Các khái niệm cơ bản về kinh tế (Song ngữ) - Phần 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Các khái niệm cơ bản về kinh tế (Song ngữ) - Phần 2", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
cac_khai_niem_co_ban_ve_kinh_te_song_ngu_phan_2.pdf
Nội dung text: Các khái niệm cơ bản về kinh tế (Song ngữ) - Phần 2
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) 45. The Appreciation of The Chinese Yuan The United States has a very large trade deficit with China and overall. It has low interest rates also, now at 1% for inter-bank deposits. Normally, this combination would result in a weaker currency. People hold a lot of surplus dollars (received from goods sold to the US) and have little reason to hold us debt. However, Japan and China - among others - decide to buy us government debt to prevent their currencies from strengthening against the dollar. This protects their exports and weakens manufacturing in the US, which has lost nearly three million jobs in the last three years. As a result, the us is asking China to change the value of its currency against the dollar. Now a yuan is worth about 12 cents (8.28 yuan = $1), and this rate is not allowed to change by the Chinese government. They fear that a stronger yuan worth, say, 14 cents (7.1 yuan = $1) would allow more us exports to China and fewer Chinese exports to the us. A shirt produced in China costing 100 yuan would then rise in dollars from $12 to $14, and this would give us (or other) shirt makers a better chance to compete. Since China exports five times as much to the us as it imports, the us thinks that a revaluation is fair and needed. If China does not change its exchange rate, it is possible that protectionist moves will be initiated by the Congress and even possibly approved by President Bush. But even without this, the trade surplus plus the capital inflows are creating a liquidity bubble in China. Real estate prices are rising very rapidly, and experts fear that bank loans backed by real estate could go bad if the bubble collapses. 112 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) This would hurt the banks in China that are already weak and ultimately slow the Chinese economy. Thus, it is likely that China will eventually change its exchange rate to avoid these problems. 45. SỰ TĂNG GIÁ CỦA NHÂN DÂN TỆ (RMB) Mỹ có thâm hụt ngoại thương rất lớn với Trung Quốc và các nước, đồng thời lãi suất tiền gửi liên ngân hàng hiện cũng rất thấp, chỉ 1 %. Thông thường một kết hợp như vậy sẽ làm cho đồng tiền yếu đi. Người dân giữ rất nhiều đô-la (thu từ hàng bán sang Mỹ) và không có lý do gì để mua trái phiếu của Mỹ. Tuy nhiên, Nhật, Trung Quốc và các nước khác quyết định cho chính phủ Mỹ vay nợ, để ngăn không cho đồng tiền của mình mạnh lên so với đô-la. Điều này giúp bọ bảo vệ hàng xuất khẩu và làm suy yếu hoạt động sản xuất ở Mỹ, nơi mà trong ba năm qua đã mất gần 3 triệu việc làm. Kết quả, Mỹ đang yêu cầu Trung Quốc thay đổi giá trị đồng RMB so với đô-la. Một RMB nay có giá trị 12 xen (8,28 RMB/$), và chính phủ Trung Quốc không cho phép thay đổi tỉ giá này. Họ e rằng RMB mạnh hơn, ví dụ bằng 14 xen, (7,1 RMB/$) sẽ giúp Mỹ xuất khẩu nhiều hơn sang Trung Quốc, trong khi nhập khẩu ít hơn từ nước này. Khi đó, một áo sơ mi Trung Quốc giá 100 RMB sẽ tăng từ 12 lên 14 đô-la, cho các nhà sản xuất sơ mi Mỹ (hay nước khác) một cơ hội cạnh tranh tốt hơn. Vì Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ gấp 5 lần nhập khẩu nên Mỹ cho rằng nâng giá RMB là hợp lý và cần thiết. Nếu Trung Quốc không thay đổi tỉ giá, có khả năng những động thái bảo hộ sẽ được Quốc hội Mỹ khởi xướng và tổng thống Bush phê chuẩn. Ngay cả nếu không có điều này, thặng dư thương mại cộng với các dòng vốn chảy vào đang 113 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) tạo ra một bong bóng thanh khoản ở Trung Quốc. Giá thực bất động sản đang tăng rất nhanh, các chuyên gia lo rằng nợ ngân hàng được đảm bảo bằng bất động sản có thể trở thành khó đòi nếu tình trạng bong bóng này đổ vỡ. Các ngân hàng vốn yếu kém của Trung Quốc sẽ bị thiệt hại và làm trì trệ nền kinh tế. Do đó, có khả năng Trung Quốc sau cùng sẽ thay đổi tỉ giá hối đoái để tránh những vấn đề này. (Saigon Times Daily 17-11-2003 ) 46. Exchange Rate and Financial Crisis Between the two extremes of the fixed and the floating exchange rates are a number of intermediate regimes. One is the adjustable peg, in which the local currency is pegged to, say, the us dollar but remains adjustable from time to time by the central bank. The example of Thailand in 1997 shows that this regime can prove to be risky for economies with financial weaknesses or macroeconomic imbalances. Before the crisis, the fixed-but-adjustable peg in Thailand did give investors and banks a false impression that exchange rate risks were more or less eliminated. Many Thai companies and financial institutions had confidently borrowed large amounts of foreign currency to invest in domestic projects, mostly real estate, creating an unhealthy currency mismatch between the foreign currency-denominated debts and the baht-denominated earnings. At the same time, the Thai economy also suffered a large trade deficit and did not have enough foreign exchange reserves. These factors lead analysts to believe that it would be impossible to maintain a fixed rate. A run on the currency started as people tried to convert their 114 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) baht holdings into US dollars. After spending most of its foreign reserves in the market to defend the peg, the Thai central bank finally allowed for a large depreciation of the bath in July 1997. Since the crisis, some Asian countries have switched to more flexible exchange rate regimes, while others continue to peg. The Thai baht, which lost 50-60% of its value during the crisis, is now under a managed float, whereby the baht is allowed to float within a certain range. The central bank would intervene to defend the currency whenever the exchange rate fluctuation were deemed to be excessive. The Malaysian ringgit, which was also allowed to depreciate, was repegged at 25% of the pre-crisis value. China and Hong Kong weathered the crisis and kept their pegs. The latter will be discussed in the next article. 46. Ti GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Giữa hai thái cực tỉ giá cố định và thả nổi, còn có một số cơ chế trung gian khác. Một trong số này là tỉ giá cố định có thể điều chỉnh, theo đó nội tệ được cố định tỉ giá với một ngoại tệ, chẳng hạn như đô-la Mỹ, nhưng đôi khi vẫn có thể được ngân hàng trung ương điều chỉnh. Trường hợp của Thái Lan năm 1997 cho thấy cơ chế này có thể là rủi ro với những nền kinh tế yếu kém về tài chính hoặc mất cân bằng ở cấp vĩ mô. Trước cuộc khủng hoảng, cơ chế tỉ giá cố định có thể điều chỉnh ở Thái Lan đã cho các nhà đầu tư và ngân hàng một ấn tượng sai lầm là rủi ro tỉ giá gần như đã bị loại trừ. Nhiều công ty và tổ chức tài chính Thái Lan đã an tâm vay rất nhiều ngoại tệ để đầu tư vào các dự án nội địa, hầu hết 115 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) là các dự án bất động sản. Điều này tạo ra một sự bất cân xứng không an toàn về tiền tệ giữa nợ bằng ngoại tệ và thu nhập bằng đồng baht. Đồng thời, nền kinh tế Thái Lan còn bị thâm hụt ngoại thương nghiêm trọng và không có đủ dự trữ ngoại tệ. Những yếu tố này khiến các nhà phân tích tin là tỉ giá cố định này không thể cầm cự được. Hiện tượng bán tháo đồng tiền bắt đầu khi người dân cố gắng chuyền đổi số baht của họ sang đô-la Mỹ. Sau khi đã bán gần hết ngoại tệ dự trữ ra thị trường để bảo vệ tỉ giá, ngân hàng trung ương Thái cuối cùng đành phải để cho đồng baht bị rớt giá nhanh chóng vào tháng 7/1997. Sau cuộc khủng hoảng, một số nước châu Á đã chuyển sang cơ chế tỉ giá linh hoạt hơn, trong khi một số khác vẫn giữ tỉ giá cố định. Đồng baht Thái Lan, từng mất 50-60% giá trị trong cuộc khủng hoảng, giờ đây theo cơ chế thả nổi có kiểm soát. Theo đó, đồng baht được phép dao động trong một biên độ nhất định. Ngân hàng trung ương có thể can thiệp để bảo vệ đồng baht mỗi khi tỉ giá biến động quá mức. Đồng ringgit của Malaysia cũng đã mất giá và được chốt lại ở mức 25% giá trị trước khủng hoảng. Trung Quốc và Hồng Kông vẫn an toàn qua cuộc khủng hoảng và vẫn cố định tỉ giá của họ. Bài viết sau đây sẽ bàn về trường hợp của Hồng Kông. (Saigon Times Daily ngày 10-2-2003) 47. Hong Kong and The Speculative Double Play Since 1983, the Hong Kong dollar has been fixed at HK$7.8 per U.S. dollar. The tercitory's authority has followed a special exchange rate system named currency board. 116 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Under this regime, the Hong Kong central bank holds U.S. dollar reserves at least equal to the amount of HK dollars in circulation. Like any fixed exchange rate system, the currency board has advantages and drawbacks. But thanks to substantial foreign exchange reserves and healthy banks, Hong Kong has survived a number of crises and busts, including a massive speculative attack during the Asian financial crisis of 1997-1998. During the crisis, speculators used a double play strategy to attack the HK dollar. After having lavishly borrowed in HK dollars, the speculators made a run on the currency to push up the demand for U.S. dollars. The speculators expected that the supply of HK dollars would automatically shrink, which would cause interest rate to rise, affecting investment and bringing down stock prices. In anticipation of this effect, the speculators simultaneously "shorted the stock market", that is they borrowed shares from stockbrokers and sold them immediately in the market in order to buy the stocks back later at lower prices. Thus, they expected to make money even if Hong Kong's Monetary Authority did not abandon the currency board and the currency attack failed. The Monetary Authority used a two-prong defense to bust the double play. First, it increased its lending interest rates to make the debt service costs unbearable for the speculators. Second, the agency made massive purchases of stocks, so their prices went up, instead of down. The strategy was successful. The speculators not only incurred huge losses for having to pay heavy interest for their 117 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) debts, but, as they had sold their stocks at low prices, they also badly weakened their portfolios. 47. HỔNG KÔNG VÀ THUẬT ĐẦU CƠ SONG THỦ HỖ BÁC Từ năm 1983, đồng đô-la Hồng Kông đã được cố định ở mức 7,8 HK đô-la/U.S. đô-la. Chinh quyền đã áp dụng một cơ chế tỉ giá đặc biệt có tên là ban tiền tệ. Theo cơ chế này, ngân hàng trung ương Hồng Kông phải dự trữ một lượng đô-la Mỹ có giá trị ít nhất bằng với lượng đô-la Hồng Kông đang lưu hành. Giống như bất kỳ hệ thống tỉ giá cố định khác, ban tiền tệ cũng có những ưu và nhược điểm. Nhưng Hồng Kông nhờ vào nguồn dự trữ ngoại hối khổng lồ và các ngân hàng vững mạnh, nên đã vượt qua một số cuộc khủng hoảng và tấn công. Trong số đó là cuộc tấn công đầu cơ trên diện rộng trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998. Trong cuộc khủng hoảng, các nhà đầu cơ đã sử dụng chiến lược song thủ hỗ bác tấn công vào đồng đô-la Hồng Kông. Sau khi vay mượn đô-la Hồng Kông với số lượng lớn, họ đã bán tháo đồng tiền này nhằm đẩy mức cầu đô-la Mỹ tăng lên. Các nhà đầu cơ kỳ vọng rằng cung đô-la Hồng Kông sẽ tự động giảm đi khiến lãi suất tăng. Điều này sẽ ảnh hường đến đầu tư và làm giảm giá cổ phiếu. Hy vọng vào tác động này, các nhà đầu cơ đã đồng thời “bán khống cổ phiếu”. Nghĩa là họ vay mượn cổ phiếu từ các nhà môi giới và bán ngay ra thị trường nhằm mục đích mua lại sau đó với giá thấp hơn. Bằng cách này họ tin sẽ kiếm lời, ngay cả khi việc tấn công đồng đô-la Hồng Kông bị thất bại do Cơ quan quản lý tiền tệ Hồng Kông không chịu từ bỏ cơ chế ban tiền tệ. 118 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Cơ quan Tiền tệ Hồng Kông đã sử dụng chiến thuật phòng thủ kép để đối phó lại lối chơi này. Thứ nhất, họ tăng lãi suất cho vay để các nhà đầu cơ không thể chịu nổi chi phí vay nợ. Thứ hai, cơ quan này mua vào rất nhiều cổ phiếu, nên giá cổ phiếu không giảm xuống mà còn tăng lên. Chiến thuật này đã thành công. Các nhà đầu cơ không những lỗ to do phải trả lãi nặng cho các khoản vay, mà còn bị thiệt hại nặng từ các khoản đầu tư vì đã trót bán cổ phiếu với giá thấp. (Saigon Times Daily ngày 17-2-2003) 48. Industrialization Through Protection? Every nation that grows richer increases its share of industry while that of agriculture falls. The question is, what is the best way to develop an industrial sector that can sustain its own growth? There are two strategies. One uses protection - tariffs, quotas and bans on imports. The idea is to raise the product's price so that local firms can learn how to become efficient. In principle, the protection should be reduced over time so that consumers of the products are not stuck with permanently high costs. In fact, once an industry gets used to protection, it is very difficult to adjust to life without it. A protected firm gets a high return from persuading government officials or politicians that it must have more protection. Less effort is spent on lowering costs or improving products. Sometimes a government is very strong and forced firms to become competitive, but this is rare. Usually, once industrialization gets started with high costs, it continues that way. 119 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Is this so bad? Yes, because high cost industrialization is doomed to slow down. Firms cannot export. Thus, economies of scale of the same magnitude as exporters are not possible. Users of the expensive products as inputs also have trouble exporting. With slowing exports, imports of advanced capital goods are not possible without borrowing. But the debt goes to more high cost industry. This industry creates few jobs or exports. With no ability to export and slowing domestic demand, the high cost economy slows down. This is what happened to India, Brazil, and other nations with even larger internal markets than Vietnam. An alternative approach to industrialization is possible. In the next article, we will describe the successful experience of industrialized countries who took an export-oriented approach. 48. CÓ NÊN CÔNG NGHIỆP HÓA DỰA VÀO BẢO HỘ? Các quốc gia khi giàu lên đều tăng tỉ trọng công nghiệp và giảm tỉ trọng nông nghiệp. Vấn đề là tìm con đường tốt nhất để xây dựng một khu vực công nghiệp có thể tự mình tăng trưởng bền vững? Có hai chiến lược. Thứ nhất là bảo hộ bằng thuế quan, hạn ngạch và cấm nhập khẩu. Ý tưởng ở đây là nâng giá sản phẩm để các doanh nghiệp nội địa có thể học cách trở nên hiệu quả. Về nguyên tắc, bảo hộ sẽ phải giảm dần để người tiêu dùng các sản phẩm này không mãi mãi phải chịu giá cao. Thực ra, khi một ngành đã quen được bảo hộ thì sẽ rất khó chuyển sang cuộc sống không có nó. Một công ty được bảo hộ đạt lơi nhuận cao bằng cách thuyết phục các quan chức chính phủ hay chính trị gia rằng công ty phải được bảo hộ hơn nữa, trong khi chẳng dành nhiều nỗ lực để giảm giá thành hay cải thiện sản phẩm. Đôi khi một chính phủ manh tay và buộc doanh 120 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) nghiệp phải trở nên cạnh tranh, nhưng điều này rất hiếm. Thông thường, một khi công nghiệp hóa bắt đầu với giá thành cao thì sẽ tiếp tục như vậy. Có phải là quá tệ ? Đúng, vì công nghiệp hóa dựa vào giá thành cao tự mình sẽ chậm lại. Các doanh nghiệp không thể xuất khẩu nên không thể nào đạt được lợi thế kinh tế theo qui mô như điều mà các nhà xuất khẩu có thể đạt được. Những doanh nghiệp có đầu vào là hàng giá cao cũng khó xuất khẩu sản phẩm. Khi xuất khẩu suy giảm thì không thể nhập khẩu thiết bị hiện đại mà không phải vay mượn. Các khoản nợ này lại đến với những ngành có giá thành cao hơn nhưng ít tạo ra việc làm hoặc xuất khẩu. Thiếu khả năng xuất khẩu trong khi cầu nội địa không tăng, nền kinh tế giá thành cao bị trì trệ. Điều này đã xảy ra ở Ấn Độ, Braxin và các nước khác có thị trường nội địa còn lớn hơn Việt Nam. Có một con đường khả thi khác để công nghiệp hóa. Bài kế tiếp sẽ trình bày kinh nghiệm thành công của các nước đã công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu. (Saigon Times Daily ngày 17-3-2003) 49. Industrialization Through Exports If high-cost industrialization often leads to stagnation, what is the alternative? Several nations have had success with export-led industrialization. In this strategy, both foreign and domestic firms find niches in world markets where they can compete and expand. By exporting, they learn to respond to changes in demand, technology, and quality. There is constant pressure to improve and innovate. Since global markets are huge, the exporting firm can benefit from economies of scale, even in a small 121 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) domestic market. Consider Vietnam, whose current GDP is about one-third of Singapore's. The country also has a small domestic market for many industrial products. Its auto industry, for example, sells 25,000 cars a year, while several hundred thousand cars are needed for economies of scale. Exporters prefer to have local sources of supply, so it is common for clusters of smaller firms to spring up and provide inputs. Marketing, repair, and design services also are developed. The result is a broad, deep and dynamic industrial sector that can respond well to unexpected changes. This helped Korea and Taiwan respond to world oil shocks or recent financial crises better than inward looking nations in Asia or Latin America. Hong Kong and Singapore also followed this approach and did very well. It is important to note that export-led industrialization also has a lot of local production for the home market. But it is production that competes with imports with modest protection. This is what AFTA, the BTA, and the WTO all require. If Vietnam meets its treaty commitments, it will have to find ways to lower the costs of production of many existing products and avoid investing too much in those that require high protection. 49. CÒNG NGHIỆP HÓA DỰA VÀO XUẤT KHẨU Công nghiệp hóa với những ngành giá thành cao thường dẫn đến trì trệ, vậy đâu là giải pháp thay thế? Nhiều nước đã thành công với công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Trong chiến lược này, cả doanh nghiệp nước ngoài lẫn trong nước tìm trên thị trường thế giới những khu vực đặc thù mà họ có thể cạnh tranh và phát triển. Nhờ xuất khẩu 122 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) mà họ học được cách đáp ứng với những thay đổi về nhu cầu, công nghệ và chất lượng. Liên tục có những áp lực phải cải thiện và sáng tạo. Vì thị trường toàn cầu rất lớn, doanh nghiệp xuất khẩu có thể đạt được lợi thế theo qui mô, dù họ chỉ ở trong một thị trường nội địa nhỏ. Hãy xét Việt Nam, với GDP hiện nay bằng 1/3 của Singapore, chỉ có thị trường nội địa nhỏ bé cho nhiều sản phẩm công nghiệp. Chẳng hạn, ngành công nghiệp ô tô chỉ bán được 25.000 chiếc mỗi năm, trong khi để đạt được qui mô có lợi thì con số này phải là hàng trăm ngàn chiếc. Các nhà xuất khẩu muốn có các nguồn cung ứng trong nước, do đó các cụm doanh nghiệp nhỏ thường mọc lên để cung cấp đầu vào. Các dịch vụ marketing, sửa chữa và thiết kế cũng phát triển theo. Kết quả là một khu vực công nghiệp năng động, vừa sâu vừa rộng, có thể ứng phó tốt trước những thay đổi ngoài dự kiến. Đây là điều đã giúp Hàn Quốc và Đài Loan ứng phó với các cú sốc dầu lửa thế giới hay các cuộc khủng hoảng tài chính gần đây tốt hơn những nước hướng nội ở châu Á hay Mỹ La tinh. Hồng Kông và Singapore cũng theo hướng này và đã rất thành công. Điều quan trọng cần thấy là công nghiệp hóa hướng xuất khẩu cũng gồm cả nhiều ngành sản xuất cho thị trường nội địa. Nhưng đó là sản xuất cạnh tranh với nhập khẩu mà không cần nhiều bảo hộ. Đòi hỏi này là của cả AFTA, BTA và WTO. Nếu Việt Nam thực hiện cam kết trong các hiệp ước, thì phải tìm cách hạ giá thành của nhiều sản phẩm hiện có, đồng thời tránh đầu tư quá mức vào các ngành đòi hỏi bảo hộ cao. (Saigon Times Daily ngày 24-3-2003) 123 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) 50. Technology Policy for Growth Technology is a way to do things. It is often thought of as being embodied in a piece of machinery, but can also be more subtle - such as "just in time" inventory, or better ways to organize agriculture. Machinery-based technology is often called "hard", while technology based on better management or systems is called "soft." Quite a lot of growth can come from technology, as it allows each unit of capital and labor to be more productive. Constant upgrading of technology is increasingly necessary for industrial competitiveness and export growth. Technology is usually not free. It is costly to acquire, even if it is just a matter of selecting the best type. How does a nation of government create conditions so that firms want to and are able to select, adapt or even create productive technology? There are a few things one can do. First, develop a high quality educational system that provides large numbers of educated workers. Second, allow firms to compete using technology. Third, improve law and enforcement so that intellectual property is safe. (This helps to attract hi-tech foreign direct investment and also encourage local R&D.) Fourth, improve Internet speed and cost so that Vietnamese firms can easily find out about foreign technology. Fifth, help local business associations act on behalf of their members and conduct surveys of best-practice technology. In the future, further steps such as joint government-private funding of crucial R&D projects or specialized financing for hi-tech firms will also become important. 124 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Note that only competitive firms tend to upgrade their technology. Monopolies might buy the "best" equipment, but then have little incentive to keep abreast of improvements. The key to the global economy is to tie in Vietnamese firms to others around the world, and this requires having knowledge of new technology and being able to apply it to particular products, quickly, and at a profit. While some state firms may learn to compete in such an environment, the experience of other nations is that private firms tend to lead as they face fewer bureaucratic constraints. 50. CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ CHO TĂNG TRƯỞNG Công nghệ là phương thức thực hiện công việc. Công nghệ thường được coi là phần gắn liền trong mỗi cái máy, nhưng cũng có thể là tinh tế hơn - như cách quản lý hàng tồn kho “đúng lúc” hay cách tổ chức tốt hơn trong nông nghiệp. Công nghệ dựa vào máy móc gọi là “cứng", còn công nghệ dựa trên quản lý hay hệ thống tốt hơn gọi là “mềm". Công nghệ đóng góp nhiều cho tăng trưởng vì làm tăng năng suất của mỗi đơn vị vốn và lao động. Việc không ngừng cải thiện công nghệ ngày càng cần thiết đối với tăng trưởng xuất khẩu và tính cạnh tranh của các ngành kinh tế. Công nghệ thường không miễn phí. Phải tốn tiền mới có, dù chỉ là chi phí để chọn công nghệ tốt nhất. Làm sao các quốc gia và chính phủ tạo được những điều kiện để các doanh nghiệp có nhu cầu và có thể lựa chọn, áp dụng hay thậm chí tạo ra công nghệ hiệu quả? Có một số cách. Thứ nhất, phát triển một hệ thống giáo dục chất lượng cao để cung cấp nhiều lao động có trình độ. Thứ hai, cho phép doanh nghiệp cạnh tranh bằng công nghệ. Thứ ba, cải thiện 125 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) luật và cơ chế thi hành luật để đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ (từ đó giúp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có hàm lượng công nghệ cao, đồng thời khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển trong nước). Thứ tư, cải thiện tốc độ và giá truy cập Internet để doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng tìm hiểu công nghệ nước ngoài. Thứ năm, giúp các hiệp hội kinh doanh địa phương hoạt động thay mặt cho thành viên và khảo sát công nghệ hiệu quả nhất. Trong tương lai sẽ cần có các bước đi quan trọng như nhà nước và tư nhân kết hợp tài trợ các dự án nghiên cứu và phát triển thiết yếu, hay tài trợ đặc biệt cho các công ty công nghệ cao. Lưu ý rằng chỉ có doanh nghiệp cạnh tranh mỗi có xu hướng cải thiện công nghệ. Các nhà độc quyền có thể mua thiết bị "tốt nhất’’, Nhưng sau đó ít có động cơ theo sát các tiến bộ. Mấu chốt của nền kinh tế toàn cầu là gắn kết doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp trên thế giới. Điều này đòi hỏi phải có kiến thức về công nghệ mới, có khả năng ứng dụng nhanh chóng vào sản phẩm cụ thể và có lợi nhuận. Dù một số doanh nghiệp nhà nước có thể học cách cạnh tranh trong một môi trường như vậy, kinh nghiệm các nước cho thấy doanh nghiệp tư nhân thường đi đầu ở lĩnh vực này vì họ ít phải đối mặt với các trở ngại của bộ máy hành chính quan liêu. (Saigon Times Daily ngày 7-4-2003) 51. Soft Infrastructure Everybody knows what hard infrastructure is - the roads, ports, water, telecom and electricity systems that allow other production to take place more easily and efficiently. While such investment is essential, it should be matched 126 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) by "soft" infrastructure to achieve its full potential. For example, consider a new port that is built with a deep channel, good piers and cranes for loading containers. Such a port can cut the costs of trading. But if the loading and unloading charges are too high, or if the clearance procedures are very slow, this will add to costs. A big ship costs tens of thousands of dollars a day to rent, so one extra day spent waiting will add considerably to the costs of shipping containers. Bad "soft" infrastructure can destroy die potential of good "hard" infrastructure! Another example comes from electricity systems. If a lot of electricity is stolen or not paid for, the ability of the company to expand or even to maintain its lines is reduced. Over time, there is an inadequate system - even if initial investment is adequate. Here again, poor management or policy can result in wasted investments. With water systems, this often shows up in large amounts of leakage of clean water from broken pipes, infiltration of dirty water, and a public health problem. A third example comes from simply charging too much for some service. This is a problem when there is a monopoly provider. Although the situation is rapidly improving, for many years the international telephone charges in Vietnam were among the highest in the world. It was not that actual costs were so high, but that the telephone company chose to use international calls as a cash source for other purposes. If good soft and hard infrastructure is combined, the results will be faster growth and a more effective use of investment. 127 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) 51. HẠ TẦNG MỀM Ai cũng biết hạ tầng cứng là gì. Các hệ thống đường sá, cảng, cấp nước, viễn thông và điện giúp cho những ngành sản xuất khác hoạt động dễ dàng và hiệu quả. Những đầu tư đó là cần thiết, thường để phát huy đầy đủ tiềm lực thì cần phải có hạ tầng “mềm"tương xứng. Ví dụ một cảng mới có luồng lạch sâu, cầu cảng và cần cẩu tốt để bốc xếp container có thể làm giảm chi phí thương mại. Nhưng nếu phí bốc xếp quá cao hoặc thủ tục xuất nhập quá chậm chạp, chi phí sẽ bị đội lên. Thuê một tàu lớn phải tốn hàng chục ngàn đô-la mỗi ngày, thêm một ngày chờ đợi là chi phí vận chuyển container lại tăng lên đáng kề. Hạ tầng “mềm” yếu kém có thể làm hỏng tiềm năng của hạ tầng “cứng”. Một ví dụ khác là hệ thống điện. Nếu điện bị thất thoát nhiều hoặc không thu được tiền, công ty điện sẽ khó có thể mở rộng hay thậm chí duy trì mạng lưới điện. Dần dần, hệ thống điện sẽ thiếu hụt mặc dù đầu tư ban đầu là đầy đủ.Ở đây cũng cho thấy chính sách hay quản lý kém có thể làm lãng phi các khoản đầu tư. Đối với hệ thống nước, sự yếu kém thường thấy là tổn thất nhiều nước sạch do ống bể, nước bẩn xâm nhập vào hệ thống và vấn đề y tế cộng đồng. Ví dụ thứ ba đơn giản là giá dịch vụ quá cao. Đây là khi nhà cung cấp được độc quyền. Mặc dù tình hình đang cải thiện nhanh chóng, trong nhiều năm cước điện thoại quốc tế của Việt Nam thuộc hạng cao nhất thế giới. Không phải là giá thành thực tế cao đến thế, mà chỉ là công ty điện thoại đã chọn điện thoại quốc tế như một nguồn tiền để dùng cho các mục tiêu khác. Nếu hạ tầng cứng và mềm đều tốt, kết quả sẽ là sử dụng đầu tư hiệu quả hơn và tăng trưởng nhanh hơn. 128 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) (Saigon Times Daily ngày 15-3-2004) 52. Competitiveness A debate has arisen around the question of whether and how the competitiveness of a nation is different from that of a firm. According to the conventional concept of competitiveness, a firm is considered competitive when it can produce products similar to those produced by other firms but at lower prices or with higher quality and superior services associated with them, thus keeps its foothold in the market. Firms that cannot compete will be driven out of the market. Competition among firms within an industry is intense because competition will inevitably result in the demise of those firms which are unable to compete successfully; this kind of competition can be described as a zero-sum game. Recently, this concept has been applied to national competition. However, there is hardly any consensus on the definition; the competitiveness of nation cannot be defined in the same way that of a firm. Obviously, international competition cannot drive one country out of business just like a firm if it fails in the marketplace. For that reason, some economists, including Paul Krugman, argue that there can be no concept of national competitiveness. Others like Michael Porter argue that a nation is competitive when it has institutions and policies in place that are supportive of high economic growth in the long-term. This requires continuous improvements in the economy's business climate, allowing and forcing firms operating in this environment to incessantly innovate and upgrade their technologies. 129 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) In reality, more organizations are working on rankings of economies and large firms are depending more on these rankings to make their investment decisions. This proves that national policy-makers, especially those in developing and emerging economies, must take into account the concept and measurements of national competitiveness. 52. TÍNH CẠNH TRANH Một vấn đề tranh luận hiện nay là liệu có gì khác nhau giữa tính cạnh tranh của doanh nghiệp và của quốc gia. Theo khái niệm truyền thống về tính cạnh tranh, một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh khi nó có thể đứng vững trên thị trường bằng cách sản xuất ra những sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn, hay bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ cao hơn. Một doanh nghiệp cạnh tranh không thành công sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường. Sự cạnh tranh của doanh nghiệp trong một ngành nào đó mang tính sống còn vì không tránh khỏi việc gây ra tổn thất cho đối thủ cạnh tranh nào không thành công, và được gọi là trò chơi có tổng zero. Gần đây người ta mở rộng khái niệm tính cạnh tranh cho một quốc gia. Khó khăn nhất là không có sự nhất trí về định nghĩa này. Tính cạnh tranh của một quốc gia không thể định nghĩa như tính cạnh tranh của một doanh nghiệp. Rõ ràng là cạnh tranh quốc tế không thể đẩy một quốc gia ra khỏi hoạt động kinh doanh nếu họ không thành công giống như doanh nghiệp trên thị trường. Chính vì lý do này nên một số nhà kinh tế, đại diện là Paul Krugman, cho rằng không tồn tại khái niệm tính cạnh tranh quốc gia. Các nhà kinh tế khác, đại diện là Michael Porter cho rằng một quốc 130 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) gia có khả năng cạnh tranh khi quốc gia đó có được các thể chế và các chính sách hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế cao trong dài hạn. Điều này đòi hỏi môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải được cải thiện một cách liên tục nhằm cho phép và buộc các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường đó phải không ngừng nâng cao tính cạnh tranh của mình. Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều tổ chức khác nhau xây dựng các xếp hạng về tính cạnh tranh giữa các nền kinh tế và những công ty lớn cũng dựa nhiều hơn vào các thứ hạng này để đưa ra quyết định đầu tư của mình. Điều đó chứng tỏ các nhà hoạch định chính sách quốc gia, đặc biệt là ở những nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, không thể bỏ qua được khái niệm cũng như các thước đo về tính cạnh tranh quốc gia. (Saigon Times Daily ngày 1-3-2004) 53. Fungibility: A Fact of Life One major issue of external assistance is that money can be fungible. This means that once the money is given to the recipient, it becomes indistinguishable from money the recipient already has. All money is fungible, regardless of its source. For example, assume you give money to a poor relative to help him send his children to school. Your assistance may end up financing his drinking habit, because his own saving, which he would have spent on the tuition in the absence of the aid money, is now free to spend on alcohol. Your funds and his funds are interchangeable, or fungible. 131 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) A similar problem occurs when foreign aid is given to a poor country to build a hospital. If the country would have built the hospital anyway, the aid money becomes fungible. The resources that the country has earmarked for building the hospital are now freed to be spent on other activities. The donor only sees that the hospital is built, and is unaware that the aid was actually used to finance other activities. These activities may be undesirable to the donor, such as special-interest investments that are economically inefficient and burdensome to the taxpayers of the recipient country. Advocates of foreign aid argue that aid money is essentially more effective than local resources because foreign aid usually comes with technical assistance and management oversight. However, sometimes these requirements result in higher overall project costs because of the additional overhead. The implication of fungibility is that the impact of aid depends on the overall effectiveness of public expenditures rather than on the successful execution of some particular aid-sponsored project. In addition, the important question is how well the projects were undertaken with aid compared to when they got no aid. 53. TÍNH BẤT PHÂN ĐỊNH CỦA ĐỒNG TIỀN: MỘT THỰC TẾ Một vấn đề quan trọng của sự trợ giúp từ bên ngoài là tiền có thể được sử dụng vào mục đích khác với dự kiến. Nghĩa là một khi tiền đã vào tay người nhận thì không thể phân biệt số tiền đó với số tiền mà anh ta đã có. Tiền từ nguồn nào thì cũng có thể dùng cho mọi mục đích khác nhau. 132 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Vi dụ, giả sử bạn cho tiền một người bà con nghèo khó để anh ta cho con đi học, nhưng sự giúp đỡ này cuối cùng lại nuôi dưỡng thói say xỉn của anh ta. Bởi vì nếu không có viện trợ thì anh ta sẽ dùng tiền tiết kiệm của mình để trả tiền học cho con, nay có viện trợ thì khoản tiết kiệm kiểm được chuyển thành tiền để nhậu. Tiền của bạn và tiền của anh ta hoán đổi lẫn nhau, hay có mục đích sử dụng bất phân định. Vấn đề tương tự xảy ra khi viện trợ nước ngoài dành cho một nước nghèo để xây một bệnh viện. Nếu nước này trước sau gì cũng phải xây bệnh viện đó thì khoản viện trợ mang tính bất phân định. Nguồn lực mà nước này dành cho xây dựng bệnh viện giờ đây được giải phóng để chi cho các hoạt động khác. Nhà tài trợ chỉ thấy bệnh viện được xây, nhưng không biết tiền của mình thực chất đã được dùng cho những hoạt động khác. Đó có thể là những hoạt động họ không mong đợi, ví dụ những đầu tư theo quyền lợi đặc biệt, không có hiệu quả kinh tế và trở thành gánh nặng cho người đóng thuế ở nước nhận viện trợ. Những người cổ động viện trợ nước ngoài cho rằng tiền viện trợ nhất định hiệu quả hơn tiền trong nước vì thường kèm theo hỗ trợ kỹ thuật và giám sát. Tuy nhiên, những đòi hỏi này đôi khi làm tăng chi phí của dự án do chi phí quản lý cao hơn. Hàm ý của khái niệm tính bất phân định là tác động của viện trợ tùy thuộc vào hiệu quả tổng thể chi tiêu công, không phải chỉ là sự thành công một dự án viện trợ cụ thể nào. Ngoài ra, vấn đề quan trọng còn ở chỗ hiệu quả thực hiện của một dự án được viện trợ so với tình thế không được viện trợ. (Saigon Times Daily ngày 1-9-2003) 133 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) 54. FDl and Critical Mass From 1988 to 2003, the four provinces in the South East, with only 6.4% population of Vietnam, received 31.5% foreign direct investment (FDI) inflow of the country. In the recent three-year period (2001- 2003), this number was 52.5%. Even though some provinces have had serious efforts to decode such a success, it still seems a mystery to many others. However, the recent acceleration of FDI inflow to these four provinces might be, of course partly, explained by the concept of critical mass. When the region has become a large base of industrial manufacturers, services for industry are available and competitive, such as logistic, transportation, storage, banking, communication, and waste treatment, among others. Technology transfer also becomes more efficient with a network of several thousand of firms. The gathering of several hundred thousand workers from all over the! country creates a mass demand for the establishment of I services such as education, vocational training, housing, shopping centers, recreation centers, and entertainment. These amenities, together with the diversified human capital create a quality of place that is highly desirable for foreign and domestic workers, engineers, experts, and managers. Such a growing pool of human capital becomes a new advantage of the region to attract more investment. Will the concentration of industry and workers cause living cost inflated and infrastructure overloaded, and 134 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) eventually weaken the attractiveness of the region? The growing production of industry and the increasing budget revenue of provincial government is the answer. Guangdong province of China has received USD150 billion of implemented FDI and the addition is still over USD15 billion each year with no sign of slowdown. There is an important implication to other provinces. In the race to win investment, their static advantages of ideal location, superior infrastructure, lower labor cost, and better tax treatment are having to compete with the dynamic advantage of critical mass. They must create their own dynamic advantage; in which improving the soft infrastructure is a way will be discussed in the next issue. 54. FDI VÀ SỐ ĐÔNG Từ 1998 đến 2003, bốn tỉnh Đông Nam Bộ chỉ với 6,4% dân số cả nước nhưng đã nhận được 31,5% dòng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FD1) vào Việt Nam. Trong giai đoạn 3 năm gần đây (2001-2003), con số này là 52,5%. Mặc dù một số tỉnh đã có những nỗ lực nghiêm túc để giải mã sự thành công trên, đối với nhiều người khác điều này dường như vẫn còn bí hiểm. Tuy nhiên, sự tăng tốc gần đây của dòng vốn FDI vào bốn tỉnh này có thể được giải thích, tất nhiên là chỉ một phần thôi, bằng khái niệm lợi thế số đông. Khi khu vực này trở thành một vùng sản xuất công nghiệp rộng lớn, các dịch vụ công nghiệp xuất hiện và trở nên cạnh tranh, ví dụ như hậu cần, vận tải, kho bãi, ngân hàng, thông tin, xử lý chất thải, Chuyển giao công nghệ cũng trở 135 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) nên hiệu quả hơn nhờ một mạng lưới hàng ngàn doanh nghiệp. Sự tập trung hàng trăm ngàn công nhân từ mọi miền đất nước tạo ra nhu cầu to lớn để hình thành các dịch vụ giáo dục, dạy nghề, nhà ở, các trung tâm mua sắm và thể thao giải trí. Những tiện nghi này, cùng với nguồn nhân lực đa dạng, tạo nên một môi trường sống rất hấp dẫn đối với công nhân, kỹ sư, chuyên gia, cán bộ quản lý trong nước cũng như ngoài nước. Nguồn nhân lực ngày càng tăng như vậy trở thành một lợi thế mới của khu vực trong việc thu hút thêm đầu tư. Liệu sự tập trung công nghiệp và công nhân sẽ làm tăng giá sinh hoạt, làm quá tải hạ tầng và làm giảm dần sự hấp dẫn của khu vực? Tăng sản lượng công nghiệp và thu ngân sách là lời giải đáp. Tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, với 150 tỉ đô-la FDI đã thực hiện, hàng năm vẫn nhận thêm 15 tỉ đô-la mà không có dấu hiệu chậm lại. Có một ý nghĩa quan trọng đối với các tỉnh khác. Trong cuộc chạy đua giành lấy đầu tư, các lợi thế tĩnh của họ như vị trí lý tưởng, hạ tầng hoàn hảo, nhân công rẻ và thuế ưu đãi đang phải cạnh tranh với lợi thế động về số đông. Họ cần phải tạo được lợi thế động của mình, trong đó cải thiện hạ tầng mềm là một giải pháp mà chúng ta sẽ thảo luận trong bài sau. (Saigon Times Daily ngày 8-3-2004) 55. Comparative Performance Measurement Governments are invariably constrained by limited resources. The demand for goods and services always exceeds the capacity of the public sector to finance them. 136 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Even after engaging in partnerships with the private sector and eliciting the participation of non-profit and community based organizations, government resources are still insufficient to meet the needs of its citizens. The most common way governments close this fiscal gap is by increasing revenue, either by raising taxes and user charges now, or by borrowing and then later raising taxes and user charges to finance debt repayment. An alternative way to close the fiscal gap is to increase expenditure efficiency and expenditure effectiveness. If the government can get more value for its money by lowering costs (efficiency) and improving results (effectiveness), then it can use the same level of resources to provide more or better quality goods and services. Politically, this is often preferable to increasing taxes and user charges. A useful tool in improving expenditure efficiency and effectiveness is "comparative performance measurement/' or "CPM." Cost data by themselves do not tell us very much, but comparisons of cost data over several years, or between many jurisdictions, turn these numbers into very useful information to evaluate the government's expenditure performance. CPM is done on a routine basis in the United States, where local governments have established and regularly publish expenditure and performance standards for various public goods and services. Any local government can thus compare its performance with other local governments that have similar demographic, geographic, and economic characteristics. 137 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Often, even in the same legal and regulatory environment, provincial and local governments have very different levels of performance. CPM can help these governments both to learn from each other, and to improve their transparency and accountability with the citizens they serve. 55. ĐỐI CHIẾU THÀNH QUẢ CHI TIÊU Chính phủ nào cũng bị hạn chế bởi nguồn lực khan hiếm. Nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ luôn vượt quá khả năng tài chính của khu vực công. Ngay cả sau khi hình thành quan hệ đối tác với khu vực tư nhân và lôi kéo sự tham gia của các tổ chức phi lợi nhuận cũng như các tổ chức cộng đồng, nguồn lực của chính phủ vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân. Để lấp khoản thâm hụt ngân sách này, cách thông thường nhất là các chính phủ tăng thu ngân sách, bằng cách tăng thuế và phí sử dụng hiện tại, hoặc đi vay và sau đó tăng thuế và phí sử dụng để trả nợ. Một cách khác để lấp lỗ hổng ngân sách này là gia tăng hiệu quả về chi phí lẫn mục đích trong chi tiêu. Nếu chính phủ có thể thu được nhiều giá trị hơn từ số tiền bỏ ra bằng cách giảm chi phí (hiệu quả chi phí) và cải thiện kết quả (đạt mục tiêu), thì với cùng một nguồn lực chính phủ có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn và tốt hơn. về mặt chính trị, cách làm này được ưa chuộng hơn là tăng thuế và phí sử dụng. Một công cụ hữu ích nhằm cải thiện hiệu quả chi phí và mục đích là “đối chiếu thành quả chi tiêu" hay CPM. Bản thân số liệu về chi phí không nói ra nhiều điều, nhưng việc 138 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) so sánh số liệu chi phí qua nhiều năm hoặc giữa các đơn vị hành chính sẽ biến những con số này thành thông tin rất hữu ích để đánh giá kết quả chi tiêu của chính phủ. Ở Mỹ, CPM được thực hiện thường xuyên. Các chính quyền địa phương thường xuyên công bố kết quả chi tiêu đối với nhiều mặt hàng và dịch vụ công, dựa trên các chuẩn đã được thiết lập. Vì thế, bất kỳ chinh quyền địa phương nào cũng có thể so sánh thành quả của mình với các địa phương khác có cùng những đặc điểm về nhân khẩu, địa lý và kinh tế. Thông thường, ngay cả trong cùng một môi trường qui chế và pháp lý như nhau, chính quyền các tỉnh và địa phương cũng đạt thành quả ở những cấp độ rất khác nhau. CPM có thể giúp họ vừa học tập lẫn nhau vừa cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trước người dân mà họ phục vụ. (Saigon Times Daily ngày 17-5-2004) 139 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) 56. What is Dumping? Vietnamese producers are currently involved in several trade disputes concerning waterproof footwear in Canada, gas cigarette lighters in the EU, and scaleless fish in the U.S. All of these cases center around the topic of dumping. But what is dumping and why is it such an important issue in today's movement towards free trade? This series of articles will briefly discuss dumping and its implications. Dumping is generally defined as the practice of a firm selling a good in a foreign market below its fair value, which is based oh either the price at which the good is sold in the home market or its cost of production. One argument against dumping is that exporters of these goods enjoy protected markets in their own countries and are using the profits they derive at home to subsidize sales in the importing countries. Thus, competing firms in the importing countries face unfair competition and may lose market share. I When a complaint of dumping is filed the usual procedure is for the importing country's trade regulatory agencies to launch an investigation to answer two questions. First, is the importing good being sold at a price below its fair value? Second, is there material injury to the competing domestic industry as a direct consequence of the dumped imports? Positive findings on both cases will trigger an anti-dumping duty imposed against the subject good. The aim of this duty is to bring the price of the dumped good closer to its fair value or to remove the injury to the competing domestic industry. 56. BÁN PHÁ GIÁ LÀ GÌ? 140 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Các nhà sản xuất Việt Nam đang gặp phải một số vụ tranh chấp thương mại liên quan tới các mặt hàng như giầy không thấm ở Canada, bật lửa ga ở EU và cá da trơn ở Mỹ. Cả ba trường hợp đều xoay quanh vấn đề bán phá giá. Nhưng bán phá giá là gì và tại sao đây lại là vấn đề quan trọng trong xu thế thương mại tự do ngày nay? Loạt bài ngắn này sẽ bàn về bán phá giá và những ý nghĩa của nó. Một cách tổng quát, bán phá giá là việc một doanh nghiệp bán hàng ở thị trường nước ngoài thấp hơn giá trị hợp lý, căn cứ vào giá bán ở thị trường nước nhà hoặc chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Một lập luận chống lại việc bán phá giá cho rằng các nhà xuất khẩu hàng được bảo hộ ở thị trường nước nhà và sử dụng lợi nhuận thu được để trợ giá cho việc bán mặt hàng đó ở nước nhập khẩu. Do vậy, ngành sản xuất mặt hàng tương tự ở nước nhập khẩu phải đối mặt với sự cạnh tranh thiếu công bằng và có thể bị mất thị phần. Khi có đơn khiếu nại về bán phá giá, theo qui trình thông thường thì các cơ quan phụ trách thương mại của nước nhập khẩu sẽ thực hiện một cuộc điều tra nhằm trả lời hai câu hỏi. Thứ nhất, hàng nhập khẩu có bị bán với giá thấp hơn giá trị hợp lý không? Thứ hai, ngành sản xuất cạnh tranh trong nước có bị thiệt hại về vật chất do hậu quả trực tiếp của hàng nhập khẩu bán phá giá hay không?Nếu kết luận trong cả hai trường hợp là có thì một khoản thuế chống phá giá sẽ được áp dụng đối với mặt hàng bị điều tra. Mục đích của khoản thuế này là đưa giá mặt hàng trở về gần với giá trị hợp lý hoặc nhằm khắc phục thiệt hại của các nhà sản xuất mặt hàng cạnh tranh này ở trong nước. (Saigon Times Daily ngày 30-9-2002) 141 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) 57. Predatory Dumping In many countries including Canada, the U.S., and the EU, antidumping laws were enacted out of a concern that foreign producers may engage in predatory dumping. Under this type of dumping, a firm sells its product at an artificially low price, often below cost, to drive its competitors out of the market, and establishes a monopoly position. Once competition is eliminated, the firm raises its product price in order not only to make up for the losses incurred earlier but also to capture super profits. Although consumers may benefit from the low price of the dumped good in the short run, the long-run consequence of predatory dumping is net welfare loss to the society due to monopoly. Thus, antidumping law is needed to penalize foreign predators. However, economic theory and practical experience point out that systematic below-cost pricing is neither rational nor feasible. Suppose a foreign predator were successful in cutting prices and driving its competitors out of the market, it is not guaranteed that the firm would be successful in subsequently boosting prices. If firms could exit the market when the price was low, then nothing could prevent them from entering the market when the price was high. Upon entering the market, they would in turn set their prices below that of the predator to gain market shares. Once the foreign firm is not sure of being able to recover its heavy cost of low pricing, it would choose not to pursue this predatory strategy in the first place. 142 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) 57. BÁN PHÁ GIÁ HỦY DIỆT Ở nhiều nước như Canada, Mỹ và Liên minh châu Âu, luật chống bán phá giá đã được đưa ra để đối phó với việc các nhà sản xuất nước ngoài bán phá giá hủy diệt. Với hình thức bán phá giá này, một công ty sẽ bán sản phẩm với giá thấp một cách giả tạo, thường là thấp hơn giá thành, nhằm loại các đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường và thiết lập vị thế độc quyền. Một khi không còn cạnh tranh, công ty sẽ tăng giá sản phẩm, không chỉ để bù lại những tổn thất trước đó, mà còn nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch. Mặc dù trong ngắn hạn người tiêu dùng có thể có lợi do hàng được bán phá giá với giá thấp, nhưng trong dài hạn hậu quả của hành vi này sẽ là tổn thất ròng về phúc lợi xã hội do tác động của độc quyền. Vì vậy, cần phải có luật chống bán phá giá để trừng phạt công ty nước ngoài kinh doanh theo kiểu chiếm đoạt như vậy. Tuy nhiên, lý thuyết kinh tế và kinh nghiệm thực tiễn cho thấy việc định giá thấp hơn giá thành một cách có hệ thống là không hợp lý và cũng không khả thi. Giả sử một công ty nước ngoài thành công trong việc giảm giá nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường, vẫn không có gì đảm bảo là công ty này sẽ thành công trong việc tăng giá sau đó. Nếu các công ty có thể ra khỏi thị trường khi giá thấp thì họ vẫn có thể thâm nhập vào thị trường khi giá lên. Khi đó, để chiếm thị phần họ sẽ định giá bán thấp hơn giá của kẻ hủy diệt. Một khi công ty nước ngoài không chắc chắn sẽ bù đắp được khoản lỗ nặng nề do bán giá thấp, thì ngay từ đầu họ đã không theo đuổi chiến lược hủy diệt trên. 143 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) (Saigon Times Daily ngày 710-2002) 58. International Price Discrimination and Dumping International price discrimination is a practice of selling a product at home and in international markets for different prices. Under many regulatory systems such as those of the U.S. and Canada, this practice might be investigated as dumping. But is it really dumping? In order to differentiate prices, a firm must have some degree of control over its domestic market price. In other words, the firm must have a monopoly power at home, allowing it to reduce output in the domestic market in order to inflate market price; this output reduction creates a social welfare loss. That argument may be a good rationale for antitrust laws in the home market, but it is less meaningful in the context of dumping in the importing market. The good may still be sold above cost both domestically and internationally. The social welfare loss mentioned above does not fall on the importing country, but consumers in the home market. In fact, consumers in the importing country enjoy a larger supply and thus the lower price (or course, as long as the firm has not become a monopolist there). One example is shipping services. In a protected home market, a shipping company can charge high freight to customers. When the company offers the same service in another country (i.e., the importing country of the service), it may charge foreign customers a lower freight than that in the home market. However, this freight is not necessary lower than the service cost. 144 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) In this case, imposing an antidumping duty on this company only deprives the benefits of consumers in that market. 58. SỰ PHÂN BIỆT GIÁ QUỐC TẾ VÀ BÁN PHÁ GIÁ Phân biệt giá quốc tế là việc bán một sản phẩm ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài với giá khác nhau. Theo quy chế ở nhiều nước như Mỹ và Canada, hành động này có thể bị điều tra như thể bán phá giá. Nhưng đây có thực sự là bán phá giá không? Để phân biệt giá, một công ty phải có phần nào khả năng kiểm soát giá ở thị trường trong nước. Nói cách khác, công ty đó phải độc quyền ở nước nhà, để có thể giảm sản lượng ở thị trường nội địa để nâng giá; việc giảm sản lượng sẽ gây tổn thất phúc lợi xã hội. Lập luận trên có thể hợp lý cho luật chống độc quyền ở thị trường nội địa, nhưng ít có ý nghĩa khi xem xét bán phá giá ở thị trường nhập khẩu, ở thị trường trong nước cũng như nước ngoài, mặt hàng này vẫn có thể được bán cao hơn giá thành. Tổn thất phúc lợi xã hội nêu trên không do nước nhập khẩu chịu mà là do khách hàng trong nước phải gánh. Thật ra, người tiêu dùng ở nước nhập khẩu được hưởng nguồn cung lớn hơn và theo đó là giá thấp hơn (tất nhiên, khi công ty này chưa trở thành nhà độc quyền ở thị trường nhập khẩu). Lấy ví dụ ngành vận tải biển, ở thị trường nội địa được bảo hộ, một công ty vận tải có thể tính cước cao với khách hàng. Khi thực hiện dịch vụ này ở nước ngoài (ở nước nhập khẩu dịch vụ), công ty có thể tính cước ở đó thấp hơn 145 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) giá cước trong nước. Tuy nhiên giá cước này không nhất thiết thấp hơn giá thành của dịch vụ. Trong trường hợp này, áp dụng thuế chống bán phá giá đối với công ty này ở thị trường nhập khẩu chỉ gây tổn thất cho phúc lợi của người tiêu dùng ở đó mà thôi. 59. Fair value: Market and Non-market Economies Although one can always make different arguments about dumping such as below-cost pricing or international price discrimination, at the end of the day it is the rule that counts. And the rule says that a firm commits dumping when it sells a good in a foreign market below its fair value, which is normally the price of the product when destined for consumption in the domestic market. However, things become complicated in cases involving export products of former centrally planned economies. As often alleged by dumping petitioners, prices in the so- called "non-market" economies do not reflect the forces of demand and supply, and therefore prices in a "comparable" market economy should be used for dumping determination. For example, the U.S. treated China as a non-market economy in its recent antidumping investigation against two Chinese steel companies. As a result, factor-of-production prices in India, whose per capita income is similar to that of China, were chosen to calculate the fair value of steel. While the use of data from a third-country may seem unreasonable in the eyes of free traders, it is legal. The only resort available to exporters from non-market economies seeking to preempt dumping charges is to 146 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) prove that their production processes are indeed efficient. In the steel case, the Chinese producers showed that the amounts of inputs such as iron ore, coal and labor used in producing one ton of steel were genuinely low. Hence, even when the higher Indian factor-of-production prices were used, the constructed fair value was significantly lower than the export price. No antidumping duty was therefore imposed on the Chinese producers. 59. GIÁ TRỊ HỢP LÝ: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ PHI THỊ TRƯỜNG Dù người ta có thể đưa ra nhiều lập luận khác nhau về việc bán phá giá như bán thấp hơn giá thành hay phân biệt giá quốc tế, suy cho cùng, quyết định vẫn là do luật. Theo luật thì một doanh nghiệp phá giá khi bán hàng ra thị trường nước ngoài với giá thấp hơn giá trị hợp lý, thường căn cứ vào giá bán mặt hàng này trên thị trường tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, vấn đề trở nên phức tạp đối với hàng xuất khẩu của những nền kinh tế đã từng theo cơ chế kế hoạch tập trung. Theo cáo buộc mà những người kiện bán phá giá thường đưa ra, giá ở các nền kinh tế bị coi là "phi thị trường ” không phản ánh tác động của cung và cầu, cho nên phải dùng giá ở một nền kinh tế thị trường “tương đương để quyết định xem có bán phá giá hay không. Ví dụ, trong vụ điểu tra bán phá giá gần đây đối với hai công ty thép của Trung Quốc, Mỹ đã coi Trung Quốc là một nền kinh tế phi thị trường. Do vậy giá trị hợp lý của thép đã được tính căn cứ vào giá các yếu tố sản xuất ở Ấn Độ, nơi có thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ với Trung Quốc. 147 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Những người ủng hộ ngoại thương tự do có thể coi việc dùng số liệu của nước thứ ba là phi lý, cách tính này vẫn hợp pháp. Để tránh bị kết tội bán phá giá, các nhà xuất khẩn từ nền kinh tế phi thị trường chỉ có cách duy nhất là phải chứng minh họ có qui trình sản xuất thật sự hiệu quả. Trong vụ kiện trên, các nhà sản xuất Trung Quốc đã cho thấy lượng đầu vào như quặng, than và lao động để sản xuất một tấn thép là thấp nhất so với mọi nơi khác. Do đó, dù tính theo giá đầu vào của Ấn Độ thì giá trị hợp lý được cấu thành vẫn thấp hơn nhiều so với giá xuất khẩu. Cuối cùng, các nhà sản xuất Trung Quốc đã không bị đánh thuế chống bán phá giá. 60. Globalization There is a lot of talk and writing about "integrating into the global economy" and the implications for Vietnam of lowering tariffs and joining the World Trade Organization. Basically, globalization is the deeper and more rapid integration of global economies through movements of goods, capital, information, and people. The world has had episodes of global integration in the past. One such episode lasted from the middle of the 19th century to about 1930. Another episode began for the rich nations in 1950 and for the developing world thirty to forty years later. Such periods are often spurred by technology, though policies can slow or speed integration. In the 19th century, steamships railroads, the telegraph and telephone, and electricity all made trade and communication faster, cheaper, and easier. In our time, jet airplanes, shipping containers, airfreight, computers, fiber optics, communications satellites, television, the Internet, 148 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) and mass tourism have helped bring nations and people closer together. The easiest part of global integration to observe is increased trade. Nations that have learned to export manufactured goods grow much faster than those that export only primary products or that industrialize mainly by producing for their own home markets. Other aspects of globalization, usually supporting trade, are global capital and technology flows. Movements of people, as workers, students, or tourists, also tend to increase contacts and spread different ideas and information. Trade, capital flows, international telephone calls, Internet use, and tourism are all growing faster than global output. This has implications for any nation hoping to benefit from global integration. 60. TOÀN CẦU HÓA Có nhiều cuộc thảo luận và nhiều bài viết về "hội nhập kinh tế thế giới” và những ý nghĩa khi Việt Nam hạ thấp thuế quan và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, về cơ bản, toàn cầu hóa là sự hội nhập một cách sâu hơn và nhanh hơn của các nền kinh tế trên phạm vi toàn cầu thông qua lưu chuyển hàng hóa, vốn, thông tin và con người. Thế giới đã chứng kiến các giai đoạn hội nhập toàn cầu trong quá khứ. Giai đoạn thứ nhất kéo dài từ giữa thế kỷ 19 cho đến năm 1930. Giai đoạn thứ hai bắt đẩu vào năm 1950 ở các nước giàu và khoảng 30 đến 40 năm sau ở những nước đang phát triển. Trong cả ba giai đoạn thì công nghệ thường là động lực chính, dù rằng yếu tố chính sách cũng góp phần cản trở hoặc đẩy nhanh tiến độ hội nhập, ở thế kỷ 19 tàu hơi nước và tàu hỏa, điện tín điện 149 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) thoại, điện khí đã giúp cho thương mại và thông tin liên lạc trở nên nhanh, rẻ và dễ dàng hơn. Trong thời đại của chúng ta, máy bay phản lực, công-ten-nơ tàu biển, vận tải hàng không, máy vi tính, cáp quang, vệ tinh viễn thông, ti vi, Internet và du lịch đại trà đã giúp gắn kết các nước và con người gần nhau hơn. Khía cạnh dễ quan sát nhất của hội nhập toàn cầu là thương mại gia tăng. Các nước thành công trong xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo tăng trường nhanh hơn nhiều so với những nước chỉ xuất khẩu hàng sơ cấp hoặc công nghiệp hóa chỉ để sản xuất cho thị trường trong nước. Các khía cạnh khác của toàn cầu hóa thường bổ trợ cho thương mại là các dòng vốn và công nghệ. Sự lưu chuyển lao động, sinh viên, hay khách du lịch cũng gia tăng các mối liên kết, phổ biến những ý tưởng và thông tin khác nhau. Thương mại, các dòng vốn, điện thoại quốc tế, sử dụng Internet và du lịch, tất cả đều phát triển nhanh hơn sản lượng toàn cầu. Điều này mang lại nhiều hàm ý cho bất kỳ nước nào muốn hưởng lợi từ việc hội nhập toàn cầu. 61. Globalization: Winners and Losers The world economy is going through a period in which international trade and capital flows are increasing faster than national output. These changes, driven both by technology and policy, create new opportunities for those firms and regions that are nimble and flexible, and are able to learn quickly. Those who are less flexible do poorly. So, there are both winners and losers. One reaction is to wonder why it is necessary to play the game at all. Aren't the rich or a few developing nations so much better at learning and adjusting, that the whole thing 150 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) is rigged? Why not just aim to produce for the home market and ignore the rest of the world? There was a global experiment after World War II. The nations that focused on manufactured exports did well. The ones that looked inwards ultimately stagnated. The nations that were really isolated by design are now among the poorest in the world. Globalization is a tough game, but not playing it is worse. So what does it take to win at globalization? Education that connects people to world knowledge and markets is a good start. Creating legal protections so that investors feel safe starting and expanding firms is crucial. Creating competition, so that firms have good financial services, reasonable transport and communications costs and service, and access to cheap inputs is important. The rest of the list is not surprising - low inflation, a stable currency, reasonable taxes and clear rules with minimal corruption. 61. TOÀN CẦU HÓA: NGƯỜI THẮNG VÀ KẺ THUA Nền kinh tế thế giới đang trải qua một giai đoạn mà ngoại thương và các dòng vốn quốc tế đang tăng nhanh hơn sản lượng quốc gia. Những thay đổi này, xuất phát từ cả công nghệ lẫn chính sách, tạo ra những cơ hội mới cho những doanh nghiệp và khu vực nào nhanh nhạy, linh hoạt và có khả năng học hỏi nhanh. Còn những doanh nghiệp và khu vực nào kém linh hoạt sẽ không thu được lợi. Do đó, có người thắng và cũng có kẻ thua. Có một phản ứng cho rằng tại sao phải nhất thiết tham gia vào cuộc chơi này. Phải chăng các nước giàu và một vài nước đang phát triển đã rất giỏi trong việc học hỏi và áp 151 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) dụng, nên thực ra toàn bộ cuộc chơi đã được dàn xếp? Tại sao không đơn thuần sản xuất cho thị trường trong nước và quên đi phần còn lại của thế giới? Sau Thế chiến Thứ hai đã có một cuộc thử nghiệm toàn cầu. Các nước từng tập trung vào xuất khẩu công nghiệp chế biến đã có thành tựu rất tốt. Các nước hướng nội cuối cùng đã bị đình trệ. Các nước tự cô lập mình hiện đang nằm trong số nghèo nhất trên thế giới. Toàn cầu hóa là một cuộc chơi khó khăn, nhưng không tham gia thì kết cục còn tệ hại hơn. Cần phải làm gì để thắng trong cuộc chơi toàn cầu hóa? Một hệ thống giáo dục kết nối người dân với tri thức và các thị trường thế giới là một khởi đầu tốt. Xây dựng một khuôn khổ bảo vệ về pháp lý để các nhà đầu tư cảm thấy an toàn trong việc thành lập và mở rộng doanh nghiệp là điều thiết yếu. Tạo cạnh tranh để các doanh nghiệp có được các dịch vụ tài chính hiệu quả, chi phí dịch vụ vận tải và viễn thông hợp lý và tiếp cận các nhập lượng rẻ là điều quan trọng. Phần việc còn lại của bản danh sách là không có gì đáng ngạc nhiên -đó là lạm phát thấp, đồng tiền ổn định, thuế hợp lý, các quy định rõ ràng và tham nhũng ở mức thấp nhất. (Saigon Times Daily ngày 3012-2002) 62. Natural Resources and Economic Development Natural resources constitute an important part of the overall capital of a country. Land, forest, and water provide vital factors of production. Just like machines and buildings, natural resources depreciate when used and may be totally lost unless allowed to regenerate. Natural resources play another critical role: protecting human beings and physical capital from adverse impact of 152 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) pollutants and toxic substance generated during the production process. Overemphasis on quick economic growth leads to excessive exploitation of forests, fisheries and soil and over production of pollutants that damage the quality of air, water and land. Over time, this leads to a loss in productivity and spread of diseases affecting people's health. In countries like India and China, this loss may add up to 8-10% of GDP. There are three main factors behind this problem. First, the cost of pollution generated by individuals or factories on society is not borne by the polluters. Second, natural resources are over-exploited because the property rights are not well defined, people often pay zero or very low price and treat them as free goods. Finally, some well- intentioned government policies such as high subsidies on agricultural inputs, artificially low prices of fuel and energy, enhance these problems. The solution? Adopt the "Polluter Pays" principle through taxes and setting standards. The power plant should bear the cost of lowering air pollution, the fertilizer factory should be made responsible for treating the pollutants before they get into water system and the motorbike users should pay for clean fuel and periodical inspections of their bikes. Governments should closely examine subsidies and reduce/remove "bad" subsidies so that those who use the natural resources pay the actual price. 62. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 153 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Tài nguyên là một phần quan trọng trong tổng vốn của một nước. Đất đai, rừng và nước cung cấp những yếu tố sản xuất thiết yếu. Cũng như máy móc và nhà cửa, trong quá trình sử dụng tài nguyên bị bào mòn và có thể mất hoàn toàn nếu không được tái tạo. Tài nguyên thiên nhiên còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ con người và của cải vật chất khỏi những tác động xấu của các chất ô nhiễm và độc hại tạo ra trong quá trình sản xuất. Việc quá chú trọng vào đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế dẫn đến khai thác quá mức tài nguyên rừng, thủy sản và đất đai, cũng như việc tạo ra nhiều chất ô nhiễm làm tổn hại đến chất lượng không khí, nước và đất đai. Điều này sẽ dẫn đến giảm sút năng suất và lan truyền các dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, ở các nước như Ấn Độ và Trung Quốc, tổn thất này có thể chiếm đến 8-10% GDP. Có ba yếu tố chính đằng sau vấn đề trên. Thứ nhất, người gây ô nhiễm là các cá nhân hay nhà máy không gánh chịu các chi phí mà ô nhiễm gây ra cho xã hội. Thứ hai, tài nguyên bị khai thác quá mức vì quyền sở hữu tài sản không được xác định rõ ràng, người ta thường không trả tiền hoặc trả rất ít cho việc sử dụng tài nguyên nên thường coi đó là miễn phí. Cuối cùng, một số chính sách có mục đích tốt của chính phủ cũng góp phần vào những vấn đề trên, ví dụ như trợ giá cao cho đầu vào của nông nghiệp hay để giá nhiên liệu và năng lượng thấp một cách giả tạo. Cách giải quyết? Áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm trả tiền" thông qua các loại thuế và định ra các chuẩn. Nhà máy phát điện phải chịu chi phí xử lý ô nhiễm không khí, nhà máy phân bón phải chịu trách nhiệm xử lý chất thải trước khi đổ vào nguồn nước và những người đi xe máy 154 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) phải trả cho loại nguyên liệu sạch và cho các đợt kiểm tra xe định kỳ. Chính phủ nên xem xét kỹ việc trợ giá, giảm hay loại bỏ những khoản trợ giá “tồi”. Những ai sử dụng tài nguyên phải trả đúng giá và không thể được miễn phí. (Saigon Times Daity ngày 31-3-2003) 63. The Trend of Gold Prices Seven years ago, the world price of gold peaked at $850 an ounce. It was below $260 in 1998. Last week, it reached $400. The price in Vietnam is at 7.7 million dong per tael (one tael equals 1.32 ounces), and some project that the price of gold may go up to 8 million dong per tael, if there is little change in the exchange rate. Why does the price go up so high? The explanation is easy during times of inflation: all prices are up, so does the gold price; however, the world has experienced deflation recently, so this can not be the explanation. Some suggest that when the us$ interest rate is down, gold producers have less incentive to keep money and tend to buy back the gold they have sold forward, pushing the price up. It is true that the interest rate has been going down in recent years. But this argument fails to explain the 1995-1998 period, when both interest rates and gold prices went down together. Central banks in the world hold over 30,000 tons of gold. Why don't they sell gold to stop the price from inflating? Because their main function is neither to trade gold nor stabilize its price. Historically, they have not been good at selling high and buying low. 155 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) The possible answer? The dollar is weak and the us government has little incentive to make it stronger given the huge us trade deficit. The Yen seems unsafe given the Japanese government debt reaching 135% of GDP. The Euro is no better, given the heavy budget deficit of large economies in the block. Thus, gold has increasingly become the choice to store wealth. When the demand increases, the price rises. How far the trend will go? Don't look at economists for the answer. They are only good at explaining past prices, not the future prices. 63. XU HƯỚNG GIÁ VÀNG Bảy năm trước, giá vàng trên thế giới đạt mức đỉnh là 850 đô-la/ao-xơ. Năm 1998 giá xuống dưới 260 đô-la. Tuần vừa qua giá vàng lên đến 400 đô-la. Giá tại Việt Nam cũng lên đến 7,7 triệu đồng/lượng (một lượng bằng 1,32 ao-xơ). Một số người dự đoán giá vàng sẽ lên đến 8 triệu đồng/lượng, nếu không có biến động về tỉ giá. Tại sao giá lên cao như vậy? Trong thời kỳ lạm phát việc giải thích thật dễ: mọi thứ đều lên giá thì vàng cũng lên. Tuy nhiên trên thế giới lúc đó chỉ có giảm phát, nên cách lý giải này không ổn. 156 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Một số người cho là khi lãi suất đô-la giảm, các nhà sản xuất vàng không muốn giữ tiền và có xu hướng mua lại số vàng họ đã bán theo hợp đồng giao sau, từ đó đẩy giá lên. Đúng là lãi suất đã hạ trong vài năm gần đây, nhưng lập luận này không giải thích được giai đoạn 1995-1998, khi cả lãi suất và giá vàng cùng nhau đi xuống. Các ngân hàng trung ương trên thế giới lưu giữ hơn 30.000 tấn vàng. Tại sao họ không bán ra để ngăn giá vàng lên! Vì chức năng của họ không phải là buôn bán hay ổn định giá vàng. Xưa nay họ chưa bao giờ giỏi trong việc mua thấp bán cao. Câu trả lời có thể là gì? Đô-la đang yếu và chính phủ Mỹ không muốn cho đô-la mạnh lên khi mà thâm hụt thương mại vẫn còn khổng lồ. Đồng Yên chẳng an toàn gì, do nợ của chính phủ Nhật đã lên đến 135% GDP. Đồng Euro cũng chẳng khá hơn, khi các nền kinh tế chính trong khối đang thâm hụt ngân sách nặng nề. Như vậy, vàng ngày càng được chọn làm phương tiện lưu giữ tài sản. cầu tăng thì giá tăng. Xu hướng này sẽ còn bao xa? Đừng trông chờ câu trả lời của các nhà kinh tế. Họ chỉ giỏi lý giải giá cả trong quá khứ, không phải giá tương lai. (Saigon Times Daily ngày 1-12-2003) 64. Foreign Aid In the annual meeting of donors to Vietnam in December 2003, the amount of Official Development Assistance (ODA; often referred to as foreign aid) committed to Vietnam in 2004 will reach the record amount of US$2,839 billion. When a nation needs capital for development, 157 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) foreign aid as well as foreign investment can play a crucial role. This article examines a few issues concerning foreign aid. First, the amount of aid actually disbursed is often lower than the amount pledged. Disbursement depends on the ability of the recipient to generate projects and to satisfy the conditions that donors attach to their support. During the past decade, only 47% of aid commitments to Vietnam have disbursed. Second, not all aid takes the form of grants. Concessional loans, which include a grant element of 25% or more, are also classified as ODA. The grant element is the difference between amount disbursed and the present value of future payments, using normal discount rates. The fact that most aid is not free has implications. A Ministry of Finance official once remarked that aid is not much different from loans, and that subsequent generations will have to pay for the profligacy of the current generation. Third, two-thirds of Vietnam's foreign aid is bilateral, and such aid often comes with requirements to purchase goods and services from the donor country. This is called "tied aid." The World Bank estimates that tied aid reduces the value of the assistance by 25%. Foreign aid is also associated with national self-esteem, as it is given to the poorest countries only. Thailand recently announced that it would not longer need foreign aid. In a recent Tuoi Tre article, Dr. Le Dang Doanh addressed a question: Vietnam has always been an aid recipient. When will we become aid donor? 158 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) 64. VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI Trong phiên họp hàng năm của các nhà tài trợ cho Việt Nam vào tháng 12/2003, lượng vốn ODA (Hỗ trợ phát triển chính thức hay thường được gọi là viện trợ nước ngoài) cam kết dành cho Việt Nam đạt mức kỷ lục là 2,839 tỉ đô-la. Khi một quốc gia cần vốn để phát triển, viện trợ cũng như đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Bài viết này xem xét một số vấn đề về viện trợ. Thứ nhất, số vốn giải ngân thực tế thường thấp hơn số vốn cam kết, tùy thuộc khả năng của nước nhận viện trợ đề ra được các dự án đồng thời thỏa mãn những điều kiện kèm theo của nhà tài trợ. Trong thập kỷ vừa qua, tỉ lệ giải ngân viện trợ ở Việt Nam chỉ đạt 47% số vốn cam kết. Thứ hai, không phải toàn bộ viện trợ nước ngoài là cho không. Các khoản vay ưu đãi nếu có yếu tố không hoàn lại trên 25% thì đều được gọi chung là ODA. Yếu tố không hoàn lại là sự chênh lệch giữa vốn giải ngân và hiện giá của các khoản trả lại trong tương lai, áp dụng suất chiết khấu thông thường. Thực tế đa số viện trợ không phải cho không có ý nghĩa quan trọng. Một lãnh đạo của Bộ Tài chính đã có lần phải nhắc nhở là viện trợ và vay không khác nhau nhiều, những thế hệ sau sẽ phải trả nợ cho sự hoang phí của thế hệ hiện nay. Thứ ba, hai phần ba viện trợ ở Việt Nam là viện trợ song phương, và thường đi kèm điều kiện phải mua hàng hay dịch vụ của nước viện trợ. Loại này gọi là "viện trợ ràng buộc”. Ngân hàng Thế giới ước tính là đối với viện trợ ràng buộc, giá trị hỗ trợ bị giảm 25%. 159 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Viện trợ cũng liên quan đến lòng tự hào dân tộc, vì chỉ dành cho những nước nghèo nhất. Mới đây Thái Lan tuyên bố từ nay không còn cần viện trợ nước ngoài nữa. Trong bài đăng trên báo Tuổi Trẻ gần đây, tiến sĩ Lê Đăng Doanh đề cập một câu hỏi: mãi đến nay Việt Nam vẫn luôn là nước nhận viện trợ. Khi nào chúng ta sẽ trở thành nước đi viện trợ? (Saigon Times Daily ngày 15-12-2003) 65. The Rule of 72 Ever wonder how long it would take for your savings to double if deposited in a bank at a fixed rate of interest? Or have you considered what the growth rate must be in Vietnam if targets of doubling income every ten years are to be met? One way, of course, is to consult a financial table or calculator using the concepts of present and future values. An easier way, however, is to simply apply the Rule of 72. This is an analytical trick that states if you divide 72 by the growth rate, the value obtained is a close approximation to the number of years it will take for the principal to double. This little tool is particularly useful if you want to compare growth rates of countries. For example, given the 1.5 percent annual growth rate of population, the present GDP growth rate of about 7 percent in Vietnam is equal to 5.5 percent growth rate of income per capita. The Rule of 72 would say that per capita income would double in about 13 years. In other words, Vietnam's per capita income will be US$940 (from the current of US$470) in 2017 or so. 160 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) The Rule of 72 also helps ư you want to know how long it would take for a deposit of $1000 to double if interest is paid at a compound rate of 4 percent for year. Just divide 72 by 4 and you obtain 18 years, very close to the actual value of 17.7 years. With the current interest rate of 9% for long-term city bonds in Vietnam, according to the rule if you buy an 8-year bond, you can expect to double your investment when the bond is due. Try to obtain the number of years it would take a savings deposit in Japan to double at current rates of 0.10 percent and you will be surprised at your answer. 65. NGUYÊN TẮC 72 Đã bao giờ bạn tự hỏi, với một lãi suất nhất định thì phải mất bao lâu số tiền gửi ngân hàng của mình sẽ tăng gấp đôi? Hay bạn có nghĩ xem tốc độ tăng trưởng của Việt Nam phải là bao nhiêu để đạt mục tiêu cứ sau mười năm thì thu nhập lại tăng gấp đôi? Tất nhiên cách thông thường là vận dụng khái niệm giá trị hiện tại và tương lai với bảng tính tài chinh hay máy tính. Tuy nhiên có một cách dễ hơn là chỉ cần áp dụng nguyên tắc 72. Đây là một mẹo phân tích trong đó nếu lấy số 72 chia cho tốc độ tăng trưởng, kết quả là một ước lượng gần đúng với số năm cần thiết để con số ban đầu tăng gấp đôi. Công cụ nhỏ bé này rất tiện lợi nếu bạn muốn so sánh tốc độ tăng trưởng của các nước. Ví dụ, với mức tăng trường dân số hàng năm là 1,5 phần trăm, tăng trưởng GDP 7% của Việt Nam hiện nay tương đương với tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người 5,5% mỗi năm. Nguyên tắc 72 cho thấy là thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng gấp đôi 161 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) trong khoảng 13 năm. Nói cách khác, đến khoảng 2017 thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt 940 đô- la (từ mức 470 đô-la hiện nay). Nguyên tắc 72 cũng tiện dụng nếu bạn muốn biết phải mất bao lâu để 1000 đô-la gửi ngân hàng tăng lên gấp đôi, với lãi suất 4% mỗi năm, trong đó lãi hàng kỳ được tính vào gốc và trả một lần khi đáo hạn. Chỉ cần chia 72 cho 4, bạn sẽ có con số 18 năm, rất gần với giá trị chính xác là 17,7 năm. Hiện Việt Nam đang có trái phiếu đô thị dài hạn lãi suất 9%, nguyên tắc này cho biết nếu mua một trái phiếu kỳ hạn 8 năm, bạn có thể kỳ vọng nhận được gấp đôi khoản đầu tư khi trái phiếu đáo hạn. Hãy thử tính số năm để một khoản tiết kiệm ở Nhật tăng gấp đôi với lãi suất hiện hành là 0,1%, bạn sẽ ngạc nhiên với câu trả lời. 162 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) PART III: FINANCE AND TAX - TÀI CHÍNH VÀ THUẾ KHÓA 66. Taxation Equilibrium price and quantity are determined by supply and demand. Yet the market is often distorted causing market quantity and price deviated from their original equilibrium levels. One reason for the distortion is taxation. Gasoline consumption is normally subject to a unit tax, say VND200 a liter. The tax creates a wedge between the price the buyers pay and the price the sellers get. If motorbike users are paying VND3,500 per liter of gasoline, gasoline stations are getting 3,500 - 200 = VND3,300 per liter. As shown in the graph, the supply curve plus the tax is now above the supply curve without the tax. The quantity of gasoline is reduced from Q* to Q'. We can see that both buyers and sellers of gasoline have to share the tax burden. For the buyers, the higher price pd makes them worse-off as their consumer surplus is reduced by an amount equal to the areas a + d. For the sellers, the lower price p also makes them worse-off as they suffer a loss in their producer surplus, which is given by the areas b + c. The government earns revenue from the 163 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) tax, as depicted by the areas a + b. The remaining areas c + d are the net social cost, which from economists' view, is the dead-weight-loss of the tax. Taxes, however, need not always be bad. In fact, they are necessary when some production and consumption activities do not reflect the true social costs. We know that fuel consumption causes pollution. The fuel tax reduces the amount of fuel consumed and, therefore, helps alleviating the environmental pollution problem. 66. THUẾ KHÓA Giá và lượng cân bằng được quyết định bởi cung và cầu. Tuy nhiên, thị trường luôn bị biến dạng khiến cho giá và lượng trên thị trường thường bị chệch khỏi trạng thái cân bằng ban đầu. Đánh thuế là một nguyên nhân gây biến dạng. Tiêu thụ xăng dầu thường bị đánh thuế đơn vị, ví dụ 200 đồng/lít. Mức thuế này tạo ra chênh lệch giữa giá mà người mua phải trả và giá mà người bán nhận được. Nếu người sử dụng xe máy trả 3.500 đồng/lít xăng thì người chủ cây xăng sẽ nhận được 3.500- 200 = 3.300 đồng/lít. Trên đồ thị, cộng khoản thuế vào ta có đường cung mới nằm bên trên đường cung lúc không chịu thuế. Lượng tiêu thụ xăng dầu giảm từ Q* xuống Q'. Ta có thể thấy cả người mua và người bán xăng dầu cùng chia nhau gánh nặng thuế. Với người mua, mức giá p* cao hơn làm cho họ bị thiệt vì thặng dư người tiêu dùng đã bị giảm một lượng bằng diện tích a + d. Với người bán xăng, mức giá p thấp hơn cũng khiến họ bị thiệt do phải chịu mất mát thặng dư nhà sản xuất bằng diện tích b + c. Chính phủ 164 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) thu được một khoản thuế tương đương diện tích a + b. Phần diện tích còn lại c + d là chi phí xã hội ròng. Theo quan điểm kinh tế thì đây là mất mát vô ích của khoản thuế. Tuy nhiên, thuế không phải lúc nào cũng xấu. Thực ra, thuế là công cụ cần thiết khi một số hoạt động sản xuất và tiêu dùng không phản ánh được đúng các chi phí xã hội. Ta biết rằng tiêu dùng xăng dầu gây ra ô nhiễm. Thuế xăng dầu làm giảm lượng tiêu thụ và do vậy giúp giảm thiểu vấn đề ô nhiễm môi trường. (Saigon Times Daily ngày 9-9-2002) 67. Direct Versus Indirect Taxes Traditionally all countries have relied more on indirect or consumption taxes (retail sales tax, excises, and trade taxes, etc.) for revenue during the early stages of economic growth. The main reason is that these taxes can be easily collected through stores or at the country's borders. Because per capita income in these countries tends to be low, direct or income taxes (personal and company income taxes, etc.) are not major sources of revenue. Corporations are the primary source of income tax revenue. Vietnam provides a clear illustration. The indirect taxes dominate the tax structure, accounting for nearly 60 percent of the total tax revenue in 2000. Also in the same year, the corporate income tax revenue was eleven times higher than the personal income tax revenue. The problem with indirect taxes, however, is that they are by nature regressive. If a person earns $50 a week, 165 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) consumes $45 and there is a 10% retail sales tax, the tax burden is $4.5 Oi 9% of income. With higher income of $200 a week and consumption at $150 (assuming that the wealthier person does not have to spend as high a proportion of her income on necessities), the tax is $15 or 7.5% of the income. Direct taxes, in contrast, can be easily made progressive by varying the tax rates by income levels. Overtime, the share of indirect taxes in total tax revenue tends to go down. Particularly, taxes on trade gradually lose their importance because of the opening of economies and trade agreements among nations. Also as the country develops, per capita income rises and the number of corporations grows, increasing the share of revenue generated by corporate and personal income taxes. As can be seen in the case of Vietnam, the share of direct tax in the total tax revenue increased from 31% in 1996 to 40% in 2000. 67. SO SÁNH THUẾ TRỰC THU VÀ GIÁN THU Thông thường trong giai đoạn đầu tăng trưởng kinh tế, ngân sách của các nước dựa nhiều vào thuế gián thu hay còn gọi là thuế tiêu dùng (thuế bán lẻ, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất nhập khẩu ). Lý do chính là dễ thu các loại thuế này tại cửa hàng hay tại biên giới quốc gia. Thuế trực thu hay còn gọi là thuế thu nhập (cá nhân và doanh nghiệp ) không phải là nguồn thu lớn cho ngân sách vì thu nhập theo đầu người ở các nước này còn thấp. Khi đó doanh nghiệp là nguồn thuế thu nhập chính. Việt Nam là một ví dụ cụ thể. Thuế gián thu chiếm đa phần trong cơ cấu thuế, gần 60% tổng thu năm 2000. Trong 166 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) cùng năm, thuế thu nhập doanh nghiệp mang lại số thu cao hơn 11 lần so với thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, vấn đề là thuế gián thu mang bản chất lũy thoái. Nếu một người kiếm được 50 đô-la một tuần và chi tiêu hết 45 đô-la, thuế suất bán lẻ 10% sẽ tạo một gánh nặng là 4,5 đô-la hay 9% thu nhập. người khác thu nhập 200 đô-la một tuần và chi tiêu 150 đô-la (giả định người có thu nhập cao không nhất thiết phải chi cùng tỉ trọng thu nhập cho hàng thiết yếu), thuế tương đương 15 đô-la hay 7,5% thu nhập. Ngược lại, có thể dễ dàng làm cho thuế trực thu mang tính lũy tiến bằng cách áp dụng nhiều thuế suất tùy theo mức thu nhập. Theo thời gian, tỉ trọng thuế gián thu trong tổng thu ngân sách có khuynh hướng giảm. Đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu dần mất đi sự quan trọng do mở cửa nền kinh tế và những hiệp định thương mại giữa các nước. Đồng thời, khi đất nước phát triển, thu nhập theo đầu người và số lượng doanh nghiệp cùng tăng lên, tỉ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân trong tổng thu ngân sách cũng tăng. Như có thể thấy tại Việt Nam, tỉ trọng thuế trực thu trong tổng số thu thuế tăng từ 31% năm 1996 lên 40% năm 2000. 68. Economic Versus Accounting Income The distinction between economic and accounting income is important. Consider a person who earns an annual salary of $15,000. At the same tune, the person owns a house whose value increases this year. What is the correct assessment of the person's income? From one point of view, the annual income is simply the person's salary. How should we think about the increase in the value of the 167 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) house? Should we include the change in the value of the house as part of the annual income? What are the arguments for including or excluding the changes in the values of assets? In the definition of accounting income, we exclude the change in the value of the house. However, in the definition of economic income, we take into account the change in the value of the house. Which definition is more correct? From a conceptual point of view, the economic definition of income is comprehensive and thus more correct. People's expenditures are a function of their economic income. If the value of the house increases over time, the owner is more wealthy and likely to increase his expenditures. However, from a practical point of view, it is difficult to measure economic income on a regular basis. Thus, it is more common for people to use the accounting definition of income rather than the economic definition, even though the economic definition is technically better. 68. SO SÁNH THU NHẬP KINH TẾ VÀ THU NHẬP KẾ TOÁN Phân biệt giữa thu nhập kinh tế và thu nhập kế toán là điều rất quan trọng. Xét một người có lương hàng năm là 15.000 đô-la. Người này cũng có một căn nhà mà giá trị năm nay đã tăng lên. Chúng ta nên đánh giá thu nhập của người này thế nào cho chính xác? Có quan điểm cho rằng thu nhập hàng năm đơn giản là lương của anh ta. Còn giá trị gia tăng của ngôi nhà thì sao? Liệu chúng ta có nên tính phần giá trị thay đổi của ngôi nhà như một phần của thu 168 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) nhập hàng năm hay không? Đâu là cơ sở cho việc tính gộp hoặc tách biệt những thay đổi trong giá trị của tài sản? Trong định nghĩa của thu nhập kế toán, chúng ta không tính phần thay đổi trong giá trị căn nhà. Tuy nhiên, theo định nghĩa của thu nhập kinh tế, chúng ta phải tính luôn cả phần giá trị thay đổi của căn nhà. Vậy định nghĩa nào chính xác hơn? Theo lý thuyết, định nghĩa kinh tế của thu nhập là toàn diện và do đó chính xác hơn. Chi tiêu của người dân phụ thuộc vào thu nhập kinh tế của họ. Nếu giá trị của căn nhà tăng theo thời gian, chủ nhà sẽ giàu có hơn và có khuynh hướng gia tăng chi tiêu. Tuy nhiên, từ quan điểm thực tế, thường xuyên đo lường thu nhập kinh tế là điều rất khó. Do đó, người ta dùng định nghĩa kế toán phổ biến hơn định nghĩa kinh tế, dù rằng định nghĩa kinh tế trên nguyên tắc là tốt hơn. (Saigon Times Daily ngày 3-5-2004) 69. Progressive and Regressive Income Tax Most people agree that high-income earners ought to pay higher taxes than low-income earners. But how much more should they pay? In a regressive tax system, the average tax rate applied to high-income earners is lower than that applicable to low- income earners. For example, one person earns 4 million and pays 2 million in taxes; another earns 20 million and pays 4 million. While the richer taxpayer pays more, his average tax rate is only 20% versus the poorer taxpayer's 50%. An extreme case of regressive tax is a lump sum tax, in which everyone would pay the same amount. 169 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) A tax is proportional if a single rate is applied regardless of income level. Assuming a 25% tax rate, the two taxpayers above would pay 1 million and 5 million, respectively. Before and after the tax, the income ratio between the two remains unchanged. Regressive and proportional taxes are considered unfair. Therefore, personal income tax rates are often designed to be progressive, in which the marginal tax rate increases with income to ensure that the rich bear a higher average tax rate than the poor. In practice, a tax schedule often sets tax brackets with corresponding income levels. In Vietnam, there are 5 tax rates from 10% to 50% applied to different income levels above 3 million dong. (Excluding an additional 30% rate on the part of the after-tax income exceeding 15 million dong.) An extremely progressive tax can equalize after-tax income. In the above example, if the poorer taxpayer pays 1 million, the richer taxpayer must pay 17 million for each of them to retain 3 million after taxes. Such a system would dissuade skilled people from staying productive. Finding the proper level of progressively is not an easy task. The next article will examine this issue in the context of income utility. 69. THUẾ THU NHẬP LŨY TIẾN VÀ LŨY THOÁI Hầu hết mọi người cho rằng người có thu nhập cao phải đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp, nhưng phải nhiều hơn bao nhiêu? Trong hệ thống thuế lũy thoái, thuế suất trung bình của người thu nhập cao sẽ nhỏ hơn so với người thu nhập 170 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) thấp. Ví dụ một người có thu nhập 4 triệu và đóng thuế 2 triệu; một người khác có thu nhập 20 triệu và đóng thuế 4 triệu. Mặc dù người giàu nộp nhiều hơn, thuế suất bình quân của anh ta chỉ là 20% so với 50% của người kia. Một trường hợp cực đoan của thuế lũy thoái là thuế đồng nhất, khi tất cả mọi người đóng một số tiền như nhau. Thuế được gọi là đồng tỉ lệ nếu một thuế suất duy nhất được áp dụng cho mọi mức thu nhập. Giả định thuế suất là 25%, hai người trong ví dụ trên sẽ đóng thuế lần lượt là 1 triệu và 5 triệu. Như vậy trước hay sau thuế thì tỉ lệ thu nhập giữa họ vẫn không đổi. Thuế đồng nhất và thuế đồng tỉ lệ bị xem là không công bằng. Do vậy, thuế thu nhập cá nhân thường được thiết kế theo dạng lũy tiến, trong đó thuế suất biên tăng lên theo thu nhập nhằm đảm bảo thuế suất trung bình của người giàu phải cao hơn của người nghèo. Thực tế, một biểu thuế thường có nhiều thuế suất bậc thang ứng với các mức thu nhập, ở Việt Nam có 5 thuế suất tăng dần từ 10% đến 50% áp dụng cho các mức thu nhập từ 3 triệu đồng trở lên (không kể mức thuế bổ sung 30% áp dụng cho phần thu nhập sau thuế vượt quá 15 triệu đồng). Một dạng thuế lũy tiến cực đoan có thể san bằng thu nhập sau thuế. Nếu người nghèo trong ví dụ trên nộp 1 triệu thì người giàu phải nộp 17 triệu để cả hai đều còn lại đúng 3 triệu sau thuế. Tuy nhiên, thuế như vậy sẽ làm những người có tay nghề mất đi nỗ lực làm việc. Xác định mức lũy tiến hợp lý không phải là công việc đơn giản. Bài tới sẽ xem xét vấn đề này dưới góc độ thỏa dụng của thu nhập. 171 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) (Saigon Times Daily ngày 19-52003) 70.Equity Versus Efficiency In the Tax System One objective of taxation is to create greater social equality through wealth redistribution. However, in order to cause minimal distortion to economic behavior, taxation must be efficient. Tax policymakers refer to two types of equity: "horizontal equity," according to which people with identical incomes are taxed equally, and "vertical equity," according to which people with unequal incomes are taxed differently. A tax can cause efficiency loss. Suppose an engineer earns 100,000 dong per hour of overtime; if she values her leisure time at only 60,000 dong/hour, she will choose to work overtime. If a marginal tax of 50% is levied on this income, the engineer earns only 50,000 dong per hour of overtime and thus will prefer leisure. The utility difference between the two Voices is an efficiency loss of 40,000 dong. A lump-sum tax is the only way to eliminate efficiency loss. After someone pays the tax, no matter how much she works and earns, the marginal income tax rate remains zero. Recent debate over the Bush administration's proposed tax cut to make the us income tax less progressive is typical of the equity versus efficiency issue. Supporters argue that the proposal will create a favorable environment for skilled people and entrepreneurs, while opponents argue that it will result in greater social inequality. 172 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) Economists look beyond the direct impact on a taxpayer. While a taxpayer sacrifices utility by paying taxes, she also gams utility from the public services funded by tax revenues. The change in her utility is called net loss or gain. Theoretically, the optimal income tax is a system in which the net utility loss of the rich should be equal to the net utility gain of the poor. 70. TÍNH CÔNG BẰNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA HỆ THỐNG THUẾ Một mục tiêu của đánh thuế là tạo công bằng xã hội cao hơn thông qua tái phân bổ của cải. Tuy nhiên, để hạn chế sự biến dạng hành vi kinh tế ở mức thấp nhất, việc đánh thuế phải hiệu quả. Các nhà hoạch định chính sách thường nói đến hai loại công bằng: một là “theo chiều ngang", theo đó người có cùng thu nhập phải chịu thuế như nhau; hai là “theo chiều dọc", thu nhập không bằng nhau sẽ phải chịu thuế khác nhau. Thuế có thể gây tổn thất về hiệu quả. Giả sử một kỹ sư làm ngoài giờ được 100.000 đồng một giờ; nếu đánh giá thời gian rảnh rỗi của mình là 60.000 đồng/giờ thì cô ta sẽ chọn làm thêm. Nến thuế suất biên 50% được áp dụng vào khoản thu nhập này, cô kỹ sư chỉ còn lại 50.000 đồng cho một giờ làm thêm nên cô ta sẽ chọn sự nghỉ ngơi. Chênh lệch độ thỏa dụng giữa hai lựa chọn chính là 40.000 đồng mất mát về hiệu quả. Thuế đồng nhất là cách duy nhất loại bỏ tổn thất hiệu quả. Khi một người đã đóng khoản thuế này, dù anh ta có làm 173 |
- Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế (Song Ngữ) việc và kiếm thêm tiền thì thuế suất biên thu nhập vẫn là zero. Tranh luận gần đây về đề xuất cắt giảm thuế của chính quyền Bush nhằm giảm bớt tính lũy tiến của thuế thu nhập ở Mỹ là một điển hình về mâu thuẫn giữa công bằng và hiệu quả. Phe ủng hộ cho rằng đề xuất này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho những người có tay nghề cao và các nhà tạo lập doanh nghiệp. Còn theo phe chống đối thì giảm thuế sẽ làm cho xã hội thêm bất công bằng. Các nhà kinh tế nhìn nhận vấn đề vượt khỏi phạm vi tác động trực tiếp lên đối tượng trả thuế. Trong khi một người bị mất thỏa dụng do phải đóng thuế, thì cô ta lại hưởng thêm thỏa dụng từ những dịch vụ công cộng được tạo ra từ tiền thuế thu được. Thay đổi độ thỏa dụng của cô ta được gọi là phần được hay mất ròng, về lý thuyết, hệ thống thuế thu nhập là tối ưu khi độ thỏa dụng mất đi cửa người giàu bằng với độ thỏa dụng tăng thêm của người nghèo. (Saigon Times Daity ngày 26-5-2003) 71. Tax Incentives Countries offer tax incentives in the hope of attracting more investment, both domestic and foreign. These incentives take the form of tax holidays, lower tax rates for investment in selected sectors or regions, accelerated depreciation on machinery, and zero tariffs on imported equipment and inputs. Several studies have been conducted on the efficacy of tax incentives and the findings are not very encouraging. In a nutshell, tax incentives do not matter or have a very limited role in 174 |



