Luận án Quản lý nhà nước về thương mại điện tử
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Quản lý nhà nước về thương mại điện tử", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
luan_an_quan_ly_nha_nuoc_ve_thuong_mai_dien_tu.pdf
Nội dung text: Luận án Quản lý nhà nước về thương mại điện tử
- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ===o0o=== ĐÀO ANH TUẤN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế (Khoa học quản lý) Mã số : 62.34.01.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Du Phong HÀ NỘI 2013
- - i - LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực. Các tài liệu được sử dụng trong Luận án đều có trích dẫn rõ ràng. Kết quả nghiên cứu của Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứ khoa học nào. Tác giả luận án Đào Anh Tuấn
- - ii - MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nội dung viết tắt ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á APEC Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương CNTT Công nghệ thông tin CNTT & TT Công nghệ thông tin và truyền thông DN Doanh nghiệp EDI Trao đổi dữ liệu điện tử EU Liên minh châu Âu KT-XH Kinh tế - xã hội TMĐT Thương mại điện tử QLNN Quản lý nhà nước XHCN Xã hội chủ nghĩa UBND Ủy ban nhân dân UNCITRAL Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hiệp Quốc SXKD Sản xuất kinh doanh WTO Tổ chức thương mại quốc tế
- - iii - MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT ii DANH MỤC BẢNG BIỂU vi PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 5 1.1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài 5 1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước 7 1.1.3. Nhận xét từ tổng quan các công trình nghiên cứu 9 1.2. Phương pháp nghiên cứu 9 1.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp 9 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu định tính 11 1.2.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng 13 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 18 2.1. Thương mại điện tử. 18 2.1.1. Khái niệm thương mại điện tử 18 2.1.2. Các đặc trưng của thương mại điện tử 21 2.1.3. Các mô hình thương mại điện tử 22 2.1.4. Lợi ích và các hạn chế của thương mại điện tử 23 2.2. Quản lý nhà nước về thương mại điện tử 27 2.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về thương mại điện tử 27 2.2.2. Mục tiêu quản lý nhà nước về thương mại điện tử 28 2.2.3. Chức năng quản lý nhà nước về thương mại điện tử 28 2.2.4. Nội dung quản lý nhà nước về thương mại điện tử 29 2.2.5. Bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử 40 2.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thương mại điện tử 41 2.2.7. Đánh giá quản lý nhà nước về thương mại điện tử 43
- - iv - 2.3. Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý nhà nước về thương mại điện tử 44 2.3.1. Kinh nghiệm của các quốc gia trong xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử 44 2.3.2. Kinh nghiệm của các quốc gia trong việc xây dựng chính sách và ban hành pháp luật về thương mại điện tử 45 2.3.3. Kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển thương mại điện tử48 2.3.4. Các bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về thương mại điện tử đối với Việt Nam 49 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53 CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 54 3.1. Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 54 3.1.1. Giai đoạn thương mại điện tử hình thành và được pháp luật thừa nhận chính thức 54 3.1.2. Giai đoạn phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử ở Việt Nam 56 3.2. Thực trạng quản lý nhà nước về thương mại điện tử 59 3.2.1. Xây dựng kế hoạch phát triển thương mại điện tử 59 3.2.2. Xây dựng chính sách và ban hành pháp luật về thương mại điện tử 61 3.2.3. Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển thương mại điện tử 88 3.2.4. Kiểm tra, thanh tra thương mại điện tử 96 3.3. Bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử ở Việt Nam 99 3.3.1. Bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử cấp Trung ương 99 3.3.2. Bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử ở cấp địa phương 105 3.4. Đánh giá quản lý nhà nước về thương mại điện tử ở Việt Nam 106 3.4.1. Bộ tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về thương mại điện tử 106 3.4.2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu từ quá trình điều tra 107 3.4.3. Đánh nội dung quản lý nhà nước về thương mại điện tử 109 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 121
- - v - CHƯƠNG 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 122 4.1. Triển vọng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam và xu hướng phát triển thương mại điện tử trên thế giới 122 4.1.1. Triển vọng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 122 4.1.2. Xu hướng phát triển thương mại điện tử trên thế giới 124 4.2. Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về thương mại điện tử 124 4.2.1. Sự phát triển thương mại điện tử cần tuân thủ cơ chế thị trường, kết hợp với sự tác động tích cực của Nhà nước. 124 4.2.2. Phát triển thương mại điện tử dựa trên sự mở rộng hợp tác quốc tế và cần phù hợp với tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế 125 4.2.3. Chiến lược phát triển thương mại điện tử cần phù hợp và kết hợp chặt chẽ với những nội dung của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 126 4.3. Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý nhà nước về thương mại điện tử ở Việt Nam 126 4.3.1. Xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử quốc gia 126 4.3.2. Hoàn thiện chính sách phát triển thương mại điện tử 128 4.3.3. Hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử 134 4.3.4. Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển thương mại điện tử 138 4.3.5. Hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra thương mại điện tử 141 4.3.6. Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử 142 4.4. Điều kiện chủ yếu để thực thi các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về thương mại điện tử 144 4.4.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước 144 4.4.2. Đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng 148 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 150 KẾT LUẬN CHUNG 151 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 153 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154 PHỤ LỤC 158
- - vi - DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1. Các thang đo sử dụng trong phiếu điều tra 15 Bảng 1.2.Thang đo Likert 5 mức độ sử dụng trong điều tra 15 Bảng 3.2.Xếp hạng tổng thể mức độ cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên Website/Portal của các Bộ, cơ quan ngang Bộ năm 2010-2012 95 Bảng 3.3. Các tiêu chí đánh giá QLNN về TMĐT 106 Bảng 3.4. Đánh giá của DN về các trở ngại trong ứng dụng TMĐT 111 DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1. Các bước thực hiện phương pháp phân tích tổng hợp 10 Hình 1.2. Các bước thực hiện nghiên cứu định tính 12 Hình 1.3. Các bước nghiên cứu định lượng 13 Hình 1.4. Các bước thực hiện điều tra chính thức 16 Hình 3.1. Đánh giá tác dụng của TMĐT đối với DN trong các năm 2011, 2012 58 Hình 3.2.Xu hướng doanh thu từ các phương tiện điện tử trong năm 2011, 2012 58 Hình 3.3. Số trường đào tạo TMĐT năm 2008, 2010, 2012 71 Hình 3.4. Tỷ lệ tiền mặt lưu thông trong tổng phương tiện thanh toán. 74 Hình 3.5. Thống kê số thẻ ngân hàng phát hành qua các năm 75 Hình 3.6. Thống kê số lượng máy ATM và POST qua các năm. 75 Hình 3.7. Biểu đồ tỉ lệ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 94 Hình 3.8. Biểu đồ tăng trưởng số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 95 Hình 3.9. Bộ máy QLNN về TMĐT cấp Trung ương 100 Hình 3.10. Bộ máy QLNN về TMĐT tại Bộ Công thương 100 Hình 3.11. Các cơ quan tham gia thực hiện chức năng QLNN về TMĐT 102 Hình 3.12. Đánh giá các tác dụng của ứng dụng TMĐT trong DN năm 2012 113
- -1- PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT) trên thế giới đã làm thay đổi phương thức kinh doanh, thay đổi mạnh mẽ các giao dịch truyền thống và đem lại những lợi ích to lớn cho các doanh nghiệp cho người tiêu dùng và cho toàn xã hội. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam việc ứng dụng TMĐT vào hoạt động sản xuất kinh doanh đã làm tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp. Trong quá trình phát triển TMĐT ở Việt Nam, Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý đã tạo ra những ra những tiền đề cơ bản cho việc ứng dụng và triển khai TMĐT trong các doanh nghiệp. Bằng các công cụ quản lý của mình, Nhà nước đã đóng vai trò định hướng, tạo lập môi trường cho sự phát triển của TMĐT. Tuy nhiên từ quá trình triển khai TMĐT trong thời gian vừa qua cho thấy tuy môi trường cho sự phát triển TMĐT ở Việt Nam đã hình thành nhưng vẫn chưa đáp ứng được cho sự phát triển có hiệu quả của TMĐT. Hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về TMĐT hiện nay còn tồn tại một số bất cập chủ yếu sau: thiếu các định hướng chiến lược trong phát triển TMĐT; pháp luật về TMĐT chưa điều chỉnh hết nhiều lĩnh vực mới nảy sinh trong TMĐT; sự phối hợp quản lý nhà nước về TMĐT giữa các cơ quan QLNN về TMĐT chưa hiệu quả; niềm tin của người tiêu dùng đối với TMĐT còn thấp; nguồn nhân lực cho TMĐT còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; hoạt động kiểm tra, giám sát TMĐT chưa được trú trọng. Bên cạnh đó, sự phát triển không ngừng trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói chung và TMĐT nói riêng trên thế giới sẽ tạo ra những thách thức không nhỏ cho việc thực hiện các chức năng QLNN về TMĐT ở Việt Nam. Xuất phát từ những yêu cầu trên, QLNN về TMĐT trong thời gian tới cần phải tiếp tục được hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực tế triển khai thực hiện. Để có cơ sở hoàn thiện các nội dung này, hoạt động QLNN về TMĐT cần phải được củng cố về mặt lý luận như: làm rõ mục tiêu, nội dung, các nguyên tắc, yêu cầu cũng như các công cụ mà Nhà nước có thể sử dụng trong quá trình thực hiện chức năng QLNN về TMĐT. Ngoài ra để khắc phục các bất cập trong hoạt động QLNN về TMĐT ở Việt nam hiện nay thì hoạt động QLNN về TMĐT cần phải được đánh giá một cách toàn diện để tìm ra những bất cập còn tồn tại cũng như nguyên nhân của các hạn chế này. Với những lý do nên trên, việc nghiên cứu đề tài "Quản lý nhà nước về thương mại điện tử" có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm góp phần hoàn thiện lý
- -2- luận QLNN về TMĐT cũng như hoàn thiện các nội dung QLNN về TMĐT ở Việt Nam. 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm làm rõ những lí luận về QLNN đối với TMĐT, đề xuất các giải pháp nhằm nhằm hoàn thiện QLNN về TMĐT ở Việt Nam. Bên cạnh đó luận án cũng nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá các nội dung QLNN về TMĐT, làm căn cứ cho việc đánh giá QLNN về TMĐT ở Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình thực hiện các nội dung QLNN về TMĐT; là các DN đang thực hiện TMĐT ở Việt Nam. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung nghiên cứu: Về khái niệm TMĐT, với mục tiêu là hoàn thiện QLNN về TMĐT ở Việt Nam nên luận án sử dụng khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng, theo đó TMĐT là việc tiến hành một khâu hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. Đối với hoạt động QLNN về TMĐT, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung QLNN về TMĐT ở Việt nam theo hướng tiếp cận từ quá trình quản lý, các nội dung này bao gồm: (i) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển TMĐT; (ii) Xây dựng chính sách và ban hành pháp luật về TMĐT; (iii) Tổ chức thực hiện kế hoạch và chính sách phát triển TMĐT; (iv) Kiểm soát TMĐT. Đây là cách tiếp cận phổ biến trong các nghiên cứu về hoạt động QLNN nói chung, QLNN về TMĐT nói riêng. Phạm vi đối tượng nghiên cứu: đối với các DN nghiên cứu, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các DN đã áp dụng TMĐT từ cấp độ 2 trở lên; đang ứng dụng các ba mô hình TMĐT là B2B; B2C và C2C. Các DN này đang hoạt động trong một số lĩnh vực chủ yếu như: thương mại, bán buôn, bán lẻ; sản xuất công nghiệp; tài chính ngân hàng và công nghệ thông tin. Đây là các lĩnh vực trong đó có rất nhiều DN Việt Nam đang thực hiện TMĐT. Phạm vi thời gian nghiên cứu: luận án đánh giá thực trạng QLNN về TMĐT trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2012, đây là giai đoạn triển khai thực hiện kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006-2010; kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2011-2015 và các kế hoạch kinh tế xã hội quan trọng khác của đất nước.
- -3- 4. Các đóng góp của luận án 4.1. Về mặt lý luận Thứ nhất, để thực hiện chức năng QLNN về TMĐT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, luận án đề xuất cần coi khái niệm về TMĐT theo nghĩa rộng, với quan điểm này TMĐT được hiểu là việc tiến hành một khâu hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. Thứ hai, luận án đã nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá hoạt động QLNN về TMĐT trên cơ sở vận dụng mô hình Outcome và phương pháp luận về đánh giá chính sách của Ngân hàng thế giới. Các chỉ số này được sử dụng để đánh giá một cách toàn diện các nội dung QLNN về TMĐT theo các tiêu chí: hiệu lực, hiệu quả, phù hợp và bền vững. 4.2.Về mặt thực tiễn Luận án phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về TMĐT ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2012; đánh giá và phân tích những nguyên nhân dẫn đến thành công và hạn chế trong QLNN về TMĐT. Để hoàn thiện QLNN về TMĐT, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau: (i) Xây dựng chiến lược phát triển TMĐT quốc gia nhằm tạo ra các định hướng lâu dài cho phát triển TMĐT ở Việt Nam. (ii) Hoàn thiện các chính sách TMĐT như: chính sách thương nhân; chính sách thuế trong TMĐT; chính sách bảo vệ người tiêu dùng; chính sách tạo nguồn nhân lực. (iii) Hoàn thiện pháp luật về TMĐT trong đó tập trung vào các nội dung: công nhận TMĐT là một ngành trong hệ thống các ngành kinh tế quốc dân; quy định rõ về trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia TMĐT đối với các hình thức TMĐT mới nảy sinh; hoàn thiện các quy định về TMĐT xuyên biên giới; công nhận giá trị pháp lý của chứng cứ điện tử; hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp trong TMĐT. (iv) Tăng cường hoạt động đào tạo về TMĐT, công nhận chuyên ngành TMĐT là một chuyên ngành chính thức trong hệ thống giáo dục quốc gia. (v) Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra về TMĐT, thành lập thanh tra chuyên ngành về TMĐT.
- -4- 5. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được trình bày trong 4 chương: Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2. Cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về thương mại điện tử. Chương 3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về thương mại điện tử ở Việt Nam. Chương 4. Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý nhà nước về thương mại điện tử ở Việt Nam.
- -5- CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1.1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Từ khi xuất hiện vào đầu những năm 90 của thế kỉ 20, TMĐT nói chung và QLNN về TMĐT nói riêng đã được nhiều các tổ chức và các học giả trên thế giới đề cập đến và nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu một số công trình tiêu biểu sau: Năm 2001, trong cuốn: "Những chiến lược cho sự thành công của TMĐT" của Giáo sư Bijan Fazlollahi trường đại học Georgia State University, USA do nhà xuất bản IRM Press phát hành [18] đã đề cập tới một số nội dung tương đối cụ thể để ứng dụng thành công TMĐT trong mỗi DN và quản lý các hoạt động TMĐT của các cơ quan có thẩm quyền. Các nội dung này bao gồm: [18, Trg 32] Tính riêng tư trong không gian ảo khi thực hiện các hoạt động TMĐT; Những ảnh hưởng của cấu trúc của nền kinh tế tới việc thực hiện các hoạt động TMĐT toàn cầu; Các khía cạnh xã hội trong TMĐT có liên quan đến việc xây dựng chính sách và một số nội dung khác có liên quan đến việc xây dựng chiến lược TMĐT thành công cho các DN. Tiếp theo công trình của giáo sư Bijan Fazlollahi, vào năm 2002, dự án nghiên cứu về những tác động của TMĐT trong nền kinh tế toàn cầu thuộc trung tâm nghiên cứu của trường đại học Irvine đã nghiên cứu các tác tộng của môi trường và chính sách của các quốc gia tới sự hình thành và phát triển của TMĐT. Toàn bộ các kết quả nghiên cứu này đã được tập hợp lại trong cuốn sách: "TMĐT toàn cầu: những tác động của môi trường và chính sách quốc gia" do đại học Cambridge phát hành năm 2006 [19] đã tập hợp được rất nhiều nghiên cứu của các học giả thuộc các trường đại học trên thế giới về các tác động của môi trường và chính sách quốc gia đến sự phát triển của TMĐT. Các nghiên cứu này đã mở rộng phạm vi nghiên cứu 10 quốc gia khác nhau gồm: Mỹ, Brazin, Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Singapore và Đài Loan với 2.139 doanh nghiệp tại các nước được phỏng vấn. Kết quả của nghiên cứu này đã chỉ ra sự tác động của môi trường và chính sách của các quốc gia tới quá trình hình thành và phát triển của TMĐT .
- -6- Dựa trên các số liệu điều tra và mô hình nghiên cứu, các tác giả đã phân tích và đánh giá những tác động của môi trường và chính sách TMĐT ở từng quốc gia nhằm trả lời các câu hỏi: - Có những nhân tố nào (xu thế và các rào cản) tác động đến việc ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp? - Những tác động của các nhân tố này tại các quốc gia đã phát triển và đang phát triển có sự thay đổi như thế nào? - Trong mỗi giai đoạn phát triển của TMĐT ở từng quốc gia thì các nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào? Khác với những nghiên cứu ở trên, vào năm 2003, trong cuốn "những tác động về kinh tế và xã hội của TMĐT" của các tác giả Sam Lubbe và Johanna Maria van Heerden do Idea Group Publishing [37] phát hành đã tập hợp nhiều công trình nghiên cứu về các tác động về mặt kinh tế và xã hội của TMĐT của các học giả thuộc nhiều trường đại học khác nhau trên thể giới làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách quản lý của nhà nước về TMĐT. Các công trình này bao gồm các nghiên cứu về: - Những tác động về mặt kinh tế và xã hội của TMĐT tại những quốc gia đang phát triển của tác giả: Roberto Vinaja, University of Texas, Pan America, USA [37, Trg 34]. Trong nghiên cứu này đã nêu lên các lợi ích tiềm năng của TMĐT đối với các quốc gia phát triển đồng thời nhấn mạnh sự phổ biến của TMĐT ở những quốc gia đang phát triển sẽ là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước. - Những tác động đối lập của TMĐT của các tác giả Sushil K. Sharma thuộc Ball State University, USA và Jatinder N.D. Gupta thuộc University of Alabama in Huntsville, USA [37, Trg 45]. Trong nghiên cứu này đã chỉ ra những tác động bất lợi từ sự phát triển TMĐT trong mỗi quốc gia như tính riêng tư của các cá nhân trong các giao dịch, sự an toàn trong quá trình thanh toán, chính sách bảo vệ người tiêu dùng từ đó đưa ra các khuyến nghị trong việc xây dựng và triển khai các chính sách quản lý của nhà nước về TMĐT như: quản lý cạnh tranh trong TMĐT, chính sách thuế, chính sách lao động và việc làm trong TMĐT. Tiếp tục các nghiên cứu về tác động của TMĐT, vào năm 2004 trong cuốn: "Các tác động về mặt nhận thức và xã hội của TMĐT trong những tổ chức hiện đại" của các tác giả Mehdi Khosrow-Pour và nhiều người khác do Idea Group Publishing phát hành [28] đã nghiên cứu khá chi tiết các tác động về mặt xã hội, nhận thức và văn hóa của TMĐT đến hoạt động của các tổ chức. Đặc biệt các nghiên cứu đã đề cập đến các tác động của TMĐT lên hành vi của người tiêu dùng cũng như sự tác động của TMĐT lên hành vi của tổ chức, sự phát triển và quản trị tổ chức.
- -7- 1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước Tuy TMĐT mới phát triển ở Việt nam trong khoảng 10 năm trở lại đây nhưng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về TMĐT nói chung và QLNN về TMĐT nói riêng. Nhận thấy tầm quan trọng của việc ứng dụng TMĐT, năm 2003 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước "Nghiên cứu một số vấn đề kỹ thuật và công nghệ chủ yếu trong TMĐT và triển khai thử nghiệm". Mã số KC.01.05 [17] do PGS.TS. Lê Danh Vĩnh - Thứ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) làm chủ nhiệm, Trung tâm thông tin thương mại là cơ quan thực hiện với sự tham gia của các cán bộ nghiên cứu khoa học của các bộ ngành: Bưu chính viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông), Ban cơ yếu Chính phủ, Ngân hàng, Bộ Tài chính, Bộ Văn hoá thông tin, Liên minh các hợp tác xã, Viện công nghệ thông tin, Hội tin học viễn thông Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và nhiều doanh nghiệp thực hiện. Yêu cầu đặt ra với đề tài là nghiên cứu những công nghệ chủ yếu của TMĐT và thử nghiệm chúng trong một hệ thống TMĐT hoàn chỉnh bao gồm đầy đủ các khâu từ tìm kiếm hàng hoá, đặt hàng, thanh toán, giao hàng và làm nghĩa vụ thuế với nhà nước. Đề tài đã hoàn thành với một số nội dung chủ yếu sau [17]: Tổng quan các vấn đề chung về TMĐT và một số kĩ thuật công nghệ chủ yếu trong TMĐT; Nghiên cứu lý thuyết về các kỹ thuật công nghệ chủ yếu trong TMĐT và kết quả thử nghiệm hệ thống tích hợp các kỹ thuật công nghệ TMĐT trong thực tế; Đề xuất một số giải pháp về phát triển TMĐT ở Việt Nam trong thời gian tới. Ngoài ra hàng năm, bắt đầu từ năm 2004, Cục TMĐT và CNTT thuộc Bộ công thương đã tiến hành tổng kết về tình hình TMĐT ở Việt Nam trong các báo cáo thường niên về TMĐT ở Việt Nam hàng năm (báo cáo có tiêu đề: Báo cáo TMĐT Việt Nam). Các báo cáo này cung cấp một cái nhìn tổng quan về thực trạng tình hình phát triển TMĐT ở Việt Nam trong năm như: tình hình ứng dụng TMĐT trong các doanh nghiệp, thực trạng về cơ sở hạ tầng cho TMĐT, việc triển khai các chính sách TMĐT trong thực tế v.v đồng thời đưa ra một số khuyến nghị đối với các cơ quan QLNN về việc thực hiện chức năng QLNN về TMĐT và các DN trong việc triển khai TMĐT. [2,3,7] Tuy nhiên các báo cáo này chưa có các đánh giá cụ thể về vai trò quản lý của nhà nước đối với TMĐT, các kiến nghị mang tính tổng quát, chưa có các giải pháp cụ thể để hoàn thiện các nội dung QLNN về TMĐT.
- -8- Năm 2008, hai năm sau khi Việt Nam chính thức ra nhập WTO, để triển khai thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực TMĐT, Cục TMĐT và CNTT đã nghiên cứu toàn diện các quy định cũng như các thảo luận của WTO liên quan tới TMĐT và xây dựng Báo cáo Tổng quan về các hoạt động của WTO liên quan tới TMĐT [5]. Nội dung báo cáo gồm 8 chương đề cập rất chi tiết các vấn đề có liên quan tới TMĐT của các nước thành viên WTO như: nội dung các cuộc họp của Đại hội đồng về TMĐT; các hoạt động của các Hội đồng có liên quan tới TMĐT; các cam kết của các nước thành viên về các vấn đề có liên quan đến TMĐT như: vấn đề thuế trong TMĐT; các tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng WTO về TMĐT. Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, hệ thống giáo trình về TMĐT của một số trường đại học trong nước cũng đã cung cấp những kiến thức tổng quát cũng như kiến thức chuyên sâu về TMĐT. Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, chủ biên TS.Trần Văn Hòe (2010) [15] bao gồm 13 chương đã cung cấp những khái niệm căn bản về TMĐT như: khái niệm TMĐT, các mô hình TMĐT, các hình thức thanh toán trong TMĐT, an ninh TMĐT; các điều kiện để ứng dụng TMĐT như: hạ tầng kinh tế-xã hội, hạ tầng pháp lý, hạ tầng công nghệ mạng. Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, chủ biên PGS.TS Nguyễn Văn Minh [16] đã giới thiệu những nội dung cơ bản về sự hình thành và phát triển của TMĐT trên thế giới, các khái niệm về TMĐT; các mô hình TMĐT; An toàn trong TMĐT; Các hệ thống thanh toán điện tử và phương pháp xây dựng, triển khai dự án TMĐT trong DN. Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, chủ biên TS.Nguyễn Văn Thoan đã giới thiệu sau nội dung căn bản của TMĐT, các nội dung này bao gồm:tổng quan về TMĐT; giao dịch điện tử; Marketing điện tử; rủi ro và phòng tránh rủi ro trong TMĐT; ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp và Luật giao dịch điện tử. Ngoài ra, trong cuốn giáo trình Kinh tế thương mại, đồng chủ biên GS.TS Đặng Đình Đào, GS.TS Hoàng Đ ức Thân (2008) [14] gồm 15 chương chia làm hai phần đã đề cập rất chi tiết về hệ thống lý luận và thực tiễn về kinh tế, tổ chức quản lý kinh doanh thương mại trong nền kinh tế quốc dân như: cơ chế, chính sách quản lý thương mại, tổ chức các mối quan hệ kinh tế, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, hạch toán kinh doanh và thương mại DN .v.v Phần thứ nhất gồm 8 chương nghiên cứu toàn bộ các vấn đề kinh tế học thương mại trên góc độ vĩ mô bao gồm: bản chất kinh tế của thương mại; cơ chế, chính sách quản lý thương mại; hệ thống các công cụ quản lý thương mại, chiến lược và định hướng kế hoạch phát triển thương mại trong nền kinh tế quốc dân. Phần thứ hai của giáo trình đề cập đến các nội dung về tổ chức và quản
- -9- lý kinh doanh hàng hóa và dịch vụ dưới góc độ vi mô, bao gồm một số nội dung chủ yếu như: tổ chức các mối quan hệ kinh tế giữa các DN, tổ chức kinh doanh thương mại hàng hóa trong cơ chế thị trường; thương mại dịch vụ; TMĐT; hạch toán kinh doanh trong thương mại; dự trữ hàng hóa cho SXKD; thương mại DN và các vấn đề hiệu quả kinh tế thương mại. Tuy không đề cập sâu đến các nội dung QLNN về TMĐT nhưng giáo trình đã đề cập đến rất nhiều vấn đề lý luận về kinh tế thương mại nói chung làm cơ sở để xây dựng các lý luận về QLNN đối với TMĐT. 1.1.3. Nhận xét từ tổng quan các công trình nghiên cứu Như vậy qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến QLNN về TMĐT có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, các công trình này đã đánh giá khái quát đư ợc tác động của QLNN đối với sự phát triển của TMĐT tại mỗi quốc gia, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này được thực hiện vào những năm đầu của quá trình phát triển của TMĐT, và hầu hết ở các nước đã và đang phát triển, nơi có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của TMĐT, khác hẳn với môi trường cho phát triển TMĐT của Việt Nam. Thứ hai, cho đến nay các điều kiện về môi trường quốc tế, môi trường quốc gia cũng như những xu thế mới của TMĐT đã có nhiều thay đổi cùng với sự phát triển chung của khoa học kĩ thuật và kinh tế thế giới do đó các tác động của QLNN đối với TMĐT cũng cần phải được xem xét trong các điều kiện mới. Thứ ba, các nghiên cứu trên chưa đề cập sâu tới các vấn đề lí luận của QLNN đối với TMĐT như: khái niệm, mục tiêu và nội dung QLNN về TMĐT; chưa đề cập sâu tới vai trò quản lý của nhà nước đối với TMĐT; chưa đưa ra được phương pháp cụ thể để đánh giá các nội dung QLNN về TMĐT. Các "khoảng trống" trên sẽ là cơ sở để luận án tập trung làm rõ các vấn đề còn tồn tại cả về mặt lý luận và thực tiễn trong QLNN về TMĐT từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về TMĐT. 1.2. Phương pháp nghiên cứu 1.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để thẩm định, giải quyết những vấn đề còn tranh cãi, chưa có sự thống nhất giữa các nhà khoa học. Phân tích tổng hợp giúp ta tìm ra những lỗ hổng của các nghiên cứu trước, những lĩnh vực nào cần phải nghiên cứu hoặc chứng minh thêm. Thông thường phân tích tổng hợp là hai quá trình của một vấn đề, chúng không thể tách rời nhau mà hợp lại để bổ trợ cho nhau. Phân tích là giai đoạn cần thiết của bất kì một quá trình nghiên cứu nào. Tổng hợp là việc xác định những thuộc tính,
- -10- những mối liên hệ chung, cũng như những quy luật tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành QLNN về TMĐT. Tổng hợp có được nhờ những kết quả nghiên cứu phân tích, sau đó kết hợp chúng lại với nhau thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất. Áp dụng phương pháp phân tích tổng hợp trong luận án để xem xét xem có các nghiên cứu nào trong lĩnh vực QLNN về TMĐT đã được nghiên cứu, các nghiên đó đã được thực hiện như thế nào, kết quả của của các nghiên cứu là gì ? v.v phân tích tổng hợp để phát hiện những "khoảng trống" trong các nghiên cứu trước, làm cơ sở cho việc thực hiện các nội dung của đề tài. Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng của các phương pháp nghiên cứu trong khoa học kinh tế - xã hội, luận án phân tích làm rõ những tác động của QLNN đến TMĐT thông qua việc thực hiện các nội dung QLNN về TMĐT; phân tích và làm rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến QLNN về TMĐT; phân tích và đánh giá việc thực hiện chức năng QLNN về TMĐT qua các tiêu chí xây dựng. Phương pháp phân tích tổng hợp được thực hiện qua các bước sau: Thu thập Thực hiện Tìm kiếm và xử lý số phân tích nguồn tài liệu liệu tổng hợp Hình 1.1. Các bước thực hiện phương pháp phân tích tổng hợp Bước 1: Tìm kiếm nguồn tài liệu Đối với các số liệu thứ cấp, luận án sử dụng năm nguồn số liệu chính đó là: hệ thống thư viện; số liệu từ các Bộ, ngành; số liệu từ các cơ quan, viện nghiên cứu; số liệu từ các buổi hội thảo khoa học và số liệu từ các Website. Hệ thống Thư viện: Thư viện quốc gia, Thư viện của các trường đại học: Kinh tế quốc dân, đại học Thương mại, để tìm kiếm các công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: luận văn, luận án, các đề tài nghiên cứu, các bài báo trong và ngoài nước v.v Số liệu từ các Bộ, Ngành: Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Kế hoạch và đầu tư; Tổng cục Thống kê; Bộ Tư pháp v.v để tìm kiếm các báo cáo có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: Báo cáo TMĐT hàng năm; Sách trắng về CNTT và Truyền thông; Báo cáo về tình hình KT - XH hàng năm. Tìm kiếm các văn bản quy phạm pháp luật về TMĐT; các chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH, phát triển Công nghệ thông tin; phát triển TMĐT. Số liệu thống kê từ các cơ quan, viện nghiên cứu có liên quan đến TMĐT như: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CEM); Viện chiến lược và chính sách
- -11- khoa học công nghệ (NISTPASS); Viện nghiên cứu thương mại v.v để tìm kiếm các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. Các buổi Hội thảo chuyên đề: thông qua các buổi hội thảo chuyên đề về CNTT, về TMĐT được tổ chức hàng năm như: Hội thảo về TMĐT, Hội thảo về Chính phủ điện tử, Hội thảo về An ninh và An toàn mạng v.v tác giả thu thập được rất nhiều ý kiến của các chuyên gia tham dự hội thảo về tài nghiên cứu cũng như nguồn số liệu từ tham luận của các chuyên gia trong các buổi hội thảo. Đây là nguồn tư liệu rất có ích trong quá trình thực hiện các nội dung của đề tài. Các Website của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam như: Hiệp hội TMĐT Việt Nam ( Cục TMĐT và CNTT Bộ công thương ( Sàn TMĐT của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam ( hiệp hội TMĐT Việt Nam ( v.v để tìm kiếm các báo cáo, các số liệu thống kê về các DN TMĐT ở Việt Nam. Đối với các dữ liệu sơ cấp sử dụng trong đề tài được tác giả thu thập thông qua hình thức điều tra khảo sát các DN, các cơ quan QLNN theo các bước được trình bày trong phương pháp nghiên cứu định lượng. Bước 2. Thu thập và xử lý số liệu Từ các nguồn tài liệu trên, sử dụng phương pháp tổng hợp tác giả thu thập được các số liệu gốc trong các nguồn tài liệu. Các số liệu này được xử lý thông qua bộ phần mềm xử lý số liệu trong KT-XH phổ biến hiện nay là SPSS. Kết quả của quá trình xử lý là các số liệu, các bảng biểu phân tích và các biểu đồ được sử dụng trong đề tài nghiên cứu. Bước 3: Thực hiện phân tích và tổng hợp Từ các số liệu, các bảng biểu và biểu đồ đã đư ợc xử lý, đề tài tập trung phân tích quá trình thực hiện nội dung QLNN về TMĐT ở Việt Nam, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong QLNN về TMĐT hiện nay; trên cơ sở tổng hợp các kết quả phân tích, kết quả điều tra và ý kiến của các chuyên gia để đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện QLNN về TMĐT ở Việt Nam. 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu định tính Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong luận án để xác định các câu hỏi nghiên cứu, xác định các tiêu chí đánh giá QLNN về TMĐT, thu thập ý kiến của các chuyên gia về những vấn đề còn tồn tại trong QLNN về TMĐT hiện nay đồng thời trao đổi về một số giải pháp hoàn thiện các nội dung QLNN về TMĐT ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện qua các bước:
- -12- Phân tích, Dự kiến tổng hợp Thiết kế Thực hiện các vấn đề thông tin câu hỏi bán phỏng vấn cần nghiên từ các nội cấu trúc sâu cứu dung đã phỏng vấn Hình 1.2. Các bước thực hiện nghiên cứu định tính Bước 1. Dự kiến các vấn đề cần nghiên cứu Từ những kết quả bước đầu khi thực hiện phương pháp phân tích tổng hợp các công trình nghiên cứu, các tài liệu có liên quan đến TMĐT và QLNN về TMĐT, tác giả bước đầu xác định được một số vấn đề chính cần nghiên cứu của đề tài như sau: - TMĐT ở Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển như thế nào? Nhà nước thực hiện quản lý TMĐT bằng các công cụ nào? Kết quả thực hiện nội dung QLNN về TMĐT ra sao? - Môi trường cho sự phát triển TMĐT ở Việt Nam đã hoàn thiện chưa? - Kinh nghiệm của thế giới đối với QLNN về TMĐT là gì? - QLNN về TMĐT ở Việt Nam có thể được đánh giá qua các tiêu chí nào? Phương pháp xây dựng các tiêu chí này? - Các giải pháp khắc phục những tồn tại trong QLNN về TMĐT là gì? Nội dung cụ thể của các biện pháp? Bước 2. Thiết kế câu hỏi phỏng vấn sâu đối tượng điều tra Căn cứ vào các vấn đề nghiên cứu đã dự kiến, tác giả thiết kế lưới câu hỏi phỏng vấn sâu các đối tượng là các chuyên gia, nhà quản lý về TMĐT (Phụ lục 1.1). Nội dung các câu hỏi được thiết kế như nhau cho các đối tượng phỏng vấn. Bước 3. Thực hiện phỏng vấn sâu Trong các buổi hội thảo có liên quan đến TMĐT và CNTT mà tác giả trực tiếp tham dự, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu một số chuyên gia tham dự hội thảo theo các câu hỏi đã được thiết kế. Bằng phương pháp phỏng vấn sâu các chuyên gia tác giả đã bước đầu xác định được 3 câu hỏi nghiên cứu của đề tài, các câu hỏi này là: i) Môi trường cho sự phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện nay đã đầy đủ chưa? Vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập môi trường này ? ii) Những vấn đề nào còn tồn tại trong QLNN về TMĐT ở Việt nam hiện nay iii) Các giải pháp hoàn thiện QLNN về TMĐT là gì?
- -13- Trên cơ sở trao đổi, phỏng vấn với các chuyên gia, tác giả cũng đã bước đầu xác định được các tiêu chí đánh giá nội dung QLNN về TMĐT, các tiêu chí được sử dụng để đánh giá bao gồm: tiêu chí hiệu lực, tiêu chí hiệu quả, tiêu chí phù hợp, và tiêu chí bền vững. Đồng thời qua trao đổi và nghiên cứu tài liệu, tác giả cũng xây dựng được bộ chỉ tiêu dùng để đo lường kết quả thực hiện từng tiêu chí 1.2.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận án để đo lường các kết quả thực hiện QLNN về TMĐT theo từng tiêu chí đồng thời kiểm tra tính phù hợp của các chỉ tiêu trong thang đo từng tiêu chí. Trên cơ sở bộ tiêu chí đã xây dựng thực hiện việc đánh giá các nội dung QLNN về TMĐT. Phương pháp nghiên cứu định lượng được tiến hành qua các bước sau: Thiết kế Xử lý và phân Xác định công cụ điều Điều tra tích số liệu mẫu điều tra tra, thu thập chính thức điều tra số liệu Hình 1.3. Các bước nghiên cứu định lượng Bước 1. Xác định mẫu điều tra Đối tượng điều tra là 300 DN đang triển khai TMĐT từ cấp độ 2 đến cấp độ 4 , trong đó: - Cấp độ 2. Có Website chuyên nghiệp: Website có nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, người xem có thể liên lạc với DN một cách thuận tiện. - Cấp độ 3. Chuẩn bị TMĐT: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay thực hiện các dịch vụ qua mạng. Tuy nhiên, DN chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên mạng. Các giao dịch còn chậm và không an toàn. - Cấp độ 4. Áp dụng TMĐT: doanh nghiệp có website của DN liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của DN, các hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả. Tên, địa chỉ của các DN được tác giả thu thập từ: - Cổng TMĐT quốc gia do Bộ công thương xây dựng và quản lý tại địa chỉ: . - Danh sách hội viên Hiệp hội TMĐT Việt Nam tại địa chỉ:
- -14- - Trung tâm TMĐT Việt Nam do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam xây dựng và quản lý tại địa chỉ: - Danh sách Website TMĐT uy tín được gắn nhãn TrustVn tại địa chỉ - Bảng xếp hạng 500 DN tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam do Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) và báo Vietnamnet đồng tiến hành nghiên cứu và công bố danh sách FAST500 với sự tư vấn của các chuyên gia, hội đồng cố vấn trong và ngoài nước. Danh sách được đăng tải tại địa chỉ: Đồng thời với quá trình thực hiện điều tra các tổ chức trên trên, tác giả cũng thực hiện điều tra đối với 100 cá nhân người tiêu dùng đang thực hiện giao dịch tại các sàn TMĐT C2C và B2C phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay như: ; ; ; Bước 2. Thiết kế công cụ điều tra, thu thập số liệu Phiếu điều tra được thiết kế cho 2 đối tượng chính: đó là các DN thực hiện TMĐT (Phụ lục 1.2) và cá nhân người tiêu dùng tham gia TMĐT (Phụ lục 1.3) Đối với các DN, cấu trúc phiếu điều tra gồm 3 phần chính (Phục lục 1.2 ) - Phần thông tin chung về DN điều tra (mục A trong phiếu điều tra): cung cấp các thông tin cơ bản về DN được điều tra như: loại hình DN, quy mô DN, lĩnh vực hoạt động, cấp độ ứng dụng TMĐT trong DN. - Phần câu hỏi chính ( mục B trong phiếu điều tra ): thu thập ý kiến trả lời của DN được điều tra nhằm mục đích đánh giá QLNN về TMĐT. Nội dung các câu hỏi được xây dựng theo từng cụm mục hỏi ứng với các tiêu chí đánh giá nội dung QLNN về TMĐT, cụ thể như sau: Tính hiệu lực của QLNN về TMĐT được đo lường qua cụm câu hỏi từ câu hỏi số 1 đến câu hỏi số 7 ( Phục lục 1.2, mục B). Tính hiệu quả của QLNN về TMĐT được đo lường và đánh giá qua các số liệu thứ cấp phù hợp, không thể hiện trong nội dung phiếu điều tra. Tính phù hợp của QLNN về TMĐT được đo lường qua cụm câu hỏi từ câu hỏi số 8 đến câu hỏi số 10. (Phục lục 1.2) Tính bền vững của QLNN về TMĐT được đo lường qua cụm câu hỏi từ câu hỏi 11 đến câu hỏi 13 (Phục lục 1.2 ) - Phần câu hỏi mở ( mục C trong phiếu điều tra ): nhằm thu thập các ý kiến về giải pháp hoàn thiện QLNN về TMĐT của DN được điều tra. (Phục lục 1.2)
- -15- Đối với cá nhân người tiêu dùng, nội dung phiếu điều tra được thiết kế nhằm thu thập các thông tin về mức độ tham gia, mức độ tin tưởng vào giao dịch TMĐT của người tiêu dùng (Phục lục 1.3) Để đo lường mức độ của thực hiện của từng chỉ tiêu trong mô hình đánh giá, tác giả sử dụng các thang đo tương ứng với từng tiêu chí. Bảng 1.1. Các thang đo sử dụng trong phiếu điều tra TT Chỉ tiêu Thang đo I Thông tin về doanh nghiệp 1.Vị trí công tác của Ông(Bà) trong DN 2.Loại hình DN 3.Quy mô DN Định danh 4.Lĩnh vực hoạt động 5. Cấp độ ứng dụng TMĐT trong DN hiện nay Các tiêu chí trong mô hình đánh giá nội dung II QLNN về TMĐT 1. Tiêu chí hiệu lực 2. Tiêu chí hiệu quả Liker 5 3. Tiêu chí phù hợp mức độ 4. Tiêu chí bền vững Thang đo Likert dùng để đo lường các tiêu chí đánh giá theo 5 mức độ đồng ý của người trả lời về các câu hỏi đưa ra trong phiếu điều tra. Mỗi mức độ đồng ý trong thang đo Likert tương ứng với số điểm từ 1 đến 5. Bảng 1.2.Thang đo Likert 5 mức độ sử dụng trong điều tra Rất Phân vân Mức độ Không Đồng Rất không (không biết có nên đồng ý đồng ý ý đồng ý đồng ý đồng ý hay không) Điểm 1 2 3 4 5 Mẫu phiếu điều tra được thiết kế theo hai hình thức là phiếu điều tra trực tiếp bằng văn bản và phiếu điều tra theo hình thức trực tuyến. Đối với hình thức điều tra trực tuyến, tác giả sử dụng công cụ tạo Form điều tra trực tuyến của hãng Google tại địa chỉ: Địa chỉ đường dẫn đến Form trả lời trực tuyến được lưu tại địa chỉ hòm thư của tác giả và gửi kèm theo email của đối tượng cần thu thập dữ liệu điều tra. Nội dung phiếu điều tra mẫu được gửi cho 10 đối tượng được lựa chọn trước để kiểm tra cách thể hiện và ngôn ngữ trình bày.
- -16- Sau khi có kết quả điều tra và thông tin phản hồi từ 10 đối tượng trên, tác giả tiếp tục hiệu chỉnh nội dung của từng mục hỏi trong phiếu trả lời để tạo thành phiếu điều tra chính thức. Thời gian trả lời bình quân một phiếu điều tra là 15 phút. Thời gian thực hiện điều tra được tác giả tiến hành trong 3 tháng, từ tháng 10 năm 2011 đến hết tháng 12 năm 2011 theo bảng tiến độ trong phụ lục 1.4. Bước 3. Điều tra chính thức Lập danh Liên hệ Theo dõi quá sách địa Gửi phiếu Tổng hợp với các trình trả lời chỉ cần điều tra kết quả đơn vị phiếu điều tra điều tra Hình 1.4. Các bước thực hiện điều tra chính thức Để chuẩn bị cho điều tra chính thức, tác giả tiến hành lập danh sách các địa chỉ cần điều tra bao gồm: tên đối tượng, địa chỉ đơn vị, điện thoại, địa chỉ email (các thông tin này lấy ở bước 1). Sau khi đã liên hệ với các đối tượng cần điều tra (bằng điện thoại và tiếp xúc trực tiếp), nếu đối tượng đồng ý trả lời trực tuyến thì tác giả gửi đường dẫn của Form điều tra đến email của đối tượng, nếu không đồng ý trả lời qua email thì tác giả gửi mẫu phiếu điều tra bằng văn bản trực tiếp đến đối tượng điều tra. Để trả lời phiếu điều tra trực tuyến, người trả lời chỉ cần Click chuột vào các lựa chọn đã đư ợc thiết kế sẵn trong mỗi mục hỏi sau đó ấn vào nút trả lời, kết quả sẽ được lưu trong một tệp dữ liệu kết quả trả lời phiếu điều tra (Phụ lục 1.6) Bước 4. Xử lý và phân tích số liệu điều tra Trong số 300 DN được hỏi thì có 240 DN nhận trả lời phiếu điều tra, 35 DN không đồng ý trả lời và 25 DN không liên lạc được bằng điện thoại. Trong số 240 DN nhận trả lời thì có 212 DN đã trả lời phiếu trả lời Online, 15 DN yêu cầu trả lời trực tiếp trên phiếu điều tra và 13 DN không có thông tin phản hồi. Vậy kết quả thu được là 227 phiếu trả lời của các đơn vị. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng các công cụ phân tích dữ liệu trong phần mềm SPSS như: thống kê mô tả; kiểm định thang đo. Sau khi mã hóa và làm sạch dữ liệu bằng cách loại bỏ các mẫu không trả lời đầy đủ các câu hỏi (8 phiếu) như vậy còn 219 phiếu trả lời hợp lệ (Phụ lục 1.5)
- -17- KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 TMĐT nói chung, QLNN về TMĐT nói riêng là một lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ ở Việt Nam, do đó việc tổng quan các công trình nghiên cứu sẽ cung cấp một bức tranh tổng thể về các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài luận án. Kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy tuy có nhiều công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước về TMĐT nói chung, QLNN về TMĐT nói riêng nhưng các công trình này chưa đề cập sâu tới các vấn đề lý luận QLNN về TMĐT, chưa có những giải pháp cụ thể để hoàn thiện các nội dung QLNN về TMĐT ở Việt Nam. Đây sẽ là những vấn đề chủ yếu mà luận án tập trung nghiên cứu. Để có được kết quả nghiên cứu một cách chính xác, khoa học việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu đóng vai trò hết sức quan trọng. Luận án lựa chọn ba phương pháp chủ yếu để sử dụng trong nghiên cứu đề tài luận án, đó là các phương pháp: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích định lượng. Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong các nội dung của luận án và đây cũng chính là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án. Bên cạnh phương pháp phân tích tổng hợp, luận án còn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu rất phổ biến trong khoa học kinh tế hiện đại, đó là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong luận án để xác định các câu hỏi nghiên cứu, xác định các tiêu chí đánh giá QLNN về TMĐT, thu thập ý kiến của các chuyên gia về những vấn đề còn tồn tại trong QLNN về TMĐT hiện nay đồng thời trao đổi về một số giải pháp hoàn thiện các nội dung QLNN về TMĐT ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận án để đo lường các kết quả thực hiện QLNN về TMĐT theo từng tiêu chí đồng thời kiểm tra tính phù hợp của thang đo từng tiêu chí.
- -18- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 2.1. Thương mại điện tử. 2.1.1. Khái niệm thương mại điện tử. Quá trình phát triển của TMĐT gắn liền với sự phát triển của CNTT và Internet. Bắt đầu từ năm 1995 khi thuật ngữ "electronic-commerce" được hãng máy tính IBM (International Business Machines) sử dụng thì những nghiên cứu về TMĐT mới chính thức được bắt đầu. Tuy đã thống nhất về mặt thuật ngữ song nếu chỉ dùng một định nghĩa ngắn gọn sẽ rất khó có thể nêu đầy đủ bản chất của TMĐT. Do vậy, định nghĩa về TMĐT cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Có thể hiểu khái niệm TMĐT theo hai nghĩa: Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp TMĐT là việc mua bán hàng hoá và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và mạng Internet. Theo cách hiểu này có một số khái niệm về TMĐT được các tổ chức, các nhà nghiên cứu đưa ra như sau: - Theo Kalakota & Whinston (1997) : "TMĐT là quá trình mua, bán và trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin thông qua hệ thống máy tính trên nền Internet"[35] - Theo European Information Technology Observatory (EITO, 1997) "TMĐT là quá trình thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn tới việc chuyển giao giá trị thông qua các mạng viễn thông"[22] - Theo Cục thống kê Hoa Kỳ, "TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian mà bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hoá và dịch vụ" (Cục thống kê Hoa Kỳ, 2000) [39] . Như vậy theo nghĩa hẹp, TMĐT bắt đầu bằng việc các DN sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa và dịch vụ, các giao dịch có thể giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cá nhân hoặc giữa cá nhân với cá nhân. Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng TMĐT là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến các tổ chức hay cá nhân, được thực hiện thông qua phương tiện điện tử. Nói khác hơn,
- -19- TMĐT là việc tiến hành hoạt động thương mại, sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lý thông tin số hoá. Theo các hiểu này có một số khái niệm về TMĐT được các tổ chức, các nhà nghiên cứu đưa ra như sau: Tổ chức Hợp tác & Phát triển Kinh tế - OECD (1997): "TMĐT gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ kiện đã được số hoá thông qua các mạng mở (như Internet) hoặc các mạng đóng có cổng thông với mạng mở"[31]. Nói khác hơn, TMĐT là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet, bán những hàng hoá và dịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạng hoặc những hàng hoá có thể mã hoá bằng kỹ thuật số và được phân phối thông qua mạng hoặc không thông qua mạng. Ủy ban của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển - UNCTAD : đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất để các nước có thể tham khảo làm chuẩn, tạo cơ sở xây dựng chiến lược phát triển TMĐT phù hợp với nước mình : Dưới góc độ doanh nghiệp "TMĐT là việc thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử"[40] Khái niệm này đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh chứ không chỉ giới hạn riêng ở việc mua và bán, đồng thời toàn bộ các hoạt động kinh doanh này được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ MSDP [40], trong đó: M - Marketing (có trang Web hoặc xúc tiến thương mại qua Internet) S - Sales (có trang Web hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng) D - Distribution (phân phối sản phẩm số hóa qua mạng) P - Payment (thanh toán qua mạng hoặc thông qua bên trung gian như ngân hàng) Như vậy đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng vào trong các hoạt động kinh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi là tham gia TMĐT. Dưới góc độ quản lý nhà nước, TMĐT bao gồm các lĩnh vực: I - Infrastructure: cơ sở hạ tầng cho sự phát triển TMĐT M - Data Message: thông điệp dữ liệu B - Basic Rules: các quy tắc cơ bản S - Specific Rules: các quy tắc riêng trong từng lĩnh vực A - Applications: các ứng dụng
- -20- Mô hình IMBSA đề cập đến các lĩnh vực cần xây dựng để phát triển TMĐT như sau: [40] I (Infrastructure): cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông. Một ví dụ điển hình là dịch vụ Internet băng rộng ADSL và cáp quang. Suy cho cùng, nếu không phổ cập dịch vụ Internet thì không thể phát triển TMĐT được. Chính vì vậy UNCTAD đã đưa ra lĩnh vực đầu tiên cần phải phát triển chính là cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, tạo nền tảng đầu tiên cho TMĐT. M (Data Message): các vấn đề liên quan đến thông điệp dữ liệu. Thông điệp dữ liệu chính là tất cả các loại thông tin được truyền tải qua mạng, qua Internet trong TMĐT. Ví dụ như hợp đồng điện tử, các đơn hàng, các chứng từ thanh toán điện tử đều được coi là thông điệp, chính xác hơn là "thông điệp dữ liệu". Tại hầu hết các nước, những thông điệp dừ liệu khi được sử dụng trong các giao dịch TMĐT đều được thừa nhận về mặt giá trị pháp lý. B (Basic Rules): các quy tắc cơ bản điều chỉnh chung về TMĐT. Đây chính là các luật điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến TMĐT trong một nước hoặc khu vực và quốc tế. S (Specific Rules): các quy tắc riêng điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu cảu TMĐT như chứng thực điện tử, chữ ký điện tử, ngân hàng điện tử (thanh toán điện tử). A (Applications): được hiểu là các ứng dụng TMĐT hay các mô hình kinh doanh TMĐT cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích để phát triển trên cơ sở đã giải quyết được bốn vấn đề nêu trên. Khi các điều kiện trên đã được đảm bảo, sự thành công của một chiến lược TMĐT cần được đảm bảo rằng các doanh nghiệp tham gia TMĐT có thể thực sự thu lợi từ môi trường đã được tạo ra. Thiết kế các trang web hiệu quả, thiết kế và thực thi các chiến lược liên minh thích hợp (gồm thông qua liên doanh hoặc liên minh) sẽ là một trong những điều kiện đảm bảo thành công trong TMĐT. Khái niệm TMĐT theo góc độ QLNN có hai điều đáng quan tâm. Thứ nhất, mô hình này là cơ sở để các chính phủ có thể xác định các nội dung cần có nhằm tạo ra một môi trường thích hợp cho sự phát triển của TMĐT. Thứ hai, dựa trên mô hình này, các tổ chức quốc tế có thể xác định phương hướng góp phần xây dựng hệ thống các hướng dẫn, các điều luật, các tiêu chuẩn, các qui định để TMĐT toàn cầu có thể trở thành hiện thực. Qua nghiên cứu các khái niệm về TMĐT cùng với mục tiêu là hoàn thiện QLNN về TMĐT nên luận án sử dụng khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng:
- -21- TMĐT là việc tiến hành một khâu hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động kinh doanh bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. 2.1.2. Các đặc trưng của thương mại điện tử So với các hoạt động thương mại truyền thống, TMĐT có một số điểm khác biệt cơ bản sau: * Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như chuyển tiền, séc hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo. Các phương tiện viễn thông như: fax, telex, chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh. Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữ hai đối tác của cùng một giao dịch TMĐT cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải quen biết với nhau. * Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu). Thị trường trong TMĐT là thị trường phi biên giới. Điều này thể hiện ở chỗ mọi người ở tất cả các quốc gia trên khắp toàn cầu không phải di chuyển tới bất kỳ địa điểm nào mà vẫn có thể tham gia và tiến hành giao dịch TMĐT bằng cách truy cập vào website TMĐT hoặc vào các trang mạng xã hội. * Trong hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực. Trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT. Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT. * Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với TMĐT thì mạng lưới thông tin là thị trường
- -22- Thông qua TMĐT, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành. Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các nhà trung gian ảo là các dịch vụ môi giới cho giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính. Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo! America Online hay Google đóng vai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng. Các trang Web này trở thành các “khu chợ” khổng lồ trên Internet. Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năng truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào hàng ngàn các cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao. Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một số các loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng. Nhiều người sẵn sàng trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đi tới tận cửa hàng. Một số công ty đã mời khách may đo quần áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet) rồi sau một thời gian nhất định nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình. Điều tưởng như không thể thực hiện được này cũng có rất nhiều người hưởng ứng. Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tin lên Web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên Web bằng cách mở cửa hàng ảo. 2.1.3. Các mô hình thương mại điện tử Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các mô hình TMĐT tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ đề cập đến tiêu thức phân loại theo đối tượng tham gia. Theo tiêu thức phân loại này có bốn chủ thể chính tham gia phần lớn vào các giao dịch TMĐT, đó là: Chính phủ (G), doanh nghiệp (B), khách hàng cá nhân (C), người lao động (E). Việc kết hợp các chủ thể này lại với nhau sẽ cho chúng ta những mô hình TMĐT khác nhau. 2.1.3.1.Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (Business to Business - B2B) B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa DN với DN. Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng TMĐT như mạng giá trị gia tăng VAN, SCM, các sàn giao dịch TMĐT B2B Các DN có thể chào hàng, tìm kiếm DN cung ứng, đặt hàng, ký kế hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Thương mại điện tử B2B đem lạo lợi ích rất thiết thực cho các DN, đặc biệt giúp các DN giảm chi phí về thông thu thập thông tin, tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán, tăng cường các cơ hội kinh doanh. 2.1.3.2.Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (Business to Consumer - B2C)
- -23- Đây là loại hình giao dịch giữa DN và người tiêu dùng qua các phương tiện điện tử. DN sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng. Để tham gia hình thức kinh doanh này, thông thường DN sẽ thiết lập Web site, hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. Thương mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho cả DN lẫn người tiêu dùng: DN tiết kiệm được chi phí bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm đáng kể. Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng mà chỉ cần ở bất kỳ nơi đâu và vào bất kỳ thời gian nào cũng có khả năng lựa chọn sản phẩm, so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc cũng như tiến hành việc mua hàng. 2.1.3.3.Thương mại điện tử giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (Consumer to Consumer - C2C) Đây là các giao dịch giữa các cá nhân người tiêu dùng với nhau. Sự phát triển của các phương tiện điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách là người bán, người cung cấp dịch vụ. Một cá nhân có thể tự thiết lập website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá một mặt hàng mình có. 2.1.3.4.Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (Business to Government - B2G) Là loại hình giao dịch giữa DN với cơ quan nhà nước trong đó nhà nước đóng vai trò khách hàng. Quá trình trao đổi thông tin giữa DN với cơ quan nhà nước được tiến hành thông qua các phương tiện điện tử. Cơ quan nhà nước cũng có thể thiết lập các website, tại đó đăng tải thông tin về nhu cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hóa, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website. 2.1.3.5.Thương mại điện tử giữa cơ quan nhà nước với người lao động (Government to Employee - G2E) Đây là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với các cá nhân người lao động trong xã hội. Đây chủ yếu là các giao dịch mang tính hành chính nhưng có thể mang những yếu tố của TMĐT. Ví dụ, khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí đăng ký hồ sơ trực tuyến, v.v 2.1.4. Lợi ích và các hạn chế của thương mại điện tử 2.1.4.1.Các lợi ích của thương mại điện tử a. Đối với các tổ chức
- -24- Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán được nhiêu sản phẩm hơn. Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia xẻ thông tin, chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống. Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng. Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua Web và Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện 24/7/365 mà không mất thêm nhiều chi phí biến đổi. Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá trị mới cho khách hàng. Mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công này. Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường. Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng, quan hệ với trung gian và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn. Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng cố lòng trung thành. Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá cả đều có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời. Chi phí đăng ký kinh doanh: Một số nước và khu vực khuyến khích bằng cách giảm hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng. Thực tế, việc thu nếu triển khai cũng gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù của Internet. Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ; tăng khả năng tiếp cận thông tin
- -25- và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt động kinh doanh. b. Đối với người tiêu dùng Từ góc độ của người mua hàng, TMĐT tạo sự thuận tiện hơn cả về không gian và thời gian, tăng khả năng lựa chọn do tiếp cận dễ dàng các mặt hàng, các dịch vụ, thu được thông tin phong phú hơn, từ đó có thể đáp ứng nhu cầu tốt hơn. Mặc dù họ phải bỏ thêm chút ít công sức khi mua hàng qua mạng, nhưng bù lại, họ có thể mua hàng tại nhà bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm. Internet cách mạng hoá marketing bán lẻ và marketing trực tiếp. Người tiêu dùng có thể mua sắm bất cứ sản phẩm nào của nhà sản xuất và những nhà bán lẻ trên khắp thế giới. Họ có thể xem xét các sản phẩm, thông tin về sản phẩm trên máy tính hay màn hình tivi, có thể lấy những thông tin này hay dùng nó để tạo ra những yêu cầu về các sản phẩm phù hợp với mình, đặt hàng và thanh toán Thêm vào đó, việc so sánh hàng hoá trên mạng cũng rất thuận lợi. Thời gian để người mua kiểm tra hàng loạt website thương mại chỉ bằng vài phần trăm lượng thời gian họ cần để gọi điện hoặc ghé thăm một vài cửa hàng hữu hình. Việc tìm kiếm những mặt hàng khan hiếm, ít người biết đến, như sách cổ, đồ cổ cũng trở nên dễ dàng hơn, thông qua việc ngồi một chỗ tra cứu danh mục sản phẩm của một thương hiệu, thay vì phải tới hết cửa hiệu này đến cửa hiệu khác. Trong nhiều trường hợp, các cửa hàng trên mạng cung cấp dịch vụ khách hàng tốt hơn những cửa hàng truyền thống, kể cả khi không có sự tương tác người - người trực tiếp. Khả năng tìm hiểu kiến thức cơ bản, hoặc trao đổi với nhân viên bán hàng qua Internet cao hơn. c. Đối với phạm vi toàn xã hội Đối với các quốc gia, hoạt động TMĐT có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời mang lại khả năng cải thiện môi trường hành chính và môi trường đầu tư. TMĐT cũng khiến Chính phủ các nước phải cải cách trên rất nhiều phương diện - từ phương diện quản lý, hoạch định chính sách như: thuế quan, hải quan, phân phối thu nhập, quản lý DN, chính sách thương mại quốc tế tới việc điều chỉnh phương hướng phát triển các ngành kinh tế quốc gia trong thời đại “số hóa” đang ngày càng mở rộng. Xét trên bình diện quốc gia, TMĐT sẽ tạo tiền đề để có thể sớm tiếp cận nền kinh tế số hóa hay nền kinh tế tri thức. TMĐT trực tiếp kích thích sự phát triển của ngành CNTT - một trong những ngành mũi nhọn trong nền kinh tế hiện đại, một ngành căn bản của “xã hội thông tin” hay “kinh tế tri thức”, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Đối với các nước đang phát triển, nếu không có một chiến lược thích hợp sẽ suy giảm sức cạnh tranh, ngày càng tụt hậu. Khía cạnh này
- -26- mang tính tiềm tàng, ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách công nghệ và tính chiến lược phát triển mà các nước đang phát triển cần quan tâm và phải đề ra một chiến lược kịp thời và phù hợp. Nếu nắm bắt được cơ hội, một nước đang phát triển có thể tạo ra một bước nhảy vọt, tiến kịp các nước đi trước trong một thời gian ngắn hơn, nếu không nguy cơ tụt hậu sẽ trở nên không thể cứu vãn. 2.1.4.2. Hạn chế của thương mại điện tử Có hai loại hạn chế của TMĐT, một nhóm mang tính kỹ thuật, một nhóm mang tính thương mại. Các hạn chế này là: [15,16] Hạn chế về kỹ thuật Hạn chế về thương mại 1. Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về chất 1. An ninh và tính riêng tư là hai cản trở lượng, an toàn và độ tin cậy về tâm lý đối với người tham gia TMĐT 2. Tốc độ đường truyền Internet vẫn 2. Thiếu lòng tin vào TMĐT và người chưa đáp ứng được yêu cầu của người bán hàng trong TMĐT do không được dùng, nhất là trong TMĐT gặp trực tiếp. 3. Các công cụ xây dựng phần mềm 3. Nhiều vấn đề về luật, chính sách thuế TMĐT còn nhiều hạn chế chưa được làm rõ. 4. Khó khăn khi kết hợp các phần mềm 4. Một số chính sách chưa thực sự hỗ TMĐT với các phần mềm ứng dụng và trợ tạo điều kiện để TMĐT phát triển các cơ sở dữ liệu truyền thống. 5. Cần có các máy chủ TMĐT đặc biệt 5. Các phương pháp đánh giá hiệu quả (công suất, an toàn) đòi hỏi thêm chi phí của TMĐT còn chưa đầy đủ đầu tư 6. Chuyển đổi thói quen của người tiêu 6. Chi phí truy cập Internet còn cao dùng từ thực đến ảo cần nhiều thời gian 7. Thực hiện các đơn đặt hàng trong 7. Sự tin cậy đối với môi trường kinh TMĐT B2C đòi hỏi hệ thống kho hàng doanh không giấy tờ, không tiếp xúc tự động lớn trực tiếp cần thời gian 8. Số lượng người tham gia chưa đủ lớn để đạt lợi thế về quy mô (hòa vốn và có lãi) 9. Số lượng gian lận ngày càng tăng do đặc thù của TMĐT
- -27- 2.2. Quản lý nhà nước về thương mại điện tử 2.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về thương mại điện tử Sự phát triển của TMĐT là kết quả tất yếu của quá trình "số hóa" các hoạt động thương mại trong nền kinh tế, trong đó các phương tiện điện tử được sử dụng như một công cụ để thực hiện các hoạt động thương mại trên môi trường điện tử. Như vậy bản chất của khái niệm "thương mại" trong TMĐT cũng tương tự như khái niệm thương mại của hoạt động thương mại truyền thống. Theo Luật Thương mại, thì "hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" Từ khái niệm về TMĐT cho thấy TMĐT chỉ khác hoạt động thương mại truyền thống ở phương thức tiến hành các hoạt động thương mại, TMĐT không phải là một lĩnh vực hoạt động riêng biệt mà là phương thức tiến hành hoạt động kinh doanh - thương mại trên môi trường điện tử. Như vậy QLNN về TMĐT chính là hoạt động QLNN về thương mại có gắn với các đặc trưng của TMĐT như đã nghiên cứu ở trên. Với quan điểm này, quản lý nhà nước về thương mại điện tử được hiểu là quá trình nhà nước sử dụng các công cụ quản lý của mình để tác động lên hoạt động thương mại trong môi trường điện tử nhằm đạt được các mục tiêu phát triển thương mại điện tử đã đặt ra. Hoạt động QLNN về TMĐT có các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về chủ thể quản lý: do tính chất đặc thù của TMĐT là thực hiện trên môi trường điện tử thông qua các phương tiện điện tử do đó TMĐT cần phải được đảm bảo bằng một hạ tầng công nghệ (đặc biệt là công nghệ thông tin và Internet). Do đó bên cạnh chủ thể quản lý trực tiếp là cơ quan QLNN về thương mại (Bộ Công thương) thì vai trò của cơ quan QLNN về CNTT và truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) là đặc biệt quan trọng trong việc tạo lập hạ tầng công nghệ cho sự phát triển của TMĐT. Công nghệ thông tin và TMĐT có mối quan hệ mật thiết, hay nói các khác CNTT là nền tảng phát triển của TMĐT. Dựa trên những ứng dụng, phương pháp và công cụ kỹ thuật của CNTT, nền tảng trang web, hình thức thanh toán, quy trình mua hàng sẽ được thiết lập nhằm mang lại cho khách hàng những trải nghiệm mua sắm trực tuyến tối ưu nhất. Do đó nếu không được đảm bảo bằng một hạ tầng công nghệ ổn định, hiện đại, theo kịp các xu hướng phát triển về công nghệ của thế giới thì TMĐT không thể phát triển. Thứ hai, về đối tượng quản lý: TMĐT được xem là sự phát triển tất yếu của thương mại trong nền kinh tế số hóa, là hình thức thể hiện của hoạt động thương mại trong môi trường điện tử. Bên cạnh các đối tượng tham gia quan hệ giao dịch giống
- -28- như giao dịch thương mại truyền thống còn xuất hiện thêm đối tượng thứ ba đó là các nhà cung cấp hạ tầng dịch vụ (dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông di động ), các tổ chức chứng thực điện tử (cung cấp chữ kí số, chứng thực số ) các đối tượng này tuy không trực tiếp tham gia vào các giao dịch TMĐT nhưng lại là nhân tố đảm bảo cho các giao dịch TMĐT thành công. Thứ ba, yếu tố môi trường điện tử trong hoạt động TMĐT luôn thay đổi một cách nhanh chóng, các hình thức kinh doanh trong TMĐT ngày càng đa dạng, phức tạp và luôn ứng dụng các công nghệ mới nhất. Điều này đã đặt ra một thách thức rất lớn trong hoạt động QLNN, đòi hỏi cơ quan QLNN về TMĐT phải luôn có những chính sách phù hợp để thích nghi kịp thời với những thay đổi này. 2.2.2. Mục tiêu quản lý nhà nước về thương mại điện tử Cũng như các hoạt động quản lý khác, QLNN về TMĐT khởi đầu với việc xác định mục tiêu; đây là căn cứ đầu tiêu của quá trình quản lý. Các mục tiêu của QLNN về TMĐT đều xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, căn cứ trên các mục tiêu này, mục tiêu QLNN về TMĐT bao gồm: Phát triển TMĐT theo hướng tiên tiến, hiện đại theo kịp các xu hướng phát triển TMĐT của thế giới nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN và năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển TMĐT gắn với phát triển thị trường trong nước và thị trường ngoài nước, tích cực tham gia vào các tổ chức TMĐT quốc tế. Đổi mới công tác xây dựng chiến lược quy hoạch và các chính sách TMĐT cho phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế trong nước và các thông lệ quốc tế nhằm đưa TMĐT trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho DN và nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 2.2.3. Chức năng quản lý nhà nước về thương mại điện tử Chức năng định hướng cho sự phát triển của TMĐT: sự định hướng này được thực hiện thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển TMĐT, các chương trình mục tiêu, các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Định hướng dẫn dắt sự phát triển của TMĐT còn được đảm bảo bằng hệ thống chính sách, sự tác động của hệ thống tổ chức quản lý TMĐT từ Trung ương đến địa phương. Chức năng tạo lập môi trường cho sự phát triển của TMĐT, các yếu tố môi trường nhà nước cần tạo lập là: môi trường kinh tế - xã hội; môi trường công nghệ; môi trường pháp luật trong đó yếu tố môi trường công nghệ là đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của TMĐT.
- -29- Chức năng điều tiết các hoạt động TMĐT: điều chỉnh mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia TMĐT bao gồm: người mua, người bán và nhà cung cấp dịch vụ; điều tiết việc phân bổ nguồn lực tài chính thực hiện các chương trình, dự án phát triển TMĐT. Chức năng kiểm soát hoạt động TMĐT, bao gồm kiểm soát sự phát triển theo các định hướng phát triển TMĐT đã đặt ra; kiểm soát việc thực hiện và chấp hành các chủ trương, chính sách và pháp luật về TMĐT của các đối tượng tham gia TMĐT trong nền kinh tế. 2.2.4. Nội dung quản lý nhà nước về thương mại điện tử QLNN về TMĐT là một bộ phận của QLNN về kinh tế do đó các nội dung QLNN về TMĐT cũng xuất phát từ các nội dung QLNN về kinh tế. Theo hướng tiếp cận từ quá trình quản lý, QLNN về TMĐT bao gồm các nội dung: (i) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển TMĐT; (ii) Xây dựng chính sách và ban hành pháp luật về TMĐT; (iii) Tổ chức thực hiện kế hoạch, chính sách phát triển TMĐT; (iv) Kiểm soát TMĐT. 2.2.4.1. Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển thương mại điện tử 2.2.4.1.1. Chiến lược thương mại điện tử Có thể hiểu chiến lược TMĐT là định hướng phát triển TMĐT quốc gia trong một thời kỳ tương đối dài với các mục tiêu tổng quát, cụ thể và hệ thống các giải pháp nhằm huy động tối đa các nguồn lực và tổ chức thực hiện trong thực tiễn để thực hiện các mục tiêu phát triển TMĐT mà Nhà nước đã đặt ra. Hệ thống chiến lược phát triển TMĐT trong nền kinh tế quốc dân bao gồm: - Chiến lược TMĐT quốc gia, chiến lược này do cơ quan QLNN về TMĐT hiện nay là Bộ công thương xây dựng và được Chính phủ phê duyệt. Chiến lược này thể hiện những quan điểm, các mục tiêu tổng quát và các giải pháp vĩ mô chủ yếu để phát triển TMĐT. - Chiến lược phát triển TMĐT của tỉnh (thành phố). Chiến lược này do Sở thương mại nghiên cứu xây dựng và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thông qua. - Chiến lược phát triển TMĐT của từng DN, đây là chiến lược phát triển TMĐT do các DN tự xây dựng phù hợp với đặc điểm, điều kiện phát triển TMĐT của mỗi DN. Chiến lược TMĐT quốc gia có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển TMĐT. Nhờ có chiến lược này mà TMĐT ở nước ta phát triển đúng hướng và đến được mục tiêu. Chiến lược này cũng giúp các nhà quản lý doanh nghiệp ứng dụng TMĐT chủ động thích nghi với môi trường, đồng thời chiến lược TMĐT quốc
- -30- gia sẽ đảm bảo tính đúng đắn, hợp lý của các chính sách, các quyết định của cơ quan QLNN về TMĐT. 2.2.4.1.2. Kế hoạch phát triển thương mại điện tử Kế hoạch phát triển TMĐT là các kế hoạch cụ thể nhằm chi tiết hóa các chiến lược phát triển TMĐT. Các kế hoạch phát triển TMĐT bao gồm hai loại kế hoạch chủ yếu: kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm. Kế hoạch trung hạn: (bao gồm các kế hoạch 3 năm, 5 năm) là phương tiện chủ yếu để cụ thể hoặc các mục tiêu và các giải pháp đã được lựa chọn trong chiến lược phát triển TMĐT. Kế hoạch trung hạn thường là các kế hoạch 5 năm trong đó chỉ rõ các mục tiêu và giải pháp cụ thể để triển khai chiến lược phát triển TMĐT. Kế hoạch hàng năm: là sự cụ thể hóa của kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển TMĐT của kế hoạch trung hạn. Kế hoạch hàng năm được xây dựng căn cứ vào mục tiêu, định hướng chiến lược, vào phương pháp, nhiệm vụ của kế hoạch trung hạn. 2.2.4.2. Xây dựng chính sách và ban hành pháp luật về thương mại điện tử 2.2.4.2.1. Chính sách thương mại điện tử Chính sách TMĐT là một bộ phận trong chính sách KT-XH của đất nước, nó quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển KT-XH nói chung, TMĐT nói riêng. Theo nghĩa rộng, chính sách TMĐT là một hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động TMĐT ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong chiến lược phát triển TMĐT. Chính sách TMĐT bao gồm các chính sách chủ yếu sau: a. Chính sách thương nhân Đây là chính sách rất quan trọng của cơ quan QLNN trong lĩnh vực thương mại nói chung, TMĐT nói riêng. Chính sách này quy định các điều kiện, thủ tục khi các thương nhân đăng ký thành lập Website TMĐT; quy định quyền hạn và nghĩa vụ của thương nhân khi tham gia TMĐT; quy định những lĩnh vực, ngành hàng thương nhân không được kinh doanh trong TMĐT; quy định những hành vi của thương nhân bị cấm trong hoạt động TMĐT. b. Chính sách bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT Mục tiêu của chính sách là bảo vệ các lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng khi họ tham gia TMĐT.
- -31- Bảo vệ người tiêu dùng có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển TMĐT, một chính sách bảo vệ người tiêu dùng tốt sẽ tạo ra niềm tin cho người tiêu dùng khi họ thực hiện các hoạt động TMĐT từ đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của TMĐT. Nội dung của chính sách bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT bao gồm: bảo vệ dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng khi họ thực hiện TMĐT; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi phát sinh các tranh chấp trong quá trình thực hiện giao dịch TMĐT; cơ chế giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện các giao dịch TMĐT. c. Chính sách thuế trong thương mại điện tử Chính sách thuế trong TMĐT quy định những khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và pháp nhân thực hiện TMĐT có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước. Mục đích chính yếu của chính sách thuế nói chung, thuế trong TMĐT nói riêng là phải đáp ứng yêu cầu ổn định và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Để đạt được mục tiêu này, hệ thống pháp luật thuế nói chung, thuế trong TMĐT thường được xây dựng trên một số nội dung sau đây: * Xác định phạm vi áp dụng: Về mặt kinh tế việc tăng nguồn thu cho ngân sách phụ thuộc chủ yếu vào việc mở rộng hay thu hẹp phạm vi áp dụng của từng luật thuế cụ thể. Để xác định phạm vi áp dụng của một luật thuế, thông thường các luật thuế hiện nay dựa trên hai tiêu chí cơ bản là: chủ thể nộp thuế và đối tượng chịu thuế. Thứ nhất, nếu lược bỏ những đặc điểm của chủ thể nộp thuế gắn với những đối tượng chịu thuế cụ thể ( ví dụ: thu nhập, tài sản, doanh thu) thì một cách khái quát ta có thể thấy, để xác định chủ thể nộp thuế, pháp luật thuế thường đề cập tới đặc điểm về quốc tịch và thường trú. Điều này thường phản ánh mối quan hệ có tính chất chính trị và pháp lý giữa chủ thể nộp thuế và quốc gia . Tiêu chí này có thể có các dạng chi tiết hơn, tuỳ từng trường hợp, như: công dân, người thường trú, nơi đăng ký pháp nhân, hoặc nơi quản lý hiệu quả nhất của pháp nhân. Để xác định những trường hợp như vậy người ta thường thiết kế trong các luật thuế các dấu hiệu hữu hình như thời gian sinh sống và làm việc, địa chỉ của trụ sở chính pháp nhân. Thứ hai, đối tượng chịu thuế trong hệ thống thuế hiện hành có thể là từ các hoạt động kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ chịu thuế, thu nhập hoặc tài sản. Bản chất của việc xác định đối tượng chịu thuế như vậy là căn cứ vào nguồn gốc hình thành đối tượng tính thuế dưới các dạng như doanh thu, lợi nhuận, thu nhập cá nhân, trị giá tài sản. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, mặc dù những đối tượng tính thuế như vậy có thể dễ dàng quan sát và nắm bắt thông qua các số liệu sổ sách, chứng từ hoá
- -32- đơn, nhưng về bản chất chúng là kết quả của các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể khác nhau. Vì vậy, trong quan hệ thuế người ta thường phải phân tích xem là nguồn gốc của việc chuyển dịch giá trị như vậy có trở thành một yếu tố cơ bản để thực hiện quyền thu thuế của quốc gia hay không. * Quản lý thuế: để quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế quy định việc sử dụng sổ sách, hóa đơn chứng từ theo mẫu được cơ quan thuế phát hành; quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan với cơ quan thuế. d. Chính sách phát triển nguồn nhân lực cho TMĐT TMĐT liên quan đến việc ứng dụng CNTT vào các giao dịch thương mại, do đó để có thể triển khai được hoạt động TMĐT thì đòi hỏi nguồn nhân lực cho hoạt động này cần phải hiểu rõ những kiến thức cơ bản về TMĐT. Điều này đồng nghĩa với việc phải có chính sách về tuyên truyền và đào tạo nguồn nhân lực cho TMĐT, phổ biến kiến thức chung cho mọi người dân về việc thực hiện các giao dịch TMĐT. Mục tiêu của chính sách là tạo ra được nguồn nhân lực có chất lượng cao hoạt động trong lĩnh vực TMĐT. Nội dung của chính sách nguồn nhân lực cho TMĐT bao gồm: hỗ trợ các đơn vị trong đào tạo nguồn nhân lực cho TMĐT, các hỗ trợ này bao gồm: hỗ trợ về xây dựng chương trình đào tạo; hỗ trợ về tài liệu đào tạo; hỗ trợ về đào tạo đội ngũ giảng viên; hỗ trợ hợp tác quốc tế trong đào tạo TMĐT. Hỗ trợ cho đào tạo nâng cao trình độ, năng lực quản lý cho đội ngũ thực hiện công tác QLNN về TMĐT ở cấp Trung ương và địa phương. e. Chính sách phát triển hạ tầng công nghệ cho thương mại điện tử Để phát triển TMĐT thì hai loại hạ tầng công nghệ không thể thiếu đó là hạ tầng CNTT & TT và công nghệ thanh toán trong TMĐT. Hạ tầng CNTT & TT: Chính sách phát triển hạ tầng CNTT & TT với mục tiêu là xây dựng được hạ tầng CNTT & TT hiện đại, an toàn, đồng bộ để đáp ứng được các yêu cầu phát triển của TMĐT. Các yếu tố trong hạ tầng CNTT & TT bao gồm: ngành công nghiệp thiết bị CNTT & TT (máy tính, thiết bị mạng ) đây là các yếu tố thuộc về "phần cứng" trong đầu tư cho TMĐT; ngành công nghiệp phần mềm; ngành viễn thông ( các hệ thống dịch vụ viễn thông cố định, di động ); Internet và các dịch vụ gia tăng dựa trên nền Internet. Chính sách phát triển hạ tầng CNTT & TT đáp ứng sự phát triển của TMĐT cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau: Cho phép người dân và các tổ chức, DN có thể sử dụng các thiết bị CNTT & TT như máy tính và các thiết bị xử lý;
- -33- Cho phép người dân và các tổ chức, DN tiếp cận và sử dụng dịch vụ viễn thông cơ bản và Internet với giá rẻ. Ngoài ra mọi DN, cộng đồng và công dân đều được kết nối và tiếp cận với cơ sở hạ tầng băng rộng; Thiết lập được các hệ thống mạng viễn thông cố định và không dây mạnh. Nâng cao chất lượng đường truyền với hệ thống băng rộng, cho phép các tổ chức và DN có thể sử dụng các dịch vụ chất lượng cao vào các ứng dụng TMĐT với chi phí chấp nhận được. Ngoài vệc đầu tư mới cho các máy móc thiết bị, việc nâng cấp các hệ thống thiết bị hiện thời là điều không thể thiếu vì các ứng dụng TMĐT ngày càng phức tạp, dung lượng dữ liệu cần truyền tải ngày càng lớn hơn do đó yêu cầu về mặt thiết bị và công nghệ cũng ngày càng cao hơn. Công nghệ thanh toán: Thanh toán trực tuyến là một trong những vấn đề cốt yếu của TMĐT. Thiếu hạ tầng thanh toán điện tử TMĐT sẽ khó có điều kiện để phát triển theo đúng nghĩa của nó. Một hệ thống thanh toán điện tử phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: Khả năng có thể chấp nhận được: cơ sở hạ tầng thanh toán phải được công nhận rộng rãi, môi trường pháp lý đầy đủ, bảo đảm quyền lợi cho cả khách hàng và doanh nghiệp, công nghệ áp dụng đồng bộ ở các ngân hàng cũng như tại các tổ chức thanh toán. An toàn và bảo mật cho các giao dịch tài chính qua mạng: các giao dịch tài chính luôn là mục tiêu cho các tội phạm, các đối tượng sử dụng thẻ tín dụng trái phép, các hacker do các dịch vụ trên Internet hiện nay được cung cấp toàn cầu với mọi tiện ích phục vụ cho mọi khách hàng, mọi thành phần trong xã hội. Chính vì vậy hệ thống thanh toán điện tử vừa phải đảm bảo tính khả dụng đồng thời cũng phải chống lại được sự tấn công để tìm kiếm thông tin mật, thông tin cá nhân hoặc điều chỉnh thông tin, thông điệp được truyền gửi. Giấu tên (nặc danh): nếu như được khách hàng yêu cầu thì đặc điểm nhận dạng của họ phải được giữ kín dù khách hàng đã cung cấp đầy đủ các thông tin để người bán được thanh toán. Phải đảm bảo không làm lộ các thông tin cá nhân của khách hàng. Khả năng có thể hoán đổi: tiền số có thể chuyển thành các kiểu loại quỹ khác. Có thể dễ dàng chuyển từ tiền điện tử sang tiền mặt hay chuyển tiền từ quỹ tiền điện tử về tài khoản của cá nhân. Từ tiền điện tử có thể phát hành séc điện tử, séc thật. Tiền số bằng ngoại tệ này có thể dễ dàng chuyển sang ngoại tệ khác với tỷ giá tốt nhất. Hiệu quả: chi phí cho mỗi giao dịch nên chỉ là một con số rất nhỏ (gần bằng 0), đặc biệt với những giao dịch giá trị thấp.
- -34- Tính linh hoạt: nên cung cấp nhiều phương thức thanh toán, tiện lợi cho mọi đối tượng. Tính tin cậy: hệ thống thanh toán phải luôn thích ứng, tránh những sai sót không đáng có, tránh cho nó không phải là mục tiêu của sự phá hoại. Tiện lợi, dễ sử dụng: nên tạo sự thuận lợi cho việc thanh toán trên mạng như trong thanh toán truyền thống. 2.2.4.2.2. Xây dựng và ban hành pháp luật về thương mại điện tử Để tiến hành tổ chức và quản lý nền kinh tế nói chung, các hoạt động TMĐT nói riêng, Nhà nước phải ban hành một hệ thống pháp luật kinh tế và văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực QLNN về kinh tế nói chung, QLNN về TMĐT nói riêng. Pháp luật về TMĐT là hệ thống các quy tắc có tính chất bắt buộc chung, thể hiện ý chí của các cơ quan QLNN về kinh tế nói chung, về TMĐT nói riêng, do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ nhằm phát triển TMĐT theo những mục tiêu đã định. Hệ thống pháp luật về TMĐT có vai trò vô cùng quan trọng đối với QLNN về TMĐT, vai trò này được thể hiện ở các điểm sau: Hệ thống pháp luật về TMĐT tạo tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong TMĐT, đảm bảo sự phát triển bền vững của TMĐT, tạo cơ sở để thực hiện các mục tiêu QLNN về TMĐT. Hệ thống pháp luật về TMĐT tạo cơ chế pháp lý hiện hữu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế tham gia TMĐT nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế quốc dân. Hệ thống pháp luật về TMĐT tạo cơ sở pháp lý cần thiết để kết hợp hài hòa phát triển TMĐT với sự phát triển chung của nền kinh tế. Các nghiên cứu trên thế giới đã khái quát năm vấn đề pháp lý về TMĐT cần được quy định trong pháp luật quốc gia gồm: - Thừa nhận các thông điệp dữ liệu: đưa ra các quy định pháp lý đối với các nội dung giao dịch thương mại qua các phương tiện điện tử; - Quy định kỹ thuật về chữ ký điện tử nhằm bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn, bảo mật của thông tin được trao đổi trong TMĐT; - Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong TMĐT; - Bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT; - Phòng chống tội phạm và các vi phạm trong TMĐT. a. Thừa nhận pháp lý đối với thông điệp dữ liệu Thông điệp dữ liệu là các thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu giữ bằng phương tiện điện tử. Thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu là cơ sở cho việc thừa nhận các giao dịch TMĐT, thể hiện dưới các khía cạnh:
- -35- có thể thay thế văn bản giấy (hoặc văn bản kèm chữ ký), có giá trị như bản gốc, có giá trị lưu trữ và chứng cứ, xác định trách nhiệm các bên và thời gian, địa điểm gửi, nhận thông điệp dữ liệu. Tài liệu giấy thông thường luôn được coi là cơ sở pháp lý đáng tin cậy, sao chụp được và không thể biến đổi trong các giao dịch sử dụng nó. Những cơ sở nêu trên cũng được thừa nhận đối với một tài liệu điện tử khi thoả mãn những quy định pháp luật yêu cầu thông tin phải dưới dạng chữ viết và có thể truy cập được.Để bảo đảm khả năng truy cập được, phần mềm sử dụng cho việc truy cập phải có khả năng bảo đảm việc lưu giữ tài liệu đó. Nhằm chứng minh ý định giao kết hợp đồng dưới dạng văn bản thông thường, toà án có thể căn cứ vào các bằng chứng ngoài hợp đồng như biên bản ghi những cuộc đàm phán giữa các bên. Theo cách này, pháp luật cần thừa nhận giá trị bằng chứng của thư điện tử hoặc bản ghi được lưu trữ trên phương tiện điện tử thể hiện ý định giao kết hợp đồng giữa các bên. Để xác định thời điểm và địa điểm gửi, nhận thông tin bằng phương tiện điện tử, pháp luật đưa ra phương pháp giả định. Theo đó, thời gian gửi tài liệu điện tử phụ thuộc việc người nhận có thông báo với người gửi về hệ thống thông tin được chỉ định trước hay không. Nếu có chỉ định trước, tài liệu điện tử sẽ được truyền theo thoả thuận đó, tài liệu coi là được nhận khi nó vào hệ thống thông tin được chỉ định. Trong các trường hợp khác, tài liệu sẽ được nhận khi nó lọt vào phạm vi kiểm soát của người nhận. Vị trí gửi, nhận được xác định là tại trụ sở kinh doanh. Việc gửi tài liệu điện tử sẽ được coi là diễn ra tại trụ sở kinh doanh của người gửi (hoặc nơi cư trú trong trường hợp không có trụ sở kinh doanh). Tương tự, việc nhận tài liệu được coi là diễn ra tại trụ sở kinh doanh của người nhận. Nếu một bên có nhiều trụ sở kinh doanh, vị trí gửi hoặc nhận sẽ là trụ sở kinh doanh có quan hệ gần gũi nhất với giao dịch được thực hiện. b. Quy định về chữ ký điện tử Chữ ký điện tử là một công nghệ cho phép xác nhận người gửi và bảo đảm tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu. Về bản chất, chữ ký điện tử tương đương chữ ký tay, có các thuộc tính như: khả năng nhận dạng một người, tạo tính chắc chắn về mối quan hệ của người đó với hành vi ký và cho thấy việc người đó chấp nhận nội dung tài liệu ký. Có nhiều loại chữ ký điện tử khác nhau như chữ ký số, chữ ký sinh trắc học, chữ ký dựa trên số nhận dạng cá nhân (số PIN), chữ ký tạo bằng thẻ thông minh Hiện nay, chữ ký số là loại chữ ký điện tử được sử dụng phổ biến nhất. Pháp luật TMĐT cần có các quy định thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, cụ thể hoá các tiêu chí kỹ thuật và xác định trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ
- -36- chứng thực điện tử. Có hai phương pháp xây dựng pháp luật về chữ ký điện tử: quy định chung dựa trên nguyên tắc trung lập về mặt công nghệ và quy định cụ thể về chữ ký số. c. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử Với sự xuất hiện của nhiều công nghệ mới, đặc biệt là các ứng dụng công nghệ thông tin, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng. Phần lớn các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ như tác phẩm văn học - nghệ thuật, tài liệu khoa học - kỹ thuật, chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu có tính sáng tạo, nhãn hiệu thương mại, bí mật thương mại, chỉ dẫn địa lý, thiết kế kiểu dáng công nghiệp đều có thể xuất hiện dưới hình thức cho phép truyền tải dễ dàng qua Internet và các mạng mở khác. Nhiều vấn đề mới liên quan tới tên miền; tính năng liên kết, dẫn chiếu giữa các tài liệu trên môi trường nối mạng, trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ mạng khiến các quy định về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trước đây không còn phù hợp. Việc hình thành những đối tượng quyền sở hữu trí tuệ mới như phần mềm máy tính và cơ sở dữ liệu nguồn đòi hỏi phải có những quy định mới thừa nhận và bảo hộ chúng, cách thức bảo hộ có thể như với đối tượng của quyền tác giả hay quyền sở hữu công nghiệp. Pháp luật cần chỉ rõ các thuộc tính cơ bản phân biệt với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác, xác lập các quyền nhân thân, quyền sở hữu và các nghĩa vụ liên quan, đưa ra các giới hạn, ngoại lệ đối với các quyền và nghĩa vụ, hình thành cơ chế xử lý vi phạm. Quyền sở hữu trí tuệ có thể được biểu hiện dưới dạng các ứng dụng công nghệ thông tin như tên miền, giao diện website, từ khoá sử dụng để tìm kiếm thông tin và các ứng dụng công nghệ thông tin khác. Do pháp luật chưa quy định cụ thể (chưa xác định chúng thuộc đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nào) nên không biết cơ chế bảo hộ. Ngoài ra, Internet và các mạng mở khác là môi trường lý tưởng cho việc trao đổi, chia sẻ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Một tác phẩm văn học có thể nhanh chóng bị phát tán trên Internet; các bí mật kinh doanh được lưu trên máy tính một công ty có thể bị tiết lộ ra bên ngoài qua kết nối Internet; một bản nhạc mới được phát hành, nếu đưa lên mạng thì ai cũng có thể tải về sử dụng Môi trường mới tác động đến các quyền và nghĩa vụ liên quan tới mọi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, pháp luật sở hữu trí tuệ phải hình thành các quy định thêm về giới hạn, ngoại lệ thực hiện các quyền và nghĩa vụ cho phù hợp. d. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong TMĐT Các đối tác tham gia vào một giao dịch TMĐT trên Internet hoặc các mạng mở khác không nhất thiết hoặc không thể gặp mặt nhau, họ tiến hành các giao dịch chủ
- -37- yếu thông qua những công nghệ mới và trong một môi trường khác biệt so với truyền thống. Thông thường, người tiêu dùng không biết rõ các thông tin về hàng hoá, dịch vụ được cung cấp như người bán, khả năng bị thiệt hại cao hơn, vì vậy cần có những quy định pháp luật bảo vệ họ. Bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT cần đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau: Bảo vệ minh bạch và hiệu quả; Phù hợp với thông lệ thị trường, quảng cáo và kinh doanh trung thực; Cung cấp các thông tin rõ ràng về doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, chi tiết giao dịch, quy trình xác nhận; Cơ chế thanh toán an toàn, dễ sử dụng và phải thông tin cho khách hàng về mức độ an toàn của cơ chế đó; Có các quy định về giải quyết tranh chấp và bồi thường và được bảo vệ bí mật cá nhân. e. Phòng chống tội phạm và những vi phạm trong thương mại điện tử Mạng Internet là một trong những thành tựu lớn nhất của loài người. Viễn thông, hệ thống ngân hàng, tiện ích công cộng và hệ thống xử lý khẩn cấp đều hoạt động trên mạng. Nhưng có những người sử dụng Internet vào mục đích xấu. Lịch sử tồn tại chưa lâu của Internet đã chứng kiến nhiều hành vi vi phạm. Mặc dù thường rất khó để xác định những động cơ của những hành vi vi phạm này, nhưng hậu quả của chúng làm giảm niềm tin vào hệ thống Internet. Tội phạm trên mạng là những hành vi xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thông qua việc sử dụng máy tính. Tội phạm trên mạng có thể được phân thành: tội phạm trên mạng chống lại con người, tài sản và chính phủ. Tội phạm trên mạng chống lại con người bao gồm việc truyền gửi những văn hoá phẩm đồi truỵ hoặc quấy rối tình dục có sử dụng một máy tính. Tội phạm trên mạng chống lại tài sản bao gồm việc xâm phạm máy tính bất hợp pháp qua không gian trên mạng, phá hoại hệ thống máy tính, truyền gửi những chương trình gây hại, sở hữu những thông tin máy tính bất hợp pháp. Các hành vi vi phạm trong TMĐT bao gồm các hành vi:lợi dụng TMĐT để lừa đảo; giả mạo thông tin của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác để tham gia hoạt động TMĐT; không triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn, bảo mật cho giao dịch thanh toán của khách hàng. 2.2.4.3. Tổ chức thực hiện kế hoạch và chính sách phát triển thương mại điện tử
- -38- Đây là giai đoạn triển khai các kế hoạch và chính sách phát triển TMĐT vào thực tiễn. Giai đoạn này bao gồm các công việc: truyền thông và tư vấn, triển khai các chương trình, dự án phát triển; vận hành các quỹ; phối hợp hoạt động. Truyền thông và tư vấn: các cơ quan tổ chức thực thi cần vận hành hệ thống truyền thông, tư vấn đại chúng và chuyên môn để tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện các kế hoạch, chính sách phát triển TMĐT, giúp cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng hiểu được các nội dung của kế hoạch, chính sách để từ đó ủng hộ việc thực hiện các kế hoạch và chính sách một cách tự nguyện. Do TMĐT là hoạt động mới mẻ với hầu hết các DN và người tiêu dùng nên hoạt động truyền thông và tư vấn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc triển khai và thực hiện các chính sách phát triển TMĐT. Nội dung của công tác truyền thông và tư vấn bao gồm: Tuyên truyền về các lợi ích TMĐT từ đó làm thay đổi căn bản nhận thức của DN và người tiêu dùng về TMĐT; Tuyên truyền về nội dung các chính sách, văn bản pháp luật về TMĐT; Phổ biến, tuyên truyền các kiến thức căn bản về TMĐT cho DN và toàn xã hội. Triển khai các chương trình, dự án phát triển TMĐT: các chương trình, dự án phát triển được coi là công cụ đặc biệt quan trọng để triển khai các chính sách phát triển TMĐT nhằm hướng tới kết quả cuối cùng và tập trung nguồn lực vào các khâu xung yếu nhất của chính sách. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của các chương trình và dự án, hoạt động triển khai phải được đặc biệt quan tâm. Theo kinh nghiệm của các nước, để triển khai có hiệu quả TMĐT, Chính phủ cần xây dựng bốn chương trình cơ bản sau: (i) Xây dựng hạ tầng công nghệ cho TMĐT; (ii) Xây dựng cơ sở pháp lý cho TĐT; (iii) Xây dựng hạ tầng nhân lực cho TMĐT; (iv) Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội cho TMĐT. Vận hành các quỹ: đây thực chất là quy trình quản lý việc sử dụng kinh phí dùng cho việc thực hiện chính sách. Điều quan trọng là phải đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với các quỹ để có thể tập trung được các nguồn lực khác nhau cho việc thực hiện các mục tiêu của chính sách một cách thực sự nghiêm ngặt và hiệu quả. Phối hợp hoạt động: các kế hoạch, chính sách phát triển TMĐT thường được triển khai bởi nhiều chủ thể, từ các cơ quan QLNN cho đến các tổ chức ngoài Nhà nước nên cần phải phối hợp hoạt động của họ để có thể huy động được tối đa sức mạnh của các lực lượng.
- -39- Do tính chất không biên giới của TMĐT nên trong quá trình phối hợp hoạt động các cơ quan QLNN cần trú trọng đến vấn đề hợp tác quốc tế trong TMĐT bằng cách tham gia vào các tổ chức quốc tế về TMĐT. 2.2.4.4. Kiểm soát thương mại điện tử Kiểm soát TMĐT là tổng thể những hoạt động của cơ quan QLNN nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển TMĐT nhằm đảm bảo cho hoạt động TMĐT tuân theo đúng các định hướng, mục tiêu phát triển TMĐT đã đề ra. Kiểm soát TMĐT bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Kiểm soát sự phát triển TMĐT theo các định hướng trong chiến lược phát triển TMĐT. Cơ sở để thực hiện hoạt động này là các chiến lược, kế hoạch phát triển như: chiến lược phát triển TMĐT quốc gia, các chiến lược phát triển khác có liên quan như: chiến lược phát triển CNTT quốc gia, chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia v.v Mỗi sự sai lệch quá mức độ so với các mục tiêu trong các chiến lược và kế hoạch trên đều cần có sự điều chỉnh nhất định Kiểm soát việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với TMĐT: hoạt động kiểm soát nhằm đảm bảo việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước về TMĐT. Kiểm soát việc thực hiện các chức năng của cơ quan QLNN trong lĩnh vực TMĐT: nội dung kiểm soát này nhằm đảm bảo tính trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan QLNN về TMĐT Các hình thức kiểm soát TMĐT bao gồm: kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, kiểm toán nhà nước. Trong số các hình thức này thì hình thức kiểm tra TMĐT có vai trò đặc biệt quan trọng. Đối với hình thức kiểm tra TMĐT, chủ thể thực hiện hoạt động kiểm tra là thanh tra chuyên ngành TMĐT, trong quá trình kiểm tra có thể kết hợp với thanh tra của các đơn vị khác như thanh tra chuyên ngành công nghệ thông tin, thanh tra chuyên ngành văn hóa - xã hội Đối tượng kiểm tra chính là các DN đang thực hiện các hoạt động TMĐT, là các đơn vị cung cấp hạ tầng công nghệ cho TMĐT. Để bảo đảm việc kiểm tra có hiệu quả, chủ thể kiểm tra cần phải xác định nội dung kiểm tra, đề ra các tiêu chuẩn kiểm tra, lựa chọn các phương pháp kiểm tra, đo lường các kết quả thực hiện, so sánh các kết quả đó với các mục tiêu trong kế hoạch phát triển TMĐT đã đặt ra từ đó xác định các nguyên nhân sai lệch và đưa ra các giải pháp khắc phục. Nội dung kiểm tra TMĐT bao gồm các nội dung: kiểm tra sự phát triển của TMĐT theo các định hướng và mục tiêu trong chiến lược phát triển TMĐT quốc gia;
- -40- Kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước về TMĐT; Kiểm tra việc thực hiện chức năng của các các cơ quan QLNN về TMĐT; Kiểm tra tính hợp lý của các công cụ, chính sách pháp luật về TMĐT để đảm bảo tính chất thúc đẩy của các công cụ này. Để thực hiện hoạt động kiểm tra có thể lựa chọn các phương pháp kiểm tra như: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất. Do đặc thù của hoạt động TMĐT nên có thể thực hiện hình thức kiểm tra trực tuyến các hoạt động TMĐT của đối tượng cần kiểm tra. 2.2.5. Bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử 2.2.5.1. Khái niệm bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử Bộ máy QLNN về TMĐT là một bộ phận cấu thành của bộ máy QLNN về kinh tế, mang tính độc lập tương đối, bao gồm các cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý TMĐT từ trung ương đến địa phương. 2.2.5.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử QLNN về TMĐT được thực hiện chủ yếu ở 2 cấp đó là cấp Trung ương và cấp địa phương a. Ở cấp Trung ương, cơ quan QLNN về TMĐT chính là các cơ quan QLNN ở cấp Trung ương, các cơ quan này bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước Việt Nam. Bên cạnh các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, trong lĩnh vực QLNN về TMĐT, Quốc hội có quyền thông qua các bộ luật để điều chỉnh hoạt động TMĐT như: Luật giao dịch TMĐT, Luật Công nghệ thông tin; có quyền phê duyệt các chiến lược, kế hoạch phát triển TMĐT. Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân: là các cơ quan tư pháp có nhiệm vụ pháp chế, bảo vệ chế độ và quyền là chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tư do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Tòa án nhân dân được lập ra để xét xử và giải quyết các vụ việc kinh tế, dân sự, lao động, hành chính, hình sự, nhằm bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật. Chính phủ là "cơ quan chấp hành của quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"[45]. Bên cạnh các chức năng quản lý khác, trong lĩnh vực TMĐT, Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau: Ban hành các văn bản pháp quy dưới luật (nghị định, quyết định) để điều chỉnh các hoạt động TMĐT; Xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển TMĐT để trình Quốc hội phê duyệt; chỉ đạo thực hiện các kế hoạch đó;
- -41- Lập dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm về TMĐT. Giúp Chính phủ thực hiện các chức năng QLNN về TMĐT là các Bộ và cơ quan ngang Bộ. Với các đặc trưng của TMĐT đã nêu ở trên, để quản lý hoạt động TMĐT cần có sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý có chức năng quản lý khác nhau, các cơ quan này bao gồm: cơ quan QLNN về thương mại; cơ quan QLNN về CNTT và Truyền thông, về an toàn, an ninh mạng; cơ quan QLNN về hạ tầng công nghệ thanh toán trong TMĐT. Cơ quan QLNN về thương mại thực hiện việc tổ chức và quản lý toàn diện hoạt động TMĐT ở tầm vĩ mô thông qua các công cụ và các biện pháp quản lý nhằm định hướng, tạo khuôn khổ chung cho hoạt động thương mại của các chủ thể tham gia TMĐT. Cơ quan QLNN về CNTT và Truyền thông, về an toàn an ninh thông tin là đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng và đảm bảo hạ tầng công nghệ thông tin cho sự phát triển của TMĐT như: hạ tầng Internet, các mạng viễn thông di động, phát triển công nghiệp phần cứng, xây dựng các trung tâm chứng thực số quốc gia Quản lý an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT nói chung và TMĐT nói riêng. Cơ quan QLNN về hạ tầng công nghệ thanh toán có trách nhiệm tổ chức, quản lý và giám sát hoạt động của các hệ thống thanh toán, đảm bảo các hệ thống thanh toán hoạt động an toàn và hiệu quả, tăng cường các tiện ích thanh toán điện tử phục vụ cho các hoạt động TMĐT. b. Ở cấp địa phương: ở các địa phương, UBND các cấp thực hiện QLNN về TMĐT trong phạm vi của địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ. Sở Công thương là cơ quan tham mưu, trực tiếp giúp UBND thực hiện QLNN về TMĐT trong phạm vi địa phương. Sở Công thương không can thiệp vào quyền tự chủ của các chủ thể kinh tế tham gia TMĐT nhưng phải làm đầy đủ chức năng tham mưu cho UBND về QLNN trong lĩnh vực TMĐT của địa phương. 2.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thương mại điện tử 2.2.6.1. Các yếu tố nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử. Các yếu tố này bao gồm: nguồn nhân lực; nguồn lực tài chính; nguồn lực vật chất. Nguồn nhân lực của cơ quan QLNN về TMĐT được thể hiện qua chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý về TMĐT ở Trung ương và địa phương như: trình độ



