sắc màu Việt Nam. PHẠM ĐÌNH ÂN ● Xét về phương diện cú pháp, tác giả sử dụng các từ ngữ biểu trưng đã làm cho bài thơ gây ấn tượng, làm cho người đọc hình dung rõ nét về đặc điểm riêng của từng màu, và sự liên tưởng màu sắc với những sự vật, hiện tượng trong đời thường, qua đó hiểu được nội dung của bài (Đáp án câu 4): + màu đỏ : máu trong tim, lá cờ Tổ quốc, khăn quàng đội viên. + màu vàng : lúa đồng chín rộ, hoa cúc, nắng trời. + màu trắng : trang giấy, đóa hoa hồng bạch, mái tóc của bà. + màu đen : hòn than, đôi mắt, màn đêm. + màu xanh : đồng bằng, rừng núi, biển, bầu trời. + màu tím : hoa cà, hoa sim, chiếc khăn, nét mực. + màu nâu : áo mẹ sờn bạc, đất đai, gỗ rừng. Câu hỏi : 1. Bạn nhỏ yêu những sắc màu nào? 2. Mỗi sắc màu gợi ra những hình ảnh nào? 3. Vì sao bạn nhỏ yêu tất cả các sắc màu đó? 4. Bài thơ nói lên điều gì về tình cảm của bạn nhỏ với quê hương, đất nước? Đáp án : 1. Bạn yêu tất cả các sắc màu. 3. Vì các sắc màu đều gắn với những sự vật, những cảnh, những con người bạn yêu quý. 4. Bạn nhỏ yêu mọi màu sắc trên đất nước. Bạn yêu quê hương, đất nước. ● Tính hình tượng của ngôn từ trong bài thể hiện chủ yếu ở cách tái hiện đời sống của lời văn. ● Bài thơ còn thành công đặc sắc ở lập luận cấu tứ : tác giả tìm ra cách nói sáng tạo, mới mẻ để viết về Tổ quốc, nhân dân. Ông đã ngắm nhìn, soi xét, mong muốn từ góc độ của sắc màu để cho bài thơ từ từ hiện lên một Tổ quốc gần gũi thân yêu cùng với em bé với những người thân trong gia đình của em là bà, mẹ và chị. 40 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  41. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net ● Ngoài ra, đặc điểm thơ trữ tình (nghệ thuật trùng điệp) cũng được bộc lộ trong bài thơ qua điệp từ “em yêu” để nhấn mạnh thêm, khẳng định thêm tình cảm của em nhỏ đối với quê hương, đất nước. Hành trình của bầy ong Với đôi cánh đẫm nắng trời Bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa. Không gian là nẻo đường xa Thời gian vô tận mở ra sắc màu. Tìm nơi thăm thẳm rừng sâu Bập bùng hoa chuối, trắng màu hoa ban. Tìm nơi bờ biển sóng tràn Hàng cây chắn bão dịu dàng mùa hoa. Tìm nơi quần đảo khơi xa Có loài hoa nở như là không tên Bầy ong rong ruổi trăm miền Rù rì đôi cánh nối liền mùa hoa. Nối rừng hoang với biển xa Đất nơi đâu cũng tìm ra ngọt ngào. (Nếu hoa có ở trời cao Thì bầy ong cũng mang vào mật thơm). Chất trong vị ngọt mùi hương Lặng thầm thay những con đường ong bay. Trải qua mưa nắng vơi đầy Men trời đất đủ làm say đất trời. Bầy ong giữ hộ cho người Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày. NGUYỄN ĐỨC MẬU 41 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  42. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net ● Sử dụng từ ngữ gợi hình ảnh : đôi cánh đẫm nắng trời / không gian là nẻo đường xa (thể hiện sự vô cùng của không gian) ; bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa (vô tận của thời gian). ● Biện pháp đảo : bập bùng hoa chuối, trắng màu hoa ban ; nhân hóa : hàng cây chắn bão dịu dàng mùa hoa ; so sánh : có loài hoa nở như là không tên (để miêu tả vẻ đẹp của những nơi ong đến). ● Ẩn dụ : không chỉ dừng lại ở chuyện những con ong chăm chỉ, có ích mà qua đó giáo dục học sinh chăm chỉ học tập để mang lại những mùa hoa cho cuộc sống. Câu hỏi : 1. Những chi tiết nào trong khổ thơ đầu nói lên hành trình vô tận của bầy ong? 2. Nơi bầy ong đến có vẻ đẹp gì đặc biệt? 3. Qua câu chuyện về công việc của bầy ong, em có liên hệ gì với bản thân mình? Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà (Trích) Trên sông Đà Một đên trăng chơi vơi Tôi đã nghe tiếng ba-lai-lai-ca Một cô gái Nga mái tóc màu hạt dẻ Ngón tay đan trên những sợi dây đồng. Lúc ấy Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ Chỉ còn tiếng đàn ngân nga Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà. 42 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  43. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Ngày mai Chiếc đập lớn nối liền hai khối núi Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên Sông Đà chia ánh sáng đi muôn ngả Từ công trình thủy điện lớn đầu tiên. QUANG HUY ● Chi tiết trong bài thơ mang tính gợi tả, gợi cảm : cả công trường say ngủ cạnh dòng sông / những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ / những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ (gợi lên hình ảnh một đêm trăng tĩnh mịch) ; tiếng đàn ngân nga / dòng trăng lấp loáng (gợi lên hình ảnh đêm trăng sinh động). ● Sử dụng biện pháp nhân hóa : công trường say ngủ; tháp khoan ngẫm nghĩ; xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ; biển nằm bỡ ngỡ (nói lên sức mạnh kỳ diệu của con người “dời non lấp biển”, tác giả gán cho biển tâm trạng như con người – ngạc nhiên vì sự xuất hiện kỳ lạ của mình giữa vùng đất cao); sông Đà chia ánh sáng. Câu hỏi : 1. Những chi tiết nào trong bài thơ gợi lên hình ảnh một đêm trăng vừa tĩnh mịch, vừa sinh động trên công trường sông Đà? 2. Những câu thơ trong bài sử dụng biện pháp tu từ gì? Tác dụng của cách sử dụng đó? Đất nước (Trích) Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa. Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội 43 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  44. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha. Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa. Nước chúng ta, Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về. NGUYỄN ĐÌNH THI ●Tác giả chọn cấu tứ theo hai trục không gian và thời gian để nói về đất nước tươi đẹp và truyền thống của ông cha (bốn câu thơ khổ thơ thứ hai viết về mùa thu Hà Nội năm xưa – năm những người con của Thủ đô từ biệt Hà Nội – Thăng Long – Đông Đô lên chiến khu đi kháng chiến). ● Về phương diện từ vựng, tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa – làm cho trời cũng thay áo, cũng nói cười như con người – để thể hiện niềm vui phơi phới, rộn ràng của thiên nhiên, đất trời trong mùa thu thắng lợi của cuộc kháng chiến. 44 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  45. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net ● Sử dụng biện pháp lặp từ ngữ : trời xanh đây ; núi rừng đây ; của chúng ta : có tác dụng nhấn mạnh niềm tự hào, hạnh phúc về đất nước giờ đây đã tự do, đã thuộc về chúng ta. ● Liệt kê những hình ảnh miêu tả : những cánh đồng thơm mát; những ngả đường bát ngát; những dòng sông đỏ nặng phù sa như vẽ ra trước mắt cảnh đất nước tự do bao la. Câu hỏi : 1. Tác giả đã sử dụng biện pháp gì để tả thiên nhiên, đất nước trong mùa thu thắng lợi của cuộc kháng chiến? 2. Lòng tự hào về đất nước tự do và truyền thống bất khuất của dân tộc thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh nào ở hai khổ thơ cuối? Bầm ơi Ai về thăm mẹ quê ta Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm Bầm ơi có rét không bầm? Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đon Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu! Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe! Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm 45 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  46. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi. Con ra tiền tuyến xa xôi Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền. TỐ HỮU ● Sử dụng từ địa phương : Bầm (tình cảm thân thương, yêu mến, nhớ thương của người con đối với mẹ của mình). ● Sử dụng hình ảnh so sánh để thể hiện tình cảm mẹ con thắm thiết, sâu nặng: + Tình cảm của mẹ đối với con : mạ non bầm cấy mấy đon / ruột gan bầm lại thương con mấy lần. + Tình cảm của con đối với mẹ : mưa phùn ướt áo từ thân /mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu. ● Cũng cách nói so sánh để làm yên lòng mẹ của anh chiến sỹ : con đi trăm núi ngàn khe / chưa bằng trăm nỗi tái tê lòng bầm – Con đi đánh giặc mười năm / chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi. Câu hỏi : 1. Để thể hiện tình cảm thân thương của mình dành cho mẹ, người chiến sỹ đã gọi mẹ mình bằng từ nào? 2. Tìm những hình ảnh so sánh thể hiện tình cảm mẹ con thắm thiết, sâu nặng? 3. Anh chiến sỹ đã dùng cách nói như thế nào để làm yêu lòng mẹ? Cửa sông (Trích) Là cửa nhưng không then khóa Nơi cá đối vào đẻ trứng Cũng không khép lại bao giờ Nơi tôm rảo đến búng càng Mênh mông một vùng sóng nước Cần câu uốn cong lưỡi sóng Mở ra bao cõi đợi chờ. Thuyền ai lấp lóa đêm trăng. 