Luận văn Nghiên cứu xây dựng lộ trình phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam và đề xuất mô hình chính phủ điện tử tại Đại học Thái Nguyên

pdf 87 trang ngocly 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu xây dựng lộ trình phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam và đề xuất mô hình chính phủ điện tử tại Đại học Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_xay_dung_lo_trinh_phat_trien_chinh_phu_d.pdf

Nội dung text: Luận văn Nghiên cứu xây dựng lộ trình phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam và đề xuất mô hình chính phủ điện tử tại Đại học Thái Nguyên

  1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Đoàn Mạnh Hồng NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÁY TÍNH Thái Nguyên – 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Đoàn Mạnh Hồng NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Khoa học máy tính Mã số : 60.48.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÁY TÍNH NGƯỜI HƯỚNG DẤN KHOA HỌC TS. BÙI THẾ HỒNG Thái Nguyên – 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  3. 1 LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm gần đây công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, ngoài việc phục vụ nhu cầu truy cập internet để cập nhật và khai thác thông tin phục vụ công việc hàng ngày của ngƣời dân, còn đáp ứng đƣợc những nhu cầu về giao dịch trực tuyến thông qua hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin của các cơ quan của Chính phủ nhƣ kê khai hồ sơ cá nhân, đăng ký nộp thuế thu nhập cá nhân, đăng ký tạm trú tạm vắng, gửi và nhận công văn, cung cấp và hƣớng dẫn thủ tục hành chính, Khi nói đến cụm từ “Chính phủ điện tử”, ngƣời ta có thể hiểu ngay đƣợc tầm quan trọng và các lợi ích mà nó đem lại cho một quốc gia đang phát triển nhất là sự phát triển trong lĩnh vực công nghệ thông tin nhằm giải quyết và khắc phục cách làm việc trên giấy tờ nhƣ hiện nay – giúp cho quốc gia có thể cải cách hành chính trong phần lớn các công việc hiện còn chồng chéo nhau. Hiện nay, rất nhiều quốc gia đã và đang từng bƣớc xây dựng và đƣa chính phủ điện tử vào hoạt động trong đời sống kinh tế và xã hội, đất nƣớc chúng ta cũng đang trên đƣờng phát triển để hội nhập vào trào lƣu phát triển chung của thế giới, vì vậy việc nghiên cứu, xây dựng một lộ trình phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam là một việc làm hết sức cần thiết để giúp đất nƣớc nhanh chóng phát trển và hội nhập với thế giới. Mục đích của luận văn này là tìm hiểu, nghiên cứu về phƣơng pháp luận xây dựng, phát triển và thực thi chính phủ điện tử. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các cơ sở hạ tầng về pháp lý và công nghệ của Việt Nam, bƣớc đầu đề xuất một lộ trình xây dựng chính phủ điện tử tại Việt Nam, tiếp theo là phát triển thí điểm một ứng dụng nhỏ về chính phủ điện tử cho Đại học Thái Nguyên, trong đó đƣa ra những phân tích và đánh giá cũng nhƣ đề cập đến một số cách làm việc theo xu hƣớng cải cách hành chính. Do phạm vi của đề tài này rất rộng nên luận văn chỉ tập trung vào những nghiên cứu thông qua sự tham khảo cách xây dựng Chính phủ điện tử ở một số quốc gia có nền Công nghệ thông tin phát triển nói chung, cũng nhƣ thí điểm một số lĩnh vực trong Đại học Thái Nguyên nhằm mô phỏng cách làm việc “một cửa một dấu” trong Chính phủ điện tử này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  4. 2 Nội dung nghiên cứu của luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Tổng quan và tình hình phát triển chính phủ điện tử trên thế giới và taị Việt Nam Chƣơng 2: Đề xuất lộ trình xây dựng và thực hiện Chính phủ điện tử tại Việt Nam Chƣơng 3: Đề xuất mô hình Chính phủ điện tử tại Đại học Thái Nguyên Luận văn này đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn nhiệt tình của Tiến sĩ Bùi Thế Hồng và sự giúp đỡ của các thày giáo, cô giáo đang công tác trong khoa Công Nghệ Thông Tin – Đại học Thái Nguyên. Do đây là một đề tài nghiên cứu về Chính phủ điện tử - một lĩnh vực rất rộng mà nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế còn gặp nhiều khó khăn từ việc nghiên cứu tới việc phát triển. Với góc độ là một cá nhân nghiên cứu về lĩnh vực nhƣ vậy nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu, vậy nên tôi rất mong nhận đƣợc những đánh giá cũng nhƣ những góp ý để khắc phục và phát triển đề tài này, góp phần cải thiện Chính phủ điện tử của nƣớc ta. Tôi xin chân thành cảm ơn! Thái Nguyên, ngày 11/11/2009 Học viên thực hiện Đoàn Mạnh Hồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  5. 3 Chƣơng 1. TỔNG QUAN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM A. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Cuộc cách mạng toàn cầu về công nghệ thông tin, truyền thông, Internet đang diễn ra mạnh mẽ, làm thay đổi cách thức sống, học tập, làm việc, vui chơi, giải trí và ngay cả việc quản lý quốc gia. Khái niệm Chính phủ Điện tử đã ra đời trên cơ sở những tiến bộ công nghệ này. Ngay từ đầu những năm 1990, rất nhiều quốc gia đã tiến hành thực hiện cuộc cách mạng Chính phủ điện tử. Nội dung chƣơng này nêu lên những vấn đề về khái niệm về Chính phủ điện tử, những quan điểm và tầm nhìn về Chính phủ điện tử, cũng nhƣ tìm hiểu những mô hình Chính phủ điện tử của các nƣớc trên thế giới, đánh giá những mặt đƣợc và chƣa đƣợc của việc triển khai Chính phủ điện tử ở Việt Nam. 1. ĐỊNH NGHĨA VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 1.1. Chính phủ điện tử là gì? Do hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về Chính phủ điện tử (E- Government) nên trong nội dung của nghiên cứu này cần phải có một giải thích nhất quán về Chính phủ điện tử. Chính phủ điện tử đơn giản là Chính phủ sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tăng cƣờng khả năng truy cập và cung cấp các dịch vụ của Chính phủ tới các công dân, các doanh nghiệp và các nhân viên Chính phủ. Chính phủ điện tử cũng góp phần tạo ra các cơ hội sau: - Giúp tiếp cận dễ dàng hơn với các thông tin của nhà nƣớc. - Tăng cƣờng các cơ hội trao đổi tƣơng hỗ giữa các cơ quan nhà nƣớc và cộng đồng. - Giúp tăng cƣờng tính minh bạch trong các hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc, hạn chế sự kém hiệu quả và bệnh quan liêu giấy tờ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  6. 4 - Mang lại các cơ hội phát triển cho các đối tƣợng ở các vùng nông thôn và các vùng kém phát triển khác. Việc triển khai Chính phủ điện tử giúp sắp xếp hợp lý bộ máy nhà nƣớc, cải thiện sự liên kết và hợp tác giữa các bộ ngành với nhau và với các tổ chức khác, cũng nhƣ mối quan hệ với các chủ thể là đối tƣợng phục vụ của các cơ quan nhà nƣớc. Điều này cũng góp phần thúc đẩy các tiến trình kinh tế, chính trị và xã hội phát triển hơn. 1.2. Tầm nhìn chính phủ điện tử Khi đề cập đến Chính phủ điện tử là nói về sự phát triển rộng rãi của Internet và sự thâm nhập của nó trên thị trƣờng, trong cộng đồng và các tổ chức công cộng. Ngƣời ta nhận thấy rằng để có đƣợc Chính phủ điện tử không chỉ đơn thuần là việc áp đặt công nghệ truyền thông thông tin vào các mô hình quản lý nhà nƣớc hiện tại. Chính phủ phải tự thích ứng trong một môi trƣờng mới và hƣớng dẫn cho tất cả các chủ thể khác (nhƣ công dân, doanh nghiệp, nhân viên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ v. v. . ) theo một hƣớng đi chung. Điều này bao gồm cả việc xem xét lại hoạt động hoạch định chính sách của Chính phủ, sự điều hành của bộ máy nhà nƣớc và việc cung ứng các dịch vụ công cộng. Cần thay đổi suy nghĩ của các công chức nhà nƣớc, thiết kế lại quy trình làm việc và cải cách các thủ tục hành chính. Cần tuyên truyền giáo dục và tạo ra nhận thức cho tất cả mọi chủ thể liên quan trong quá trình hƣớng tới Chính phủ điện tử. 1.3. Những quan điểm về CPĐT Khi nói đến CPĐT, chúng ta có thể nhìn nhận nó dƣới những quan điểm sau đây: Về nội bộ 1.3.1. Chính phủ với Chính phủ (G-to-G) . Nhóm G - G đề cập tới các quy trình và hệ thống nội bộ hình thành nền tảng cho các bộ ngành và các tổ chức thuộc khu vực hành chính công. Nó bao gồm việc chia sẻ thông tin thông qua các giao dịch điện tử giữa các cơ quan chức năng của nhà nƣớc. Sự trao đổi tƣơng tác có thể diễn ra trong nội bộ các ngành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  7. 5 và liên ngành, giữa các bộ phận của các cơ quan chức năng và thậm chí là với các nhà nƣớc khác. 1.3.2. Chính phủ với công chức nhà nước (G-to-E) . Nhóm G - E đề cập tới các hệ thống hành chính và hỗ trợ nội bộ, bao gồm các thủ tục và thông tin có liên quan để hỗ trợ các công chức nhà nƣớc, giúp họ thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao. Về quan hệ với bên ngoài 1.3.3. Chính phủ với Doanh nghiệp (G-to-B) . Nhóm G - B hỗ trợ các hoạt động kinh doanh thƣơng mại và làm giảm các chi phí giao dịch trong kinh doanh. Bằng cách đƣa các giao dịch của nhà nƣớc lên trên mạng sẽ tạo ra các cơ hội kinh doanh theo hƣớng đơn giản hoá các thủ tục hành chính, giảm bớt quan liêu, đảm bảo sự phù hợp về mặt pháp lý và làm cho các tác nghiệp diễn ra nhanh hơn và dễ dàng hơn thông qua việc điện tử hoá các công việc vào sổ, lƣu trữ và báo cáo thông kê. Ví dụ, một doanh nghiệp nhà thầu đề nghị cấp giấy phép xây dựng qua mạng, nếu thực hiện đƣợc rõ ràng sẽ thuận tiện hơn việc phải tới cơ quan chức năng nhiều lần để đăng ký và điền vào các biểu mẫu cần thiết. . Sự cung cấp các dịch vụ hành chính công dù là toàn diện hay đơn lẻ cũng tạo cơ hội cho doanh nghiệp và cơ quan nhà nƣớc phối hợp với nhau sao cho các dịch vụ kinh doanh và các dịch vụ hành chính công đƣợc triển khai một cách hài hoà thống nhất. Ví dụ, thông qua cổng giao dịch trực tuyến, chủ doanh nghiệp không những chỉ tiến hành đăng ký kinh doanh mà còn có thể lựa chọn để mua bảo hiểm y tế cho ngƣời lao động của doanh nghiệp. 1.3.4. Chính phủ với Công dân (G-to-C) . Nhóm G - C hỗ trợ sự trao đổi tƣơng hỗ giữa công dân với các cơ quan nhà nƣớc. Điểm mấu chốt của hình thức Chính phủ – Công dân là cung cấp các dịch vụ hƣớng tới khách hàng và các dịch vụ tổng hợp trên mạng, nơi mà các thông tin và dịch vụ công có thể đƣợc cung cấp theo chế độ “một cửa”. Điều này có nghĩa là các công dân khi phải thực hiện một loạt các nghĩa vụ, đặc biệt là các nghĩa vụ liên quan đến nhiều cơ quan chức năng khác nhau, không cần thiết phải liên hệ và đi đến từng cơ quan chức năng đó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  8. 6 . Chế độ một cửa cũng tạo điều kiện cho công dân tham gia vào các quy trình làm việc dân chủ và trao đổi thông tin phản hồi, công khai vì họ có thể tiếp cận các thủ tục và khớp nối các nhu cầu của họ với các quan chức nhà nƣớc. 2. MÔ HÌNH CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Trƣớc khi tập trung vào quan hệ với các đối tƣợng bên ngoài, một tiền đề là phải đảm bảo trong nội bộ Chính phủ có hệ thống intranets (kết nối trong mỗi đơn vị) để giúp cho các cơ quan chức năng của Chính phủ chia sẻ và phổ biến thông tin. Cụ thể có ba giai đoạn cơ bản để phát triển Chính phủ điện tử đối với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ. Ba giai đoạn cụ thể nhƣ sau: 2.1. Cung cấp thông tin Các cơ quan chức năng của Chính phủ có thể bắt đầu quy trình Chính phủ điện tử bằng cách ban hành các thông tin của Chính phủ lên mạng, bắt đầu từ việc thông tin về quy trình và các thủ tục giấy tờ cần thiết, các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định và biểu mẫu cần thiết. Điều này cho phép các công dân và doanh nghiệp sẵn sàng tiếp cận các thông tin của nhà nƣớc mà không cần phải đi đến các cơ quan chức năng có liên quan. 2.2. Trao đổi tương hỗ Điều này có liên hệ tới các thông tin hai chiều, bắt đầu từ các công việc cơ bản nhƣ thông tin liên lạc giữa các quan chức nhà nƣớc, hoặc các ý kiến phản hồi của công dân, cho phép ngƣời sử dụng đóng góp ý kiến, đề xuất về các dự thảo chính sách và pháp luật. Thông qua cổng thông tin điện tử, Chính phủ có thể minh họa và chuyển tải các đƣờng lối chính sách thành những nội dung dễ hiểu, lôi cuốn đƣợc ngƣời dân quan tâm tìm hiểu và dễ dàng nhận đƣợc các phản hồi của họ. Chúng cũng thúc đẩy việc phổ biến sử dụng các dịch vụ tƣ vấn trực tuyến. 2.3. Giao dịch Khi đã có cổng thông tin điện tử thì ngƣời dân có thể truy cập bất kì lúc nào và bất kì ở đâu (không cần thiết phải đến các cơ quan chức năng mà chỉ cần có máy tính kết nối Internet) và nhƣ vậy, ngƣời dân có thể giao dịch với các cơ quan chức năng một cách dễ dàng (điền và gửi trực tuyến các mẫu đơn, hồ sơ, ) và sau đó họ sẽ nhận đƣợc kết quả qua mạng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  9. 7 Đối với những quốc gia đã phát triển qua cả ba giai đoạn trên, giai đoạn tiếp theo sẽ tiến hành mô hình hợp tác. Một số nƣớc đã nhận ra sự cần thiết của mô hình mà Công ty Oracle đã sử dụng: “Dịch vụ trọn gói của Chính phủ” để thực thi các dịch vụ điện tử tích hợp với một hạ tầng tập trung. Đó là một sự chuyển đổi từ mô hình cung cấp dịch vụ đơn lẻ của mỗi cơ quan Nhà nƣớc sang mô hình dịch vụ trọn gói của Chính phủ. Theo đó các dịch vụ do các cơ quan này cung cấp đã đƣợc tổng hợp nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của công dân và cần thiết có sự phối hợp giữa các bộ ngành có liên quan. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  10. 8 B. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM Trên thế giới, một số nƣớc đã nghiên cứu và triển khai Chính phủ điện tử từ rất sớm, nhƣ Ấn Độ bắt đầu thực thi Chính phủ điện tử thông qua Kế hoạch quốc gia về IT từ năm 1998. Hàn Quốc là một trong những nƣớc tiến bộ nhất trong lĩnh vực Chính phủ điện tử. Trong 4 Kế hoạch Quốc gia về Chính phủ điện tử, Hàn Quốc đã lần lƣợt triển khai một cách nhất quán các kế hoạch tổng thể quốc gia về Công nghệ thông tin nhờ sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ giai đoạn trƣớc đó. Singapore là một trong những nƣớc tiến bộ nhất trong lĩnh vực Chính phủ điện tử. Là một nƣớc nhỏ và hệ thống chính phủ dân cử với chế độ một đảng cầm quyền hoạt động trong suốt hơn 40 năm qua nên nó có thể thực thi các dự án quốc gia về công nghệ thông tin một cách thành công và có thể áp dụng mô hình thử nghiệm các dạng khác nhau của các dự án Chính phủ điện tử ở các cấp nhƣ Chính phủ - Chính phủ, Chính phủ – Công chức nhà nƣớc, Chính phủ - Công dân. Tại Việt Nam, mặc dù thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu và tiến hành nhiều hoạt động liên quan tới Chính phủ điện tử nhƣ: hơn 50% bộ, ngành và hơn 80% tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng đã có cổng thông tin điện tử hoặc Website. Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia trong và ngoài nƣớc tại Hội thảo Quốc gia về Chính phủ điện tử lần thứ 7 đƣợc tổ chức ngày 16/7/2009 tại Tp HCM thì quá trình triển khai Chính phủ điện tử tại Việt Nam còn chậm nhƣng cũng đã có những bƣớc tiến đáng mừng. Cụ thể, năm 2004 xếp thứ 112, năm 2005 xếp thứ 105 và năm 2008 tăng hẳn 16 bậc - vƣơn lên xếp hạng thứ 91 Thế giới về triển khai Chính phủ điện tử 1. ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC CHUYÊN GIA VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ CÁC KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƢỢC TRÊN THẾ GIỚI Hiện nay, theo đánh giá của các chuyên gia về CPĐT, các nƣớc tiên tiến trên thế giới đã phát triển và đang dần từng bƣớc đƣa chính phủ điện tử vào các hoạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  11. 9 động quản lý nhà nƣớc và cung cấp cho các tổ chức cá nhân các dịch vụ công một cách hữu hiệu. Những bài học rút ra đƣợc từ việc áp dụng CPĐT trên thế giới có thể đúc kết lại nhƣ sau. 1.1. Chính phủ cần cải tạo, tái thiết chứ không chỉ cung cấp thông tin. Nói đến Chính phủ điện tử là nói đến cải thiện hệ thống quản lý hành chính hiện hành của Chính phủ chứ không phải chỉ là những tác nghiệp thông tin đơn thuần. Các nghiên cứu cho thấy những chính phủ nào (kể cả cấp liên bang hoặc địa phƣơng) tiến hành tự động hoá và tin học hoá các hoạt động hiện có mà không cải tạo, tái thiết lại các quy trình và thủ tục hành chính thì sẽ không đạt đƣợc tiến bộ đáng kể trong các dự án về Chính phủ điện tử. Điều cần thiết và then chốt là cần có các cam kết và quyết tâm mạnh mẽ của lãnh đạo các cấp khi triển khai các dự án Chính phủ điện tử. Trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, tính quan trọng các nhân tố về thể chế, pháp luật, quản lý điều hành nguồn nhân lực, tài chính cần phải đƣợc đề cao không kém nhƣ đối với các khía cạnh về kỹ thuật công nghệ. 1.2. Tập trung vào đối tượng sử dụng cuối cùng, bắt đầu ở quy mô nhỏ sau đó phát triển ra diện rộng Các cấp lãnh đạo của nhà nƣớc và cán bộ quản lý các dự án tham gia công cuộc Chính phủ điện tử cần tập trung xác định rõ về các nhu cầu của những ngƣời sử dụng dịch vụ cuối cùng. Cần khởi đầu với các dự án Chính phủ điện tử với quy mô nhỏ, với điều kiện là các dự án nhỏ này sẽ có giá trị thực sự và có khả năng phát triển nhân rộng nhanh. 1.3. Những lợi ích hữu hình đạt được từ việc triển khai các dịch vụ có hiệu quả Những nƣớc đi tiên phong về Chính phủ điện tử đã quan tâm đến việc cung cấp những dịch vụ đƣợc cải thiện tốt đồng thời chú ý đến cung cấp các kênh phục vụ thay thế. Nhiều Chính phủ nhận thấy lợi ích của Chính phủ điện tử nằm ở cách thức mà nó giúp cho Chính phủ cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn và quá trình quản lý điều hành minh bạch hơn. Ví dụ, các chi phí phải trả cho mỗi giao dịch ở Canada nhƣ sau: chi phí giao dịch trực tiếp là 44 đô la Ca- na- đa, qua thƣ $ 38, và giao dịch qua điện thoại là $26. Còn đối với các giao dịch trên mạng thì chi phí chƣa đến 1 đô la cho mỗi một giao dịch. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  12. 10 1.4. Tăng cường sự tham gia của các chủ thể vào Chính phủ điện tử Thực tiễn đã chứng minh, cần tăng cƣờng hỗ trợ sự tham gia vào Chính phủ điện tử bằng cách sử dụng các cơ chế và phƣơng thức sáng tạo khác nhau. - Vương quốc Anh: Chính phủ Anh sử dụng các trung gian trong để hỗ trợ thực thi Chính phủ điện tử. Ví dụ: làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ điện tử để khuyến khích sử dụng các dịch vụ Chính phủ điện tử. - Nam Phi: Chính phủ sử dụng hệ thống bƣu điện, ngân hàng, các tổ chức cộng đồng và khối tƣ nhân khác ngay từ khi nghiên cứu khả thi việc áp dụng Chính phủ điện tử - Singapore và Canada: Các nƣớc này sử dụng các phƣơng tiện marketing truyền thống nhƣ tivi, radio và các chiến dịch quảng cáo. 1.5. Định hướng, tăng cường sự hợp tác giữa các cơ quan ban ngành khi triển khai Chính phủ điện tử Các yếu tố chủ yếu dẫn đến thành công là các Bộ, Ngành phải đóng vai trò dẫn dắt theo định hƣớng đúng và tiến hành các thay đổi cần thiết khiến cho các cơ quan ban ngành hợp tác đƣợc với nhau. Theo gƣơng những quốc gia đi đầu về Chính phủ điện tử nhƣ Úc và Singapore, các quốc gia kế tiếp đang bắt đầu triển khai cung cấp các dịch vụ trực tuyến cho các công dân và doanh nghiệp. Đối với các nƣớc đang phát triển, đã có một số thách thức từ quá trình ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin nhƣng điều cần phải chú trọng đó là sự hợp tác và liên kết giữa các cơ quan chức năng. 1.6. Triển khai các cổng thông tin Một số quốc gia đi đầu đang sử dụng một số sản phẩm cổng của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc cung cấp các dịch vụ điện tử trọn gói và lập kế hoạch tổng thể để hỗ trợ cho việc phát triển các ứng dụng cung cấp các dịch vụ điện tử đƣợc triển khai một cách nhanh chóng hơn. Xu hƣớng hiện nay trong những tổ chức lớn là tiến hành cá nhân hoá trong các cổng cho những ngƣời sử dụng hợp lệ các trang Web cá nhân, một số quốc gia nhƣ nhƣ Singapore và Pháp đang triển khai các thử nghiệm cho việc cá nhân hóa các trang Web cá nhân cho công dân và cung cấp các kênh truy cập khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  13. 11 2. NHỮNG ĐIỂN HÌNH TRONG TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Sau đây là những đặc trƣng cơ bản trong thực tiễn ứng dụng đƣợc đúc rút trong quá trình triển khai và thực thi Chính phủ điện tử ở các nƣớc: 2.1. Công khai các thông tin (cấp độ cung cấp thông tin) Chính phủ đối với công dân: - Thông tin về chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng. - Địa chỉ, thời gian làm việc viên chức - công chức, điện thoại liên lạc. - Luật và các văn bản dƣới luật. - Các thông báo, chú giải của Nhà nƣớc. - Các thông tin khác. Chính phủ đối với doanh nghiệp - Thông tin kinh doanh - Địa chỉ, thời gian làm việc, điện thoại liên lạc - Luật và các văn bản dƣới luật Chính phủ đối với công chức - Các thông tin cơ bản (Intranet tĩnh) - Kho lƣu trữ/Knowlwdge management(Mạng LAN) 2.2. Tương tác (cấp độ tương tác) Chính phủ đối với công dân - Tải các mẫu từ các website - Nộp hồ sơ, các loại đơn và giấy tờ khác - Hỗ trợ điền các thông tin vào biểu mẫu - Thƣ điện tử - Newsletters - Thảo luận theo nhóm lấy ý kiến về chính sách của Chính phủ - Điều tra trực tuyến - Web cá nhân - Các thông báo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  14. 12 Chính phủ đối với doanh nghiệp - Tải các mẫu từ cổng thông tin điện tử - Nộp hồ sơ, các loại đơn và giấy tờ khác - Hỗ trợ điền các thông tin vào biểu mẫu - Thƣ điện tử - Các thông báo Chính phủ đối với cơ quan nhà nƣớc/công chức - Thƣ điện tử - Các cơ sở dữ liệu tƣơng hỗ - Các công cụ giải quyết khiếu nại, tô cáo 2.3. Giao dịch trực tuyến (cấp độ giao dịch) Chính phủ đối với công dân - Cấp mới, cấp bổ sung giấy phép - Xét cấp đăng ký xe - Nộp thuế cá nhân, nộp phạt, - Mua vé và trả các loại phí - Trả các hoá đơn dịch vụ tiện ích - Ứng cử và bầu cử trên mạng Chính phủ đối với doanh nghiệp - Cấp mới, cấp bổ sung giấy phép thông qua cổng thông tin điện tử - Nộp thuế - Cung cấp các thông tin cần thiết về doanh nghiệp Chính phủ đối với cơ quan nhà nƣớc/công chƣc - Các giao dịch liên bộ ngành - Hệ thống hỗ trợ công chức (ví dụ hệ thống thông tin về nhân sự) 3. VAI TRÕ CỦA QUẢN LÝ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Cần xác định một khuôn khổ Chính phủ điện tử để hỗ trợ cho việc triển khai Chính phủ điện tử. Điều này giúp tạo ra một môi trƣờng để thực thi một cách hiệu quả các dự án Chính phủ điện tử. Chính phủ có thể nâng cao năng lực quản lý Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  15. 13 và đảm bảo cho các chƣơng trình và dự án về chính phủ điện tử đƣợc thực thi. Ví dụ các nƣớc nhƣ Mỹ, Vƣơng quốc Anh, Singapore và Hồng Kông. Các thành tố then chốt của Chính phủ điện tử có thể bao gồm: 3.1. Quản lý chính sách - Các chính sách hỗ trợ Chính phủ điện tử (hỗ trợ về mặt quản lý và thủ tục hành chính trong việc ứng dụng công nghệ thông tin) - Cơ cấu tổ chức (sắp xếp việc sử dụng công nghệ thông tin với các chiến lƣợc và mục tiêu của Chính phủ) - Các vai trò và các trách nhiệm (các vai trò và trách nhiệm đã điều chỉnh và mới của các cơ quan chức năng nhằm hỗ trợ các cải cách và bƣớc tiến của Chính phủ điện tử) - Nhân lực (bố trí lại và đào tạo lại nguồn nhân lực) - Hoạch định ngân sách 3.2. Quản lý mua sắm - Giảm công việc chồng chéo và giảm chi phí - Làm rõ các điều kiện và cơ chế thực hiện - Xúc tiến ứng dụng công nghệ thông tin 3.3. Kiến trúc và quản lý Công nghệ thông tin - Xác định Kiến trúc công nghệ diện rộng, tạo khuôn khổ chung cho việc triển khai ICT và quản lý chính sách ICT - So sánh, đối chiếu và học tập các từ thông lệ quốc tế tốt về chính phủ điện tử. 3.4. Cải cách hành chính - Cải tiến các quy trình của Chính phủ - Xem xét lại và điều chỉnh các ứng dụng hiện có - Cải cách lại cách thức cung cấp các dịch vụ công với công nghệ ICT và các năng lực về chính phủ điện tử. 3.5. Cải cách luật pháp - Các luật về giao dịch điện tử và sắp xếp lại các luật hiện hành của chính phủ - Các luật tác động đến thƣơng mại điện tử - Luật về các loại tài nguyên trên mạng và khai thác các tài nguyên này Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  16. 14 - Các luật liên quan đến chính phủ điện tử và thƣơng mại điện tử (thẻ chứng minh điện tử, chứng thực điện tử, an ninh và an toàn mạng v. v. ) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  17. 15 4. THỰC TRẠNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 4.1. Tình hình xây dựng Chính phủ điện tử của Việt Nam 4.1.1. Tiến bộ về phát triển công nghệ thông tin truyền thông tại các cơ quan bộ ngành của Chính phủ Do thiếu các chuẩn chung về ICT và cấu trúc thông tin, nhiều ứng dụng trong mạng LAN mà các Bộ, các tỉnh, thành phố không thể trao đổi đƣợc với nhau. Phần lớn các Bộ có mạng LAN riêng không kết nối trực tiếp với CPNet. Cấu trúc 2 tầng Client-Server của các ứng dụng hiện nay không tƣơng xứng và một trở ngại khác là việc sử dụng bảng mã tiếng Việt 8 bIT (TCVN 5712:1993) trong các ứng dụng của hệ thống công nghệ thông tin truyền thông cũ. Rất nhiều Bộ ngành, tỉnh, thành phố phát triển các ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin nội bộ bằng ngân sách của mình. 4.1.2. Các cổng thông tin và trang web Chính phủ Hiện nay, đã có một số cổng thông tin Chính phủ ở Việt nam bao gồm cổng thông tin của T. p Hà Nội, tỉnh Lào Cai, T. p Hồ Chí Minh, tỉnh Quảng Ninh Rất nhiều các Bộ, Ngành, Tỉnh, Thành phố đã xây dựng các trang Web. Phần lớn các trang web này không phải là cổng thông tin, chúng đƣợc tổ chức và quản lý một cách tập trung trong cơ cấu hành chính. Do các trang web đƣợc các cơ quan này tự xây dựng nội dung nên chúng đã không tích hợp một cách đồng bộ với quy trình làm việc của các cơ quan Nhà nƣớc khác. Một số trang web sau khi xây dựng đã không đƣợc cập nhật thông tin thƣờng xuyên hoặc thông tin quá nghèo nàn, cũng không ít trang web đã trở thành "web chết". Gần đây, Chính phủ đã khai trƣơng cổng thông tin điện tử Chính phủ (www.chinhphu.vn) cổng thông tin này đã cung cấp rất nhiều các thông tin bổ ích cho ngƣời dân. 4.1.3. Cơ sở hạ tầng tại các khu vực nông thôn Một trong những thách thức lớn nhất đối với Chính phủ điện tử là việc phát triển hạ tầng thông tin truyền thông, đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Các cơ hội Chính phủ điện tử chủ yếu thuộc về các thị xã và một số huyện đƣợc kết nối mạng. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD) và các nhà tài trợ nhƣ Chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) trợ giúp chƣơng trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  18. 16 xoá đói giảm nghèo đối với các xã tại khu vực nông thôn. Trọng tâm là cung cấp các dịch vụ và thông tin cho các làng xã, huyện thị điểm thuộc khu vực nông thôn. Tiếp cận đƣợc với các thông tin phù hợp sẽ tạo ra các cơ hội chuyển đổi kinh tế và cải thiện đời sống cho các hộ nông thôn. Điều này sẽ giúp cải tiến kỹ thuật canh tác, đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, giảm thiểu lãng phí, tăng tính hiệu quả của lƣu thông, tăng cƣờng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính và cải thiện các dịch vụ về giáo dục, y tế. Chính phủ điện tử với việc sử dụng ICT làm đòn bẩy giúp tiếp cận đƣợc các dịch vụ và thông tin cần thiết. Trong giai đoạn đầu, tiếp cận với Internet và tiến bộ công nghệ là nền tảng cơ bản để phổ biến Chính phủ điện tử tới các vùng nông thôn. 4.1.4. Các hoạt động do Bộ thông tin và truyền thông tiến hành Bộ thông tin và truyền thông đã đƣợc thủ tƣớng chính phủ trực tiếp giao nhiệm vụ và nhấn mạnh vai trò chủ chốt của Bộ này trong việc triển khai Chính phủ điện tử. Ngân hàng thế giới đã hỗ trợ tài chính nhằm xây dựng kế hoạch tổng thể về phát triển công nghệ thông tin truyền thông của Việt Nam. Mục tiêu của kế hoạch tổng thể này là sự sẵn sàng và quyền truy cập tốt hơn đối với các thông tin về chính sách, quy trình và các dịch vụ của nhà nƣớc. Dự án này sẽ tăng cƣờng tính hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nƣớc góp phần cung cấp các dịch vụ công tôt hơn. Dự án bao gồm 5 cấu phần trên ba lĩnh vực (a) Hiện đại hoá công nghệ với vai trò dẫn dắt của bộ thông tin và truyền thông về ICT; (b) Hiện đại hoá Tổng cục Thống kê; (c) xây dựng các phần mềm ứng dụng cho các thành phố lớn. 4.1.5. Tóm tắt Mƣời năm cho những nỗ lực ban đầu triển khai Chính phủ điện tử Việt Nam nhƣng vẫn còn rất nhiều khó khăn và thách thức phía trƣớc. Thành quả ban đầu cho thấy những dấu hiệu tích cực nhƣng để tiến xa hơn nữa trong lộ trình xây dựng Chính phủ điện tử, chính phủ, các bộ ngành địa phƣơng, doanh nghiệp và ngƣời dân vẫn cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa. Dƣới đây là các vấn đề cơ bản cần xem xét: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  19. 17 - Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ - Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của các lãnh đạo - Khả năng đóng góp của khối doanh nghiệp - Môi trƣờng chính sách và thể chế - Môi trƣờng văn hoá và xã hội - Hỗ trợ các dịch vụ điện tử 4.2. Những thách thức và những vấn đề đặt ra đối với Chính phủ điện tử tại Việt Nam 4.2.1. Sự lãnh đạo và phối hợp trong thực thi Chính phủ điện tử Cần có một quan điểm chính trị mạnh mẽ cùng với sự lãnh đạo vững vàng để tạo ra một bộ máy chính quyền nhằm hỗ trợ các cơ quan chức năng và tạo nguồn lực và nguồn tài chính cho việc thực thi Chính phủ điện tử. Vì vậy, cần có sự phối hợp đồng bộ để các dự án về Chính phủ điện tử có khả năng thành công. Việc triển khai Chính phủ điện tử ở nƣớc ta sẽ gặp phải những khó khăn lớn. Đó là, các lãnh đạo của nƣớc ta chƣa có kinh nghiệm về việc triển khai Chính phủ điện tử và GDP của nƣớc ta còn tƣơng đối thấp. Vì vậy, việc triển khai Chính phủ điện tử phải đƣợc thực hiện trên các quy mô nhỏ, phù hợp với từng địa phƣơng, sau đó rút kinh nghiệm và nhân rộng ra mô hình lớn hơn để có thể đem lại hiệu quả, tránh lãng phí tiền của và công sức. Chúng ta cần tránh việc chống chéo trong quản lý, thẩm định đầu tƣ CNTT. Hiện số lƣợng đơn vị triển khai lớn nhƣng lặp nhiều. Những thách thức là không hề nhỏ. Theo một điều tra mới nhất (công bố tháng 3/2009) của Tổng cục Thống kê, cả nƣớc hiện mới chỉ có 17,2% số lao động biết sử dụng máy tính, chủ yếu là các ngành nghề có liên quan chẳng hạn nhƣ ngành thông tin truyền thông, tài chính ứng dụng Các chuyên gia khẳng định tỉ lệ 17,2% là con số cực kỳ khiêm tốn cho thấy trình độ ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam vẫn còn khá thấp, và điều này sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới việc triển khai Chính phủ điện tử hiện nay và sau này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  20. 18 4.2.2. Song song tiến hành phát triển Chính phủ điện tử và cải cách thủ tục hành chính Việc xây dựng chính phủ điện tử là một phần trong chiến lƣợc cải cách thủ tục hành chính, hƣớng tới nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ và chính quyền các cấp, giúp cho ngƣời dân và doanh nghiệp làm việc với các cơ quan, Chính phủ nhanh chóng thuận tiện, tiết kiệm và hiệu quả hơn. Chính phủ điện tử cũng hỗ trợ cho công cuộc hiện đại hoá công tác hành chính Nhà nƣớc. Rõ ràng là có những sự phụ thuộc lẫn nhau giữa việc phát triển Chính phủ điện tử và cải cách hành chính công. Tuy nhiên, cả hai quá trình này đều cần đƣợc đồng thời triển khai. Dƣới đây là những vấn đề cần xem xét: - Cải thiện các dịch vụ công thông qua cải cách hành chính một cửa và lấy công nghệ thông tin làm đòn bẩy nhằm tạo ra các kênh cung cấp dịch vụ thay thế. - Hiện đại hoá hành chính công và cung cấp hệ thống và hạ tầng công nghệ thông tin để tăng tính hiệu quả và năng suất. - Nâng cao hiểu biết và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc của các công chức nhà - Hỗ trợ các cấp cơ sở bằng cách tạo điều kiện để cung cấp ngày càng nhiều hơn các thông tin và dịch vụ công tới các địa phƣơng (thông qua các cổng trông tin điện tử và các trang web) - Làm cho ngƣời dân và cộng đồng doanh nghiệp hiểu rằng các hoạt động của Chính phủ nhằm vụ lợi ích của họ - Tái cơ cấu và đổi mới các thủ tục hành chính lỗi thời để có thể ứng dụng toàn diện công nghệ thông tin. Điều căn bản không phải là tự động hoá các quy trình kém hiệu quả mà cần phải tổ chức tốt hơn các quy trình nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao hơn. 4.2.3. Khuôn khổ pháp lý hỗ trợ Chính phủ điện tử Trong quá trình triển khai Chính phủ điện tử phải tuân thủ hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy nhiên có hai luật cần quan tâm nhiều đó là Luật công nghệ thông tin và Luật giao dịch điện tử, cụ thể: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  21. 19 a) Luật giao dịch điện tử: qui định về giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc; trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thƣơng mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định. b) Luật công nghệ thông tin là cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Nhà nƣớc cũng nhƣ khu vực tƣ nhân. Luật Công nghệ thông tin quy định về hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. 4.2.4. Xây dựng các năng lực về Chính phủ điện tử Ở bất cứ một quốc gia nào, khi thực thi Chính phủ điện tử cũng cần xây dựng một bộ máy làm việc có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin. Trƣớc hết là các nhà lãnh đạo cần hiểu rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của Chính phủ điện tử, từ đó mới có thể hoạch định đƣợc chiến lƣợc phát triển một cách hiệu quả. Các cán bộ công chức cũng cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về Chính phủ điện tử và thành thạo việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc hàng ngày của mình. Để triển khai có hiệu quả Chính phủ điện tử, trƣớc hết cần phải tạo dựng và phát triển các năng lực, khả năng về Chính phủ điện tử cho các cấp mà bắt đầu từ nhà lãnh đạo cấp cao – là những ngƣời cầm lái chủ chốt của công cuộc đổi mới. Tiếp sau là các nhà lãnh đạo cấp dƣới - đội ngũ những ngƣời thực thi quan trọng để điều hành các nhân viên thuộc quyền. Sau cùng sẽ là việc đào tạo bồi dƣỡng các kỹ năng cần thiết cho nhân viên để họ làm tốt các công việc đƣợc giao. Thực tế cần có các chƣơng trình điều phối nhằm phát triển các năng lực và khả năng của những ngƣời hoạch định chiến lƣợc và hỗ trợ tƣ vấn cho các công chức đã qua học các khoá đào tạo khác nhau. Hiện tại, việc điều phối này còn để ngỏ cho các cấp các ngành tự xây dựng các năng lực dựa trên các yêu cầu của riêng họ. Để hƣớng tới Chính phủ điện tử, một lộ trình về đào tạo sẽ rất có ích trong việc định hƣớng cho các bộ ngành chức năng và các tỉnh thành địa phƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  22. 20 4.2.5. Công tác truyền thông nhằm thay đổi tư duy và nhận thức của các cấp lãnh đạo, các công chức viên chức nhà nước Trong thực tế, khi cần thay đổi bất cứ một thói quen gì cũng cần bắt đầu từ việc tƣ duy và nhận thức về vấn đề mới, cần phải xem xét kỹ giữa cái đƣợc và cái chƣa đƣợc để đƣa ra quyết định. Triền khai Chính phủ điện tử là thay đổi thói quen làm việc cũ của cả của cả một hệ thống lớn, nên việc tuyên truyền để tất cả mọi ngƣời từ lãnh đạo đến nhân viên, từ cán bộ làm việc lâu năm đến cán bộ trẻ hiểu rõ vai trò của Chính phủ điện tử là một vấn đề lớn và cần có thời gian. Hai vấn đề then chốt của sự thay đổi này là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các tác nghiệp và thay đổi các phƣơng thức quản lý truyền thống. Cần phải có sự thay đổi trong phƣơng thức quản lý chuyển từ phƣơng pháp truyền thống sang hƣớng thông qua các thiết bị điện tử. Tóm lại, để triển khai thành công Chính phủ điện tử cần làm tốt công tác tuyên truyền tới tất cả các tầng lớp từ lãnh đạo đến nhân dân và để làm tốt đƣợc việc này nên triển khai từ qui mô nhỏ sau đó phát triển ra diện rộng và đặc biệt quan tâm tới nhấn mạnh quyền lợi của ngƣời dân và doanh nghiệp. 4.2.6. Vấn đề cung cấp các thông tin đại chúng và các dịch vụ công Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số cổng thông tin điện tử và trang thông tin điện tử cung cấp các dịch vụ công nhƣ cổng thông tin của Bộ NN&PTNT, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, tỉnh Lào Cai, Thách thức đặt ra là trƣớc hết phải đƣa các biểu mẫu văn bản lên mạng để ngƣời sử dụng có thể dễ dàng tải xuống để thực hiện một số các dịch vụ phổ biến trong mô hình chế độ một cửa và sau đó ngƣời sử dụng có thể tƣơng tác với các cơ quan chức năng thông qua các cổng thông tin điện tử này. Các trang Web, cổng thông tin điện tử phải dễ dàng sử dụng, tra cứu các thông tin thiết thực dành cho công dân và dành cho doanh nghiệp. Sau đây là những vấn đề cần cân nhắc khi lập kế hoạch cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến: - Mô hình cung cấp dịch vụ có thể triển khai áp dụng đều khắp tại các tỉnh, thành trên cả nƣớc - Khuôn khổ cho công tác thông tin truyền thông - Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  23. 21 Chƣơng 2. ĐỀ XUẤT LỘ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM Lộ trình xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam đã đi qua đƣợc những chặng đƣờng nhất định. Khởi đầu là quá trình tin học hóa theo Nghị định 43/CP của Chính phủ với những bƣớc sơ khai là trang bị máy tính và nối mạng, đào tạo cán bộ và công chức sử dụng máy tính. Rồi đến Đề án 112, Nghị định 64/CP với nhiệm vụ tin học hóa quản lí hành chính, xây dựng nền tảng CPĐT và cung cấp dịch vụ hành chính công. Tuy nhiên, kết quả mà chúng ta nhìn thấy vẫn còn rất khiêm tốn. Chƣơng này sẽ trình bày một đề xuất nhỏ về xây dựng lộ trình Chính phủ điện tử tại Việt Nam. 1. ỨNG DỤNG CNTT VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Thực tế tại các nƣớc trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy, ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính công đƣợc coi là việc làm mở màn cho lộ trình xây dựng Chính phủ điện tử và hai vấn đề này phải đƣợc thực hiện song song. 1.1.Ứng dụng công nghệ thông tin Để đƣa việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các cơ quan, doanh nghiệp phải bắt đầu từ việc tuyên truyền làm thay đổi tƣ duy của lãnh đạo và công chức nhà nƣớc; đầu tƣ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin; đào tạo bồi dƣỡng kiến thức, kỹ năng làm việc với các thiết bị CNTT cho cán bộ, công chức. Đây là giai đoạn quan trọng có tính chất quyết định vì để thay đổi đƣợc tƣ duy và hiểu đƣợc tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT của lãnh đạo và cán bộ công chức là không hề dễ, bên cạnh đó là kinh phí đầu tƣ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT và đào tạo đƣợc đội ngũ cán bộ tiếp cận, sử dụng các kỹ thuật mới này. Trong nhiều năm trở lại đây, cơ sở hạ tầng thông tin - truyền thông Việt Nam đƣợc đánh giá có tiến bộ hơn trƣớc. Mật độ ngƣời dân sử dụng điện thoại đạt 88,7 %, internet 24,2%, băng rộng đạt 2,33 % với 1.994.815 thuê bao. Chính quyền cấp tỉnh trên 60% có mạng nội bộ (mạng LAN), trên 90 % có kết nối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  24. 22 Internet, trong đó 80% là kết nối băng rộng Điều này cho thấy Việt Nam đã có những kết quả ban đầu để tiếp tục công cuộc xây dựng Chính phủ điện tử. Để khai thác đƣợc những tiềm năng to lớn của việc ứng dụng công nghệ thông tin đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải đƣợc trang bị những kiến thức về lĩnh vực này và phải thƣờng xuyên bồi dƣỡng kỹ năng để sử dụng những công nghệ mới và liên tục đƣợc thay đổi này. 1.2. Cải cách thủ tục hành chính công Để ứng dụng Công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử hiệu quả thì phải tối ƣu hóa đƣợc thủ tục hành chính. Việc ứng dụng CNTT và cải cách hành chính cần phải đƣợc tiến hành song song, vì cải cách hành chính là một quá trình lâu dài, không thể đợi cải cách hành chính xong rồi mới tin học hóa. Khi ứng dụng CNTT tại cơ quan Nhà nƣớc chƣa cao, thì chƣa thể cung cấp dịch vụ công hiện đại cho ngƣời dân đƣợc. Đơn giản hóa thủ tục hành chính là một nhiệm vụ trọng tâm Chính phủ đặt ra, với mục tiêu là loại bỏ bớt các thủ tục hành chính rƣờm rà với ngƣời dân. Thống kê sơ bộ, hiện, chúng ta có khoảng 6.000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lí của Bộ, cơ quan ngang Bộ đƣợc thực hiện tại 4 cấp chính quyền (Bộ, tỉnh, huyện, xã), có 63 phiên bản thủ tục hành chính đƣợc thực hiện tại 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ƣơng với trên 400.000 biểu mẫu thủ tực hành chính; có khoảng 20.000 văn bản pháp luật quy định thủ tực hành chính, mẫu đơn, tờ khai Với con số “khổng lồ” nhƣ thế, chúng ta cần phải rà soát, công khai, xây dựng đƣợc cơ sở dữ liệu chung, tiến tới cung cấp trực tuyến cho ngƣời dân. Vấn đề quan trọng ở đây là các cơ quan công quyền sẽ phải thay đổi thói quen làm việc dựa trên công văn, tài liệu giấy tờ chuyển sang phong cách làm việc dựa trên các văn bản điện tử và hệ thống thông tin trợ giúp. Quá trình số hóa thông tin phải đƣợc đẩy mạnh. Cải tiến quy trình thủ tục hành chính, chuẩn hóa nghiệp vụ, cung cấp thông tin trực tuyến cho cán bộ, ngƣời dân. 2. QUẢN LÝ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Để lộ trình triển khai Chính phủ điện tử tại Việt Nam đƣợc sớm đi tới đích và đạt hiệu quả cao, bên cạnh việc đầu tƣ về hạ tầng kỹ thuật và công nghệ, cải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  25. 23 cách thủ tục hành chính công cũng nhƣ đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ năng lực thực thi thì vấn đề quản lý trong quá trình triển khai là hết sức quan trọng, quản lý tốt giúp cho việc triển khai đƣợc đồng bộ hơn, tiết kiệm đƣợc các chi phí không cần thiết và đặc biệt là chống tham nhũng trong quá trình thực hiện. Nội dung chính của phần này đƣợc đề cập đến những vấn đề sau: - Những lĩnh vực trọng tâm của quản lý Chính phủ điện tử - Chỉ ra những thách thức trong quản lý Chính phủ điện tử - Tổng quan và phân tích những vấn đề trọng tâm - Đánh giá / Khuyến nghị 2.1. Mục tiêu và các lĩnh vực trọng tâm của quản lý Chính phủ điện tử Quản lý chính phủ điện tử luôn là một trong những thử thách lớn nhất trong việc triển khai Chính phủ điện tử ở nhiều quốc gia. Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, đây là một lĩnh vực cốt yếu để thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của những sáng kiến chính phủ điện tử. Việc quản lý chính phủ điện tử nhằm đạt đƣợc những mục tiêu sau: - Thiết lập sự lãnh đạo và tạo ra một ban thƣờng trực, đi đầu trong việc triển khai các dự án Chính phủ điện tử. - Xác định vai trò của bộ phận điều phối các dự án Chính phủ điện tử. - Xác định vai trò và trách nhiệm của các cơ quan chủ chốt và cơ quan hỗ trợ. - Xác định vai trò của quản lý chƣơng trình đối với các dự án Chính phủ điện tử. - Tăng cƣờng vai trò của tổ chức CNTT và truyền thông, bao gồm cả việc xác định chức năng của CIO trong các cơ quan nhà nƣớc. - Xác định và lý giải nhu cầu phải có quản lý ICT và các chuẩn về CNTT. 2.2. Những thách thức hiện tại của quản lý Chính phủ điện tử Xây dựng Chính phủ điện tử là quá trính lâu dài và có nhiều khó khăn, thách thức đối với hầu hết các quốc gia, đặc biệt đối với Việt Nam, một đất nƣớc đang phát triển thì những khó khăn thách thức càng lớn hơn. Dƣới đây là tóm tắt những thách thức trong quản lý Chính phủ điện tử mà luận văn này sẽ đề cập: 1) Cần phải có các nhà lãnh đạo quyết đoán để dẫn dắt các dự án Chính phủ điện tử. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  26. 24 2) Khó khăn trong việc cộng tác giữa các bộ ngành và các phòng ban chức năng. 3) Nhận thức đƣợc vai trò và sự đóng góp cho Chính phủ điện tử của các cơ quan nhà nƣớc. 4) Yêu cầu phải có một cơ cấu quản lý chính thức và cơ quan điều phối cho chính phủ điện tử. 5) Thiếu các cấu trúc tổ chức ICT mới và tổ chức hỗ trợ. Việc quản lý ICT của chính phủ điện tử còn nghèo nàn. 6) Thiếu những chính sách rõ ràng cho việc chia sẻ và trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan chính phủ. 7) Sự liên kết với những cải cách hành chính hiện tại còn hạn chế. 2.3. Vai trò của các cơ quan chủ chốt và cơ quan hỗ trợ cho Chính phủ điện tử Để khởi đầu Chính phủ điện tử, cần phải xem xét đến những yếu tố thể chế, luật pháp, điều hành, tài chính và nhân lực cũng nhƣ những giải pháp công nghệ. Cần xem xét kỹ lƣỡng những vấn đề này và hiểu rõ vai trò của các cơ quan nhà nƣớc trung ƣơng và các tỉnh, thành phố. (1). Vai trò của các Bộ, Ngành chủ chốt Những cơ quan sau đây có thể coi là những cơ quan chủ chốt, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các dự án Chính phủ điện tử: Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch & Đầu tƣ, Văn phòng Chính phủ, Bộ thông tin và truyền thông. (2). Đối với các Bộ ngành khác Tất cả các Bộ khác đều có trách nhiệm riêng theo lĩnh vực của mình. Họ đóng vai trò của các cơ quan hỗ trợ thực hiện Chính phủ điện tử (trừ khi họ đƣợc giao đảm nhiệm những vai trò chủ đạo trong khi thực hiện Chính phủ điện tử). Các Bộ này có những sở/phòng tƣơng ứng tại các ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố 2.4. Các ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân là cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc ở các địa phƣơng. Các sở ban ngành tại các tỉnh, thành phố phải báo cáo lên ủy ban nhân dân và các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  27. 25 bộ chủ quản kế hoạch triển khai và kết quả đạt đƣợc. Cấu trúc hành chính ở các tỉnh, thành phố thƣờng là: - Ủy ban nhân dân tỉnh/Thành phố - Ủy ban nhân dân Quận/Huyện - Ủy ban nhân dân Phƣờng/ Xã Cốt lõi của chính phủ điện tử có thể nhìn thấy đƣợc thông qua những dịch vụ điện tử tích hợp ở các thành phố hoặc tỉnh đã triển khai áp dụng hệ thống thông tin để cải thiện những dịch vụ công hiện có nhằm phục vụ ngƣời dân và các doanh nghiệp. 2.5. Những lĩnh vực trọng tâm của chính phủ điện tử ở các Bộ và UBND 2.5.1. Cung cấp các dịch vụ điện tử phục vụ người dân và doanh nghiệp (G-to-B / G-to-C) kết hợp với mô hình một cửa của công cuộc cải cách hành chính. - Các ủy ban nhân dân và sở, ban, ngành chuyên môn tại các tỉnh, thành phố cần phải hỗ trợ thực hiện tất cả các loại dịch vụ điện tử phục vụ cho mô hình một cửa trong cải cách hành chính công. - Các ủy ban nhân dân phải thể hiện vai trò lãnh đạo đối với các phòng ban chức năng. - Cơ hội thực hiện những dịch vụ điện tử phải dựa trên những cơ sở hạ tầng và cấu trúc có sẵn của những dịch vụ này. 2.5.2. Phát triển các cơ hội cung cấp dịch vụ Chính phủ – Cơ quan nhà nước (G- to-G) để hỗ trợ khả năng vận hành chính phủ điện tử Trách nhiệm của các Bộ là lập kế hoạch và quản lý các hệ thống ICT hỗ trợ cơ hội (G-to-G) trong các lĩnh vực của họ. Hiện có nhiều Bộ và cơ quan chính phủ đƣợc giao quyền và thực thi những trách nhiệm riêng biệt, có mức độ phát triển ở những giai đoạn khác nhau của tiến trình phát triển ICT. Tiến trình này đƣợc thực hiện từ nguồn ngân sách của Chính phủ và các tổ chức tài trợ phát triển. 2.5.3. Chia sẻ và trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước Chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin tại các cơ quan nhà nƣớc trung ƣơng, các tỉnh và thành phố là rất quan trọng khi nhu cầu chia sẻ thông tin của ngƣời dân và doanh nghiệp đặc biệt là các dịch vụ điện tử để tăng cƣờng hiệu quả quản lý của Chính phủ. Việc lập kế hoạch và phát triển kiến trúc thông tin và một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  28. 26 mô hình chia sẻ thông tin là rất cần thiết trong những giai đoạn đầu tiên của chính phủ điện tử. 2.5.4. Phát triển các năng lực và chuyên môn cho chính phủ điện tử Tất cả các cơ quan đều phải có kế hoạch phát triển những ứng dụng của chính phủ điện tử (cho dù đó là một phần của lộ trình Chính phủ điện tử quốc gia hoặc trong lĩnh vực riêng của họ). Cần phải có những chiến lƣợc riêng cho các cơ quan chính phủ và các tỉnh, thành phố. Một hoạt động cũng rất quan trọng là tuyên truyền công khai về chính phủ điện tử và kêu gọi các doanh nghiệp và ngƣời dân sử dụng các dịch vụ điện tử 2.5.5. Đánh giá / Khuyến nghị (1). Các cơ quan chủ chốt và các cơ quan hỗ trợ Chính phủ điện tử phải báo cáo thƣờng xuyên lên Ban chỉ đạo Quản lý Chính phủ điện tử. Các cơ quan chủ chốt thƣờng là cấp Bộ phải nắm vai trò chính trong việc hỗ trợ cho những thay đổi có thể nảy sinh khi tiến hành Chính phủ điện tử. Ban Quản lý cũng sẽ bao gồm đại diện của các Bộ khác và đại diện một số tỉnh thành. (2). Các Bộ chủ chốt có trách nhiệm sau: Những Bộ sau đây có vai trò chủ đạo trong việc hỗ trợ thực hiện Chính phủ điện tử ở Việt Nam, có vai trò chủ chốt trong việc đƣa ra những quyết định và khuyến nghị trong Ban quản lý : - Văn phòng chính phủ (cơ quan điều phối của Chính phủ) - Bộ Nội Vụ (quản lý nhân sự nhà nƣớc, các chính sách về nguồn nhân lực và cải cách hành chính công) - Bộ Tài Chính (tài chính và ngân sách) - Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (phát triển môi trƣờng doanh nghiệp) - Bộ Thông tin và truyền thông (cơ sở hạ tầng công nghệ và viễn thông) 2.6. Trách nhiệm của các Bộ trong Chính phủ 2.6.1. Thành lập các Uỷ ban về Chính phủ điện tử tại các Bộ, Ngành - Nhiệm vụ của Uỷ ban này là đƣa ra định hƣớng quản lý và giám sát tất cả dự án Chính phủ điện tử tại từng Bộ. Uỷ ban này không trực tiếp quản lý các ứng dụng ICT mà giám sát quá trình cải cách hành chính công, những thay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  29. 27 đổi về nguồn nhân lực, quản lý truyền thông - tuyên truyền, đặc biệt là những chính sách có ảnh hƣởng tới công dân. - Uỷ ban này sẽ do Bộ trƣởng hoặc ngƣời đứng đầu cơ quan ngang bộ lãnh đạo, đƣợc đề cử từ đại diện của các sở ban ngành, đặc biệt những ngƣời thuộc các lĩnh vực: hành chính, lập kế hoạch chiến lƣợc, tài chính và ngân sách, CNTT và viễn thông và các chuyên viên tin học. Những dự án chính phủ điện tử chỉ có thể thành công nếu có sự hợp tác chặt chẽ giữa các bộ phận cơ quan và những ngƣời có trách nhiệm. Nhu cầu thuê các chuyên gia CNTT nƣớc ngoài có kinh nghiệm để tƣ vấn cho các uỷ ban này cũng rất cần thiết. - Bộ phận ICT phải làm việc thƣờng xuyên với các phòng ban có liên quan và phối hợp giải quyết những vấn đề về vận hành và thực hiện chính sách. - Uỷ ban về Chính phủ điện tử cũng sẽ có những kế hoạch giám sát thƣờng xuyên để đánh giá sự tƣơng tác và mối liên hệ giữa những dự án chính phủ điện tử và cải cách hành chính công. 2.6.2. Quản lý danh mục các hệ thống ICT (G-to-G) - Lập kế hoạch và quản lý các hệ thống G-to-G ICT để hỗ trợ khả năng vận hành và quản lý (bao gồm cả những hệ thống đang phát triển hoặc đã thực hiện). - Kiểm soát những ứng dụng ICT trong các Bộ và cung cấp thƣờng xuyên những phiên bản mới nhất cho bộ phận điều phối. Bộ phận này do Ban quản lý chỉ định và thƣờng xuyên phải báo cáo tiến độ lên Ban Quản lý - Lập kế hoạch cho ngân sách và chi phí bao gồm cả phí bảo dƣỡng hàng năm (phí thuê chuyên gia, phần mềm, phần cứng và những nguồn lực khác). 2.6.3. Phát triển kế hoạch chiến lược ICT / Chính phủ điện tử - Chiến lƣợc ICT/ Kế hoạch chính phủ điện tử đƣợc xây dựng để đánh giá cơ hội thực hiện vận hành tại các Bộ và quyết định những vấn đề về ngân sách cho ICT. Một kế hoạch chiến lƣợc phát triển ICT là rất cần thiết, đặc biệt với các Bộ có cơ sở hạ tầng CNTT và viễn thông chƣa tốt. - Chính phủ điện tử đang là một chiến lƣợc quan trọng của Việt Nam vì thế việc lập kế hoạch, quản lý chi phí cho ICT và tính đƣợc tổng chi phí của chủ sở hữu là rất cần thiết. Chiến lƣợc này cũng bao gồm xây dựng một cơ sở hạ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  30. 28 tầng trung tâm dữ liệu, cơ sở hạ tầng email và hệ thống mạng, cơ sở hạ tầng máy tính và hệ thống bảo dƣỡng ICT tại các Bộ. 2.6.4. Xây dựng và quản lý dữ liệu - Các Bộ lập kế hoạch cho những dữ liệu hiện tại và tƣơng lai cần có. - Xây dựng những quy định nội bộ về vấn đề chia sẻ dữ liệu giữa các phòng ban trong Bộ hoặc giữa các Bộ và các cơ quan. Khi xây dựng những quy định này phải lƣu ý tới sự phù hợp với chính sách về chia sẻ thông tin của Chính phủ. - Tiến hành điều tra, nghiên cứu một kiến trúc thông tin / dữ liệu cho các Bộ và tập trung vào những nhu cầu chung về dữ liệu (thông tin cho doanh nghiệp, cho ngƣời dân). 2.6.5. Tạo lập chức năng của các lãnh đạo thông tin - Chức năng CIO có vai trò quan trọng đặc biệt trong Chính phủ điện tử. - Chức năng CIO cần đƣợc xây dựng trên giác độ công nghệ thông tin và giác độ quản trị kinh doanh. Tại nhiều nƣớc, vai trò của CIO là báo cáo trực tiếp với Bộ trƣởng hoặc hoặc lãnh đạo cấp cao trong Bộ. - Nhân sự cho bộ phận này có thể là các chuyên viên tin học hiện có hoặc chuyên viên quản lý kế hoạch chiến lƣợc. Họ sẽ đƣợc quản lý bằng một chƣơng trình CIO. 2.7. Các Uỷ ban Nhân dân có vai trò quan trọng trong việc thực hiện Chính phủ điện tử. Văn phòng Uỷ ban, đứng đầu là chủ tịch hoặc phó chủ tịch phải có trách nhiệm chỉ đạo việc thực hiện Chính phủ điện tử. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân nhƣ sau: 2.7.1. Lập các kế hoạch về Chính phủ điện tử và chiến lược phát triển về ICT Các kế hoạch phát triển về Chính phủ điện tử và các kế hoạch chiến lƣợc về ICT phải đƣợc xây dựng nhằm tạo điều kiện để tăng cƣờng năng lực hoạt động của Uỷ ban Nhân dân cũng nhƣ lập kế hoạch ngân sách, chi tiêu bao gồm cả chi phí bảo trì hàng năm (ví dụ nhƣ nguồn nhân lực, phần mềm, phần cứng và các nguồn lực khác). Điều quan trọng là không nên phân tán ngân sách dành cho ICT vì nếu làm nhƣ vậy, các Sở chức năng và Quận, Huyện sẽ tự động phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  31. 29 triển hệ thống và cơ sở hạ tầng ICT của họ, trừ khi đó là một phần của kế hoạch thiết kế chi tiết về mặt kỹ thuật bao gồm cả việc chia sẻ các dữ liệu. 2.7.2. Lập kế hoạch và cung cấp các dịch vụ thông tin qua mạng Cần phải nâng cấp và tăng cƣờng các trang Web đăng tải các thông tin về Nhà nƣớc của các tỉnh, thành phố hiện nay. Thông tin về các dịch vụ công và quy trình thực hiện cần đƣợc cung cấp một cách chính xác và có hệ thống. Các thông tin này phải dễ tìm kếm và tiện lợi cho các doanh nghiệp và công dân truy cập. Một quy trình về cấu trúc nội dung cần đƣợc cập nhật đồng bộ và thƣờng xuyên. Một vấn đề quan trọng khác là cần đƣa các biểu mẫu lên mạng để các đối tƣợng có thể tải xuống và sử dụng trƣớc khi trình cho cơ quan chức năng có liên quan. 2.7.3. Thiết lập cơ sở dữ liệu trong quản lý hành chính Nhà nước (đối với các tỉnh, thành phố phát triển) - Lập kế hoạch về nhu cầu dữ liệu hiện nay và trong tƣơng lai của các tỉnh/ thành phố. - Đặt ra quy định nội bộ về việc chia sẻ dữ liệu ở mỗi sở và các Bộ, ngành chức năng khác. Mỗi quy định nhƣ vậy cần phải phù hợp với chính sách chia sẻ dữ liệu sẽ đƣợc thực thi trong tƣơng lai. - Tiến hành một nghiên cứu để phát triển dữ liệu/ kết cấu thông tin và tập trung vào các nhu cầu về dữ liệu chung (ví dụ các thông tin về doanh nghiệp và công dân) 2.7.4. Tạo lập chức năng của các lãnh đạo thông tin (CIO) Lãnh đạo thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực thi Chính phủ điện tử. Chức năng của các lãnh đạo thông tin cần đƣợc các Uỷ ban Nhân dân nhìn nhận từ hai mặt: giác độ ICT và giác độ quản trị kinh doanh. Nguồn nhân lực cho các nhà lãnh đạo thông tin có thể là các lãnh đạo có kinh nghiệm về công nghệ thông tin hoặc các chuyên viên quản lý. 2.8. Vai trò của cơ quan điều phối về Chính phủ điện tử 2.8.1. Tổng quan và phân tích Do cơ chế quản lý theo ngành dọc từ trên xuống và bản chất về chức năng của Nhà nƣớc, các cơ quan chức năng thƣờng có xu hƣớng làm việc biệt lập. Một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  32. 30 thách thức lớn là có đƣợc các nguồn lực và sự ủng hộ cần thiết để triển khai Chính phủ điện tử và các dự án ICT. Nhằm đảm bảo một sự phối hợp nhịp nhàng thông qua một bộ máy quản lý đƣợc hỗ trợ bởi các nhà quản lý cao cấp, một cơ quan điều phối sẽ giúp tăng cƣờng sự phát triển của các dự án Chính phủ điện tử. Có thể phân quản lý Chính phủ điện tử làm ba cấp độ điều phối khác nhau tƣơng ứng với các cơ quan điều phối: - Cấp Trung ƣơng - Cấp bộ - Các thành phố chủ chốt và các tỉnh có tầm quan trọng chiến lƣợc 2.8.2. Đánh giá/ Khuyến nghị Chính quyền trung ƣơng và việc quản lý Chính phủ điện tử (1). Uỷ ban điều hành Chính phủ điện tử (ESC) sẽ đƣợc hỗ trợ bởi một cơ quan điều phối. Chính phủ điện tử không chỉ là công nghệ thông tin truyền thông (ICT). Cần đánh giá những tác động của Chính phủ điện tử tới công tác quản lý hành chính công và các chính sách có liên quan cũng nhƣ cách thức nhà nƣớc tƣơng tác với các chủ thể quản lý. Cơ quan điều phối sẽ thực hiện các chức năng cơ bản sau: - Phối hợp với các cơ quan đóng vai trò chủ chốt thực thi Chính phủ điện tử và các Bộ, ngành khác có liên quan của Chính phủ - Phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đóng vai trò chủ chốt trong việc thực thi Chính phủ điện tử - Thực hiện vai trò quản lý các chƣơng trình Chính phủ điện tử - Cộng tác với Bộ Nội vụ đảm bảo sự phù hợp với các dự án cải cách hành chính công và phối hợp cùng Bộ Tài Chính và Bộ Kế hoạch & Đầu tƣ. - Làm việc chặt chẽ với Bộ Thông tin và truyền thông là cơ quan chịu trách nhiệm về cơ sở hạ tầng công nghệ và truyền thông. (2). Những khuyến nghị đối với các cơ quan hỗ trợ cho Uỷ ban điều hành về Chính phủ điện tử (ESC) thông qua cơ quan điều phối: - Báo cáo và tiếp nhận chỉ đạo sát sao chặt chẽ từ Thủ tƣớng Chính phủ - Thực hiện chức năng tƣ vấn hơn là chức năng của một Bộ chủ quản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  33. 31 - Tránh để xảy ra xung đột với các chức năng, vai trò hiện có của các Bộ, ngành Các Bộ, ngành của Chính phủ Với các trách nhiệm sau đây, cơ quan điều phối của các Bộ, ngành có vai trò tích cực trong việc hỗ trợ cho Uỷ ban điều hành về Chính phủ điện tử - Thực hiện chức năng quản lý chƣơng trình cho các Bộ - Báo cáo Uỷ ban điều hành về Chính phủ điện tử về tiến triển của các dự án Chính phủ điện tử và các dự án về ICT có liên quan Uỷ ban Nhân dân một số tỉnh/ thành phố chủ chốt Cơ quan điều phối trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh/ thành phố sẽ hỗ trợ cho Uỷ ban quản lý điều hành về Chính phủ điện tử với các chức năng sau: - Thực hiện chức năng quản lý chƣơng trình của Uỷ ban Nhân dân - Báo cáo Uỷ ban điều hành về Chính phủ điện tử về kết quả thực hiện các dự án Chính phủ điện tử và các dự án về ICT có liên quan - Đóng vai trò điều phối trong việc lập kế hoạch và thực hiện các dịch vụ tích hợp về Chính phủ điện tử. - Vai trò chủ đạo của cơ quan điều phối là nhằm cung cấp các dịch vụ điện tử tích hợp. 2.9. Quản lý các chƣơng trình CPĐT tại các cơ quan nhà nƣớc cấp Trung ƣơng 2.9.1. Tổng quan và phân tích Tại các Bộ, ngành khác nhau của Việt Nam, trách nhiệm triển khai Chính phủ điện tử đƣợc giao cho các bộ phận có liên quan trong mỗi Bộ, ngành. Ở cấp chính quyền Trung ƣơng hiện chƣa có một cơ quan chuyên trách để phối hợp và quản lý các dự án về Chính phủ điện tử Mặc dù mỗi cơ quan chức năng đƣợc giao trách nhiệm cụ thể về Chính phủ điện tử, quan trọng là tất cả các dự án phải phù hợp với mục tiêu của mỗi bộ ngành và địa phƣơng. Các mục tiêu này phải phù hợp với các mục tiêu tổng thể của nhà nƣớc về Chính phủ điện tử. Việc quản lý báo cáo về Chính phủ điện tử cần phải đƣợc thực hiện một cách chính xác và phối hợp cao. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  34. 32 2.9.2. Đánh giá/ khuyến nghị (1). Các hoạt động chủ yếu của quản lý chƣơng trình là việc quản lý nguồn vốn, sự phối hợp và báo cáo. Các khía cạnh có liên quan phải đƣợc xem xét khi thực thi quản lý chƣơng trình về Chính phủ điện tử nhƣ sau: - Lập kế hoạch và quản lý thực thi Chính phủ điện tử - Cải cách thể chế hành chính của Chính phủ - Tài chính và Ngân sách - Nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông (2). Các chức năng quản lý chƣơng trình cụ thể là: - Điều hành và giám sát tất cả các dự án và chƣơng trình về Chính phủ điện tử ở cấp Trung ƣơng và các tỉnh, thành phố. - Phối hợp với các Bộ và cơ quan chức năng chủ chốt trong việc lập kế hoạch và đánh giá các cơ hội thực thi Chính phủ điện tử - Giám sát và nắm bắt đƣợc những vấn đề nảy sinh cũng nhƣ danh mục các nội dung do Uỷ ban điều hành về Chính phủ điện tử đề xuất - Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phƣơng trong việc truyền thông rộng rãi và nâng cao nhận thức về Chính phủ điện tử cho công dân và doanh nghiệp. - Phối hợp với các cơ quan chủ chốt trong việc phát triển chƣơng trình truyền thông về Chính phủ điện tử cho các cơ quan nhà nƣớc khác. 2.10. Tổ chức ICT cho các cơ quan chức năng của Chính phủ 2.10.1. Tổng quan và phân tích Vai trò của việc tổ chức công nghệ thông tin truyền thông (thiết lập bộ phận/ phòng chuyên trách về ICT) đã thay đổi trong vòng 15 năm trở lại đây. Từ chức năng hỗ trợ kỹ thuật thuần tuý, tổ chức công nghệ thông tin truyền thông đã trở thành một bộ phận chủ chốt ở hầu hết các cơ quan chức năng của Chính phủ ở các nƣớc phát triển trên thế giới. Tổ chức ICT ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc hỗ trợ các cơ quan Nhà nƣớc lập kế hoạch và tác nghiệp bằng việc sử dụng công nghệ thông tin truyền thông Một điều đã đƣợc nhận thấy rõ ở Việt Nam là việc quản lý ICT và các công chức Nhà nƣớc không thể duy trì các phƣơng thức quản lý hiện tại. Sở dĩ nhƣ vậy là do không có sự liên kết giữa việc quản lý công nghệ thông tin và các hoạt động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  35. 33 quản lý Nhà nƣớc khác. Ngoài nhiệm vụ quản lý dự án, hỗ trợ hệ thông công nghệ thông tin, cần xem xét các vai trò mới, khả năng tạo lập kế hoạch chiến lƣợc và quy định chức năng cho lãnh đạo thông tin (CIO). Các công chức và viên chức Nhà nƣớc cần phải không ngừng phát triển nội lực trong việc xử lý thông tin bằng các công cụ tự động hoá văn phòng nhƣ các bảng tính và phần mềm quản lý dữ liệu (Excel và Access) 2.10.2. Đánh giá/ Khuyến nghị Các cơ quan Nhà nƣớc đóng vai trò chủ chốt về Chính phủ điện tử, với sự chỉ đạo của Bộ Nội vụ, cần phải xác định các vai trò mới và sự hiện diện của tổ chức ICT. Cần phải tập hợp các chuyên gia quốc tế để hỗ trợ phát triển các vai trò mới và sự hiện diện của tổ chức ICT bao gồm Giám đốc ICT, các ứng dụng ICT, cơ sở hạ tầng, quản lý dự án, hỗ trợ, đào tạo, mua sắm, kế toán và kiểm toán. Một trong những thách thức cơ bản cần phải cân nhắc đảm bảo chế độ đãi ngộ và lợi ích xứng đáng để tạo nguồn lực cho ngành ICT Đề xuất về chức năng của CIO/ ICT trong tổ chức ICT Một cơ cấu quản lý mới và các chức năng cần đƣợc xem xét đối với các tổ chức ICT trong các cơ quan Nhà nƣớc. Dƣới đây là sơ đồ mô tả các chức năng: - Chức năng của CIO - Các dịch vụ khách hàng/ Dịch vụ kết nối - Các dịch vụ ứng dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  36. 34 Đề xuất cơ cấu tổ chức ICT áp dụng trong các cơ quan nhà nƣớc Phụ trách bộ Chức năng phận IT lãnh đạo CIO Thƣ ký Hỗ trợ hành chính/kiểm soát tồn kho Trƣởng bộ phận dịch vụ Trƣởng bộ phận nhóm khách hàng/nhóm các các dịch vụ ứng dụng dịch vụ trong hệ thống Dịch vụ Lĩnh vực cụ Quan hệ Các dịch vụ Hỗ trợ các Hỗ trợ các Quản lý dữ mạng và thể: GIS, nông khách hàng hỗ trợ ứng dụng hải ứng dụng liệu truyền thông quan nghiệp COTS Lắp đặt và Mua sắm Ứng dụng Ứng dụng bảo trì IT thứ nhất IT thứ nhất Bàn giao Hỗ trợ kỹ Ứng dụng Ứng dụng thuật Nhập dữ IT thứ hai IT thứ hai liệu Ứng dụng Ứng dụng IT thứ N IT thứ N Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức ICT áp dụng trong các cơ quan nhà nƣớc Cấu trúc trên cho phép tổ chức ICT hƣớng tới khách hàng và giải quyết các thách thức mới. Chức năng của CIO bao gồm các nhiệm vụ cơ bản do một nhóm các chuyên gia và nhân viên thực hiện: - Lập chiến lƣợc ICT - Triển khai các dự án ICT - Lập kế hoạch về Chính phủ điện tử - Liên kết hợp tác triển khai về ICT - Bảo mật công nghệ thông tin (COTS trong sơ đồ trên có nghĩa là Common Off the Shelf IT Applications). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  37. 35 Lập kế hoạch và ngân sách Việc lập kế hoạch và ngân sách cho tổ chức ICT nhằm hỗ trợ các hoạt động quản lý của Nhà nƣớc. Các cơ quan Nhà nƣớc cần xây dựng các kế hoạch tổng thể về IT nhằm tạo định hƣớng cho việc phát triển của Chính phủ điện tử. Đây là vấn đề thiết yếu đối với các Bộ, ngành chủ chốt của nhà nƣớc và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố Lộ trình cho việc đào tạo và phát triển Bản thân các tổ chức ICT phải xây dựng lộ trình cho việc phát triển và đào tạo để phục vụ cho việc tự chuyển đổi của mình, bao gồm các tác nghiệp và các kỹ năng ICT có liên quan. 2.11. Quản lý ICT trong Chính phủ điện tử 2.11.1. Tổng quan và phân tích Vấn đề quản lý ICT ở Việt Nam vẫn còn ở mức độ sơ khai. Khi yêu cầu sẵn sàng cho Chính phủ điện tử ở mức cao hơn, việc quản lý ICT phải đƣợc các cơ quan Nhà nƣớc dự liệu trƣớc và tiến hành chuyển đổi các tổ chức ICT của mình. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu thực tiễn quản lý nhất quán về ICT. Vấn đề quản lý ICT còn mới mẻ đối với hầu hết các bộ phận ICT đƣợc thành lập tại các cơ quan Nhà nƣớc. Các bộ phận này cần phải từng bƣớc hiểu rõ vai trò của họ và tăng cƣờng nội lực để tránh những sai lầm trong quá trình thực hiện. Hiện nay, bộ phận ICT trong các cơ quan Nhà nƣớc mặc dù đã nhận thức đƣợc sự cần thiết và tầm quan trọng của hoạch định chiến lƣợc nhƣng còn hạn chế về năng lực. Các lĩnh vực chƣa đƣợc phát triển bao gồm xây dựng cấu trúc thông tin và cấu trúc ICT cho hệ thống máy tính, hệ thống ICT và hạ tầng cơ sở ICT tại các cơ quan nhà nƣớc. 2.11.2. Đánh giá/ khuyến nghị Hoạch định chiến lược công nghệ thông tin Cơ sở cho việc hoạch định chiến lƣợc ICT là tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nƣớc nghiên cứu đạt mục tiêu đặt ra về Chính phủ điện tử thông qua ICT. Ngày nay việc tích hợp thông tin là một phần trong công tác hoạch định tác nghiệp của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  38. 36 các cơ quan nhà nƣớc ở các nƣớc phát triển. Mô hình dƣới đây minh họa khuôn khổ kế hoạch chiến lƣợc về ICT cũng nhƣ kế hoạch về Chính phủ điện tử: Định hƣớng Chính phủ điện tử Tầm nhìn, Nhiệm vụ, Chính sách và kỳ vọng từ phía khách hàng Các năng lực tác nghiệp/ cung cấp dịch vụ Các quy trình tác nghiệp/ dịch vụ Các quy trình then chốt/ Các quy trình chung Kiến trúc thông tin Kiến trúc thông tin và các hệ thống CNTT Hạ tầng ICT Hình 2.2. Khuôn khổ kế hoạch ICT (1). Kế hoạch chiến lƣợc về ICT thƣờng đƣợc hoạch định nhằm đạt đƣợc các cam kết dài hạn về ICT hỗ trợ cho các tác nghiệp và ngày càng đƣợc xem nhƣ một phần của lập kế hoạch xây dựng Chính phủ điện tử. Các kế hoạch này đƣợc hoạch định từ năng lực cung cấp dịch vụ và quy trình tác nghiệp tại các cơ quan nhà nƣớc. Kế hoạch ICT đƣợc sử dụng để lập đề xuất gửi các cơ quan có thẩm quyền cấp vốn cho các dự án khác nhau về Chính phủ điện tử. (2). Việc lập kế hoạch chiến lƣợc ICT có thể đƣợc tiến hành với các lý do sau: - Phân tích và thiết kế các quy trình tác nghiệp - Đáp ứng yêu cầu về tích hợp các hệ thống cũng nhƣ các ứng dụng - Xác định tính khả thi của các dự án đầu tƣ phát triển ICT - Thiết kế hoặc tái thiết kế cấu trúc ICT hiện có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  39. 37 (3). Cùng với cơ sở hạ tầng thông tin bao gồm kiến trúc thông tin và hạ tầng ICT, công tác lập kế hoạch chiến lƣợc về ICT sẽ góp phần ngăn ngừa việc tạo ra các hệ thống thông tin cục bộ, biệt lập. Hơn thế nữa, việc này cũng góp phần giúp cho việc chia sẻ dữ liệu và phát triển hạ tầng ICT phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Kiến trúc thông tin Kiến trúc thông tin rất quan trọng giúp xác định các yêu cầu cung cấp dữ liệu ở mức độ cao đối với bất kỳ một cơ quan Nhà nƣớc nào. Một kiến trúc thông tin giúp mô tả các yêu cầu chủ yếu về thông tin của một tổ chức. Đây là một sự mô tả tổng quan các dữ liệu về các ngân hàng dữ liệu, những sự kiện, hoạt động và các mối liên kết trong một tổ chức Kiến trúc thông tin là một trong ba yếu tố cơ bản trong hạ tầng cơ sở thông tin của một tổ chức bao gồm hệ thống CNTT và kiến trúc ICT. Thiết kế cấu trúc thông tin hiệu quả phải bao hàm các đặc tính sau : - Bao trùm toàn bộ tổ chức - Hỗ trợ các yếu tố tạo nên thành công - Giảm thiểu các dữ liệu không cần thiết - Định nghĩa các dữ liệu một cách thống nhất Khuôn khổ kỹ thuật trong quản lý ICT Điều quan trọng là phải tạo lập một kiến trúc dành cho hệ thống ICT và cấu trúc ICT. Đây là một phần của khuôn khổ kỹ thuật trong quản lý ICT. Các nguyên tắc chủ đạo của khuôn khổ kỹ thuật bao gồm: - Khuôn khổ kỹ thuật trong quản lý ICT phải có ít nhất 3 tầng (3 tiers) - Thiết kế, phát triển và thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn ngành mở đã đƣợc thừa nhận. - Dựa trên mô hình tƣơng tác Client/Server - Đủ linh hoạt để đáp ứng đƣợc các yêu cầu của các công nghệ mới - Hỗ trợ các cơ hội cung cấp dịch vụ công - Tóm lƣợc kế thừa các dữ liệu/ ứng dụng mà không cần thay đổi mã nguồn. - Các dịch vụ công phải đƣợc kết nối với nhau và có khả năng truy cập. - Tạo ra các kênh cung cấp dịch vụ mới đa dạng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  40. 38 - Giảm thiểu chi phí, thời gian và sự phức tạp - Có khả năng nhân rộng, đƣợc trang bị sẵn sàng cho ứng dụng chữ ký số và đối phó với tình trạng lƣu lƣợng sử dụng thay đổi mà khó dự liệu trƣớc. - Dựa vào công nghệ có tính an toàn đã đƣợc sử dụng và kiểm chứng. 3 .MÔ HÌNH TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Phần này đề cập đến những mô hình triển khai khác nhau của Chính phủ điện tử. Bốn mô hình cung cấp các cơ hội khác nhau đối với các dịch vụ Chính phủ điện tử là G-to-B, G-to-C, G-to-G và G-to-E có tính đến sự cải thiện hạ tầng trong tƣơng lai và các cơ hội sau: - Mô hình các dịch vụ điện tử tích hợp cho công dân và doanh nghiệp - Phát triển các ứng dụng dùng chung cho điều hành và hợp tác của các cơ quan nhà nƣớc - Nghiên cứu về bộ tích hợp dữ liệu và mô hình chia sẻ bộ tích hợp dữ liệu - Các dự án thí điểm về hỗ trợ công chức thực hiện nhiệm vụ 3.1. Mục tiêu Mô hình triển khai Chính phủ điện tử có mục tiêu nhận dạng các cơ hội đối với các mô hình khác nhau của Chính phủ điện tử. Các cơ hội này đƣợc đúc rút ra từ các kinh nghiệm điển hình quốc tế cũng nhƣ quá trình triển khai Chính phủ điện tử tại các nƣớc Singapore, Hàn Quốc và Ấn độ: - Đánh giá các cơ hội cho việc tích hợp các dịch vụ điện tử - Tăng cƣờng triển khai các ứng dụng chung thông qua chiến lƣợc khởi đầu quy mô nhỏ, nhân rộng các điển hình đối với các cơ quan đã sẵn sàng cho Chính phủ điện tử - Đánh giá các cơ hội chia sẻ dữ liệu và dựa vào những nghiên cứu về kiến trúc thông tin Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  41. 39 Hình sau đây minh họa một tổng quan về các khía cạnh khác nhau của các mô hình Chính phủ điện tử áp dụng cho Việt Nam: Mô hình các dịch vụ điện tử tích hợp Mô hình Trung tâm tích hợp, chia sẻ và trao đổi dữ liệu Mô hình các ứng dụng dùng chung Mô hình hỗ trợ công chức Nhà nƣớc Mô hình phổ cập CNTT và Internet cho khu vực nông thôn Hình 2.3. Mô hình triển khai Chính phủ điện tử 3.2. Mô hình các dịch vụ điện tử tích hợp cho công dân và doanh nghiệp 3.2.1. Tổng quan và phân tích Có nhiều xu hƣớng vận động đa dạng về Chính phủ điện tử tác động tới các dịch vụ của nhà nƣớc. Đó là tác động của toàn cầu hóa và nhu cầu thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài để hỗ trợ môi trƣờng kinh doanh của quốc gia tiếp nhận đầu tƣ. Một trong những sáng kiến then chốt mà Việt Nam đã triển khai là mô hình một cửa đối với các dịch vụ của Chính phủ. Vấn đề trọng tâm ngày nay đã chuyển sang các kênh cung cấp thay thế Việc cung cấp các dịch vụ điện tử tích hợp có những thử thách điển hình. Nhìn chung, mỗi cơ quan nhà nƣớc đều có những ƣu tiên và đang ở những bƣớc phát triển ICT khác nhau. Một số cơ quan chƣa phát triển đƣợc hệ thống ICT do vậy có nhiều khó khăn để hỗ trợ cung cấp các dịch vụ điện tử trọn gói. Thử thách trong tích hợp các hệ thống và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nƣớc là: - Hệ thống pháp luật chƣa phù hợp - Yêu cầu phát triển các chuẩn cơ sở dữ liệu đối với kiến trúc thông tin và dữ liệu - Những hệ thống biệt lập ở các cơ quan nhà nƣớc khác nhau Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  42. 40 - Cơ sở hạ tầng khác nhau - Các hệ thống hiện sử dụng có thể không phù hợp với các chuẩn công nghệ Sơ đồ sau đây minh họa những thử thách lớn đối với việc cung cấp các dịch vụ điện tử tích hợp. Thử thách đối với việc cung cấp các dịch vụ điện tử tích hợp Cơ quan Cơ quan Cơ quan Cơ quan A1 A2 A3 A4 1. Chia sẻ và trao đổi dữ liệu 2. Tích hợp giữa các hệ thống khác nhau Các kênh cung cấp dịch vụ (vd Internet) Các dịch vụ công dân/ doanh nghiệp (A1) Giấy (A2) Giấy (A3) Giấy (A4) Giấy phép A phép B phép C phép D Hình 2.4. Một số thử thách khi cung cấp dịch vụ điện tử tích hợp 3.2.2. Đánh giá/Khuyến nghị Các nhu cầu chung cho mô hình tích hợp các dịch vụ điện tử bao gồm: - Cần thiết phải có một cơ quan điều phối cung cấp các dịch vụ điện tử tích hợp cho các công dân và doanh nghiệp - Cơ quan điều phối cũng cần giải quyết các yêu cầu về dữ liệu chung cũng nhƣ những yêu cầu cụ thể từ các cơ quan chức năng cung cấp dịch vụ - Cần phải tạo sự linh hoạt cho mỗi cơ quan nhà nƣớc khi tham gia cung cấp các dịch vụ điện tử Vai trò của cơ quan điều phối Cơ quan điều phối là trung gian giữa cơ quan chức năng và các chủ thể công dân, doanh nghiệp. Cơ quan này có thể điều phối những nhu cầu từ các cơ quan chức năng nhà nƣớc thông qua một hạ tầng tập trung đƣợc thiết kế nhằm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  43. 41 cung cấp các dịch vụ điện tử. Cơ quan này cũng có vai trò đại diện cho các cơ quan chức năng khi tƣơng tác với các chủ thể khác. Sơ đồ dƣới đây minh họa những lợi ích của công dân, doanh nghiệp khi giao dịch với một cơ quan đại diện Nhà nƣớc duy nhất. Cơ quan Cơ quan Cơ quan Cơ quan A1 A2 A3 A4 Một nơi duy nhất phục vụ công dân/ doanh nghiệp Cơ quan điều phối Cơ quan Nhà nƣớc một cửa duy nhất Doanh nghiệp Công dân Hình 2.5. Vai trò của cơ quan điều phối Chu trình tác nghiệp và quyền sở hữu Đối với các cơ quan chức năng hiện chƣa trang bị các hệ thống phục vụ cung cấp các dịch vụ điện tử, một hệ thống có tính chu trình (workflow) sẽ đƣợc thiết lập để rà soát những đơn yêu cầu nộp trực tuyến. Đây là hình thức sử dụng hệ thống trang web để tiếp nhận các đơn yêu cầu nộp qua mạng. Chu trình tác nghiệp này sẽ không ảnh hƣởng đến cơ chế xử lý công việc của cơ quan chức năng bởi vì đơn yêu cầu đƣợc thụ lý dƣới dạng điện tử thay vì đƣợc nộp bằng giấy. Nhƣ vậy cơ quan chức năng sẽ tiếp tục xử lý đơn với quy trình tác nghiệp và dữ liệu của mình. Thực hiện chu trình nhƣ vậy sẽ mang lại các tiện ích và khuyến khích các cơ quan nhà nƣớc áp dụng mô hình triển khai các dịch vụ điện tử tích hợp mà không bị phụ thuộc vào việc tái cơ cấu các quy trình làm việc hay xây dựng mới một cách vội vã các hệ thống ICT. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  44. 42 3.3. Phát triển các ứng dụng chung cho sự liên kết và điều phối của chính phủ (G-to-G) 3.3.1. Tổng quan và phân tích. Đề án 112 điều hành bởi SAMCOM đã triển khai 3 phầm mềm dùng chung rộng khắp tại các tỉnh, thành phố trên cả nƣớc gồm có (1) Trang web nội bộ dành cho điều hành quản lý (2) Hệ thống quản lý công văn và văn bản (3) Hệ thống thông tin kinh tế xã hội phục vụ quản lý điều hành. Đề án 112 cũng đã phát triển các hạ tầng ICT cho hầu hết các địa phƣơng. Là đề án tin học hóa đầu tiên phổ biến trên diện rộng tầm quốc gia, Đề án có những thử thách sau: - Việc lôi cuốn sự tham gia của lãnh đạo một số cơ quan chủ chốt chƣa diễn ra nhƣ đã cam kết - Tính sẵn có của các chuyên gia ICT với kỹ năng giỏi về quản lý dự án còn hạn chế - Mức độ phổ cập ICT của công chức nhà nƣớc tại các địa phƣơng trƣớc khi triển khai các dự án ICT còn hạn chế - Cung cấp các lớp tập huấn và hỗ trợ cho nhân viên tham gia triển khai các dự án còn chƣa đều khắp mọi địa bàn và kết quả chƣa cao. 3.3.2. Đánh giá/ Khuyến nghị (1). Do còn có nhiều địa phƣơng chƣa đƣợc trang bị những hệ thống ICT, cần tập trung trọng điểm vào những địa phƣơng đã sẵn sàng triển khai các ứng dụng dùng chung. (2). Khi thiết kế các ứng dụng dùng chung, cần yêu cầu các địa phƣơng chấp nhận phƣơng thức xây dựng một kiến trúc chung tập trung. Chiến lƣợc khởi đầu nhỏ rồi nhân rộng các điển hình cần đƣợc áp dụng cho 6 ứng dụng chung có khả năng mang lại lợi ích nhiều nhất. Mỗi một ứng dụng dùng chung nói trên cần đƣợc triển khai thí điểm tại các địa bàn khác nhau. Mỗi một tỉnh đƣợc lựa chọn làm thí điểm sẽ tiếp tục đƣợc triển khai những ứng dụng dùng chung còn lại tại hạ tầng tập trung của địa bàn mình. Sau khi hoàn tất triển khai thí điểm, các ứng dụng dùng chung sẽ tiếp tục đƣợc triển khai tại tỉnh đó theo giai đọan. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  45. 43 (3). Khuyến nghị nên lựa chọn những nhà cung cấp công nghệ đã phát triển các giải pháp để xây dựng các ứng dụng dùng chung do họ sẽ quản lý dự án nếu cần thiết, thiết kế kiến trúc, có khả năng phát triển và kiểm soát các ứng dụng của họ. (4). Để thiết kế một kiến trúc thống nhất và sử dụng các khuôn khổ ứng dụng, một dự án nghiên cứu mang tính tƣ vấn cần đƣợc tiến hành để tập hợp những yêu cầu cho các ứng dụng chung đƣợc ƣu tiên triển khai. (5). Điều quan trọng là cần xác định dự án phù hợp và sớm tiến hành truyền thông tại địa phƣơng. Mỗi địa phƣơng đƣợc chọn triển khai cần thành lập một Ban thƣờng trực để điều phối dự án và xử lý các vấn đề có thể phát sinh trong quá trình triển khai. 4. NĂNG LỰC VÀ NHẬN THỨC VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Phần này đề cập tới khía cạnh năng lực và nhận thức về Chính phủ điện tử bao gồm: - Các vấn đề mấu chốt về năng lực và nhận thức về Chính phủ điện tử - Các thách thức về mặt năng lực và nhận thức về Chính phủ điện tử - Tổng quan và phân tích các khía cạnh chính - Đánh giá/ Khuyến nghị 4.1. Các mục tiêu và các vấn đề mấu chốt về năng lực và nhận thức về Chính phủ điện tử Năng lực và nhận thức về Chính phủ điện tử là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên thành công, thƣờng đƣợc thấy là còn thiếu trong quá trình phát triển Chính phủ điện tử. Sở dĩ nhƣ vậy là vì thực tế cho thấy, các nƣớc trong giai đoạn đầu thực thi Chính phủ điện tử tập trung chủ yếu vào việc triển khai các đơn xin qua mạng và các dịch vụ điện tử. Dƣới đây là các mục tiêu về năng lực và nhận thức về Chính phủ điện tử: - Nâng cao năng lực thực thi Chính phủ điện tử (quản lý và kỹ thuật) xét về khía cạnh đào tạo, giáo dục và học qua mạng. - Tăng cƣờng sự hợp tác chặt chẽ với các ngành và trƣờng đại học để nâng cao năng lực về thực thi Chính phủ điện tử Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  46. 44 - Phát triển các chƣơng trình thông tin truyền thông về sự thay đổi của Chính phủ điện tử - Phát triển nhận thức về Chính phủ điện tử cho cộng đồng và nâng cao năng lực của các cơ quan Nhà nƣớc trong việc truyền thông công cộng - Phát triển một cơ chế để nắm bắt và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong triển khai Chính phủ điện tử Trong bối cảnh của Việt nam, vấn đề này bao gồm các khía cạnh sau: - Năng lực về Chính phủ điện tử, đào tạo và giáo dục - Học qua mạng về Chính phủ điện tử - Truyền thông về sự thay đổi của Chính phủ - Nhận thức về Chính phủ điện tử và các công tác truyền thông công cộng - Nắm bắt và chia sẻ các điển hình về thực thi Chính phủ điện tử 4.2. Các thách thức hiện nay Sau đây là các thách thức cụ thể đặt ra xét trên khía cạnh năng lực và nhận thức về Chính phủ điện tử: - Năng lực hạn chế về Chính phủ điện tử, đặc biệt là ở các tỉnh - Khoảng cách giữa các viên chức của Nhà nƣớc và việc triển khai các dịch vụ công, dịch vụ điện tử - Khả năng quản lý sự thay đổi trong việc thực thi các dự án về công nghệ thông tin truyền thông và Chính phủ điện tử - Thiếu chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn giữa các cơ quan nhà nƣớc - Thiếu nhận thức của cộng đồng về Chính phủ điện tử, đặc biệt là ở các tỉnh - Thiếu các chuyên gia tại các cơ quan nhà nƣớc trong việc quản lý và dự báo về Chính phủ điện tử. 4.3. Năng lực về Chính phủ điện tử và vấn đề Giáo dục và đào tạo 4.3.1. Tổng quan và phân tích Đề án 112 thực hiện việc đào tạo nhân viên kỹ thuật về công nghệ thông tin truyền thông tại nhiều cơ quan chức năng của nhà nƣớc. Mặt khác, NAPA cũng tổ chức nhiều hội thảo, họp và diễn đàn về cải cách hành chính và quản lý công. Cần tạo ra các năng lực mới dành cho cấp lãnh đạo cao và trung cấp về Chính phủ điện tử, Vấn đề này bao gồm: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  47. 45 - Chính phủ điện tử - Cải tiến quy trình tác nghiệp - Quản lý chiến lƣợc ICT và chức năng của các lãnh đạo về thông tin - Quản lý sự thay đổi đối với các tổ chức công Đề án 112 thực hiện một loạt các chuẩn ICT và tiến hành dự án về đào tạo các đào tạo viên để phổ cập các chuẩn này. Các kế hoạch đƣợc triển khai việc đào tạo các chuẩn ICT bao gồm - Quản lý dự án - Quản lý chất lƣợng - Mua sắm - Cải tiến quy trình - Phát triển hệ thống - Hoạt động bảo dƣỡng và hỗ trợ - Kiểm toán về mặt kỹ thuật 4.3.2. Đánh giá/ Khuyến nghị (1). Một dự án về giáo dục và đào tạo về Chính phủ điện tử đƣợc khuyến nghị thực hiện nhƣ một phần của chiến lƣợc tăng cƣờng năng lực về Chính phủ điên tử. Dự án này bao hàm cả việc quản lý và đào tạo về mặt kỹ thuật thực thi Chính phủ điện tử mà trƣớc mắt ƣu tiên thực hiện đối với 3 nhóm: lãnh đạo cấp cao, lãnh đạo cấp trung và các chuyên gia. (2). Khuyến nghị các chƣơng trình hợp tác giữa các ngành với các nhà cung cấp công nghệ thông tin truyền thông quốc tế nhằm hỗ trợ các uỷ ban nhân dân. (3). Một khuyến nghị cơ bản nữa là việc hợp tác với các trƣờng đại học trong nƣớc để đào tạo quản lý và kỹ thuật về Chính phủ điện tử 4.4. Học trực tuyến (E-learning) đối với Chính phủ điện tử 4.4.1. Tổng quan/ phân tích Học trực tuyến là một thuật ngữ có ý nghĩa bao trùm việc cung cấp các hƣớng dẫn trên máy (courseware) thông qua mạng Internet, tự học từ xa hoặc học tại nhà thông qua kết nối intranet. Học trực tuyến là một khuynh hƣớng chung thay thế cho việc học trực diện trên lớp và có ý nghĩa chiến lƣợc đối với phần lớn doanh nghiệp và chính phủ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  48. 46 Đối với Việt Nam, một đất nƣớc đông dân cƣ với nhiều viên chức nhà nƣớc ở các tỉnh, thành, việc học trự tuyến còn mang một ý nghĩa nữa là tăng cƣờng năng lực về Chính phủ điện tử. 4.4.2. Đánh giá/ khuyến nghị (1). Các chiến lƣợc tiến hành việc học trực tuyến góp phần giúp cho các cơ quan chức năng của Nhà nƣớc triển khai các dự án về Chính phủ điện tử. Khuyến nghị thực hiện hai chƣơng trình thí điểm về việc học trực tuyến. Một chƣơng trình học về các giải pháp công nghệ nhƣ một cổng thông tin về việc học trực tuyến. Chƣơng trình khác là một cổng thông tin mà ngƣời cung cấp dịch vụ đƣa ra để quản lý và đăng tải các nội dung về Chính phủ điện tử cho các cơ quan. (2). Khuyến nghị thành tập một nhóm chuyên trách bao gồm cán bộ của các cơ quan chức năng chủ chốt để nghiên cứu về các giải pháp học trực tuyến và khuyến nghị các thí điểm học trực tuyến phù hợp. (3). Là một phần trong chiến lƣợc phát triển nội dung, khuyến nghị thúc đẩy các chƣơng trình đào tạo kỹ thuật và quản lý đƣa ra trong chƣơng trình giáo dục và đào tạo về Chính phủ điện tử 4.5. Nhận thức về Chính phủ điện tử và truyền thông công cộng 4.5.1. Tổng quan và phân tích Một trong những bài học rút ra từ kinh nghiệm xây dựng Chính phủ điện tử là cần tạo ra nhận thức về Chính phủ điện tử, đặc biệt là việc thực hiện các dịch vụ điện tử. Phát triển năng lực truyền thông công cộng đối với các cơ quan nhà nƣớc đang trở thành một nhu cầu thực sự để quản lý truyền thông và các mong muốn chung của cộng đồng. 4.5.2. Đánh giá/ Khuyến nghị (1). Khuyến nghị thành lập một chƣơng trình phát triển nhận thức và truyền thông về Chính phủ điện tử để hỗ trợ cho việc truyền thông tới nhân dân và các doanh nghiệp về Chính phủ điện tử và ích lợi của nó. (2). Khuyến nghị thành lập một uỷ bản gồm có các cơ quan chức năng chính để hỗ trợ cho chƣơng trình nhận thức về Chính phủ điện tử về khía cạnh lập kế hoạch, triển khai, quản lý và các hoạt động khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  49. 47 (3). Cần thiết phải nâng cao năng lực truyền thông công cộng cho các cơ quan nhà nƣớc có liên quan tới các dự án về Chính phủ điện tử. Việc này cần tiến hành thông qua các khoá đào tạo chuyên sâu. 5. LỘ TRÌNH XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Nội dung phần này sẽ đề cập tới các đề xuất cho việc xây dựng Lộ trình Chính phủ điện tử. Các vấn đề chính bao gồm: - Các chiến lƣợc thực thi cụ thể đối với Chính phủ điện tử - Các chƣơng trình và dự án - Các sáng kiến về mô hình điều phối Chính phủ điện tử đối với các dịch vụ điện tử tích hợp, các ứng dụng chung cho khu vực nông thôn - Các chƣơng trình và dự án giúp tăng cƣờng năng lực và nhận thức về Chính phủ điện tử - Kế hoạch theo giai đoạn - Các yếu tố dẫn đến thành công trong thực thi Chính phủ điện tử 5.1. Các chiến lƣợc tạo tiền đề và thực thi Chính phủ điện tử Để tạo điều kiện cho việc thực thi Chính phủ điện tử một cách đồng bộ và có thể khắc phục các thử thách hiện nay, các chiến lƣợc thực thi dƣới đây cần đƣợc chú trọng: 5.1.1. Phát triển nền tảng của Chính phủ điện tử Để phát triển và xây dựng nền tảng của Chính phủ điện tử cần có các yếu tố sau: (1). Tầm nhìn về Chính phủ điện tử Tầm nhìn và mục tiêu của Chính phủ điện tử cần đƣợc xây dựng thông qua Uỷ ban thƣờng trực về Chính phủ điện tử. Một tầm nhìn có hệ thống sẽ bao gồm mục tiêu mong muốn và đích đạt tới cho Chính phủ điện tử ở Việt Nam. Tất cả các cơ quan Nhà nƣớc sẽ có khả năng thích ứng với các dự án về Chính phủ điện tử. (2). Truyền thông về định hướng và khuôn khổ Chính phủ điện tử Để giúp cho việc hiểu về Chính phủ điện tử, cần phải xây dựng và tuyên truyền một khái niệm nhất quán, cách tiếp cận và giải thích rõ về Chính phủ điện tử. Các tài liệu cung cấp phải đƣợc đảm bảo tuyên truyền tới mọi cơ quan trong bộ máy Nhà nƣớc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  50. 48 (3). Điều hành và quản lý Để hỗ trợ quản lý và điều hành, những lĩnh vực sau đây cần phải đƣợc xem xét và thực thi: - Quản lý các chƣơng trình Chính phủ điện tử - Kiến trúc thông tin về Chính phủ điện tử - Sự tham gia của công dân, doanh nghiệp và các tổ chức phi Chính phủ thông qua diễn đàn và các kênh thông tin về Chính phủ điện tử - Các chƣơng trình và dự án ICT ở các cấp trong lộ trình về Chính phủ điện tử. - Luật pháp hỗ trợ cho các giao dịch điện tử và mở đƣờng cho việc thực thi Chính phủ điện tử 5.1.2. Xây dựng năng lực về Chính phủ điện tử Phần này bao gồm 3 lĩnh vực: các năng lực về Chính phủ điện tử , các ứng dụng ICT trong nội bộ các cơ quan Nhà nƣớc (Chính phủ – Chính phủ, Chính phủ – Viên chức Nhà nƣớc) và quản lý ICT trong điều hành Chính phủ điện tử. (1). Các năng lực về Chính phủ điện tử Đề cập tới các hội thảo và chƣơng trình đào tạo mở rộng nhằm xây dựng năng lực về Chính phủ điện tử, có thể bao gồm các chƣơng trình nhƣ "Những vấn đề cơ bản của Chính phủ điện tử", "Tái cơ cấu quy trình quản lý tác nghiệp" Các đối tƣợng tham gia gồm có các nhà quản lý trung và cao cấp, các chuyên viên có kinh nghiệm, và cuối cùng là toàn bộ các viên chức nhà nƣớc (là một phần trong chƣơng trình nâng cao nhận thức về Chính phủ điện tử). (2). Phát triển các ứng dụng ICT (Chính phủ – Chính phủ, Chính phủ – Viên chức Nhà nước) Phần này bao gồm các vấn đề sau: - Ứng dụng thí điểm về Chính phủ – viên chức nhà nƣớc áp dụng cho các cơ quan Nhà nƣớc đã đƣợc trang bị hệ thống máy tính và cơ sở hạ tầng ICT tiên tiến. - Các lĩnh vực hợp tác chéo và lĩnh vực mới nhằm tăng cƣờng sự hợp tác và trao đổi thông tin giữa các cơ quan chức năng của Nhà nƣớc. - Các ứng dụng tiềm năng Chính phủ – cơ quan nhà nƣớc nhằm hỗ trợ các dịch vụ điện tử của các cơ quan Nhà nƣớc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  51. 49 (3). Tăng cường quản lý ICT Tăng cƣờng quản lý ICT bao gồm: - Phát triển khuôn khổ ứng dụng Chính phủ điện tử và kiến trúc dịch vụ đối với các dịch vụ điện tử tích hợp. Vấn đề này bao gồm mô hình và các điển hình thực tiễn nhằm hƣớng dẫn các cơ quan Nhà nƣớc cấp tỉnh, thành phố thực thi Chính phủ điện tử. - Xem xét tạo lập một kiến trúc công nghệ và quản lý ICT dành cho các cơ quan nhà nƣớc. Kiến trúc này tạo nền tảng cho các đơn vị công nghệ thông tin tại các cơ quan nhà nƣớc để quản lý ICT có hiệu quả và hỗ trợ Chính phủ điện tử. - Các chuẩn về ICT (thông qua đào tạo các giảng viên- TOT) 5.1.3. Phát triển các dịch vụ điện tử trực tuyến và các ứng dụng ICT (Chính phủ – Doanh nghiệp, Chính phủ – Công dân) Các dịch vụ điện tử trực tuyến là ứng dụng tiềm năng sẽ hỗ trợ công dân và các doanh nghiệp. Cách tiếp cận ở đây là phải xác định các dự án thí điểm để triển khai một số dịch vụ đƣợc lựa chọn. Dƣới đây là các vấn đề chủ yếu cần xem xét: - Lựa chọn các dịch vụ điện tử thí điểm và có ảnh hƣởng trực tiếp tới công dân và doanh nghiệp - Các chiến lƣợc thực thi khác nhau phù hợp với mỗi loại dịch vụ đƣợc lựa chọn để thực hiện thí điểm - Chiến lƣợc bắt đầu với quy mô nhỏ sau đó nhân rộng các điển hình tiên tiến. 5.1.4. Cải thiện cơ sở hạ tầng điện tử Cần phải phát triển một hạ tầng điện tử giúp truy cập Internet, về công nghệ thông tin và phát triển nội dung, kỹ năng (thiết kế các trang Web, sử dụng truyền thông đa phƣơng tiện). (1). Chiến lược cải thiện hạ tầng cho vùng nông thôn và thiết lập một hệ thống các điểm truy cập thông tin (kiosk) cho các vùng kém phát triển để họ có thể truy cập Internet và sử dụng các thông tin, dịch vụ do Nhà nước cung cấp. - Phƣơng pháp áp dụng thí điểm - Có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan chức năng của địa phƣơng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  52. 50 (2). Hạ tầng cơ sở cho việc triển khai thí điểm ở nhiều cấp độ khác nhau trong việc trang bị các kỹ năng cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông. - Phƣơng pháp thí điểm nhằm xây dựng năng lực về ICT và Chính phủ điện tử cho các trƣờng đại học và các cơ sở đào tạo - Hỗ trợ từ phía các tỉnh, thành phố và cơ quan chức năng của Nhà nƣớc 5.1.5. Tăng cường nhận thức về Chính phủ điện tử và ICT Đây là một vấn đề mấu chốt nhằm giúp cho các viên chức nhà nƣớc và công dân nhận biết tầm quan trọng của Chính phủ điện tử và ICT (1). Truyền thông và nâng cao nhận thức cho các cơ quan Nhà nước - Tăng cƣờng chiến lƣợc truyền thông và kế hoạch kiểm soát sự thay đổi đối với Chính phủ điện tử - Chú trọng tới các cơ quan Nhà nƣớc đóng vai trò hỗ trợ cho Chính phủ điện tử và triển khai các dự án thí điểm (2). Phát triển chiến lược truyền thông quốc gia và nâng cao nhận thức - Xây dựng kế hoạch truyền thông theo giai đoạn và cung cấp tài liệu liên quan - Chú trọng tới các chủ thể tham gia triển khai các dự án thí điểm về Chính phủ điện tử (3). Lập các chương trình phổ cập kiến thức công nghệ thông tin và truy cập Internet cho công dân ở các địa phương kém phát triển: Bắt đầu với các dự án thí điểm ở các vùng kém phát triển và giám sát tiến trình thực hiện 5.2. Quản lý thực thi lộ trình Chính phủ điện tử Nhằm quản lý thực thi lộ trình Chính phủ điện tử, một trong những vấn đề quan trọng nhất cần xem xét là thành lập một Văn phòng quản lý dự án (PMO). Văn phòng quản lý dự án cần có sự lãnh đạo vững vàng và năng lực quản lý dự án. Văn phòng quản lý dự án phải tuyển đƣợc một đội ngũ các chuyên gia có năng lực và các nhân viên hỗ trợ để giám sát việc thực hiện ba hạng mục của lộ trình. Các hạng mục này sẽ do các cơ quan sau đây quản lý với các chuyên gia trong nƣớc hoặc sử dụng chuyên gia quốc tế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  53. 51 5.2.1. Văn phòng điều hành về Chính phủ điện tử Văn phòng này sẽ quản lý các vấn đề sau và xúc tiến việc tiến hành các nghiên cứu tƣ vấn: - Khuôn khổ và định hƣớng Chính phủ điện tử - Kiến trúc thông tin về Chính phủ điện tử (Quản lý nguồn dữ liệu) - Quản lý quy trình tác nghiệp (BPM)/ Cải tiến việc quản lý và điều hành Chính phủ điện tử - Chiến lƣợc ICT/ Lập kế hoạch về Chính phủ điện tử Cần có các chuyên gia về các lĩnh vực: - Quản lý dự án về Chính phủ điện tử - Chiến lƣợc ICT/ Lập kế hoạch về Chính phủ điện tử - Kiến trúc thông tin - Cải tiến quy trình tác nghiệp 5.2.2. Văn phòng về các ứng dụng điện tử Văn phòng này sẽ quản lý các chƣơng trình sau và sẽ xúc tiến việc tiến hành các dự án hoặc chƣơng trình: - Chƣơng trình về mô hình cung cấp các dịch vụ điện tử tích hợp cho công dân và doanh nghiệp - Chƣơng trình về mô hình triển khai các ứng dụng chung - Chƣơng trình về mô hình tích hợp dữ liệu (Data Hub) - Chƣơng trình về mô hình triển khai hỗ trợ các công chức nhà nƣớc - Chƣơng trình phổ cập IT và cung cấp các dịch vụ thông tin cho các vùng nông thôn Cần có các chuyên gia về các lĩnh vực: - Quản lý dự án về Chính phủ điện tử - Phát triển và triển khai các ứng dụng - Lập kế hoạch tích hợp dữ liệu và tiến hành tích hợp - Cung cấp các dịch vụ điện tử - Phát triển các ứng dụng chung và ứng dụng dành cho vùng nông thôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  54. 52 5.2.3. Văn phòng quản lý về năng lực Chính phủ điện tử Văn phòng này quản lý các chƣơng trình dƣới đây và sẽ xúc tiến triển khai các dự án/ chƣơng trình. - Chƣơng trình đào tạo, giáo dục và học trực tuyến nhằm tăng cƣờng năng lực về Chính phủ điện tử - Chƣơng trình truyền thông công cộng và tăng cƣờng nhận thức về Chính phủ điện tử Cần có các chuyên gia về các lĩnh vực: - Đào tạo và giáo dục về Chính phủ điện tử - Truyền thông công cộng 5.3. Một số cân nhắc về định hƣớng pháp luật cho Chính phủ điện tử ở Việt Nam Hiện nay tại Việt Nam đã có những bƣớc phát triển nhất định trong các hoạt động xây dựng pháp luật hỗ trợ cho Thƣơng mại điện tử và Chính phủ điện tử. Một số diễn đàn và hội thảo đƣợc mở ra để thu thập ý kiến cho việc soạn thảo và ban hành các văn bản Luật này. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Giao dịch điện tử là một trong những văn bản luật quan trọng nhất để điều chỉnh các giao dịch điện tử của các cơ quan nhà nƣớc và của khu vực tƣ nhân. Nhằm quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành Luật Giao dịch điện tử, đã có bốn dự thảo dƣới đây đƣợc soạn thảo và thảo luận : - Nghị định quy định chi tiết hƣớng dẫn thực hiện Luật Giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính - Nghị định về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng - Nghị định về Thƣơng mại điện tử - Nghị định về chữ ký số và dịch vụ chứng thực điện tử 5.4. Những nhân tố chủ yếu đảm bảo thành công cho các kế hoạch CPĐT 5.4.1. Sự lãnh đạo vững vàng Cần có sự lãnh đạo vững vàng ở các cấp nhằm hỗ trợ cho lộ trình thực thi Chính phủ điện tử. Phải có phân công nhiệm vụ để Văn phòng quản lý dự án thực hiện và đƣa ra các khuyến nghị về lộ trình. Mặt khác, giai đoạn đầu thƣờng gặp khó khăn khi triển khai các nghiên cứu, thí điểm và lập chƣơng trình về Chính phủ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  55. 53 điện tử. Cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ phụ trách Văn phòng quản lý dự án phải là một trong các cơ quan chủ chốt của nhà nƣớc về Chính phủ điện tử. 5.4.2. Hợp tác chéo giữa các cơ quan nhà nước Hợp tác chéo là một vấn đề cơ bản giúp thực hiện thành công lộ trình. Các cơ quan nhà nƣớc khác nhau phải cùng tham gia và hỗ trợ chéo để triển khai thí điểm các chƣơng trình. 5.4.3. Sự chỉ đạo và hỗ trợ đối với các cơ quan chức năng có liên quan đến việc thực hiện lộ trình Các cơ quan thực thi những khuyến nghị của lộ trình phải có đƣợc sự lãnh đạo vững vàng quyết đoán và đảm bảo hoàn tất mọi dự án đã cam kết. Các cơ quan hữu quan cần thành lập một uỷ ban điều hành để giám sát triển khai các dự án này. Cấp lãnh đạo cao nhất phải đảm bảo có sự hỗ trợ cần thiết từ tất cả các cấp, đặc biệt là từ các nhà quản lý cấp dƣới và cấp giám sát. 5.4.4. Chia sẻ các kinh nghiệm thực tiễn Nhằm giúp cho việc chia sẻ kinh nghiệm giữa các cơ quan nhà nƣớc đạt hiệu quả hơn, các cơ quan nhà nƣớc liên quan đến thực thi Chính phủ điện tử cần chia sẻ các kinh nghiệm thực tiễn và thậm chí chia sẻ các bài học rút ra. Điều này sẽ giúp cho các cơ quan nhà nƣớc trong quá trình thực thi Chính phủ điện tử tránh đƣợc các sai lầm và xác định đƣợc những vấn đề khó khăn có thể gặp phải. Làm đƣợc nhƣ vậy sẽ mang lại lợi ích cho nhà nƣớc, đặc biệt là sẽ làm giảm lãng phí các nguồn lực vốn còn hạn chế của Chính phủ. 5.4.5. Nhận thức và kỳ vọng của công dân, doanh nghiệp và giới truyền thông Đây là một trong những yếu tố sống còn đảm bảo thành công cho việc triển khai Chính phủ điện tử. Công dân, doanh nghiệp và giới truyền thông phải tin tƣởng và ủng hộ các dự án về Chính phủ điện tử. Điều này đồng nghĩa với việc tạo ra nhận thức về Chính phủ điện tử, đặc biệt là các dịch vụ điện tử mới và kiểm soát những dự kiến về thời gian và các ích lợi khác của việc thực hiện này. Bất kỳ sự chậm trễ hoặc nhầm lẫn nào cũng có thể làm mất đi lòng tin của công dân đối với các dự án và kết quả là sự hạn chế sự tham gia của họ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  56. 54 Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 1. GIỚI THIỆU Mục đích của luận văn là nghiên cứu và đề xuất lộ trình Chính phủ điện tử tại Việt Nam và đề xuất xây dựng mô hình Chính phủ điện tử tại Đại học Thái Nguyên nhằm đƣa ra những phân tích - định hƣớng phát triển cho mô hình cải cách hành chính công. Đại học Thái Nguyên đƣợc thành lập năm 1994 trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại các trƣờng đại học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên bao gồm: Trƣờng Đại học Cơ điện (nay là trƣờng Đại học Kỹ thuật Công nghiệp), Trƣờng Đại học Nông nghiệp 3(nay là trƣờng Đại học Nông Lâm), Trƣờng Đại học Sƣ phạm Việt Bắc (nay là trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên), Trƣờng Đai học Y khoa (nay là trƣờng Đai học Y Dƣợc) và Trƣờng Công nhân Cơ điện Việt Bắc (nay là trƣờng Cao Đẳng Kinh tế Kỹ thuật). Việc thành lập các đại học, trong đó có Đại học Thái Nguyên là việc triển khai tƣ tƣởng chỉ đạo của Đảng đƣợc thể hiện qua Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ VIII, đó là xây dựng các trung tâm đào tạo lớn và chất lƣợng cao ở các vùng. Hơn 10 năm qua, chủ trƣơng nhất quán của Đảng, Nhà nƣớc là xây dựng và phát triển Đại học Thái Nguyên và trên thực tế, Đại học Thái Nguyên đã thể hiện rõ vai trò, vị trí của mình trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, đặc biệt với vùng trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam. Sau 15 năm xây dựng và phát triển, Đại học đã không ngừng phát triển và hoàn thiện theo mô hình đầy đủ của một Đại học vùng, bao gồm: các đơn vị quản lý, các đơn vị đào tạo, các đơn vị nghiên cứu và các đơn vị phục vụ đào tạo. Đại học đã quản lý thống nhất, điều hành toàn diện và phân cấp hợp lý cho các đơn vị thành viên nhằm phát huy tính tự chủ, năng động, sáng tạo của các đơn vị trong quá trình phát triển - Giai đoạn 1994 – 2000: Là giai đoạn ổn định, Đại học có 05 trƣờng thành viên ban đầu và thành lập thêm 01 Trung tâm NCKH và chuyển giao công nghệ vùng Đông Bắc. Trong giai đoạn này, Đại học còn thành lập Trƣờng Đại học Đại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
  57. 55 cƣơng và một số khoa chuyên môn trực thuộc Đại học, nhƣng các đơn vị này chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn. Theo quyết định của Chính phủ và chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, các đơn vị này đã đƣợc sáp nhập vào Trƣờng Đại học Sƣ phạm (ĐHSP). Kết thúc giai đoạn này, Đại học có 6 đơn vị trực thuộc (05 trƣờng và 01 trung tâm). - Giai đoạn 2001-2005: Là giai đoạn phát triển về tổ chức, khẳng định sự trƣởng thành của Đại học. Trong giai đoạn này có 05 đơn vị đào tạo trực thuộc Đại học đƣợc thành lập, đó là: Khoa Công nghệ thông tin (CNTT) (2001); Khoa Khoa học Tự nhiên (KHTN) (2002); Trƣờng Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh (ĐHKT & QTKD) (2004); Trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật (CĐKT- KT) (2005) và nâng cấp Trung tâm Giáo dục quốc phòng (GDQP) Thái Nguyên từ đơn vị trực thuộc trƣờng thành viên của Đại học thành đơn vị trực thuộc ĐHTN (2002). Đặc điểm của giai đoạn này là Đại học chỉ có các đơn vị đào tạo, chƣa các có đơn vị phục vụ đào tạo. Kết thúc giai đoạn này, Đại học đã có 10 đơn vị trực thuộc (05 trƣờng đại học, 01 trƣờng cao đẳng, 02 khoa trực thuộc, 01 Trung tâm GDQP và 01 trung tâm nghiên cứu). - Giai đoạn 2006 – 2009: Là giai đoạn phát triển để hoàn chỉnh Đại học. Trong giai đoạn này có 09 đơn vị mới trực thuộc Đại học đã đƣợc thành lập, đó là: Nhà xuất bản (2007), Trung tâm học liệu (2007), Bệnh viện thực hành (2007), Khối Cơ quan Đại học (2007), Khoa Ngoại ngữ (2008), Viện nghiên cứu Khoa học Sự sống (2008), Viện nghiên cứu Kinh tế - Xã hội và Nhân văn miền núi (2008), Viện nghiên cứu Phát triển công nghệ cao về kỹ thuật công nghiệp (2008) và Trung tâm Hợp tác quốc tế (2009); đồng thời nâng cấp Khoa KHTN và Xã hội thành Trƣờng ĐH Khoa học (2008). Giai đoạn này chủ yếu là thành lập các đơn vị nghiên cứu và phục vụ đào tạo. Đến nay, ĐHTN đã có 19 đơn vị thành viên, bao gồm: 06 trƣờng đại học, 01 trƣờng cao đẳng, 02 khoa trực thuộc, 01 trung tâm GDQP, 04 viện, trung tâm nghiên cứu và 05 đơn vị phục vụ đào tạo. Việc thành lập các đơn vị mới về đào tạo, nghiên cứu và phục vụ đào tạo đã hình thành nên mô hình hoàn chỉnh của một Đại học vùng, Đại học trọng điểm quốc gia. Đặc biệt, việc thành lập các Viện nghiên cứu đã làm tiền đề cho sự phát triển của Đại học thành Đại học nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên