Sổ tay Đánh giá tác động môi trường (Phần 2)

pdf 227 trang ngocly 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sổ tay Đánh giá tác động môi trường (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfso_tay_danh_gia_tac_dong_moi_truong_phan_2.pdf

Nội dung text: Sổ tay Đánh giá tác động môi trường (Phần 2)

  1. 10. Cấp nước đô thị 10.1. Phạm vi Cấp nước đô thị được thực hiện bởi các cơ sở ha tầng nhằm đảm bảo nhu cầu sử dụng nước của dân cư đô thị, khu vực công và thương mại, công nghiệp. Nước có thể được cung cấp thông qua mạng cấp (cung cấp bằng ống) hoặc không có mạng cấp (ví dụ các giếng). Tại nhiều quốc gia thuật ngữ “đô thị” không nhất thiết phải liên quan tới kích thước của cộng đồng và do vậy các dạng (kiểu) cấp nước được định nghĩa như sau: Dạng cung cấp Tiêu thụ nước (l/người/ngày) 1) Cấp nước không ống 15 - 40 2) Cấp bằng ống qua các điểm lấy nước Tới 40 3) Cấp bằng ống đến sân/vườn Tới 60 4) Cấp bằng ống tới từng nhà (vòi nước trong nhà) Lớn hơn 60 Cấp bằng ống tới các nhà tiêu thụ đặc biệt như thương mại, Biến động rộng 5) công nghiệp và khu vực công Trong phạm vi của các nỗ lực phát triển, các nhà tiêu thụ thuộc nhóm 2 và 3 ở trên phải chấp nhận các xử lý ưu tiên, điều này cũng áp dụng đối với các nhà tiêu thụ nhóm 1 tại những nơi các nhà máy cấp nước kết nối với mạng đường ống cung cấp. Thêm vào các con số trong bảng tổng quan ở trên cần thêm vào chi phí, trong một vài trường hợp, cho hao hụt & thất thoát – điều thường xuyên xảy ra đối với mạng ống cung cấp. Các số liệu về giá trị tiêu lớn nhất cũng cần có để xác định kích thước của mạng cung cấp. Tại nhiều quốc gia, nhu cầu cho cứu hỏa ít được tính đến trong thiết kế mạng cấp nước. Khai thác nước được chia thành các nhóm sau: - Khai thác từ các nguồn nước ngầm, - Khai thác từ các nguồn nước mặt. Dạng khai thác hỗn hợp cũng cần được cho phép cho: - Khai thác qua bờ song dưới dạng các giếng thấm - Thấm nhân tạo có phục hồi. Các cấu phần của cấp nước đô thị gồm : - Khai thác (các giếng, các tuyến thấm ngầm, các cấu trúc phục vụ khai thác, bể/hồ chứa) - Xử lý (ví dụ khử sắt, clo hóa, khử mặn) - Lưu trữ nước sau xử lý - Mạng phân phối (mạng đường ống, các hạ tầng phục vụ truyền nước đi xa). Trong trường hợp thấm nhân tạo có phục hồi, hạng mục được lắp đặt tại khu vực đầu nguồn gồm: - hệ thống thấm (lưu vực, các giếng nạp, các tuyến ống xả). 149
  2. 10.2. Các tác động môi trường và các biện pháp bảo vệ 10.2.1. Tổng quan Điều cần quan tâm đến cấp nước đô thị là các tác động môi trường đến cả khối lượng nước sẵn có và cả chất lượng nước. Tại nhiều quốc gia, và nhất là tại các vùng có biến động nhiều về thời tiết, vấn đề được quan tâm hàng đầu chính là tính sẵn có của nguồn nước cấp. Như là các phần của hệ thống cấp nước đô thị, các tác động có thể được chia thành các nhóm sau: - Các tác động gây ra từ hoạt động khai thác nước - Các tác động do quá trình vận chuyển và xử lý nước thô - Các tác động của mạng đường ống phân phối nước. Thêm vào các nhóm tác động trên là tác động thứ cấp dưới dạng - Các hiệu ứng dây chuyền của một hệ thống cấp nước đô thị. 10.2.2. Tác động môi trường của việc khai thác nước 10.2.2.1. Nước ngầm Khai thác nước ngầm sẽ làm thay đổi cân bằng nước của tầng chứa nước và một loạt các hiệu ứng dây chuyền có thể xảy ra. Cân bằng nước giữa - các thành phân đầu vào (quá trình tái nạp nước ngầm từ nước mưa, các dòng chảy cận bề mặt từ các tầng nước liên quan về mặt tủy lực, quá trình thấm nhân tạo) và - Các thành phần đầu ra (dòng chảy vào nguồn nước mặt, dòng chảy ngầm, và lượng khai thác v.v ). Cần thiết phải nhớ rằng, do mối tương tác thủy lực, các thay đổi gây ra bởi khai thác nước sẽ gây ảnh hưởng đến các thành phần khác của cân bằng nước của cả hai vế (ví dụ sự gia tăng dòng chảy vào từ các tầng chứa nước liên quan). Cần quan tâm đến mối tương tác giữa tính sẵn có của nguồn nước và sử dụng và giữa nước mặt và nước ngầm. Việc sử dụng quá mức nguồn nước mặt sẽ làm giảm dòng bổ cập cho nước ngầm qua quá trình thấm xuống đất, và lượng nước mặt còn lại có thể bị ô nhiễm nặng qua các con đường khác nhau. Hậu quả là sẽ làm gia tăng nhu cầu khai thác nước ngầm (2.2.2). Các tác động khi thay đổi các thành phân của cân bằng nước có thể: a) Làm cạn kiệt trữ lượng nguồn nước ngầm Sự gia tăng cạn kiệt nguồn tài nguyên nước ngầm là kết quả của: - tăng tiêu thụ nước uống do tăng dân số và cải thiện tiêu chuẩn cấp nước - tăng đàn gia súc - tăng nhu cầu sử dụng nước trong công nghiệp và thương mại - lãng phí nước - thất thoát nước bởi mạng cung cấp. Các yếu tố khác gây ra suy giảm tạm thời hoặc vĩnh viễn nguồn nước ngầm cần quan tâm là suy giảm lượng mưa (phá rừng v.v ). Cũng cần nhớ rằng nhu cầu cấp nước cao điểm 150
  3. lại thường xảy ra vào mùa khô. Nhu cầu tiêu thụ nước cao kèm theo lượng thất thoát lớn qua mạng đường ống phân phối vào mùa khô là một trong những nguyên nhân gây cạn kiệt nghiêm trọng nguồn tài nguyên nước ngầm. b) Thay đổi dài hạn về chất lượng nước ngầm bị gây ra bởi các nguyên nhân: - Sự linh động hóa (chiết ra) và quá trình lan truyền sau đó của các chất ô nhiễm vốn bị thụ động trước đây - Tăng vận tốc dòng chảy vào (ví dụ trong các tầng thạch cao thiên nhiên hoặc sa lắng của các chất ô nhiễm nhân tạo) - Thay đổi dòng chảy nước ngầm (kết quả tạo ra sự chặn dòng chảy trước đây vốn dĩ vô hại, tạo điều kiện cho dòng thấm từ vùng nước mặt bị ô nhiễm) - Tạo điều kiện cho quá trình thấm trên diện rộng từ các bể chứa nước ngầm tầng trên hoặc dưới nơi mà chất lượng nước ngầm xấu hơn. - Sự xâm nhập của chất ô nhiễm do việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật - Xâm thực mặn do gần với bờ biển - Suy giảm chất lượng nước ngầm gây ra bởi nước thải không được xử lý, các vũng nước ven đường, rò rỉ từ các tuyến cống thu gom nước thải hoặc các bể tự hoại xây dựng kém, hoặc rửa trôi các chất ô nhiễm và chất độc từ các chất thải công nghiệp và thương mại. - Nạp muối khoáng từ các khu vực được tưới và gây ra bởi quá trình bay hơi mạnh và hậu quả là sự thâm nhập vào tầng nước ngầm do quá trình linh động hóa thường xuyên (theo chu kỳ). - Rò rỉ chất ô nhiễm từ các kho chứa chất lỏng và các sản phẩm khoáng tại các depo và hệ thống giao thông. c) Tập trung và quá trình hạ thấp rộng rãi mực nước ngầm Trong trường hợp khai thác nước ngầm, việc hạ thấp mực nước ngầm do các lý do thủy lực là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, kích thước và phân bố vật lý của sự hạ thấp phụ thuộc vào các điều kiện cục bộ, ví dụ vị trí của các giếng, cấu trúc và bản chất của tầng chứa nước, các điều kiện bổ cập. Các kết quả đặc trưng của sự hạ thấp mực nước ngầm gồm: - Làm khô các khu vực đất ngập nước có giá trị sinh thái quan trọng, - Giảm độ ẩm của đất (field capacity), với thực vật – các tác động đặc trưng đối với lớp phủ thực vật (thay đổi cả thảm thực vật tự nhiên và nhân tạo, ví dụ steppification) và hậu quả tiếp theo là các hiệu ứng đối với hệ động vật, - Cạn kiệt hoàn toàn nguồn tài nguyên nước ngầm trong quá trình làm khô giếng liên tục, - Làm khô cạn các con suối và nguồn nước, - Sụt lún đất. Các tác động môi trường của sự giảm mực nước tĩnh ít khốc liệt hơn đối với các tầng chứa nước có mục nước thấp (> 10m) nagy cả trước khi khai thác. Các biện pháp bảo vẹ môi trường nhằm giảm thiểu các hiệu ứng xấu của khai thác nước ngầm chỉ liên quan nhiều tới việc lựa chọn các vị trí phù hợp của giếng và cấu trúc cũng như chế độ hoạt động của giếng. Các tác động tiêu cực do khai thác quá mức có thể 151
  4. giảm thiểu hoặc ngăn ngừa bằng cách sử dụng nước một cách hiệu quả, kiểm soát mức tiêu thụ nước theo mùa và áp dụng chế độ thu phí sử dụng nước theo mùa. Để làm tăng hiệu quả của các biện pháp bảo vệ môi trường khi giải quyết các tác động của khai thác nước ngầm, cần thiết không chỉ thực hiện thăm dò địa thủy văn và đánh giá cân bằng nước (nước ngầm và nước mặt) mà còn phải cung cấp các trang bị đo và giám sát liên tục trong quá trình hoạt động, mục đích của việc này gồm: - nhằm đảm bảo quá trình cải thiện liên tục trong đánh giá của các tuyên bố về vệ sinh và thủy văn,- nhằm quan sát các thay đổi trong cung cấp nước ngầm (lưu lượng và chất lượng) bằng cách theo dõi liên tục mực nước ngầm, chất lượng nước ngầm và lượng nước ngầm khai thác, - theo dõi thường xuyên sự lãng phí nước và thất thoát nước trên mạng ống pah6n phối bằng cách vận hành liên tục các phương tiện đo đạc (mức tiêu thụ nước tại các khu phố, tiêu thụ nước tại các họng nước công cộng và kết nối với nhà ở), và có hành động tính tất cả các yếu tố đó (bằng cách sửa ngay các khiếm khuyết, áp mức phí sử dụng nước và mức phạt cho các hành vi lãng phí nước), - thực hiện áp dụng các hạn chế trong cấp nước, cạnh tranh giữa các nhóm sử dụng nhằm mục đích đảm bảo cung cấp đủ cho người sử dụng (cung cấp khẩn cấp), - thực hiện cải tạo đối với các cấu phần hiện có của hệ thống cấp nước đô thị (thay thế các phần bị hư hỏng như đường ống, khóa nước, bể chứa tại các gia đình v.v ), - giám sát hiệu quả thực hiện của công tác cải tạo bằng cách kiểm tra kết quả. 10.2.2.2. Nước mặt Việc sử dụng nước mặt sẽ làm thay đổi cân bằng nước và trong trường hợp khai thác nước ngầm có thể sẽ gây các tác động trên diện rộng. Cần phải xem xét các hiệu ứng 2 chiều giữa tính sẵn có và sử dụng của nước mặt và nước ngầm. Ngoài ra các yếu tố sau cũng rất quan trọng: - Tại một số vùng, nước mặt sẽ có thể có nhiều hơn trong tương lai, do thay đổi khí hậu/vi khí hậu (mưa nhiều hơn từ các hồ nhân tạo), hoặc tăng dòng chảy bề mặt do thay đổi thảm thực vật trong lưu vực (phá rừng), do xây dựng quá mức (đường, nhà xưởng) làm tăng diện tích bề mặt chảy, hoặc thậm chí xả nước thải (sau xử lý) từ các đô thị, làng xóm vào nước mặt. - Tại các vùng khác, lượng mưa liên quan đến thời tiết lại suy giảm, và như vậy dòng chảy bề mặt giảm và theo đó là suy giảm chất lượng nước mặt, tại một số vùng có thể dẫn đến không có nước quanh năm. - Tăng lượng khai thác từ các nguồn nước chảy (các điểm lấy nước trên sông) sẽ làm giảm tính sẵn có của nước tại nhiều vùng, đặc biệt trong mùa cạn, và giảm các hành động tự làm sạch của nguồn nước và trong quá trình thấm vào đất. - Nếu nhu cầu sử dụng nước tăng và trữ lượng của các con sông hoặc nguồn nước mặt chủ đạo giảm và cùng với đó là suy giảm chất lượng nước, nhu cầu thường gia tăng để lấy nước từ các nguồn ở xa hoặc tăng nhu cầu khai thác các nguồn nước ngầm. Chẳng hạn tại các vùng gianh giới các tình huống khẩn cấp có thể nảy sinh, tức là nơi nhu cầu nước chỉ được đáp ứng tối thiểu với mức giá cao. a) Cạn kiệt trữ lượng của các nguồn tài nguyên nước mặt Vế các thành phần nhu cầu nêu trong 2.2.1 thường gây sự tăng sử dụng nước mặt. Các yếu tố cần tính đến gồm thay đổi khí hậu và thảm thực vật trong lưu vực, do chúng thường gây giảm trữ lượng nước mặt trong vùng hoặc hiệu ứng xấu trong phân bổ dòng chảy bề 152
  5. mặt (dòng chảy bề mặt cao hơn trong mùa nước cao với lượng chất rắn cuốn theo nhiều nhưng lại thấp trong mùa cạn). Những gì thường thiếu để kiểm tra khối lượng chảy bề mặt, quy mô của nguồn tài nguyên và khối lượng khai thác với mạng lưới đầy đủ các trạm quan trắc trong lưu vực (để đo mưa) và một vài điểm trên nguồn nước (đo mực) và tổ chuyên gia để phân tích các kết quả đo và giám sát sử dụng nguồn nước mặt của các khu vực và thiết lập bảng cân bằng nước (cho nước mặt và nước ngầm) và lập kế hoạch quản lý nước. b) Thay đổi các hệ sinh thái do khai thác nước Suy giảm đáng kể dòng chảy, đặc biệt là vào mùa kiệt, có thể gây tác động đến tất cả các quá trình sinh thái trong nguồn nước và bờ của chúng. Các sinh quyển có giá trị của các cảnh quan hoặc sinh thái có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng thậm chí bị hủy diệt hoàn toàn; trong một vài tình huống cân bằng sinh thái, kèm theo đó là các loài động thực vật được cân bằng, cũng có thể bị thay đổi. Tuy nhiên, các tác động đó chỉ xảy ra khi khai thác nước rất đáng kể, tức là hệ sinh thái đó không nhận đủ lượng nước tối thiểu cần. Ngoài ra, các tác động của khai thác nước, theo qui luật, không gây ảnh hưởng trên diện rộng nhưng (phụ thộc vào điều kiện địa hình) tập trung vào các vùng nhỏ (các dải ven bờ, các đồng cỏ của đồng bằng ngập lũ). c) Sự xâm nhập của các chất nguy hại không xác định hoặc không phát hiện vào nguồn nước Chất lượng nước là vấn đề cơ bản trong sử dụng nước mặt để cấp nước. Trong các nhà máy được thiết kế phù hợp, các phương tiện quan trắc phù hợp đảm bảo nước cấp vào mạng phân phối là an toàn. Tuy nhiên, rủi roc ho sức khỏe và các tác động đến vệ sinh có thể xảy ra nếu chất ô nhiễm tồn tại trong nước ở dạng không phát hiện được, ví dụ chất ô nhiễm là kết quả của việc xả không kiểm soát vào nước. Sự ô nhiễm có thể ở dạng các liều cô đặc của dòng thải vào các thời gian khác nhau một cách liên tục và tương đối ít nguy hiểm (ví dụ khi các chất độc bị rửa trôi). Rủi ro khác do khả năng phát hiện kém, các chất có thể xâm nhập vào hệ thống giám sát và kiểm tra hiện hữu. Các chất khó phát hiện theo cách trên bao gồm các dung môi dùng trong công nghiệp và thường là các chất gây ung thư thậm chí ở nồng độ rất thấp nếu con người thường xuyên ăn/uống phải. Tại nhưng nơi có rủi ro phơi nhiễm với các chất ô nhiễm đó, các yêu cầu cần đạt về vùng nước bảo vệ phải tương đối nghiêm ngặt, ngoài ra cần phải kiểm tra liên tục và cung cấp các dụng cụ cảnh báo sớm nhạy ngay từ giai đoạn cô lập và khai thác nước. Trong trường hợp khai thác nước mặt, các biện pháp bảo vệ sau cần phải luôn ghi nhớ: - áp dụng các hệ thống đo và quan trắc phù hợp và luôn để mắt tới mực nước, lượng nước mưa đổ vào, lượng phù sa, cát và các chất lơ lửng, chất lượng nước về hóa-lý và sinh học, các chất ô nhiễm và ngoài ra phải giám sát các thông số áp dụng cho các hệ sinh thái trong lưu vực, - thu thập và phân tích các dữ liệu ghi nhận từ các hệ thống đo và quan trắc và chuẩn bị các phê chuẩn về địa-thủy văn, - Thu thập và phân tích các dữ liệu về địa-thủy văn bao gồm cả các kết quả đo liên tục đã thực hiện tại các giếng quan trắc và khai thác trong khu vực nơi cả hai nguồn nước mặt và nước ngầm cùng được sử dụng, với mục tiêu tạo ra ngân sách nguồn nước để thể hiện lượng nước sẵn sang cho sử dụng and kiểm tra các điều kiện phân phối cần đáp ứng. - giám sát chất lượng nước và các hành động tự làm sạch của các nguồn nước mặt, - phân tích các dữ liệu cho phép áp dụng các qui định bảo vệ vào thời điểm thích hợp, tình 153
  6. trạng cung cấp để đảm bảo an toàn cho nguồn nước và các điều kiện kiểm soát cung cấp trong các trường hợp khẩn cấp, - phê chuẩn các sử dụng hiện hữu của nước mặt, cho mục tiêu ngăn ngừa nguy hại như là kết quả của việc khai thác nước mặt và/hoặc thải nước đã qua sử dụng cho con người phía hạ lưu , - ngăn ngừa lãng phí nước, áp dụng các biện pháp hạn chế lượng sử dụng, và thực hiện các công việc nâng cấp/cải tạo hệ thống cung cấp nước uống (xem mục 2.2.1 về nước ngầm). 10.2.3. Vận chuyển và xử lý nước thô Khi nước thô được vận chuyển bằng các kênh hở, và đặc biệt khi chúng được lấy từ các nguồn nước mặt không đảm bảo về vệ sinh hoặc bị ô nhiễm, có thể đợi chờ khả năng các vấn đề sức khỏe sẽ gia tăng như là hệ quả của việc sử dụng không được phép nguồn nước thô bị ô nhiễm và người tiếp xúc với nguồn nước đó bằng các con đường khác. Trong quá trình xử lý nước thô, các tác động môi trường tiêu cực có thể gia tăng do vận hành nhà máy không đúng (thiếu chú ý của nhân viên vận hành, thiếu các dụng cụ cảnh báo) hoặc như là kết quả của, ví dụ đổ bỏ bùn từ bể lắng, bánh bùn và hóa chất từ kho chứa (chặng hạn hóa chất cũ), trích quá nhiều hóa chất (như chlorine chẳng hạn), và đổ bỏ các kiềm đặc sử dụng trong các quá trình khử mặn. Các yêu tố cực tính khác liên quan đến xử lý nước thô và do vậy hiệu xuất của quá trình xử lý, là hoạt động của các hạng mục giám sát và cảnh báo, và khả năng của điều chỉnh hoạt động xử lý đối với các thay đổi theo mùa của nước thô. Yếu tố khác có vai trò quan trọng trong đảm bảo đạt được việc xử lý nước một cách phù hợp (muốn đề cập tới quá trình bơm và tiền xử lý nước thô, định lượng hóa chất, quá trình bông tụ, lọc và khử trùng và phân tích) và khả năng đảm bảo tính vệ sinh trong các nhà máy xử lý là qui chuẩn đào tạo nhân viên của các nhà máy đó. Các biện pháp bảo vệ môi trường có thể dự tính trước bao gồm: - các biện pháp ngăn ngừa tiếp cận các hệ thống truyền tải nước thô cho mục đích khai thác sử dụng nước (như là nước uống) của con người, và/hoặc cảnh báo nhân dân về các mối nguy hiểm khi sử dụng nước bị ô nhiễm, - thiết lập các qui tắc chủ đạo chất lượng của xả thải từ các nhà máy, với sự quan tâm đến công suất theo mùa của nguồn nước cũng như quyền và dự kiến nhu cầu của việc sử dụng nước phía hạ lưu, - lắp đặt hoặc nâng cấp các cơ sở bảo vệ môi trường trong các nhà máy xử lý nước, chặng hạn như các bể chứa, các hệ thống phun cho các trạm chlorine, các kho chứa nhiên liệu và hóa chất an toàn. - lắp đặt các hạng mục đo và giám sát để giám sát chất lượng và lưu lượng nước và báo cáo các sự cố trong quá trình xử lý nước (ví dụ: hư hỏng bồn chứa khí chlo). 10.2.4. Mạng ống phân phối nước Các vấn đề môi trường xác đáng của hệ thống phân phối được đặt vào các tác động sau: a) Do các tiêu chuẩn kỹ thuật kém của hệ thống cấp nước đô thị tại nhiều quốc gia và đặc biệt tiêu chuẩn kỹ thuật kém của mạng đường ống phân phối (các vật liệu kém và lắp đặt tồi như là kết quả của các chính sách giá rẻ), khả năng xảy ra các sự cố đối với đường ống ngầm rất cao. Tại các quốc gia công nghiệp, trung bình có 0,2-0,3 sự cố/1km đường ống/năm, trong khi đó tại các quốc gia kh1c con số này có thể lên tới 9,1/km/năm. 154
  7. Nước thất thoát do mạng ống cung cấp bị hư hỏng cao hơn tiêu thụ nhiều lần. b) Chỉ đơn giản do lượng nước thất thoát lớn, điều này thường xảy ra khi công suất cung cấp của các nhà máy cấp nước đô thị cao hơn công suất thiết kế cho nhu cầu sử dụng. Khi đó hệ thống cung cấp gián đoạn sẽ được áp dụng thay vì hệ thống cung cấp liên tục 24 giờ/ngày. c) Khi cấp nước bị gián đoạn nhiều lần, hệ quả làm giảm áp suất nước trong đường ống và là cơ hội để các chất ô nhiễm thâm nhập vào mạng ống thông quá các điểm khiếm khuyết của các ống ngầm, nước ô nhiễm có thể từ các mương dẫn nước thải, các kênh không chống thấm dẫn nước thải dọc theo các con đường, thất thoát từ các đường ống dẫn nước cống, các bể lắng bị khiếm khuyết/tràn, các nơi đổ chất thải và chất độc hại thiết kế tồi v.v Các điều đó tạo nên rủi ro cho sức khỏe cộng đồng. d) Nước có thể bị cáu bẩn do bi tù hãm trong đường ống tại những nơi mà thủy lực của hệ thống kém hoặc trong các bể chứa trong hệ thống phân phối tại những nơi không đủ lưu lượng. e) Sự ô nhiễm nước trong các hệ thống phân phối cũ nát thường làm cho nước, mặc dù nước đã được khử trùng rất mạnh (ví dụ bằng dư lượng chlorine lớn) tại đầu vào của mạng phân phối, bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ trong quá trình vận chuyển từ nơi sản xuất tới điểm tiêu thụ và gây rủi ro lâu dài đến sức khỏe cộng đồng Các biện pháp sau đây là phù hợp và có thể áp dụng để giảm thiểu các tác động của mạng ống phân phối: - Đánh giá một cách nghiêm khắc các kỹ thuật giảm thiểu thất thoát nước đã được hình thành tại các quốc gia công nghiệp và áp dụng một cách phù hợp các kỹ thuật đó nhằm đạt các tình huống cụ thể của quốc gia và các yêu cầu đặc biệt của lối thoát (ví dụ sử dụng detector thất thoát tại những nơi có áp lực nước thấp, thực hiện đo đạc bằng các đồng hồ tại các quận để xác định nước thất thoát trong phân phối tại các quận có mạng chỉ lắp đặt một cách thưa thớt các van cổng và các họng lấy nước ngoài đường phố). - Sử dụng các hệ thống đo đạc và giám sát phù hợp cũng như nâng cấp mạng đường ống (chẳng hạn như các van cổng đầu nguồn) để theo dõi liên tục lượng nước tiêu thụ, lãng phí nước, lấy nước bất hợp pháp và thất thoát nước bằng cách giám sát quá trình cung cấp khi cấp cho các quận và áp lực trong quận và để kiểm tra hiệu quả của việc nâng cấp mạng ống cấp nước (giảm thất thoát nước v.v ). - Giám sát các biểu hiện sai xót (lỗi) trong mạng cung cấp của các quận trong hệ thống cấp nước đô thị. - Thiết lập các ưu tiên trong việc nâng cấp liên tục hệ thống phân phối trong hệ thống cấp nước đô thị (phát hiện sớm và sửa chữa các lỗi và tái thiết lập hoặc thay thế các đoạn ống của mạng đường ống nơi biểu hiện lỗi rõ ràng v.v ). - Nâng cấp các tiêu chuẩn của vật liệu sử dụng cũng như tiêu chuẩn công tác lắp đặt mạng phân phối. - Sử dụng cấp nước liên tục (nghĩa là đảm bảo cấp nước đủ áp lực trong 24 giờ bằng mạng phân phối) khi tiến hành nâng cấp mạng phân phối. - Giám sát chất lượng sinh hóa của nước (chẳng hạn dư lượng chlorine) tại các điểm kết nối với người sử dụng/các họng lấy nước trên đường phố. 10.2.5. Các tác động của các dự án cấp nước đô thị Mục tiêu của hệ thống cấp nước đô thị là phân phối một lượng nước hợp lý đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho người sử dụng. Bằng cách sử dụng nước uống chất lượng tốt sẽ loại 155
  8. bỏ các rủi ro thường xảy ra đối với hệ thống cấp nước không đảm bảo vệ sinh. Tuy nhiên, việc tăng lượng nước cấp tương đương với việc tăng lượng nước thải, và do vậy nếu các cung cấp xử lý nước thải không đảm bảo tương xứng sẽ gia tăng tiềm năng gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng cũng như các bệnh lây lan đường nước. Hiện tại các công nghệ/kỹ thuật của hệ thống cấp nước đô thị đảm bảo cấp 100% nước uống chất lượng tốt, và chỉ khoảng 5-15% nước cấp đạt tiêu chuẩn nước uống trực tiếp. Do vậy cần luôn chuẩn bị trên phương diện giá cả đối với việc sử dụng nước uống. Bằng cách đưa ra các phí sử dụng nước hợp lý (liên quan đến lượng tiêu thụ, tính đủ các chi phí cần thiết) và nếu có thể thì phân chia mạng đường ông phân phối theo các tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh khác nhau (chất lượng tốt, có thể uống trực tiếp chẳng hạn). Vấn đề đặc biệt phải đối mặt là xử lý nước không đảm bảo vệ sinh và vận chuyển chúng tới các họng cấp nước trên đường phố và lưu trữ không vệ sinh, và/hoặc các lắp đặt tại nhà bị lỗi (ví dụ các bồn chứa nước trên mái nhà bị lỗi) sẽ gây rủi ro bệnh tật liên tục. Các tác động bất lợi của các dự án cấp nước đô thị như là kết quả của các sai xót và nhược điểm gồm: - các thiếu sót trong chất lượng của các vật liệu sử dụng và trong tiêu chuẩn thực hiện công việc, - các thiếu sót trong vận hành, bảo dưỡng và cải tạo/phục hồi, - vận hành quá mức công suất thiết kế của hệ thống cấp nước đô thị như là kết quảu của lãng phí và thất thoát nước, - các thiếu sót trong hướng dẫn cung cấp cho người dân và đặc biệt là phụ nữ, người lãnh trách nhiệm quan trọng trong các vấn đề liên quan đến vệ sinh của nước như vận chuyển, lưu trữ nước ya5i gia, làm sạch và chuẩn bị thức ăn. Các nguồn thường xuyên không hài lòng của người sử dụng nước là tiêu chuẩn cung cấp gây ra bởi các thiếu sót. Nỗi bất bình dạng đó thường dẫn đến gia tăng không sẵn sang trả phí và do vậy gây ra giảm thu nhập của việc bán nước, thêm vào đó, dẫn đến các va61nn đề như mất mối quan tâm đến các cuộc vận động thúc đẩy và hướng dẫn (để có sự tham gia của xã hội, để khuyến khích tiết kiệm nước và để cung cấp các đào tạo về vệ sinh và sức khỏe). Có các yêu cầu đặc biệt trong các biện pháp lập kế hoạch và thực thi bảo dưỡng và tái phục hồi, căn cứ vào thu thập và phân tích dữ liệu và thông tin, cần phải dự kiến đạt được. Các áp dụng đó đặc cho các phần không nhìn thấy của hệ thống cấp nước như các đường ống ngầm . Các lỗi nghiêm trọng thường xảy ra, như thay thế các đường ống cũ (chẳng hạn đã quá 50 năm sử dụng) khi các biểu hiện về sai sót trong các đường ống cũ lại ít hơn so với các đường ống mới chỉ có 20 năm sử dụng. Trong rất nhiều trường hợp khai thác và các nhà máy xử lý mới được xây trước khi mạng phân phối cũ nát được nâng cấp. Mối quan tâm cơ sở cần luôn nhớ là tác động hệ quả của hệ thống cấp nước đô thị phù hợp sẽ có ích cho tình trạng sức khỏe công đồng khi không chỉ có xử lý nước thải mà xử lý chất thải rắn, điều kiện nhà ở, và vệ sinh thực phẩm v.v sẽ được nâng cấp với mục tiêu sản sinh hiệu ứng lâu dài đến tình trạng sức khỏe và điều kiện sống của nhân dân. Các vấn đề sau cũng đáng được quan tâm đặc biệt trong mối liên kết đó: - thay đổi quan điểm của cộng đồng từ truyền thống sang sự thiếu thốn và quan trọng của nước như một nguồn tài nguyên (nước không phải là hàng hóa miễn phí), - làm sang tỏ và tham gia của các nhóm đối tượng, và đặc biệt là phụ nữ, với sự chú ý đến 156
  9. giá cả và giá trị của hệ thống cấp nước đô thị phù hợp và các điều kiện vệ sinh được nâng cấp và những điều mong đợi được từ những điều đó. Để giảm thiểu các tác động hệ quả của các dự án cấp nước đô thị, tất cả các hạng mục phải được lập kế hoạch, xây dựng, vận hành và bảo dưỡng đến tiêu chuẩn phù hợp, phù hợp với điều kiện địa phương và tính hiện đại. Cũng cần phải đảm bảo hệ thống (khai thác và phân phối) có thể đảm bảo 24 giờ để ngăn ngừa mọi khả năng ô nhiễm của nước trước khi phân phối. Cũng cần phải đảm bảo rằng nước được phân phối phải được sử dụng một cách tiết kiệm, hoặc bằng cách đưa vào sử dụng hệ thống đo đếm và giám sát và/hoặc áp dụng hệ thống giá và tiền công cưỡng bức xứng với tiết kiệm sử dụng nước. Cùng với là sự cung cấp các tiện ích trong xử lý nước thải và các tiện ích vệ sinh. Bằng bảo dưỡng và phục hồi một cách phù hợp các tiện ích cấp nước hiện hữu, và đặc biệt là các đường ống chôn ngầm với các hiểu biết về tính tương thích với các sai sót của chúng, có thể cho phép giảm thất thoát nước và ngăn ngừa các phàn nàn của người tiêu thụ (gây ra các gián đoạn trong cung cấp do việc phải sửa chữa thường xuyên) cũng như giảm thu nhập từ phí sử dụng nước. Các đòi hỏi trước mắt khác nhằm ngăn ngừa các tác động hệ quả gồm: - ứng dụng các hệ thống đo đạc và giám sát để ghi nhận lưu lượng và áp lực để nhận biết sớm các sai sót trong các hệ thống cấp nước (mạng phân phối), - ứng dụng các hệ thống đo đạc và giám sát để giám sát chất lượng nước uống được phân phối, - sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ, trong các khía cạnh khác nhau của công việc theo dõi như báo cáo về các sai sót (rò rỉ) và lãng phí nước, và cung cấp các hướng dẫn về vệ sinh tốt trong sử dụng nước (các bình để vận chuyển nước, quá trình vận chuyển, và lưu giữ nước tại gia), - giới thiệu/ứng dụng một cách có hệ thống các nâng cấp trong hệ thống và tích hợp chúng vào các hệ thống mới trong tương lai, - ứng dụng các hệ thống vận hành và bảo dưỡng hiệu quả, - lập kế hoạch mở rộng trên quan điểm thực tế, - tránh các sai sót trong quá khứ và tiếp nhận vô điều kiện các kỹ thuật từ các quốc gia công nghiệp 10.3. Các lưu ý khi phân tích và đánh giá các tác động môi trường 10.3.1. Giới hạn và chỉ dẫn của các quốc gia công nghiệp Các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành của các quốc gia công nghiệp tập trung chủ yếu vào vấn đề cung cấp nước uống đảm bảo nhu cầu. Trọng tâm của các tiêu chuẩn đó là giới hạn và các hướng dẫn về giá trị cao nhất cho phép của các thành phần và đếm vi khuẩn cần quan sát được nhằm loại bỏ các rủi ro đến sức khỏe con người. Hệ quả là các xác đáng về môi trường tập trung vào mục tiêu ngăn ngừa các hậu quả đến sức khỏe và vệ sinh gây ra bởi cung cấp không thỏa đáng. Chẳng hạn hướng dẫn quan trọng nhất tại các quốc gia công nghiệp là phân cấp bảo vệ nguồn nước chẳng hạn có 3 cấp độ được đặt ra: (1) ngăn ngừa các chất ô nhiễm thâm nhập và đất và sau đó là các giếng khai thác nước. 157
  10. (2) đảm bảo các chất ô nhiễm được phân hủy phù hợp trong quá trình thấm qua đất trước khi thâm nhập vào các tầng nước ngầm (50 ngày). (3) đảm bảo rằng nếu sự cố xảy ra ngoài vùng bảo vệ thì có đủ thời gian để áp dụng các biện pháp sửa chữa các sự cố đó. Các hướng dẫn kỹ thuật thay đổi theo từng quốc gia tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, cường độ sử dụng và yếu tố lịch sử. 10.3.2. Các chỉ dẫn của các quốc gia khác Các luật và hướng dẫn chuyên biệt được áp dụng cho đánh giá tác động môi trường của cấp nước thì không có ở nhiều quốc gia. Tại một số vùng có các qui định truyền thống liên quan đến khai thác và phân phối nước, các qui định đó được tuân thủ theo: - sử dụng nước từ các con suối, - đặt giới hạn khai thác nước từ giếng hoặc một nhóm giếng, - bổ cập nước ngầm, - sử dụng nước thải cho tưới một cách phù hợp, - quản lý nước từ các hồ chứa, - phân phối nước mặt cho mục đích tưới, Các điều đó có thể rất tốt cho bảo vệ môi trường và nỗ lực cần phải được tính đến cho các dự án thích hợp. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thường hay thiếu các nền tảng cho: - ngân sách nước (sức cung cấp của nguồn nước), - dự báo nhu cầu nước cho đa ngành, - dự báo chất lượng nước trong tương lai, - ưu tiên cần thiết để lập phân bổ sử dụng nguồn nước cho con người, - các qui định pháp luật về nước, do thiếu các dữ liệu cơ sở. Về mặt quốc tế, tiêu chuẩn quốc tế đối với nước uống của tổ chức y tế thế giới (WHO) là công cụ tham chiếu chủ yếu. Tuy nhiên, cần nhớ rằng khi thực hiện các dự án tại các quốc gia có điều kiện cực trị thì tiêu chuẩn của WHO chỉ mang tính khuyến cáo và các ngoại lệ có thể cho phép tại những nơi có điều kiện tốt để tuân thủ nó. Trong thời gian qua mức độ quan trọng hơn đã được gắn kết vào yêu cầu vệ sinh tối thiểu của WHO (chỉ số bacteria, vi khuẩn gây bệnh) nhiều hơn so với nồng độ lớn nhất cho phép của các thành phần khác. Điều cũng thường xảy ra là mặc dù các hướng dẫn kỹ thuật cụ thể và qui định pháp luật có thể có sẵn ở mức độ quốc gia nhưng lại không có các cơ chế hoặc nguồn lực để thực thi chúng. 10.3.3. Phân loại tác động môi trường Để phân loại các tác động môi trường, có nhiều ưu tiên có thể áp dụng ngay từ đầu. Tại các quốc gia nơi thiếu nguồn tài nguyên nước, ưu tiên quan trọng nhất có thể cung cấp để đánh giá có bao nước sẵn sàng cho trung hạn và dài hạn. Nơi có đủ nguồn tài nguyên nước, thì ưu tiên trong đánh giá các tác động môi trường của cấp nước đô thị thường tập 158
  11. trung vào vệ sinh và tính tương thích với sức khỏe tốt của phân phối nước cho con người, luôn nhớ rằng nếu nguồn tài nguyên đảm bảo an toàn cho tương hoặc không bảo vệ đầy đủ, điều này gây nguy hại cho lợi ích lâu dài của cấp nước đô thị cho các đối tượng được cung cấp. Một cái nhìn rất tiêu cực cần được biết là sử dụng nước lãng phí và không kiểm soát, ví dụ tại vùng khô cằn, việc tưới cây lương thực bằng nguồn nước ngầm có hạn đôi khi lại được ưu tiên hơn so với nhu cầu tiêu thụ chung dài hạn của con người. 10.3.4. Các biện pháp bảo vệ môi trường và các kiến nghị (đề xuất ) Vùng/vấn đề và các biện pháp Các lựa đề xuất truyền thống 1. Chi tiết kỹ thuật của hệ thống cấp - Các thay đổi trong chủng loại vật liệu với mục tiêu cải nước việc áp dụng các tiêu chuẩn từ thiện chất lượng các quốc gia công nghiệp, sự điều - Tăng tạm thời chi phí vận hành và bảo dưỡng chỉnh của các tiêu chuẩn đối với lý - Kiểm toán kết quả do giá cả, thiếu nguồn tài chính - Điều chỉnh chi phí vận hành và bảo dưỡng trong lĩnh vực vận hành và bảo - Đưa chi phí vận hành và bảo dưỡng vào chi phí của dự dưỡng là các vấn đề của chính sách án giá thấp 2. Đưa các tiêu chuẩn chất lượng nước, các cung cấp pháp lý cho các - Bắt đầu bằng các yêu cầu tối thiểu có thể đạt được mà vùng bảo vệ, các qui định của khu không cần thay đổi bất cứ qui định pháp lý nào. vực/địa phương, luật và các qui tắc - Quyết định từng bước tiến tới các yêu cầu bao hàm Làm theo các tiêu chuẩn của các hơn trên cơ sở các ưu tiên của địa phương quốc gia công nghiệp hoặc các - Đưa/sử dụng các chuyên gia kỹ thuật và pháp lý (từ khuyến cáo quốc tế, tại những nơi nơi khác) chưa có các yêu cầu của quốc gia - Đưa vào sử dụng các tiện ích đo đạc liên tục lâu dài để giám sát mực nước ngầm và khối lượng khai thác - Đưa vào sử dụng các tiện ích đo đạc liên tục lâu dài để giám sát tiêu thụ (đo đạc tại các quận) trong mạng phân 3. Khai thác nước ngầm phối - Các qui tác pháp lý về định mức tiêu thụ (mùa mưa/mùa khô) - Đưa vào áp dụng các mức phí khác nhau có tính đến mùa mưa và mùa khô 4. Khai thác nước mặt và các nhà Gần tương tự như đối với khai thác nước ngầm máy xử lý nước 5. Khai thác nước và các biện pháp - Ghi chép và phân tích một cách hệ thống các khiếm truyền thống khuyết Thất thoát nước cao do đường ống - Áp dụng các phương pháp mới để đánh giá tổn thất bị lỗi gây ra bởi sai lầm của chính nước sách giá thấp, vì thế gây cạn kiệt - Thay thế các đoạn có nhược điểm trên mạng từ kết quả nghiêm trọng nguồn tài nguyên và phân tích sai sót (yêu cầu chứng minh được) tác động tiêu cực đến sức khỏe, đặc - Lắp đặt các tiện ích đo lâu dài (lưu lượng và áp suất) biệt nơi có chế độ cung cấp gián để giám sát tiêu thụ và tổn thất và theo dõi các sai sót đoạn, các vấn đề được giải quyết - Xác định sớm các sai sót bằng các tiện tích đo đạc và 159
  12. bằng xây mới các tiện ích khai thác sớm sửa chữa các sai sót nước mới, đường ống được thay thế - Cải thiện tiêu chuẩn tổng thể của mạng (lắp đặt các van trên cơ sở tuổi sử dụng, các rò rỉ đóng cần thiết ) không thường xuyên trên toàn - Vẽ sơ đồ mạng hiện hữu trên cơ sở các ưu tiên mạng phân phối và/hoặ đưa vào - Khuyến khích phụ nữ và trẻ em thông báo các sai sót phân phối gián đoạn của các tiên ích cung cấp (các cây nước bị lỗi, các bể chứa tại gia bị tràn, các lỗi trên các đường ống cung cấp) - Đưa vào sử dụng các tiện ích đo đạc và giám sát tại hệ thống cấp nước tại từng quận 6. Bao phủ nhu cầu từ cấp nước đô - Cải thiện hệ thống định lượng cấp nước gia đình thị - Đưa vào áp dụng một cách có hệ thống việc định lượng Gia tăng nhu cầu do cấp nước gia đình và các vòi công cộng - tăng tiêu thụ - Cải thiện hệ thống thoát khí trên mạng đường ống - tổn thất nước lớn - Dưa vào sử dụng các vòi nước giảm tiêu thụ v.v - lãng phí nước - Giảm thất thoát nước như đã mô tả chi tiết tại mục 5. - sử dụng (lấy nước) bất hợp pháp - Đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn mức tiêu thụ (theo đầu người) cho mùa khô và mùa mưa như mô tả chi tiết tại Giải pháp cho vấn đề bằng các cố 3. gắng xây dựng các tiện ích khai thác - Giám sát các hạn chế trong tiêu htu5 trong mùa khô và nước mới, thiết lập các vòi nước các kết quả của hành động giảm thất thoát nước công cộng thay vì kết nối tới từng - Đưa vào áp dụng phí bao phủ và cải thiện hệ thống thu nhà và/hoặc đưa vào sử dụng cung phí cấp gián đoạn. - Sự tham gia của cộng đồng (phụ nữ) trong các chức năng kiểm soát/theo dõi 10.4. Mối tương tác với các lĩnh vực/phạm vi/ngành khác Các dự án cấp nước đô thị có vô số mối tương tác với các lĩnh vực khác; các lĩnh vực quan trọng nhất gồm: a) Cạnh tranh sử dụng nguồn nước (cấp nước đô thị, tưới, nhu cầu của thương mại và công nghiệp, năng lượng) hoặc các nhu cầu sử dụng khác, b) Các hoạt động có thể gây ra mối đe dọa ô nhiễm nguồn nước (sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, lưu trữ không đúng chất thải và chất thải từ công nghiệp và thương mại, sa lắng các chất ô nhiễm từ không khí do sự phát thải vào không khí, vận chuyển không an toàn chất ô nhiễm), c) các đồ án, và kết quả vật lý của chúng, gây ra các nhu cầu cần thiết phải nâng cấp hệ thống xử lý nước thải, d) lập kế hoạch gây sự can thiệp vào sự bổ cập nguồn nước ngầm (lót đáy hoặc chuyển nguồn nước mặt, thay đổi thảm thựcvật, các hoạt động thoát nước, xây dựng). Bảng 1 tổng hợp các lĩnh vực có mối tương tác với cấp nước đô thị và chứa đựng các tham chiếu liên quan đến các tóm tắt mội trường khác có vai trò cực kỳ quan trọng trong đánh giá các tác động hệ quả. Hệ thống cấp nước đô thị là phần thiết yếu của bất cứ sơ đồ qui hoạch đô thị nào. Cơ hội tốt nhất để tránh các hệ lụy về môi trường do vậy nằm ở chỗ cân bằng trong phát triển đô thị với mối quan tâm cho qui hoạch vùng và qui hoạch khu cấp nước. Điều đó đặc biệt đúng trong mối tương tác giữa cấp nước đô thị và thoát nước thải và qui tắc cần pah3i tuân thủ trên thực tế là qui hoạch cấp nước và xử lý nước thải phải được thực hiện cùng nhau để 160
  13. loại bỏ khả năng quá tải. Thực tế trong quá khứ của các quốc gia công nghiệp là việc xử lý nước thải không đúng đặc biệt là chất thải công nghiệp và thương mại. Phát triển công nghiệp đang xảy ra tại nhiều quốc gia, điều rõ ràng là cần chọn vị trí các dự án xử lý nước thải và cấp nước đô thị trong viễn cảnh phát triển. Bảng 1 - Các tác động môi trường từ các ngành liên quan Các lĩnh vực có sự Bản chất của việc gia tăng hay thêm Các tóm tắt môi trường liên tương tác vào các tác động quan cần tham khảo Cấp nước nông thôn Khai thác nước cho các Các tóm tắt liên quan đến *Làm tăng cạn kiệt nguồn nước và hạ mục đích khác nông nghiệp thấp mực nước ngầm - cung cấp nước cho Các hệ thống thủy lợi qui *các hiệu ứng tiêu cực cho các người nông nghiệp mô lớn sử dụng khác - cung cấp nước cho Hệ tho6g1 thủy lợi nông *giảm chất lượng công nghiệp thôn Kỹ thuật sông và kênh * các thay đổi về sinh thái và văn hóa-xã hội * các thay đổi văn hóa-xã hội Cung cấp và phục hồi nhà ở * ô nhiễm nước Các tóm tắt đ85c thù trong * mối đe dọa dài hạn cho nước ngầm “công nghiệp và thương Các hoạt động thủy lợi gây ra bởi các xâm nhập của chất ô mại” ví dụ đường, giấy và - Xây dựng các hồ nhiễm từ bể chứa chất thải và rò rỉ bột giấy, dầu mỏ và khí đốt chứa và các hoạt động nông nghiệp, bao thiên nhiên, thải bỏ nước - Kỹ thuật sông, nắn gồm cả xâm nhập của nitrat vào thải, lập qui hoạch vị trí, xử thẳng dòng chảy nước ngầm và thuốc trừ sâu vào hồ lý chất thải rắn, qui hoạch chứa phát triển cấu trúc và vùng , * quá tải của cơ sở hạ tầng và các hệ qui hoạch khung cấp nước lụy * giảm nguồn bổ cập nước ngầm * dòng chảy bề mặt lớn hơn 10.5. Tóm tắt về các thoả đáng về môi trường Nói chung, rất khó có thể đánh giá tính khốc liệt của các tác động gây ra bởi cấp nước đô thị theo một tiêu chuẩn, qui trình cố định và chúng luôn là công việc cân nhắc ý định tốt của phát triển nguồn tài nguyên bảo tồn cuộc sống chống lại các hậu quả liên quan của việc can thiệp vào cân bằng sinh thái mà điều cuối lại tuân thủ theo các qui luật của tự nhiên. Người chịu trách nhiệm đối với dự án cần được cảnh báo rằng nước uống giữ vai trò kiến tạo nhịp độ, trong một nghĩa rộng, đối với các điều kiện văn hóa-xã hội và kinh tế-xã hội và mối quan tâm vì vậy cần được thực thi để chúng đóng vai trò gánh vác cho cải thiện cấu trúc Một đánh giá tác động môi trường thích hợp của cấp nước đô thị có thể thực hiện khi tính đến các vấn đề sau : - các nguồn tài nguyên đã biết, và sử dụng đa ngành, - bằng chứng cho sử dụng nước trong hiện tại và các hệ thống cấp nước đô thị đã được qui hoạch kết hợp với xả bỏ chất thải một cách hiệu quả, 161
  14. - các quan tâm trong qui hoạch của các vấn đề môi trường nổi cộm cho các dự án cấp nước đô thị định hướng môi trường. 10.5.1. Các nguồn nước đã được phê duyệt (đã biết), và sử dụng đa ngành - Đánh giá tính sẵn sàng và chất lượng các nguồn tài nguyên nước hiện hữu theo hướng sử dụng đa ngành và các biến động theo mùa về tính sẵn sàng , chất lượng và sử dụng. - Sự biết trước tin cậy của khả năng sẵn sàng và chất lượng nguồn tài nguyên nước trong tương lai (đo đạc liên tục, các kiểm tra về địa thủy văn, thủy văn, hóa học, vật lý và sinh học và các phân tích chuyên gia và phê duyệt). 10.5.2. Bằng chứng về sử dụng hiệu quả nguồn nước kết hợp xử lý chất thải hiệu quả của các hệ thống cấp nước đô thị hiện hữu hoặc qui hoạch - Giám sát thường xuyên việc sử dụng các nguồn tài nguyên nước bởi các cơ quan vận hành hệ thống cấp nước đô thị trong sự hợp tác với các nhà sử dụng nguồn tài nguyên nước khác. - Giám sát tiêu thụ, kiểm soát tiêu thụ (trong mùa khô), giám sát thất thoát nước, và giám sát chất lượng của nước được cung cấp bởi hệ thống cấp nước đô thị. - Bằng chứng về sự cần thiết phải thực hiện công việc phục hồi đối với hệ thống cấp nước đô thị, và đặc biệt hệ thống phân phối nước, phân loại theo thứ tự ưu tiên. - Thực thị một cách hiệu quả các qui định pháp luật, - Xử lý hiệu quả và giám sát xử lý, - Cung cấp một cách hiệu quả sự cải thiện tính sẵn sang của các nguồn tài nguyên nước bằng bổ cập nhân tạo, các hồ chứa, đập. - tái sử dụng một cách hiệu quả nước đã được làm sạch. 10.5.3. Các biện pháp sửa chữa việc sử dụng kém hiệu quả kết hợp xử lý chất thải chưa hiệu quả của các hệ thống cấp nước đô thị hiện hữu Chi tiết xem 5.2 10.5.4. Các lưu ý quan trọng trong qui hoạch hệ thống cấp nước đô thị thân thiện với môi trường Không có một lý do cơ sở để nói các hệ thống cấp nước đô thị không cần qui hoạch và xây dựng theo định hướng môi trường. Tuy nhiên, để làm được điều đó, một loạt các điều kiện tiên quyết phải đạt và chúng duy trì trong các tình huống đặc biệt hạn chế tiêu thụ nước. Qui hoạch cấp nước đô thị định hướng môi trường yêu cầu: - các tác động môi trường của các hệ thống cấp nước đô thị đã được qui hoạch cần được kiểm tra để cải thiện, sửa chữa và mở rộng có ảnh hưởng tính có thể chấp thuận của dự án và cần tính đến các lợi ích do chúng đem lại trên nền tảng các giá trị đặc thù quốc gia (việc áp dụng một cách thiếu cẩn trọng các tiêu chuẩn của các quốc gia công nghiệp có thể dẫn đến sai lầm trong qui hoạch.) - thái độ nhận thức hướng vấn đề trực tiếp tới các điều kiện của vùng cần được tạo ra giữa các nhà hoạch định dự án và cộng đồng với mối liên kết với các quan hệ môi trường mật thiết với tiêu thụ nước. (Các chính sách hạn chế tiêu thụ nước tại các vùng có nguy cơ rủi ro sinh thái, tầm quan trọng của đưa ra phí tiết kiệm sử dụng nước, thục thi các qui định pháp lý). 162
  15. - điều tra một cách kỹ lưỡng các điều kiện, như các yêu cầu, chất lượng và tính sẵn sàng của nguồn nước, công suất phục hồi, rủi ro của việc thâm nhập của cư dân, và các tác động sinh thái của khai thác nước, với các dịch vụ của các chuyên gia đa ngành để giải quyết các vấn đề cụ thể (cạn kiệt nguồn nước, hậu quả của hạ thấp mực nước). Các điều tra khảo sát thực địa cần bao trùm điều kiện của các hệ thống hiện hữu và đánh giá các nhược điểm và các lỗi rõ rang trong kỹ thuật có thể gây hậu quả đến cải thiện hệ thống hiện hữu và các thực hành. Các điều tra khảo sát tại địa phương cần chú ý đặc biệt tới các vấn đề kinh tế-xã hội, chẳng hạn như thu nhập gia đình, thu nhập của phụ nữ, các stress đối với phụ nữ gây ra bởi vận chuyển nước, thái độ của cộng đồng với sự khan hiếm và tầm quan trọng của nguồn tài nguyên nước, tính sẵn sang chi trả, và các câu hỏi khác như sự sẵn sang tham gia của cộng đồng trong kiểm tra tính hiệu quả của sử dụng và phân phối nước và sẵn sang chi một phần để sửa chữa hệ thống. - sự trợ giúp với thiết lập các cơ quan giám sát địa phương nhằm đảm bảo các yêu cầu về mặt môi trường phải được thực thi. 10.6. Tài liệu tham khảo 1. Albert, G.: Ökologische Prognosen in Grundwassergewinnungsgebieten,lecture,4.DVWK- Fortbildungslehrgang Nutzbares Grundwasserdargebot, 11 to 14 October 1982. 2. BMI-Fachausschuß-Wasserversorgung und Uferfiltrat: Künstliche Grundwasser-anreicherung, 1984. 3. DVGW-Regelwerk: Richtlinien für Trinkwasserschutzgebiete, W101: Schutz-gebiete für Grundwasser, W102: Schutzgebiete für Trinkwassertalsperren, W103: Schutzgebiete für Seen, ZfGW-Verlag, Frankfurt 1975. 4. DVWK (Deutscher Verband für Wasserwirtschaft und Kulturbau) - Fachausschuß Grundwassernutzung: Ermittlung des nutzbaren Grundwasserdargebotes DVWK-Schriften H. 58, 2 Teilbände, 1982 5. Environmental Protection Agency: National Interim Primary Drinking Water Regulations, July 1st 1983. 6. Gesetz zur Ordnung des Wasserhaushalts: (Wasserhaushaltsgesetz, WHG) of 16.10.1976 and Wassergesetze der Länder. 7. Ministerium für Ernährung, Landwirtschaft und Umwelt Baden-Württemberg, "Leitfaden für die Beurteilung und Behandlung von Grundwasserverun- reinigungen durch leichtflüchtige Kohlenwasserstoffe", Stuttgart, 1983. 8. EC Council directive on quality required of surface waters intended for the abstraction of drinking water in the Member States of 16 June 1975 9. EC Council directive on quality of water intended for human consumption of 15 July 1980 10. EC Council directive on the protection of groundwater against pollution caused by certain dangerous substances 11. Umweltbundesamt (German Federal Environmental Agency): Synopse nationaler und internationaler Gewässerschutzregelungen, April 1979. 12. Verordnung über Trinkwasser und über Brauchwasser für Lebensmittelbetriebe (Trinkwasser-Verordnung) of 31.10.1975. 13. WHO-World Health Organization: International Standards for Drinking Water, Geneva, new edition (1984). 163
  16. 11. Cấp nước nông thôn 11.1. Phạm vi Thuật ngữ “cấp nước nông thôn” bao gồm tất cả các biện pháp được thực hiện để đáp ứng nhu cầu về nước chủ yếu ở các vùng nông thôn, Khu vực nông thôn của loại này có thể được điển hình bởi - lối sống du cư, - lối sống của nông dân, - lối sống gần đô thị. 1) 1) Điều này không bao gồm các khu đồn điền và các khu sản xuất nông nghiệp tập trung lớn. Cấp nước nông thôn bao gồm việc cấp nước uống và nước dùng trong hộ gia đình cho người dân vùng nông thôn cộng thêm cung cấp nước được yêu cầu cho các mục đích như là tưới nước cho vườn. Tuy nhiên, mặc dù điều này tạo thành một vấn đề môi trường ở ngay trong nhà họ, cấp nước nông thôn cũng bao gồm nước cho vật nuôi cộng với các nguồn cung cấp nước tưới cho vật nuôi, bởi vì ở các khu vực nông thôn nó là gần như không thể trong thực tế để kéo theo bất cứ sự khác biệt rõ ràng nào giữa nước sạch cho con người và nước sạch cho chăn nuôi. Việc cung cấp nước cho các mục đích nông nghiệp nói chung không xảy ra trong phạm vi cấp nước nông thôn; đặc biệt, cấp nước nông thôn không không bao gồm các hệ thống tưới tiêu cho các lĩnh vực hoặc công trình kỹ thuật nông thôn, thủy lợi. Trái ngược với hệ thống cấp nước đô thị, không có đường ống phân phối trong phần lớn các hệ thống cấp nước nông thôn. Ngoại lệ các quy luật này là các đường ống cấp nước và việc chảy trong các đường ống (nói chung khá ngắn) mà sự thiếu thốn tại các khu vực tạo thành các hệ thống mạng lưới ống đứng cung cấp công cộng thô sơ trong việc lan rộng ra các ngôi làng. Nhu cầu về nước chắc chắn phải điều chỉnh chính nó để cung cấp mà trong hiện tại và có thể dùng được. Trường hợp chỉ đơn giản là vấn đề cung cấp cho dân số nông thôn, nhu cầu nói chung giữa 15 và 30 l/người/ngày (l/p/d) và đôi khi thậm chí ít hơn, và nó ít khi tăng lên đến mức của hơn 60 l/p/d (chỉ nơi có nhà ở và sân chuyển tiếp). Để bao hàm các nhu cầu về nước cho gia súc, một bổ sung 15 lít/ngày sẽ là cần thiết cho mỗi đơn vị động vật nhỏ và khoảng 75 l/ngày cho mỗi đơn vị động vật lớn. Tùy theo tính chất của sự khai thác, cung cấp nước sạch nông thôn có thể được chia thành các loại sau đây: - cung cấp nước từ nước ngầm - cung cấp nước từ nước mặt trên cơ sở 9 sử dụng nước mặt 9 sử dụng nước mưa. Để đáp ứng nhu cầu, việc sử dụng thường được thực hiện từ cả 3 nguồn đồng thời, nơi mà nước theo mùa cho phép sẵn có. Không giống như cung cấp nước công cộng, khu đô thị, nơi mà việc sử dụng được làm bằng một hệ thống khai thác tập trung và các hồ chứa và một hệ thống phân phối được kết nối, cái mà đặc trưng cho cấp nước nông thôn thì được gọi là những hệ thống cấp nước 164
  17. “phân tán” nơi mà các đối tượng thường xuyên có mặt tại nơi xây dựng hệ thống dưới các dự án tự lực và sau này trở thành trách nhiệm đối với việc vận hành nó. Những nhóm người tiêu dùng tương đối nhỏ từ một một gia đình đơn lẻ đến cộng đồng dân làng hoặc các cộng đồng người du cư có được nguồn cung cấp nước từ khi còn nhỏ, thường nằm rải rác cách xa nhau và đôi khi các hệ thống khai thác cá nhân được tách biệt với hệ thống phân phối, nước được mang về một cách truyền thống bởi những người phụ nữa và trẻ em gái trong các vùng nông thôn. Cái gì là điển hình của việc khai thác nước ngầm phân tán là việc đào bới hoặc khoan giếng hoặc lấy nước từ các dòng suối. Các đơn vị bơm lên trong hệ thống nói chung là nhỏ, để phù hợp với số lượng người tiêu dùng, tài nguyên nước và thường được giới hạn bởi các nguồn lực xây dựng và công suất khoảng 1m3/h trong trường hợp các giếng của làng xã và lên đến 5m3/h trong trường hợp các giếng trên các đồng cỏ chăn gia súc. Việc bơm nước nói chung được tiến hành bởi các cách thức truyền thống được vận hành bằng tay hoặc bằng sức kéo của động vật, mặc dù việc sử dụng cũng có thể được thực hiện bằng sự trợ giúp của máy nâng cơ khí như là bơm vận hành bằng tay hoặc chạy bằng động cơ (thường là diesel), xích gàu múc, v.v. Các giếng phun, mà trong đó nước bị hạn chế và có nguồn gốc từ nước mặt không cần phải nâng hạ, là hiếm thấy. Trong một số trường hợp nước được đưa lên các bể chứa cộng đồng, cái mà được chứa trong những cái bể có lưu lượng 2 – 6 m3 được trang bị một vòi nước. Các tính năng đặc trưng của việc khai thác từ nước mặt là những công trình ngăn nước nhỏ (các đập đất bình thường). Dấu hiệu của việc sử dụng nước mưa là các bể chứa nước (từ các xô qua các thùng nước lên đến các bể chứa nước được làm bằng bê tông, tấm thép hoặc nhựa) và ngăn chặn các liên kết và thu gom nước mặt (mái nhà, các sườn núi v.v) Phương pháp chủ yếu của sự vận chuyển nước giữa điểm khai thác và điểm tiêu thụ vẫn được chuyên chở trong các thùng chứa di động hoặc bởi gia súc, nói chung là một công việc được thực hiện bởi phụ nữ và các em gái. Các đường ống cung cấp là hiếm thấy và thường rất ngắn. Những xem xét trong việc vận chuyển nghĩa là các máng chứa nước uống cho vật nuôi thì thường được đặt trực tiếp gần kế với điểm khai thác hoặc thu gom. Một phần quan trọng trong các dự án cung cấp nước nông thôn được vận hành bởi các biện pháp địa phương để để quy định việc cung cấp, đặc biệt là khi lượng nước có sẵn bị giới hạn. Bao gồm các biện pháp để hạn chế ví dụ những hạn chế trong việc rút hoặc bơm nước hàng ngày và khối lượng được bơm lên, và các biện pháp để kiểm soát tiêu thụ như giá cả phù hợp. 11.2. Các tác động môi trường và các biện pháp bảo vệ 11.2.1. Tổng quan Tác động môi trường từ các dự án cung cấp nước nông thôn là có thể, và chủ yếu do khai thác định tính và định lượng mà xảy ra như là kết quả của: (a) Việc khai thác nước (sử dụng quá mức nguồn tài nguyên), (b) việc bơm lên, lưu trữ và phân phối nước, và (c) sự phân phối thực tế được thực hiện (các nhu cầu và hình thức sử dụng). Cũng như ở trên, nó cũng có thể có những tác động thứ cấp và bậc 3 lên môi trường trong trường hợp của (d) nhu cầu gia tăng do các thông tin phản hồi tích cực, 165
  18. (e) Việc đòi hỏi quá nhiều ở các nguồn tài nguyên mang đến một nguồn cấp nước tốt trong một thời gian ngắn, đi kèm với chăn thả quá mức và việc gặm nhấm thảm thực vật và những thay đổi trong các hình thức sử dụng quen thuộc. Các biện pháp bảo vệ môi trường do đó sẽ được định hướng theo định tính và định lượng và từ đó chủ yếu liên quan đến các chiến lược để ngăn ngừa việc sử dụng nước quá mức và các mối đe dọa đến vệ sinh của nó. Điều này có nghĩa không chỉ đơn giản là biện pháp có tính khả thi về mặt kỹ thuật (ví dụ việc phát triển tốt bị giới hạn hướng đến công nghệ hiện có), nhưng trên tất cả những nổ lực bổ sung để đưa ra các tổ chức tự quản dưới dạng các cuộc tuyên truyền về phương thức và vệ sinhtrong đó phụ nữa đóng vai trò quan trọng. 11.2.2. Sử dụng nguồn nước quá mức và các mối đe doạ đến chất lượng của chúng 11.2.2.1. Tổng quan Tài nguyên nước có thể bị ảnh hưởng bất lợi không chỉ định lượng, tức là đối với khối lượng của chúng và thời gian/không gian có thể có được, mà còn định tính đối với chất lượng của chúng và vì thể thích hợp để sử dụng, mà có thể xuất hiện các chất ô nhiễm, vi khuẩn v.v. Những tác động lên chúng được áp dụng bởi các hoạt động cấp nước nông thôn có thể ảnh hưởng đến chúng trong cùng một cách. Trong trường hợp lượng mưa được thu gom, việc sử dụng quá mức thì được loại trừ bởi tự nhiên Giới hạn về số lượng nước được thu gom (mà nó thường là nhỏ), ngược lại trong trường hợp mà nguồn cung cấp được khai thác từ các nguồn nước mặt, các mối đe dọa có thể phát sinh từ các nguồn nước, đặc biệt là đối với chất lượng nước. Trong trường hợp nghiêm trọng nhất các tác động bất lợi là có thể, tuy nhiên, là nơi mà nguồn cung cấp được khai thác từ nước ngầm. Trong trường hợp này có thể có những tác động có hại lâu dài, không thể thay đổi được lên nguồn tài nguyên cả về các điều kiện số lượng và chất lượng. Nước ngầm dưới đất là một nguồn tài nguyên không thể tái tạo và nhu vậy nó nên, nếu tất cả có thể, không nên khai thác bằng mọi cách. Đối với việc khai thác nước ngầm, giếng lộ thiên là có thêm rất nhiều rủi ro về vệ sinh của nước hơn là một hệ thống bơm được che kín. Trong nhiều trường hợp, nó có thể xảy ra trong các khu vực nông thôn với các cấu trúc phát triển tốt đó, cho các khối lượng tương đối nhỏ được khai thác cho cấp nước nông thôn, toàn bộ các nguồn sẵn có sẽ có đủ khả năng tái sinh để loại bỏ bất cứ mối đe dọa nào của việc sử dụng quá mức được duy trì liên tục. Tuy nhiên, nếu có thì cũng là các yếu tố bất lợi khác đang hoạt động, sau đó việc đòi hỏi qua nhiều ở các nguồn tài nguyên rất có thể xảy ra. 11.2.2.2. Sử dụng nguồn nước quá mức 11.2.2.2.1. Nước ngầm Nước ngầm là một nguồn tài nguyên nhạy cảm nhất và như vậy, các yếu tố quyết định mà chi phối khả năng tái tạo của nó là tỷ lệ phục hồi, mà nó thường là phần nhỏ của lượng mưa trung bình hàng năm. Tầm quan trọng của tỷ lệ phục hồi có thể thấy được từ ví dụ sau: - Trong trường hợp nước ngầm được bổ sung 80mm/a từ nước mưa, một hệ thống giếng làng trung bình bao gồm các giếng riêng lẻ, với một hệ thống đầu ra trong khoảng 8,000 m3 (khoảng hoạt động 10 tiếng một ngày với 0,8 đến 2 m3/h), đòi hỏi diện tích nguồn bổ cập là 10ha hoặc 0.1 km2. - Tuy nhiên, nơi mà tỷ lệ bổ sung chỉ là một phần mười của phần trích dẫn ở trên, tức là nơi 166
  19. mà nó chỉ 8mm/a, các vùng đầu nguồn cần thiết bởi hệ thống thích hợp lên đến 10 lần 100ha, hoặc đến 1km2. Ví dụ này chứng tỏ tính nhạy cảm cực độ của cạn bằng nước trong trường hợp tỷ lệ nước ngầm bổ sung là thấp hơn 10mm/a. Trường hợp các điều kiện thủy văn được định rõ là như sau, chúng có thể được sử dụng như chỉ thị một mối đe dọa của việc sử dụng quá mức nguồn nước ngầm dự trữ: - lượng mưa hàng năm rất thấp, - Lượng bốc hơi cao, - độ không thấm nước lớn và/hoặc địa tầng ngậm nước nông cạn và - một số giới hạn của tầng chứa nước treo. Các yếu tố nêu trên là ngoài tầm kiểm soát của con người nhưng cũng có nhân tố sử dụng liên quan khác, mà nó có thể dẫn đến việc đòi hỏi quá mức của các nguồn nước ngầm: - các nhóm giếng/bơm quá gần, do đó ví dụ để sự sắp xếp nghèo nàn hoặc không biết, gây ra chỗ trũng hình nón của các giếng/bơm để chồng chéo và do đó có hiệu ứng bất lợi đến năng suất của chúng, - không kiểm soát được sự gia tăng trong tỷ lệ khai thác, ví dụ do mở rộng đất chăn nuôi và/hoặc sử dụng nhiều nước hơn cho việc tưới tiêu đất nông nghiệp, - lãng phí nước,ví dụ để chạy các máy bơm hoặc phương thức hoạt động được đưa ra bởi sự hỗ trợ nâng lên quá rộng (các bơm) hoặc một cái mà có đầu ra cao vô ích. Một điều kiện tiên quyết cần thiết để ngăn ngừa sự sử dụng quá mức là như tính chính xác có thể có một sự am hiểu các thông số quản lý sự cân bằng địa chất thủy văn, tức là dòng chảy vào và dòng chảy ra từ lưu vực sông mà trong đó việc sử dụng đang xảy ra. Thông thường, các dữ liệu cơ bản có thể có, và nó chỉ có thể có được sau khi quan sát trên một số năm mà có đầy đủ thông tin về các thông số trong các câu hỏi có thể thu được, một thực tế mà ngăn cản việc thực hiện đầy đủ các dự án sớm. Do đó việc sử dụng quá mức có thể xảy ra như là kết quả của việc quy hoạch quá vội vàng (hoặc thiếu tuyệt đối việc quy hoạch trên các khu đất mà một dự án chỉ có phạm vi vừa phải) dựa trên những quan sát được thực hiện trong thời gian quá ngắn. Ở vùng khô cằn, sự cần thiết để bảo vệ cuộc sống con người đôi khi có thể có nghĩa là mối quan tâm đầu tiên này đã được bỏ qua và thậm chí nước ngầm được khai thác (không tái tạo). Tuy nhiên, bất cứ sự đòi hỏi quá mức liên tục của các nguồn tài nguyên như vậy chắc chắn phải dẫn đến sự cạn kiệt các nguồn dự trữ và do đó có thể, trong các trường hợp nhất định, có những bất lợi lâu dài ảnh hưởng đến các điều kiện của cuộc sống. Các vấn đề mang tính cơ học hoàn toàn, mặc dù những cái đó có ý nghĩa lớn đối với việc cung cấp, thường xảy ra với bơm bằng tay, mà nhiều hệ thống khác nhau được tận dụng. Thông thường, các bơm bị hỏng vì chỉ thiếu phụ tùng thay thế. Những phần sau đó chứng tỏ là không dùng được hoặc không có tiền để mua chúng hoặc không có ai sẽ chị trách nhiệm cho việc mua chúng. Kết quả là nguồn nước không sử dụng được nữa và người dân buộc phải quay lại sử dụng nước mặt mà chất lượng không được chấp nhận. Nó sẽ được rõ ràng từ trên những câu hỏi xác định trách nhiệm, của phương pháp kỹ thuật được dùng và của hậu quả mà phí sử dụng nước cần để đảm bảo việc vận hành liên tục và sự bảo dưỡng thích hợp với cái đang được xem xét mà được bao trùm trong một dự án, và được bao trùm cùng với nhóm mục tiêu với sự tham gia đầy đủ của, trên tất cả, phụ nữ những người mà có nhiệm vụ lấy nước. 167
  20. 11.2.2.2.2. Nước mặt Các đập đất có chiều cao vừa phải (khoảng vài mét) thường được xây dựng xung quanh hoặc qua các con sông/các bộ phận của nước, hoặc tại chân của các thung lũng hoặc hẻm núi thích hợp ở đầu nguồn liên kết, để lưu trữ nước mặt cho các mục đích khác nhau (ví dụ cấp nước, tưới tiêu) và làm cho nó sẵn có trong thời gian dài hoặc quanh năm (xem thêm các tóm tắt về môi trường Công trình Thủy lợi nông thôn). Điều đó sẽ chỉ có các tác động thông thường lên sự cân bằng nước, và đặc biệt là trên các điều kiện nước ngầm, hạ nguồn của một công trình ngăn nước nếu khối lượng nước bị ngăn lên đến một tỷ lệ tương đối cao so với dòng chảy của sông hoặc bộ phận của nước khi không bị ngăn chặn (túc là nếu nó mang đến một sự xả nước từ mức độ thấp hơn có nghĩa là xả nước yếu). Mặc dù điều này hiếm khi được thực hiện, nên việc xả nước hoàn toàn được ngăn lại sau khi dòng nước sẽ khô cạn và mực nước sẽ được hạ thấp. Nó khuyến khích một nghiên cứu để thực hiện trong từng trường hợp riêng lẻ, và một sự ước tính sẽ được thực hiện trên cơ sở của những phát hiện, cho dù khối lượng của nước được khai thác (sự thất thoát ít hơn có thể quy cho việc sử dụng là một ví dụ) sẽ ảnh hưởng đến sinh thái và nếu xảy ra thì thế nào. Đồng thời, một đánh giá chính xác nhất có thể có phải được thực hiện cho dù tổng lượng nước bị ngăn là hợp lý trong phương diện của các tác động nghiêm trọng lên sự cân bằng nước ở hạ nguồn. Sự thấm của nước mặt để bổ sung nguồn nước ngầm đã bị lạm dụng, mục tiêu tăng thêm sự làm sạch nước như nó thấm qua đất, chỉ có thể được dự tính khi các điều kiện địa chất thủy văn nói chung là thích hợp và khi sự dự trữ đấy đủ nước mặt là có thể và do đó nó sẽ luôn là một ngoại lệ. Nó tạo ra ý thức tốt hơn trong trường hợp như thế này đối với nước được lọc ở trên mặt đất hoặc đối với một hệ thống khai thác nước để lắp đặt dọc theo dòng sông trong hình thức của một bức tường ngăn không cho nước thấm qua với sự thu gom nước với các cơ sở cho việc rút nước ở hạ nguồn và một cơ cấu lọc hướng về phía thượng nguồn. 11.2.2.3. Các khía cạnh chất lượng của việc lưu trữ và sử dụng quá mức nguồn nước Có những tác động môi trường được gây ra bởi việc lưu trữ không đúng nước mưa được thu gom và nước mặt được ngăn lại và bởi sự ô nhiễm và sử dụng trái phép nguồn nước như nó đang được vận chuyển trong các kênh hở. Nó là đặc biệt trong các vùng nông thôn mà kết quả của những nguy cơ vệ sinh của việc vận chuyển các bệnh lây truyền qua nước là cao, trong đó, nước mặt thì nói chung được sử dụng rộng rãi cho người và gia súc, những cái liên quan đến nước thì không phải chịu bất kỳ phần nào của việc định hạn ngạch, và các nguy cơ sức khỏe thí, nói chung, không được đánh giá thích đáng. Suy giảm chất lượng nước được gây ra chủ yếu do sự chảy tràn cùng với ánh sáng mặt trời và tảo và sử phát triển của thực vật và bởi nguy hiểm rõ rệt của nước tĩnh nói chung. Nếu đó cũng là một nguồn cung cấp chất dinh dưỡng phong phú kết hợp với một tỷ lệ trao đổi nước thấp, sau quá trình phì dưỡng có thể xuất hiện trong các bộ phận ngăn nước, nói chung là nông. Những nguy cơ sức khỏe (bệnh sốt rét, bệnh do giun gây ra, bệnh tiêu chảy) gây ra bởi nước được lưu trữ loại này là phức tạp bởi sự sinh sôi nảy nở của các côn trùng, bởi khả năng của phân người và động vật trên các bờ sông và bờ biển, và do việc xả nước thải. Một khả năng khác là ô nhiễm do việc sử dụng thuốc trừ sâu ở những nơi đầu nguồn nước được thu gom. Trong kết nối này, sự chăm sóc phải được thực hiện để đảm bảo sự phân ranh giới nghiêm ngặt của lưu vực sông (như là một khu vực bảo vệ nước) và sự ngăn tách của các hệ thống cấp nước cho con người khỏi động vật nuôi của họ (và, khi cần thiết, lọc nước đã khai thác). 168
  21. Trong trường hợp nước mưa được lưu giữ trong các bể chứa nước, các nguy cơ về sức khỏe gia tăng như là một kết quả của sự suy giảm chất lượng nước, cái mà có thể được gây ra bởi thời gian lưu nước lâu trong các bể chứa trong một số trường hợp, bởi việc lựa chọn vị trí thích hợp (tiếp xúc với bức xạ mặt trời), do thiếu việc làm sạch thường xuyên, bởi hiệu ứng của các vật liệu có liên quan (ví dụ sự ăn mòn của các tấm vật liệu làm bể chứa), hay bởi sự xâm nhập của bụi đất và động vật (mà chúng chết và phân hủy trong các bể chứa) được cho phép bởi việc thiếu các nắp bể hoặc các nắp bể không được đóng kín. Thậm chí clo trong nước, mặc dù được tận dụng để diệt vi khuẩn, đòi hỏi việc xem xét đến những nguy cơ sức khỏe nếu ứng dụng không đúng cách. 11.2.2.4. Khía cạnh chất lượng của hệ thống phân phối nước không dùng đường ống Có những tác động tiêu biểu mà được tạo ra tại các điểm phân phối cả nơi mà các điểm này là các giếng hở nhỏ hoặc các giếng được trang bị bơm và và nơi chúng phụ thuộc vào các hệ thống khai thác nước từ nước mặt. Có vô số cách có thể có như với nước ngầm nói chung và nước trong một cái giếng hoặc bộ phận của nước có thể bị ô nhiễm. Các nguồn ô nhiễm chủ yếu sản sinh những rủi ro sức khỏe riêng biệt của các bệnh truyền nhiễm mà cần được đề cập là: 11.2.2.4.1. Gần điểm phân phối (giếng/điểm lấy nước) - sự rò rỉ từ các động cơ hoặc xô truyền động (nhiên liệu dầu diesel, dầu nhớt), với các giếng mở thì có nhiều nguy cơ rủi ro hơn là các giếng kín có bơm, - sự xâm nhập của các chất ô nhiễm như là kết quả của các mục được sử dụng 9 đối với việc rút nước (các xô bẩn được nâng lên và các thùng chuyển nước), 9 cho việc vận chuyển nước bằng xe hơi, xe tải hay súc vật thồ, nơi có nguy cơ ô nhiễm với xăng, dầu diesel nhiên liệu và phân, 9 cho việc làm sạch của con người và việc giặt giũ (chất tẩy rửa, photphat, phân), 9 nước cho vật nuôi, nơi có thể có phân súc vật còn lại, chất bẩn của gia súc, và sự phá hoại lớn hơn của côn trùng và thuốc trừ sâu. 9 đối với việc bổ sung và làm sạch thiết bị phun thuốc trừ sâu cho việc kiểm soát dịch hại. 11.2.2.4.2. Tại toàn bộ các điểm khác trong lưu vực - sự ô nhiễm được gây ra bởi các hoạt động hoàn toàn khác không liên quan trực tiếp đến việc khai thác nước như là nông nghiệp (phân bón, phân bón bán chất lỏng, thuốc trừ sâu), các ngành công nghiệp thủ công và công nghiệp nhẹ (dầu, nhiên liệu diesel và xăng dầu, v.v.) và xử lý nước thải và chất thải rắn. Một điểm mà cần đề cập đến là sự bảo quản nước ngầm, mặc dù mong muốn nó có thể đưa ra các khu vực bảo nước để ngăn chặn sự suy yếu chất lượng của nước ngầm bởi con người và động vật, điều đó rất khó để đạt được trong thực tế và nó là chỉ khả thi nếu người dân được giải thoát khỏi nhu cầu đối với nó. Tuy nhiên nếu một vài biện pháp bảo vệ ban đầu được thực hiện ngay gần vùng lân cận của một điểm lấy nước (giếng, bơm, bể cộng đồng, điểm rút nước mặt, suối), điều này trong bản thân nó sẽ là một bước đầu tiên trong phương pháp để giảm nhẹ rủi ro trên và từ đó cải thiện tình trạng sức khỏe. Điều gì là cần thiết ở đây sẽ được tiến hành để chỉ dẫn cho mọi người và nâng cao sự nhận thức công cộng và điều đó sẽ cần phải được tập trung vào tất cả những người phụ nữ, ngững người mà có trách nhiệm lấy nước và cho sinh hoạt vệ sinh và sức khỏe gia đình. Một sự bắt đầu có thể được thực hiện bằng cách ngăn chặn các điểm lấy nước như là các giếng làng và đảm bảo rằng chúng được phân bổ cho những sử dụng củ thể (con 169
  22. người/động vật, lấy nước/rửa và giặt giũ/nước cho chăn nuôi) và được phân chia hợp lý theo quy luật tự nhiên cho mục đích đó và cơ sở an toàn và tin cậy cho việc xả nước thải. Như một bước xa hơn hướng về cung cấp sạch, các điểm lấy nước thực tế phục vụ các nhu cầu khác nhau của thực tại, điều cũng cần được thực hiện là đưa ra một hệ thống giám sát và kiểm tra để duy trì và hồi phục các điểm và ngăn chặn bất cứ thiệt hại môi trường nào. Trong hệ thống này phụ nữ, một lần nữa sẽ, có một phần rất quan trọng để hoạt động (như giám thị là một ví dụ). Dựa vào số lượng ngày càng tăng của các cửa hành sữa chửa xe hơi và các trạm xăng dầu ở nhiều nước, những điểm trọng tâm khác của sự chú ý sẽ cần phải được phát triển và thiết lập các thiết bị tách xăng và dầu (bẫy dầu). 11.2.3. Tăng nhu cầu sử dụng như là kết quả của sự phản hồi tích cực Sự tồn tại của một hệ thống cung cấp nước thuận lợi và hiệu quả, cùng với một sự cải tiến toán bộ các điều kiện trong các khu vực nông thôn, có thể đưa ra cơ hội để gia tăng nhu cầu. Điều này có nghĩa là sự gia tăng trong việc khai thác, thường không kiểm soát được và chủ yếu là từ nước ngầm, và và điều này có chiều hướng sẽ nhấn mạnh các tác động định lượng lên các nguồn tài nguyên có liên quan. Tính đến thời điểm này, và cho các khối lượng nhỏ được tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản (xem phần 1), vấn đề nước thải sẽ được rất ít mối quan tâm, nhưng bây giờ các bằng chứng sẽ bắt đầu được xem xét như các tác động bất lợi nó có thể có trong chất lượng nước mặt và nước ngầm và do đó, gián tiếp, lên sức khỏe con người và động vật. Bước đầu tiên có thể thực hiện để chống lại những hậu quả là những điều như chỉ dẫn trong vệ sinh và xây dựng các nhà vệ sinh VIP 2). Đây là trường hợp khác nơi mà những người phụ nữa, , những người có trách nhiệm sử dụng nước và bảo đảm vệ sinh sinh hoạt, sẽ cần phải chủ động tham gia từ lúc đầu. 2) VIP=Nhà vệ sinh thông gió cải tiến 11.2.4. Sử dụng quá mức xuất phát từ việc cung cấp nước tốt Một sự cung cấp nước tốt ở các khu vực nông thôn có thể dẫn đến một sự gia tăng trong việc chăn nuôi, với tất cả những hậu quả tác động bất lợi này có thể có như chăn thả quá mức và việc gặm nhấm thảm thực vật và sự nén chặt đất. Trong thời gian dài nó cũng có thể có những tác động thứ cấp, như là sự thay đổi trong vi khí hậu được gây ra bởi những cuộc tấn công lên thảm thực vật (ví dụ như sự gặm nhấm các cây xanh bởi những con dê gây ra những thay đổi vi khí hậu quan trọng về mặt sinh thái gần với mặt đất) hoặc sự xói mòn nước hoặc gió nơi mà tất cả phần quan trọng của tầng đất mặt bị tách ra khỏi như là một kết quả của việc chăn thả quá mức và mất thực vật phủ. Các tác động bất lợi cũng có thể phát sinh từ việc bố trí vật lý và vị trí của các điểm cung cấp (ví dụ các giếng) khi sau này là không hướng đến những nhu cầu xã hội – kinh tế của nhóm mục tiêu. Các nhóm từ người dân du cư là ví dụ cần các điểm cung cấp mà nằm trong một sự trôi đi của một vài ngày ngay cả khi thời tiết xấu và/hoặc thức ăn không đủ. Điều này không thể có trong trường hợp nhất định, do đó thời gian lưu trú trung bình tại một điểm lấy nước là được mở rộng phù hợp và rủi ro của việc sử dụng quá mức trở nên quá lớn. Trong trường hợp xấu nhất, lối sống du cư có thể được bỏ trong sự tán thành của một lối sống gần như là định canh định cư, và điều này sẽ làm tăng các tác động mà những hậu quả xã hội và kinh tế - xã hội sẽ rất khó để dự đoán trước. Trong trường hợp này, các kế hoạch của dự án phải được soạn thảo cùng với các nhóm mục tiêu và phải cho phép sự tồn tại, thường nước truyền thống và quyền chăn thả dường như cùng một lúc, bằng cách cung cấp cho con người sự giải thoát và làm cho họ 170
  23. nhận thức được mối quan hệ tồn tại (và có thể là do giá nước không phù hợp), họ cũng phải có đủ khả năng giải quyết tiết kiệm tài nguyên. 11.3. Các lưu ý khi phân tích và đánh giá các tác động môi trường Một điều kiện tiên quyết quan trọng cho cả việc phân tích và đánh giá tác động môi trường từ cung cấp nước sạch nông thôn là sự xác định của việc cung cấp nước sử dụng được. Các nhân tố mà có một quyết định mang lại mức độ sử dụng hợp lý trong trường hợp này là khả năng tái tạo trong trường hợp nước ngầm và lưu vực và đường cong sản lượng của nó với thời gian trong trường hợp của nước mặt. Những rủi ro đặc biệt gắn với việc sử dụng nước ngầm, đối nguồn này là không thể tái tạo. Ước lượng không chính xác của các nguồn nước có sẵn là có thể tồn tại một cách đặc biệt trong các vùng khô cằn và bán khô cằn, nơi không chỉ có thể có những biến động rõ rệt từ năm này qua năm khác trong về sản lượng nhưng cũng có thể không thấy rõ được sự tái sinh của các nguồn tài nguyên cho một số năm do thiếu lượng mưa. Dưới các trường hợp đó nó chỉ hợp lý để thực hiện sự ước lượng bằng cách tham khảo các giá trị trung bình đo được qua nhiều năm khi các tầng ngậm nước chứa nước ngầm là dày và bao phủ các khu vực rộng lớn. Tại những nơi các nguồn tài nguyên bị ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên bất lợi, sẽ hạn chế các cơ hội để cung cấp cho một nguồn cung cấp phân tán, và và đặc biệt là một nguồn cung cấp phân tán cho các trung tâm nông thôn của người dân, nơi tập trung khá nhiều dân số sẽ có nghĩa là một số giếng đặt cách nhau khoảng cách tương đối gần sẽ là cần thiết nhưng các giếng sẽ ảnh hưởng đến sản lượng lẫn nhau. Các hạn chế hơn nữa có thể phát sinh từ, ví dụ, sự ô nhiễm của nước ngầm bởi các hố rác và giếng tiêu nước, những nơi rửa ráy, và các máng uống nước cho vật nuôi. Những khảo sát về tình hình hiện tại và những thay đổi tiềm tàng (trong người dân, lượng tiêu thụ trên đầu người, hoạt động thương mại, v.v) sẽ là cần thiết, cùng với các phân tích và đáng giá các tác động địa phương của các mối nguy hiểm tiềm tàng. Một trong những điều kiện tiên quyết cần thiết đối với việc phân tích và đánh giá các tác động môi trường của cấp nước nông thôn là một kiến thức về tính chất khí hậu và các điều kiện thủy văn (hướng và độ mạnh của gió, lượng mưa, sự bốc hơi, nhiệt độ, và mực nước và mức nước ngầm), những cái mà cho phép tại nơi bắt đầu trong sự đề cập đến năng suất và sự phục hồi và kết quả các cơ hội để sử dụng. Ở nhiều nước dữ liệu cơ bản có sẵn, trong các hình thức tập hợp liên tục các phép đo kéo dài mở rộng qua nhiều năm, có thể thiếu các điểm đo lường có thể được ít về số lượng và, như thường xảy ra, bên ngoài khu vực dự án, và điều này có thể là cần thiết để tham gia vào các cuộc khảo sát đo lường thêm vào trong thời gian dài để thu được những kiến thức trên. Quá trình này, mặc dù là cần thiết để đảm bảo rằng việc lập kế hoạch và việc thực hiện có sự ủng hộ có tính khoa học thích hợp và việc sử dụng bền vững sẽ có thể, thường việc vận hành trái ngược với nhu cầu cấp thiết cho các hệ thống cung cấp để tạo ra một cách nhanh chóng và có thể đáp ứng với sự không hiểu được một phần của, chẳng hạn, con người bị ảnh hưởng. Ngoài ra, cung cấp nước là một lĩnh vực nhạy cảm, và điều này có thể sẽ là cần thiết để yêu cầu không chỉ kiến thức kỹ thuật mà còn là kiến thức xã hội học và nhân chủng học. Các câu hỏi có liên quan đến các vấn đề như là cấu trúc xã hội, sự tổ chức chính quyền/ truyền thống của làng, thuế tiêu thụ nước, vệ sinh sinh hoạt, tình hình thu nhập (trong mối quan hệ với các chi phí cho nước), các quyền về nước và trồng cấy, và vai trò của phụ nữ tất cả cần phải được làm rõ với những người liên quan, nếu có thể trong giai đoạn đầu. 171
  24. Nói chung, những tiêu chuẩn (giá trị giới hạn, các hướng dẫn và chỉ dẫn) liên quan với các nhu cầu chất lượng của nước (bao gồm các điều kiện vệ sinh) từ quan điểm trên, và các giới hạn đối với tình trạng xấu của việc sử dụng cho (hậu quả) các ứng dụng cạnh tranh. Các tiêu chuẩn ràng buộc các mối quan hệ mật thiết của sinh thái và kinh tế - xã hội và các tác động không tồn tại, và do đó sẽ có một cơ hội tiếp tục cho các diễn giải khác nhau về chúng. Có một phạm vi cơ bản của các yếu tố cấu thành, các kiến nghị của phạm vi trên toàn thế giới (xem phần 6) trong các nhu cầu về nước sạch, nhưng thông qua nhiều nước với pháp luật quốc gia thích hợp của riêng họ có thể đã được thực hiện theo các kiến nghị, có các vấn đề chính trong việc kiểm tra và đảm bảo việc tuân thủ của họ trên thực tế. Các tiêu chuẩn cho các giới hạn về tình trạng xấu có thể có của việc sử dụng (ví dụ các số liệu về lượng tiêu thụ trên đầu người đối với con người và động vật, xem phần 1) trong thực chất, sự kéo theo đơn giản như các con số theo quy tắc kinh nghiệm. Tuy nhiên, sự đa dạng của các yếu tố để chú ý đến, nó có vẻ như nghi ngờ liệu chúng sẽ có khả năng ứng dụng chung và đối với các lý do này luôn luôn được ưu tiên cho một điều tra về khu vực nghiên cứu Bởi sự mở mang sự hiểu biết và nhận thức thích hợp của công chúng, một sự cố gắng cần được thực hiện trong vài dự án để mang lại các nhu cầu cho việc bảo vệ môi trường mà cao nhất có thể có trong các giới hạn được thiết lập bởi các nhân tố kinh tế-xã hội và văn hóa, với tầm quan trọng đặc biệt đang được gắn liền với sự tham gia của người phụ nữ trong vai trò của họ như là trách nhiệm cá nhận đối với việc cấp nước trong khu vực nông thôn. 11.4. Mối tương tác với các lĩnh vực/phạm vi/ngành khác Nơi mà cung cấp nước nông thôn có các điểm giao tiếp gần với các khu vực mà tạo ra nhu cầu về nước cao hơn, việc sử dụng nước như là một trong những mục tiêu trực tiếp hoặc gián tiếp của họ, hoặc ảnh hưởng đến chất lượng nước hoặc hạn chế lượng nước sẵn có. Các ngành có liên quan chính ở đây là nông nghiệp (xem các khu vực nông nghiệp rộng rãi khác 3) trong đó nó có thể bao gồm việc sử dụng các nguồn cung cấp giống nhau của nước ngầm và nước mặt, với khả năng các tác động thêm vào được tạo ra bới việc khai thác vùng phụ cận. Nó có thể có sự tương tác với ngành phụ sau đây, và sự tương tác như vậy cần được kiểm tra về các hậu quả của nó trong mỗi trường hợp cụ thể: 3) sản xuất cây trồng, bảo vệ thực vật, trồng rừng, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, thủy lợi, chăn nuôi nông trại, và nông-công nghiệp. - kế hoạch khung cấp nước - Kỹ thuật thủy lợi nông thôn - Xử lý chất thải rắn – Thu gom, xử lý và thải bỏ - Xử lý nước thải (và nước mưa) – Thu gom, xử lý, thải bỏ/thải bỏ - Kỹ thuật về sông và kênh đào - Kiểm soát xói mòn - Kỹ thuật thủy lợi phạm vi rộng - Quy hoạch không gian và khu vực/vùng. Việc cung cấp nước chiếm một vai trò quan trọng trong việc quyết định như thế nào, và cường độ bao nhiêu, và khu vực hoặc vùng có thể được phát triển và do đó có tác động 172
  25. lên tất cả các dự án và các ngành mà có liên quan đến việc quy hoạch để bảo tồn, cải thiện hoặc phát triển cơ sở hạ tầng. 11.5. Tóm tắt về các thoả đáng về môi trường Các dự án cấp nước nông thôn là các cách thức góp phần để đảm bảo sự bảo tồn lâu dài cuộc sống của con người và chất lượng cuộc sống. Rất có thể cho việc lập kế hoạch và thực hiện dự án cung cấp nước nông thôn để được hướng về đáp ứng nhu cầu của môi trường và bảo vệ tài nguyên.Trong các điều kiện chung, những điều cần phải nhớ là chỉ hiếm khi có tiện nghi riêng biệt như là giếng, bơm được bố trí và thu gom từ bồn/bể chứa nước tạo ra bất kỳ các tác động môi trường chủ yếu của chính nó, và rằng nếu có thiệt hại môi trường, nó thường không xuất hiện cho đến khi các cơ sở đó trở nên được tập trung và sử dụng quá mức, đặc biệt trong sự đề cập đến nước chăn nuôi. Các bơm tay được sử dụng rộng rãi nhất để hỗ trợ việc lấy nước lên, và nó là đặc biệt nơi mà nó được tận dụng để việc bảo dưỡng được thực hiện để thấy rằng các thiết bị được chọn là mạnh mẽ bà dễ dàng để duy trì và vẫn được sử dụng để thay thế, bởi vì nếu họ không làm điều này sẽ gây nguy hiểm cho mục tiêu của bất cứ dự án nào sẽ cung cấp một nguồn cung cấp phù hợp và chất lượng nước tốt và sẽ buộc người dân trở lại để sử dụng các điểm lấy nước mở kéo theo nguy cơ cho sức khỏe của họ4) 4) Người phụ nữ có trách nhiệm truyền thống cho việc cung cấp nước và họ là người mà phải cần được đào tạo không chỉ để điều khiển mà còn duy tu các máy bơm. Để tổng hợp, danh sách sau đây là các tiêu chí đó phải được đáp ứng tốt hơn định hướng môi trường của một dự án: (1) Tổng sản lượng nước phụ thuộc vào thời gian phải được nghiên cứu trong thời gian dài theo các xu hướng thủy văn và khí hậu phải được xem xét; (2) Nó phải được quyết định cái mà được yêu cầu theo cấu trúc sơ đồ xã hội của vùng nông thôn và những giới hạn mà được thiết lập đối với sự phát triển có thể có, với sự cho phép của các cấu trúc mà tính truyền thống và tính dân tộc được đặt ra tại đây; (3) Những người lập kế hoạch phải được ràng buộc bởi một kế hoạch tận dụng toàn bộ mà làm một sự phân chia định lượng của việc cung cấp sẵn có và đặt dưới quyền ưu tiên giữa những sử dụng; (4) Công nghệ được hướng đến các kế hoạch tận dụng phải được phát triển và áp dụng, với sự tham gia tích cực của các nhóm mục tiêu trong giai đoạn đầu, các bước phải được thực hiện để đảm bảo rằng các hoạt động và sự duy trì sau đó sẽ có thể tồn tại (phí sử dụng nước), và tính có thể truyền lại/chuyển giao của các giải pháp một cách thành công được áp dụng ở nơi nào khác phải được xem lại một cách cẩn thận. Kinh nghiệm nói rằng các mức độ thứ bậc của việc quy hoạch là một điều kiện tiên quyết cần thiết để đáp ứng các tiêu chuẩn nêu trên và thực hiện một kiểm chứng tốt cho các dự án cấp nước nông thôn phụ thuộc vào các chương trình phát triển vùng nông thôn. Nó là đặc biệt quan trọng để những cái đó được cấu trúc theo cách này bởi vì những cơ hội để kiểm soát khu vực nhạy cảm của việc cung cấp nước (ví dụ bằng cách hạn chế khai thác nước) là được giới hạn và sự an toàn cần thiết để xây dựng không muộn hơn so với giai đoạn lập kế hoạch. 11.6. Tài liệu tham khảo 1. Alheritiere, D.: Environmental Assessment and Agricultural Development. FAO Environment Paper 2, Rome, 1981. 173
  26. 2. BMZ: Wasserversorgung und Sanitärmaßnahmen in Entwicklungsländern "Sektorpapier" of 22 May 1984. 3. Caponera: Water Laws in Moslem Countries: FAO Irrigation and Drainage Papers, No.20/2, Rome, 1978. 4. DHV Consulting Engineers: Shallow Wells, 2nd ed., 1979. 5. Dyck, S. and Peschke, G.: Grundlagen der Hydrologie, Verlag Ernst & Sohn, Berlin, 1983. 6. EC Directive the on quality required of surface water intended for the abstraction of drinking water in the Member States. 7. EC Directive on the quality of water intended for human consumption. 8. EC Directive on the protection of groundwater against pollution caused by certain dangerous substances. 9. Environmental Protection Agency: National Interim Primary Drinking Water Regulations, 1983. 10. Gesetz zur Ordnung des Wasserhaushalts (Wasserhaushaltsgesetz, WHG) und Wassergesetze der Länder, 1976. 11. Glamie, C.: Village Water Supply in the Decade, John Wiley & Sons, 1983. 12. GRET: La Construction de Citernes. Dossier no.4, Groupe de Recherche et d'Echanges Techniques, Paris, 1984. 13. GRET: Le Captage des Sources. Dossier no.10, Groupe de Recherche et d'Echanges Techniques, Paris, 1987. 14. GTZ: Community Participation and Hygiene Education in Water Supply and Sanitation (CPHE). 1989 15. Hofkes, E.H.: Small Community Water Supplies. John Wiley & Sons, 1983. 16. Mutschmann, J. and Stimmelmayr, F.: Taschenbuch der Wasserversorgung, Franckh'sche Verlagshandlung, Stuttgart. 17. Richtlinien für Trinkwasser-Schutzgebiete. DVWG-Arbeitsblätter, W 101, 1.Teil Schutzgebiete für Grundwasser, 1975 18. Schulz, Ch.R., Okun, D.A.: Surface Water Treatment for Communities in Developing Countries. John Wiley & Sons, 1984. 19. Technische Regeln für die Ausführung von Pumpversuchen bei der Wasser- erschließung. DVWG-Arbeitsblätter, 1975. 20. Teclaff: Legal and Institutional Responses to growing Water Demand. FAO Legislative Study No.19, Rome, 1980. 21. UNDP/World Bank: Community Water Supply, the Handpump Option. 1987. 22. Verordnung über Trinkwasser und über Brauchwasser für Lebensmittelbetriebe (Trinkwasser-Verordnung), 1975. 23. World Bank: Rural Water Supply and Sanitation, Time for a Change. World Bank Discussion Paper, No.18, 1987. 24. World Bank: Information and Training for Low-Cost Water Supply and Sanitation. Various Participant's Notes: 1985: - 3.1 Health Aspects of Water Supply and Sanitation - 4.2 Wells and Handpumps - 5.1 On-site Sanitation 174
  27. - 5.2 Water-borne Sanitation - 5.3 Sanitation Technology Selection 25. WHO Collaborating Centre: Practical Solutions in Drinking Water Supply and Wastes Disposal for Developing Countries. WHO Technical Paper Series, No.20, 1982. 26. WHO Collaborating Centre: Small Community Water Supplies. WHO Technical Paper Series, No.20, 1982. 27. WHO: International Standards for Drinking Water. Geneva, 1984. 175
  28. 12. Xử lý nước thải 12.1. Phạm vi 12.1.1. Các định nghĩa Nước thải là nước có đặc tính đã được thay đổi bởi việc sử dụng trong sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp hoặc việc sử dụng khác và nước (nước thải) được thải ra với nó trong suốt lúc không mưa cũng như các dòng chảy và nước được thu gom (nước mưa) từ các khu vực xây dựng hoặc lát đường do trận mưa rào. Nước cống cũng bao gồm các chất lỏng được thải ra và thu gom từ các nhà máy xử lý và lưu trữ chất thải. Việc quản lý nước ở cộng đồng, một sự phân chia của việc quản lý nguồn tài nguyên nước, bao gồm tổng tất cả các biện pháp bảo vệ môi trường mục tiêu để cung cấp cho cộng đồng, thương mại và công nghiệp với sự thỏa mãn về nước sạch hoặc nước công nghiệp cũng như xử lý nước thải sinh hoạt, thương mại và công nghiệp từ các khu vực đó. Việc xử lý nước thải, một sự phân chia việc quản lý nước cộng đồng, về cơ bản bao gồm việc thu gom, vận chuyển, xử lý và thải bỏ chất thải. Các quy tắc chung của những công nghệ được chấp nhận bao gồm những quy tắc mà đã được kiểm tra trong các ứng dụng thực tế, như là phần lớn những người làm việc trong lĩnh vực chuyên môn có liên quan đến các quá trình, nhà máy, các cơ sở hoặc các cách thức vận hành đúng (3). Bản chất kỹ thuật của các quy tắc có thể khác nhau thông qua yêu cầu của từng nước riêng biệt. Công nghệ tiên tiến là tình trạng của sự phát triển của các quá trình, nhà máy, các cơ sở hoặc các cách thức vận hành nâng cao, sự đảm bảo thực hiện phù hợp như là các biện pháp kỹ thuật. Để xác định trạng thái kỹ thuật, một sự đánh giá phải được thực hiện trong các quá trình, nhà máy, các cơ sở hoặc các cách thức vận hành cụ thể có thể so sánh được mà nó có thể được kiểm tra thành công trong quá trình hoạt động (4). Bản chất kỹ thuật của công nghệ tiên tiến có thể khác nhau thông qua yêu cầu của từng nước riêng biệt. 12.1.2. Các vấn đề Sự phát triển công nghiệp rộng lớn của các thập kỷ gần đây, với các hiệu ứng của nó lên sự sản xuất hàng hóa và lên các mô hình tiêu dùng và các thói quen sức khỏe của người dân, đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong khối lượng nước thải. Ở góc độ này, mục tiêu xử lý nước thải (WWT), liên quan đến các phân tích cẩn thận và được tính đến không chỉ các điều kiện địa phương và các sự lựa chọn mà còn các khía cạnh môi trường của nhà máy có liên quan, có thể dẫn đến những cải tiến cần thiết. Theo quy định, những cái liên quan đến các biện pháp không những trong các lĩnh vực công nghệ xử lý nước thải, mà còn trong các lĩnh vực luật pháp, hành chính, quản lý kinh doanh và tổ chức. Những cải tiến cần thiết cũng nên nhằm mục đích để đạt được sự trình bày hợp lý cho những người phụ nữ, như là một trong những nhóm đối tượng, trong các tổ chức và các cơ quan chịu trách nhiệm xử lý nước thải. Đây là cách tốt nhất để bảo đảm rằng lợi ích hợp pháp của họ trong sự tham gia vào sự phát triển và thực hiện hành chính, kinh doanh và các quy tắc giám sát môi trường sẽ được đáp ứng. 12.1.3. Mục tiêu Kiểm soát việc xử lý nước thải và nước mưa hình thành một phần quan trọng của cơ sở hạ tầng các khu định cư của con người được xây dựng trên nguyên tắc vệ sinh và do đó là cơ bản để các nổ lực nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống. Hơn nữa nó là một thành phần thiết yếu của quản lý chất lượng nước, mục tiêu nên có là: 176
  29. - để duy trì sự cân bằng sinh thái của các nguồn nước và – nơi mà nó đã bị làm xáo trộn – để khôi phục lại nó, - để đảm bảo một sự cung cấp nước được bảo đảm về số lượng và chất lượng cho mọi người nói chung cũng như cho thương mại và công nghiệp – với sự nhấn mạnh đặc biệt về tính bền vững lâu dài – và - để cho phép tất cả nguồn nước khác được sử dụng mà phục vụ cho cả phúc lợi của mọi người nói chung và những nhu cầu hợp pháp nói riêng trong thời gian dài.(5) Các số liệu cho thấy rằng ở nhiều nước có một sự mất cân bằng rõ rệt giữa việc cấp nước và xử lý nước thải. Đó là vì, ở nhiều nước trong các vấn đề, sự ưu tiên rõ ràng được dành cho vấn đề cấp nước, mà không phải trả ít nhất là sự chú ý công bằng đến sự phát triển cần thiết của các cơ sở xử lý nước thải. Tương tự cũng áp dụng đối với mối quan hệ giữa cung cấp nước và xử lý nước thải trong các cơ sở thương mại và công nghiệp. Trong tóm tắt môi trường này, các vấn đề xử lý nước thải thành phố cũng được ưu tiên lớn hơn. Các vấn đề của xử lý nước thải thương mại và công nghiệp – bởi vì sự phức tạp và phạm vi của chúng – có thể cũng được thông tin một cách chọn lọc. 12.1.4. Các giai đoạn của quá trình xử lý nước thải Khu vực xử lý nước thải của thành phố nói riêng có thể bao gồm các giai đoạn xử lý sau đây: - thu gom nước thải - di dời/vận chuyển nước thải - xử lý nước thải - việc xả nước thải - xử lý vấn đề phân (từ các nhà vệ sinh và những lắp đặt tương tự) - xử lý bùn. Các giai đoạn xử lý được đề cập có thể xem xét cho cả nước cống (sinh hoạt, thương mại, công nghiệp) và nước mưa. Trong khía cạnh đó một điều không được quên là nước thấm qua, cái mà bao gồm ví dụ như nước ngầm mà thẩm thấu thông qua cống rãnh rò rỉ, hoặc việc thoát nước mà là kết quả từ mực nước ngầm hạ thấp và được chảy qua mạng lưới thoát nước. Trong từng giai đoạn xử lý nước thải riêng biệt các quá trình sau được diễn ra: - Thu gom nước thải: thu gom nước thải tại nguồn sử dụng chuyển tiếp, các tuyến ống đặt ngầm cũng như từ các hố thu gom nước thải, các hố phân, các nhà vệ sinh v.v. - vận chuyển nước thải: sự vận chuyển nước thải thông qua các cống rãnh (trong trường hợp nước mưa cũng được dẫn qua các mương hở) được sử dụng riêng biệt, kết hợp hoặc các hệ thống cống thải duy nhất (sau cùng không cần vận chuyển nước mưa trung gian). - xử lý nước thải: sự áp dụng các quá trình vật lý, sinh học (hiếu khí hoặc kỵ khí) và hóa học với mục đích giảm tối đa các chất chứa trong nước thải cái mà gây hại cho môi trường, và đặc biệt đối với nước, hoặc của việc giảm các hiệu ứng có hại của chúng tới mức độ cần thiết. - Việc xả nước thải: trả lại nước thải (thường sau khi xử lý) vào vòng tuần hoàn nước tự nhiên (ví dụ sử dụng các bể lọc chảy tràn cho các bể lọc ngược dòng trong hệ thống 177
  30. kết hợp nước mưa chảy tràn trong các hệ thống hoặc các kênh tiếp nhận riêng rẽ trong các công trình xử lý nước cống) - xử lý bùn: quá trình giảm thiểu hoặc xử lý bùn Tác động môi trường của các giai đoạn xử lý được mô tả đầu tiên nên được xem xét riêng để đánh giá tầm quan trọng của chúng. Một đánh giá tích hợp, cũng được tính đến bất kỳ sự tương tác quan trọng, sau đó nên được thực hiện cho dự án. Trong trường hợp xử lý nước thải thương mại và công nghiệp, ta nên tiến hành một cách tương tự như trên cơ sở các giai đoạn xử lý nêu trên, cho cả người sản xuất xả nước thải trực tiếp và gián tiếp. Tuy nhiên, có một giai đoạn xử lý quyết định hơn mà phải được cân nhắc đầu tiên, cụ thể là liên quan đến giai đoạn tránh hoặc giảm thiểu nước thải, có tính đến số lượng (lưu lượng dòng chảy) và tải trọng ô nhiễm (khối lượng dòng chảy). Trong khía cạnh đó các vấn đề về nguyên liêu đầu vào của việc sản xuất cũng như sự sản xuất của chính bản thân nó, tức là quá trình sinh ra nó nó, là đặc biệt quan trọng. 12.2. Các tác động môi trường và các biện pháp bảo vệ 12.2.1. Các lưu ý ban đầu Mặc dù về cơ bản mục tiêu của việc xử lý nước thải theo định hướng môi trường, các nhân tố vấn đề khác nhau có thể phát sinh cái mà có thể không thể hoặc khó khăn để khắc phục: a) các dòng thải không thể tránh được bằng các biện pháp kỹ thuật/kinh tế (lượng phát thải còn dư), từ những lắp đặt thiết bị xử lý nước thải cái mà có một tác động toàn diện lên không khí, đất và nước, lên con người và lên các hệ sinh thái. b) sự gia tăng không dự kiến được trong khối lượng nước thải từ các khu nhà ở (do thay đổi trong lối sống) c) sự gia tăng không thể dự kiến được trong khối lượng của nước thải từ các cơ sở thương mại và công nghiệp (do sự gia tăng trong sản xuất, sự biến động, sự hoạt động theo mùa) d) hiện tượng phì dưỡng trong bộ phận chứa nước trong nước thải xử lý được thải ra, trong thời kỳ lượng mưa thấp kéo dài. e) các hậu quả bất lợi của việc sử dụng bùn thải hoặc phân compost/bùn thải trong nông nghiệp cho mục đích tái chế. Từ ban đầu, các nỗ lực hợp lý nên được thực hiện để các nhân tố vấn đề nói trên trong tất cả các hoạt động quản lý dự án, để giảm thiểu từ đầu bất cứ hiện ứng có thể biết được, sử dụng các biện pháp thích hợp của một tổ chức, cơ cấu và bản chất hoạt động, và trong một số trường hợp cũng phải nhờ vào các biện pháp khẩn cấp. Hơn nữa, các biện pháp xử lý nước thải được lập kế hoạch phải tính đến các điều kiện địa phương đề mà họ hài lòng với các quy tắc chung đã được thừa nhận của công nghệ nước thải hoặc công nghệ tiên tiến (sau khi cân nhắc cẩn thận khi cần thiết). Xem xét lần lượt mỗi ngành nhánh có liên quan của việc xử lý nước thải, những tác động môi trường điển hình tiềm năng như sau (7), (8). 12.2.2. Các tác đông môi trường điển hình Trong bất cứ dự án xử lý nước thải nào, đó là điều quan trọng để quyết định có chấp nhận hay không: 178
  31. - hệ thống thoát nước thải phân tán của địa phương (hệ thống thoát nước riêng biệt tại mỗi nguồn với các hố thu gom nước thải, các hầm chứa phân hoặc các công trình thoát nước nhỏ, các nhà vệ sinh, v.v.) hoặc - hệ thống thoát nước thải tập trung của địa phương (hệ thống thu gom nước thải bao gồm một mạng lưới cống rãnh với tất cả những cơ sở cần thiết, để thu gom, làm chuyển hướng và dẫn nước thải được sản sinh tại các nguồn riêng biệt đến một hoặc nhiều (trung tâm) đến các công trình xử lý nước thải) Các hiệu ứng môi trường khác nhau xuất hiện, quan trọng nhất của cái được đặt ra dưới đây 12.2.2.1. Tác động của quá trình thu gom và xử lý 12.2.2.1.1. Hệ thống phân tán Việc xử lý nước thải phân tán có thể có các hiệu ứng bất lợi sau đây lên môi trường: Đối với người sử dụng, các hệ thống cống riêng biệt có nghĩa là phí tổn cao hơn lên việc bảo trì và bảo dưỡng so với các hệ thống được kết nối với một hệ thống cống tập trung. Nếu việc xây dựng không đúng cách điều đó có thể dẫn đến các vấn đề như là: - chất lượng dòng thải kém từ các công trình cống thải nhỏ (nếu các ngăn lắng bùn là không thường xuyên và không đúng cách) và do đó có sự ô nhiễm của các nguồn tiếp nhận nước, - sự vận hành thường xuyên của các dòng chảy tràn khẩn cấp từ các trục bơm nếu các bơm không được bảo trì đúng cách và do đó sự ô nhiễm của các khu vực mà chỉ nên nhận dòng xả trong các trường hợp khẩn cấp định rõ, - sự ô nhiễm của tầng đất dưới bề mặt và đặc biệt của nước ngầm trong trường hợp của các nhà vệ sinh khô (các nhà vệ sinh thông khí/kỵ khí), các hầm chứa phân, các hệ thống lọc (đặc biệt là các hồ tiêu nước sau khi xử lý nước thải sinh học hiếu khí hoặc kỵ khí), - mối nguy hiểm đến sức khỏe do hoạt động của hệ thống thoát nước riêng biệt (ví dụ nguy cơ lây nhiễm thông qua sự tiếp xúc trực tiếp khi các hầm chứa trống rỗng; thông qua côn trùng và sự phá hoại của chuột), - mối nguy hiểm đến sức khỏe do xử lý bùn cuối cùng (xả) từ các công trình cống nhỏ hoặc từ sự thu gom các hầm chứa, khi không thực hiện đúng, - tính thẩm mĩ và các mùi khó chịu, - Không có khả năng loại bỏ tập trung và xử lý nước thải thương mại/công nghiệp cùng với nước thải sinh hoạt. Các hiệu ứng có lợi của xử lý nước thải phân tán lên môi trường có thể có như sau: - Vòng tuần hoàn nước tự nhiên thì hiếm khi bị gián đoạn hoặc xáo trộn bởi việc thu gom và vận chuyển nước mưa thích đáng (điều này làm giảm đáng kể số lượng thấm từ nước mưa). - Có thể có một động cơ lớn hơn để giảm mức tiêu thụ nước (gia tăng sự tiêu thụ sẽ dẫn đến chi phí cao hơn đáng kể của việc vận chuyển chất thải từ các hầm chứa). - (không hiệu quả) các nguồn tiếp nhận của nước không phải là đối tượng để sự ô nhiễm rời rạc hoặc bất ngờ tại các dòng nước mưa chảy tràn và các cửa sông hoặc tại các công trình cửa sông của các nhà máy xử lý nước thải. 179
  32. - Sự phú dưỡng hoặc hiện tượng xói mòn đất trong các nguồn tiếp nhận của nước là được loại bỏ ở mức độ lớn. 12.2.2.1.2. Hệ thống tập trung Các hiệu ứng có lợi của hệ thống phân tán được đề cập trong phần 2.2.1.1. là không xảy rau trong trường hợp của một hệ thống tập trung (xử lý nước thải tập trung). Quả thật, sự vắng mặt của chúng là một sự bất lợi rõ ràng. Ngoài ra, một hệ thống tập trung có các hiệu ứng bất lợi sau lên môi trường: - Với các khớp nối đường ống được thiết kế và chế tạo không thích đáng, sự rò rỉnghiêm trọng có thể xuất hiện (sự thâm nhập của nước ngầm, sự ô nhiễm của tầng đất hoặc nước ngầm) - Với các trạm bơm nước thải lớn, tiếng ồn và những mùi khó chịu có thể xuất hiện nếu 9 chúng là quá gần với các tòa nhà lân cận hoặc 9 việc cách âm, thông khí, thông gió và sự khử mùi là thiếu hoặc không phù hợp. Các hiệu ứng tích cực chủ yếu của một hệ thống tập trung là đặc biệt như sau (9): - bảo vệ người dân khỏi những mối nguy hiểm đến sức khỏe gây ra do các sinh vật lây nhiễm được truyền trực tiếp hoặc gián tiếp bởi nước, ví dụ trong trường hợp sự ô nhiễm của nước ngầm được sử dụng cho sự cấp nước sạch riêng biệt hoặc bởi sự tiếp xúc trực tiếp với nước thải. - Bảo vệ người dân khỏi các sự khó chịu gây ra bởi các chất trong nước thải mà nó dễ dàng bị thối rữa (gây mùi). - Bảo vệ người dân khỏi sự ngập lụt của các hầm chứa và các phòng lưu trữ trong thời gian mưa bão. - Bảo vệ an toàn lưu thông của xe máy, xe đạp và người bộ hành, thậm chí trong trường hợp có mưa lớn. - Khả năng vận chuyển và xử lý nước thải thương mại và công nghiệp cùng với nước thải sinh hoạt. - Bảo vệ trữ lượng nước ngầm sử dụng khỏi sự ô nhiễm bởi các chất chứa đựng trong cống thải (sinh hoạt), đặc biệt là các hợp chất của nito. 12.2.2.1.3. Các quá trình xử lý nước thải đặc biệt Trong một số khu vực xử lý nước thải, sự kết hợp của hai giải pháp xử lý trên có thể là đủ. Trong một số trường hợp, nó chỉ có thể đáng giá về mặt sinh thái và quản lý nước để có một hệ thống cống thoát nước mà trong đó chỉ có nước thải là được xử lý một cách tập trung, nhưng không có nước mưa. Hơn nữa với hệ thống kép, sự vận chuyển nước mưa trên mặt đất và dưới mặt đất cũng có thể có một ý tưởng tốt về mặt sinh thái và quản lý nước nếu nước thải và nước mưa được tách hoàn toàn, sự quan tâm để đảm bảo rằng nước mưa vẫn là “sạch” nhất có thể. Nói cách khác: Nước mưa, mà tương đối là sạch từ đầu vào, thì không nên cố ý hòa trộn với một môi trường (trong trường hợp nước cống) bởi vì như vậy nó cũng trở thành một nguồn bẩn. Với sự vận hành cẩn thận và phù hợp của một hệ thống kép như vậy, tải trọng ô nhiễm trong các cơ quan tiếp nhận của nước có thể được giảm thiểu về căn bản, vì những lí do cụ thể sau đây: 180
  33. - Không cần phải có công trình xả cho nước mưa hoặc hỗn hợp với nước thải tại các cửa sông, do đó không có nước thải hỗn hợp có thể gây ra sự ô nhiễm nghiêm trọng của các nguồn tiếp nhận nước, đặc biệt là sau những đợt khô hạn kéo dài. - Chỉ có nước thải là đi đến các công trình xử lý tập trung, cho nên dòng thải tại điểm lấy nước vào được giảm thiểu và đồng nhất, nhờ đó cải thiện đáng kể hiệu quả và tính an toàn của các công trình. 12.2.2.2. Tác động của quá trình xử lý 12.2.2.2.1. Các lưu ý ban đầu Các tiêu chí định tính và định lượng về xử lý nước thải đúng cách – và để cho tác động môi trường của nó – có nguồn gốc chủ yếu từ khí thải và các tiêu chuẩn phát thải, theo thứ tự được chuyển hóa từ các điều kiện quản lý nước có liên quan và từ pháp luật, các quy định v.v. có hiệu lực. 12.2.2.2.2 Sự phát thải từ hệ thống cống thu gom Các chất trong nước thải mà gây ô nhiễm nước và bùn lắng trong nhà máy xử lý nước thải công cộng (thuộc thành phố) đòi hỏi một loạt các quy trình và các phương tiện để loại bỏ hoặc giảm thiểu chúng. Khi quy hoạch một công trình xử lý chất thải điều này được kết hợp trong một cách nhất định và được sắp xếp theo chuỗi (các giai đoạn xử lý). Bảng 1 tóm tắt các quy trình kỹ thuật khả thi để xử lý nước thải thành phố trên cơ sở của mức độ phát triển hiện tại – với khả năng xử lý của chúng được biểu diễn như là mức độ hiệu quả (5) Các thủ tục trong câu hỏi được liệt kê theo trình tự mà trong đó chúng thường xuất hiện trong các giai đoạn xử lý của các công trình xử lý chất thải, để đạt được kết quả tối ưu. Quan trọng nhất, bảng tóm tắt cho thấy tác động được dự đoán lên các cơ quan tiếp nhận của nước, tức là sự phát thải các chất ô nhiễm như là tỷ lệ phần trăm của nồng độ trong nước thải đầu vào. Bảng 1 – Hiệu suất của các quá trình xử lý nước thải khác nhau (%) 1) 2) Quá trình Các chất BOD5 COD Photpho Nito rắn lơ Ptổng (NH4-N) lửng Xử lý cơ học 40 - 70 25 -40 khoảng 15 Khoảng 15 Khoảng 7 Xử lý sinh học hiếu 85 -90 85 - 95 khoảng 80 Khoảng 30 khoảng 40 khí Giảm thiểu thêm của các chất còn lại Sàng tinh 20 - 40 5 đến 10 5 đến 10 - - Lọc 50 - 80 10 - 20 5 -20 - - Kết tủa hóa học 70 - 90 50 - 85 40 - 70 50 - 90 0 -30 Hấp phụ bằng than 50 - 90 khoảng 95 khoảng 90 khoảng 90 khoảng 10 hoạt tính 1) Nhu cầu oxy sinh học sau 5 ngày 2) Nhu cầu oxy hóa học Đối với hiệu quả của quá trình xử lý nước thải kỵ khí (rất thích hợp ở các nước có khí hậu nóng) tham khảo (10) 181
  34. Các công trình xử lý chất thải ảnh hưởng đến môi trường không chỉ về mặt các phát thải có liên quan đến nước, mà còn về các mặt: - tiếng ồn, - mùi và - ô nhiễm không khí (các sol khí). As a rule, however, it can be assumed that these types of emissions are less important than the water-related emissions of a sewage works (wastewater discharge). 12.2.2.2.3. Sự phát thải của hệ thống nhỏ Trong trường hợp các hệ thống xử lý nước thải phân tán riêng lẻ hoặc các công trình xử lý chất thải nhỏ có thể được sử dụng (xem phần 2.2.1.1). Việc loại bỏ nước thải đã được xử lý có thể xảy ra thông qua việc xả vào các nguồn nước mặt hoặc thông qua việc xả vào tầng đất (thấm, lọc). Cũng liên quan đến vấn đề phát thải có thể chấp nhận được của các công trình xử lý chất thải nhỏ và tác động môi trường của chúng về cơ bản phải thực hiện một sự phân biệt giữa hai loại công trình: a) các công trình mà không cần sục khí vào nước thải, còn gọi là các bể tự hoại (với sự độc quyền của xử lý cơ khí và một phần sinh học (kỵ khí) ) và b) các công trình với việc sục khí vào nước thải và xử lý cơ học/sinh học. Với các công trình của loại a), hiệu quả sinh học 20-25% và trong các trường hợp đặc biệt tối đa 50% là thu được. Trong các công trình của loại b) hiệu quả cao như các công trình xử lý chất thải trung tâm (xem, 2.2.2.2, Bảng 1) có thể đạt được, miễn là chúng được thiết kế và vận hành đúng cách. Bằng cách tăng thêm các công trình xử lý ngầm, một hố lọc cát hoặc hồ tiêu nước, nước thải trong các công trình của loại a) có thể phải trải qua xử lý sinh học thêm nữa và do đó – cung cấp các điều kiện thủy văn thích hợp – thông qua tầng đất. Việc xả nước thải từ các công trình loại a) trực tiếp vào các vùng nước mặt nói chung là không thể chấp nhận được. 12.2.2.2.4. Tác động đến nguồn nước Nước thải được xử lý không thỏa đáng có thể làm xáo trộn khả năng tự làm sạch tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận dựa trên quá trình vật lý, hóa học và sinh học và gây ra các thiệt hại khác. Các thành phần không hòa tan của nước thải gây ra sự tích tụ của bùn, đặc biệt trong dòng chảy chậm và các vùng nước tĩnh, ví dụ ao, hồ và các kênh vận chuyển, và cũng như trong các nhánh sông cụt, các con suối, hồ chứa nước v.v. Nếu chúng có nguồn gốc từ trầm tích hữu cơ, ở đó cũng sẽ có hiện tượng phân hủy với sự phát triển của sự phân hủy và lên men khí, sự tiêu thụ oxy hòa tan trong nước bởi sự hấp thu của các sản phẩm phân hủy, sự ngăn chặn các hình thức sinh tồn hoặc thậm chí ức chế vi sinh vật và cá. Nhiều nước thải thương mại và công nghiệp bị ô nhiễm hữu cơ thuận lợi cho sự phát triển của “các nấm nước thải” trong các dòng nước chảy có chứa ôxy, đặc biệt trong các mùa lạnh. Các mảnh vụn tách ra từ nấm phát triển thành các mảng sẽ thường gây ra bùn lắng thứ cấp với kết quả nói trên tại những nơi có dòng chảy yếu. Các thành phần hòa tan và hữu cơ của nước thải cần một lượng ôxy nhất định trong nước để cho quá trình phân hủy sinh hóa của chúng, trong điều kiện hiếu khí. Điều này được xác định theo cách tương tự như trong chính bản thân dòng nước thải và do đó được gọi là nhu cầu oxy sinh hóa. 182