46 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  47. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Nơi những con sông cần mẫn Nơi con tàu chào mặt đất Gửi lại phù sa bãi bồi Còi ngân lên khúc giã từ Để nước ngọt ùa ra biển Cửa sông tiễn người ra biển Sau cuộc hành trình xa xôi. Mây trắng lành như phong thư. Nơi biển tìm về với đất Dù giáp mặt cùng biển rộng Bằng con sóng nhớ bạc đầu Cửa sông chẳng dứt cội nguồn Chất muối hòa trong vị ngọt Lá xanh mỗi lần trôi xuống Thành vùng nước lợ nông sâu. Bỗng nhớ một vùng núi non. QUANG HUY ● Dùng biện pháp độc đáo chơi chữ : tác giả dựa vào cái tên “cửa sông” – Là cửa nhưng không then khóa ; Cũng không khép lại bao giờ (cách nói rất đặc biệt : cửa sông cũng là một cái cửa nhưng khác mọi cái cửa bình thường, không có then, có khóa. Bằng cách đó, tác giả làm người đọc hiểu ngay thế nào là cửa sông – là nơi sông chảy ra biển, cảm thấy cửa sông rất thân quen). ● Sử dụng hình ảnh nhân hóa : Dù giáp mặt cùng biển rộng / Cửa sông chẳng dứt cội nguồn / Lá xanh mỗi lần rơi xuống / Bỗng nhớ một vùng nước non : giúp tác giả nói được “tấm lòng của sông không quên cội nguồn”. ● Nghệ thuật sắp xếp trong bài thơ đặc sắc : sự đan xen giữa những câu thơ, khổ thơ tả cảnh cửa sông – nơi ra đi, nơi tiễn đưa, cũng là nơi trở về (khổ 2 : cửa sông là nơi nước ngọt ùa ra biển sau cuộc hành trình xa xôi. Khổ 3 : cửa sông là nơi tìm về với đất bằng con sóng nhớ bạc đầu. Khổ 4 tiếp tục phát triển ý này : cửa sông là nơi cá đối vào đẻ trứng, nơi tôm rảo đến búng càng. Khổ 5 lại quay về với nội dung của khổ 2 nhưng được nâng lên ở bậc cao hơn – cửa sông là nơi tiễn đưa những người ra khơi). Câu hỏi : 1. Trong khổ thơ đầu, tác giả dùng những từ ngữ nào để nói về nơi sông chảy ra biển? Cách giới thiệu ấy có gì hay? 47 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  48. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net 2. Để nói về “tấm lòng” của cửa sông đối với cội nguồn, tác giả đã dùng biện pháp tu từ gì? 3. Cách sắp xếp các ý trong bài thơ có gì đặc sắc? Bài ca về trái đất Trái đất này là của chúng mình Quả bóng xanh bay giữa trời xanh Bồ câu ơi, tiếng chim gù thương mến Hải âu ơi, cánh chim vờn sóng biển Cùng bay nào, cho trái đất quay! Cùng bay nào, cho trái đất quay! Trái đất trẻ của bạn trẻ năm châu Vàng, trắng, đen dù da khác màu Ta là nụ, là hoa của đất Gió đẫm hương thơm, nắng tô thắm sắc Màu hoa nào, cũng quý cũng thơm! Màu hoa nào, cũng quý cũng thơm! Khói hình nấm là tai họa đấy Bom H, bom A không phải bạn ta Tiếng hát vui giữ bình yên trái đất Tiếng cười ran cho trái đất không già Hành tinh này là của chúng ta! Hành tinh này là của chúng ta! ĐỊNH HẢI Hạt gạo làng ta Hạt gạo làng ta Những năm khẩu sung 48 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  49. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Có vị phù sa Theo người đi xa Của sông Kinh Thầy Những năm băng đạn Có hương sen thơm Vàng như lúa đồng Trong hồ nước đầy Bát cơm mùa gặt Có lời mẹ hát Thơm hào giao thông Ngọt bùi đắng cay Hạt gạo làng ta Hạt gạo làng ta Có công các bạn Có bão tháng bảy Sớm nào chống hạn Có mưa tháng ba Vục mẻ miệng gầu Giọt mồ hôi sa Trưa nào bắt sâu Những trưa tháng sáu Lúa cao rát mặt Nước như ai nấu Chiều nào gánh phân Chết cả cá cờ Quang trành quết đất. Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy Hạt gạo làng ta Gửi ra tiền tuyến Hạt gạo làng ta Gửi về phương xa Những năm bom Mỹ Em vui em hát Trút trên mái nhà Hạt vàng làng ta TRẦN ĐĂNG KHOA Về ngôi nhà đang xây Chiều đi học về Chúng em qua ngôi nhà xây dở Giàn giáo tựa cái lồng che chở Trụ bê tông nhú lên như một mầm cây Bác thợ nề ra về còn huơ huơ cái bay : 49 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  50. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Tạm biệt! Ngôi nhà tựa vào nền trời sẫm biếc Thở ra mùi vôi vữa nồng hăng Ngôi nhà giống bài thơ sắp làm xong Là bức tranh còn nguyên màu vôi, gạch. Bầy chim đi ăn về Rót vào ô cửa chưa sơn vài nốt nhạc. Nắng đứng ngủ quên Trên những bức tường Làn gió nào về mang mùi hương Ủ đầy những rãnh tường chưa trát vữa. Bao ngôi nhà đã hoàn thành Đều qua những ngày xây dở. Ngôi nhà như trẻ thơ Lớn lên với trời xanh ĐỒNG XUÂN LAN Tiếng vọng Con chim sẻ nhỏ chết rồi Chết trong đêm cơn bão về gần sáng. Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe cánh chim đập cửa Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi. Chiếc tổ cũ trong ống tre đầu nhà chiều gió hú Không còn nghe tiếng cánh chim về, Và tiếng hót mỗi sớm mai trong vắt. 50 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  51. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Nó chết trước của nhà tôi lạnh ngắt Một con mèo hàng xóm lại tha đi Nó để lại trong tổ những quả trứng Những con chim non mãi mãi chẳng ra đời. Đêm đêm tôi vừa chợp mắt Cánh cửa lại rung lên tiếng đập cánh Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ Tiếng lăn như đá lở trên ngàn. NGUYỄN QUANG THIỀU Trước cổng trời (Trích) Giữa hai bên vách đá Những vạt nương màu mật Mở ra một khoảng trời Lúa chín ngập lòng thung Có gió thoảng mây trôi Và tiếng nhạc ngựa rung Cổng trời trên mặt đất Suốt triền rừng hoang dã Người Tàu từ khắp ngả Nhìn ra xa ngút ngàn Đi gặt lúa, trồng rau Bao sắc màu cỏ hoa Những người Giáy, người Dao Con thác réo ngân nga Đi tìm măng, hái nấm Đàn dê soi đáy suối Vạt áo choàng thấp thoáng Giữa ngút ngàn cây trái Nhuộm xanh cả nắng chiều Dọc vùng rừng nguyên sơ Và gió thổi, suối reo Không biết thực hay mơ Ấm giữa rừng sương giá. Ráng chiều như hơi khói NGUYỄN ĐÌNH ẢNH Những cánh buồm (Trích) 51 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  52. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net Hai cha con bước đi trên cát Ánh mặt trời rực rỡ biển xanh Bóng cha gì lênh khênh Bóng con tròn chắc nịch. Sau trận mưa đêm rả rích Cát càng mịn, biển càng trong Cha dắt con đi dưới ánh mai hồng Con bỗng lắc tay cha khẽ hỏi : “Cha ơi! Sao xa kia chỉ thấy nước thấy trời Không thấy nhà, không thấy cây, không thấy người ở đó?” Cha mỉm cười xoa đầu con nhỏ “Theo cánh buồm đi mãi đến nơi xa Sẽ có cây, có cửa có nhà, Nhưng nơi đó cha chưa hề đến.” Cha lại dắt con đi trên cát mịn Ánh nắng chảy đầy vai, Cha trầm ngâm nhìn mãi cuối chân trời. Con lại trỏ cánh buồm khẽ hỏi : “Cha mượn cho con cánh buồm trắng nhé, Để con đi ” Lời của con hay tiếng sóng thầm thì Hay tiếng lòng của cha từ một thời xa thẳm ? Lần đầu tiên trước biển khơi vô tận Cha gặp lại mình trong ước mơ con. 52 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
  53. Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học tincanban.com – choque24h.net HOÀNG TRUNG THÔNG Sang năm con lên bảy (Trích) Sang năm con lên bảy Đi qua thời ấu thơ Cha đưa con tới trường Bao điều bay đi mất Giờ con đang lon ton Chỉ còn trong đời thật Khắp sân vườn chạy nhảy Tiếng người nói với con Chỉ mình con nghe thấy Hạnh phúc khó khăn hơn Tiếng muôn loài với con. Mọi điều con đã thấy Nhưng là con giành lấy Mai rồi con lớn khôn Từ hai bàn tay con. Chim không còn biết nói Gió chỉ còn biết thổi VŨ ĐÌNH MINH Cây chỉ còn là cây Đại bàng chẳng về đây Đậu trên cành khế nữa Chuyện ngày xưa, ngày xửa Chỉ là chuyện ngày xưa. Nếu trái đất thiếu trẻ con (Trích) Tôi và Anh vào Cung Thiếu nhi Gặp các em Và xem tranh vẽ Thành phố Hồ Chí Minh rất nhiều gương 53 Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH