Tự chủ tài chính - Cơ hội nâng cao chất lượng cho các trường đại học công lập ở Việt Nam
Bạn đang xem tài liệu "Tự chủ tài chính - Cơ hội nâng cao chất lượng cho các trường đại học công lập ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tu_chu_tai_chinh_co_hoi_nang_cao_chat_luong_cho_cac_truong_d.pdf
Nội dung text: Tự chủ tài chính - Cơ hội nâng cao chất lượng cho các trường đại học công lập ở Việt Nam
- Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 32, Số 3 (2016) 18-23 Tự chủ tài chính - cơ hội nâng cao chất lượng cho các trường đại học công lập ở Việt Nam Nguyễn Thị Hương, Tạ Ngọc Cường* Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam Nhận ngày 26 tháng 5 năm 2016 Chỉnh sửa ngày 08 tháng 9 năm 2016; Chấp nhận đăng ngày 26 tháng 9 năm 2016 Tóm tắt: Giáo dục đại học được xem là dịch vụ công, được Nhà nước cung cấp nguồn lực tài chính để phục vụ lợi ích chung, nhằm thực hiện chính sách công bằng xã hội. Để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, tài chính là một nguồn lực rất quan trọng, đóng vai trò nền tảng để phát triển các nguồn lực khác như con người, cơ sở vật chất, những yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo đại học nói riêng. Chính vì vậy, tự chủ tài chính được coi là yếu tố quan trọng để đảm bảo cho yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong điều kiện mới [1]. Trên cơ sở nhận diện những lợi ích cũng như các rào cản đối với các trường ĐHCL khi thực hiện tự chủ tài chính, bài viết đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa cơ chế tự chủ tài chính ở các trường ĐHCL. Từ khóa: Tự chủ, tự chủ tài chính, chất lượng giáo dục đại học Việt Nam. 1. Cơ chế tự chủ tài chính theo NQ 77/NQ-CP* vi bài viết, các tác giả tập trung vào tự chủ tài chính đại học. Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Mức học phí: Các trường dự toán kinh phí Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới đào tạo trung bình cho một sinh viên đại học căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, ngày chính quy trên cơ sở những điều kiện cần thiết 24/10/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo số 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt trong giai đoạn 2015-2017, bao hàm cả việc động đối với các cơ sở giáo dục đại học giai thực hiện trách nhiệm đối với xã hội và đối với đoạn 2014-2017. Tự chủ theo Nghị quyết người học cũng như giảm dần nguồn kinh phí 77/NĐ-CP được hiểu là khả năng độc lập và tự cấp từ ngân sách nhà nước (NSNN) trong kinh quản trị của cơ sở giáo dục công lập. Yêu cầu phí đào tạo, bổ sung từ nguồn thu học phí và về tự chủ xuất phát từ nhu cầu nâng cao khả nguồn thu tự tạo của trường. năng đáp ứng của trường đại học với môi Các khoản thu học phí: Bên cạnh các hoạt trường xã hội, kinh tế và thích ứng với sáng tạo động đào tạo đã tính đầy đủ trong học phí, để và công nghệ thay đổi. Cộng đồng đại học châu nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ người Âu đã xác định bốn thành phần của tự chủ là: học, trường sẽ thực hiện các hoạt động dịch vụ (1) Tự chủ học thuật; (2) tự chủ tài chính; (3) tự và hỗ trợ đào tạo gia tăng. Các khoản này sẽ chủ tổ chức; (4) tự chủ nhân sự [2]. Trong phạm được tính toán và công khai các mức thu trên cơ sở lấy thu bù đắp chi phí và có tích lũy. Các ___ hoạt động này bao gồm: Đăng kí dự thi các hệ * Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-913505968 Email: [email protected] đào tạo; Phí tuyển sinh các hệ đào tạo; Ôn thi 18
- N.T. Hương, T.N. Cường / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 32, Số 3 (2016) 18-23 19 tuyển sinh các hệ đào tạo; Ôn tập và thi các hỗ trợ sinh viên. Trên cơ sở nguồn học bổng và môn (ngoài chương trình học) theo chuẩn đầu mức học phí hàng năm, Trường xây dựng chính ra; Gia hạn thời gian học tập các hệ đào tạo; sách học bổng và xác định mức học bổng. Bồi dưỡng, bổ túc kiến thức; Thu tiền kí túc xá; Về đầu tư phát triển và khai thác, sử dụng Thủ tục chuyển khóa, chuyển trường cơ sở vật chất: Trường tự chủ trong việc lập kế Chế độ trả lương cho người lao động: Căn hoạch và quyết định sử dụng kinh phí từ các cứ Điều 18, khoản 2, Nghị định 43/2006/NĐ- nguồn thu hợp pháp để đầu tư cơ sở vật chất CP; các trường xây dựng chế độ trả lương, thu theo quy định chung của Nhà nước; Lập kế nhập tăng thêm dựa trên các tiêu chí: Vai trò hoạch vay vốn tín dụng ưu đãi của ngân hàng công việc, kết quả thực hiện, thâm niên, chức phát triển để đầu tư cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, danh, học vị. Trường cam kết đảm bảo ổn định khai thác tối đa các tài sản đã đầu tư trên đất để và gia tăng thu nhập thực tế của người lao động kinh doanh dịch vụ, liên kết đào tạo, cho thuê trong thời kì tự chủ; Đảm bảo tiền lương được đối với các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ trả theo quy định của Nhà nước, được phân phối được giao của trường và theo quy định của công bằng trên cơ sở vai trò và hiệu quả công pháp luật; Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định việc; Xây dựng và hoàn chỉnh quy chế chi tiêu nội về mua sắm tài sản công, quy định về đầu tư xây bộ hàng năm trên tinh thần dân chủ, công khai. dựng cơ bản của các cơ quan quản lí Nhà nước. Trích lập các quĩ: Sau khi thực hiện bù đắp các chi phí thường xuyên, đảm bảo chất lượng cam kết và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà 2. Những lợi ích thu được từ việc thực hiện tự nước, phần chênh lệch thu chi sẽ được phân chủ tài chính phối: Trích tối thiểu 25% cho quĩ phát triển hoạt động sự nghiệp; Trích lập Quĩ khen Với những mức độ khác nhau, việc thực thưởng, Quĩ phúc lợi, Quĩ dự phòng ổn định thu hiện tự chủ tài chính ở các trường ĐHCL đã tạo nhập; Quĩ hỗ trợ sinh viên. ra những cơ hội để nâng cao chất lượng. Chế độ miễn, giảm, chính sách học bổng, Thứ nhất, tự chủ tài chính tạo cơ hội cho tín dụng sinh viên: Căn cứ Khoản 4, Điều 1 của các cơ sở giáo dục đại học công lập nâng cao Nghị quyết 77/NQ-CP, trường xây dựng chính tính tích cực chủ động, sáng tạo trong quản sách học bổng khuyến khích học tập và hỗ trợ lí tài chính và tài sản của đơn vị, sử dụng tín dụng cho sinh viên. Đối với các sinh viên ngân sách nhà nước được giao tiết kiệm, thuộc đối tượng chính sách, sinh viên nghèo, hiệu quả hơn. cận nghèo sẽ được miễn giảm 100% học phí Hiện nay trong điều kiện nguồn ngân sách theo quy định của Nhà nước. Phần chênh lệch dành cho giáo dục đại học còn hạn hẹp thì thực giữa mức hỗ trợ của Nhà nước và mức học phí hiện tự chủ tài chính của các trường đại học của trường sẽ được trường cấp bù toàn bộ để công lập là một tất yếu để sử dụng có hiệu quả đảm bảo các sinh viên thuộc đối tượng này các nguồn lực đồng thời vận động các nguồn được hưởng các chính sách bằng và hơn các lực của xã hội cho phát triển giáo dục đại học. trường không tham gia thí điểm tự chủ. Sở dĩ như vậy vì khi thực hiện chế độ giao, Quĩ học bổng và hỗ trợ sinh viên được xây khoán mức chi các đơn vị sử dụng tiết kiệm dựng từ các nguồn: Trích 8% từ nguồn thu học các nguồn kinh phí để từ đó góp phần vào phí đại học hệ chính quy để lập quĩ học bổng việc tăng thu nhập cho giảng viên và cán bộ khuyến khích học tập theo quy định tại Thông công nhân viên [3]. Hơn nữa, việc thực hiện tư 31/2013/TT-BGDĐT ngày 01/8/2013 của Bộ cơ chế này còn góp phần sử dụng hiệu quả Giáo dục và Đào tạo; Trích từ chênh lệch thu hơn các nguồn lực. chi hàng năm để lập quĩ hỗ trợ sinh viên; Sử Việc thực hiện tự chủ theo Nghị quyết dụng nguồn thu từ lãi tiền gửi các ngân hàng thương mại; Huy động cựu sinh viên, tổ chức 77/NQ-CP đã tạo hành lang pháp lí cho các doanh nghiệp khác tham gia đóng góp cho quĩ trường được quyết định mức học phí bình quân
- 20 N.T. Hương, T.N. Cường / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 32, Số 3 (2016) 18-23 (của chương trình đại trà) và mức học phí cho lượng đào tạo và phục vụ người học. Khoản thu từng chương trình đào tạo theo nhu cầu người từ các hoạt động này được công khai trên cơ sở học và chất lượng đào tạo. Theo đó, các trường lấy thu bù đắp chi phí và tích lũy hợp lí. Đây được thu học phí ổn định theo kế hoạch nêu chính là việc đa dạng hóa các nguồn thu nhằm trong Đề án. Trường được quyết định mức thu tăng thu, đảm bảo hoạt động, tăng tích lũy, học phí đối với các chương trình đặc thù theo giảm bớt gánh nặng cho NSNN. đề án mở chương trình được cơ quan nhà nước Thứ ba, tự chủ tài chính giúp các cơ sở giáo có thẩm quyền phê duyệt. Việc được giao tự dục đại học công lập thu hút được cán bộ có chủ xác định mức thu học phí giúp trường tính trình độ cao và nâng cao đời sống, thu nhập của tương đối đầy đủ các chi phí cần thiết cấu thành cán bộ, giảng viên trong giá dịch vụ đào tạo, từ đó chủ động được Các trường ĐHCL được giao tự chủ tài các khoản chi và tích lũy để đầu tư [4]. Ngoài chính được quyết định thu nhập tăng thêm của ra, đối với việc sử dụng nguồn thu, các đơn vị người lao động theo quy chế chi tiêu nội bộ, được phép gửi các khoản thu từ học phí và các ngoài tiền lương ngạch, bậc theo quy định của khoản thu sự nghiệp khác vào ngân hàng Nhà nước. Đây chính là một trong những động thương mại (đây là điểm mới vì trước đây nhà lực để Nhà trường phát huy tốt nội lực, tận trường chỉ được phép gửi các khoản thu sự dụng tối đa nguồn lực sẵn có, khai thác tốt và nghiệp khác). triệt để các nguồn thu hợp pháp để từng bước Thứ hai, tự chủ tài chính giúp các cơ sở cải thiện thu nhập chính đáng cho người lao giáo dục đại học công lập tăng nguồn thu để động, tăng tích lũy để đầu tư cơ sở vật chất. đầu tư. Các trường ĐHCL đã chủ động trong tìm Thực tế hiện nay, các cơ sở giáo dục đại kiếm, thu hút các giảng viên có trình độ cao học ở các nước trên thế giới nhận hỗ trợ tài bằng các chính sách ưu đãi về điều kiện và môi chính từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: trường làm việc, lương, thưởng và các chính Kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc sách hỗ trợ khác cho nghiên cứu khoa học, đào biệt là giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Kinh tạo và bồi dưỡng. Với việc trao quyền tự chủ tài phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các chính, các trường đại học sẽ có điều kiện để dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau (từ tăng thu, tiết kiệm chi, có nguồn lực nâng cao các bộ). Học phí và các loại phí khác thu được đời sống, thu nhập của giảng viên, tạo động lực từ sinh viên trong nước và sinh viên nước để họ tích cực lao động nâng cao chất lượng ngoài; Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu đào tạo [6]. khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp đồng Như vậy, các cơ chế, chính sách mới trao đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản quyền Nguồn thu quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà đối với giáo dục đã tạo cơ hội cho giáo dục trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng; Nguồn thu từ hiến tặng, tài trợ, quà biếu, ĐHCL nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong đầu tư. Với việc trao quyền tự chủ về thu tài quản lí tài chính và tài sản, sử dụng ngân sách chính sẽ góp phần nâng cao tính năng động, nhà nước tiết kiệm, hiệu quả hơn; Phát triển sáng tạo của các trường đại học trong việc tìm nguồn thu sự nghiệp thông qua việc đa dạng kiếm các nguồn thu, giảm bớt sự bao cấp của hoá các hoạt động sự nghiệp và nâng cao chất nhà nước [5]. Khi nguồn thu tăng lên, các lượng dịch vụ; Huy động được nhiều nguồn vốn trường đại học sẽ có những nguồn lực tài chính để đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới để tăng đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị, trang thiết bị thông qua các hoạt động hợp nguồn nhân lực để từ đó nâng cao chất lượng tác liên doanh, liên kết; Khai thác hiệu quả các giáo dục giáo dục đại học. nguồn thu từng bước giảm dần sự bao cấp Các trường triển khai các hoạt động dịch của nhà nước, đồng thời tăng thu nhập cho cán vụ và hỗ trợ đào tạo gia tăng để nâng cao chất bộ, công chức trong đơn vị.
- N.T. Hương, T.N. Cường / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 32, Số 3 (2016) 18-23 21 3. Những bất cập và rào cản thống theo dõi, giám sát, kiểm tra để phục vụ cho công tác quản lí tài chính ở hầu hết các Thứ nhất, hệ thống văn bản quản lí thiếu trường ĐHCL hiện nay mới tập trung chủ yếu đồng bộ. Tự chủ tài chính cho phép các trường vào công tác kế toán tài chính nên dường như ĐHCL được liên doanh liên kết, huy động các mới chỉ thực hiện chức năng theo dõi. Trong nguồn lực xã hội để phục vụ cho hoạt động đào khi đó, khi thực hiện tự chủ tài chính nhu cầu tạo nhưng các văn bản quy định của Bộ Tài về thông tin tài chính mang tính thường xuyên, chính về quản lí công sản lại chưa “sẵn sàng” hàng ngày và đảm bảo tính chính xác, khách cho vấn đề này. Trong khi đó, tự chủ đại học quan, minh bạch lại chưa được quan tâm nhiều. cho phép các trường ĐHCL được tổ chức hoạt động đào tạo, tuyển sinh nhưng các chính sách vận dụng trong ngành giáo dục và đào tạo 4. Một số đề xuất và khuyến nghị đã quy định nhiều năm nay chưa được sửa đổi, chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ kinh phí đào 4.1. Đối với Nhà nước tạo giữa Nhà nước, xã hội và người học [7] Do thiếu hướng dẫn cụ thể về mặt văn bản quy Sớm hoàn thiện hệ thống văn bản hướng định của Nhà nước nên các trường ĐHCL hiện dẫn quy định hướng dẫn cụ thể về cơ chế tự chủ đang khá “lúng túng” trong việc triển khai thực đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập. hiện cơ chế tự chủ. Các quy định pháp lí về quyền tự chủ cho các Thứ hai, năng lực thực hiện tự chủ tài chính cơ sở giáo dục đại học cần được thống nhất, của nhiều trường đại học của Việt Nam còn nhất quán và cùng được cập nhật ở các văn bản thấp. Nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lí quản lí khác nhau, để các cơ sở giáo dục đại các cơ sở giáo dục đại học về tự chủ nói chung học có được quyền tự chủ và có cơ chế hỗ trợ và tự chủ tài chính nói riêng chưa đầy đủ, thậm thực hiện quyền tự chủ đó, tránh tình trạng tự chí hiểu sai bản chất của khái niệm này. Thí dụ, chủ “nửa vời” hoặc trao quyền tự chủ đồng thời họ mới chỉ quan tâm đến “quyền”, nhưng chưa vẫn “trói buộc” bởi cơ chế [9]. hiểu về trách nhiệm giải trình đi kèm theo Tạo cơ chế thông thoáng, tự chủ hơn nữa về quyền. Các kĩ năng quản trị tiên tiến gắn với tự chính sách học phí cho các trường đại học. chủ tài chính đại học cũng chưa được bồi dưỡng Trong hoàn cảnh của nước ta hiện nay, việc áp và huấn luyện đầy đủ. Tâm lí hình thành do đặt mức trần học phí là cần thiết. Tuy nhiên, sống trong môi trường bao cấp, quản lí tập cần nâng mức trần học phí lên nếu không sẽ trung quá lâu cũng là một rào cản khiến nhiều đánh đồng mức học phí của các cơ sở giáo dục lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học chưa sẵn đào tạo có chất lượng khác nhau vì tất cả các sàng cho sự tự chủ [8]. đơn vị đều phải áp mức trần [10]. Các cơ sở Thứ ba, cơ cấu nguồn thu đơn điệu, cơ cấu giáo dục đại học công lập được phép tính đủ chi chi phí đào tạo bất hợp lí. Nguồn thu chủ yếu phí tiền lương và chi phí hoạt động thường của các trường ĐHCL là từ học phí, trong khi xuyên trong giá dịch vụ của đơn vị sự nghiệp tỉ trọng từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, công lập trên cơ sở khung giá do Nhà nước quy chuyển giao công nghệ hay những đóng góp định, chi phí khấu hao tài sản cố định trong học khác rất ít khiến cho nguồn thu không bền phí của cơ sở giáo dục đại học công lập, đảm vững, chủ yếu dưa vào quy mô tuyển sinh. Điều bảo nguyên tắc lấy thu đủ bù đắp chi phí đào này có thể gây bất lợi cho chất lượng về dài tạo trong học phí. hạn. Tỉ lệ chi cho con người chiếm phần lớn các Đổi mới phương pháp phân bổ kinh phí nguồn chi, trong khi tỉ lệ chi cho cơ sở vật chất ngân sách nhà nước cho các cơ sở giáo dục đại chưa tương xứng. Điều này cũng sẽ hạn chế học. Nhà nước giao ngân sách gắn với các hệ việc nâng cao chất lượng đào tạo. thống định mức kinh tế kĩ thuật trong đào tạo, Thứ tư, hệ thống kiểm soát nội bộ ở các định mức phân bổ chi phí đào tạo, có sự phân trường ĐHCL chưa hoàn thiện. Việc tổ chức hệ biệt giữa cơ sở hoạt động có chất lượng hiệu
- 22 N.T. Hương, T.N. Cường / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 32, Số 3 (2016) 18-23 quả với cơ sở kém chất lượng, không hiệu quả mở rộng cơ chế khoán chi thường xuyên, nhất [11]. Tiến tới, Nhà nước sẽ thực hiện cơ chế đặt là đối với chi cho hoạt động chuyên môn, để hàng đối với đào tạo đại học. Tất cả các cơ sở các đơn vị chủ động thực hiện nhiệm vụ được giáo dục đại học đều được tham gia vào quy giao và nâng cao í thức tiết kiệm, quản lí và sử trình tuyển chọn kinh phí đặt hàng đào tạo từ dụng tài sản, thiết bị có hiệu quả. Cùng với việc ngân sách nhà nước. phân cấp và mở rộng khoán chi cho các đơn vị Quản lí nhà nước về giáo dục đại học nên trực thuộc, nhà trường cần củng cố và hoàn thực hiện ở các nội dung có tầm vĩ mô, có tính thiện các quy định trách nhiệm giải trình về tài chiến lược, ở các khâu chỉ đạo, huy động, điều chính giữa các cấp trong trường, tổ chức hoạt phối và giám sát còn các khâu quản lí và tổ động kiểm soát nội bộ và công khai tài chính. chức thực hiện nên giao cho các cơ sở giáo dục Đây là cơ sở, để đảm bảo cho công tác quản lí đại học chủ động. Bên cạnh việc giao quyền tự tài chính đảm bảo tính hiệu quả, minh bạch. chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính cho các Đào tạo nâng cao năng lực quản lí tài chính trường đại học cần quan tâm đến công tác quản cho các đơn vị trong trường. Khi thực hiện cơ lí nhà nước, nhất là công tác kiểm tra, giám sát, chế khoán chi cho các đơn vị, đào tạo nâng cao yêu cầu tính công khai, minh bạch, trách năng lực quản lí tài chính và tập huấn hướng nhiệm giải trình của các trường đảm bảo hoạt dẫn công tác kế toán - tài chính là điều kiện động theo đúng luật pháp. Ngoài tự chủ về tài cần thiết, để đảm bảo thu - chi tài chính của chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập các đơn vị trong toàn trường đúng chế độ của cần thực hiện đồng bộ với tự chủ trên các lĩnh Nhà nước và quy định của nhà trường, gắn vực khác như tự chủ trong tuyển sinh và với trách nhiệm giải trình của các đơn vị tuyển dụng. trong toàn trường. 4.2. Đối với các trường ĐHCL Đổi mới công tác quản lí tài chính ở các Tài liệu tham khảo trường ĐHCL trong bối cảnh thực hiện cơ chế tự chủ gắn với việc nuôi dưỡng và phát triển [1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án thí điểm đổi mới các nguồn thu, phân bổ và sử dụng các nguồn thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối thu hiệu quả, và đảm bảo sự minh bạch của các với một số trường ĐHCL, 2011. khoản thu - chi. [2] Chính phủ, Nghị quyết 77/NQ-CP ngày Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ cho phù 24/10/2014 về Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt hợp với cơ chế hoạt động mới, để làm cơ sở cho động đối với các cơ sở giáo dục công lập giai đoạn 2014-2017. Chính phủ (2015), Nghị định việc quản lí tài chính thống nhất trong toàn 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 về quy định trường. Quy chế chi tiêu nội bộ cần phải thực cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp hiện trên nguyên tắc chi trả theo năng lực và công lập, 2014. hiệu quả công tác để khuyến khích, tạo động [3] John Fielden, Global trends in university lực cho cán bộ viên chức và người lao động. governance, Working Paper Series, No.9, World Quy định quản lí nguồn thu cần được thực Bank, Washington, D.C. - USA, 2008. hiện theo nguyên tắc minh bạch, trên cơ sở khai [4] Lê Đức Ngọc, Đổi mới công tác quản lí tài chính thác tối đa các nguồn lực, điều kiện hiện có của trong các trường đại học để làm đòn bẩy nâng cao nhà trường và các hoạt động liên doanh liên kết. chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo, Kỉ yếu Hội thảo “Quản lí nhà nước và tự chủ tài chính Đồng thời, nhà trường cần có cơ chế khuyến trong các trường đại học” tại Trường Đại học Sư khích trong việc đa dạng hóa các nguồn thu từ phạm TP. Hồ Chí Minh, Tháng 12/2001, 2001. hoạt động chuyển giao khoa học kĩ thuật, tư vấn [5] Nguyễn Thị Hồng Yến, Phương pháp cấp phát đào tạo và sản xuất kinh doanh. ngân sách đầu tư cho giáo dục đại học - Kinh Phân cấp quản lí tài chính cho các đơn vị nghiệm của Dự án Ngân hàng Thế giới, Kỉ yếu trực thuộc trong trường. Trước hết, nhà trường Hội thảo “Quản lí nhà nước và tự chủ tài chính
- N.T. Hương, T.N. Cường / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 32, Số 3 (2016) 18-23 23 trong các trường đại học” tại Trường Đại học Sư [9] Trần Thu Hà, Định hướng đổi mới cơ chế tài phạm TP. Hồ Chí Minh, Tháng 12/2001, 2001. chính đối với các trường đại học và cao đẳng, Kỉ [6] Nguyễn Thị Yến Nam, Bước đầu tìm hiểu về yếu Hội thảo “Quản lí nhà nước và tự chủ tài quản lí tài chính trong giáo dục đại học theo chính trong các trường đại học” tại Trường hướng tự chủ, Tạp chí khoa học Đại học Sư Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh, Tháng phạm TP. Hồ Chí Minh, Số 54 (2013) 155. 12/2001, 2001. [7] Phạm Văn Trường, Cơ chế quản lí tài chính giáo [10] Trịnh Xuân Thắng (2015), Tự chủ đại học nhìn dục ĐHCL, Tạp chí Tài chính, Số 07, 2013. từ góc độ tự chủ tài chính ở các trường công lập, [8] Phan Đăng Sơn (2014), Một số giải pháp tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các [11] Nguyễn Trường Giang, Đổi mới cơ chế tài chính trường đại học ở Việt Nam, góp phần cải cách giáo dục đại học (Hội thảo Cải cách giáo dục đại học VED 2014). Financial Autonomy - An Opportunity to Improve Quality for Public Universities in Vietnam Nguyen Thi Huong, Ta Ngoc Cuong VNU University of Education, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam Abstract: Higher education is seen as a public service to which the State provides financial resources to serve the common interests in order to implement social justice policies. To promote the development of education, including higher education, finance is a very important resource acting as the foundation to develop other resources such as people, facilities, - the determinants of the quality of education in general and university training quality in particular. Therefore, financial autonomy is regarded as an important element to ensure the requirements of higher education development in the new conditions. On the basis of recognition of the benefits as well as the barriers of financial autonomy to public universities, the article proposes some solutions and recommendations to further promote financial autonomy mechanism in public universities. Keywords: Autonomy and financial autonomy, quality of higher education in Vietnam.



