Luận văn Quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Hà Giang

pdf 107 trang ngocly 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Hà Giang", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_ve_linh_vuc_cong_nghe_thong_tin_tr.pdf

Nội dung text: Luận văn Quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Hà Giang

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ PHẠM MINH TUẤN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH Hà Nội – 2015
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ PHẠM MINH TUẤN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60 34 04 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. Đinh Văn Tiến XÁC NHẬN CỦA XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CÁN BỘ HƢỚNG DẪN CHẤM LUẬN VĂN GS.TS. Đinh Văn Tiến PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn Hà Nội – 2015
  3. Lời cam đoan Tôi xin cam đoan rằng Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc. Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Phạm Minh Tuấn
  4. Lời cảm ơn Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ quý báu của tập thể và các cá nhân. Trƣớc tiên, tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chƣơng trình Cao học quản lý kinh tế khoá QH 2012.CH, các thầy, cô Khoa Kinh tế chính trị, Khoa sau đại học trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là sự hƣớng dẫn của GS.TS. Đinh Văn Tiến đã tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt Luận văn này. Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học, cũng nhƣ kinh nghiệm của thầy chính là tiền đề giúp tôi đạt đƣợc những thành tựu và kinh nghiệm quý báu Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên Sở Thông tin và Truyền thông Hà Giang. Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn bên tôi, cổ vũ và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vƣợt qua và hoàn thành tốt luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn! TÁC GIẢ LUẬN YĂN Phạm Minh Tuấn
  5. MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i DANH MỤC BẢNG BIỂU ii PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN QLNN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CQNN 5 1.1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5 1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố. 5 1.1.2. Khái quát về tổng quan tài liệu nghiên cứu. 8 1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN. 9 1.2.1. Khái niệm về công nghệ thông tin. 9 1.2.2. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước. 10 1.2.3. Đặc điểm của công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. . 12 1.2.4. Tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin. 15 1.3. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN. 17 1.3.1. Khái niệm quản lý Nhà nước về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. 17 1.3.2. Nội dung, đặc điểm của quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. 19 1.3.3. Tầm quan trọng của QLNN đối với lĩnh vực công nghệ thông tin. 23 1.3.4. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. 26 1.3.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT và ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN. 28
  6. 1.3.6. Chỉ số, tiêu chí đánh hiệu quả quản lý nhà nước và những yêu cầu đặt ra với ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. 29 Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32 2.1. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƢỢC SỬ DỤNG VÀ ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU. 32 2.1.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. 32 2.1.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích. 32 2.1.3. Phương pháp phân tích dãy số thời gian 33 2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu. 33 2.2. PHƢƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN, TỔNG HỢP SỐ LIỆU HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU. 33 2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin. 33 2.2.2. Phương pháp tổng hợp số liệu. 34 2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu. 35 Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CQNN TỈNH HÀ GIANG 37 3.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG 37 3.1.1. Điều kiện tự nhiên. 37 3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội. 39 3.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC TỈNH HÀ GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY. 42 3.2.1. Thực trạng hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin của tỉnh Hà Giang 42 3.2.2. Công tác xây dựng thể chế, chính sách, quy chế, quy định về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin. 45
  7. 3.2.3. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch 5 năm, hàng năm và các chương trình, đề án về ứng dụng công nghệ thông tin và tổ chức triển khai thực hiện. 48 3.2.4. Tổ chức quản lý, vận hành, hướng dẫn sử dụng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm kỹ thuật, an toàn thông tin. 54 3.2.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hoạt động trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin. 55 3.2.6. Công tác kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin. 58 3.3. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƢỢC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC TỈNH HÀ GIANG. 58 3.2.1. Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin. 59 3.2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của nội bộ của các cơ quan nhà nước. 61 3.2.3. Cổng thông tin điện tử và Trang thông tin điện tử. 63 3.2.4. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin. 64 3.4. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐÔNG CỦA CƠ QUAN NHÀ NƢỚC 66 3.4.1. Những mặt tích cực trong công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước tỉnh Hà Giang trong thời gian qua. 66 3.4.2. Những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước tỉnh Hà Giang. 68 3.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang trong thời gian qua. 73 Chƣơng 4: PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QLNN ĐỐI VỚI ỨNG DỤNG CÔNG
  8. NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CQNN TỈNH HÀ GIANG 78 4.1. PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QLNN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CQNN TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020. 78 4.1.1. Mục tiêu và định hướng phát triển ứng dụng CNTT của tỉnh Hà Giang đến năm 2020. 78 4.1.2. Phương hướng hoàn thiện công tác QLNN về ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Hà Giang đến năm 2020. 80 4.2. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC TỈNH HÀ GIANG. 83 4.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. 83 4.2.2. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách liên quan đến phát triển ứng CNTT. 84 4.2.3. Tăng cường củng cố và hoàn thiện bộ máy QLNN về ứng dụng CNTT từ tỉnh tới cơ sở. 88 4.2.4. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin. 89 KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO
  9. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nguyên nghĩa 1 CNH Công nghiệp hoá 2 CNTT Công nghệ thông tin 3 CQNN Cơ quan nhà nƣớc 4 HĐH Hiện đại hoá 5 KT-XH Kinh tế - xã hội 6 QLNN Quản lý Nhà nƣớc 7 UBND Uỷ ban nhân dân 8 TT&TT Thông tin và Truyền thông 9 VH-TT Văn hoá - Thông tin i
  10. DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1: Tăng trƣởng kinh tế 2001- 2005, 2006 - 2010 và 2011 - 2013 39 Bảng 3.2 Xếp hạng cơ chế chính sách và các quy định cho ứng dụng CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng qua các năm 2010-2013 46 Bảng 3.3 Xếp hạng nguồn nhân lực CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng qua các năm 2011-2013 56 Bảng 3.4: Tỷ lệ số cơ quan có đơn vị và cán bộ chuyên trách về CNTT 58 Bảng 3.5: Xếp hạng tổng thể mức độ ứng dụng CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng qua các năm 2010-2013: 59 Bảng 3.6: Xếp hạng hạ tầng kỹ thuật CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng qua các năm 2011-2013: 60 Bảng 3.7: Xếp hạng ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng qua các năm 2010-2013 62 Bảng 3.8: Xếp Trang/Cổng thông tin điện tử của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng qua các năm 2010-2013: 63 Bảng 3.9: Thống kê các phần mềm và hệ thống đảm bảo an toàn, an ninh thông tin của các CQNN tỉnh Hà Giang 65 Bảng 3.10: Xếp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng năm 2012 và 2013 65 Bảng 3.11: Kinh phí đầu tƣ cho ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc so với chỉ số xếp hạng tổng thể về ứng dụng CNTT 66 ii
  11. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. "Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại" Bộ chính trị (2000, trang 1). Ở Việt Nam hiện nay công nghệ thông tin (CNTT) đang là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác, CNTT đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT nhằm thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và công nghiệp hoá (CNH) các ngành kinh tế, tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả quá trình chủ động hội nhập kinh tế, nâng cao chất lƣợng cuộc sống nhân dân, bảo đảm an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, hiện đại hoá (HĐH). Để CNTT là động lực cho sự phát triển của toàn xã hội và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), HĐH nền hành chính Nhà nƣớc hƣớng tới Chính phủ điện tử, góp phần CNH, HĐH đất nƣớc, công tác quản lý nhà nƣớc (QLNN) đối với lĩnh vực CNTT nói chung, ứng dụng và phát triển CNTT nói riêng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Ngay từ khi nƣớc ta bƣớc vào thời kỳ đổi mới quan điểm của Đảng về ứng dụng và phát triển CNTT đƣợc thể hiện bằng Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH. Chỉ thị 58 nêu rõ: ứng dụng và phát triển CNTT ở nƣớc ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và HĐH các ngành kinh tế, tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH (Bộ Chính trị, 2000, trang 7). Gần đây nhất là Nghị quyết số 36-NQ-TW, ngày 01/7/2014 của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Một lần nữa quan điểm của Đảng về đẩy mạnh ứng dụng 1
  12. và phát triển CNTT lại đƣợc cụ thể hoá bằng Nghị quyết của Đảng. Đó là: “Ứng dụng, phát triển CNTT là một yếu tố quan trọng bảo đảm thực hiện thành công ba đột phá chiến lƣợc, cần đƣợc chú trọng, ƣu tiên trong các chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH; Ứng dụng, phát triển CNTT trong tất cả các lĩnh vực, song có trọng tâm, trọng điểm. Ƣu tiên ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nƣớc (CQNN)” (Bộ Chính trị, 2014, trang 1). Để cụ thể hoá các quan điểm, đƣờng lối của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN. Trong thực tế hiện nay, việc QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN còn gặp rất nhiều khó khăn. Đây vẫn là vấn đề đang đƣợc nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới nghiên cứu. Ở Việt Nam, đa số các bộ, ngành hay các cấp chính quyền địa phƣơng vẫn còn lúng túng, không biết QLNN về ứng dụng CNTT bắt đầu từ đâu và nhƣ thế nào ? Kế hoạch triển khai ra sao ? Mặt khác, tài liệu về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN vẫn còn rất ít. Hầu hết các tài liệu đều dƣới dạng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm từ nhiều nguồn, nhiều nơi khác nhau. Có nơi đã áp dụng thành công, có nơi thất bại hoặc không đạt hiệu quả nhƣ mong đợi. Vấn đề đặt ra cho các cơ quan QLNN về ứng dụng CNTT ở địa phƣơng là không thể áp dụng rập khuôn mà phải lựa chọn ra các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phƣơng mình. Tại tỉnh Hà Giang, công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT nhất là ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN trong thời gian qua đã đƣợc chú trọng và nâng cao năng lực quản lý, song vẫn còn nhiều hạn chế, mặt bằng CNTT hiện nay vẫn ở trình độ thấp, phát triển chậm, chƣa đáp ứng yêu cầu, tụt hậu so với nhiều địa phƣơng khác. Các kế hoạch, đề án ứng dụng CNTT đã đƣợc xây dựng và phê duyệt nhƣng trong quá trình triển khai còn gặp nhiều vƣớng mắc, thiếu các quy chế, quy định về quản lý, vận hành và hƣớng dẫn sử dụng hạ tầng CNTT, các chế độ, chính sách về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN chƣa đi vào cuộc sống. Do vậy, công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT nói chung và ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN nói riêng đang là vấn đề cần quan tâm, đòi hỏi phải có những 2
  13. công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, cả dƣới góc độ lý luận và thực tiễn. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận QLNN đối với lĩnh vực CNTT và QLNN về ứng dụng CNTT. Luận văn tìm hiểu, đánh giá thực trạng công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang, từ đó đƣa ra các giải pháp để hoàn thiện công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN, nhằm đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong hoạt động của QNN trên địa bàn tỉnh Hà Giang góp phần HĐH nền hành chính, phục vụ hiệu quả cho công tác cải cách hành chính, phát triển KT-XH, giữa vững và ổn định an ninh - quốc phòng. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Hệ thống hoá các cơ sở lý luận, quan điểm và các vấn đề liên quan đến công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT nói chung và ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN nói riêng. - Tìm hiểu, phân tích đánh giá thực trạng công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang từ năm 2006 đến nay, phân tích đánh giá những mặt tích cực, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó. - Đƣa ra các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm hoàn thiện công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang. 3. Câu hỏi nghiên cứu. Cần làm gì để hoàn thiện công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang trong thời gian tới ? 4. Đối tƣợng nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là: Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn là công tác quản lý Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc tỉnh Hà Giang. 5. Phạm vi nghiên cứu. Về không gian: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu công tác QLNN về 3
  14. ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang. Luận văn không nghiên cứu công tác QLNN về công nghiệp CNTT; luận văn cũng không đề cập đến công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong thƣơng mại, doanh nghiệp Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang từ khi có cơ quan chuyên trách về CNTT ở địa phƣơng, Sở Bƣu chính - Viễn thông (nay là Sở Thông tin và Truyền thông) từ năm 2006 đến nay. Tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ khi có Nghị định số 64/2007/NĐ- CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN. 6. Cấu trúc luận văn. Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN; Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang; Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng hoàn thiện và các giải pháp để hoàn thiện công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang. 4
  15. Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN QLNN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CQNN 1.1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố. Công tác QLNN về lĩnh vực CNTT và QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN là một lĩnh vực mới do vậy không có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về lĩnh vực này mà chủ yếu là các công trình nghiên cứu về CNTT và ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý và phát triển KT-XH. Phan Đình Diệu (1998). Tổng quan về công nghệ thông tin, Nhà xuất bản Hà Nội. Đƣa ra các khái niệm cơ bản về CNTT, hệ thống thông tin, các thành phần cơ bản của hệ thống thông tin, Internet và các loại kết nối thông tin. Thực chất đây là một giáo trình lý thuyết về thông tin và CNTT, ngoài khái niệm về CNTT còn lại các vấn đề trong tài liệu là các lý thuyết về kỹ thuật CNTT. Nguyễn Khắc Khoa (2003). CNTT phục vụ QLNN và QLNN về thông tin và CNTT, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện hành chính Quốc gia. Đề tài thu thập những thông tin mới và những kiến thức cần thiết về lĩnh vực CNTT phục vụ QLNN và QLNN về CNTT một cách hệ thống, trên cơ sở đó có thể xây dựng nên các bài giảng về "Quản lý thông tin và CNTT” phục vụ các khoá học của các Học viện, các trƣờng đào tạo và bồi dƣỡng cán bộ, công chức, cũng nhƣ những khoá học dành cho những ngƣời làm công tác quản lý và lãnh đạo chuyên trách về CNTT. Đề tài đã nghiên cứu và khẳng định CNTT ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng, cùng với tri thức đã và đang đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của tất cả các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, KT-XH. CNTT sẽ là nguồn lực để mở ra kỷ nguyên của kinh tế tri thức và có tác động sâu sắc đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Với sự phát triển của CNTT đã hình thành lên xa lộ thông tin dựa trên mô hình của mạng internet góp phần mạng hoá tri thức toàn cầu. Đề tài cũng đã nghiên cứu và đã đặt ra vấn đề ứng dụng CNTT phục vụ QLNN và các chu trình để quản lý thông tin. Vấn đề định hƣớng chiến lƣợc xây dựng các hệ thống 5
  16. thông tin quản lý cho các CQNN. Ứng dụng CNTT cung cấp các công cụ mới cho hoạt động QLNN, giúp cán bộ, công chức Nhà nƣớc tăng hiệu quả và hiệu suất lao động, tự động hoá các quy trình tác nghiệp trong hoạt động của CQNN. Cùng với đó đề tài hệ thống hoá các dự án ứng dụng CNTT của Chính phủ từ trƣớc đến nay, và phân tích đáng giá những kết quả đạt đƣợc của các dự án đó. Vấn đề quản QLNN đối với lĩnh vực CNTT cũng đƣợc đặt ra trong đề tài. Đề tài khẳng định QLNN đối với lĩnh vực CNTT là hoạt động thể hiện việc nhận thức kịp thời, sự cần thiết phải ứng dụng các nguyên lý khoa học vào khai thác đúng đắn loại tài nguyên đặc biệt và quý giá này. Để QLNN đối với lĩnh vực CNTT, đề tài đƣa ra vấn đề về quản lý các dự án CNTT. Quản lý các dự án CNTT là vấn đề mới đƣợc quan tâm trong những năm gần đây, việc quản lý các dự án CNTT phải đảm bảo các dự án đáp ứng đầy đủ các chức năng công tác cần hỗ trợ, mang lại tất cả các lợi ích mong muốn và đƣợc hoàn thành trong khuôn khổ thời gian, chi phí và chức năng đã đƣợc phê duyệt, gắn với đó là các nội dụng quản lý dự án CNTT. Đề tài cũng đặt ra vấn đề về cán bộ lãnh đạo quản lý CNTT. Ngoài những vấn đề nêu trên đề tài chƣa hệ thống hoá và đƣa ra đƣợc các khái niệm về QLNN đối với lĩnh vực CNTT, ứng dụng CNTT và nội dung của công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT, ứng dụng CNTT ở địa phƣơng. Hàn Viết Thuận (2004). Giáo trình tin học đại cương. Giới thiệu những khái niệm cơ sở của tin học trong đó có khái niệm về CNTT, hệ điều hành của máy tính, soạn thảo văn bản trên máy tính, quy trình giải một bài toán trên máy tính, mạng máy tính và Internet. Thực chất đây là một giáo trình mang tính kỹ thuật về kỹ thuật máy tính, hệ điều hành máy tính và hƣớng dẫn sử dụng một số phần mền ứng dụng cơ bản trên máy tính. Đào Thị Minh (2007). Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT tại Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Thông tin và truyền thông (TT&TT). Đề tài tập trung nghiên cứu các văn bản và thực tiễn ứng dụng CNTT ở trong và ngoài nƣớc cũng nhƣ tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân và nhu cầu ứng dụng CNTT ở nƣớc ta trên cơ sở nhu cầu về ứng dụng CNTT và các kiến nghị 6
  17. của các cơ quan, tổ chức thông qua các báo cáo tổng kết từ các Bộ, ngành, tỉnh, thành trong cả nƣớc. Đề tài đƣa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT tại các Bộ, ngành, tỉnh, thành, doanh nghiệp trên cơ sở hiện trạng, nhu cầu và những kiến nghị đối với các cơ quan QLNN để có giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT ngày càng hiệu quả hơn. Từ đó đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực của đời sống xã hội (đối với Bộ TT&TT, chủ yếu đề xuất các giải pháp về chính sách quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT). Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các báo cáo, đề xuất kiến nghị của các bộ ngành và tỉnh, thành phố về ứng dụng CNTT. Đề tài chƣa đi sâu nghiên cứu thực tế về thực trạng công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT, ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN ở địa phƣơng. Nguyễn Thành Chung (2007). Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên. Đề tài đã làm rõ vị trí, vai trò, lợi ích của ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái nguyên. Trên cơ sở đó đề tài đã phân tích, đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp. Từ đo đƣa ra các giải pháp nhằm phát triển ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Văn Nam (2008). Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý chính quyền tỉnh An Giang. Luận văn thạc sĩ. Đề tài tìm hiểu hiện trạng công tác ứng dụng CNTT trong quản lý của chính quyền tỉnh An Giang. Qua đó, đề tài đề xuất những giải pháp khắc phục mang tính chiến lƣợc nhằm đảm bảo cho việc ứng dụng CNTT có hiệu quả hơn. Đề tài tập trung tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý chính quyền của tỉnh An Giang nói riêng và Chính phủ điện tử nói chung. Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng của việc ứng dụng CNTT trong quản lý chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã của tỉnh An Giang. Qua đó đề xuất các giải pháp mang tính chiến lƣợc nhằm khắc phục các 7
  18. hạn chế và đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong quản lý chính quyền các cấp của tỉnh An Giang. Trên cơ sở nghiên cứu tập trung vào con ngƣời, các chính sách, các chƣơng trình ứng dụng có liên quan đến ứng dụng CNTT trong quản lý chính quyền của chính quyền tỉnh An Giang. Phan Văn Hải (2008). Ứng dụng CNTT phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc - Thực trạng và giải pháp. Luận văn thạc sĩ. Đề tài đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT ở tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất những giải pháp để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong việc phục vụ phát triển KT - XH của tỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT và ứng dụng CNTT. Đề tài đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT phục vụ cho việc phát triển KT-XH của tỉnh Vĩnh Phúc và những yếu tố tác động đến ứng dụng CNTT của tỉnh Vĩnh Phúc. Xác định những yếu tố định hƣớng liên quan đến phát triển CNTT của tỉnh Vĩnh Phúc. Làm rõ kinh nghiệm một số tỉnh, thành phố trong việc ứng dụng CNTT phục vụ phát triển KT-XH, rút ra bài học cho tỉnh Vĩnh Phúc. Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT phục vụ phát triển KT-XH của tỉnh Vĩnh Phúc. 1.1.2. Khái quát về tổng quan tài liệu nghiên cứu. Những vấn đề đã được nghiên cứu: Tất cả các giáo trình, các công trình nghiêm cứu đã đƣợc công bố đã làm sáng tỏ một số vấn đề sau: - Đã đƣa ra đƣợc các khái niệm về CNTT, ứng dụng CNTT và ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN cũng các khái niệm về QLNN nói chung và QLNN đối lĩnh vực CNTT, ứng dụng CNTT nói riêng. - Một số công trình nghiêm cứu về ứng dụng CNTT ở những lĩnh vực khác nhau, đã hệ thống hoá đƣợc một số cơ sở lý luận về ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý, điều hành cũng nhƣ ứng dụng CNTT phục vụ phát triển KT-XH ở địa phƣơng nghiên cứu. Song chƣa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về QLNN đối với ứng dụng CNTT ở địa phƣơng. Những vấn đề cần được nghiên cứu: Mặc dù đã có nhiều giáo trình, công trình nghiêm cứu về lĩnh vực QLNN về 8
  19. CNTT và ứng dụng CNTT, cũng nhƣ các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và các văn bản pháp lý của Nhà nƣớc về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT. Song vấn đề QLNN đối với lĩnh vực CNTT nói chung và QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN nói riêng ở tỉnh Hà Giang từ trƣớc đến nay vẫn chƣa đƣợc nghiêm cứu cả ở góc độ lý luận và thực tiễn đó là: - Chƣa có đề tài nào hệ thống hoá các cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý đối với công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang. - Chƣa phân tích đánh giá thực trạng công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang từ năm 2006 đến nay để có cái nhìn tổng thể, xác định những tồn tại, hạn chế và tìm ra những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang. - Chƣa đƣa ra đƣợc các khuyến nghị để ngày càng hoàn thiện công tác QLNN để đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang. Nhằm phát huy hết thế mạnh của ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN gắn với cải cách hành chính Nhà nƣớc, hƣớng tới Chính phủ điện tử. 1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN. 1.2.1. Khái niệm về công nghệ thông tin. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về CNTT, chúng ta sẽ tìm hiểu một số khái niệm về CNTT có tính phổ biến. Bách khoa toàn thƣ mở (Wikipedia) đƣa ra khái niệm: “CNTT là công nghệ ứng dụng cho việc xử lý thông tin” ( ông_nghệ_thông_tin). Phan Đình Diệu (1998, trang 7) viết “CNTT là ngành công nghệ về xử lý thông tin bằng các phƣơng tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin bao gồm các khâu cơ bản nhƣ thu thập, lƣu trữ, chế biến và truyền nhận thông tin”. Hàn Viết Thuận (2004, trang 16) cho rằng: “CNTT là sự kết hợp của công nghệ máy tính với công nghệ liên lạc viễn thông đƣợc thực hiện trên cơ sở công nghệ vi điện tử”. 9
  20. Luật CNTT xác định: "CNTT là tập hợp các phƣơng pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đƣa, thu thập, xử lý, lƣu trữ và trao đổi thông tin số" (Quốc hội, 2006, trang 2). Nhƣ vậy CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình thu thập, xử lý, lƣu giữ thông tin. Theo cách nhìn đó, CNTT bao gồm các phƣơng pháp khoa học, các phƣơng tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là máy tính và mạng truyền thông cùng với hệ thống nội dung thông tin điện tử nhằm tổ chức, lƣu trữ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động nhƣ KT-XH, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại Từ đó có thể rút ra khái niệm về CNTT: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông, nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Đây có thể đƣợc coi là một khái niệm hoàn chỉnh về CNTT vì nó đã bao quát đƣợc toàn bộ nội dung, vai trò và ý nghĩa của CNTT đối với các lĩnh vực đời sống KT-XH. 1.2.2. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin: Ngày nay, CNTT đƣợc ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH. Ứng dụng CNTT là một nhiệm vụ ƣu tiên trong chiến lƣợc phát triển KT-XH, là phƣơng tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nƣớc đi trƣớc. Chúng ta nghiên cứu một số khái niệm về ứng dụng CNTT. Chỉ thị 58 của Bộ chính trị đƣa ra quan điểm: ứng dụng CNTT là quá trình đƣa CNTT vào các lĩnh vực KT-XH nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và HĐH các ngành kinh tế, tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất 10
  21. lƣợng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH (Bộ chính trị, 2000 trang 1). Luật CNTT cho rằng: Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả của các hoạt động này (Quốc hội, 2006, trang 2). Nhƣ vậy ứng dụng CNTT là việc đƣa các sản phẩm của CNTT nhƣ phần mềm, thiết bị CNTT, mạng máy tính vào hoạt động ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm HĐH các hoạt động, giải phóng sức lao động, giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả công việc. Qua đó có thể thấy khái niệm về ứng dụng CNTT trong Luật CNTT là phù hợp nhất: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” (Quốc hội, 2006, trang 2). Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN: Khái niệm ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN mới đƣợc đƣa ra trong những năm gần đây, nhằm đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ cho công tác quản lý, điều hành và giao dịch của cơ quan hành chính Nhà nƣớc. Nghị định 64 của Chính phủ đƣa ra khái niệm: “ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động của CQNN nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của CQNN và giữa CQNN, trong giao dịch của CQNN với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của CQNN” (Chính phủ, 2007, Trang 1). CQNN ở đây là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp và các đơn vị sự nghiệp sử dụng ngân sách Nhà nƣớc. CQNN cấp tỉnh bao gồm các cơ quan chuyên môn, giúp việc thuộc UBND cấp tỉnh và UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các phòng, ban chuyên môn của UBND các quận, huyện, thành phố và các đơn vị sự nghiệp sử dụng ngân 11
  22. sách Nhà nƣớc cấp tỉnh. Với quan điểm ứng dụng CNTT trong cơ hoạt động của CQNN nhƣ trên, Nghị định 64/2007/NĐ-CP đã đặt ra nhiệm vụ cho CQNN đó là hiện đại hóa nền hành chính và hƣớng tới xây dựng Chính phủ điện tử. 1.2.3. Đặc điểm của công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. 1.2.3.1. Đặc điểm của công nghệ thông tin. Thứ nhất, CNTT là công nghệ mũi nhọn. Công nghệ mũi nhọn là công nghệ đƣợc xây dựng dựa trên những thành quả mới nhất của nhiều ngành công nghệ khác và của những lý thuyết khoa học hiện đại. Do vậy, để xây dựng đƣợc một ngành công nghệ mũi nhọn, trƣớc hết, phải phát triển ngành khoa học đó trên cơ sở những lý thuyết hiện đại nhất và có những bƣớc đi thích hợp trong quá trình phát triển, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật của ngành đó vào cuộc sống. Nhƣ vậy CNTT đƣợc xây dựng trên những thành quả mới nhất của các ngành công nghệ khác nhau dựa trên những lý thuyết khoa học hiện đại nhất hiện nay. Thứ hai, CNTT là công nghệ phổ biến trong mọi lĩnh vực. Ngày nay, CNTT đã tác động mạnh mẽ đến tất các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ứng dụng CNTT trở nên phổ biến trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và các dịch vụ quan trọng trong đời sống hiện đại của con ngƣời nhƣ: quản lý công, quản lý sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, Thứ ba, CNTT là một công nghệ có nhiều tầng lớp. CNTT có nhiều tầng lớp và tầng lớp trên lại đƣợc xây dựng dựa trên các tầng lớp dƣới. Cụ thể CNTT gồm có các tầng lớp sau: - Các chƣơng trình ứng dụng riêng cho từng cơ quan, đơn vị. - Các chƣơng trình ứng dụng và hệ phần mềm cơ bản. - Hệ điều hành và hệ điều hành mạng là môi trƣờng thiết yếu cho các ứng dụng hoạt động. - Tầng tiếp theo bao gồm tất cả các hệ máy tính và mạng máy tính đang hoạt động trên thế giới. 12
  23. - Tầng cuối cùng là việc sản xuất các linh kiện điện tử. Thứ tư, CNTT là lĩnh vực phát triển và đào thải nhanh. Những nghiên cứu trên thị trƣờng cho thấy, các sản phẩm CNTT và thiết bị ngoại vi thƣờng có sự chuyển biến nhanh dƣới sự tác động của các tiến bộ khoa học, công nghệ. Những chuyển biến này chạy theo kịp đà tiến của công nghiệp điện tử, với giá cố định thì khả năng các linh kiện sau 18 tháng lại tăng gấp đôi về công năng (dung lƣợng bộ nhớ, tốc độ xử lý thông tin ). Nhƣ vậy, trong CNTT, phần cứng (thiết bị, các bộ xử lý ) có tốc độ thay đổi và đào thải nhanh nhất. Trong khi đó, việc thiết kế hệ thống có tốc độ biến chuyển chậm hơn, cuối cùng phần mềm ứng dụng tổng quát biến chuyển chậm hơn nữa. 1.2.3.2. Đặc điểm của ứng dụng công nghệ thông tin. Thứ nhất, CNTT được ứng dụng trong mọi lĩnh vực. CNTT đang đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc. Nhờ có CNTT, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các nƣớc chậm và đang phát triển diễn ra nhanh hơn. Một mặt, CNTT làm thay đổi đời sống kinh tế của các quốc gia, mặt khác, khi điều kiện sống, cách làm việc thay đổi sẽ dẫn đến những thay đổi về cơ cấu xã hội, phƣơng pháp học tập của con ngƣời. CNTT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp truyền thống thông qua một hệ thống hỗ trợ nhƣ viễn thông, thƣơng mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phƣơng tiện Mức độ ứng dụng rộng và tốc độ phát triển ứng dụng CNTT nhanh đã làm đảo lộn tổ chức nhiều ngành nghề. Thứ hai, ứng dụng CNTT làm biến đổi cách thức giao tiếp. Nhờ có ứng dụng CNTT, hàng tỷ ngƣời trên thế giới có thể truy cập Internet cùng một lúc và tham gia vào những cuộc gặp gỡ điện tử theo thời gian thực, có thể tiếp nhận tin tức hàng ngày, hàng giờ, tiến hành các giao dịch thƣơng mại hoặc trò truyện với bạn bè, ngƣời thân trên khắp thế giới. Việc giao tiếp cá nhân và giao tiếp công vụ ngày nay có thể đƣợc thực hiện trong môi trƣờng mạng, không cần gặp mặt. Các phƣơng tiện giao tiếp mới của CNTT còn làm cho các phƣơng tiện giao tiếp cũ trở nên lạc hậu, 13
  24. kém hiệu quả, văn hóa giao tiếp cũng bị thay đổi rất nhiều. Tuy nhiên, việc phát triển mạng ở quy mô toàn cầu sẽ đụng chạm đến các mối quan hệ quốc tế khi dòng thông tin vô hình chảy xuyên biên giới và các công ty đa quốc gia sử dụng mạng toàn cầu vào mục đích riêng. Vấn đề lớn nhất cho mọi thành viên trong xã hội là hiểu đƣợc mình sử dụng các thành tựu tiên tiến của truyền thông điện tử hiện đại trong giao tiếp nhƣ thế nào. Các vấn đề về bí mật đời riêng, bảo mật gặp những thách thức lớn về kỹ thuật và xã hội. Thứ ba, ứng dụng CNTT biến đổi cách thức sử dụng thông tin. Nhờ có ứng dụng CNTT mà ngày nay bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận, yêu cầu hoặc sao chép mọi cuốn sách, tạp chí, băng video, dữ liệu hoặc tài liệu tham khảo bằng bất kỳ ngôn ngữ nào. Nhờ có công cụ phần mềm, ngƣời ta có thể lựa chọn phƣơng thức trình bày theo ý mình: số liệu, văn bản, hình ảnh, âm thanh, làm tăng thêm giá trị và hiểu biết của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, chính do điểm này của ứng dụng CNTT mà vấn đề tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, Luật bản quyền bị đe doạ nhiều khi không có khả năng kiểm soát. Thứ tư, ứng dụng CNTT làm biến đổi cách thức học tập. Ngày nay, bất kỳ cá nhân nào cũng có thể tham gia những chƣơng trình học tập trên mạng, không phụ thuộc vị trí địa lý, tuổi tác, hạn chế thể chất hoặc thời gian biểu của cá nhân. Mọi ngƣời đều có thể tiếp cận kho tài liệu giáo dục, dễ dàng tìm lại những bài học đã qua, cập nhật các kỹ năng và lựa chọn cho mình một phƣơng pháp hiệu quả nhất trong số rất nhiều phƣơng pháp giảng dạy khác nhau. Thứ năm, ứng dụng CNTT làm biến đổi bản chất thương mại. Khách hàng có thể tiếp xúc với các công ty một cách dễ dàng dù đang ở đâu. Công ty sẽ nhận đƣợc phản hồi từ khách hàng ngay lập tức, do đó có thể nhanh chóng điều chỉnh chiến lƣợc tiếp thị hoặc danh mục hàng hoá trên cơ sở những phản hồi đó. Ngƣời tiêu dùng có thể yêu cầu những mặt hàng, dịch vụ với giá cả hợp lý một cách thuận lợi nhất từ nhà riêng, khách sạn hay văn phòng. Việc mua sắm này đƣợc thực hiện an toàn vì nó cho phép ngƣời bán lẻ và nhà cung cấp nhận đƣợc tiền ngay lập tức. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là độ an toàn của mạng truyền thông, của máy tính và các phần mềm ứng dụng. 14
  25. Thứ sáu, ứng dụng CNTT làm thay đổi cách thức quản lý và làm việc của các CQNN. Khi CNTT đƣợc ứng dụng rộng rãi trong hoạt động của CQNN, sẽ làm thay đổi cách thức làm việc của cán bộ, công chức, viên chức trong các CQNN. Từ phƣơng thức làm việc cũ, thủ công giấy tờ chuyển sang phƣơng thức làm việc điện tử, trên môi trƣờng mạng. Cách thức quản lý cũng thay đổi từ quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp, sự giao tiếp giữa lãnh đạo và nhân viên sẽ chuyển sang một hình thức giao tiếp mới thay cho giao tiếp trực tiếp, đó là giao tiếp trên môi trƣờng mạng thông qua các ứng dụng CNTT của các CQNN. Việc giao tiếp giữa ngƣời dân, doanh nghiệp với các CQNN sẽ thuận lợi hơn khi các ứng dụng phục vụ cho ngƣời dân và doanh nghiệp đƣợc các CQNN triển khai và đƣa vào hoạt động. 1.2.4. Tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin. Tầm quan trọng của ứng dụng CNTT đối với phát triển xã hội: Ngày nay CNTT đã ở một bƣớc phát triển cao và có tác động vô cùng to lớn đối với xã hội loài ngƣời, CNTT không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trƣởng kinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổi trong phƣơng thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tƣ duy của con ngƣời trong nền kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế toàn cầu hoá hiện nay, với sự phát triển của internet, thƣơng mại điện tử đang trở thành một lĩnh vực phát triển rất mạnh mẽ, nó thúc đẩy các ngành sản xuất dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới, và đặc biệt quan trọng với các nƣớc đang phát triển, nhất là đối với những vùng xa xôi hẻo lánh, các nƣớc và các vùng này có cơ hội tiếp cận thị trƣờng quốc tế. CNTT là chiếc chìa khoá để mở cánh cổng vào nền kinh tế tri thức. CNTT sẽ nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử nhƣ một cuộc cách mạng KT-XH và có ảnh hƣởng to lớn đến đời sống con ngƣời. Đối với y tế, việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và CNTT đã trở thành một hình thức phổ biến có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực trong việc chữa bệnh cho nhân dân. Trong lĩnh vực Giáo dục, đào tạo việc ứng dụng CNTT đã góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học ở các cấp, các bậc học, mở rộng thêm nhiều loại hình đào tạo nhƣ đào tạo từ xa, phối hợp liên kết giữa các trƣờng, các Quốc gia với nhau đang nhằm đƣa chất lƣợng giáo dục của nƣớc ta ngang bằng 15
  26. với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Sự phát triển của CNTT đã làm thay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế, phƣơng thức tổ chức và sản xuất, cách tiếp cận của từng ngƣời tới tri thức, giải trí, phƣơng pháp tƣ duy và giải quyết công việc và các mối quan hệ trong xã hội. Sáng tạo ra những giá trị mới và các việc làm mới, cuộc cách mạng này sẽ mang lại những thị trƣờng mới và những nghề nghiệp mới với những đột phá công nghệ có tính thách thức đối với toàn thế giới. An ninh, quốc phòng cũng có những thay đổi cơ bản, CNTT đã tạo ra những thế hệ vũ khí, phƣơng tiện chiến tranh "thông minh", từ đó xuất hiện hình thái chiến tranh, phƣơng thức tác chiến mới, làm thay đổi sâu sắc học thuyết quân sự của nhiều quốc gia. Vì vậy với sự phát triển nhƣ vũ bão của CNTT hiện nay, quốc gia nào, dân tộc nào nhanh chóng nắm bắt và làm chủ đƣợc CNTT thì sẽ khai thác đƣợc nhiều hơn, nhanh hơn lợi thế của mình. Và cũng chính từ đây nảy sinh một thách thức rất lớn đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta đó là làm thế nào để phát huy đƣợc thế mạnh của CNTT thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Sự nghiệp CNH, HĐH ở nƣớc ta hiện nay tất yếu phải khai thác đƣợc những tiềm năng thế mạnh của CNTT, thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNTT, coi đó là một điều kiện cần thiết để đạt đƣợc những mục tiêu của giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc. Tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước: Ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN là công cụ không thể thiếu để hƣớng tới Chính phủ điện tử nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của công dân bằng việc nâng cao chất lƣợng hoạt động của bộ máy chính quyền từ Trung ƣơng tới cơ sở nhƣ quản lý nhân sự, quy trình tác nghiệp, v.v Chính phủ Điện tử đem lại sự thuận tiện, cung cấp các dịch vụ một cách hiệu quả và kịp thời cho ngƣời dân, doanh nghiệp. Đối với ngƣời dân và doanh nghiệp, Chính phủ điện tử là sự đơn giản hóa các thủ tục và tăng tính hiệu quả của quá trình xử lý công việc. Đối với Chính phủ, Chính phủ điện tử hỗ trợ quan hệ giữa các cơ quan của chính quyền nhằm đảm bảo đƣa ra các quyết định một cách chính xác và kịp thời. Đối với hoạt động của CQNN, trên cơ sở ứng dụng CNTT để điện tử hoá các 16
  27. hoạt động của CQNN đang hình thành và ngày càng trở nên phổ biến. Các hệ thống ứng dụng CNTT lớn và mạnh có thể kết nối CQNN với các đối tƣợng quản lý, giúp cho quá trình ra quyết định đƣợc thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, tiết kiệm thời gian thông qua các hoạt động họp, giao ban trực tuyến từ Trung ƣơng đến cơ sở theo định kỳ hoặc khi có sự vụ đột biến xảy ra. 1.3. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN. 1.3.1. Khái niệm quản lý Nhà nước về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Khái niệm quản lý: Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức và điều hành các hoạt động nhằm đạt đƣợc những mục tiêu và yêu cầu nhất định, dựa trên những qui luật khách quan. “QLNN là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nước, thông qua các hoạt động của bộ máy Nhà nước, bằng phương tiện, công cụ, cách thức tác động của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội theo đường lối, quan điểm của Đảng cầm quyền” (Trần Ngọc Uẩn, 2004, trang 20). Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của bộ máy Nhà nƣớc, nghĩa là nó bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nƣớc trên các phƣơng diện lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Theo cách hiểu này, QLNN đƣợc đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân làm chủ”. Theo nghĩa hẹp, QLNN là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời theo pháp luật, nhằm đạt đƣợc những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ QLNN. CQNN nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nƣớc nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn, ra quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập các đơn vị, tổ chức thuộc bộ máy của mình, đề bạt, khen thƣởng, kỷ luật cán bộ, 17
  28. công chức, ban hành qui chế làm việc nội bộ. Những hoạt động trên cũng là hoạt động quản lý hành chính Nhà nƣớc trong nội bộ CQNN. Khái niệm quản lý Nhà nước về công nghệ thông tin : “QLNN đối với lĩnh vực CNTT là việc Nhà nước sử dụng quyền lực công để điều chỉnh các hoạt động CNTT nhằm xây dựng, tổ chức, lưu trữ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động KT-XH, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại ” Theo khái niệm này, QLNN đối với lĩnh vực CNTT đó là xây dựng, ban hành các chủ trƣơng, chính sách về ứng dụng và phát triển CNTT; hình thành nên các tổ chức với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp để quản lý các hoạt động CNTT. Cũng theo khái niệm này, QLNN còn là sự thúc đẩy, kích thích đảm bảo phát triển ổn định và liên tục của CNTT thông qua: xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT, phát triển nguồn nhân lực về CNTT, xây dựng và triển khai các chƣơng trình, dự án, chiến lƣợc phát triển CNTT và ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội Khái niệm quản lý Nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin: QLNN về ứng dụng CNTT là việc nhà nƣớc sử dụng quyền lực công để điều chỉnh các hoạt động ứng dụng CNTT nhằm phát huy hiệu quả cao nhất của ứng dụng CNTT vào hoạt động của tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả của các hoạt động này. Đó là việc xây dựng tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực về ứng dụng CNTT, ban hành các chủ trƣơng chính sách và các quy định, quy chuẩn kỹ thuật về ứng dụng CNTT, để đảm cho bảo ứng dụng CNTT phát huy hiệu quả cao nhất nhằm phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng và thúc đẩy cải cách hành chính. Cùng với đó là việc xây dựng và ban hành các kế hoạch tổng thể về ứng dụng CNTT, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT. 18
  29. 1.3.2. Nội dung, đặc điểm của quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. 1.3.2.1. Nội dung quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Nội dung quản lý nhà nước về công nghệ thông tin: Theo luật CNTT nội dung QLNN về CNTT quy định quản lý về hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT, các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển CNTT, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT. Nội dung QLNN về CNTT gồm các nội dung sau: Thứ nhất, xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách ứng dụng và phát triển CNTT. Thứ hai, xây dựng, ban hành, tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực CNTT. Thứ ba, quản lý an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT. Thứ tư, tổ chức quản lý và sử dụng tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia. Thứ năm, quản lý và tạo điều kiện thúc đẩy công tác hợp tác quốc tế về CNTT. Thứ sáu, quản lý, đào tạo, bồi dƣỡng và phát triển nguồn nhân lực CNTT. Thứ bảy, xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định liên quan đến sản phẩm, dịch vụ công ích trong lĩnh vực CNTT. Thứ tám, xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định về việc huy động nguồn lực CNTT phục vụ quốc phòng, an ninh và các trƣờng hợp khẩn cấp theo quy định. Thứ chín, quản lý thống kê về CNTT. Thứ mười, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực CNTT (Quốc hội, 2006, trang 3). Nội dung quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước: QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN không nằm ngoài các nội dung QLNN về CNTT nói chung. Đồng thời công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN cũng có các đặc thù riêng: 19
  30. Thứ nhất, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công nghệ thông tin. Tổ chức bộ máy QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN là việc xây dựng bộ máy quản lý, chỉ đạo, điều hành, hƣớng dẫn ứng dụng CNTT cũng nhƣ vận hành, khai thác các hệ thống thông tin và cơ sở hạ tầng CNTT. Khác với bộ máy QLNN đối với lĩnh vực CNTT, bộ máy QLNN về ứng dụng CNTT hiện nay còn có một cấp trung gian, đó là Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT các cấp. Thứ hai, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách ứng dụng CNTT. Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách ứng dụng và phát triển CNTT là một trong những nội dung quan trọng trong công tác QLNN về ứng dụng CNTT. Công tác quy hoạch phát triển CNTT giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể và định hƣớng để phát triển CNTT, nhằm mục đích nâng cao vai trò QLNN đối với lĩnh vực CNTT, ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ cải cách hành chính Nhà nƣớc, nâng cao hiệu quả hoạt động của CQNN, từng bƣớc xây dựng chính quyền điện tử, cung cấp các dịch vụ công. Nó tạo cơ sở để CQNN đầu tƣ ứng dụng CNTT theo đúng định hƣớng. Kế hoạch ứng dụng CNTT, giúp CQNN có hƣớng đầu tƣ đúng đắn các ứng dụng CNTT, trên cơ sở đánh giá thực trạng để đƣa ra các giải pháp tổ chức thực hiện. Nó bao gồm kế hoạch từng giai đoạn (thƣờng là 5 năm), kế hoạch hàng năm, kế hoạch phát triển từng lĩnh vực cụ thể (kế hoạch phát triển hạ tầng, kế hoạch xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, kế hoạch ứng dụng ). Cùng với việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về ứng dụng CNTT là nội dung không thể thiếu đƣợc đối với công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN, đó là các chính sách về ƣu tiên ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT góp phần tích cực cho công tác cải cách hành chính, hiện đại hoá nền hành chính hƣớng tới Chính phủ điện tử. Thứ ba, xây dựng quy chế, quy định và tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT. Để ứng dụng CNTT trong CQNN hoạt động mang lại hiệu quả cao cần xây 20
  31. dựng và ban hành các quy định, quy chế về tổ chức và hoạt động ứng dụng CNTT nhƣ quy định về đầu tƣ cho ứng dụng CNTT; quy chế quản lý và vận hành các hệ thống ứng dụng CNTT; quy chế hoạt động và cung cấp thông tin Thứ tư, quản lý, vận hành, hướng dẫn sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin, bảo đảm kỹ thuật, an toàn thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT. Để đẩy mạnh ứng dụng CNTT, yếu tố hàng đầu là phát triển hạ tầng CNTT. Đó là hạ tầng kỹ thuật (mạng máy tính, máy tính và các thiết bị phụ trợ khác), hệ thống truyền dẫn Quản lý phát triển hạ tầng CNTT là việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chƣơng trình, kế hoạch, quy định về phát triển hạ tầng CNTT, đảm bảo hạ tầng CNTT phát triển một cách thống nhất, đúng quy chuẩn kỹ thuật, có hiệu quả trong ứng dụng CNTT phục vụ tốt hoạt động của CQNN. Thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT của CQNN có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống KT-XH và đƣợc pháp luật quy định đảm bảo an toàn, bí mật. Quản lý an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT của CQNN là xây dựng hệ thống thiết bị (phần cứng, phần mềm) và các quy định để đảm bảo không để lộ, lọt và mất thông tin. Các đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tổ chức thực hiện các quy định đó. Thứ năm, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực CNTT. Quản lý và phát triển nguồn nhân lực cho CNTT là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng CNTT vào phát triển KT-XH nói chung và ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN nói riêng. Quản lý phát triển nguồn nhân lực CNTT chính là xây dựng nguồn nhân lực CNTT đủ về số lƣợng và bảo đảm về chất lƣợng, nhƣ xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, tập huấn và đào tạo lại đội ngũ này với nhiều mức độ qui mô, loại hình và đối tƣợng đào tạo, xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực CNTT. Thứ sau, công tác thống kê và kiểm tra việc thực hiện các quy định Nhà nước về ứng dụng CNTT. Việc thống kê và kiểm tra các quy định của Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng thể về ứng dụng 21
  32. CNTT của các cơ quan CQNN cũng nhƣ việc chấp hành các quy định của Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT. Hiện nay hàng năm Bộ TT&TT, UBND cấp tỉnh đều tổ chức thống kê, đánh giá ứng độ ứng dụng CNTT của các Bộ, ngành Trung ƣơng và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng. Một số tỉnh đã tiến hành thống kê và đánh giá mức độ ứng dụng CNTT của các Sở, Ban, ngành và UBND cấp huyện. 1.3.2.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Thứ nhất, quản lý phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi phải có sự phối hợp cao. CNTT là công nghệ mũi nhọn, sử dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, luôn có sự thay đổi. CNTT đƣợc phổ biến và ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh mọi đối tƣợng đều có thể tham gia vào các hoạt động của CNTT. Điều đó, cho thấy tính phức tạp trong công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT. Đây không chỉ là quản lý ở một ngành, một lĩnh vực hay một phạm vi nào đó, mà phải bao quát tất cả. Quản lý trong điều kiện phát triển, thay đổi liên tục cả về nội dung, hình thức. QLNN đối với lĩnh vực CNTT không đơn thuần chỉ là vấn đề quản lý kỹ thuật, mà phải quản lý cả về thông tin, dữ liệu, việc xây dựng, cung cấp, truyền tải, khai thác thông tin, dữ liệu. Tính nhạy cảm đối với thông tin ngày nay đã và đang đƣợc đặt ra cho công tác QLNN nhiều nhiệm vụ khó khăn, phức tạp cần phải giải quyết, đặc biệt là thông tin liên quan đến các vấn đề về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế Tính phức tạp và nhạy cảm trong công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, các ngành để CNTT thực sự phát huy vai trò trong phát triển KT-XH. Đó là sự phối hợp trong công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, quy định về quản lý CNTT. Thứ hai, QLNN về CNTT không giới hạn về không gian và thời gian. Cuộc cách mạng CNTT đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và biến đổi hàng ngày. Ở bất cứ nơi đâu, quốc gia nào trên thế giới, CNTT cũng đã đƣợc đƣa vào khai thác sử 22
  33. dụng. Thông qua CNTT, các ứng dụng của CNTT chúng ta có thể nắm bắt kịp thời, nhanh nhất những diễn biến về chính trị, tình hình KT-XH của toàn thế giới. Bên cạnh những ƣu điểm đó, CNTT cũng đặt ra những thách thức trong quản lý không bị giới hạn về không gian và thời gian đó là đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, đảm bảo kịp thời, nhanh nhất thông tin phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng. Thứ ba, đội ngũ cán bộ quản lý về CNTT phải có trình độ. CNTT là công nghệ có nhiều tầng lớp, là lĩnh vực phát triển và đào thải nhanh, đƣợc phổ biến và ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH, điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải có trình độ. Trƣớc hết, ngƣời cán bộ quản lý phải là ngƣời am hiểu về công nghệ và các xu hƣớng phát triển của nó để tham mƣu cho cơ quan, cấp có thẩm quyền đƣa ra các chính sách, quy định trong hoạt động phát triển và ứng dụng CNTT. Đồng thời, phải là ngƣời có tƣ duy tổng hợp tốt để giải quyết tính phổ biến của CNTT. Thứ tư, QLNN về CNTT đòi hỏi phải có tính cập nhật. Với đặc điểm phát triển và đào thải nhanh của CNTT, quản lý không bị giới hạn về không gian và thời gian, QLNN đối với lĩnh vực CNTT đòi hỏi phải có tính cập nhật. Đó là, nắm bắt kịp thời tình hình và xu hƣớng phát triển của CNTT, cập nhật, truyền tải kịp thời thông tin phục vụ phát triển KT-XH. Thực tiễn ngày nay, tính cập nhật trong QLNN đối với lĩnh vực CNTT đang đƣợc phát huy tác dụng. Thông qua CNTT, mọi hoạt động của đời sống xã hội đƣợc phản ánh kịp thời tới ngƣời dân. Đặc biệt là thông tin về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp, thông tin về chủ trƣơng, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc trong phát triển KT-XH. 1.3.3. Tầm quan trọng của QLNN đối với lĩnh vực công nghệ thông tin. CNTT đã và đang có tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sốngKT-XH. Công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT có tầm quan trọng trong việc phát huy vai trò của nó, đó là: Thứ nhất, đảm bảo tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia. Trong xã hội hiện nay, thông tin đã trở thành một nguồn 23
  34. tài nguyên (tài nguyên thông tin). Tài nguyên thông tin cũng giống nhƣ những tài nguyên vật chất khác (nhƣ đất đai, rừng, khoáng sản, năng lƣợng ) là tài sản cực kỳ quý giá của đất nƣớc, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Việc khai thác và ứng dụng tài nguyên thông tin đã trở thành một ngành nghề kinh doanh của rất nhiều nƣớc (kinh doanh thông tin), và cũng đã trở thành điểm tăng trƣởng quan trọng của nền kinh tế các nƣớc. Tài nguyên thông tin cũng là nguồn tài nguyên mang tính chiến lƣợc quan trọng, vị trí của nó trong các lĩnh vực nhƣ quân sự, ngoại giao, chính trị và giá trị ứng dụng thực tế ngày càng đƣợc nâng cao, tài nguyên thông tin và các thiết bị đƣợc thông tin hoá đã trở thành thứ dùng để thể hiện sức mạnh tổng hợp của một quốc gia. Bên cạnh vấn đề về tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia cũng đƣợc xác định có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống KT-XH. Cơ sở dữ liệu ngày nay đƣợc biết đến nhƣ một thƣ viện, một nguồn thông tin đáng tin cậy mà trong đó cơ sở dữ liệu quốc gia là nguồn thông tin có độ tin cậy và tính pháp lý cao. Mọi thông tin đều có thể truy cập, tiếp cận từ hệ thống các cơ sở dữ liệu khác nhau và có tính mở, nhờ đó các thông tin, dữ liệu đều đƣợc chia sẻ và trở thành tài sản chung của cộng đồng. Để đảm bảo tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia thì vai trò của QLNN đối với lĩnh vực CNTT đƣợc đặt lên hàng đầu. Thứ hai, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CTTT. Sự phát triển nhanh và mạnh của CNTT trong năm qua đã phát sinh nhiều lỗ hổng trong công tác an ninh, bảo mật. Nhiều cơ quan, đơn vị đã phải đối mặt với việc hình thành và lan tràn nhiều biến thể virus mới, việc tấn công trên mạng ngày càng nở rộ với quy mô mang tính chất quốc tế rõ rệt, với mục đích vụ lợi và đánh cắp tài chính. Các Trang/Cổng thông tin điện tử trong nƣớc liên tiếp bị tấn công với mức độ phức tạp và ngày càng gia tăng Luật CNTT đã quy định về bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin và an ninh thông tin: Cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia phải đƣợc bảo vệ. UBND các cấp, lực lƣợng vũ trang và tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng thông tin có trách 24
  35. nhiệm phối hợp bảo vệ an toàn cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng thông tin thuộc thẩm quyền quản lý; chịu sự quản lý, thanh tra, kiểm tra và thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng thông tin và an ninh thông tin của CQNN có thẩm quyền. Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng thông tin có trách nhiệm tạo điều kiện làm việc, kỹ thuật, nghiệp vụ cần thiết để CQNN có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và bảo đảm an ninh thông tin khi có yêu cầu (Quốc hội, 2006, trang 21). Để làm đƣợc điều đó, vai trò của QLNN đối với lĩnh vực CNTT rất quan trọng, đó là: xây dựng các cơ chế chính sách, quy định về an toàn, an ninh thông tin, đầu tƣ trang thiết bị, đào tạo đội ngũ cán bộ, tăng cƣờng công tác thanh, kiểm tra các hoạt động liên quan đến công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin. Thứ ba, đảm bảo ứng dụng và sử dụng CNTT vào hoạt động thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách của Nhà nƣớc về ứng dụng và phát triển CNTT đó là: Ƣu tiên ứng dụng và phát triển CNTT trong chiến lƣợc phát triển KT-XH và sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc. Vai trò của QLNN đối với lĩnh vực CNTT là triển khai thực hiện chính sách đó với các nội dung chủ yếu: - Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN. - Ứng dụng CNTT trong thƣơng mại. - Ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực nhƣ giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa - thể thao, du lịch, quốc phòng, an ninh và một số lĩnh vực khác. Chính sách của Nhà nƣớc về đảm bảo ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực này đƣợc thể hiện: Nhà nƣớc có chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT trong việc dạy, học, tuyển sinh, đào tạo và các hoạt động khác trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo trên môi trƣờng mạng, chịu trách nhiệm xây dựng, triển khai thực hiện chƣơng trình hỗ trợ tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục - đào tạo. Nhà nƣớc có chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT trong lĩnh vực y tế, văn hóa - thể thao, du lịch, quốc phòng, an ninh, 25
  36. 1.3.4. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Tổ chức bộ máy QLNN là điều kiện để tổ chức thực thi công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT. Thể hiện ở hệ thống bộ máy quản lý đƣợc hình thành từ Trung ƣơng đến địa phƣơng. Ở nƣớc ta, Luật CNTT quy định Chính phủ thống nhất QLNN về CNTT trên cơ sở hình thành các cơ quan QLNN ở Trung ƣơng và địa phƣơng. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện QLNN đối với lĩnh vực CNTT tại địa phƣơng (Quốc hội, 2006, trang 3). Bộ TT&TT, Bộ Nội vụ (2008, phần I): Sở TT&TT là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, có chức năng tham mƣu, giúp UBND tỉnh thực hiện QLNN về: báo chí; xuất bản; bƣu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; CNTT, điện tử; phát thanh và truyền hình; cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông; quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm; các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, uỷ quyền của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy chủ thể của công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT và ứng dụng CNTT ở cấp tỉnh là UBND tỉnh, Sở TT&TT là cơ quan tham mƣu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN đối với lĩnh vực CNTT và ứng dụng CNTT của tỉnh. Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Sở TT&TT đối với lĩnh vực CNTT là: Tổ chức thực hiện các chƣơng trình, đề án, kế hoạch về ứng dụng và phát triển CNTT; cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp phần cứng, công nghiệp phần mềm, công nghiệp điện tử, công nghiệp nội dung số và dịch vụ CNTT; về xây dựng và quản lý khu CNTT tập trung; xây dựng danh mục và quy chế khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, quy chế quản lý đầu tƣ ứng dụng và phát triển CNTT trên địa bàn tỉnh sau khi đƣợc phê duyệt; tổ chức thực hiện, báo cáo định kỳ, đánh giá tổng kết việc thực hiện các kế hoạch về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN của tỉnh; xây dựng quy chế, quy định về hoạt động ứng dụng CNTT của địa phƣơng; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng, phát triển nguồn nhân lực CNTT trên địa bàn tỉnh và tổ 26
  37. chức thực hiện sau khi đƣợc phê duyệt; tổ chức, hƣớng dẫn thực hiện các quy định về an toàn CNTT theo thẩm quyền; tổ chức, hƣớng dẫn thực hiện các dự án ứng dụng CNTT phục vụ thu thập, lƣu giữ, xử lý thông tin số phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo tỉnh; xây dựng quy chế quản lý, vận hành, đảm bảo kỹ thuật, an toàn thông tin; hƣớng dẫn sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành, tác nghiệp của UBND tỉnh; xây dựng mới hoặc duy trì, nâng cấp, đảm bảo kỹ thuật, an toàn thông tin cho hoạt động Trang/Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh; hƣớng dẫn các đơn vị trong tỉnh thống nhất kết nối, cung cấp nội dung thông tin và các dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh theo sự phân công của UBND tỉnh; khảo sát, điều tra, thống kê về tình hình ứng dụng và phát triển công nghiệp CNTT; xây dựng cơ sở dữ liệu về sản phẩm, doanh nghiệp tại địa phƣơng phục vụ công tác báo cáo định kỳ theo quy định; Thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị chuyên trách về CNTT của tỉnh. Đối với Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện: Phòng Văn hóa và Thông tin (VH-TT) là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có chức năng tham mƣu, giúp UBND cấp huyện thực hiện QLNN về: báo chí; xuất bản; bƣu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; CNTT, cơ sở hạ tầng thông tin; phát thanh trên địa bàn (Bộ TT&TT, Bộ Nội vụ, 2008, phần II). Đối với bộ máy chỉ đạo, điều hành ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN ở địa phƣơng có thêm một cấp trung gian đó là Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT cấp tỉnh và Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT cấp huyện. Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT có nhiệm vụ Tham mƣu UBND, Chủ tịch UBND về chủ trƣơng, chiến lƣợc, cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển và ứng dụng CNTT trong CQNN; Chỉ đạo, hƣớng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các Sở, Ban, ngành, UBND cấp huyện trong việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT; Xây dựng chƣơng trình, kế hoạch 5 năm và hàng năm, triển khai thực hiện đề án đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ cải cách hành chính. Nhƣ vậy tổ chức bộ máy QLNN về lĩnh vực CNTT và ứng dụng CNTT ở cấp tỉnh nhƣ sau: UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với lĩnh vực CNTT ở địa phƣơng. Tham mƣu, giúp việc cho UBND tỉnh trong việc quản lý, chỉ đạo, điều 27
  38. hành các hoạt động ứng dụng CNTT ở địa phƣơng là Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT tỉnh (đơn vị thƣờng trực là Sở TT&TT). Tham mƣu, giúp việc cho UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN đối với lĩnh vực CNTT và ứng dụng CNTT là Sở TT&TT. 1.3.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác QLNN đối với lĩnh vực CNTT và ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN. Thứ nhất, môi trường pháp lý quản lý CNTT. Môi trƣờng pháp lý là cơ sở để thực hiện QLNN đối với mọi ngành nghề nói chung, quản lý lĩnh vực CNTT nói riêng. Chính vì thế, để QLNN bất kỳ nƣớc nào cũng phải ban hành các đạo luật, văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ công tác quản lý. Ở nƣớc ta, những năm qua, Đảng, Quốc hội, Chính phủ trong khi chú trọng đến vị trí, vai trò của CNTT, đã ban hành nhiều đạo Luật, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động, quản lý và phát triển về CNTT. Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ CNH, HĐH; Nghị quyết số 36- NQ-TW của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, đã thực sự là kim chỉ nam cho ứng dụng CNTT phát triển. Tiếp theo đó nhiều đạo Luật, pháp lệnh liên quan đến CNTT đƣợc ban hành: Pháp lệnh bƣu chính, viễn thông ngày 25/02/2002, Luật giao dịch điện tử ngày 29/11/2005, Luật CNTT ngày 29/6/2006 và hàng trăm các văn bản quy phạm pháp luật dƣới Luật đã đƣợc ban hành. Đây thực sự là hành lang, môi trƣờng pháp lý quan trọng trong quản lý CNTT ở nƣớc ta. Thứ hai, chính sách đầu tư. Chính sách đầu tƣ là điều kiện đảm bảo cho phát triển một ngành, một lĩnh vực kinh tế nhất định. Đặc biệt đối với lĩnh vực CNTT, là một ngành mới, non trẻ, chính sách đầu tƣ càng có vị trí quan trọng. Ở nƣớc ta, Luật CNTT quy định chính sách của Nhà nƣớc về ứng dụng và phát triển CNTT, theo đó Nhà nƣớc ƣu tiên ứng dụng và phát triển CNTT trong chiến lƣợc phát triển KT-XH và sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc. Nhà nƣớc khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tƣ vào hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp CNTT phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trƣờng nội địa và xuất khẩu. 28
  39. Thứ ba, tổ chức bộ máy QLNN về CNTT. Tổ chức bộ máy QLNN là điều kiện để tổ chức thực thi QLNN về CNTT và quản lý, chỉ đạo và điều hành các hoạt động ứng dụng CNTT. Thể hiện ở chỗ hệ thống bộ máy quản lý đƣợc hình thành từ Trung ƣơng đến cơ sở. Ở nƣớc ta, Luật CNTT quy định Chính phủ thống nhất QLNN về CNTT trên cơ sở hình thành các cơ quan quản lý Trung ƣơng và địa phƣơng. Mỗi địa phƣơng tuỳ theo từng điều kiện cụ thể sẽ phải tổ chức bộ máy QLNN sao cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phƣơng mình. Thứ tư, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực CNTT. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định cho quản lý và phát triển CNTT. Sự phát triển của CNTT suy đến cùng phụ thuộc vào số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực CNTT. Để đảm bảo nguồn nhân lực cho quản lý và phát triển CNTT, ở nƣớc ta Luật CNTT đã quy định chính sách của Nhà nƣớc về phát triển nguồn nhân lực CNTT. Theo đó, Nhà nƣớc có chính sách phát triển quy mô và tăng cƣờng chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực CNTT. Nhà nƣớc quy định các chƣơng trình, dự án ƣu tiên, trọng điểm của Nhà nƣớc về ứng dụng và phát triển CNTT phải có hạng mục đào tạo nhân lực CNTT. 1.3.6. Chỉ số, tiêu chí đánh hiệu quả quản lý nhà nước và những yêu cầu đặt ra với ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Hiệu quả QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh Hà Giang đƣợc đánh giá thông qua chỉ số mức độ ứng dụng CNTT tổng thể của tỉnh. Chỉ số này đƣợc Bộ TT&TT đánh giá hàng năm bao gồm các tiêu chí: - Hạ tầng kỹ thuật CNTT. Tiêu chí hạ tầng kỹ thuật CNTT đánh giá về việc trang thiết bị máy tính cho cán bộ, công chức, viên chức trong các CQNN, việc xây dựng các mạng máy tính (mạng máy tính nội bộ của CQNN, mạng truyền số liệu chuyên dùng, mạng diện rộng của tỉnh) và số máy tính của CQNN kết nối với các mạng này. Cùng với đó là việc xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh. - Ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ. Tiêu chí ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ trong CQNN đánh giá việc triển khai các chƣơng trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN. - Tiêu chí thành phần về Trang/Cổng thông tin điện tử. Tiêu chí này đánh giá 29
  40. các Trang/Cổng thông tin điện tử của CQNN có cung cấp đầy đủ các thông tin theo quy định hay không ? có cung cấp đầy đủ các dịch vụ công trực tuyến hay không ? Công tác bảo đảm an toàn thông tin cho Trang/Cổng thông tin điện tử và công tác tổ chức quản trị Trang/Cổng thông tin điện tử. - Tiêu chí thành phần về công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin. Đánh giá việc ban hành các quy định, quy chế về đảm bảo an toàn, anh ninh thông tin cũng nhƣ việc triển khai thực hiện các giải pháp kỹ thuật để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT của các CQNN. - Tiêu chí thành phần về xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định cho ứng dụng CNTT. Đánh giá việc ban hành các chủ chƣơng, chính sách về đẩy mạnh ứng dụng CNTT, các quy định, quy chế về quản lý, vận hành các hệ thống ứng dụng CNTT. Cùng với đó là việc xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT 5 năm và hàng năm. - Tiêu chí thành phần về nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT. Đánh giá số lƣợng, chất cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong lĩnh vực CNTT của tỉnh. Cùng với đó là việc đánh giá công tác đào tạo, tập huấn cho đội ngũ này. Ngoài các tiêu chí trên để đánh giá hiệu quả công tác quản lý nhà nƣớc về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN ở tỉnh Hà Giang còn có các tiêu chí : - Tiêu chí hệ thống tổ chức bộ máy QLNN về ứng dụng CNTT. Đánh giá việc xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN và bộ máy chỉ đạo, điều hành, vận hành các hệ thống ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN. - Tiêu chí về tổng số nguồn vốn đầu tƣ cho ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN so với chỉ số xếp hạng tổng thể về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN đƣợc Bộ TT&TT xếp hạng hàng năm. Để công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN cấp tỉnh phát huy hiệu quả cao nhất, đáp ứng nhu cầu về ứng dụng CNTT của các CQNN phục vụ đắc lực cho công tác cải cách hành chính, hƣớng tới Chính phủ điện tử. Yêu cầu đặt ra đối với công tác QLNN ở cấp tỉnh đó là: Thứ nhất, hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy QLNN đối với lĩnh vực CNTT 30
  41. nói chung và bộ máy quản lý, chỉ đạo, điều hành, vận hành ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN cấp tỉnh nói riêng. Thứ hai, các cơ chế, chính sách về ƣu tiên đầu tƣ cho ứng dụng CNTT cũng nhƣ cơ chế chính sách về ƣu đãi, thu hút nguồn nhân lực CNTT vào làm việc trong các CQNN cấp tỉnh, cùng với đó là việc ban hành đầy đủ các quy định, quy chế về hoạt động ứng dụng CNTT phù hợp với tình hình thực tế từng địa phƣơng. Thứ ba, xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT 5 năm và hàng năm và tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch đã đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thứ tư, triển khai một cách đồng bộ các ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh, đồng thời kết nối tất cả các hệ thống ứng dụng CNTT của các CQNN tỉnh với nhau thành một thể thống nhất. Để từng bƣớc hình thành một hệ thống ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh hoàn chỉnh và liên kết chặt chẽ với nhau. Thứ năm, đảm bảo việc thanh tra, kiểm tra các quy định của Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN một cách thƣờng xuyên, liên tục. Thứ sáu, có kế hoạch và chính sách đào tạo, tập huấn, bồi dƣỡng thƣờng xuyên cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác tham mƣu trong lĩnh vực QLNN về ứng dụng CNTT của tỉnh cũng nhƣ đội ngũ công chức, viên chức chuyên trách về CNTT của các CQNN cấp tỉnh. 31
  42. Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƢỢC SỬ DỤNG VÀ ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU. 2.1.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết đƣợc tác giả sử dụng để nghiên cứu các giáo trình, tài liệu, các công trình nghiên cứu trƣớc đây liên quan đến vấn đề QLNN về lĩnh vực CNTT, ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cùng với đó là các quan điểm, đƣờng lối của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT ở nƣớc ta. Từ đó tác giả đã khái quát và hệ thống lại các cơ sở lý luận của QLNN đối với lĩnh vực CNTT cũng nhƣ ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN để làm cơ sở lý luận cho công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh Hà Giang. Phƣơng pháp này đƣợc tác giả sử dụng ở chƣơng 1 của Luận văn. 2.1.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích. Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích đƣợc tác giả sử dụng để phân chia công tác QLNN về ứng dụng CNTT ra thành các mảng nhỏ để nghiên cứu. Trong Luận văn tác giả phân chia công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh Hà Giang thành các mảng: hệ thống tổ chức bộ máy QLNN về ứng dụng CNTT; công tác xây dựng thể chế, chế độ chính sách, quy chế, quy định về quản lý ứng dụng CNTT; công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch 5 năm, hàng năm và các chƣơng trình, đề án về ứng dụng CNTT và tổ chức triển khai thực hiện; công tác tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT và quản lý, vận hành, hƣớng dẫn sử dụng cơ sở hạ tầng CNTT, bảo đảm kỹ thuật, an toàn thông tin; công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hoạt động trong lĩnh vực ứng dụng CNTT; công tác kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT. Từ đó tác giả đi sâu nghiên cứu tìm hiểu từng mảng của công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang. Sau khi đi sâu nghiên cứu tìm hiểu từng mảng của công tác QLNN về ứng 32
  43. dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang, tác giả tổng hợp lại những mặt mạnh, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế đó để có cái nhìn tổng thể về bức tranh thực trạng công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh Hà Giang. Phƣơng pháp này đƣợc tác giả sử dụng ở chƣơng 3: Thực trang công tác QLNN về ứng dụng CNTT của các CQNN tỉnh Hà Giang. 2.1.3. Phương pháp phân tích dãy số thời gian. Nghiên cứu này sử dụng các dãy số thời kỳ với khoảng cách giữa các thời kỳ trong dãy số là 1 năm. Các chỉ tiêu phân tích biến động của giá trị về các số liệu liên quan mà tác giả đã thu thập đƣợc Phƣơng pháp phân tích dãy số thời gian đƣợc tác giả sử dụng trong Luận văn để phân tích sự biến động của thứ tự xếp hạng về mức độ ứng dụng CNTT tỉnh Hà Giang từng năm từ năm 2010 đến nay. 2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu. Luận văn “Công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực CNTT trên địa bàn tỉnh Hà Giang“ đƣợc tác giả nghiêm cứu tại tỉnh Hà Giang, bắt đầu từ tháng 6 năm 2014 đến nay. 2.2. PHƢƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN, TỔNG HỢP SỐ LIỆU HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU. 2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin. Thông tin sử dụng trong Luận văn là thông tin thứ cấp đƣợc tác giả thu thập và chọn lọc, tổng hợp từ các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, chƣơng trình kế hoạch, đề án và báo cáo thống kê đã đƣợc các cơ quan chức năng công bố. Các tài liệu này đƣợc thu thập từ Bộ TT&TT, Tỉnh uỷ Hà Giang, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang, UBND tỉnh Hà Giang, Sở TT&TT Hà Giang và Cục Thống kê tỉnh Hà Giang. Tài liệu thu thập gồm: - Nghị quyết số 16/NQ-TU, ngày 30/12/2013 của Tỉnh uỷ Hà Giang về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT đến năm 2015, định hƣớng đến năm 2020; - Chƣơng trình Hành động số 59/CTr-UBND, ngày 08/4/2014 của UBND tỉnh 33
  44. Hà Giang về thực hiện Nghị quyết số 16/NQ-TU, ngày 30/12/2013 của Tỉnh uỷ Hà Giang về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT đến năm 2015, định hƣớng đến năm 2020; - Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nƣớc hàng năm từ 2009 đến nay của UBND tỉnh Hà Giang; - Báo cáo hàng năm về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh Hà Giang từ năm 2009 đến nay của Sở TT&TT Hà Giang; - Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang các năm, từ năm 2000 đến năm 2013. - Báo cáo ứng dụng CNTT của Bộ Thông tin và truyền thông các năm từ năm 2009 đến năm 2013. - Các công trình nghiên cứu, dự án thực hiện trên điạ bàn tỉnh. - Các tài liệu liên quan khác. 2.2.2. Phương pháp tổng hợp số liệu. Tác giả sử dụng bảng thống kê để tổng hợp số liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu trong Luận văn. Bảng thống kê là hình thức biểu hiện các số liệu thống kê một cách có hệ thống, lôgíc nhằm mô tả cụ thể, rõ ràng các đặc trƣng về mặt lƣợng của các hiện tƣợng nghiên cứu. Bảng thống kê đƣợc sử dụng trong Luận văn nhằm giúp cho việc phân tích thống kê đƣợc thuận lợi, rõ ràng. Các số liệu đã thu thập đƣợc sắp xếp khoa học trong bảng thống kê có thể giúp so sánh, đối chiếu, phân tích theo nhiều phƣơng pháp khác nhau nhằm đánh giá bản chất hiện tƣợng nghiên cứu. Bảng thống kê trong Luận văn đƣợc sử dụng chủ yếu ở chƣơng 3. Trong Luận văn bảng thống kê đƣợc sử dụng để thống kê một cách hệ thống các số liệu: Tình hình tăng trƣởng KT-XH của tỉnh Hà Giang từ năm 2000 đến nay, xếp hạng cơ chế chính sách và các quy định cho ứng dụng CNTT, xếp hạng nguồn nhân lực CNTT, xếp hạng tổng thể mức độ ứng dụng CNTT, xếp hạng hạ tầng kỹ thuật CNTT, xếp hạng ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ, xếp Trang/Cổng thông tin điện tử của, xếp bảo đảm an toàn an ninh thông tin của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng qua các năm từ năm 2010 đến 2013 của Bộ TT&TT, tỷ lệ số cơ quan có đơn vị và cán bộ chuyên trách về CNTT, thống kê các phần mềm và hệ thống đảm bảo 34
  45. an toàn, an ninh thông tin của các CQNN tỉnh Hà Giang. Các bảng thống kê trên giúp tác giả thuận tiện trong việc đánh giá, so sánh, đối chiếu và phân tích trong quá trình nghiên cứu. 2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu. Để nghiên cứu công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh Hà Giang. Luận văn tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu theo tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác QLNN đã trình bày ở phần trên. Bao gồm các chỉ tiêu sau: - Chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật CNTT. Bao gồm: Tổng số máy tính/tổng số cán bộ, công chức, viên chức trong các CQNN của tỉnh; số máy tính trong các CQNN của tỉnh có kết nối Internet băng thông rộng; số các CQNN của tỉnh có kết nối với mạng diện rộng của tỉnh; số các CQNN của tỉnh có kết nối với mạng chuyên dùng của Chính phủ; Trung tâm dữ liệu của tỉnh. - Chỉ tiêu về ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ. Gồm: các ứng dụng đã triển khai (quản lý văn bản và điều hành; ứng dụng chữ ký số, quản lý nhân sự, quản lý khoa học - công nghệ, quản lý kế toán - tài chính, quản lý thanh tra, khiếu nại, tố cáo, thƣ điện tử chính thức của cơ quan, một của điện tử); Hệ thống hội nghị truyền hình; tỷ lệ % trao đổi văn bản trên môi trƣờng mạng. - Chỉ tiêu về Trang/Cổng thông tin điện tử. Gồm có: số lƣợng tin, bài, văn bản cung cấp trên Trang/Cổng thông tin điện tử; cung cấp các mục thông tin về chƣơng trình nghiên cứu, đề tài khoa học và thông tin về dự án, hạng mục đầu tƣ, đấu thầu, mua sắm công; cập nhật thông tin đầy đủ và kịp thời; các chức năng hỗ trợ trên Trang/Cổng thông tin điện tử; bảo đảm an toàn thông tin cho Trang/Cổng thông tin điện tử; cung cấp dịch vụ công trực tuyến; công tác tổ chức quản trị Trang/Cổng thông tin điện tử. - Chỉ tiêu về công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin: giải pháp bảo vệ ngăn chặn, và phát hiện sớm việc truy cập trái phép vào mạng máy tính hay thiết bị lƣu trữ dữ liệu; hệ thống diệt virus hay hệ thống phòng, chống truy cập trái phép; cán bộ phụ trách quản lý an toàn, an ninh thông tin chuyên trách hoặc kiêm nhiệm; sử dụng công nghệ xác thực khi truy cập hệ thống; giải pháp quản lý truy cập máy 35
  46. chủ, máy trạm; giải pháp kỹ thuật để theo dõi tình trạng lây nhiễm và loại bỏ phần mềm độc hại ra khỏi hệ thống; tổ chức phổ biến các quy định của pháp luật và nội quy của cơ quan về an toàn, an ninh thông tin cho các cán bộ, công chức; đào tạo cán bộ chuyên sâu về an toàn, an ninh thông tin; xây dựng kế hoạch phản ứng với các sự cố an toàn, an ninh thông tin. - Chỉ tiêu về xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định cho ứng dụng CNTT. Gồm: xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT của tỉnh giai đoạn 5 năm, kế hoạch chi tiết ứng dụng CNTT trong năm; quy định khuyến khích ứng dụng CNTT trên địa bàn tỉnh; quy định về quy trình trao đổi, lƣu trữ, xử lý văn bản điện tử trong nội bộ CQNN; quy định về quản lý, sử dụng hệ thống thƣ điện tử của CQNN; quy định về phát triển nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT của tỉnh; quy định về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; Quy định về chế độ ƣu đãi đối với cán bộ chuyên trách CNTT. - Chỉ tiêu về nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT. Gồm: tổng số cán bộ chuyên trách về CNTT theo trình độ đào tạo; tỉ lệ cán bộ, công chức thƣờng xuyên sử dụng máy tính để xử lý công việc; tổ chức đào tạo nâng cao trình độ CNTT cho cán bộ trên toàn địa phƣơng trong năm. - Chỉ tiêu về hệ thống tổ chức bộ máy QLNN về ứng dụng CNTT. Gồm: tổ chức bộ máy QLNN về CNTT, Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT, các đơn vị sự nghiệp chuyên trách về CNTT của các CQNN. - Chỉ tiêu về tổng số nguồn vốn đầu tƣ cho ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN so với chỉ số xếp hạng tổng thể về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Hà Giang đã đƣợc Bộ TT&TT xếp hạng hàng năm. 36
  47. Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CQNN TỈNH HÀ GIANG 3.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG. 3.1.1. Điều kiện tự nhiên. Vị trí địa lý: Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lƣợc đặc biệt quan trọng. Phía bắc và tây có đƣờng biên giới giáp với nƣớc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài trên 274 km; phía đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía tây và tây nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Hà Giang có diện tích tự nhiên là 791.488,92 km2, trong đó theo đƣờng chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam dài 137 km. Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc, cách Lũng Cú chừng 3 km về phía đông, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực tây cách Xín Mần khoảng 10 km về phía tây nam, có kinh độ l04024'05"; mỏm cực đông cách Mèo Vạc 16 km về phía đông - đông nam có kinh độ l05030'04". Hiện nay Hà Giang có 01 thành phố, 10 huyện, 5 phƣờng, 13 thị trấn và 177 xã. Tính đến năm 2013 dân số Hà Giang là 778.958 ngƣời. Trong đó 116.875 ngƣời sống ở thành thị và 662.083 sống ở nông thôn. Địa hình: Hà Giang Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800 m đến 1.200 m so với mực nƣớc biển. Đây là vùng tập trung nhiều ngọn núi cao. Theo thống kê mới đây, trên dải đất Hà Giang rộng chƣa tới 800.000 km2 mà có tới 49 ngọn núi cao từ 500 m - 2.500 m (10 ngọn cao 500 - 1.000 m, 24 ngọn cao 1000 - 1500 m, 10 ngọn cao 1.500 - 2.000 m và 5 ngọn cao từ 2.000 - 2.500 m). Tuy vậy, địa hình Hà Giang về cơ bản, có thể phân thành 3 vùng sau: 37
  48. - Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trƣng cho địa hình karst. ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng. - Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thƣờng đƣợc gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000m đến trên 2.000m. Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp. - Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thành phố còn lại, kéo dài từ huyện Bắc Mê, thành phố Hà Giang, qua huyện Vị Xuyên đến huyện Bắc Quang. Khu vực này có những dải rừng già xen kẽ những thung lũng tƣơng đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối. Với vị trí địa lý và địa hình của tỉnh Hà Giang, có thể nói địa hình của tỉnh Hà Giang mặc dù có 11 huyện, thành phố nhƣng địa hình bị chia cắt thành 3 vùng rõ dệt. Trong đó vùng cao núi đá phía bắc và vùng núi thấp phía tây và một phần của vùng núi thấp là huyện Bắc Mê địa hình rất hiểm trở, giao thông độc đạo, đi lại rất khó khăn từ trung tâm tỉnh đến huyện xa nhất của tỉnh là 165 km nhƣng mất khoảng 4 - 5 giờ đi xe ô tô, huyện gần nhất là 60 km cũng phải mất 2 giờ. Cùng với đó là địa hình vùng núi cao đặc trƣng, thời tiết rất khắc nghiệt mùa đông thƣờng có sƣơng mù, rét đậm, rét hại và có nơi có tuyết rơi. Với địa hình và giao thông nhƣ vậy việc QLNN của các Sở, Ngành ở tỉnh đối với các huyện sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì đƣờng xá đi lại khó khăn, không thuận tiện cho việc kiểm tra, chỉ đạo các hoạt động chuyên môn đối với các phòng, ban chuyên môn của huyện. Đặc biệt là đối với công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN thì với địa hình nhƣ vậy sẽ rất khó khăn trong việc xây dựng hạ tầng CNTT, việc xây dựng và kết nối mạng diện rộng của tỉnh đến các huyện cũng gặp nhiều bất lợi về địa hình. 38
  49. 3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội. Kinh tế của tỉnh Hà Giang đoạn 2001 - 2010 tăng trƣởng khá nhanh, tốc độ tăng trƣởng kinh tế giai đoạn 2001 - 2005 bình quân tăng 10,55%/ năm, trong đó ngành nông lâm thuỷ sản tăng 5,9%, công nghiệp - xây dựng tăng 12,7%, dịch vụ - thƣơng mại tăng 16,9%; giai đoạn 2006 - 2010 bình quân tăng 12,45%/năm, trong đó ngành nông lâm thuỷ sản tăng 5,8%, công nghiệp - xây dựng tăng 17,7%, dịch vụ tăng 16,6%; giai đoạn 2011 - 2013 bình quân tăng 10,37%/năm, trong đó ngành nông lâm thuỷ sản tăng 5,27%, công nghiệp - xây dựng tăng 15,1%, dịch vụ tăng 12,81%. Bảng 3.1: Tăng trƣởng kinh tế 2001- 2005, 2006 - 2010 và 2011 - 2013 Đơn vị tính: %/năm Ngành KTQD 2001 - 2005 2006 - 2010 2011 - 2013 Tăng trƣởng toàn nền kinh tế 10,55 12,45 10,37 1. Nông- lâm - thuỷ sản 5,90 5,80 5,27 2. Công nghiệp - xây dựng 12,70 17,70 15,1 3. Dịch vụ 16,90 16,60 12,81 (Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê tỉnh Hà Giang từ năm 2001 đến năm 2013) Một số lĩnh vực trong giai đoạn 2006 - 2010 có mức tăng trƣởng nhanh nhƣ: công nghiệp khai thác mỏ tăng 13,05%; xử lý nƣớc thải tăng 28,95%; xây dựng tăng 19,3%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 43,2%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 28,1%; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội tăng 23,75%; hoạt động vui chơi giải trí tăng 20,75%. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010, ngành dịch vụ chiếm 39,64%, tăng 4,76%; công nghiệp - xây dựng chiếm 27,23%; nông - lâm nghiệp chiếm 33,13%, giảm 8,9% so với năm 2005. Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân năm 2010 đạt 8,7 triệu đồng/ngƣời/năm, năm 2013 đạt 14,6 triệu đồng/ngƣời/năm. - Về nông - lâm nghiệp - thuỷ sản phát triển theo hƣớng sản xuất hàng hóa, năng suất, chất lƣợng và hiệu quả ngày càng tăng do đẩy mạnh thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Diện mạo khu vực nông thôn thay đổi đáng kể, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện và nâng lên rõ rệt, an ninh lƣơng thực từng bƣớc đƣợc đảm bảo, bình quân lƣơng thực 39
  50. đạt 460 kg/ ngƣời/ năm. - Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, trong những năm qua đã có những bƣớc phát triển nhất định, bƣớc đầu đã khai thác đƣợc thế mạnh của tỉnh nhƣ thuỷ điện, khai thác và chế biến khoáng sản, nông lâm sản, có sự đột phá về tăng trƣởng giá trị kinh tế. Các cơ sở sản xuất công nghiệp tăng cả về số lƣợng, quy mô và hiệu quả sản xuất kinh doanh, toàn tỉnh có 3.916 cơ sở công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 (theo giá thực tế) đạt trên 1.000 tỷ đồng. Năm 2013 giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 3.000 tỷ đồng Kết cấu hạ tầng đƣợc đầu tƣ lớn, nhất là hạ tầng thiết yếu, trên cơ sở năng động, sáng tạo trong huy động, lồng ghép sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tƣ; đặc biệt là thực hiện tốt phƣơng châm “Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm” để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, chỉnh trang đô thị đem lại hiệu quả thiết thực. - Về thƣơng mại dịch vụ đã có sự phát triển mạnh cả ở nông thôn và thành thị, trên cơ sở hình thành nhiều loại hình dịch vụ, nhiều sản phẩm hàng hoá, tạo lập đƣợc sức mua và trao đổi hàng hoá ở nông thôn. Tổng mức lƣu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội luôn tăng, năm sau cao hơn năm trƣớc. Năm 2010 đạt 2.428,6 tỷ đồng, tăng trên 2,5 lần so với năm 2005, năm 2013 đạt 5.977,43 tỷ đồng. - Về tài chính - tín dụng tăng trƣởng khá, thu ngân sách trên địa bàn tăng mạnh, đạt trên 700 tỷ đồng. Mạng lƣới các tổ chức tín dụng đƣợc mở rộng, hoạt động dịch vụ của các ngân hàng thƣơng mại phát triển đa dạng và ổn định, tăng trƣởng tín dụng bình quân 30%/năm; nợ xấu giảm từ 41% xuống còn dƣới 1,5%. Trong quá trình phát triển KT-XH, tỉnh luôn xác định ƣu tiên phát triển mạnh một số ngành, lĩnh vực cụ thể đƣợc coi là thành phần kinh tế chủ đạo có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển chung của toàn tỉnh nhƣ: Lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp; công nghiệp khai thác mỏ; sản xuất và phân phối điện; xây dựng; bán buôn sửa chữa và bán lẻ, sửa chữa xe có động cơ; dịch vụ ăn uống và lƣu trú; các hoạt động quản lý Nhà nƣớc, giáo dục, y tế và hoạt động cứu trợ xã hội. Trong cơ cấu 40
  51. GDP và cơ cấu lao động của các thành phần kinh tế mũi nhọn thì nhóm ngành nông - lâm nghiệp vẫn là ngành sản xuất ra nhiều hàng hoá có giá trị là 1.797 tỷ đồng, chiếm 32,5% giá trị GDP, cơ cấu lao động chiếm 62,7% tổng số lực lƣợng lao động toàn tỉnh; nhóm ngành công nghiệp - xây dựng giá trị sản xuất hàng hoá 1.273,8 tỷ đồng chiếm 23,1% giá trị GDP, cơ cấu lao động chiếm 6,7%; nhóm ngành dịch vụ, giá trị sản xuất hàng hoá 1.611,6 tỷ đồng chiếm 29,2% giá trị GDP, cơ cấu lao động chiếm 13,3%. Riêng ngành xây dựng có giá trị sản xuất hàng hoá cao 1.030,6 tỷ đồng chiếm 18,7% giá trị GDP của toàn tỉnh, cơ cấu lao động chiếm 5,5% tổng số lực lƣợng lao động toàn tỉnh. Hà giang có 22 dân tộc, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 87%. Trong tổng số lao đôṇ g đến năm 2013, dân tộc Mông chiếm 31,9%; dân tộc Tày chiếm 23,2%; dân tộc Dao chiếm 15,1%; dân tộc Kinh chiếm 13,2%; dân tộc Nùng chiếm 9,8%; dân tộc Giáy chiếm 2%; dân tộc La Chí chiếm 1,66 %; dân tộc Hoa chiếm 0,97%; dân tộc Pà Thẻn chiếm 0,79%; dân tộc Cờ Lao chiếm 0,33%; dân tộc Lô Lô chiếm 0,2%; các dân tộc còn lại chiếm 0,85%. Tính đến năm 2013 trong tổng số lao đôṇ g toàn tỉnh , nhóm lao động không biết chƣ̃ cò n 6,4%; nhóm lao động chƣa tốt nghiêp̣ tiểu học 15,1%; nhóm lao động có trình độ tốt nghiệp tiểu học 28,8%; nhóm lao động có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở 27,4%; nhóm lao động tốt nghiệp trung học phổ thông 22,3%. Nhìn chung trình độ học vấn của lực lƣợng lao động tỉnh Hà Giang qua các năm đã có chuyển biến tích cực, nhƣng so với mức trung bình của cả nƣớc và vùng trung du miền núi phía bắc còn thấp. Lực lƣợng lao động chủ yếu có trình độ từ không biết chữ đến tốt nghiệp trung học cơ sở khá cao (khoảng 78%), lực lƣợng lao động có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ chiếm 22% nhƣng phần lớn là cán bộ, công chức, viên chức Nhà nƣớc. Do đó trình học vấn của lực lƣợng lao động cần phải đƣợc tiếp tục nâng cao trong giai đoạn tiếp theo. Có thể thấy điều kiện kinh tế của Hà Giang còn rất nhiều khó khăn, chậm phát triển so với các địa phƣơng khác trong cả nƣớc. Theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, Hà Giang có 6/62 huyện nghèo của cả nƣớc. Cơ cấu kinh tế mặc dù đã 41
  52. chuyển dịch đáng kể sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ xong tỷ trọng sản xuất nông - lâm nghiệp vẫn khá cao. Cùng với đó là tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn lạc hậu. Đối với 4 huyện vùng cao núi đá phía bắc chủ yếu là canh tác ngô một vụ/năm trên núi đá vôi do vậy năng xuất thấp. 3.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC TỈNH HÀ GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY. 3.2.1. Thực trạng hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin của tỉnh Hà Giang. Trong thời gian qua, hệ thống tổ chức bộ máy QLNN đối với lĩnh vực CNTT và ứng dụng CNTT ở nƣớc ta nhìn chung đã đƣợc đổi mới và tăng cƣờng. Cho đến nay hầu hết các Bộ, ngành, cơ quan Đảng và địa phƣơng thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT. Đặc biệt, trong năm 2002, Bộ Bƣu chính, Viễn thông (nay là Bộ TT&TT) đƣợc thành lập và đƣợc giao thống nhất QLNN về viễn thông và CNTT. Hiện nay 63/63 tỉnh, thành phố có Sở TT&TT. Ở Hà Giang bộ máy QLNN đối với lĩnh vực CNTT nói chung và QLNN về ứng dụng CNTT nói riêng đƣợc quan tâm triển khai hoàn thiện từ tỉnh đến huyện. Thực hiện Nghị định số 101/2004/NĐ-CP, ngày 25/02/2004 của Chính phủ Về việc thành lập Sở Bƣu chính, Viễn thông trực thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng. Ngày 20/6/2006 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1609/QĐ-UBND về việc thành lập Sở Bƣu chính, Viễn thông Hà Giang. Việc ra đời Sở Bƣu chính, Viễn thông (nay là Sở TT&TT) đã đánh dấu bƣớc chuyển biến tích cực trong công tác quản lý đối với lĩnh vực CNTT. Lần đầu tiên UBND tỉnh đã thành lập đƣợc một cơ quan chuyên môn giúp cho UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN đối với lĩnh vực CNTT. Tiếp theo đó thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ- CP, ngày 04/02/2008 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố thuộc Trung ƣơng, ngày 16/4/2008 UBND tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định số 1116/QĐ-UBND, về việc thành lập Sở TT&TT tỉnh Hà Giang. Cùng với đó ngày 22/9/2008 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 42
  53. 3092/QĐ-UBND, ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở TT&TT tỉnh Hà Giang. Theo Quyết định số 3092/QĐ-UBND, Sở TT&TT có chức năng: tham mƣu, giúp UBND tỉnh thực hiện QLNN về: Báo chí; xuất bản; Bƣu chính và chuyển phát; Viễn thông và internet; Truyền dẫn phát sóng; Tần số vô tuyến điện; CNTT, điện tử; Phát thanh và truyền hình; Cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông; Quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm; Các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở; Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, uỷ quyền của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật (UBND tỉnh Hà Giang, 2008, trang 1). Để chỉ đạo và điều hành các hoạt động ứng dụng CNTT của tỉnh Hà Giang, ngày 20/6/2008 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT tỉnh Hà Giang. Để phù hớp với nhiệm vụ ứng dụng CNTT hiện nay của tỉnh, ngày 24/02/2014 UBND tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định số 331/QD-UBND về việc kiện toàn Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT tỉnh. Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT tỉnh có nhiệm vụ: Tham mƣu cho UBND tỉnh các chƣơng trình, kế hoạch dài hạn, hàng năm và đề xuất các giải pháp thúc đấy hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT trên địa bàn toàn tỉnh; Giúp Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, hƣớng dẫn, triển khai, kiểm tra, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện chƣơng trình, đề án, dự án, kế hoạch về ứng dụng và phát triển CNTT; Định hƣớng, chỉ đạo, điều hành toàn bộ hoạt động Cổng thông tin điện tử của tỉnh, định kỳ báo cáo ủy ban quốc gia về CNTT, Bộ TT&TT, Chủ tịch UBND tỉnh về kết quả triển khai thực hiện các hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT trên địa bàn tỉnh, báo cáo UBND tỉnh về tình hình hoạt động của Cổng thông tin điện tử của tỉnh định kỳ 6 tháng, cả năm; Chịu trách nhiệm trƣớc UBND tỉnh về toàn bộ hoạt động của Cổng thông tin điện tử của tỉnh trên Internet. Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các Sở, Ban, ngành và UBND các huyện, thành phố liên kết tích hợp các Trang thông tin điện tử thành phần vào Cổng thông tin điện tử của tỉnh, tăng cƣờng cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và Trang thông tin điện tử thành phần của đơn vị; Quyết định phƣơng hƣớng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động, phát triển nâng 43
  54. cao chất lƣợng nội dung, hình thức, đầu tƣ công nghệ mới cho Cổng thông tin điện tử của tỉnh và các Trang thông tin điện tử thành phần của các CQNN (UBND tỉnh Hà Giang, 2014, trang 2-3). Bên cạnh đó để giúp Sở TT&TT triển khai các chƣơng trình, dự án ứng dụng CNTT trên địa bàn tỉnh và vận hành các hệ thống ứng dụng CNTT phục vụ chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh, ngày 13/5/2008 UBND tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định số 1410/QĐ-UBND về việc điều chuyển Trung tâm tin học từ Văn phòng UBND tỉnh về trực thuộc Sở TT&TT và đổi tên thành Trung tâm CNTT và truyền thông. Ngày 24/11/2008 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2972/QĐ-UBND về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm CNTT và Truyền thông, Trung tâm có chức năng: giúp Giám đốc Sở TT&TT triển khai thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực bƣu chính, viễn thông và CNTT; Tập huấn, bồi dƣỡng kiến thức tin học cho các Sở, Ban, ngành, địa phƣơng và các tổ chức, cá nhân trong tỉnh; Thực hiện việc nghiên cứu, ứng dụng các phần mềm; Quản trị Cổng thông tin điện tử; Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh; Tƣ vấn, hỗ trợ các dịch vụ về bƣu chính, viễn thông và CNTT trên địa bàn tỉnh (UBND tỉnh Hà Giang, 2008, trang 1). Tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Hà Giang, thực hiện Nghị định số 14/2008/NĐ-CP, ngày 04/02/2088 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Thông tƣ liên tịch số 03/2008/TTLT-BTTTT-BNV, ngày 30/6/2008 của liên Bộ TT&TT, Bộ Nội vụ hƣớng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở TT&TT thuộc UBND cấp tỉnh, phòng VH-TT thuộc UBND cấp huyện. Phòng VH- TT của 11 huyện, thành phố đƣợc thành lập. Phòng VH-TT có chức năng: tham mƣu, giúp UBND cấp huyện thực hiện QLNN: báo chí; xuất bản; bƣu chính và chuyển phát; viễn thông và Internet; CNTT, cơ sở hạ tầng thông tin; phát thanh trên địa bàn. Cho đến nay 11/11 huyện, thành phố của tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT cấp huyện. Có thể nói hiện nay bộ máy QLNN và bộ máy tham mƣu chỉ đạo và điều hành 44
  55. về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN tỉnh Hà Giang từ tỉnh cho đến huyện đã hoàn thiện. Tuy nhiên bộ máy vận hành các hệ thống ứng dụng CNTT cũng nhƣ hỗ trợ các CQNN trong việc triển khai và vận hành các ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ của tỉnh Hà Giang hiện nay vẫn còn thiếu và yếu. Cả tỉnh mới có 01 Trung tâm CNTT và Truyền thông làm nhiệm vụ vận hành và hƣớng dẫn sử dụng hạ tầng CNTT cũng nhƣ triển khai và hƣớng dẫn các CQNN của tỉnh triển khai các hệ thống ứng dụng CNTT. Trong khi đó với địa hình bị chia cắt mạnh nhƣ tỉnh Hà Giang việc hỗ trợ từ tỉnh xuống huyện là rất khó khăn và tốn nhiều thời gian, công sức. 3.2.2. Công tác xây dựng thể chế, chính sách, quy chế, quy định về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin. Trong quá trình đổi mới đất nƣớc và cải cách nền hành chính Nhà nƣớc vừa qua, môi trƣờng pháp lý phục vụ cho việc ứng dụng và phát triển CNTT đã đƣợc cải thiện đáng kể. Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chủ trƣơng, chính sách nhƣ: Chỉ thị số 58/CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về tăng cƣờng sử dụng CNTT cho công cuộc CNH và HĐH. Hiện nay là Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, đây là những nền tảng cho sự ra đời của nhiều cơ chế, chính sách thuận lợi, thúc đẩy việc ứng dụng và phát triển CNTT của nƣớc ta. Từ khi có Chỉ thị 58 cho đến nay đã có hơn 30 Luật và văn bản quy phạm pháp luật về CNTT và truyền thông đƣợc phê duyệt và ban hành, nổi bật nhƣ Luật Giao dịch điện tử; Luật CNTT, Pháp lệnh Bƣu chính Viễn thông, Nghị định 64/2007/NĐ-CP, Nghị định 43/2011/NĐ-CP cho thấy Đảng và Nhà nƣớc ta hết sức quan tâm đến vấn đề đƣa ứng dụng CNTT vào phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nƣớc nói chung và ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN nói riêng trong thời kỳ mới. Nhận thức đƣợc vai trò và tầm quan trọng của việc xây dựng thể chế, chế độ chính sách trong việc đẩy mạnh và phát triển ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Hà Giang đã ban hành các chính sách về ứng dụng CNTT nói chung và ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN 45
  56. tỉnh Hà Giang nói riêng đó là: Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 30/12/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trên địa bàn tỉnh đến năm 2015, định hƣớng đến năm 2020; Nghị Quyết số 139/2014/NQ- HĐND về việc ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ công chức, viên chức chuyên trách CNTT trong các cơ quan Đảng, MTTQ, các tổ chức đoàn thể, các CQNN và các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Hà Giang; Chỉ thị số 07/CT-UBND ngày 22/02/2011 của UBND tỉnh Hà Giang về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong CQNN tỉnh Hà Giang; Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 06/01/2012 của UBND tỉnh Hà Giang về việc đẩy mạnh cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên Trang/Cổng thông tin điện tử của CQNN; Chƣơng trình hành động số 59/CTr- UBND ngày 08/4/2014 của UBND tỉnh về triển khai Nghị quyết 16-NQ/TU ngày 30/12/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT đến năm 2015, định hƣớng đến năm 2020. Bảng 3.2 Xếp hạng cơ chế chính sách và các quy định cho ứng dụng CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng qua các năm 2010-2013 STT Tên tỉnh/TP Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 1 Đà Nẵng 1 2 1 5 2 TP. Hồ Chí Minh 15 32 10 23 3 Hà Nội 9 40 7 5 4 Hà Giang 56 60 13 1 5 Đắk Nông 51 52 42 45 (Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo đánh giá mức độ ứng dụng CNTT của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương các năm từ 2010 đến 2013, Bộ TT&TT) Cùng với đó Sở TT&TT đã tham mƣu, xây dựng và trình UBND tỉnh ban hành các quy định về quản lý, vận hành, khai thác các hệ thống ứng dụng CNTT của tỉnh nhƣ: Quyết định số 484/2012/QĐ-UBND, ngày 29/3/2012 của UBND tỉnh Hà Giang về việc ban hành quy chế quản lý, vận hành, sử dụng và đảm bảo an toàn 46