Luận văn Quản lý nhà nước về thị trường viễn thông ở Việt Nam
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lý nhà nước về thị trường viễn thông ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
luan_van_quan_ly_nha_nuoc_ve_thi_truong_vien_thong_o_viet_na.pdf
Nội dung text: Luận văn Quản lý nhà nước về thị trường viễn thông ở Việt Nam
- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ HẢI QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH HÀ NỘI - NĂM 2015
- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ HẢI QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ MÃ SỐ: 60 34 04 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHÙNG MẠNH HÙNG XÁC NHẬN CỦA GVHD XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ TS. PHÙNG MẠNH HÙNG GS.TS. PHAN HUY ĐƢỜNG HÀ NỘI - NĂM 2015
- MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QLNN ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM 5 1.1. Tình hình nghiên cứu 5 1.2 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn 7 1.3. Một số vấn đề lí luận và thực tiền trong quản lí nhà nƣớc về thị trƣờng viễn thông ở việt nam 7 1.3.1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ viễn thông 7 1.3.2. Vai trò của ngành viễn thông trong nền kinh tế hiện đại 13 1.4. Quản lí nhà nƣớc đối với thị trƣờng viễn thông 16 1.4.1. Đặc điểm thị trƣờng dịch vụ viễn thông 16 1.4.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng viễn thông Việt Nam 18 1.5. quản lí thị trƣờng dịch vụ viễn thông ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho việt nam 26 1.5.1. Quản lý thị trƣờng viễn thông ở một số quốc gia Châu Á. 26 1.5.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 33 Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35 2.1. Phƣơng pháp luận 35 2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể 35 2.2.1 Sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả 35 2.2.2 sử dụng phƣơng pháp so sánh và phân tích tỷ lệ. 35 2.2.3. Sử dụng phƣơng pháp phân tích. 35 2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu. 36 2.4. Các bƣớc thực hiện và thu thập số liệu. 36
- Chƣơng 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 38 3.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 38 3.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG NHỮNG NĂM QUA 40 3.2.1. Thiết lập khuôn khổ pháp luật cho thị trƣờng dịch vụ viễn thông 40 3.2.2. Tạo lập môi trƣờng thuận lợi cho sản xuất - kinh doanh 43 3.2.3. Đảm bảo kết cấu hạ tầng dịch vụ viễn thông 46 3.2.4. Hỗ trợ phát triển 47 3.2.5. Kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp 50 3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 52 3.3.1.Những khía cạnh tích cực. 52 3.3.2. Những hạn chế và yếu kém 57 3.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng viễn thông Việt Nam 67 CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 71 4.1 Xây dựng chiến lƣợc và kế hoạch phát triển thị trƣờng 71 4.2. Tổ chức các hoạt động kinh tế 72 4.3. Tạo môi trƣờng thuận lợi để các thành phần kinh tế tự do hoạt động 76 4.4. Điều tiết các quá trình phát triển thị trƣờng 80 4.5. Thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động thị trƣờng 82 KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
- DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nguyên nghĩa 1 3G Công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba 2 EU Liên minh Châu Âu 3 GDP Tổng sản phẩm quốc hội 4 IP Giao thức internet 5 QLNN Quản lý nhà nƣớc 6 USD Đô la Mỹ Phƣơng thức truyền tải giọng nói 7 VoIP qua giao thức internet 8 WTO Thƣơng mại thế giới i
- PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm qua, ngành bƣu chính, viễn thông đã liên tục phát triển, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghệ cao đóng vai trò động lực cho việc thúc đẩy các ngành khác. Doanh thu của các doanh nghiệp viễn thông từ năm 2010 trở lại đây liên tục tăng cao, thậm chí các doanh nghiệp lớn nhƣ Tổng công ty viễn thông Quân đội Viettel, Tập đoàn VNPT đạt mức doanh thu năm sau cao gấp đôi so với năm trƣớc,đóng góp phần không nhỏ vào ngân sách nhà nƣớc. Việt Nam đang gia nhập vào quá trình toàn cầu hoá. Và viễn thông là yếu tố quan trọng góp phần mở rộng mạng lƣới liên kết giữa các quốc gia trên thế giới. Với đặc điểm là kết tinh tri thức cao của con ngƣời, công nghệ viễn thông biến đổi rất nhanh, các sản phẩm, dịch vụ mới xuất hiện thƣờng xuyên, liên tục. Chính sự đa dạng này đã tạo ra nhiều khó khăn cho quản lý nhà nƣớc (QLNN), đòi hỏi những ngƣời trong cơ quan quản lý phải có hiểu biết về chuyên ngành viễn thông và công nghệ thông tin. Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam diễn ra muộn. Xét về hạ tầng kĩ thuật, nƣớc ta vẫn phát triển sau các nƣớc tiên tiến. Và thực tế Việt Nam đã trở thành bãi rác thải công nghệ của nhiều nƣớc. Phần lớn hạ tầng mạng viễn thông của Việt Nam đƣợc phát triển dựa trên công nghệ cũ. Vì vậy, các doanh nghiệp viễn thông gặp nhiều khó khăn khi muốn triển khai những dịch vụ gia tăng tiện ích cho khách hàng. Ngoài hạn chế đó, thị trƣờng dịch vụ viễn thông còn đang diễn ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Các doanh nghiệp đua nhau khuyến mãi, giảm giá, mà không quan tâm đến chất lƣợng hạ tầng mạng. Đó là một trong số những bất ổn của thị trƣờng dịch vụ. Trƣớc thực trạng trên, QLNN đối với thị trƣờng còn nhiều lúng túng. Các cơ quan quản lý đƣa ra những ý kiến trái ngƣợc nhau trong việc xác định xem doanh nghiệp có bán phá giá hay không, hay có hiện tƣợng ngăn chặn kết nối giữa các mạng 1
- không Do kinh nghiệm quản lý một thị trƣờng phức tạp nhƣ viễn thông còn hạn chế, nên QLNN gặp phải rất nhiều khó khăn. Và với một thị trƣờng trong giai đoạn phát triển nhanh chóng nhƣ Việt Nam thì càng đòi hỏi phải có các giải pháp giúp cơ quan QLNN kiểm soát và thúc đẩy thị trƣờng phát triển tốt hơn. Kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam chƣa nhiều. Bên cạnh đó, cơ chế quản lý tập trung trsƣớc đây đã kìm hãm sự phát triển của tất cả các ngành kinh tế, trong đó có viễn thông. Nhờ quá trình Đổi mới hơn 20 năm qua, ngành đã có cơ hội để tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, công nghệ của chúng ta vẫn đi sau các nƣớc. Các tập đoàn viễn thông lớn trên thế giới có tiềm lực về vốn, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực trình độ cao. Vì vậy, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thua kém các tập đoàn trên thế giới. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế bắt buộc nƣớc ta phải mở cửa nhiều thị trƣờng, trong đó có thị trƣờng dịch vụ viễn thông. Trong Hiệp định Thƣơng mại song phƣơng Việt Nam - Hoa Kỳ, hay trong các cam kết gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), viễn thông luôn là lĩnh vực đƣợc đàm phán căng thẳng. Với quy luật thị trƣờng “Cá lớn nuốt cá bé” nhƣ hiện nay, thì các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đang có nguy cơ thua ngay tại thị trƣờng trong nƣớc. Từ trƣớc đến nay, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về thị trƣờng dịch vụ viễn thông Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các bài viết đó chƣa nghiên cứu sâu khía cạnh QLNN. Những lý do trên là cơ sở để tôi lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng dịch vụ viễn thông Việt Nam” làm Luận văn tốt nghiệp của mình. 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng quản lý của nhà nƣớc với thị trƣờng dịch vụ viễn thông những năm qua và đƣa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nƣớc với thị trƣờng dịch vụ viễn thông. 2
- - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về QLNN đối với thị trƣờng viễn thông. + Nghiên cứu thực trạng thị trƣờng dịch vụ viễn thông ở một số quốc gia trên thế giới, để từ đó rút ra bài học cho Việt Nam. + Phân tích, đánh giá những thành công và những vấn đề còn tồn tại của QLNN. + Tìm ra nguyên nhân của các vấn đề còn tồn tại đó. + Đề xuất các quan điểm định hƣớng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với thị trƣờng này. 3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tƣợng nghiên cứu: Quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng dịch vụ viễn thông Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: Chỉ giới hạn các dịch vụ viễn thông trong đất liền hiện nay ở Việt Nam (không xét viễn thông hàng hải); Về thời gian: từ khi Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông đƣợc ban hành (năm 2002) cho tới nay. 4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn sử dụng các phƣơng pháp luận: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với phƣơng pháp nghiên cứu trừu tƣợng hoá khoa học nhằm khái quát hoá các nội dung, vấn đề cơ bản. Ngoài ra, còn có các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể khác: phân tích và tổng hợp, thống kê, xử lý số liệu, dự báo theo xu thế đƣợc vận dụng linh hoạt cho phù hợp với định hƣớng nghiên cứ 5. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: - Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu,cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với thị trường dịch vụ viễn thông ở Việt nam 3
- - Chương 2. Phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nước về thị trường viễn thông ở Việt Nam. - Chương 4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thị trường viễn thông ở Việt Nam 4
- CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QLNN ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM 1.1. Tình hình nghiên cứu Thị trƣờng dịch vụ viễn thông là một vấn đề đƣợc bàn thảo nhiều trên báo chí. Tuy nhiên chƣa có nhiều công trình nghiên cứu đầy đủ về QLNN đối với thị trƣờng này ở Việt Nam. Một số công trình nghiên cứu liên quan có thể kể ra ở đây là: - Vũ Đức Đam (1996), Phát triển viễn thông trong nền kinh tế hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. - Phạm Thị Hƣơng Duyên (2000), Một số vấn đề về đầu tƣ phát triển ngành Bƣu chính - Viễn thông Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng, Hà Nội. - Đỗ Doãn Quý (2004), Chính sách hội nhập quốc tế trong lĩnh vực Bƣu chính - Viễn thông của Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội. - Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (2005), Nghiên cứu về cạnh tranh ngành Viễn thông Việt Nam, báo cáo Nghiên cứu chính sách - VNCI. - Lê Bửu Trân (2005), Báo cáo Phát triển thị trƣờng dịch vụ viễn thông Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh. - Lê Thanh Dũng (2005), Các dịch vụ viễn thông của Tổng công ty Bƣu chính Viễn thông Việt Nam, Nxb Bƣu điện, Hà Nội. - Nguyễn Thành Phúc (2006), Viễn thông và Internet Việt Nam hƣớng tới năm 2010, Báo Bƣu điện Việt Nam. - Phan Thị Minh Huệ (2007), Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bƣu chính viễn thông Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. 5
- - Trần Đăng Khoa (2009), Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. - Đoàn Phúc Thanh (2000), Nguyên lý quản lý kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Lƣơng Xuân Quỳ (2006), Quản lý nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Cơ sở lý luận về vai trò quản lý kinh tế của nhà nƣớc đã đƣợc khá nhiều ngƣời nghiên cứu. Các công trình đã chỉ ra 3 nội dung của QLNN đối với một thị trƣờng: Tạo lập môi trƣờng pháp lý để điều tiết hoạt động của thị trƣờng; Xây dựng chiến lƣợc, quy hoạch phát triển thị trƣờng; Ban hành chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển. Các chức năng QLNN đƣợc xem xét trên 2 phƣơng diện. Với cách tiếp cận phƣơng hƣớng tác động quản lý, gồm các chức năng: Tạo môi trƣờngvà điều kiện cho hoạt động sản xuất - kinh doanh; Dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển thông qua kế hoạch và các chính sách kinh tế; Hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; Quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia. Theo phƣơng diện giai đoạn tác động, QLNN có 6 chức năng: Xác định phƣơng hƣớng, mục tiêu, chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội; Lập chƣơng trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;Xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý; Tổ chức các hệ thống kinh tế trong nƣớc hoạt động; Kiểm tra, kiểm soát nền kinh tế đảm bảo đúng định hƣớng phát triển; Điều chỉnh và tìm kiếm các biện pháp phát triển nền kinh tế,mở rộng và khai thông môi trƣờng kinh tế đối ngoại. Tuy nhiên việc xem xét nội dung QLNN trong lĩnh vực viễn thông thì chƣa đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Với một thị trƣờng đặc thù nhƣ viễn thông,vấn đề QLNN cần đƣợc nghiên cứu và làm rõ những đặc điểm riêng có. 6
- Phần lớn các đề tài trên tập trung vào yếu tố cung trên thị trƣờng, tức ngành viễn thông. Tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đƣợc phân tích ở nhiều khía cạnh. Nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp và ngành đã đƣợc đƣa ra. Một số vấn đề: cạnh tranh giữa các doanh nghiệp viễn thông, vốn đầu tƣ phát triển ngành, đƣợc đề cập. Các đề tài đã gợi mở một số hƣớng phát triển của ngành, và hƣớng quản lý của nhà nƣớc trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu đó đều chƣa cụ thể, chƣa hoàn chỉnh. Mặt khác, chƣa tập trung vào vai trò QLNN - nhƣ một trong các yếu tố phát triển bền vững của thị trƣờng. 1.2 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn - Đánh giá những thành công và hạn chế trong QLNN đối với thị trƣờng dịch vụ viễn thông những năm qua. Các công trình trƣớc đây cũng có nghiên cứu thực trạng QLNN, tuy nhiên ở dƣới một số khía cạnh khác nhau, chƣa toàn diện. Do vậy, luận văn này sẽ đánh giá thực trạng QLNN theo các tiêu chí chức năng quản lý kinh tế của nhà nƣớc. Đây là phƣơng pháp tiếp cận mới, phù hợp với xu thế hội nhập toàn cầu. - Đƣa ra một số giải pháp nhằm giải quyết những bất cập trong việc quản lý thị trƣờng viễn thông của nhà nƣớc. Những bất cập trên sẽ đƣợc luận văn giải quyết,dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn. 1.3. Một số vấn đề lí luận và thực tiền trong quản lí nhà nƣớc về thị trƣờng viễn thông ở việt nam 1.3.1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ viễn thông 1.3.1.1 Khái niệm và phân loại - Dịch vụ là một cụm từ không còn mới mẻ trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn chƣa có một cách hiểu thống nhất về khái niệm này. Về cơ bản, chúng ta có thể hiểu, dịch vụ là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hoá, nhƣng là phi vật chất. 7
- Dịch vụ có các đặc tính sau: + Tính đồng thời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời; + Tính không thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia; + Tính chất không đồng nhất: không có chất lƣợng đồng nhất; + Vô hình: không có hình hài rõ rệt. Không thể thấy trƣớc khi tiêu dùng; + Không lƣu trữ đƣợc: không lập kho để lƣu trữ nhƣ hàng hóa đƣợc. Theo Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông của Việt Nam ban hành năm 2002, dịch vụ viễn thông được định nghĩa là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Điểm kết cuối của mạng viễn thông là điểm đấu nối vật lý thuộc mạng viễn thông theo các tiêu chuẩn kỹ thuật để bảo đảm việc đấu nối thiết bị đầu cuối của ngƣời sử dụng dịch vụ vào mạng viễn thông. Viễn thông là một trong những lĩnh vực có công nghệ biến đổi nhanh nhất trên thế giới. Hiện nay, công nghệ viễn thông phát triển theo hƣớng hội tụ công nghệ viễn thông, vô tuyến, cùng với sự xuất hiện của các công nghệ đa phƣơng tiện. Vì vậy, cách phân loại dịch vụ viễn thông cần phải phù hợp với xu hƣớng trên. Trong quá trình đàm phán Hiệp định Thƣơng mại song phƣơng Việt Nam - Hoa Kỳ, chúng ta đã xác định một cách phân loại dịch vụ viễn thông phù hợp với lộ trình mở cửa của ngành viễn thông Việt Nam, và thuận lợi cho sự quản lý của nhà nƣớc. Cách phân loại dịch vụ viễn thông ở Việt Nam hiện nay đã đƣợc ghi trong Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông năm 2002. Theo đó, dịch vụ viễn thông bao gồm: Dịch vụ cơ bản: là dịch vụ truyền đƣa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin; 8
- Dịch vụ giá trị gia tăng: là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của ngƣời sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lƣu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet; Dịch vụ kết nối Internet: là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế; Dịch vụ truy nhập Internet: là dịch vụ cung cấp cho ngƣời sử dụng khả năng truy nhập Internet; Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông: là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bƣu chính, viễn thông cho ngƣời sử dụng. Danh mục cụ thể các dịch vụ viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông - cơ quan QLNN về bƣu chính, viễn thông quy định và công bố. Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản và giá trị gia tăng, Bộ phân loại nhƣ sau: Các dịch vụ viễn thông cơ bản (bao gồm nhưng không giới hạn): Dịch vụ viễn thông trên mạng điện thoại công cộng/mạng số đa dịch vụ; dịch vụ viễn thông trên mạng thông tin di động mặt đất công cộng; dịch vụ viễn thông trên mạng thông tin di động vệ tinh công cộng; dịch vụ viễn thông trên mạng vô tuyến điện hàng hải công cộng; dịch vụ truyền số liệu công cộng; dịch vụ thuê kênh; dịch vụ telex và dịch vụ điện báo. Các dịch vụ giá trị gia tăng (bao gồm nhưng không giới hạn): Dịch vụ thƣ điện tử; dịch vụ hộp thƣ thoại; dịch vụ truy nhập dữ liệu và thông tin trên mạng; dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử trên mạng; dịch vụ fax gia tăng giá trị bao gồm lƣu trữ và gửi, lƣu trữ và truy nhập; dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức; dịch vụ xử lý dữ liệu và thông tin trên mạng. 1.3.1.2. Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ viễn thông - Tính phi vật chất: Dịch vụ viễn thông, cũng giống các dịch vụ khác, có tính phi vật chất. Để thực hiện đƣợc việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, 9
- ngành viễn thông phải sử dụng các công cụ vật chất nhƣ: tổng đài, các thiết bị đầu cuối (điện thoại, máy fax ). Tuy nhiên, bản chất dịch vụ viễn thông thì không nhìn thấy đƣợc. Đó là sự truyền đi của các thông tin đƣợc mã hoá mà mắt ngƣời không thể nhìn thấy. Quá trình tiêu thụ dịch vụ viễn thông cũng gắn liền với quá trình sản xuất hoặc trùng với quá trình sản xuất. Ví dụ, khi hai ngƣời bắt đầu nói chuyện qua mạng điện thoại di động, thì cũng đồng thời với việc sản xuất ra dịch vụ viễn thông. Con ngƣời không nhìn thấy đƣợc thông tin đƣợc truyền đi trong quá trình đàm thoại. Và khi kết thúc đàm thoại, thì quá trình sản xuất ra dịch vụ viễn thông cũng chấm dứt. Thông tin không đƣợc tiếp tục truyền đi. - Vượt qua giới hạn về không gian và thời gian: Với công nghệ viễn thông hiện nay, con ngƣời đã phóng đƣợc những vệ tinh viễn thông lên các quỹ đạo quanh trái đất. Các vệ tinh này có thể hoạt động 24/24 giờ. Vì vậy, bất cứ lúc nào, vệ tinh viễn thông cũng liên kết với các mạng lƣới dƣới mặt đất, bao phủ toàn cầu, ở mọi địa hình cao thấp khác nhau. Nhƣ vậy, giới hạn về không gian và thời gian cũng bị vƣợt qua. - Có sự kết tinh tri thức cao của con người: Trong nền kinh tế hiện đại,ngành điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin là biểu trƣng cho tri thức của loài ngƣời. Hầu hết các doanh nghiệp đều rất coi trọng nguồn nhân lực trình độ cao. Các tập đoàn kinh tế thƣờng đầu tƣ rất lớn vào khâu nghiên cứu và phát triển (R&D). Và những sản phẩm tri thức trong ngành viễn thông đều là kết quả của quá trình nghiên cứu, sáng tạo không ngừng của con ngƣời. Đội ngũ trí thức tạo ra những sản phẩm công nghệ mới, có giá trị cao. Do Luật Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đƣợc thực thi ở nhiều nƣớc phát triển nên khách hàng phải mua các tài sản tri thức, công nghệ viễn thông với giá rất cao. Trong khi đó, chủ doanh nghiệp chỉ phải trả cho đội ngũ kỹ sƣ của họ một khoản tiền nhỏ hơn nhiều lần doanh thu. Vì vậy, khoản lợi nhuận doanh 10
- nghiệp thu đƣợc khá lớn. Và kinh doanh công nghệ viễn thông là một lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao. - Những tiến bộ công nghệ của ngành viễn thông diễn ra nhanh chóng: Sự phát triển của ngành viễn thông gắn liền với những tiến bộ khoa học – công nghệ. Nửa đầu thế kỷ XX, các dịch vụ viễn thông chỉ dừng lại ở việc truyền thông tin trong vùng phủ sóng hẹp, và hầu nhƣ chƣa có các dịch vụ giá trị gia tăng. Vào nửa sau thế kỷ XX, thế giới đƣợc chứng kiến cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại hƣớng tới nền kinh tế tri thức. Ngày nay, mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp đều quan tâm đầu tƣ phát triển nguồn tài sản quý nhất, đó là con ngƣời. Đội ngũ nhân lực trình độ cao không ngừng sáng tạo ra những phƣơng pháp, những thiết bị mới nhằm mở rộng vùng phủ sóng, cải thiện chất lƣợng tín hiệu, nâng cao tốc độ đƣờng truyền thông tin, đa dạng hoá các tiện ích cho ngƣời sử dụng Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, tin học, điện tử và tự động hoá đã góp phần rút ngắn chu kỳ đời sống của sản phẩm nói chung, và trong ngành viễn thông thì những tiến bộ kỹ thuật xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn hơn nữa. Mỗi tháng, các tập đoàn viễn thông lớn trên thế giới đều giới thiệu với thị trƣờng thêm nhiều sản phẩm mới: điện thoại, phần mềm tiện ích, thiết bị cải thiện tốc độ truyền tin, thiết bị bảo mật thông tin Hiện nay, công nghệ thông tin và truyền thông tiếp tục phát triển theo hƣớng hội tụ. Trên thế giới, sự hội tụ (convergence) giữa viễn thông, máy tính (Internet) và phát thanh, truyền hình (broadcasting) đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Trong viễn thông còn xảy ra sự hội tụ giữa cố định và di động, giữa thoại và dữ liệu. Hội tụ nói chung bao gồm hội tụ về mạng lƣới hạ tầng (infrastructure) và hội tụ về dịch vụ (service). Trƣ ớc đây, các mạng lƣới khác nhau chuyên cung cấp các dịch vụ chuyên biệt khác nhau:mạng viễn thông cung cấp các dịch vụ viễn thông, mạng Internet cung cấp các dịch vụ liên quan đến kết nối các máy tính, mạng lƣới truyền dẫn phát 11
- sóng phát thanh truyền hình cung cấp các dịch vụ phát thanh truyền hình quảng bá.Bản thân mỗi dịch vụ này cũng có những đặc tính tƣơng đối khác nhau, ví dụ dịch vụ viễn thông mang tính tƣơng tác hai chiều, dịch vụ quảng bá mang tính chất một chiều. Tuy nhiên hiện nay, trên cùng một mạng có thể cung cấp các dịch vụ khác nhau 3 trong 1 và 4 trong 1 (triple play, quadruple play). Ví dụ điển hình là trên máy di động cầm tay có thể nhận đƣợc các chƣơng trình truyền hình, có thể nghe đài, có thể truy nhập Internet và nói chuyện điện thoại, ngƣợc lại trên mạng truyền hình cáp có thể cung cấp các dịch vụ viễn thông và Internet, còn trên mạng Internet có thể cung cấp dịch vụ phát thanh,truyền hình. Một thành tựu khác, công ty SK Telecom của Hàn Quốc đã giới thiệu với thị trƣờng chiếc điện thoại di động sử dụng công nghệ hiện đại CDMA với các tiện ích nhƣ: rút tiền mặt từ máy rút tiền tự động (ATM), thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ, định vị theo hệ thống định vị toàn cầu,xem truyền hình, nghe đài phát thanh, truy nhập Internet, quay phim, chụp ảnh Chính khả năng tích hợp những công nghệ hiện đại, mũi nhọn trong các sản phẩm, dịch vụ viễn thông đã tạo ra sự biến đổi công nghệ nhanh chóng của ngành. - Quá trình sản xuất kinh doanh viễn thông mang tính dây chuyền Đặc điểm của ngành viễn thông là quá trình sản xuất của nó đƣợc phân bố trên khắp lãnh thổ đất nƣớc, thậm chí ở tại nhiều quốc gia khác nhau chứ không kết thúc trong một doanh nghiệp, một công ty. Để cung cấp dịch vụ viễn thông cho khách hàng cần có sự phối hợp của nhiều đơn vị liên quan trong ngành viễn thông tham gia, mỗi đơn vị thực hiện một công việc nhất định trong quá trình truyền đƣa tin tức hoặc là giai đoạn đi, hoặc giai đoạn đến, giai đoạn quá giang. Từng cơ quan riêng biệt nói chung không thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, cũng nhƣ hiệu quả có ích cho ngƣời sử dụng, nhƣng nó thực hiện những công việc cần thiết để xử lý lƣu lƣợng, phục vụ hệ thống 12
- chuyển mạch và đƣờng truyền dẫn, kết quả cuối cùng là đảm bảo hoàn thành dịch vụ - sản phẩm hoàn chỉnh. Do vậy để đảm bảo chất lƣợng tin tức truyền đƣa cần phải có quy định thống nhất về thể lệ thủ tục khai thác các dịch vụ viễn thông, quy trình khai thác, bảo dƣỡng thiết bị thông tin, chính sách đầu tƣ phát triển mạng một cách phù hợp, thống nhất về đào tạo cán bộ, cần có sự phối hợp chặt chẽ về kỹ thuật, nghiệp vụ, lao động trên phạm vi rộng lớn, trên quy mô cả nƣớc và mở rộng ra phạm vi thế giới. Đặc điểm này đòi hỏi sự thống nhất và tính kỷ luật cao trong việc đảm bảo kỹ thuật mạng lƣới, sự thống nhất về nghiệp vụ trong tổ chức khai thác; đòi hỏi phải có sự chỉ huy thống nhất từ một trung tâm và sự gắn bó giữa hoạt động viễn thông trong nƣớc và quốc tế. 1.3.2. Vai trò của ngành viễn thông trong nền kinh tế hiện đại * Đảm bảo kết cấu hạ tầng, tạo thuận lợi cho sự phát triển của các nghành kinh tế khác. Viễn thông là một nghành giữ vai trò kép. Thứ nhất, bản thân viễn thông là những sản phẩm dịch vụ thƣơng mại. Thứ hai,nó tạo môi trƣờng thuận lợi cho quá trình trao đổi của các sản phẩm dịch vụ khác. Khi hoạt động sản xuất phát triển, sự trao đổi thông tin cảng trở nên phố biến hơn. Sử dụng dịch vụ viễn thông, một chủ dopanh nghiệp tuy không trực tiếp có mặt ở các khâu sản xuất kinh doanh nhƣng vẫn có đủ thông tin cần thiế. Một doanh nghiệp vừa và nhỏ nhƣng thông qua thƣơng mại điện tử có thể giới thiệu sản phẩm tới khách hàng ở khắp nơi trên thế giới, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, sản xuất theo yêu cầu. Ngoài ra khách hàng không cần thiết phải đến trụ sở của doanh nghiệp nhƣng vẫn có đủ mọi thông tin cần thiết về sản phẩm họ muốn mua. Đặt hàng thông qua điện thoại hoặc internet .Tất cả các lĩnh vực kinh tế đều cần đảm bảo thông tin liên lạc. Vì vậy nghành viễn thông đƣợc coi là một kết cầu hạ tầng quan trọng. 13
- Trong nghành du lịch ngày nay việc đăng ký tour du lịch đặt vé máy bay khách sạn hầu hết đƣợc thực hiện qua điện thoại và internet. Có rất nhiều du khách quốc tế đến các nƣớc khác để tham quan, nghỉ ngơi. Tuy nhiên trong thời gian ở nƣớc ngoài họ vẫn có nhu cầu liên lạc với ngƣời thân, bạn bè, đối tác Vì vậy, dịch vụ viễn thông quốc tế tốt sẽ là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch quốc tế đến với mỗi quốc gia. Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) thực hiện sản xuất kinh doanh trên phạm vi toàn cầu. Quá trình phân công lao động diễn ra ở rất nhiều quốc gia khác nhau để khai thác lợi thế so sánh. Vì vậy, việc kiểm soát thông tin và phối hợp đồng bộ hoạt động sản xuất kinh doanh rất quan trọng. Nếu kết cấu hạ tầng viễn thông của một quốc gia không thuận lợi ( chất lƣợng kém, cƣớc phí cao ) thì quốc gia đó khó có thể thu hút đƣợc nhiều dòng vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài. * Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Năm 2008 giá trị sản phẩm toàn cầu đạt 46,77 tỷ USD. Trong đó doanh thu viễn thông toàn cầu đạt 1,7 nghìn tỷ USD, chiếm hơn 3,6% (38). Ở Việt Nam, doanh thu của nghành bƣu chính viễn thông năm 2012 đạt hơn 95 tỷ đồng tăng 44% so với năm 2014, và chiếm khoảng 6,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của quốc gia. Với xu hƣớng thƣơng mại điện tử phát triển nhƣ hiện nay thì chắc chắn nghành viễn thông sẽ tiếp tục tăng trƣởng với tốc độ cao và đóng góp lớn vào phát triển kinh tế. * Nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư Trƣớc đây, khi nghành công nghệ thông tin chƣa phát triển, trao đổi thông tin liên lạc còn lạc hậu, ngƣời dân không những mất thời gian đi lại, chi phí đi lại để truyền đạt một thông tin nào đó đến ngƣời thân hoặc công việc của họ. Từ khi nghành công nghệ thông tin phát triển, thông tin liên lạc ra đời nhất là sự ra đời của mạng di động (1993). Đời sống tinh thần của ngƣời dân 14
- đã đƣợc thỏa mãn phần nào, họ có thể chuyện trò với ngƣời thân khi đi xa, thông tin về công việc đƣợc nhanh chóng. Vì vậy, không những con ngƣời có thêm niềm vui để sống và làm việc mà công việc của họ cũng phát triển hơn nhờ sự kết nối liên lạc nhanh chóng. Hiện nay, tất cả các nhà mạng đã đƣa ứng dụng công nghệ thông tin, đặt các trạm phát sóng (BTS) đến tất cả các vùng sâu xa của đất nƣớc, vùng biển đảo đều đƣợc phủ sóng rộng khắp. Những cố gắng nỗ lực đó của nghành viễn thông đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống tình thần của bà con thôn bản, vùng hải đảo xa, tạo cơ hội tiếp cận thông tin xã hội cho nhân dân . * Tạo ra cách nghĩ và cách làm mới - Tiếp thị mới: Ngày nay internet trở thành công cụ hữu ích giúp các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm. Gửi email giới thiệu công ty của mình tới các khách hàng tƣơng lai là một cách thức hay đƣợc áp dụng bới cách thức này có chi phí rất thấp. Email cũng là một phƣơng tiện duy trì mối liên lạc của doanh nghiệp với khách hàng. So với cách thức tiếp thị truyền thống là thuê nhân viên trực tiếp đến gặp khách hàng để quảng bá sản phẩm, thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực tiếp thị vừa tiết kiệm chi phí về tài chính, về thời gian và về cơ hội đƣợc nhiều ngƣời biết đến trong một thời gian ngắn. - Bán hàng kiểu mới:Có rất nhiều điều làm nên sự thành công của một doanh nghiệp, nhƣng quan trọng nhất vẫn là doanh số bán hàng và lợi nhuận thu đƣợc. Chúng ta đã bỏ qua đƣợc sự nặng nề về một khởi đầu của công ty khi nghĩ đến vấn đề mặt bằng và diện tích phải rộng đẹp để khách hàng dễ nhìn, dễ thấy. Nhờ những ứng dụng của công nghệ thông tin, các doanh nghiệp có thể áp dụng bán hàng qua điện thoại: bằng tin nhắn quảng cáo, bằng các ứng dụng trên điện thoại để thỏa thuận giá, giới thiệu hàng hóa của mình 15
- Những cơ hội quảng bá mới: Thông tin truyền thông với các công nghệ mới đang tạo ra những cơ hội mới để các doanh nghiệp tổ chức tiếp xúc với khách hàng, đồng thời cũng cần lắng nghe khách hàng nói về sản phẩm và doanh nghiệp của mình, tạo nên những cơ hội trao đổi, truyền đạt tạo lập ấn tƣợng với các hoạt động hƣớng về công chúng, nhằm tạo ra một hình ảnh đẹp, nổi bật và rộng khắp về bản thân tổ chức hoặc cá nhân với mong muốn thông qua những hình ảnh đó chúng sẽ trở nên gần gủi và giành nhiều thiện cảm quan tâm tới họ. Trong môi trƣờng cạnh tranh, hầu hết các đối thủ đều muốn có đƣợc vị trí tin cậy của mình trên thị trƣờng, nhằm nắm giữ thị phần, khách hàng lớn. Am hiểu các phƣơng tiện truyền thông là cơ sở để tạo nên hình ảnh tốt đẹp và kinh doanh thành công. Trƣớc đây, xã hội coi trọng hàng hóa vật chất, các sản phẩm công nghiệp. Còn ngày nay, những nghành nghề tạo ra nhiều giá trị gia tăng nhất là lĩnh vực dịch vụ. Ở những nƣớc phát triển, lao động trong nghành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế. 1.4. Quản lí nhà nƣớc đối với thị trƣờng viễn thông 1.4.1. Đặc điểm thị trƣờng dịch vụ viễn thông - Khó có sự thoả thuận giá cả (cước phí) giữa bên mua và bên bán, cước phí thường do bên bán tự quyết định. Số lƣợng khách hàng trên thị trƣờng dịch vụ viễn thông rất lớn, trong khi số lƣợng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thì hạn chế. Số lƣợng ngƣời trong mỗi doanh nghiệp cũng hạn chế. Do vậy, nếu các doanh nghiệp viễn thông cử nhân viên đi gặp và thoả thuận với từng khách hàng, thì sẽ tạo ra chi phí giao dịch rất lớn. Các dịch vụ viễn thông đƣợc cung cấp đồng loạt theo mạng lƣới. Nếu khách hàng đồng ý, thì sẽ tham gia sử dụng dịch vụ. Nếu không chấp nhận, họ có quyền không tham gia. Nhƣ vậy, quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về phía ngƣời tiêu 16
- dùng. Và nếu giá cƣớc mà doanh nghiệp đƣa ra không hợp lý, thì họ cũng không thu hút đƣợc nhiều thuê bao. Thông thƣờng doanh nghiệp viễn thông chỉ áp dụng phƣơng án thoả thuận phƣơng án giá với những sản phẩm đặc thù, hoặc với những khách hàng là tổ chức tƣơng đối lớn. Đặc điểm này cũng có ở thị trƣờng điện, nƣớc, - Các loại hình dịch vụ rất đa dạng. Dịch vụ viễn thông đƣợc chia ra thành các nhóm lớn. Và trong mỗi nhóm lớn đó còn có các nhóm nhỏ. Ví dụ, các dịch vụ giá trị gia tăng (bao gồm nhƣng không giới hạn): dịch vụ thƣ điện tử; dịch vụ hộp thƣ thoại; dịch vụ truy nhập dữ liệu và thông tin trên mạng; dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử trên mạng; dịch vụ fax gia tăng giá trị bao gồm lƣu trữ và gửi, lƣu trữ và truy nhập; dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức; dịch vụ xử lý dữ liệu và thông tin trên mạng. - Tốc độ phát triển của thị trường rất nhanh. Viễn thông ngày nay đã trở nên thiết yếu. Đây là một trong nhiều lý do vì sao, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu khủng hoảng, doanh thu viễn thông Việt nam vẫn tăng trƣởng vƣợt bậc. Nhìn vào doanh thu đạt đƣợc của ba nhà mạng lớn năm 2014 chúng ta thấy kinh doanh viễn thông phát triển với tốc độ nhanh ngay trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn do khủng hoảng toàn cầu. Thông tin đƣợc Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2015 do Bộ thông tin và Truyền thông tổ chức sáng 31/12/2014, theo đó: Tổng lợi nhuận của tập đoàn Bƣu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) trong năm 2014 đạt 6.310 tỷ đồng, đạt 103% kế hoạch và bằng 112% so với thực hiện năm 2013; Tổng doanh thu của VNPT năm 2014 đạt 101,055 tỷ đồng, đạt 104% kế hoạch, bằng 106% so với thực hiện năm 2013. Nộp ngân sách nhà nƣớc 5.850 tỷ đồng bằng 118% năm 2013; Tổng công ty viễn thông Mibiphone đạt doanh thu 36,605 tỷ đồng đạt 101,4% kê hoạch, tăng 5,2% so với năm 2013. Nộp ngân sách nhà nƣớc 17
- 3,926 tỷ đồng; Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel năm 2014 đạt doanh thu 196,650 tỷ đồng tăng 20% so với năm 2013. Nhìn vào số liệu trên, chúng ta có thể khẳng định thị trƣờng viễn thông luôn là thị trƣờng tiên phong về tốc độ phát triển và đóng góp ngân sách nhà nƣớc. - Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp rất quyết liệt bằng nhiều phương thức. Đầu tiên phải nói đến là cuộc chiến về giá cả - yếu tố đƣợc khách hàng ở các nƣớc có thu nhập thấp rất quan tâm. Hầu hết các doanh nghiệp đều khuyến mãi cho khách hàng khi hoà mạng mới, và với cả những thuê bao đang hoạt động. Những đợt khuyến mãi (nhƣ ở Việt Nam) diễn ra thƣờng xuyên. Hiện thu nhập bình quân đầu ngƣời của Việt Nam còn thấp so với thế giới, nên tâm lý số đông vẫn thích những dịch vụ có giá cả phải chăng. Tuy nhiên, ở những nền kinh tế phát triển, thì chất lƣợng dịch vụ và sự đa dạng các tiện ích là yếu tố đƣợc ngƣời tiêu dùng chú ý đến nhiều hơn. Do vậy, các nhà cung cấp cần phải đầu tƣ nâng cấp mạng lƣới hiện đại, để đảm bảo cung cấp đƣợc nhiều loại hình, với chất lƣợng cao nhất. Nhƣ vậy mới có thể giữ đƣợc khách hàng trong cơ chế thị trƣờng cạnh tranh. - Mang tính toàn cầu. Viễn thông tạo nên mạng lƣới liên kết toàn cầu. Ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới, con ngƣời đều có thể liên lạc đƣợc với nhau. Điều này tạo cơ hội cho quá trình sản xuất trên phạm vi toàn cầu. Từ một nơi, ngƣời đứng đầu doanh nghiệp có thể chỉ đạo quá trình sản xuất ở bất kỳ chi nhánh nào có kết nối mạng viễn thông. Một ví dụ điển hình khác là thị trƣờng tài chính. Đây là thị trƣờng hoạt động 24/24 giờ trên toàn thế giới, với giá trị giao dịch rất lớn mỗi ngày. 1.4.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với thị trường viễn thông Việt Nam * Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế Là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nƣớc lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong 18
- và ngoài nƣớc, các cơ hội có thể có, để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế đất nƣớc đã đặt ra. Từ khái niệm trên, có thể thấy: Thực chất của QLNN về kinh tế là việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nƣớc, mà nhà nƣớc có khả năng tác động vì mục tiêu xây dựng và phát triển đất nƣớc. Trong đó, vấn đề con ngƣời, tổ chức và tạo động lực lớn nhất cho con ngƣời hoạt động trong xã hội là vấn đề có ý nghĩa then chốt. QLNN về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tƣợng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng, đó là các quy luật và vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội. QLNN về kinh tế còn là một nghệ thuật vì nó lệ thuộc không ít vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, ban lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế; phong cách làm việc, phƣơng pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp của bộ máy quản lý nhà nƣớc. Vai trò của quản lý nhà nước về kinh tế. Vai trò của QLNN về kinh tế thể hiện trƣớc hết và rõ nhất ở vai trò của Nhà nƣớc đối với nền kinh tế. Cụ thể là: - Đại diện cho nhân dân để quản lý nền kinh tế vì lợi ích của nhân dân và đất nƣớc: Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa là ngƣời chủ sở hữu tài sản công, vừa là ngƣời đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động, vì thế chức năng quản lý kinh tế là một tất yếu khách quan. Chỉ có sự quản lý kinh tế của Nhà nƣớc, nền kinh tế mới có thể phát triển bền vững, phát triển theo đúng xu thế và quy luật cạnh tranh của thị trƣờng. Tuy nhiên, vai trò của Nhà nƣớc có đƣợc phát huy hay không còn tùy thuộc vào kết quả đổi mới và cải cách về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, về cơ chế quản lý và phƣơng pháp điều hành. Nói 19
- tóm lại là tùy thuộc vào phẩm chất và năng lực cán bộ trong bộ máy quản lý kinh tế- xã hội các cấp. - Là nhạc trƣởng điều tiết, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế tự do tiếp cận nhu cầu thị trƣờng để lựa chọn và quyết định chiến lƣợc kinh doanh của mình, bao gồm chiến lƣợc tài chính, nhân sự, kỹ thuật- công nghệ, liên doanh liên kết, tiêu thụ sản phẩm. Bằng các công cụ quản lý vĩ mô, mà trƣớc hết là conng cụ pháp luật. Nhà nƣớc tạo hành lang và điều hành hoạt động nhằm khuyến khích cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế. Mặt khác. Trong xu thế đa dạng hóa và đa phƣơng hóa các quan hệ hợp tác quốc tế, Nhà nƣớc giữ vai trò là ngƣời hƣớng dẫn cho các doanh nghiệp, địa phƣơng và nghành kinh tế hòa nhập vào thị trƣờng thế giới để vừa đảm bảo các bên đều có lợi, vừa giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. - Phát huy các mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trƣờng: Cơ chế thị trƣờng là cơ chế năng động, linh hoạt, vì thế nó thúc đẩy quá trình xã hội hóa lực lƣợng sản xuất, tăng năng suất lao động và tạo ra sự phong phú đa dạng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh đó, cơ chế thị trƣờng tiềm ẩn những khuyết tật vốn có của nó, nhƣ: độc quyền, vấn đề cung ứng hàng hóa công cộng, hiện tƣợng ngoại ứng: thông tin bất cân xứng, chu kỳ kinh doanh, thị trƣờng không hoàn thiện, phân hóa giàu nghèo. Nhà nƣớc có vai trò quyết định trong việc hạn chế đi đến xóa bỏ những khuyết tật trên đây thông qua quyền lực và lực lƣợng cơ sở vật chất to lớn của mình. Các chức năng cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế - Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc bao gồm các mục tiêu, phƣơng hƣớng phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ và những giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu và phƣơng hƣớng đó. 20
- Muốn xây dựng chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội có cơ sở khoa học, nhất thiết phải tiến hành hoạt động dự báo. Đó là các dự báo về tài nguyên thiên nhiên, thị trƣờng, sự biến động của kinh tế thế giới, sự phát triển của khoa học- công nghệ. Trong đó dự báo về khoa học – công nghệ là quan trọng nhất bởi vì nó làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội mà trƣớc hết là lĩnh vực kinh tế. Nội dung của chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội bao gồm: + Hệ thống quan điểm cơ bản của chiến lƣợc + Hệ thống mục tiêu chiến lƣợc: Kết quả mong đợi, cần có và có thế có của hệ thống kinh tế quốc dân khi kết thúc thời kỳ chiến lƣợc. Mục tiêu chiến lƣợc xác định cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng nhƣ các phân hệ của nó. Các mục tiêu bộ phận gắn liền với việc giải quyết các vấn đề của kinh tế - xã hội nhƣ:tăng trƣởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, Những mục tiêu này phải thể hiện một cách tập trung những biến đổi quan trọng nhất về chất của nền kinh tế- xã hội. + Những nhiệm vụ và giải pháp chiến lƣợc: là những công việc phải thực hiện trong suốt thời kỳ chiến lƣợc nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lƣợc. Từ chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nƣớc cụ thể hóa thành các kế hoạch phát triển, bao gồm kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Dù là loại hình kế hoạch nào cũng phải đƣợc xây dựng theo hƣớng lấy thị trƣờng làm đối tƣợng và căn cứ quan trọng; kết hợp kế hoạch hóa trực tiếp với kế hoạch hóa gián tiếp, tiến tới chủ yếu là kế hoạch hóa gián tiếp; phân định kế hoạch hóa vĩ mô và kế hoạch hóa vi mô. Đặc biệt cần đổit mới phƣơng pháp kế hoạch hóa các cấp theo hƣớng đơn giản, tiết kiệm và hiệu quả cao. - Tổ chức các hoạt động kinh tế. Tổ chức là một chức năng quan trọng của khoa học quản lý nói chung.Trong lĩnh vực kinh tế, đây không chỉ là việc thiết lập ra các cơ quan 21
- nhà nƣớc trong bộ máy quản lý nền kinh tế quốc dân, các đơn vị kinh tế trong hệ thống sản xuất, mà còn đảm bảo yếu tố con ngƣời cho các cơ quan, đơn vị thiết lập ra hoạt động có hiệu quả theo định hƣớng kế hoạch. Chức năng nàygồm 2 nội dung: Tổ chức bộ máy QLNN về kinh tế từ Trung ƣơng đến địa phƣơng; Tổ chức bộ máy sản xuất nền kinh tế quốc dân. Tổ chức bộ máy QLNN về kinh tế gồm các hoạt động sau: + Xây dựng và hoàn thiện thể chế hành chính - kinh tế. + Thiết lập cơ cấu tổ chức và cơ cấu vận hành của bộ máy QLNN về kinh tế các cấp. + Xây dựng đội ngũ công chức hành chính - kinh tế. Tổ chức bộ máy sản xuất kinh tế quốc dân hoạt động gồm các hoạt động sau: + Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế. + Thiết lập hệ thống kinh tế bao gồm các đơn vị kinh tế theo ngành, theo thành phần kinh tế, theo vùng, theo loại hình sản xuất + Đào tạo nhân lực cho các đơn vị, các ngành kinh tế. + Hình thành và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực cho hoạt động kinh tế của các đơn vị và cá nhân. Nhằm thích ứng với cơ chế kinh tế mới, Nhà nƣớc phải xác định một cơ cấu kinh tế mới nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực cho phát triển kinh tế. Đó là việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các ngành kinh tế mũi nhọn để tạo ra lợi thế so sánh; xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất để tranh thủ vốn và kỹ thuật công nghệ tiên tiến của thế giới phục vụ cho tăng trƣởng kinh tế. Ngoài ra, nhà nƣớc cần sắp xếp lại các đơn vị kinh tế cơ sở, trong đó quan trọng nhất là hệ thống doanh nghiệp nhà nƣớc nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nƣớc trong nền kinh tế nhiều thành phần. 22
- Chức năng này nếu đƣợc thực hiện tốt sẽ huy động mọi nguồn lực, tạo ra sự thống nhất và sức mạnh tổng hợp của toàn nền kinh tế. - Tạo môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế tự do hoạt động. Cấu thành môi trƣờng mà nhà nƣớc tạo ra bao gồm môi trƣờng chính trị - xã hội, môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng pháp luật, môi trƣờng giáo dục, y tế, môi sinh, Ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế. Một nhà nƣớc mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đáp ứng đƣợc các yêu cầu chính đáng của nhân dân sẽ đem lại lòng tin và hấp dẫn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong một xã hộ ổn định về chính trị, các nhà đầu tƣ đƣợc bảo đảm an toàn về đầu tƣ, sở hữu tài sản, sở hữu trí tuệ, do vậy họ sẵn sàng đầu tƣ nhiều hơn vào những dự án dài hạn khác. Mỗi quốc gia cần đa dạng hoá, đa phƣơng hoá các quan hệ kinh tế với nƣớc ngoài phải đi liền với giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Mặt khác, bộ máy QLNN về kinh tế các cấp phải đủ mạnh, trong sạch và ổn định nhằm tạo sự an tâm cho các chủ thể kinh doanh - bao gồm cả đầu tƣ trong và ngoài nƣớc - bỏ vốn làm ăn lâu dài.Chính sách kinh tế phải tạo niềm tin cho nhân dân. Ai làm tốt, làm nhiều và đúng pháp luật thì có thu nhập cao. Đồng thời phải có biện pháp hữu hiệu trong việc chống độc quyền, chống tham nhũng và làm ăn phi pháp. Những hiện tƣợng tiêu cực nhƣ buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, lợi dụng cơ chế “lỏng” của nhà nƣớc để vun vén cá nhân, đặc quyền đặc lợi phải đƣợc nghiêm trị đúng pháp luật. Thứ hai, ổn định kinh tế vĩ mô có ý nghĩa rất lớn đối với tăng trƣởng và phát triển kinh tế. Nó củng cố lòng tin của các chủ thể kinh tế vào tƣơng lai của nền kinh tế, tránh xảy ra những cuộc khủng hoảng. Để duy trì một nền kinh tế phát triển bền vững và tạo cơ sở cho ổn định chính trị - xã hội, Nhà nƣớc phải: 23
- - Duy trì cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nƣớc nhằm giữ lạm phát ở mức có thể kiểm soát đƣợc. - Duy trì sự cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế bằng việc duy trì tỷ giá hối đoái hợp lý. - Duy trì sự cân đối giữa tích luỹ và đầu tƣ nhằm tránh lệ thuộc vào bên ngoài. - Đẩy lùi các hiện tƣợng tiêu cực nhƣ nạn quan liêu, buôn lậu và gian lận thƣơng mại Thông qua việc hình thành đồng bộ hệ thống luật pháp, Nhà nƣớc tạo “hành lang” cho các hoạt động kinh doanh theo quy luật cạnh tranh, giải quyết tranh chấp và bảo đảm trật tự an toàn cho các hoạt động kinh tế. Nhà nƣớc có kế hoạch đầu tƣ ngân sách cho phát triển giáo dục để nâng cao dân trí, hình thành đội ngũ lao động có tay nghề cao, thích ứng với điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện đại. Đặc biệt, sớm hình thành đội ngũ những nhà quản lý giỏi thuộc nhiều tầm cỡ, từ ngƣời chủ kinh tế hộ gia đình đến những ngƣời quản lý trong các doanh nghiệp lớn. Đồng thời, Nhà nƣớc quan tâm đến việc nâng cao thể lực cho ngƣời lao động, ngăn chặn những căn bệnh thế kỷ; kiên quyết bảo vệ môi trƣờng sinh thái, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên thông qua các chính sách và công cụ quản lý của Nhà nƣớc. - Điều tiết các quá trình phát triển kinh tế. Chức năng điều tiết của Nhà nƣớc bao gồm các hoạt động điều hành, điều khiển, phối hợp các hoạt động kinh tế trên tổng thể nền kinh tế quốc dân cũng nhƣ các lĩnh vực, các thành phần kinh tế. Thực hiện chức năng này, nhà nƣớc cần: + Tạo động lực cho bộ máy hoạt động theo định hƣớng kế hoạch. + Phối hợp hoạt động giữa các đơn vị trong hệ thống kinh tế quốc dân. + Xử lý những trục trặc phát sinh. 24
- + Tìm ra những giải pháp mới cho phát triển kinh tế. Nhà nƣớc sử dụng tổng hợp các biện pháp nhƣ chính sách đòn bẩy kinh tế, thực lực kinh tế nhà nƣớc, công cụ tài chính - tiền tệ, pháp luật kinh tế để ổn định và phát triển thị trƣờng đúng hƣớng. Sử dụng tối đa nguồn nhân lực, kiềm chế lạm phát, cân bằng ngân sách nhà nƣớc, cân bằng cán cân thanh toán, thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân cũng thuộc chức năng điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc nhằm phát triển kinh tế một cách ổn định và bền vững. - Thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế. Mục đích của kiểm tra, kiểm soát là để phát hiện và ngăn ngừa các vi phạm pháp luật, sai phạm chính sách trong quá trình hoạt động kinh tế của các ngành, các địa phƣơng và các đơn vị kinh tế. Từ đó thiết lập trật tự kỷ cƣơng bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền lợi nhân dân lao động. Hoạt động kiểm tra kiểm sát đƣợc tiến hành bởi các cơ quan thanh tra, kiểm sát, công an, thuế vụ, , đặc biệt là quyền làm chủ của nhân dân lao động mà trực tiếp là những ngƣời hoạt động trên lĩnh vực kinh tế. Trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, chức năng kiểm tra, kiểm soát hết sức quan trọng. Bởi vì, thông qua các hoạt động kiểm tra, kiểm soát, những khuyết tật của cơ chế thị trƣờng sẽ đƣợc hạn chế, tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ đƣợc kết hợp ngay từ trong từng tế bào của nền kinh tế quốc dân - đó là các doanh nghiệp. * Nội dung quản lý nhà nước đối với thị trường dịch vụ viễn thông Ba nội dung của QLNN đối với thị trƣờng dịch vụ viễn thông là: - Tạo lập môi trƣờng pháp lý điều tiết hoạt động của thị trƣờng. - Xây dựng chiến lƣợc, quy hoạch phát triển thị trƣờng. - Ban hành chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp viễn thông phát triển. Các nội dung trên được thể hiện cụ thể ở một số vấn đề: 25
- - Mạng và dịch vụ viễn thông. - Các bên cung cấp và sử dụng dịch vụ. - Kết nối mạng viễn thông. - Đánh số viễn thông. - Giấy phép viễn thông. - Cung cấp dịch vụ viễn thông công ích và Quỹ dịch vụ viễn thông công ích. - Tiêu chuẩn, chất lƣợng viễn thông. - Giá cƣớc viễn thông. - Giải quyết tranh chấp 1.5. quản lí thị trƣờng dịch vụ viễn thông ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho việt nam 1.5.1. Quản lý thị trƣờng viễn thông ở một số quốc gia Châu Á. * Quản lý thị trường dịch vụ viễn thông ở Trung Quốc: Năm 1993 đánh dấu sự cải tổ mạnh mẽ trong lĩnh vực viễn thông của Trung Quốc. Chính phủ nƣớc này đã khởi xƣớng cải tổ với mục tiêu tạo ra sự cạnh tranh trên thị trƣờng - mà vào thời điểm đó vẫn chịu sự độc quyền của China Telecom. Bộ Công nghiệp và Thông tin, cơ quan quản lý viễn thông của Trung Quốc, đã chia China Telecom thành 6 mạng viễn thông độc lập là China Telecom, China Netcom, China Mobile, China Unicom, China Railcom và China Satcom. China Unicom là hãng tiên phong trong việc hợp tác cùng đối tác nƣớc ngoài, xây dựng các hệ thống mạng di động và cố định ngay từ năm 1994. Và hãng này đã gia rất nhiều dự án liên doanh khác nhau trong lĩnh vực viễn thông. Ngành công nghiệp viễn thông Trung Quốc có tính chất rất đặc thù, hoàn toàn khác biệt với những nƣớc khác. Ngay từ những ngày đầu (1994), 26
- nhà nƣớc đã giám sát và kiểm soát khu vực này rất chặt chẽ, không cho phép nƣớc ngoài đầu tƣ vào các dịch vụ cơ bản. Tuy nhiên, từ sau khi gia nhập WTO,ngành công nghiệp đƣợc bao bọc này cuối cùng cũng mở cửa để đón nhận sự cạnh tranh quốc tế. Ba xu hƣớng nổi trội, bao trùm khu vực viễn thông tại các thị trƣờng mới nổi bao gồm: việc tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước; nới lỏng bớt các quy định ràng buộc và sự toàn cầu hóa, do có sự can thiệp của dòng vốn nước ngoài (qua đường tư nhân hóa). Xu thế chung khó cƣỡng lại của thị trƣờng dịch vụ viễn thông các nƣớc này là dần dần chuyển biến từ một (hoặc một số) các tổng công ty nhà nƣớc thành một tổng công ty mẹ với nhiều công ty con thuộc sở hữu tƣ nhân, những tập đoàn đa quốc gia v.v Viễn thông Trung Quốc đang phát triển theo một lộ trình rõ ràng: đi từ môi trƣờng hạn chế cạnh tranh sang cạnh tranh hiệu quả, với việc nhà nƣớc nới lỏng ảnh hƣởng trực tiếp, chiến lƣợc kinh doanh hƣớng tới thị trƣờng hơn và cả sự tham gia của nhiều nhà cung cấp dịch vụ mới. Lúc này, các mạng viễn thông lớn tại Trung Quốc cũng đang dần chuyển hƣớng, từ toàn lực xây dựng cơ sở hạ tầng mạng sang cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng mới. Sự chuyển hƣớng này cùng với việc hạ thấp giá thành thiết bị viễn thông đã mang lại sự cải thiện đáng kể cho môi trƣờng cạnh tranh của viễn thông Trung Quốc. * Quản lý thị trường dịch vụ viễn thông ở Ấn Độ: Nhu cầu phát triển lâu dài đối với những dịch vụ viễn thông cơ bản ở Ấn Độ là lớn nhất, tiếp đó sẽ là phát triển dịch vụ đƣờng dài trong nƣớc, đƣờng dài quốc tế và thông tin di động. Những điều kiện này đã tạo ra một cơ hội vô cùng lớn cho các nhà khai thác, cũng nhƣ các nhà sản xuất và thiết lập hạ tầng mạng. 27
- Trong năm 2003, một loạt hành động nhằm giải quyết những khúc mắc đã làm hạn chế đầu tƣ nƣớc ngoài vào lĩnh vực viễn thông đã đƣợc thực thi.Chính phủ đã quyết định áp dụng một cơ cấu cấp phép thống nhất, sau gần 2 năm triển khai, đã khiến cho ngành công nghiệp này vững tin rằng không còn tồn tại những thay đổi liên tục và sự không rõ ràng của các chính sách trƣớc đây. Trong năm qua, ở Ấn Độ, đã có rất nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ đƣờng dài trong nƣớc và quốc tế đã chuyển sang mạng IP (giao thức Internet) để giảm chi phí. Một số công ty khác cũng đã chuyển sang mạng VoIP để cải thiện tình hình lƣu lƣợng thoại của mình. Và kết quả là mức giá cƣớc đƣờng dài trong nƣớc đã giảm xuống rõ rệt. Những khởi xƣớng từ phía chính phủ đã tạo ra những thay đổi trong việc hạ giảm cƣớc phí, cũng nhƣ mức thuế đánh vào các thiết bị cho máy cầm tay. Song song với những động thái này, sự khuyến khích các khách hàng đăng ký sử dụng thuê bao cũng mạnh hơn. Tất cả những điều kiện trên đã tạo đà phát triển ở tốc độ cao cho ngành công nghiệp di động Ấn Độ. Luật Hội tụ đã đƣợc nghị viện Ấn Độ thông qua. Đây là luật nhằm đƣa viễn thông, công nghệ thông tin và phát thanh truyền hình vào sự quản lý của một cơ quan quản lý duy nhất là Uỷ ban Thông tin Ấn Độ. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm đối với việc quản lý tần số, cấp phép, xác định những điều kiện trong giấy phép, quyết định mức cƣớc phí và bảo đảm một môi trƣờng cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Trong khi đó các nhà hoạch định chính sách cũng đơn giản hóa nhiều thủ tục để quá trình phổ cập Internet tại Ấn Độ diễn ra nhanh hơn. Giá các thiết bị Internet di động và các công nghệ tƣơng tự đang giảm mạnh giúp phá vỡ rào cản và tạo ra các giá trị tăng trƣởng mạnh hơn dự kiến. Các lĩnh vực ứng dụng dành cho Wimax (công nghệ truy nhập băng rộng không dây) và 3G (3G - viết tắt của third generation technology, là công 28
- nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại nhƣ: tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh ) vẫn tiếp tục rộng mở. Vẫn còn rất nhiều chỗ trống dành cho 2 công nghệ này tại những thị trƣờng băng hẹp nhƣ Ấn Độ và nhiều nƣớc châu Á khác. Nhờ các quy định thân thiện, băng tần dồi dào và nhiều thiết bị đầu cuối giá rẻ nên việc chuyển giao từ mạng di động thoại băng hẹp sang mạng dữ liệu băng rộng 3G tại Ấn Độ cũng không quá khó khăn với nƣớc này. * Quản lý thị trường dịch vụ viễn thông ở Hàn Quốc: Cũng giống nhiều nƣớc khác, Hàn Quốc duy trì tình trạng độc quyền nhà nƣớc trong giai đoạn mới hình thành ngành viễn thông. Công ty Korea Telecom đƣợc giao nhiệm vụ phát triển mạng lƣới đồng đều phủ khắp trên cả nƣớc. Cho tới ngày nay, để thiết lập một xã hội thông tin, quan điểm của Chính phủ Hàn Quốc vẫn là kết hợp hai yếu tố: chiều rộng và chiều sâu. Hiện số ngƣời dùng Internet tại Hàn Quốc đã lên tới gần 36 triệu trên tổng số 48,4 triệu dân, chiếm 74%. Sự thâm nhập mạnh mẽ của Internet băng thông rộng tác động lớn đến đời sống và suy nghĩ của mọi ngƣời. Với đặc thù cần dựa trên công nghệ hiện đại, vấn đề thu hút vốn đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng viễn thông đƣợc các nƣớc rất quan tâm. Ở Hàn Quốc, chính phủ đã ƣu tiên nguồn vốn nhà nƣớc đầu tƣ cho ngành này. Ban đầu, do nguồn lực trong nƣớc còn hạn chế, Hàn Quốc áp dụng phƣơng pháp huy động vốn từ khách hàng bằng cách thu phí lắp đặt cao, phát hành tín phiếu bắt buộc khi khách hàng lắp đặt mới. Hàn Quốc rất coi trọng hoạt động tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Các công ty viễn thông trong nƣớc đƣợc khuyến khích liên doanh với các tập đoàn viễn thông lớn quốc tế để sản xuất thiết bị, và cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng. Một kinh nghiệm của Hàn Quốc chúng ta nên tìm hiểu thêm là sự bảo hộ của Chính phủ đối với lĩnh vực sản xuất tổng đài bằng cách không cho 29
- nhập khẩu thiết bị thành phẩm, chỉ cho phép đối tác nƣớc ngoài đƣa linh kiện và dây chuyền sản xuất vào sản xuất ở trong nƣớc thông qua các liên doanh để nắm bắt công nghệ và dây chuyền sản xuất. Quá trình chuyển đổi sở hữu các công ty viễn thông ở Hàn Quốc cũng đƣợc pháp luật cho phép. Tuy nhiên, hoạt động chuyển nhƣợng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh phải đƣợc sự phê chuẩn của Bộ Thông tin và Truyền thông. Qua nghiên cứu phát triển viễn thông của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn cómột số điểm cần chú ý: - Sự độc quyền trong điều kiện mạng lưới viễn thông chưa phát triển Ban đầu khi mạng lƣới viễn thông còn lạc hậu, mật độ sử dụng điện thoại chƣa cao, nhiệm vụ phát triển mạng lƣới viễn thông đƣợc giao cho một công ty quốc doanh độc quyền thực hiện ở Hàn Quốc là Korea Telecom, ở Trung Quốc là China Telecom, Việc cho phép một công ty quốc doanh độc quyền và phát triển mạng viễn thông quốc gia ở thời kỳ này đảm bảo đƣợc mục tiêu phát triển mạng lƣới đồng đều phủ khắp trên cả nƣớc, tránh việc phát triển không cân đối giữa các vùng, các lĩnh vực. Mặt khác, thông qua công ty quốc doanh này, Nhà nƣớc dễ dàng hơn trong việc điều tiết, kiểm soát và đầu tƣ đối với lĩnh vực quan trọng này. Sự độc quyền này chấm dứt khi mạng lƣới phát triển đạt mức độ phổ cập khá cao (đạt tỷ lệ khoảng 30 máy điện thoại/100 dân), nhu cầu sử dụng điện thoại của ngƣời dân cơ bản đƣợc đáp ứng. Ngày nay trƣớc nhu cầu vốn và công nghệ hiện đại, sức ép của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài với tiềm lực tài chính mạnh mẽ, các nƣớc đang phát triển khó có thể đi theo con đƣờng của các nƣớc phát triển đã làm vào những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trƣớc. Các nƣớc sẽ phải xoá bỏ độc quyền từ từ, nhƣng cần thận trọng và chỉ nên làm ở lĩnh vực không có mạng lƣới. 30
- - Sự sáng tạo trong huy động vốn đầu tư cho viễn thông Khi mật độ điện thoại còn thấp (dƣới 10 máy/100 dân), nhu cầu điện thoại và các dịch vụ viễn thông cơ bản của xã hội chƣa đƣợc đáp ứng (cầu lớn hơn cung rất nhiều) thì phƣơng pháp huy động vốn hữu hiệu nhất là từ khách hàng nhƣ thu phí lắp đặt cao, phát hành tín phiếu bắt buộc khi khách hàng lắp đặt mới (Nhật, Hàn Quốc), phát hành trái phiếu rộng rãi với mức lãi suất phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả kinh doanh của ngành viễn thông .Với các phƣơng pháp huy động vốn kiểu này, Chính phủ cần có chính sách cƣơng quyết trƣớc phản ứng về phí lắp đặt cao và tín phiếu bắt buộc, mang tính rất tự nhiên của khách hàng. Một nguồn vốn đầu tƣ lớn cần huy động nữa đó là từ ƣu tiên đầu tƣ của Chính phủ, tăng tỷ lệ đầu tƣ cho ngành viễn thông (Hàn Quốc, Trung Quốc). Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể bảo lãnh để ngành Viễn thông vay vốn của Chính phủ các nƣớc và các tổ chức tài chính nƣớc ngoài cũng sẽ là một nguồn thu hút vốn đầu tƣ lớn mà ngành viễn thông cần áp dụng (Trung Quốc). Ngày nay, khi xã hội thông tin phát triển, các biện pháp cứng rắn dễ gặp sự phản kháng của khách hàng, Nhà nƣớc cần đề ra các biện pháp tăng tốc, huy động vốn từ khách hàng với tinh thần góp phần xây dựng mạng điện thoại là xây dựng một tài sản chung của quốc gia, nêu cao tinh thần dân tộc của ngƣời dân. - Đầu tư phát triển công nghệ Ở những nƣớc có xuất phát điểm thấp nhƣ Hàn Quốc, Trung Quốc, để phát triển nhanh mạng lƣới viễn thông cả về quy mô và công nghệ thì phải đầu tƣ thẳng vào công nghệ hiện đại, tiến hành mua thiết bị đi đôi với việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Và việc đầu tƣ thiết bị trên mạng lƣới phải đƣợc tiến hành đồng bộ, tránh tình trạng các thiết bị không tƣơng thích và không có khả năng nâng cấp mở rộng. Biện pháp tốt nhất để tiếp nhận chuyển 31
- giao công nghệ là cho phép các công ty lớn trong nƣớc lập những liên doanh với các công ty công nghệ cao của nƣớc ngoài để sản xuất các thiết bị viễn thông nhƣ tổng đài, thiết bị truyền dẫn, thiết bị đầu cuối. Song song đó, Chính phủ cũng phải có chính sách đầu tƣ nghiên cứu khoa học công nghệ để tạo ra sức mạnh tổng hợp, tiến tới mục tiêu làm chủ kỹ thuật trên mạng lƣới và nội địa hoá các tổng đài viễn thông. - Quá trình tạo cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở các nước Kinh nghiệm ở các nƣớc cho thấy, quá trình tạo cạnh tranh phải đƣợc chuẩn bị bằng việc xây dựng đầy đủ các chính sách, quy định pháp luật về viễn thông cho phù hợp với quy định quốc tế (Trung Quốc). Đồng thời phải hỗ trợ các công ty trong nƣớc có một tiềm lực về thị trƣờng, công nghệ, tài chính đủ mạnh để có đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn viễn thông hùng mạnh của nƣớc ngoài (Hàn Quốc, Trung Quốc). Quá trình này phải làm thật bài bản, chặt chẽ từng bƣớc một, không nên đốt cháy giai đoạn. Việc mở cửa thị trƣờng dịch vụ viễn thông phải đƣợc tiến hành thận trọng, bắt đầu từ các lĩnh vực nhƣ thiết bị đầu cuối, các dịch vụ giá trị gia tăng, sau đó đến lĩnh vực thông tin di động và điện thoại đƣờng dài quốc tế Mỹ, Hàn Quốc). Thời điểm mở cửa trong lĩnh vực điện thoại cố định cần phải đƣợc cân nhắc kỹ lƣỡng tuỳ thuộc hoàn cảnh thực tế của mỗi nƣớc. Ngoài ra, Nhà nƣớc cần có chính sách bảo hộ cho lĩnh vực sản xuất thiết bị viễn thông để thúc đẩy sản xuất trong nƣớc phát triển, nâng cao khả năng làm chủ công nghệ trên mạng lƣới của các công ty trong nƣớc (Hàn Quốc). Khi thúc đẩy tự do hoá, tạo cạnh tranh, Nhà nƣớc cần quan tâm quản lý chặt đến các công ty viễn thông lớn, nới lỏng quản lý đối với các công ty nhỏ, không có khả năng ảnh hƣởng đến mạng lƣới quốc gia. Chính sách này sẽ khuyến khích các công ty viễn thông nhỏ phát triển, nâng cao tính xã hội hoá của lĩnh vực viễn thông. 32
- 1.5.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Hiện nay, nƣớc ta đang xây dựng nền kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa. Điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Do vậy, QLNN về thị trƣờng dịch vụ viễn thông cần chú ý một số điểm sau: - Mô hình quản lý viễn thông nên là phân định, tách bạch chức năng xây dựng hoạch định chính sách (Policy Maker) với chức năng thực thi chính sách; điều tiết quản lý thị trƣờng (Regulator); còn doanh nghiệp viễn thông đóng vai trò vận hành mạng và cung cấp dịch vụ. Mô hình trên phù hợp với việc cung cấp dịch vụ viễn thông theo nhu cầu của thị trƣờng, thay vì dựa trên quyết định của cơ quan QLNN. Đồng thời mô hình này cũng phù hợp với yêu cầu của WTO trong đó yêu cầu cơ quan điều tiết tách khỏi đơn vị vận hành cung cấp dịch vụ, để đảm bảo minh bạch trong việc giải quyết các tranh chấp. - Về chức năng quản lý: Nhiệm vụ quản lý và thực thi pháp luật trong lĩnh vực viễn thông cần đƣợc quy định trong luật viễn thông hoặc các văn bản quản lý tƣơng đƣơng với mục tiêu là đảm bảo bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, đảm bảo quyền lợi ngƣời sử dụng, đảm bảo sử dụng chung cơ sở hạ tầng thông tin, khai thác hiệu quả tài nguyên quốc gia (phổ tần số, kho số, tên miền). Ngoài ra, Nhà nƣớc nên giao cho Cơ quan quản lý viễn thông độc lập quản lý hoạt động cạnh tranh đặc thù trong viễn thông nhằm đảm bảo cho thị trƣờng dịch vụ viễn thông phát triển lành mạnh. - Nhà nƣớc cần kết hợp cả hệ thống doanh nghiệp nhà nƣớc và doanh nghiệp tƣ nhân để cung cấp dịch vụ cho toàn xã hội. Chúng ta không nên tƣ nhân hoá hoàn toàn, vì điều kiện pháp lý chƣa chặt chẽ và đủ mạnh. Tuy nhiên, cũng không đƣợc duy trì tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp nhà nƣớc mà gây tổn hại cho nền kinh tế. 33
- - Về hạ tầng mạng viễn thông quốc gia: Xu hƣớng chung là Nhà nƣớc nên giao cho một cơ quan quản lý .Vì hạ tầng mạng là bộ phận nền tảng, liên quan đến an ninh - chính trị quốc gia. Và với điều kiện hạn chế về kinh tế - xã hội, luật pháp ở Việt Nam hiện nay thì vẫn chƣa nên tƣ nhân hoá quản lý và kinh doanh hạ tầng mạng quốc gia. Thay vào đó, Nhà nƣớc đóng vai trò làm trọng tài trong việc đảm bảo kết nối, sử dụng chung cơ sở hạ tầng, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà khai thác, đảm bảo quyền lợi khách hàng. - Do giới hạn bởi điều kiện công nghệ những năm trƣớc đây, một số nƣớc chƣa cho tự do hoá mạng điện thoại cố định. Tuy nhiên, khoa học kỹ thuật hiện nay đã cho ra đời mạng điện thoại cố định không dây, hoạt động thông qua các trạm phát sóng di động nên không cần kéo cáp. Vì vậy, điện thoại cũng không có dây lòng thòng và có thể di chuyển linh hoạt trong phạm vi gia đình, chỉ cần chỗ nào có sóng là điện thoại hoạt động đƣợc, phù hợp với những khách hàng ở vùng sâu, vùng xa. Do vậy, Nhà nƣớc nên cho tự do hoá phát triển loại hình này. 34
- Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Phƣơng pháp luận Luận văn dựa trên nền tảng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin nhƣ phƣơng pháp duy vật biện chứng và phƣơng pháp duy vật lịch sử để phân tích đánh giá hoạt động của thị trƣờng viên thông Việt Nam trong quá khứ và hiện tại. 2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể Tác giả sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích, so sánh, phân tích tỷ lệ nhằm đƣa ra các căn cứ, số liệu minh họa các luận điểm đồng thời góp phần dự đoán các giai đoạn tiếp theo. 2.2.1 Sử dụng phương pháp thống kê mô tả Tác giả đã sử dụng phƣơng pháp này để thu thập, phân tích, trình bày và giải thích về công tác quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng viễn thông Viêt Nam từ khi hình thành đến nay. Ví dụ theo số liệu thống kê về tốc độ tăng trƣởng doanh thu của doanh nghiệp viễn thông tại mục 1.4.1 tác giả đã tổng hợp từ số liệu của cơ quan chuyên nghành là Bộ thông tin và Truyền thông để thống kê từ đó đánh giá đƣợc tốc độ tăng trƣởng doanh thu năm sau so với năm trƣớc. Theo đó, cũng sử dụng phƣơng pháp thông kê mô tả, tác giả thống kê báo cáo chất lƣợng dịch vụ mạng của các nhà mạng hàng năm để đánh giá chất lƣợng theo đúng tiêu chuẩn của Nhà nƣớc đa quy định trên từng tiêu chí. 2.2.2 sử dụng phương pháp so sánh và phân tích tỷ lệ. Tác giả sử dụng phƣơng pháp so sánh số liệu thống kê liên quan đến số liệu tăng trƣởng thuê bao và doanh thu của mạng, số liệu thống kê tỷ lệ đạt đƣợc trên tiêu chuẩn chất lƣợng dịch vụ để từ đó phân tích và so sánh đƣợc nhà mạng nào đang kinh doanh dịch vụ tốt nhất. Đƣa ra các đánh giá liên quan. 2.2.3. Sử dụng phương pháp phân tích. Tác giả sử dụng phƣơng pháp này nhằm phân tích thực trạng của công tác quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng viễn thông. Phân tích những kết quả đạt đƣợc, 35
- những hạn chế yếu kém, tìm ra các nguyên nhân của những hạn chế yếu kém nhằm tìm ra các giải pháp cho công tác này trong giai đoạn tiếp theo. 2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu. - Địa điểm nghiên cứu: Thực hiện tại Bắc Giang. - Thời gian nghiên cứu: Thời gian thực hiện nghiên cứu từ năm 2012 đến 2014. 2.4. Các bƣớc thực hiện và thu thập số liệu. Tác giả thực hiện theo tuần tự các bƣớc nghiên cứu nhƣ sau: Bƣớc 1: Nghiên cứu tài liệu nhằm xác định khung lý thuyết, cơ sở lý luận công tác quản lý của nhà nƣớc về thị trƣờng viễn thông. Bƣớc này chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu tại chƣơng 1. Trong chƣơng này tác giả chủ yếu thu thập tài liệu trên các văn bản sau: Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam (2006), Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ. Bộ Bƣu chính - Viễn thông (2012), Chỉ thị số 07/CT- BBCVT ngày 7 tháng 7 năm 2012 Về định hướng Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam giai đoạn 20112- 2010 (gọi tắt là Chiến lược Cất cánh). Bộ Bƣu chính - Viễn thông (2005), Chỉ thị số 10/2005/CT-BBCVT ngày 30 tháng 09 năm 2005 Về việc đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông. Bộ Bƣu chính - Viễn thông (2006), Thông tư số 05 /2006/TT-BBCVT ngày 06 tháng 11 năm 2006 Hướng dẫn thực hiện Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2015 Trong phần này tác giả chủ yếu sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả để liệt kê, trình bày những khái niệm cơ bản, những nội dung quan trọng trong chƣơng 1. Bƣớc 2: Thu thập tài liệu, số liệu phục vụ phân tích thực trạng quản lý Nhà nƣớc về thị trƣờng viễn thông Việt Nam. Bƣớc này chủ yếu phục vụ cho chƣơng 3. Trong bƣớc này tác giả thu thập số liệu thứ cấp dạng thô trên các báo cáo tổng kết, báo cáo của các cơ 36
- quan quản lý chuyên nghành nhƣ Sở thông tin và Truyền thông Tỉnh Bắc Giang, báo cáo thống kê của Bộ thông tin và Truyền thông. Các số liệu này đƣợc xử lý bằng phần mềm Exel. Sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích tỷ lệ để thu thập thông tin, phân tích số liệu về các hoạt động của thị trƣờng viễn thông từ đó đánh giá thực trạng, đánh giá kết quả đạt đƣợc, những hạn chế của công tác quản lý. Bƣớc 3: Trên cơ sở kết luận phân tích thực trạng quản lý, đề xuất một số định hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý của Nhà nƣớc về thị trƣờng viễn thông. Bƣớc này chủ yếu phục vụ cho chƣơng 4. Tác giả sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích để trình bày các nội dung. 37
- Chƣơng 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 3.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM Giai đoạn 1986 - 1990: Tổng cục Bƣu điện là cơ quan QLNN về bƣu chính, viễn thông; đồng thời kiêm nhiệm chức năng sản xuất - kinh doanh. Tổng cục Bƣu điện đã chủ động áp dụng một số cơ chế làm thử nhƣ: hạch toán toàn phần và tự hoàn vốn, tự cân đối kế hoạch ngoại tệ, bắt đầu ứng dụng những công nghệ hiện đại theo hƣớng số hoá, tự động hoá Giai đoạn 1990 - 1995: Ngành tiến hành đổi mới tổ chức, tách QLNN và sản xuất - kinh doanh, thành lập các đơn vị chuyên ngành. Ngày 26/10/1992, Chính phủ ra Nghị định số 03/CP về việc thành lập lại Tổng cục Bƣu điện là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có chức năng QLNN về bƣu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện; đồng thời còn chủ quản các doanh nghiệp nhà nƣớc trong ngành Bƣu chính - Viễn thông. Ngành tiếp tục đầu tƣ mạng lƣới với tốc độ lớn trên diện rộng. Tháng 8/1993, tuyến cáp quang đƣờng trục Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh dung lƣợng 34Mb/s đầu tiên đƣợc đƣa vào sử dụng. Tháng 10 cùng năm, hệ thống viba số băng rộng dung lƣợng 140Mb/s đƣợc đƣa vào khai thác trên tuyến trục Bắc - Nam. Tháng 12/1993, mạng viễn thông liên tỉnh đƣợc số hoá toàn bộ 53/53 tỉnh, thành phố trong cả nƣớc. Để giải quyết khó khăn về vốn, ngành đã xin phép Chính phủ cho triển khai cơ chế tạo vốn thông qua việc nâng cao tỷ lệ khấu hao thiết bị, huy động vốn trong cán bộ công nhân viên, sử dụng một phần thu vƣợt kế hoạch, hỗ trợ của địa phƣơng. Ngành cũng đã bƣớc đầu hợp tác kinh doanh với các công ty nƣớc ngoài.Tuy nhiên trong giai đoạn này, chỉ tiêu phổ cập dịch vụ viễn 38
- thông còn thấp, các loại hình dịch vụ chƣa đa dạng, sự phân tách giữa chức năng QLNN và chức năng kinh doanh chƣa rõ ràng, trình độ công nghệ của ngành vẫn còn nhiều hạn chế so với thế giới. Và đặc điểm quan trọng của thời kỳ này là thị trƣờng dịch vụ viễn thông Việt Nam chủ yếu đƣợc thống trị bởi độc quyền nhà nƣớc. Giai đoạn 1995 - 2002: Giai đoạn này đƣợc đánh dấu bằng việc tách chức năng QLNN và chức năng kinh doanh trong ngành. Tổng cục Bƣu điện thực hiện chức năng QLNN, tập trung xây dựng cơ chế, chính sách và chiến lƣợc phát triển ngành. Ngày 19/4/1995, Tổng công ty Bƣu chính - Viễn thông đƣợc thành lập theo Quyết định số 249/TTg của Thủ tƣớng Chính phủ, hoạt động theo mô hình Tổng công ty 91 trực thuộc Chính phủ. Số lƣợng các nhà cung ứng dịch vụ viễn thông trên thị trƣờng gia tăng. Năm 1995, Tổng công ty Bƣu chính - Viễn thông hợp tác dƣới hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty Comvik của Thuỵ Điển để thành lập Công ty thông tin di động VMS-MobiFone. Đến năm 1996 có thêm VinaPhone (công ty con 100% vốn của Tổng công ty Bƣu chính - Viễn thông). Năm 1998 thêm 2 công ty đƣợc nhà nƣớc cấp phép hoạt động là: Công ty điện tử - viễn thông quân đội Viettel; Công ty cổ phần dịch vụ Bƣu chính - Viễn thông Sàigòn (Saigonpostel). Tổng công ty Bƣu chính - Viễn thông đã chủ động vay vốn, đầu tƣ phát triển mạng lƣới (đặc biệt là ở các vùng nông thôn), phát triển các dịch vụ mới (điện thoại di động, Internet ). Trong giai đoạn này, Tổng công ty Bƣu chính - Viễn thông đã thực hiện 3 dự án sử dụng nguồn vay tín dụng từ nƣớc ngoài. Trong đó có một dự án trị giá 88 triệu USD vay của Nhật Bản để phát triển mạng lƣới viễn thông cho 10 tỉnh miền Trung; một dự án 10 triệu USD vay của Pháp để phát triển viễn thông các vùng nông thôn miền Bắc; và một dự án 50 triệu USD vay của Thuỵ Điển cho các vùng nông thôn phía Nam. 39
- Giai đoạn từ sau năm 2002: Đây là giai đoạn quan trọng, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho hội nhập quốc tế của ngành viễn thông Việt Nam. QLNN với thị trƣờng đã có nhiều thay đổi, trƣớc hết thể hiện bằng sự sắp xếp lại các cơ quan để cho ra đời Bộ Bƣu chính viễn thông (năm 2002) và Bộ Thông tin và Truyền thông (năm 2007). Cùng với đó là Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông (2002) và Dự thảo Luật Viễn thông chuẩn bị đƣợc Quốc hội thông qua trong năm 2009. Với nhiều đổi mới trong cơ chế quản lý, viễn thông Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu, và ngày càng trở thành một trong những động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội đất nƣớc phát triển. 3.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG NHỮNG NĂM QUA 3.2.1. Thiết lập khuôn khổ pháp luật cho thị trường dịch vụ viễn thông Ngày 25/5/2002, Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội khoá X thông qua Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông. Đây là văn bản pháp lý cao nhất cho đến nay điều chỉnh lĩnh vực viễn thông (dự kiến trong năm 2009, Quốc hội sẽ thông qua Luật Viễn thông). Pháp lệnh đã quy định hoạt động viễn thông, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bƣu chính, viễn thông. Từ năm 2002, ngoài Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông do Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội ban hành, Quốc hội đã ban hành một số Luật có liên quan đến hoạt động viễn thông nhƣ Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tƣ, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa, Luật Công nghệ cao, Luật Chuyển giao công nghệ Chính phủ cũng đã ban hành một số văn bản để kịp thời quản lý hoạt động có liên quan đến lĩnh vực viễn thông (nhƣ Nghị định số 60/2004/NĐ51 CP về viễn thông, Nghị định số 24/2004/NĐ-CP về tần số vô tuyến điện,Nghị định 97/2008/NĐ-CP về việc quản lý, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet tại Việt Nam, Nghị định số 90/2008/NĐ-CP về chống thƣ 40
- rác, Nghị định số 03/2007/QĐ-BTTTT về việc ban hành Quy định quản lý thuê bao di động trả trƣớc) Dƣới Chính phủ, các Bộ cũng có những Thông tƣ, Chỉ thị hƣớng dẫn chi tiết quá trình triển khai thực hiện, ví dụ: Thông tƣ số 110/2005/TT-BTC ngày ngày 08 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính về việc hƣớng dẫn chế độ hạch toán, thu nộp các khoản đóng góp cho Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam, Thông tƣ số 05 /2006/TT-BBCVT ngày 06 tháng 11 năm 2006 của Bộ Thông tin và Truyền thông Hƣớng dẫn thực hiện Chƣơng trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2010, Những văn bản pháp lý trên đã cụ thể hoá những nội dung QLNN vào thị trƣờng. Ví dụ, Chỉ thị số 10/2005/CT-BBCVT của Bộ Bƣu chính - Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) ngày 30 tháng 09 năm 2005 về việc đảm bảo và nâng cao chất lƣợng dịch vụ viễn thông đã chỉ rõ trách nhiệm của từng đơn vị chức năng trong Bộ, và các Sở Bƣu chính - Viễn thông đối với việc quản lý kiểm soát chất lƣợng dịch vụ do các doanh nghiệp viễn thông cung cấp cho khách hàng. Cụ thể: - Vụ Khoa học - Công nghệ: + Nghiên cứu khung các dịch vụ viễn thông phải quản lý chất lƣợng. Rà soát, sửa đổi các tiêu chuẩn ngành về chất lƣợng dịch vụ, đảm bảo các chỉ tiêu chất lƣợng phù hợp. + Chủ trì tổ chức các cuộc họp chuyên đề về chất lƣợng dịch vụ với các doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan để triển khai thống nhất và có hiệu quả trong toàn ngành. - Cục Quản lý chất lƣợng Bƣu chính - Viễn thông và Công nghệ thông tin: + Nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý chất lƣợng dịch vụ viễn thông, đảm bảo việc thực thi quản lý chất lƣợng chặt chẽ hơn, cụ thể hơn. 41
- + Nghiên cứu xây dựng và triển khai Đề án giám sát chất lƣợng dịch vụ viễn thông. Có kế hoạch tăng cƣờng năng lực đo kiểm chất lƣợng dịch vụ. Tăng cƣờng phối hợp với doanh nghiệp về quy trình đo kiểm. + Thực hiện công bố báo cáo chất lƣợng dịch vụ của doanh nghiệp, kết quả kiểm tra, giám sát chất lƣợng dịch vụ do Cục tiến hành. + Thanh tra Cục Quản lý chất lƣợng Bƣu chính - Viễn thông và Công nghệ thông tin chủ trì xem xét quy trình xử lý vi phạm về chất lƣợng dịch vụ, triển khai xử lý vi phạm hành chính về chất lƣợng dịch vụ theo thẩm quyền. - Thanh tra Bộ Bƣu chính - Viễn thông: Phối hợp với Thanh tra Cục Quản lý chất lƣợng Bƣu chính - Viễn thông và Công nghệ thông tin rà soát, thống nhất quy trình xử lý vi phạm về chất lƣợng dịch vụ, thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về chất lƣợng dịch vụ, đặc biệt là các vi phạm nghiêm trọng và lặp lại. - Vụ Viễn thông: Nghiên cứu xây dựng quy định, chính sách về kết nối, thuê kênh kết nối giữa các doanh nghiệp nhằm bảo đảm chất lƣợng dịch vụ hoàn chỉnh cung cấp cho khách hàng. - Vụ Kế hoạch - Tài chính: + Xem xét, kiến nghị điều chỉnh cơ chế quản lý giá cƣớc dịch vụ cho thuê kênh, quy định về giá cƣớc kết nối giữa các doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nâng cao chất lƣợng dịch vụ. + Hoàn thiện bộ định mức, đơn giá đo kiểm chất lƣợng dịch vụ viễn thông nhằm tạo điều kiện cho việc triển khai công tác quản lý chất lƣợng. - Cục Tần số Vô tuyến điện: Hoàn thiện quy hoạch băng tần và phân bổ tần số vô tuyến điện hợp lý nhằm giảm thiểu can nhiễu. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát tần số và xử lý can nhiễu, nâng cao chất lƣợng thông tin vô tuyến điện. 42
- - Các Sở Bƣu chính - Viễn thông: + Chuẩn bị về tổ chức, có đầu mối giám sát về chất lƣợng dịch vụ viễn thông. Phát hiện và phản ảnh các vấn đề tồn tại về chất lƣợng trên địa bàn về Bộ Bƣu chính - Viễn thông để có kế hoạch, biện pháp xử lý. + Tham mƣu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố về việc quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhanh chóng triển khai mạng ngoại vi và ngầm hoá mạng cáp. Sự phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ nhƣ trên đã buộc các doanh nghiệp viễn thông trên thị trƣờng phải chú ý hơn tới chất lƣợng dịch vụ cung cấp, đảm bảo tiêu chuẩn do Bộ đề ra. 3.2.2. Tạo lập môi trường thuận lợi cho sản xuất - kinh doanh Những văn bản pháp lý của Nhà nƣớc đã thúc đẩy cạnh tranh, khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp mới tham gia thị trƣờng. Đối với loại doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông năm 2002 quy định mọi doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, đƣợc thành lập theo quy định của Pháp luật đều đƣợc tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông. Chính sách này đã góp phần phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế cho công cuộc phát triển ngành viễn thông Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng đƣợc tự chủ hơn trong việc quyết định giá cƣớc. Chính phủ chỉ quyết định những giá cƣớc có ảnh hƣởng lớn tới xã hội. Do vậy, giá cƣớc từng bƣớc giảm xuống bằng và thấp hơn mức bình quân của khu vực và thế giới trong khi hạ tầng kỹ thuật viễn thông và chất lƣợng dịch vụ viễn thông ngày càng đƣợc nâng cao. Về đảm bảo quyền sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, Luật Đầu tƣ năm 2005 quy định: 43
- “Điều 6. Bảo đảm về vốn và tài sản 1. Vốn đầu tƣ và tài sản hợp pháp của nhà đầu tƣ không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. 2. Trƣờng hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nƣớc trong mua, trƣng dụng tài sản của nhà đầu tƣ thì nhà đầu tƣ đƣợc thanh toán hoặc bồi thƣờng theo giá thị trƣờng tại thời điểm công bố việc trƣng mua, trƣng dụng. Việc thanh toán hoặc bồi thƣờng phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tƣ. 3. Đối với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thƣờng tài sản quy định tại khoản 2 Điều này đƣợc thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và đƣợc quyền chuyển ra nƣớc ngoài.” Nhƣ vậy, các khoản vốn và tài sản của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc pháp luật Việt Nam bảo hộ, tạo tâm lý giúp các nhà đầu tƣ, tập đoàn quốc tế an tâm hoạt động lâu dài tại Việt Nam. Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông quy định các mạng của doanh nghiệp viễn thông có thể kết nối vào đƣờng trục viễn thông quốc gia. Doanh nghiệp viễn thông có quyền kết nối mạng viễn thông của mình với mạng hoặc dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp khác, đồng thời có nghĩa vụ cho các doanh nghiệp viễn thông khác kết nối vào mạng hoặc dịch vụ viễn thông của mình với điều kiện công bằng và hợp lý trên cơ sở sử dụng hiệu quả tài nguyên thông tin, sử dụng chung vị trí kết nối và cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông qua thoả thuận kết nối giữa các bên. Doanh nghiệp viễn thông nắm giữ các phƣơng tiện thiết yếu có vai trò quyết định trong việc kết nối và cung cấp dịch vụ viễn thông không đƣợc từ chối yêu cầu kết nối của các chủ mạng viễn thông dùng riêng và các doanh nghiệp viễn thông khác, đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán và thực hiện kết nối, nếu yêu cầu đƣa ra hợp lý và khả thi về kinh tế, kỹ thuật. 44
- Điều 42 Dự thảo Luật Viễn thông cũng khẳng định nguyên tắc kết nối viễn thông: Doanh nghiệp viễn thông có quyền kết nối mạng viễn thông của mình với mạng hoặc dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp viễn thông khác,đồng thời có nghĩa vụ cho các doanh nghiệp viễn thông khác kết nối vàomạng hoặc dịch vụ viễn thông của mình dựa trên các nguyên tắc sau: 1. Công bằng, hợp lý, thông qua thƣơng lƣợng trên cơ sở thƣơng mại; 2. Sử dụng hiệu quả tài nguyên viễn thông và cơ sở hạ tầng viễn thông; 3. Bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật về kết nối viễn thông và sự an toàn,thống nhất của các mạng viễn thông; 4. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sử dụng dịch vụ viễn thông.” Điều 43 Dự thảo Luật Viễn thông quy định nghĩa vụ kết nối các mạng viễn thông công cộng: 1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng có nghĩa vụ: a) Cung cấp kết nối tại bất kỳ điểm nào trên mạng viễn thông khả thi về mặt kỹ thuật; b) Bảo đảm kết nối kịp thời, hợp lý, minh bạch; c) Không phân biệt đối xử về giá cƣớc, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật,chất lƣợng mạng và dịch vụ viễn thông. 2. Doanh nghiệp viễn thông nắm giữ các phƣơng tiện thiết yếu có nghĩa vụ: a) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán và thực hiện kết nối của các doanh nghiệp viễn thông khác; b) Xây dựng, đăng ký bản thoả thuận kết nối mẫu với các điều kiện hợp lý, minh bạch, không phân biệt đối xử với cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông và công bố công khai bản thoả thuận đó. 3. Giá cƣớc kết nối viễn thông đƣợc xây dựng trên cơ sở giá thành, phân tách hợp lý theo các bộ phận cấu thành mạng hoặc theo công đoạn dịch vụ, không phân biệt giữa các loại hình dịch vụ. 45
- 4. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể trình tự, thủ tục đàm phán, ký kết, thực hiện thoả thuận, hợp đồng kết nối các mạng viễn thông công cộng; chủ trì hiệp thƣơng và giải quyết tranh chấp kết nối giữa các doanh nghiệp viễn thông.” Nhƣ vậy, nếu thực thực hiện tốt những quy định trên trong thực tế sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông có thể tiếp cận thị trƣờng một cách bình đẳng. Tuy nhiên, hiện tại đƣờng trục viễn thông quốc gia vẫn đƣợc nhà nƣớc giao cho Tập đoàn Bƣu chính - Viễn thông quản lý. Điều này gây ra một số khó khăn cho các doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh của Tập đoàn Bƣu chính - Viễn thông. 3.2.3. Đảm bảo kết cấu hạ tầng dịch vụ viễn thông Sau những nỗ lực của Tập đoàn Bƣu chính - Viễn thông, cuối năm 2005, 100% số xã trong cả nƣớc đã đƣợc kết nối mạng điện thoại. Sự kết nối này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khai thác khách hàng tiềm năng ở tất cả các vùng miền trên toàn quốc. Ngoài ra, sự hỗ trợ về kết cấu hạ tầng viễn thông của Nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp còn thể hiện ở sự kiện đầu tƣ và phóng thành công vệ tinh viễn thông VINASAT-1. Dự án phóng vệ tinh viễn thông VINASAT-1 là dự án cấp quốc gia, đƣợc Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Từ năm 1998. Chính phủ đã thông qua Báo cáo tiền khả thi Dự án phóng vệ tinh Việt Nam - VINASAT của Tổng cục Bƣu điện (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông). Năm 2002, Chính phủ đã thông qua các nội dung cơ bản của báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án VINASAT và đến năm 2005 đã ban hành quyết định về đầu tƣ dự án, giao Tập đoàn Bƣu chính - Viễn thông là chủ đầu tƣ và thực hiện. Sau khi đƣợc Chính phủ giao nhiệm vụ, Tập đoàn Bƣu chính - Viễn thông đã lựa chọn nhà sản xuất vệ tinh là Lockheed Martin và ArianeSpace là nhà thầu phụ phóng vệ tinh. 46
- Khi đã phóng thành công và đi vào khai thác, sẽ có hai loại dịch vụ cơ bản đƣợc VINASAT-1 cung cấp là cho thuê băng tần vệ tinh và các dịch vụ trọn gói nhƣ thuê kênh riêng, phát hình lƣu động, đào tạo từ xa, truyền hình DTH, truyền hình hội nghị, truyền dữ liệu ngân hàng, đƣờng truyền ISP, kênh thuê riêng cho điện thoại, Ý tƣởng phóng vệ tinh viễn thông của riêng Việt Nam xuất phát từ việc các doanh nghiệp và tổ chức của Việt Nam đã và đang phải trả một khoản ngoại tệ lớn thuê vệ tinh của nƣớc ngoài. Nếu có vệ tinh riêng, theo tính toán Việt Nam sẽ tiết kiệm đƣợc nhiều chi phí, do giá thuê kênh thƣơng mại một kênh vệ tinh thƣờng cao hơn giá thành từ 1,8 đến 3 lần. Ngoài ra, việc sở hữu vệ tinh riêng giúp chúng ta có thêm tự chủ và có điều kiện nâng cao năng lực mạng lƣới và chất lƣợng các dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông. 3.2.4. Hỗ trợ phát triển Tổ chức các hội nghị, hội thảo hằng năm. Hằng năm, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức rất nhiều Hội nghị và hội thảo quốc tế thông tin và truyền thông tại Việt Nam. Đây là những cơ hội để các doanh nghiệp viễn thông trong nƣớc tiếp cận với các xu hƣớng công nghệ, kiến thức quản lý mới của các Tập đoàn, chuyên gia viễn thông quốc tế. Ví dụ, ngày 20/5/2009 đã diễn ra Hội nghị viễn thông quốc tế Việt Nam với chủ đề “Xây dựng một tƣơng lai di động và băng rộng bền vững cho Việt Nam”, hội nghị lần thứ hai này đã thu hút đƣợc sự tham gia của trên 150 đại biểu đến từ các Bộ, Ngành trung ƣơng, các doanh nghiệp viễn thông trong và ngoài nƣớc, các tổ chức quốc tế Một loạt các nội dung quan trọng đã đƣợc đề cập tại Hội nghị nhƣ:các mục tiêu phát triển viễn thông Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và kế hoạch triển khai của các doanh nghiệp; làm thế nào để Việt Nam có thể tối ƣu hoá mạng di động và thiết lập kết nối Internet khắp nơi trên toàn quốc. Đại 47
- diện các tập đoàn viễn thông lớn đã chia sẻ với các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam công thức triển khai 3G hiệu quả bao gồm 4 bƣớc cơ bản: Thứ nhất, “Chính xác ngay từ lần đầu tiên” (“First time right”): 3G là công nghệ mới đã đƣợc chờ đợi từ rất lâu. Chính vì vậy, việc làm hài lòng khách hàng ngay từ lần đầu tiên họ tiếp xúc với dịch vụ 3G là điều hết sức cần thiết. Thứ hai, “Hãy chọn dịch vụ đúng” (“Get your service right”): hiện nay,rất nhiều dịch vụ nội dung hấp dẫn đƣợc giới thiệu và đƣa vào sử dụng ở nhiều nƣớc nhƣng điều quan trọng nhất là phải biết đƣợc loại dịch vụ nào phù hợp với thị trƣờng nƣớc mình. Thứ ba, “Định hƣớng khách hàng” (“Customer Education”): các nhà cung cấp 3G cần trang bị cho khách hàng của mình kinh nghiệm sử dụng và tìm hiểu thói quen của khách hàng. Thứ tư, phụ thuộc vào các thiết bị đầu cuối phù hợp (“Customized handsets”). Vai trò của các thiết bị đầu cuối cũng không kém phần quan trọng trong việc giúp tận dụng tối đa lợi ích do 3G mang lại. Bên cạnh những chức năng đa phƣơng tiện và phong phú có thể hỗ trợ 3G tốt nhất thì một thiết bị di động với tính năng thân thiện với ngƣời sử dụng chắc chắn sẽ đƣợc lựa chọn nhiều hơn. Bên cạnh đó, Bộ cũng thƣờng tổ chức các buổi giao lƣu trực tuyến với ngƣời dân và doanh nghiệp. Qua đây, ngƣời dân có thể nêu những thắc mắc, hoặc trình bày những bức xúc về chất lƣợng, nội dung dịch vụ viễn thông. Các doanh nghiệp có thể biết đƣợc định hƣớng quản lý sự phát triển thị trƣờng của Bộ trong thời gian tới, Và cuối cùng, các cơ quan QLNN sẽ nhận đƣợc nhiều ý kiến đóng góp, cải cách thủ tục hành chính giúp cho hoạt động QLNN có hiệu quả hơn, đồng thời có hƣớng giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phát triển tốt. 48
- Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông công ích: Ngày 6/11/2006, Bộ Bƣu chính - Viễn thông đã ra thông tƣ số 05/2006/TT-BBCVT trong đó quy định các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông ở vùng công ích. Doanh nghiệp viễn thông tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông công ích sẽ đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ đầu tƣ các dự án xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng mạng lƣới viễn thông, Internet hoặc các cơ sở vật chất khác phục vụ việc cung ứng dịch vụ viễn thông công ích. Cũng theo thông tƣ trên, các doanh nghiệp sẽ đƣợc hỗ trợ đầu tƣ phát triển mới các điểm truy nhập dịch vụ viễn thông công cộng tại các xã ngoài vùng đƣợc cung cấp dịch vụ viễn thông công ích, đƣợc hỗ trợ chi phí duy trì cung ứng các dịch vụ viễn thông bắt buộc trên toàn quốc. Các doanh nghiệp sẽ đƣợc hỗ trợ từ Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam dƣới hình thức cho vay vốn đầu tƣ hoặc hỗ trợ không hoàn lại. Ngoài ra các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông công ích có thể đƣợc hỗ trợ từ ngân sách địa phƣơng hoặc các nguồn vốn đầu tƣ khác của Chính Phủ. Nhƣ vậy doanh nghiệp nào tiên phong trong việc khai phá tiềm năng ở các vùng công ích sẽ nhận đƣợc rất nhiều hỗ trợ từ phía Nhà nƣớc, đồng thời tạo cơ hội chiếm lĩnh và khai thác thị trƣờng. Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển thị trường: Xây dựng và ban hành chỉ thị về định hướng chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 đến 2020. Ngày 07/07/2007, Bộ Bƣu chính - Viễn thông đã chính thức ban hành Chỉ thị về định hƣớng chiến lƣợc phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 (gọi tắt là “Chiến lƣợc cất cánh”). Định hƣớng của Bộ Thông tin và Truyền thông là "Chiến lƣợc cất cánh" giai đoạn 2011 - 2020 sẽ bám sát hai phƣơng châm: 49
- + Lấy phát triển nguồn nhân lực Công nghệ thông tin và Truyền thông có trình độ và chất lƣợng cao làm khâu đột phá; + Lấy việc nhanh chóng làm chủ thị trƣờng trong nƣớc để từng bƣớc vững chắc mở rộng sang thị trƣờng khu vực và toàn cầu làm khâu quyết định. Dựa trên tình hình thực tiễn, "Chiến lƣợc cất cánh" cho giai đoạn 2011 - 2020 đƣợc hy vọng là sẽ góp phần "sớm đƣa nƣớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc". 3.2.5. Kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp - Thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động thị trường: Kiểm tra đột xuất chất lƣợng các dịch vụ viễn thông. Để kiểm soát chất lƣợng dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp, Bộ Thông tin và Truyền thông thƣờng có những đợt kiểm tra đột xuất. Ví dụ, với mạng thông tin di động, có 9 chỉ tiêu chất lƣợng cần đánh giá là: Tỷ lệ cuộc gọi đƣợc thiết lập thành công; Tỷ lệ cuộc gọi bị rơi; Chất lƣợng thoại (điểm chất lƣợng thoại trung bình); Độ chính xác ghi cƣớc; Tỷ lệ cuộc gọi tính cƣớc, lập hoá đơn sai; Độ khả dụng của dịch vụ. Đồng thời, các mạng cần đảm bảo tỷ lệ khiếu nại của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ; Hồi âm khiếu nại của khách hàng (tỷ lệ hồi âm khiếu nại cho khách hàng trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận khiếu nại) và chất lƣợng dịch vụ hỗ trợ khách hàng. Còn chất lƣợng ADSL đƣợc rà soát dựa trên 7 tiêu chí là: Tốc độ tải dữ liệu trung bình (nội mạng, ngoại mạng); Lƣu lƣợng sử dụng trung bình; Tỷ lệ dung lƣợng truy nhập bị tính cƣớc sai; Độ khả dụng của dịch vụ; Thời gian thiết lập dịch vụ; Thời gian khắc phục mất kết nối và khiếu nại của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ. 50
- Các đợt kiểm tra này nhằm rà soát, chấn chỉnh lại tình hình hoạt động của nhà cung cấp hai dịch vụ này, trƣớc hàng loạt những phàn nàn của khách hàng về việc không đảm bảo chất lƣợng dịch vụ. Chiều 18/6/2014, Cục Quản lý chất lƣợng Bƣu chính - Viễn thông và Công nghệ thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chính thức công bố kết quả đo kiểm chất lƣợng dịch vụ năm 2008 của 3 mạng di động lớn nhất Việt Nam là Viettel, MobiFone và VinaPhone. Theo kết quả đƣợc công bố, MobiFone tiếp tục là mạng di động dẫn đầu trên hầu hết các chỉ tiêu về chất lƣợng chủ chốt, Viettel xếp thứ hai và VinaPhone đứng cuối cùng. Về chỉ tiêu chất lượng thoại: MobiFone đạt 3,522 điểm, Viettel 3,517 điểm và VinaPhone là 3,383 điểm (điểm đạt chuẩn là >= 3 điểm). Mặc dù đứng chót nhóm đƣợc đo kiểm về chỉ tiêu chất lƣợng thoại nhƣng so với kết quả năm 2013, kết quả đo kiểm của VinaPhone năm 2014 vẫn khá hơn (kết quả đo kiểm năm 2013 tại Khánh Hòa là 3,054 điểm). Về chỉ tiêu tỷ lệ cuộc gọi bị rơi: MobiFone ít nhất với 0,29%, Viettel là 0,35%, VinaPhone là 0,5% (tỷ lệ đạt chuẩn là = 80%). Trong số các chỉ tiêu đƣợc đo kiểm, chỉ tiêu khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ trên toàn mạng là chỉ tiêu Viettel lại đoạt ngôi "quán quân" với chỉ số đƣợc đo kiểm là 0,015 (số lƣợng khiếu nại/100 khách hàng trong 3 tháng), số lƣợng khiếu nại của VinaPhone ít hơn với chỉ tiêu đƣợc đo kiểm là 0,011 và MobiFone là ít nhất với kết quả đo kiểm là 0,008. Đoạt ngôi "quán quân ngƣợc" ở chỉ tiêu này 51
- nhƣng chỉ tiêu của Viettel vẫn đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lƣợng ( = 92%). Trong lần đo kiểm chất lƣợng dịch vụ của năm 2008, Cục Quản lý chất lƣợng Bƣu chính - Viễn thông và Công nghệ thông tin tiến hành đo kiểm các chỉ tiêu chất lƣợng dịch vụ của 3 mạng di động lớn nhất Việt Nam trên cùng một địa bàn là Hà Nội và thời điểm đo cũng thực hiện sát nhau. Năm 2007 khi công bố kết quả đo kiểm chất lƣợng mạng di động, đã có những ý kiến về việc đo kiểm các mạng tại các tỉnh, thành phố khác nhau dẫn tới việc công bố kết quả có thể là chƣa công bằng. Vì vậy, năm 2008, Cục Quản lý chất lƣợng đã thực hiện việc đo kiểm cả 3 mạng trên cùng một địa bàn là thành phố Hà Nội để đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ của các mạng di động trên địa bàn này. 3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 3.3.1.Những khía cạnh tích cực. - Tạo môi trường thuận lợi hơn trước để các thành phần kinh tế tự do hoạt động: + Mở rộng hơn sự tham gia của các thành phần kinh tế vào lĩnh vực viễn thông. Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông năm 2002 khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế vào lĩnh vực viễn thông, mở rộng cạnh tranh hơn trƣớc. Theo Nghị định 109/1997/NĐ-CP ngày 12/11/1997 trƣớc đó, các thành phần kinh tế không đƣợc khuyến khích tham gia vào thị trƣờng dịch vụ viễn thông. Thông tƣ số 04/1998/TT-TCBĐ hƣớng dẫn thi hành Nghị định 109/1997/NĐ-CP quy định doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông bao gồm: 52
- - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản (gồm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản loại I và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản loại II); - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng. Trong đó: - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản loại I: là doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập và đƣợc Cơ quan QLNN về bƣu chính - viễn thông cấp phép thiết lập hệ thống đƣờng trục viễn thông quốc gia để cung cấp các dịch vụ viễn thông. - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản loại II: là doanh nghiệp nhà nƣớc hoặc công ty cổ phần mà nhà nƣớc chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt, đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập và đƣợc Cơ quan QLNN về bƣu chính - viễn thông cấp phép thiết lập mạng viễn thông công cộng (trừ hệ thống đƣờng trục viễn thông quốc gia) để cung cấp các dịch vụ viễn thông. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng: là doanh nghiệp nhà nƣớc hoặc công ty cổ phần mà nhà nƣớc chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt, đƣợc Cơ quan QLNN về bƣu chính - viễn thông cấp phép thiết lập mạng máy tính, hệ thống thiết bị điện tử, tin học để cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng qua mạng viễn thông công cộng.Theo những quy định trên, tất cả các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông đều phải là doanh nghiệp nhà nƣớc hoặc công ty cổ phần mà nhà nƣớc chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt. Nhƣ vậy, nhà nƣớc vẫn muốn nắm quyền kiểm soát chặt chẽ ngành viễn thông. Và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có rất ít cơ hội tham gia vào lĩnh vực này 53
- Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông năm 2002 đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong việc khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển ngành viễn thông. Theo Pháp lệnh, doanh nghiệp viễn thông đƣợc chia thành hai loại là doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông. Trong đó: Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng phải là doanh nghiệp nhà nƣớc hoặc doanh nghiệp mà vốn góp của nhà nƣớc chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt, đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật để thiết lập hạ tầng mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông. Quy định này là phù hợp vì: Thứ nhất, việc xây dựng công trình, mạng lƣới của loại doanh nghiệp này có sử dụng chung nhiều kết cấu hạ tầng quốc gia với một số ngành khác nhƣ đất đai, đƣờng giao thông, các vị trí thuận lợi về địa lý tại các thành phố, khu vực trung tâm và có liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nƣớc. Thứ hai, nhà nƣớc cần phải duy trì một số lƣợng nhất định doanh nghiệp nhà nƣớc cung cấp hạ tầng mạng để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ công ích theo yêu cầu của nhà nƣớc. Đối với loại doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Pháp lệnh quy định mọi doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, đƣợc thành lập theo quy định của Pháp luật đều đƣợc tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông. Chính sách này đã góp phần phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế cho công cuộc phát triển ngành viễn thông Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trên thực tế, mặc dù cơ sở hạ tầng viễn thông Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển rất nhanh, song quy mô và sự phát triển bền vững so với các nƣớc trong khu vực cũng nhƣ trên thế giới vẫn còn nhiều hạn chế, ngƣời dân ở vùng sâu, vùng xa vẫn chƣa đƣợc tiếp cận đầy đủ các dịch vụ viễn thông. Để phát triển mạng viễn thông rộng khắp cả nƣớc đáp ứng đƣợc yêu cầu của 54
- công cuộc đổi mới, công ghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, Việt Nam vẫn cần những nguồn đầu tƣ rất lớn để phát triển mạng viễn thông quốc gia và việc huy động, khuyến khích mọi nguồn lực tham gia phát triển hạ tầng viễn thông là rất cần thiết. Do đó quy định hạn chế sở hữu nhà nƣớc trong các doanh nghiệp thiết lập mạng viễn thông không còn phù hợp với thực tế cũng nhƣ thông lệ quốc tế và cam kết WTO của Việt Nam. + Mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong việc tự quyết định giá cước viễn thông. Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông mở rộng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp viễn thông trong việc tự quyết định cƣớc phí viễn thông. Trƣớc đó theo Nghị định 109/1997/NĐ-CP ngày 12/11/1997 của Chính phủ, doanh nghiệp viễn thông tự quyết định cƣớc phí các dịch vụ mà nhà nƣớc không quy định. Với những dịch vụ viễn thông mang tính xã hội – công ích cao, giá cƣớc của các doanh nghiệp viễn thông phải nằm trong khung giá cƣớc do nhà nƣớc quy định. Tuy nhiên trên thực tế, nhà nƣớc đã quy định khung giá cƣớc đối với hầu hết những loại hình dịch vụ chủ yếu của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam.Pháp lệnh Bƣu chính - Viễn thông năm 2002 đã có thay đổi quan trọng.Điều 44 của Pháp lệnh quy định: “1. Thủ tƣớng Chính phủ quyết định giá cƣớc dịch vụ viễn thông quan trọng có tác động đến nhiều ngành và kinh tế - xã hội. 2. Cơ quan quản lý nhà nƣớc về bƣu chính - viễn thông quyết định giá cƣớc dịch vụ viễn thông công ích, giá cƣớc dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp có thị phần khống chế (chiếm trên 30% thị phần một loại hình dịch vụ viễn thông) và giá cƣớc kết nối giữa các doanh nghiệp trên cơ sở giá thành dịch vụ, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu phát triển viễn thông trong từng thời kỳ. 3. Doanh nghiệp viễn thông quyết định các mức giá cƣớc cụ thể đối với dịch vụ viễn thông, trừ giá cƣớc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”. 55
- Quy định trên góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp viễn thông (đặc biệt là các doanh nghiệp mới gia nhập thị trƣờng) cạnh tranh về phƣơng diện giá cả. Những doanh nghiệp cung ứng dịch vụ viễn thông với chất lƣợng tốt và giá cƣớc hợp lý sẽ có lợi thế trên thị trƣờng. Dự thảo Luật Viễn thông quy định: Nhà nƣớc tôn trọng quyền tự xác định giá và cạnh tranh về giá của các doanh nghiệp. Về quản lý giá cƣớc của Nhà nƣớc: Quản lý dựa trên nguyên tắc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt trong quản lý và quy định giá cƣớc viễn thông. - Tổ chức thi tuyển, bắt buộc các doanh nghiệp phải phát triển theo công nghệ hiện đại trên thế giới. 3G là công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh ). Việc tổ chức cấp phép 3G dƣới hình thức "Thi tuyển" (tiếng Anh là Beauty Contest) đã đƣợc Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu theo kinh nghiệm quốc tế, tham vấn các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc và đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ đồng ý cho phép triển khai thực hiện. Cuộc thi tuyển cấp giấy phép triển khai công nghệ không dây thế hệ thứ 3 (3G) đã đƣợc khởi xƣớng từ năm 2008. Bảy mạng di động tại Việt Nam đều có nhu cầu băng tần 3G rất lớn. Tuy nhiên, tài nguyên tần số chỉ đủ chia cho 4 mạng di động nên đợt Thi tuyển lần này nhằm lựa chọn ra 4 doanh nghiệp,thậm chí là Liên danh giữa các doanh nghiệp trong số 7 Doanh nghiệp thi tuyển để Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép và cấp tần số nhằm triển khai dịch vụ 3G tại Việt Nam. Việc tổ chức thi tuyển 3G lần này đƣợc Bộ Thông tin và Truyền thông chuẩn bị kỹ lƣỡng và tiến hành một cách công khai, minh bạch theo các quy định của pháp luật về viễn thông, thông lệ quốc tế và các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Ngày 18/2/2009, 7 doanh nghiệp thông tin di động Việt Nam đã nộp hồ sơ lên Bộ Thông tin và Truyền thông. Đã có 6 hồ sơ thi tuyển của mạng di 56



