Luận án Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud

pdf 169 trang ngocly 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfluan_an_loi_song_tieu_cuc_cua_mot_bo_phan_gioi_tre_viet_nam.pdf

Nội dung text: Luận án Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud

  1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG LèI SèNG TI£U CùC CñA MéT Bé PHËN GIíI TRÎ VIÖT NAM HIÖN NAY D¦íI L¡NG KÝNH HäC THUYÕT HµNH VI CON NG¦êI CñA FREUD LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ HÀ NỘI - 2015
  2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG LèI SèNG TI£U CùC CñA MéT Bé PHËN GIíI TRÎ VIÖT NAM HIÖN NAY D¦íI L¡NG KÝNH HäC THUYÕT HµNH VI CON NG¦êI CñA FREUD LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ Mã số: 62 22 03 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. NGUYỄN TRỌNG CHUẨN HÀ NỘI - 2015
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định. Tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng
  4. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8 1.1. Những nghiên cứu về giới trẻ và lối sống của giới trẻ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 8 1.2. Tổng quan các nghiên cứu về học thuyết Freud ở Việt Nam 16 1.3. Giá trị tham khảo của các công trình nghiên cứu trong tổng quan và những vấn đề luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu 34 CHƯƠNG 2: LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ KHÁI LƯỢC HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD 38 2.1. Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay 38 2.2. Khái lược học thuyết hành vi con người của Freud 52 CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD ĐỂ PHÂN TÍCH NHỮNG BIỂU HIỆN LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY 77 3.1. Hành xử bạo lực từ góc nhìn của xung lực bản năng eros và thanatos 78 3.2. Vấn nạn đua xe trái phép từ góc nhìn triết học của tâm lý học đám đông của Freud 88 3.3. Đồng tính luyến ái với cách nhìn nhận của Freud 107 CHƯƠNG 4: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG, NHẰM HẠN CHẾ LỐI SỐNG TIÊU CỰC CHO GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY 116 4.1. Một số giá trị trong học thuyết hành vi con người của Freud 116 4.2. Một số hạn chế trong học thuyết hành vi con người của Freud 125 4.3. Một số giải pháp có tính định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay 128 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 152 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
  5. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN APA : American Psychological Assosiation - Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ ĐH : Đại học ĐTLA : Đồng tính luyến ái GS : Giáo sư NCS : Nghiên cứu sinh NCKH : Nghiên cứu khoa học Nxb : Nhà xuất bản LGBT : Viết tắt tiếng Anh của các từ: L là của Lesbian - đồng tính nữ G là của Gay - đồng tính nam B là của Bisexual - những người lưỡng giới, ái nam, ái nữ T là của Transsexual - những người chuyển đổi giới PTCS : Phổ thông cơ sở PTTH : Phổ thông trung học SAVY1 : Viết tắt của Survey Assessment of Vietnamese Youth 1 - Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam, do UNICEF, WHO, Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2003 SAVY2 : Viết tắt của Survey Assessment of Vietnamese Youth 2 - Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam, do UNICEF, WHO, Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2010 TDĐG : Tình dục đồng giới TLĐĐ : Tâm lý đám đông TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh TS : Tiến sĩ
  6. 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới thế hệ trẻ. Người khẳng định, thanh thiếu niên là chủ nhân tương lai của đất nước. Trong bản Di chúc để lại cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, khi nói về thanh niên, Người căn dặn:“Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [94, tr.498]. Thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ và tiếp tục sự nghiệp trồng người của Bác, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đặt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ lên hàng đầu. Có rất nhiều các định hướng, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết, chương trình hành động dành cho thanh niên. Đặc biệt, khi bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, sự quan tâm đó càng được chú trọng hơn. Đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa đã đưa đất nước ta thay đổi mọi mặt về kinh tế - xã hội và đã thu được những thành tựu quan trọng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong bối cảnh đó, thế hệ trẻ Việt Nam có rất nhiều cơ hội học tập, nâng cao trình độ, tham gia đóng góp sức lực của mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Những thành tựu mà chúng ta đạt được có phần đóng góp đáng kể của thế hệ trẻ. Tuy nhiên, hội nhập và toàn cầu hóa cũng gây ra những khó khăn và thách thức không nhỏ cho đất nước nói chung và thế hệ trẻ nói riêng. Thực tế cho thấy, thế hệ trẻ rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương trong thời kỳ hội nhập này. Khoa học công nghệ mới, các phương tiện truyền thông tiên tiến, giao lưu quốc tế rộng mở là điều kiện tốt cho giới trẻ tiếp cận nhanh chóng những mặt ưu việt, tích cực của thế giới hiện đại, đồng thời họ cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những mặt tiêu cực của nó. Những tiêu cực này lan tỏa trong lối sống của một bộ phận giới trẻ như những virus gậm nhấm tinh thần và thể chất của họ. Có nhiều xu hướng sống khác nhau đang len lỏi trong mọi thành phần của giới trẻ như: học sinh phổ thông, sinh viên, công nhân, viên chức, thanh thiếu niên ở thành thị, nông thôn và miền núi. Từ tình trạng lười học tập,
  7. 2 lười lao động tới ăn chơi đua đòi, sống buông thả bản thân, sống thác loạn với các tệ nạn ma túy, mại dâm, sinh hoạt theo kiểu bầy đàn rồi đi tới tuyệt vọng, bế tắc, mất phương hướng. Tình dục đồng giới, chuyển giới, thậm chí hôn nhân đồng giới trong giới trẻ có xu hướng ngày càng gia tăng. Lối sống ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; không quan tâm tới người khác; không quan tâm tới tương lai, vận mệnh đất nước; không quan tâm tới chính trị, tư tưởng, khác hẳn với tính cách vốn có của thanh niên trước đây. Tình trạng bạo lực, coi thường pháp luật, tội phạm vị thành niên, tội phạm học đường ngày càng phát triển và diễn biến phức tạp với nhiều dạng rất nguy hiểm như hành động của các kẻ sát nhân máu lạnh trẻ tuổi Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Nghĩa, Nguyễn Hải Dương trong mấy năm gần đây. Tình hình trên đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục chính trị tư tưởng cho thế hệ trẻ. Cùng với các biện pháp nhằm từng bước đẩy lùi sự lây lan của lối sống tiêu cực này, nhiều cuộc điều tra xã hội học đánh giá thực trạng, nhiều nghiên cứu về thanh thiếu niên đã được tiến hành. Việc mổ xẻ tìm nguyên nhân của hiện tượng này dưới góc nhìn của các lĩnh vực khoa học khác nhau như tâm lý học, xã hội học, tội phạm học cũng đã có. Tuy nhiên, trước những diễn biến vô cùng phức tạp với hình thức lan truyền của dạng virus khó kiểm soát, cùng với mối nguy hiểm như tảng băng trôi, các nghiên cứu đánh giá về thực trạng và nguyên nhân lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Hầu hết các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào những nguyên nhân ngoại sinh với các tác động ngoại cảnh như ảnh hưởng của du nhập lối sống ngoại lai, văn hóa phẩm, sách báo, phim ảnh độc hại trên internet, giáo dục bất cập của nhà trường và gia đình Do vậy, còn cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn và đa dạng hơn với nhiều cách tiếp cận khác nhau, để từ đó có các đánh giá đúng đắn và tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục căn bệnh phát sinh từ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay. Người có công lớn nhất nghiên cứu khám phá tâm lý hành vi con người và các nghiên cứu của ông đã được nâng lên thành học thuyết là Sigmund Freud (1856- 1939). S.Freud là nhà khoa học mà tên tuổi của ông được đặt bên cạnh những tên tuổi vĩ đại khác như Archimedes, G. Galilei, I. Newton, A. Einstein Công lao to lớn của Freud và là cơ sở của học thuyết mang tên ông (còn được gọi là học thuyết
  8. 3 phân tâm - Psychoanalysis) là khám phá ra vô thức như một tầng tư duy nền tảng mà ông coi là định hình và định hướng cho mọi hành vi của con người. Đánh giá về học thuyết Freud có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau, thậm chí có những ý kiến đối lập nhau. Tuy nhiên, mọi người đều thừa nhận rằng, học thuyết Freud có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của thế giới ngày nay như tâm lý học, triết học, xã hội học, luật học, văn học nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục, tội phạm học, v.v Khám phá về vô thức của Freud là một cuộc cách mạng trong nhận thức về bản chất của hành vi con người, bởi trước đó người ta vẫn có xu hướng đề cao ý thức như phần tư duy chủ yếu của con người. Freud cấu trúc bộ máy tư duy của con người thành ba thành phần vô cùng quan trọng là vô thức, tiền ý thức và ý thức với ba thành tố là cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi (superego). Các thành phần này được kích hoạt bởi xung lực bên trong của mỗi con người, Freud gọi đó là libido, là năng lực tính dục nguyên thủy, đó là nguồn gốc dẫn tới mọi hành vi của con người. Từ libido, Freud đã xác định được hai bản năng đối lập song lại gắn bó với nhau là eros, được gọi là bản năng sống, đó là những ham muốn, dục vọng và đòi hỏi sự sinh tồn của con người và thanatos, được gọi là bản năng chết là nguồn gốc dẫn tới hành vi giận dữ, đập phá, hủy hoại, bạo lực, chém giết bất chấp mọi nguyên tắc, kỷ cương, luật pháp. Những luận thuyết cơ bản nêu trên cùng với các luận đề quan trọng của học thuyết Freud như tâm lý đám đông, tình dục đồng giới đều có thể vận dụng để lý giải tìm căn nguyên hành vi, lối sống của con người. Từ góc độ triết học có thể vận dụng học thuyết hành vi con người của Freud như là một lăng kính để phân tích, nhận diện các hành vi lối sống tiêu cực, suy thoái đạo đức, ham vật chất, hành xử bạo lực, coi thường pháp luật của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Khác với cách tiếp cận theo hướng chỉ tìm hiểu từ nguyên nhân ngoại sinh mà các nghiên cứu hiện nay về lối sống của giới trẻ thường tiếp cận, NCS cố gắng tìm hiểu nguyên nhân nội sinh, tức là đi tìm hiểu bản năng gốc rễ của mỗi con người hoặc mỗi nhóm cộng đồng đã hình thành hành vi tính cách của mình để lý giải hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ.
  9. 4 Tuy nhiên, cũng cần hiểu rõ thêm rằng, bản năng gốc rễ luôn tồn tại tiềm ẩn trong mỗi con người và là khởi nguồn cho tính cách, hành vi tốt hay xấu của con người. Ở thời đại nào cũng vậy, con người nói chung và giới trẻ nói riêng, đều bộc lộ ở các mức độ khác nhau những hành vi tích cực hoặc tiêu cực của mình. Nhưng vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, bản năng gốc rễ dẫn tới hành vi tiêu cực nằm trong con người, nằm trong giới trẻ có điều kiện trỗi dậy và bùng phát mạnh mẽ hơn trước đây. Như vậy, có thể thông qua lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud để lý giải hành vi và lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay và từ đó tìm được một phần nguyên nhân của căn bệnh đang tiến triển xấu của một bộ phận giới trẻ này. Tìm được nguyên nhân của căn bệnh sẽ là cơ sở cho cách điều trị hiệu quả hơn và tăng sức đề kháng cho giới trẻ. Với ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn cấp thiết như trên, nghiên cứu sinh chọn Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud để viết luận án tiến sĩ triết học. Nghiên cứu sinh mong muốn rằng, luận án này sẽ hòa cùng với những nghiên cứu theo cách tiếp cận khác có thể, để tạo nên bức tranh chung nhiều mặt, đa sắc màu và rõ nét hơn về lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay cùng cách thức hạn chế nó. 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích những biểu hiện lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay, từ góc nhìn của học thuyết hành vi con người của Freud, luận án phân tích, lý giải căn nguyên gốc rễ từ nội sinh trong con người dẫn đến những hành vi lối sống tiêu cực ấy; từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau: Một là, tìm hiểu thực trạng lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay và chọn những lối sống điển hình trong số đó để phân tích, lý giải. Hai là, khái quát hóa những nội dung cơ bản của học thuyết hành vi con người của Freud được vận dụng để nghiên cứu.
  10. 5 Ba là, từ các luận thuyết, luận đề phù hợp trong học thuyết hành vi con người của Freud, nhận diện, phân tích, lý giải căn nguyên của một số lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Bốn là, phân tích, chỉ ra những mặt giá trị và mặt hạn chế trong học thuyết hành vi con người của Freud và đề xuất một số giải pháp có tính định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng nghiên cứu - Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay, bao gồm thanh niên và thiếu niên trong độ tuổi học đường. - Các luận thuyết cơ bản và các luận đề chính của học thuyết Freud được chọn để phân tích vận dụng. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu những luận thuyết cơ bản của học thuyết hành vi con người của Freud về vô thức, về cấu trúc bộ máy tâm lý, về libido, về cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi, về bản năng eros và thanatos cùng các luận đề về tâm lý đám đông, về tình dục đồng giới. Từ đó soi rọi tìm ra căn nguyên hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam và đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm hạn chế lối sống tiêu cực của giới trẻ. - Nghiên cứu tập trung vào lối sống tiêu cực phổ biến của một bộ phận giới trẻ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, do có nhiều lối sống khác nhau trong đó có nhiều dạng biểu hiện của lối sống khác nhau và học thuyết Freud lại rất rộng lớn, đề cập tới nhiều vấn đề, nên luận án chỉ tập trung đi sâu vào ba lối sống tiêu cực điển hình với những dạng biểu hiện được lựa chọn mà có thể vận dụng các luận thuyết phù hợp của học thuyết hành vi con người của Freud để phân tích, lý giải. Đó là: + Lối sống hành xử bạo lực coi thường pháp luật với dạng biểu hiện được lựa chọn là hành xử bạo lực. + Lối sống hời hợt, a dua đua đòi với dạng biểu hiện được lựa chọn là đua xe trái phép, luận án gọi là vấn nạn đua xe trái phép. + Lối sống buông thả bản thân với dạng biểu hiện được lựa chọn là đồng tính luyến ái.
  11. 6 4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1. Cơ sở lý luận Nghiên cứu dựa trên quan điểm và cơ sở lý luận của đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về thanh thiếu niên; tư tưởng Hồ Chí Minh; tinh thần của các nghị quyết của Đảng về thanh thiếu niên. Nghiên cứu tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các đánh giá, các tổng kết có độ tin cậy cao của các nghiên cứu trước đây. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng: Phương pháp phân tích và tổng hợp để đánh giá tổng quan các nghiên cứu về lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay và các nghiên cứu về học thuyết Freud ở Việt Nam; Phương pháp lịch sử - lôgic để nghiên cứu đánh giá và phân tích những luận thuyết cơ bản của học thuyết Freud. Đồng thời, luận án vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá, vận dụng học thuyết Freud để lý giải lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Từ đó, nhìn nhận rõ hơn những mặt giá trị cũng như mặt hạn chế của học thuyết Freud, đồng thời đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng xây dựng môi trường sống lành mạnh, tăng sức đề kháng cho giới trẻ trong thời kỳ hội nhập quốc tế. 5. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu xác định được nguyên nhân nội sinh dẫn đến hành vi của một số lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay, khác biệt với các nghiên cứu về thanh thiếu niên trước đây chỉ nghiên cứu nguyên nhân ngoại sinh với các tác động ngoại cảnh. 2. Lần đầu tiên có một nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud để phân tích, lý giải tâm lý hành vi của lối sống tiêu cực của giới trẻ, khác với các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chỉ nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud trong văn học nghệ thuật, tôn giáo, tâm linh, tính cách dân tộc. 3. Làm sâu sắc hơn tính khoa học cho các giải pháp của Đảng và Nhà nước ta nhằm giảm thiểu lối sống tiêu cực của giới trẻ. Các giải pháp mang tính định hướng trong luận án, có thể tương tự như các giải pháp hiện có, song nó được xây dựng trên cơ sở của một học thuyết nổi tiếng về hành vi con người là học thuyết Freud.
  12. 7 6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 1. Góp phần nghiên cứu về giới trẻ Việt Nam, trong đó nghiên cứu sâu về căn nguyên hình thành ba lối sống tiêu cực với những biểu hiện của nó của một bộ phận giới trẻ đang là bức xúc lớn của xã hội hiện nay, đó là: Hành xử bạo lực coi thường pháp luật; Vấn nạn đua xe trái phép; Đồng tính luyến ái. 2. Góp phần nghiên cứu, đánh giá về học thuyết Freud ở Việt Nam, một học thuyết phổ biến rộng rãi trên thế giới song gần đây mới được quan tâm nhiều hơn ở Việt Nam. 3. Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về giới trẻ Việt Nam và về học thuyết Freud ở Việt Nam. 7. KẾT CẤU LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu 4 chương, 11 tiết như sau: Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án Chương 2. Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay và khái lược học thuyết hành vi con người của Freud. Chương 3. Vận dụng học thuyết hành vi con người của Freud để phân tích những biểu hiện lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Chương 4. Giá trị và hạn chế trong học thuyết hành vi con người của Freud và một số giải pháp có tính định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay.
  13. 8 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ GIỚI TRẺ VÀ LỐI SỐNG CỦA GIỚI TRẺ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở mọi giai đoạn của cách mạng Việt Nam, thanh niên là lực lượng xung kích, luôn đi đầu trong các phong trào và luôn sống theo lý tưởng cách mạng. Trong công cuộc chống ngoại xâm, giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc, đã có hàng triệu thanh niên Việt Nam lên đường ra trận, dũng cảm chiến đấu, đổ xương máu và hy sinh tuổi thanh xuân đẹp nhất của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Sau ngày hòa bình lập lại, thanh niên lại là lực lượng tiên phong trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Có rất nhiều tấm gương thanh niên tiêu biểu trong lao động sản xuất, làm kinh tế, trong hoạt động văn hóa xã hội, trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Các phong trào Thanh niên tình nguyện, Thanh niên làm theo lời Bác, Thanh niên với biển đảo quê hương đã thể hiện vai trò và ý chí của giới trẻ muốn đưa đất nước ta tiến kịp với các nước tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới, mở cửa, bước vào kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì lối sống thực dụng cùng các trào lưu văn hóa, tư tưởng sống hưởng thụ, sống thác loạn, hành xử bạo lực coi thường pháp luật khác xa với thuần phong mỹ tục của dân tộc ta đã len lỏi, xâm nhập vào một bộ phận không nhỏ giới trẻ nước ta. Bệnh dịch này lan tỏa, lây nhiễm rất nhanh trong giới trẻ không chỉ thanh niên mà cả thiếu niên còn ngồi trên ghế nhà trường ở khắp mọi miền đất nước. 1.1.1. Các tổng kết đánh giá về thanh thiếu niên hiện nay Trong suốt quá trình lãnh đạo, nhất là từ Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác thanh niên và giáo dục thanh niên. Đảng ta nhìn rõ cả mặt tích cực lẫn mặt hạn chế của thanh niên trong thời kỳ hội nhập. Nghị quyết của các kỳ Đại hội của Đảng, của Đoàn đều khẳng định rằng,
  14. 9 thanh niên và giáo dục thanh niên là vấn đề trọng yếu của Quốc gia, nó gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và con người Việt Nam. Trong diễn văn khai mạc Đại hội lần thứ X của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày 12/12/2012, do Bí thư Trung ương Đoàn trình bày đã đánh giá những mặt tích cực của phong trào thanh niên như sau: Phong trào hành động cách mạng lớn của thanh niên là Năm xung kích phát tiển kinh tế, xã hội, bảo vệ Tổ quốc và Bạn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp đã đi vào cuộc sống, đã phát huy được vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ trong phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, đảm bảo an sinh xã hội Cuộc vận động Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác và Chương trình Thắp sáng ước mơ Tuổi trẻ Việt Nam vì dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh do Đoàn phát động và tổ chức thực hiện đã phát hiện, biểu dương và nhân rộng hàng nghìn tấm gương điển hình tiên tiến trong các hoạt động của đời sống xã hội [31]. Cũng trong Đại hội này, sau khi biểu dương các mặt tích cực của Đoàn Thanh niên, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thẳng thắn đánh giá rằng: Một bộ phận thanh niên còn biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên vẫn gia tăng và diễn biến phức tạp. Đây là những vấn đề rất đáng lo ngại, trong đó tổ chức Đoàn có phần trách nhiệm lớn [31]. Như vậy, các đánh giá của Đảng, của Đoàn chỉ rõ mặt mạnh và mặt yếu kém của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, trong đó vấn đề đạo đức lối sống, tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội của thanh thiếu niên là bức xúc lớn của xã hội. 1.1.2. Điều tra xã hội học về thanh thiếu niên Bước sang thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, khi nước ta hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, khi toàn cầu hóa trở thành xu thế không thể đảo ngược, khi kinh tế và
  15. 10 xã hội Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc thì bắt đầu xuất hiện những vấn đề bức xúc về xã hội nói chung và về thanh thiếu niên nói riêng, đã có một số cuộc điều tra xã hội học về tình hình thanh thiếu niên. Trước hết, phải kể tới cuộc điều tra của Ban Tuyên giáo Trung ương và Viện Nghiên cứu Thanh niên vào năm 2002, có tên là “Điều tra khảo sát về thực trạng văn hóa thanh niên”. Kết quả cuộc điều tra đã đưa ra các con số về thực trạng và lối sống của một bộ phận thanh niên vào những năm đầu thế kỷ mới, bao gồm cả mặt tích cực và cả mặt còn hạn chế. Phạm vi của cuộc điều tra chỉ tập trung vào một nhóm đối tượng là sinh viên, thanh niên nông thôn, thanh niên công nhân. Đặc biệt, vào năm 2003 và năm 2010, tổ chức WHO và UNICEF phối hợp với Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê tiến hành cuộc điều tra xã hội học về thanh thiếu niên trên phạm vi toàn quốc với quy mô toàn diện và công phu hơn rất nhiều, có tên là “Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” (Survey Assessment of Vietnamese Youth - SAVY1) [151]. Trong cuộc điều tra SAVY1 tiến hành từ năm 2001 tới năm 2003, SAVY1 đã thu thập tới 7.584 phiếu điều tra, với nhiều hạng mục khác nhau về thanh thiếu niên tuổi từ 14 đến 25. Thanh thiếu niên từ 42 tỉnh, thành trên cả nước, bao gồm thanh thiếu niên nam nữ, độc thân hoặc đã có gia đình, ở thành thị và nông thôn, thuộc dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số đã tham gia cuộc điều tra này. Bà Tống Thị Đua, Phó Vụ trưởng Vụ Xã hội, Môi trường, Tổng cục Thống kê cho biết: Kết quả cuộc điều tra SAVY cho thấy phần đông thanh thiếu niên Việt Nam rất lạc quan, cần cù và có nhiều hoài bão. Thanh thiếu niên có mối quan hệ chặt chẽ với gia đình và xã hội. Tuy nhiên, sự chuyển biến về kinh tế xã hội đang diễn ra rất nhanh chóng ở Việt Nam cũng đặt ra không ít thách thức cho giới trẻ. Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và thanh thiếu niên sống ở vùng sâu vùng xa là những nhóm có nhiều khả năng bị ảnh hưởng nhất trước tình trạng nghèo đói và thiếu thông tin, và đây chính là rào cản cho các cơ hội về giáo dục và việc làm [50].
  16. 11 Tiến sĩ Christian Salazar, Phó trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam nhận xét: Kết quả của Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết phải ưu tiên một số vấn đề cho việc hoạch định và xây dựng chương trình trong tương lai. Đặc biệt, cần tập trung cho những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất và dễ bị ảnh hưởng nhất trước các nguy cơ. Các nhóm này bao gồm cả thanh thiếu niên dân tộc thiểu số [50 ]. Sau đó 7 năm, từ năm 2008 tới năm 2010, cuộc điều tra xã hội học SAVY 2 được thực hiện với quy mô rộng lớn hơn SAVY1 trên phạm vi toàn quốc. Cuộc điều tra thực hiện tại 63 tỉnh, thành với 10.044 thanh thiếu niên tham gia. Các đối tượng được điều tra là những học sinh đang đi học và những người đã đi làm; ở thành thị và nông thôn, dân tộc thiểu số; chưa kết hôn. Các vấn đề điều tra rất đa dạng với nhiều góc cạnh cuộc sống như giáo dục, việc làm, tình trạng sức khoẻ, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và một số vấn đề khác như HIV/AIDS, sử dụng các chất gây nghiện, tai nạn thương tích, bạo hành gia đình, sức khoẻ thể chất, sức khỏe tinh thần [152]. Tại Hội nghị công bố kết quả cuộc điều tra SAVY2, bà Trần Thị Thanh Mai, Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục, Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình đánh giá: Qua kết quả của cuộc điều tra cũng như những quan sát trong cuộc sống hàng ngày, tôi thấy đa số vị thành niên và thanh niên của ta là tốt. Còn những hiện tượng vi phạm pháp luật, bất cần đời, phóng túng, bạo lực chỉ là một tỉ lệ nhỏ không thể đại diện cho 2,4 triệu vị thành niên và thanh niên.Phần lớn các em đều có thái độ không chấp nhận những hiện tượng trên [51 ]. Mặc dù SAVY1và SAVY2 đề cập nhiều về các vấn đề y tế, sức khỏe, học đường, hôn nhân, giới tính, song cũng dành một phần nhỏ cho điều tra về tâm tư tình cảm, thái độ và hoài bão của thanh thiếu niên trong tình hình hiện nay. Các số liệu thu được từ hai cuộc điều tra này rất phong phú, có độ tin cậy cao, có giá trị thực tiễn và khoa học. Đó là nguồn thông tin tư liệu vô cùng quý giá. Tuy nhiên, các cuộc điều tra xã hội học chỉ cung cấp những thông tin qua con số về thực trạng tình hình mà chưa đi sâu vào tìm hiểu lối sống, nếp sống của giới trẻ, đặc biệt chưa có những phân tích, lý giải tìm nguyên nhân dẫn đến lối sống của họ.
  17. 12 1.1.3. Nghiên cứu về thanh thiếu niên và lối sống của thanh thiếu niên trong thời kỳ đổi mới Chỉ tính từ năm 1986 đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thanh thiếu niên mang tính học thuật sâu và ý nghĩa thực tiễn lớn. Các công trình này rất đa dạng, phong phú, từ các đề tài NCKH cấp cơ sở đến các chương trình NCKH cấp nhà nước; từ các bài báo nghiên cứu chuyên khảo đến các luận án tiến sỹ. Có thể chia làm hai giai đoạn, từ năm 1986 tới năm 2000 và từ năm 2000 đến nay để đánh giá như sau: Giai đoạn 1986-2000 Trong giai đoạn này, có nhiều đề tài NCKH độc lập và chương trình NCKH cấp nhà nhà nước nghiên cứu về thanh niên. Nhìn chung, các nghiên cứu mang tính chiến lược, tổng quát theo tầm vĩ mô và thiên về định hướng giáo dục. Điển hình là, chương trình NCKH cấp nhà nước KX06 về “Văn hóa, văn minh và phát triển” do Nguyễn Hồng Phong chủ trì [114], đã đưa vấn đề giáo dục và sự cần thiết nâng cao nhận thức tư tưởng của thanh niên như một nhân tố quan trọng cho thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới. Trong chương trình, có một số đề tài lấy tiêu chí là nghiên cứu xây dựng một nền văn hóa toàn diện theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặng Cảnh Khanh trong tác phẩm “Giáo dục pháp luật cho thanh niên - vấn đề quan trọng của sự ổn định xã hội” [95] đã nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục pháp luật cho thanh niên trong giai đoạn mới. Khi đất nước mở cửa, lối sống tự do từ bên ngoài đã tác động ảnh hưởng tới thanh thiếu niên và trực tiếp ảnh hưởng tới ổn định xã hội.Vì vậy, giáo dục pháp luật, kỷ cương cho thanh thiếu niên là nhiệm vụ sống còn của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong thời gian này Phạm Minh Hạc, chủ nhiệm chương trình NCKH cấp Nhà nước KX-07 “Vấn đề con người trong sự nghiệp đổi mới”, đồng thời là chủ nhiệm đề tài NCKH “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [57], đã đề xuất những vấn đề có tính chiến lược cho thanh niên trong giai đoạn đất nước đổi mới. Trong đề tài này, tác giả đã phân tích xu thế thay đổi cách nhìn và cách tư duy, đặc biệt là lối sống của con người Việt Nam, nhất là của giới trẻ trong thời kỳ mở cửa. Những thay đổi này
  18. 13 sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, cần thiết phải hoạch định một chiến lược phát triển con người, bắt đầu từ giới trẻ, cả về thể lực và trí tuệ, để họ có đủ năng lực đáp ứng với đòi hỏi của phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật trong giai đoạn công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại. Trong tác phẩm “Tập hợp đoàn kết rộng rãi thanh niên vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” của tác giả Vũ Oanh [112] đã nêu lên truyền thống anh dũng của thế hệ trẻ và kinh nghiệm tập hợp quần chúng, trong đó có phong trào thanh niên của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các giai đoạn cách mạng. Đứng trước tình hình mới, cần phát huy thế mạnh của thế hệ trẻ là sự nhiệt tình, năng động, ham học hỏi, có chí tiến thủ, tạo mọi điều kiện cho họ được tham gia vào các mặt trận kinh tế - xã hội trong thời kỳ mở cửa. Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có nhiều công trình khác nghiên cứu về thanh niên. Nhìn chung, các công trình đều tập trung vào việc xác định vai trò và nhiệm vụ của thanh niên trong giai đoạn đổi mới, mở cửa, đồng thời đề ra đường lối mang tính chiến lược phát triển toàn diện con người và phương pháp giáo dục rèn luyện thanh niên đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ mới. Giai đoạn từ 2000 đến nay Đây là giai đoạn đất nước ta đang dần dần hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Các mặt tích cực của hội nhập đã thể hiện khá rõ, các mặt tiêu cực, nhất là các tiêu cực trong lối sống của giới trẻ cũng đã bắt đầu lộ diện. Các công trình nghiên cứu về thanh thiếu niên trong giai đoạn này rất phong phú và chuyên sâu hơn giai đoạn trước, đặc biệt đã có nhiều công trình nghiên cứu về lối sống của thanh thiếu niên trong thời kỳ đổi mới. Chẳng hạn, Đặng Cảnh Khanh có công trình “Về việc khắc phục hiện tượng xa lánh của lớp trẻ với văn hóa văn nghệ dân gian truyền thống” [96], đã nêu lên thực trạng đáng báo động về tư duy, lối sống và sự tiếp thụ văn hóa của giới trẻ. Khi đất nước mở cửa, các trào lưu văn hóa nước ngoài với nhiều hình thức đã nhanh chóng xâm nhập vào đời sống văn hóa của giới trẻ. Giới trẻ đã háo hức đón nhận và hòa nhập vào các trào lưu này với “hip hop”, “dansport”, “kpop”, nhạc điện tử, phim kinh dị, phim bạo lực, trò chơi điện tử, còn nghệ thuật dân gian, dân ca Bắc Trung Nam, ca kịch cải lương, tuồng cổ trở thành xa lạ đối với họ. Họ
  19. 14 không còn biết đến, hay cố tình xa rời các loại hình văn hóa văn nghệ truyền thống của dân tộc. Tác giả đã nêu các dẫn chứng cụ thể cho thực trạng này, từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục. Đáng ngại hơn nữa là các giá trị truyền thống của dân tộc đã bị lung lay trước những tác động của lối sống thực dụng. Đạo đức, nhân cách của con người, tình cảm gia đình, tình người với truyền thống lá lành đùm lá rách, thương người như thể thương thân dường như đã bị quay lưng lại để hướng về lối sống vật chất, ăn chơi, hưởng thụ, đặt quyền lợi cá nhân lên trên hết. Thể hiện rõ rệt nhất, mạnh mẽ nhất tình hình trên là ở giới trẻ. Đó là đánh giá phân tích và cảnh báo của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên trong tác phẩm “Gíá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa” [17] và của Bùi Ngọc Minh trong tác phẩm “Giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc cho thanh niên hiện nay” [108]. Các tác giả đều nêu lên sự cần thiết phải đặt giáo dục con người, giáo dục nhân cách con người cho thanh thiếu niên lên hàng đầu, thì mới bảo tồn được giá trị truyền thống của dân tộc trước các thách thức của toàn cầu hóa. Nghiên cứu về thanh niên nói chung và lối sống của thanh niên nói riêng trong thời kỳ mở cửa hội nhập, còn được thể hiện trong tác phẩm “Tính cộng đồng, tính cá nhân và cái tôi của thanh niên” của Đỗ Long và Phan Thị Mai Hương [102]. Trong tác phẩm này, các tác giả đã phân tích sâu các mặt tích cực của thanh niên là luôn nhiệt tình, hăng hái tiên phong trong mọi hoạt động và tính đoàn kết, tính cộng đồng rất cao. Trong mỗi con người thanh niên luôn thể hiện bản lĩnh cá nhân, say mê sáng tạo, ưa mạo hiểm và thích thể hiện cái tôi. Đồng thời, các tác giả cũng nêu lên những hạn chế của tính cá nhân và tính thích thể hiện cái tôi của thanh niên, đó là mầm mống dẫn đến các hành động tiêu cực trong giới trẻ hiện nay. Trong thời gian này, còn có một số nghiên cứu về thanh niên và lối sống của thanh niên đựợc thể hiện trong các luận án tiến sỹ, như luận án tiến sỹ tâm lý học của Nguyễn Ánh Hồng có tên “Phân tích về mặt tâm lý học lối sống của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh ” [81] ; luận án tiến sỹ xã hội học của Đặng Quang Thành có tên “Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [129].
  20. 15 Đặc biệt, đề tài NCKH cấp nhà nước mã số KX03.16/06-10 “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Phạm Hồng Tung làm chủ nhiệm [144] có báo cáo tổng hợp rất công phu, nêu nhiều nét mới và những vấn đề mới được đặt ra về thanh niên. Dựa trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau, với cách tiếp cận đa ngành, sự nghiên cứu nghiêm túc, đề tài tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và cách tiếp cận khi nghiên cứu về thanh niên và lối sống của thanh niên, nêu rõ những xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Tác phẩm “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” [145] của đề tài này xuất bản đã phân tích sâu nhiều mặt tích cực và hạn chế của thanh niên trong giai đoạn hội nhập. Phạm Hồng Tung nhận định: Đa số thanh niên Việt Nam hiện nay có tính tích cực chính trị - xã hội tương đối cao, hăng hái tham gia và mong muốn được tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị - xã hội do Đảng, Đoàn, Hội tổ chức và lãnh đạo; nhìn chung thế hệ thanh niên ngày nay có hoài bão và ước mơ lành mạnh về tương lai và lạc quan, tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của bản thân, gia đình và đất nước; mặc dù phần đông thanh niên còn chưa đủ tự tin với định hướng và trình độ nhận thức chính trị của mình, nhưng chỉ một bộ phận nhỏ tỏ ra bi quan, dao động trong trạng thái chính trị [145, tr.336]. Sau khi phân tích dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn, đề tài đã tổng hợp được 4 xu hướng sống tiêu cực của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay, cụ thể là: - Ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình và niềm tin. - Hời hợt, a dua đua đòi, tiếp thu thiếu chọn lọc, ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài. - Sống buông thả bản thân. - Hành xử hung bạo, bất chấp pháp luật [145]. Đặc biệt, đề tài đã xác định rõ những nhân tố tác động mang tính định hướng trong quá trình thay đổi lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay, như vai trò của gia đình và giáo dục gia đình; vai trò của nhà trường và giáo dục học đường; tác động của bạn bè và các mối quan hệ bạn bè; tác động của truyền thông hiện đại, đặc biệt là internet.
  21. 16 Tóm lại, các nghiên cứu và điều tra về lối sống của thanh niên nói riêng và giới trẻ nói chung là khá phong phú, trong đó đưa ra những đánh giá xác đáng về nhiều mặt tích cực cũng như tiêu cực, chỉ ra những tác động và đề ra một số giải pháp bồi dưỡng ý thức, tâm lý giúp thanh niên phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, giúp họ hình thành nhân cách và năng lực phục vụ cho sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn tới. Bước đầu các nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân dẫn đến những hạn chế tiêu cực trong lối sống của một bộ phân giới trẻ trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ đưa ra các nguyên nhân ngoại cảnh tác động dẫn đến hành vi tiêu cực đó như thiếu sự giáo dục của gia đình và nhà trường, ảnh hưởng của văn hóa phẩm ngoại lai, của internet mà chưa đi sâu vào nội tâm con người, chưa đi sâu vào căn nguyên gốc rễ dẫn đến các hành vi tiêu cực nói trên. Cụ thể hơn, chưa có một nghiên cứu nào vận dụng học thuyết Freud, học thuyết nổi tiếng về tâm lý hành vi con người, để phân tích hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. 1.2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HỌC THUYẾT FREUD Ở VIỆT NAM 1.2.1. Sự tiếp nhận và đánh giá chung tình hình nghiên cứu học thuyết Freud ở Việt Nam Học thuyết Freud xuất hiện ở châu Âu và Bắc Mỹ từ đầu thế kỷ XX. Điều ngạc nhiên là một xứ thuộc địa có vẻ như rất xa vời với văn hóa phương Tây, nhất là triết học phương Tây hiện đại, nhưng ngay từ đầu những năm 40, học thuyết Freud đã có mặt ở Việt Nam. Năm 1943, Nhà xuất bản Tân Việt, Hà Nội đã xuất bản tác phẩm nghiên cứu của Tô Kiều Phương, một trí thức người Nam Bộ, với tựa đề “Học thuyết Freud” [119]. Trong thời gian trên, cùng xuất bản với tác phẩm “Học thuyết Freud” còn có các tác phẩm khác về triết học phương Tây hiện đại. Một điều đặc biệt là, thuật ngữ phân tâm học (psychoanalysis) của Freud đã được học giả Tô Kiều Phương dịch ra tiếng Việt và sử dụng đầu tiên trong nghiên cứu của mình. Thuật ngữ này xuất hiện cách đây hơn 70 năm, song rất chuẩn xác, sau này cho đến nay, tất cả các nghiên cứu về học thuyết Freud ở Việt Nam đều dùng thuật ngữ này của Tô Kiều Phương. Bị gián đoạn bởi thế chiến thứ 2 và kháng chiến chống Pháp, hơn hai mươi năm sau, mãi tới thập niên 60 của thế kỷ XX, học thuyết Freud mới được
  22. 17 nghiên cứu tiếp tục ở miền Nam Việt Nam. Giống như các học thuyết của chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa thực dụng trong thời gian này, học thuyết Freud góp thêm vào nhóm các học thuyết được chính quyền ở miền Nam Việt Nam cho là những học thuyết có thể truyền bá. Trong thời kỳ này, học thuyết Freud được giới học giả Nam Việt Nam quan tâm giới thiệu từ hai khía cạnh dịch thuật và nghiên cứu. Có thể coi Vũ Đình Lưu là người đầu tiên tiếp tục đưa học thuyết Freud vào Nam Việt Nam bằng ấn phẩm dịch thuật từ tác phẩm của Freud “Nghiên cứu phân tâm học” [35]. Cũng chính Vũ Đình Lưu còn có công trình khảo cứu khác về Freud là “Phân tâm học áp dụng vào nghiên cứu các ngành học vấn” [103]. Công trình này của Vũ Đình Lưu được coi là công trình khảo cứu mang tính ứng dụng học thuyết Freud vào cuộc sống và các lĩnh vực khoa học xã hội đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1970, Vũ Đình Lưu biên dịch tác phẩm “Hành trình vào phân tâm học” của Hubert Benoit [8]. Tác phẩm nổi tiếng nghiên cứu về phân tâm học “Thiền và Phân tâm học” của D.T. Suzuki, Erich Fromm và R.De Martino [127] cũng được xuất bản tại miền Nam trong thời gian này. Điều đó nói lên rằng, học thuyết Freud đã được tiếp nhận rất trọng thị ở miền Nam Việt Nam trong những năm 60, 70 của thế kỷ trước, cho dù lúc này là thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất. Ở miền Bắc Việt Nam trước năm 1975, việc nghiên cứu triết học phương Tây nói chung và học thuyết Freud nói riêng, đánh giá một cách khách quan, chưa được phổ biến, nếu không muốn nói là chưa hề được triển khai. Chính vì vậy, học thuyết Freud rất xa lạ với giới trí thức miền Bắc Việt Nam vào thời gian này. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, việc nghiên cứu các trào lưu tư tưởng triết học phương Tây có phần cởi mở và mạnh dạn hơn. Tuy nhiên, trong khoảng 10, 15 năm đầu, với góc nhìn và cách tư duy định kiến vốn có của nhiều học giả, các nghiên cứu chỉ tập trung vào việc phê phán các di hại của tư tưởng phương Tây ở miền Nam Việt Nam. Các nghiên cứu đó đánh đổ đồng học thuyết Freud với chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa hiện sinh và giải thích các lối sống gấp, sống kiểu Mỹ của người dân miền Nam, nhất là thanh thiếu niên trước đây, là chạy theo dục tính thấp hèn mà chưa thấy các mặt tích cực của học thuyết này.
  23. 18 Năm 1990, sau Nghị quyết số 01-NQ/TW của Bộ Chính trị trong nhiệm kỳ Đại hội VI về Công tác Văn hoá Tư tưởng thì cách nhìn nhận về triết học phương Tây, trong đó có học thuyết Freud, đã có những bước đột phá, cởi mở hơn rất nhiều. Chính vì vậy, triết học phương Tây nói chung và học thuyết Freud nói riêng, được nhiều người nghiên cứu và có điều kiện lan tỏa, hòa chung vào dòng triết học vốn có trước đây ở Việt Nam. Về không khí cởi mở và sự đón nhận tích cực học thuyết Freud cùng với sự quan tâm nghiên cứu học thuyết này của các học giả Việt Nam trong thời gian qua, có thể thấy được ở một khối lượng lớn các tác phẩm của Freud và nghiên cứu về học thuyết Freud được xuất bản. Đã có tới 16 tác phẩm trong tổng số 35 tác phẩm của Freud được dịch ra tiếng Việt như: Nghiên cứu phân tâm học [35]; Phân tâm học nhập môn [36]; Nguồn gốc văn hóa tôn giáo [38]; Vật tổ và Cấm kị [37]; Ba tiểu luận về thuyết tính dục [43]; Luận bàn về văn minh [41]; Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ [42]; Cảm giác bất ổn với văn hóa [44]; v.v Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu về học thuyết Freud của các học giả ngoài nước và trong nước được xuất bản như: Hành trình vào phân tâm học của Hubert Benoit [8]; Freud đã thực sự nói gì của David Stafford - Clark [18]; Freud cuộc đời và sự nghiệp của Rolan Jaccard [124]; Sigmund Freud - Nhà phân tâm học thiên tài của Stephen Wilson [153]; Những luận thuyết nổi tiếng thế giới của Jostein Gaarder [93], Những gương mặt lớn của thời chúng ta của Carol Christia [11]; S. Freud và tâm phân học của Phạm Minh Lăng [100]; Học thuyết và tâm lý học S.Freud của Phạm Minh Hạc [59]; Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết học phương Tây hiện đại của Đỗ Minh Hợp và cộng sự [86]; Học thuyết Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam của Trần Thanh Hà [52]; Phân tâm học và phê bình văn học của Liễu Trương (Việt kiều Pháp) [141]; chùm nghiên cứu nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy: Phân tâm học và tình yêu [131]; Phân tâm học và văn học nghệ thuật [132]; Phân tâm học và văn hoá tâm linh [133]; Phân tâm học và tính cách dân tộc [136]. Nước Áo luôn tự hào là cái nôi triết học đương đại của nhân loại. Để tôn vinh và nâng cao sự hiểu biết nền triết học hàng đầu thế giới này, vào tháng 11
  24. 19 năm 2012, Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Áo tại Việt Nam tổ chức cuộc hội thảo Quốc tế có tên: Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó (Austrian philosophy and its relevance to day) [150]. Hội thảo có sự góp mặt của nhiều học giả có tên tuổi ở nhiều quốc gia và Việt Nam. Từ các báo cáo tại hội thảo được đăng trong kỷ yếu và xuất bản thành sách sau này, có thể thấy các nghiên cứu về Freud là nhiều nhất và rất phong phú, đa dạng, có thể kể tới như: Nhân học Freud của Đặng Hữu Toàn; Freud - Nhà Triết học của Đỗ Minh Hợp; Chủ nghĩa Marx – Freud một sự kết hợp tư tưởng của Marx và S. Freud trong nghiên cứu các vấn đề con người của Nguyễn Thị Lan Hương; Phân tâm học của Sigmund Freud qua sự kiến giải của một số nhà tư tưởng nữ quyền đương đại của Nguyễn văn Hòa và Nguyễn Việt Phương; Đi tìm những nét tương đồng trong tư duy ở một số luận điểm của Freud và Marx của Nguyễn Thị Bích Hằng; v.v Năm 2014, cuốn sách “Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết học phương Tây hiện đại” được hình thành từ đề tài NCKH do quỹ NAFOSTED tài trợ, do Đỗ Minh Hợp chủ biên [86]. Cuốn sách trình bày khá kỹ nội dung triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến các trào lưu nhân học triết học phương Tây hiện đại. Về luận án sau đại học, vào năm 1995 có luận án TS. Ngữ văn của Nguyễn Phúc, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh có tiêu đề: “Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước năm 1975” [118]. Luận án có đề cập tới học thuyết Freud cùng với học thuyết khác, song chỉ ở mức độ khảo sát sự du nhập của các học thuyết này vào văn học ở miền Nam Việt Nam trước đây. Gần đây nhất, năm 2014, Tạ Thị Vân Hà bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ Triết học tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội có tên: “Tư tưởng Triết học của S. Freud” [53]. Luận án đã đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng Triết học của Freud cùng với những đánh giá về ông của các nhà triết học phương Tây hiện đại. Đây hoàn toàn là một nghiên cứu cơ bản về học thuyết Freud mà không đề cập tới nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn. Ở bậc cao học,
  25. 20 có một số luận văn thạc sỹ về học thuyết Freud như: Hoàng Đức Diễn với “Chủ nghĩa Freud và biểu hiện của nó trong văn học tính dục miền Nam Việt Nam trước 1975” [19]; Nguyễn Thị Thủy với “Phân tâm học và giáo dục nhân cách cho thanh thiếu niên Thừa Thiên Huế hiện nay” [137]; Nguyễn Thị Bích Hằng với “Chủ nghĩa Freud - Lịch sử và sự biểu hiện ở Việt Nam” [62]; v.v Như vậy, cho dù học thuyết Freud được tiếp nhận ở Việt Nam một cách chính thức chưa lâu và không được thuận buồm xuôi gió, nhưng hiện nay nó đã được quan tâm đúng mức theo đúng vị thế của nó trong dòng triết học phương Tây ở Việt Nam. 1.2.2. Các nghiên cứu đi sâu về nội dung học thuyết hành vi con người của Freud và vận dụng lý luận của học thuyết này vào thực tiễn cuộc sống Nếu so sánh với các học thuyết triết học phương Tây mới được tiếp nhận ở Việt Nam, theo chiều rộng, số lượng các công trình nghiên cứu về học thuyết Freud là khá lớn, các nghiên cứu đa dạng và phong phú về thể loại như trình bày ở mục trên. Để có thể làm rõ hơn chiều sâu của các nghiên cứu này về học thuyết Freud, cũng như vận dụng học thuyết này vào thực tiễn cuộc sống, luận án đi sâu vào tìm hiểu nội dung một số nghiên cứu mang tính điển hình đại diện cho các các công trình nghiên cứu đó. 1.2.2.1. Các nghiên cứu đi sâu về nội dung học thuyết hành vi con người của Freud Có nhiều tác phẩm của các học giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu về nội dung học thuyết Freud. Trong đó có 3 tác phẩm được coi là rất cơ bản và rất sâu sắc, đó là: ‘Freud đã thực sự nói gì” [18]; “Freud và tâm phân học” [100]; “Học thuyết và tâm lý học Freud” [59]. Tác phẩm “Freud đã thực sự nói gì” của David Stafford-Clrak - Giáo sư Viện Tâm bệnh học thuộc Trường Đại học Luân Đôn [18], xuất bản năm1966 tại Anh, sau đó đã được đón nhận ở rất nhiều nước trên thế giới. “Freud đã thực sự nói gì” cũng là tác phẩm được xuất bản đầu tiên ở Việt Nam, về một học thuyết phương Tây từ khi có sự đổi mới về công tác Văn hóa Tư tưởng (1990). Sức hấp dẫn của tác phẩm này chính là ở chỗ D.Stafford-Clrak đã tổng hợp một cách
  26. 21 khoa học toàn bộ công trình nghiên cứu trong suốt cuộc đời của Freud vào một cuốn sách không quá nhiều trang. Hơn thế nữa, trong các tác phẩm nguyên gốc của Freud, do cách trình bày mang tính bác học, rất sâu sắc, nhưng hành văn theo mạch tư duy của riêng mình, nên nhiều người cảm thấy không dễ hiểu ngay được tư tưởng của Freud. Nhưng, sau khi đọc công trình khảo cứu của D.Stafford- Clrak, dường như mọi vấn đề lại trở nên tường minh hơn. Người ta hiểu được tường tận tất cả những gì mà Freud muốn nói, tất cả những gì mà Freud đã làm và tất cả những gì mà Freud để lại cho hậu thế tiếp tục con đường của mình, đúng như tiêu đề mà D.Stafford-Clrak đã đặt cho tác phẩm là “Freud đã thực sự nói gì”. Có thể liên hệ một cách đơn giản, nếu như bức tranh tự họa của chính Freud là một bức chân dung đầy chi tiết, nhiều góc cạnh và hơi rườm rà, cùng với đa sắc mầu thì bức chân dung Freud do D.Stafford-Clrak họa lại chỉ có hai gam màu đen trắng, với đường nét thanh mảnh, rõ ràng, nhưng vẫn toát lên thần thái, tựa như các bức tranh của danh họa P.Picasso. Do vậy, có thể nói không quá rằng, sẽ không hiểu được một cách tường tận học thuyết Freud nếu như không đọc “Freud đã thực sự nói gì”của D.Stafford-Clrak. Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào “Freud đã thực sự nói gì”, xin được bàn về lời tựa của cuốn sách này. Cuốn sách đã được học giả uyên bác và nổi tiếng là Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) viết lời nói đầu. Lời nói đầu của Nguyễn Khắc Viện có dung lượng đồ sộ và sâu sắc. Tổng dung lượng của lời nói đầu này đã hơn 1/10 dung lượng gần 300 trang của cả tác phẩm. Trong “Freud đã thực sự nói gì”, D.Stafford-Clrak đã tổng hợp rất cô đọng học thuyết Freud, nhưng lời nói đầu của Nguyễn Khắc Viện còn tổng hợp cô đọng, súc tích hơn rất nhiều lần. Tất cả những gì mà Freud đề cập trong học thuyết đều được Nguyễn Khắc Viện thể hiện trong lời nói đầu cùng với những bình luận rất sâu sắc. Trong Lời nói đầu, Nguyễn Khắc Viện đã trình bày rất cô đọng và sinh động các luận thuyết của Freud và sự khởi sinh của học thuyết này. Ông phân tích tính chất khoa học của học thuyết và dành nhiều trang để phân tích sự tiếp nhận và sự phê phán học thuyết nổi tiếng này trong Triết học và Tâm lý học. Ông giải thích các khái niệm vô thức, libido, cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi và các bản năng eros và
  27. 22 thanatos một cách đơn giản và dễ hiểu. Ông nêu ra những tranh luận của các học giả trên thế giới, những điểm thống nhất và cả những điểm không thống nhất về học thuyết Freud. Chính bản thân ông cũng có những đánh giá khá xác đáng về những điểm hạn chế của Freud: Nhưng tư duy của Freud thường vận động theo kiểu trực giác phát hiện, từ một số sự kiện nào đó bỗng lúc nào đó nảy ra một số khái niệm và quan điểm giúp cho lý giải những quá trình phức tạp. Đáng lẽ, sau mỗi lần như vậy cần kiểm nghiệm kỹ lưỡng và đợi cho nhiều người khác cùng kiểm nghiệm, rồi mới chuyển qua những khái niệm mới [18, tr.27]. Tuy nhiên, ông dành rất nhiều cho việc phân tích các điểm tích cực của học thuyết Freud và đánh giá: “Dù sao không thể xem nhẹ công lao của Freud. Trong một lĩnh vực trước kia không hề ai biết gì, Freud đã mang lại ánh sáng, óc hiện thực và một kỹ thuật thăm dò các động cơ có hiệu lực. Tâm bệnh học không thể có một tiến bộ nào nếu không có Freud” [18, tr.26]. Trong “Freud đã thực sự nói gì”, D.Stafford-Clrak đã trình bày khá chi tiết và sâu sắc các công trình của Freud. Bắt đầu từ những nghiên cứu về hysteria và những kết quả đầu tiên của chúng, rồi đến khoa học về các giấc mơ. Đặc biệt, D.Stafford-Clrak phân tích sâu khái niệm cấu trúc và chức năng tâm thần - một cống hiến quan trọng của Freud về bộ máy tư duy của con người. Đó là vô thức, tiền ý thức và bản năng tính dục libido. Ông giải thích cặn kẽ các khái niệm cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi từ đó ông phân tích luận thuyết xung lực (theory of impulses) của Freud và bản năng eros, thanatos. Ông trích dẫn nguyên tác của Freud để lý giải cho phân tích của mình về các xung lực này: Chúng ta gọi những sức mạnh nào tác động ở phía sau những nhu cầu khẩn thiết của cái ấy và biểu hiện những yêu cầu thuộc loại thể chất trong tâm thần là xung lực. Thật vậy, mọi trạng thái mà một người đạt tới được vào một ngày nào đó đều có xu hướng được lập lại ngay từ khi nó bị từ bỏ. Vì thế người ta có thể phân biệt được rất nhiều xung lực khác nhau và đó cũng là điều người ta thường làm. Điều quan trọng là cần biết xem nhiều xung lực ấy có thể được quy thành một vài xung lực căn bản
  28. 23 không Sau những do dự kéo dài, những ngần ngại kéo dài, chúng tôi đã quyết định chỉ chấp nhận hai xung lực căn bản: eros (tính dục) và bản năng phá hủy (instinct de destruction) [18, tr.154]. Do mục đích của tác phẩm “Freud đã thực sự nói gì” là thể hiện cô đọng và rõ hơn những điều Freud muốn nói, nên D.Stafford-Clrak không hề bình luận những điểm đạt được hay chưa đạt được của Freud như những tác giả khác, mà ông tôn trọng một cách tuyệt đối tất cả các ý tưởng, quan điểm của Freud, đó là điểm đặc biệt của tác phẩm này. Cuối cùng, xin được trích dẫn một chi tiết mà D.Stafford-Clrak đã ca ngợi Freud trong phần đầu của tác phẩm “Freud đã thực sự nói gì”: Đây là một người mà tên tuổi mãi mãi đứng cùng hàng với những tên tuổi như Darwin, Copernic, Newton, Marx và Einstein; một người đã thật sự làm biến đổi cách thức chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống và của xã hội con người. Những tư tưởng của số người có nghị lực như thế, hoạt động tinh thần của họ, cũng như cái cách họ thông báo kết quả những công trình nghiên cứu của họ, những gì họ nói ra, viết ra, tất cả những cái đó đều nằm trong di sản của loài người. Những sự khẳng định của họ không phải là để được chấp nhận như những giáo điều chi phối hay vượt qua sự suy nghĩ hay sự xem xét phê phán. Mà là chính chúng ta, không kém gì họ, phải chú ý lắng nghe tất cả những gì họ thực sự nói ra. Phân tâm học đã và mãi mãi vẫn là sự sáng tạo độc đáo của Freud. Sự khám phá, thăm dò, nghiên cứu và thường xuyên xét duyệt lại của ông là sự nghiệp cả đời của một bậc thầy [18, tr.35]. Tác phẩm “Freud và tâm phân học” của Phạm Minh Lăng [100] được xuất bản năm 2000, vào đúng thời nở rộ các trào lưu triết học phương Tây được phép phổ biến rộng rãi ở Việt Nam. Tác phẩm này được ông viết xong từ năm 1989, nhưng phải tới hơn 10 năm sau đó mới cho ra mắt độc giả, sau một số tác phẩm nghiên cứu triết học phương Tây khác. Có thể, đó là sự thận trọng của tác giả trước một học thuyết nổi tiếng song còn mới lạ trong dòng triết học ở Việt Nam.
  29. 24 Trong nghiên cứu của mình, Phạm Minh Lăng tập trung phân tích những vấn đề cơ bản nhất, cốt lõi nhất của học thuyết Freud hay tâm phân học (theo cách gọi của tác giả). Đó là: lý thuyết về vô thức, lý thuyết về tính dục và lý thuyết về cơ cấu nhân cách toàn diện hay tâm lý học về cái tôi. Cùng với ba vấn đề lớn nêu trên, Phạm Minh Lăng cũng đề cập tới các nghiên cứu khác của Freud về giấc mơ, về mặc cảm Ơdipe, nhưng ở mức độ khiêm tốn hơn. Trong nghiên cứu này, Phạm Minh Lăng gợi ý một số những ứng dụng, vận dụng học thuyết Freud vào một số lĩnh vực khác nhau của các ngành khoa học xã hội vào việc nghiên cứu những phong tục tập quán nghi lễ truyền thống của các dân tộc trên thế giới. Tuy gợi ý Phạm Minh Lăng chỉ nêu trong vẻn vẹn một phần của ba trang cuối cùng của tác phẩm, nhưng cũng đáng suy ngẫm, đây không chỉ là công trình nghiên cứu mang tính hàn lâm, mà nó còn nêu được khả năng ứng dụng học thuyết Freud vào các vấn đề thực tế xã hội. Ngoài các phân tích những điểm chính trong các luận thuyết của Freud về vô thức, libido và về cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi, Phạm Minh Lăng còn nêu một số các đánh giá không đồng thuận của nhiều học giả trên thế giới về các học thuyết này. Phạm Minh Lăng viết: Tuy nhiên cũng phải nói ngay rằng Tâm phân học không phải là một lý thuyết được tất cả mọi người nhất nhất đồng tình. Sự không đồng tình đó lại rất đa dạng trên nhiều cung bậc khác nhau với những nguyên nhân cũng như nguyên cớ rất phong phú, nhiều màu sắc bao gồm cả tính tích cực lẫn tính tiêu cực, vừa xác đáng lại vừa ngộ nhận đan xen vào nhau [100, tr.35]. Phạm Minh Lăng phê phán một số học giả cho rằng Freud chỉ chú ý tới cái vô thức mà không chú ý tới cái hữu thức. Ông biện minh cho Freud: Sự thực thì hoàn toàn không phải như vậy. Tâm phân học lấy cái vô thức làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mình, đương nhiên nó phải chú trọng nhiều đến đối tượng nghiên cứu của mình. Còn cái hữu thức là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học cổ điển và đã được các nhà tâm lý học, các nhà triết học, các nhà xã hội học và nhiều ngành khoa học xã hội nghiên cứu về con người đã nghiên cứu và kết quả là người ta
  30. 25 đã hiểu được khá đầy đủ về nó. Công lao đó thuộc về họ. Vì vậy, Freud không còn gì để nói về nó. Tuy nhiên, Freud đã dành cho cái hữu thức một vị trí xứng đáng trong học thuyết của mình. Đồng thời Freud còn chỉ ra những mặt mạnh cũng như những mặt hạn chế của cái hữu thức. Và rằng cái hữu thức không phải là hình thức tinh thần duy nhất chi phối mọi hoạt động của con người cũng như vai trò của nó không phải là tất cả [100, tr.13]. Công trình nghiên cứu của Phạm Minh Lăng về Freud có giá trị khoa học và giá trị thực tiễn. Điểm hạn chế của tác phẩm này là sử dụng thuật ngữ chưa được thông dụng nếu không muốn nói là chưa chuẩn xác. Một ví dụ, cho đến nay chỉ duy nhất Phạm Minh Lăng sử dụng thuật ngữ tâm phân học, trong khi tất cả các học giả “xưa và nay” đều dùng thuật ngữ phân tâm học, thuật ngữ này mới là chính xác. Tác phẩm “Học thuyết và tâm lý học S.Freud” của Phạm Minh Hạc [59] có cấu trúc ba phần riêng biệt nhưng gắn bó hữu cơ với nhau. Ở mỗi phần đều có giải thích, phân tích cặn kẽ chi tiết các vấn đề về học thuyết Freud. Phần1, tác giả giới thiệu cách tiếp cận nghiên cứu học thuyết Freud. Phần 2, tác giả tóm tắt cô đọng 9 tác phẩm mang tính đại diện của học thuyết Freud là: Các bài giảng nhập môn phân tâm học; Ba tiểu luận về tính dục; Tâm lý học đám đông và phân tích cái tôi; Phác họa phân tâm học Sau tóm tắt mỗi tác phẩm của Freud, Phạm Minh Hạc có viết vài điểm lưu ý. Vài điểm lưu ý là những vấn đề mà tác giả thu nhận được những gì tinh túy nhất trong mỗi tác phẩm, rồi gợi ý cho người đọc những suy nghĩ và phương hướng cho nghiên cứu tiếp theo. Cùng với tóm tắt cô đọng các tác phẩm của Freud và vài điểm lưu ý, Phạm Minh Hạc cho người đọc thấy bức tranh toàn cảnh về học thuyết Freud, từ cuối thế kỷ XIX tới đầu thế kỷ XX và vai trò của học thuyết này đối với xã hội và khoa học về tâm lý con người. Ở phần 3, tác giả tổng hợp toàn bộ học thuyết Freud với những nét cô đọng nhất về: khái niệm năng lượng, lực, xung; giấc ngủ và giấc mơ; vô thức và ý thức;
  31. 26 bản năng Từ đó, tác giả giới thiệu: tâm lý học sâu thẳm (tâm lý học miền sâu) và tâm lý học động, là những vấn đề mới của Tâm lý học đương đại. Cũng trong phần này, Phạm Minh Hạc nêu lên mối liên hệ giữa chủ nghĩa Marx và học thuyết Freud đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Là một nhà giáo dục học, Phạm Minh Hạc đã dành những trang cuối đầy ý nghĩa của tác phẩm để viết về ý kiến của Freud về giáo dục. Xin được trích những suy nghĩ của Phạm Minh Hạc về Freud với khoa học giáo dục: Freud cho rằng chức năng chính của giáo dục là nghiêm cấm, kiềm chế các bản năng ở mức tối thiểu, giúp trẻ tiếp thu (xã hội hóa, đồng hóa: trẻ phải chấp nhận nghiêm cấm, kiềm chế) các chuẩn mực xã hội, nhưng không bác bỏ các bản năng của cuộc sống, mà chỉ điều chỉnh bản năng cho phù hợp với tự nhiên và xã hội, không hạn chế và ngăn chặn dòng chảy của cá tính trong thế giới văn minh [59, tr.235]. Tác phẩm “Học thuyết và tâm lý học S.Freud” được khép lại bằng những đánh giá rất xác đáng về học thuyết Freud: Tâm lý học Freud với Phân tâm học đã đi vào lịch sử văn hóa, văn minh Tây Âu, và về sau của cả loài người như là một học thuyết đã bàn đến bản tính (bản chất) con người, bảo vệ dòng giống và loài người, đi sâu vào một trong những động lực tâm lý người từ bản năng, từ vô thức với các cơ chế khác nhau, dành nhấn mạnh cơ chế thăng hoa có ý nghĩa to lớn thế nào cho văn minh, văn hóa, đạo đức chuẩn mực xã hội. Chẳng nói các bạn cũng nhận ra, đây là một đại vấn đề của nhân loại, từng dân tộc, từng cộng đồng và từng cá nhân con người, còn nguyên tính thời sự cho thời đại của chúng ta ngày nay [59, tr.238]. Như vậy, với 16 tài liệu nguyên gốc của Freud được xuất bản, cùng với hàng chục tác phẩm của các học giả Việt Nam và học giả nước ngoài nghiên cứu sâu về học thuyết Freud hiện có ở Việt Nam có thể thấy, toàn bộ nội dung của học thuyết Freud đã được cập nhật và lan tỏa sâu rộng trong giới nghiên cứu Triết học và Tâm lý học nước ta. Các luận thuyết của học thuyết Freud không còn xa lạ với những
  32. 27 người quan tâm tìm hiểu học thuyết Freud. Đó là cơ sở thuận lợi khi nghiên cứu học thuyết Freud và vận dụng học thuyết Freud vào các vấn đề xã hội và các mặt khác nhau của cuộc sống. 1.2.2.2. Các nghiên cứu vận dụng học thuyết hành vi con người của Freud vào thực tiễn cuộc sống Học thuyết Freud có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều mặt xã hội và tâm lý con người. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào phân tích, lý giải các hiện tượng trong đời sống xã hội, trong bệnh học, trong tâm lý con người, trong văn hóa nghệ thuật Lĩnh vực nghiên cứu này được gọi chung là nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud (applied Freudian theory). Năm 1992, Larry A.Hjelle và Daniel J.Ziegler cho ra mắt tác phẩm “Lý thuyết nhân cách: nghiên cứu giả định cơ bản và ứng dụng” [163]. Trong tác phẩm này, các tác giả đã nghiên cứu, tổng hợp tâm lý nhân cách con người của nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới trong đó có học thuyết Freud. Các tác giả đã vận dụng các luận thuyết của Freud như vô thức, libido, cái ấy, cái tôi, eros, thanatos để phân tích lý giải nhiều trạng thái tâm lý hành vi con người và gợi mở rất nhiều vấn đề về tâm lý nhân cách có thể được kiến giải từ các luận thuyết này. Sớm hơn, vào năm 1935, Aichorn August đã có tác phẩm “Tuổi trẻ ngỗ ngược” [154]. Đây là tác phẩm nổi tiếng và là đầu tiên phân tích tâm lý hành vi người trẻ tuổi cùng với nguyên nhân động cơ dẫn đến hành vi này. Aichorn August đã vận dụng các luận thuyết của Freud về vô thức, cái tôi, eros để luận giải hành vi ham chơi, nghịch ngợm, quậy phá, bạo ngược của thanh thiếu niên. Trong tác phẩm “Tổng quan về sức khỏe tinh thần và trẻ em” [166] xuất bản năm 2001, A.Osenblatt đã vận dụng các nghiên cứu của Freud về bệnh lý học thần kinh, về libido để phân tích trạng thái và những biến động của sức khỏe tâm thần của trẻ em. Ngoài ra còn có rất nhiều các tác phẩm khác vận dụng học thuyết Freud để kiến giải nhiều vấn đề trong mọi lĩnh vực xã hội, văn hóa nghệ thuật và đời sống con người được xuất bản ở các nước Âu Mỹ. Ở Việt Nam cho đến nay, những nghiên cứu mang tính vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống mới chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ lẻ, mang tính chất
  33. 28 đánh giá hoặc liên hệ từng vấn đề, thể hiện qua các bài báo trên các tạp chí, hoặc các báo cáo tại các hội thảo khoa học. Chỉ có một số rất ít công trình mang tính tổng hợp như: “Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn” của Vũ Đình Lưu [103] ; Một chùm tác phẩm về nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud của học giả Đỗ Lai Thúy; “Học thuyết Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam” của Trần Thanh Hà [52]; “Phân tâm học với phê bình văn học” của Liễu Trương [141]. Hai tác phẩm sau có cùng đối tượng vận dụng nghiên cứu là văn học nghệ thuật như tác phẩm “Phân tâm học với văn học nghệ thuật” [131] của Đỗ Lai Thúy. Vì vậy, luận án chỉ phân tích tác phẩm của Vũ Đình Lưu và chùm tác phẩm của Đỗ Lai Thúy làm đại diện cho nhóm các nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống. Tác phẩm “Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn” của Vũ Đình Lưu [103] xuất bản từ năm 1969 ở miền Nam trước đây. Tác phẩm này có giá trị cả về mặt khoa học lẫn ý nghĩa thực tiễn. Cho dù xuất bản cách đây gần 50 năm trong điều kiện chính trị xã hội khác biệt với đương thời, song tính thời sự và tính thực tiễn của tác phẩm vẫn còn giá trị. Có thể nói, “Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn” là công trình nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn đầu tiên ở Việt Nam. Cho đến nay, đó cũng là tác phẩm bao quát tổng hợp nhất về khả năng áp dụng học thuyết Freud vào rất nhiều ngành khoa học. Tác phẩm Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn” có 3 phần. Phần 1, giới thiệu về tư trào nhân văn của người Mỹ. Đó là khuynh hướng phê bình, nghiên cứu, phát triển và vận dụng học thuyết Freud ở Mỹ trong nửa đầu thế kỷ XX. Khi phân tích những điểm đồng thuận và không đồng thuận của H.V.Sullivan và Karen Horney với quan điểm của Freud, Vũ Đình Lưu nhận xét rằng, tuy có điểm không đồng thuận, nhưng cả hai nhà Phân tâm học này đều thừa nhận vai trò và ảnh hưởng của học thuyết Freud là rất lớn đến nhiều lĩnh vực khoa học. Ở phần 2, Vũ Đình Lưu phân tích mối liên quan và khả năng ứng dụng học thuyết phân tâm của Freud vào các lĩnh vực: ngôn ngữ học; ngữ phạm học; sự liên
  34. 29 lạc giữa tiếng nói và hoạt động tiềm thức. Ông cũng dành một dung lượng lớn để phân tích mối quan hệ giữa học thuyết Freud và khoa học sư phạm. Đây là một trong những đóng góp có giá trị thực tiễn của Vũ Đình Lưu. Ông đã vận dụng học thuyết Freud để phân tích tâm trạng trẻ em, tâm trạng thiếu niên áp dụng vào sư phạm và vào giáo dục sinh lý. Tác giả đã gắn kết giữa triết lý giáo dục phương Đông với các luận điểm của Freud khá nhuần nhuyễn và hài hòa. Tuy ông không phân tích và vận dụng một cách chi tiết các luận điểm, ví dụ như vô thức, libido, cái ấy, cái tôi của Freud để lý giải, song người đọc vẫn hiểu được các tư tưởng của Freud trong mỗi vấn đề mà ông đưa ra. Khi phân tích tâm trạng trẻ em trên cơ sở các tư tưởng của Freud, Vũ Đình Lưu viết: Tiếp tục công việc của Freud, gần đây người ta tìm hiểu sâu rộng mối tương quan giữa cha mẹ và con cái. Mối tương quan đó có một tầm quan trọng lớn trong thời kỳ thơ ấu của đứa trẻ vì có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời của nó sau này. Đứa trẻ cần thân thiết với cha mẹ, vì đó không những là một nhu cầu tâm lý mà còn là một nhu cầu sinh lý [103, tr.13]. Khi phân tích các giai đoạn phát triển tâm sinh lý của thiếu niên, Vũ Đình Lưu nhấn mạnh: “Từ khi Freud nêu lên vấn đề, người ta thấy cần phải lưu ý các nhà giáo dục và phụ huynh học sinh đến những khó khăn của thiếu niên khi phải qua giai đoạn dậy thì” [103, tr.14]. Cũng trong mục phân tích tâm trạng thiếu niên, Vũ Đình Lưu đánh giá tâm lý hành vi trẻ em qua cách nhìn của học thuyết Freud: Thanh thiếu niên du đãng qua sự xét nghiệm Phân tâm học đều là những đứa trẻ bị giáo dục gia đình chểnh mảng, cha mẹ không biết đến nhu cầu của con. Người ta còn khám phá ra rằng đứa bé đã trải qua những thảm kịch nội tâm vào thời kỳ dậy thì, thiếu tình thương yêu của cha mẹ, tính tình nó phát triển theo chiều hướng củng cố của tính gây gổ, phá phách hung bạo. Còn phải kể đến sự đua đòi, sự bắt chước. Những đứa cầm đầu thường là những đứa thủ đoạn và can đảm liều lĩnh, bởi vậy trẻ khác đồng nhất hóa mình với nó thậm chí chịu phục tùng nó như nô lệ. Đứa trẻ phát triển những khuynh hướng gây gổ và hung bạo [103, tr.16].
  35. 30 Những phân tích, đánh giá của Vũ Đình Lưu dựa trên việc vận dụng các tư tưởng của học thuyết Freud về thiếu niên nhi đồng và tâm lý của lứa tuổi này thực sự bổ ích. Luận án sẽ đi theo hướng tiếp cận như vậy đề lý giải các hiện tượng tiêu cực trong giới trẻ hiện nay. Khi trình bày học thuyết Freud và tội phạm học, Vũ Đình Lưu phân tích rất rõ hành vi và động cơ của kẻ phạm tội dưới góc nhìn của học thuyết Freud cho dù ông chỉ phân tích theo tư tưởng mà không phân tích chi tiết theo các luận điểm. Phân tích của Vũ Đình Lưu rất cụ thể, sâu sắc có ý nghĩa thực tiễn và vẫn còn đúng với tình hình tội phạm trong xã hội hiện nay. Ông viết: Hoàn cảnh sống, sự giao du với những người du thử du thực giúp cho kẻ có tiềm ý sát nhân phương tiện thực hiện hành vi sát nhân, cũng như khuyến khích đồng bọn bắt chước những hành vi ăn trộm, ăn cắp, du đãng dâm loạn. Thanh thiếu niên du đãng và phạm pháp phần lớn cũng là những đứa trẻ bất thường đã qua một thời thơ ấu thiếu thốn tình yêu và thiên lệch tâm tính [103, tr. 24]. Khi phân tích học thuyết Freud và nghệ thuật, Vũ Đình Lưu vận dụng các luận thuyết của học thuyết để phân tích rất nhiều vấn đề trong văn học nghệ thuật như xung đột nội tâm; văn nghệ - phương tiện giải thoát; mặc cảm phạm tội; đồng nhất và thăng hoa; tính chất sang tạo của văn nghệ; thực thể văn nghệ và tôn chỉ văn nghệ; linh hồn văn nghệ. Hiện nay cũng có một số học giả phân tích mối quan hệ này. Tuy nhiên, có thể nói, về tính sâu sắc và chi tiết, họ chưa vượt qua được những gì mà Vũ Đình Lưu phân tích trong nội dung này. Như vậy, cách đây gần 50 năm, Vũ Đình Lưu đã có cách nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa học thuyết Freud và các lĩnh vực khoa học xã hội, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo. Vũ Đình Lưu cũng đã gợi mở rất nhiều vấn đề để có thể tiếp tục nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud đi sâu vào các lĩnh vực trên và các lĩnh vực khác của cuộc sống. Có thể nói, trong dòng triết học về Freud ở Việt Nam, Vũ Đình Lưu là người tiên phong và có công lớn trong việc đề xuất đưa học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống và xã hội.
  36. 31 Các nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud của Đỗ Lai Thúy Trong khoảng hơn một thập kỷ vừa qua, Đỗ Lai Thúy cho ra mắt một số tác phẩm có liên quan tới học thuyết Freud, trong đó có chùm 4 tác phẩm nghiên cứu về việc vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống theo từng chủ đề. Đó là: “Phân tâm học và tình yêu” [131]; “Phân tâm học và văn học nghệ thuật” [132]; “Phân tâm học và văn hóa tâm linh” [133]; “Phân tâm học và tính cách dân tộc” [136]. Trong các tác phẩm của mình, Đỗ Lai Thúy dùng tên chung là Phân tâm học thay cho học thuyết Freud. Thực ra thì trong 4 tác phẩm này, chỉ có một phần là nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy, phần còn lại là hợp tuyển các nghiên cứu của học giả nước ngoài có cùng chung một chủ đề. Công lao của Đỗ Lai Thúy không chỉ thể hiện trong các nghiên cứu của riêng mình mà còn là ở chỗ ông đã chọn tuyển được những công trình nghiên cứu có giá trị của thế giới về vận dụng học thuyết Freud. Đỗ Lai Thúy còn viết lời giới thiệu mang tính khảo cứu cho mỗi công trình được tuyển chọn. Tác phẩm “Phân tâm học và tình yêu” [131] được tổng hợp từ Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục của S.Freud; Phân tâm học với tình yêu của E.Fromm; Siêu hình học tình yêu của A.Schopenhauer; Siêu lý tình yêu của V.Soloviev. Đỗ Lai Thúy viết lời giới thiệu chung và lời giới thiệu cho từng tác phẩm, kèm theo đó là bài nghiên cứu Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm của mình. Đỗ Lai Thúy đã khuyến khích những ai quan tâm và say mê nghiên cứu Freud nên đi theo hướng áp dụng học thuyết này vào cuộc sống. Ông viết: Cuối cùng, thay cho lời bạt, tôi cho in vào đây bài Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm của tôi như là một thu hoạch nhỏ nhoi của mình từ những công trình của các tác giả lớn. Tôi không có mục đích nào khác ngoài sự khuyến dụ bạn đọc áp dụng phương pháp Phân tâm học, hiện còn đang là một lối nhỏ, vào các lĩnh vực nghiên cứu của mình [131, tr.10]. Tác phẩm “Phân tâm học và văn học nghệ thuật” [132] được Đỗ Lai Thúy tuyển chọn từ các tác phẩm của các tác giả: S. Freud với Vô thức và sáng tạo; C.G.Jung với Bí ẩn của những siêu mẫu; J.Bellemin, Noel với Phân tâm
  37. 32 học và văn học; G.Bachelard với Phân tâm học về lửa; G.Tucci với Rati-Lila hay những trò chơi tình ái; V.Dundes với Folklore, nhìn từ phân tâm học; V.Vyshestsev với Đi tìm tính cách dân tộc Nga. Trong hợp tuyển này, Đỗ Lai Thúy có hai nghiên cứu: Phân tâm học và ngọn nguồn sáng tạo, Phân tâm học và phê bình văn học ở Việt Nam. Đỗ Lai Thúy lý giải sự sáng tạo của nghệ thuật bắt nguồn từ cảm xúc vô thức: “Với Freud, tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ. Nó phản ánh những ham muốn vô thức, những mặc cảm, đặc biệt là mặc cảm Oedipe. Freud thấy trong bi kịch Hy Lạp cổ đại đầy rẫy những mặc cảm ám ảnh nhân loại” [132, tr.12]. Đỗ Lai Thúy cũng phân tích cụ thể bức tranh sáng tác văn học nghệ thuật ở Việt Nam trong thế kỷ XX có đượm màu học thuyết Freud. Ông viết: Trong sáng tác văn chương, người đầu tiên vận dụng học thuyết Freud, có lẽ là Vũ Trọng Phụng trong Làm đĩ, Giông tố, Số đỏ, còn trong phê bình là Trương Tửu và Nguyễn Văn Hanh. Năm 1936, trên tờ Tiến hóa (số1), Trương Tửu viết bài Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương Cũng năm này, Nguyễn Văn Hanh cho in hẳn một chuyên luận Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài (Aspar, Sài Gòn) dùng lý thuyết của S.Freud để giải thích hiện tượng Hồ Xuân Hương [132, tr.499]. Đỗ Lai Thúy phân tích và lý giải hiện tượng Hồ Xuân Hương qua các bài thơ được người đời cho là “tục” dưới góc nhìn của học thuyết Freud. Tương tự, ông đã lý giải các ẩn ngữ trong tập thơ nổi tiếng của Hoàng Cầm Về Kinh Bắc với các bài thơ để đời: Em - Chị, Cây tam cúc, Lá diêu bông, Quả vườn ổi, Cỏ bông thi, Nước sông Thương. Ông viết: “Về Kinh Bắc là một giấc mơ. Giấc mơ với những liên tưởng đứt đoạn, những hình ảnh rời rạc và rất nhiều các khoảng trắng, các dấu lặng Tất cả trôi đi trong nhịp điệu thôi miên. Giấc mơ Về Kinh Bắc này là sự siêu thăng của mặc cảm Oedipe, một thực tại siêu thực ấy, trong vô thức của Hoàng Cầm” [132, tr.514]. Tác phẩm “Phân tâm học và Văn hóa tâm linh” [133] được Đỗ Lai Thúy tuyển chọn từ các tác phẩm Sự trở lại ấu thơ của tục Tô-tem của S.Freud; Thăm dò
  38. 33 tiềm thức của C.Jung; Phân tâm học và tôn giáo của E.Fromm; Phân tâm học và Thiền của E.Fromm; Bông hồng tâm linh hay sự phát triển siêu cá nhân của R.Assagioli. Trong lời giới thiệu cho mỗi tác phẩm tuyển chọn, dưới góc nhìn của Phân tâm học, Đỗ Lai Thúy cho rằng, văn hóa tâm linh không phải là thần bí mà nằm trong một tổ hợp hài hòa của các mặt: sinh học - xã hội - tâm lý - tâm linh. Ông viết: “Bởi thế, đời sống tâm linh không phải là cái gì thần bí, dẫu đôi khi nó như cố ý khoác một cái vỏ thần bí, mà là cái thường tồn trong con người, có thể hiểu được, có thể khám phá được từ cái nhìn của phân tâm học” [132, tr.9]. Tác phẩm “Phân tâm học và tính cách dân tộc” [136] cũng được hình thành tương tự như ba tác phẩm nêu ở trên. Đỗ Lai Thúy đã chọn lọc những nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới nhìn nhận về tính cách dân tộc qua góc nhìn của học thuyết Freud, cụ thể là: P.Claret với Mô hình tâm lý-văn hóa về tính cách dân tộc; G.Devereux với Cái bình thường và cái không bình thường; G.Devereux với Bệnh tinh thần phân liệt, một chứng loạn tâm có tính tộc người; F.G.Baranov với Bệnh dân tộc-nguồn gốc những xung đột; G.Devereux với Những giấc mơ sinh bệnh ở các xã hội ngoài phương Tây; B.P.Vysheslagtsev với Đi tìm tính cách dân tộc Nga; V.A.Pronnikov và I.D.Ladanov với Tính cách Nhật; E.Fromm với Tâm lý của chủ nghĩa Quốc xã Đức; J.Dourner với Trần trụi điên; S. Zweig với Amok hay là bệnh điên xứ Malaysia. Trong hợp tuyển này, Đỗ Lai Thúy có chuyên luận: Cấu trúc văn hóa Nhật bản và Một chùm tính cách Việt. Từ tác phẩm này chúng ta thấy, tính cách dân tộc ở các quốc gia là rất đa dạng. Sự hình thành và phát triển tính cách dân tộc có thể được nhìn nhận và giải thích từ các luận thuyết của học thuyết Freud. Đây là không gian còn rất rộng cho những ai quan tâm nghiên cứu Freud. Đó là gợi mở của Đỗ Lai Thúy trong lời nói đầu của tác phẩm này: “Nhưng, tính cách dân tộc, có lẽ, giống như một tảng băng trôi, phần nổi lên mà chúng ta có thể nhìn thấy được bằng hữu thức chỉ chiếm một phần mười, còn chín phần kia chìm trong vô thức. Vì thế, tiếp cận tính cách dân tộc từ phân tâm học là một phương pháp khả quan và khả thi” [136, tr.5].
  39. 34 1.3. GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG TỔNG QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.3.1. Giá trị tham khảo của các công trình nghiên cứu trong tổng quan 1.3.1.1. Giá trị tham khảo của các công trình nghiên cứu về lối sống của giới trẻ Từ đánh giá tổng quan các nghiên cứu về giới trẻ được tổng hợp trong mục 1 ở trên có thể thấy, các loại hình nghiên cứu rất phong phú, đa dạng từ điều tra xã hội học tới các nghiên cứu chuyên sâu, các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các tổng kết đánh giá và các nghị quyết chỉ đạo, v.v Các nghiên cứu, báo cáo đánh giá, đã phân tích thực trạng thanh thiếu niên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Từ đó có thể thấy những mặt tích cực, năng động và cả những cơ hội thuận lợi cho phát triển của giới trẻ. Đồng thời, chúng ta cũng thấy được một số mảng màu tối trong bức tranh chung về giới trẻ hiện nay. Đó là một bộ phận thanh thiếu niên có biểu hiện suy thoái đạo đức, suy giảm niềm tin, ít quan tâm đến tình hình chính trị đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, lối sống thực dụng, ăn chơi đua đòi, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc. Tình trạng tội phạm, bạo lực và tệ nạn mại dâm, hút chích trong thanh thiếu niên gia tăng và diễn biến rất phức tạp. Lối sống tiêu cực này đã được Phạm Hồng Tung nghiên cứu, phân tích, xác định rõ trong đề tài NCKH cấp Nhà nước KX03.16/06-10, (2006-2010): “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”. Lối sống tiêu cực đó là điều khó tránh trong tiến trình phát triển xã hội và là thách thức không nhỏ chúng ta phải đương đầu giải quyết. Một số nghiên cứu, dưới các góc độ khác nhau, đã cố gắng xác định nguyên nhân dẫn đến lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ nêu trên. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào xem xét các tác động ngoại cảnh như: do ảnh hưởng du nhập từ nước ngoài, ảnh hưởng của internet, ảnh hưởng của sách báo, phim ảnh, do thiếu giáo dục của gia đình và nhà trường, do hạn chế trong giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường, v.v
  40. 35 Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân nội sinh từ trong mỗi con người, từ bản năng vốn có của mỗi con người đã hình thành hành vi của mình để lý giải cho hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Cụ thể hơn, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào vận dụng những tư tưởng và luận điểm của học thuyết Freud - học thuyết nổi tiếng về tâm lý hành vi con người để tìm nguyên nhân sâu xa, gốc rễ của lối sống tiêu cực, buông thả, suy thoái đạo đức, ưa bạo lực, coi thường pháp luật của một bộ phận giới trẻ đang lan tràn hiện nay. 1.3.1.2. Giá trị tham khảo của các công trình nghiên cứu về học thuyết Freud và vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống Học thuyết Freud hình thành và phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ từ đầu thế kỷ XX. Để đến và hiện diện ở Việt Nam, học thuyết Freud đã trải qua những chặng đường thăng trầm, thậm chí có những nơi, những lúc nó còn không được chấp nhận. Nhưng từ khi đất nước đổi mới (1986), đặc biệt từ sau năm 1990, khi có đổi mới trong công tác Văn hóa Tư tưởng, học thuyết Freud đã được nghiên cứu và bước đầu lan tỏa trong các lĩnh vực triết học, phê bình văn học và văn hóa nghệ thuật ở cả ba miền của đất nước. Học thuyết Freud không còn quá xa lạ, cách biệt, mà đã cùng hòa chung vào dòng triết học đương đại của Việt Nam và luồng không khí đổi mới hiện nay là lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt động của xã hội. Cho đến nay ở Việt Nam, đã có nhiều các nghiên cứu về học thuyết Freud và bắt đầu cũng đã có các nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào các lĩnh vực khoa học xã hội, văn hóa nghệ thuật Các nghiên cứu của nước ngoài cho thấy rằng, có thể vận dụng học thuyết Freud vào luận giải rất nhiều vấn đề của xã hội học, tâm lý học, tôn giáo, giáo dục, đặc biệt là tính cách con người và lối sống của cá nhân hay cộng đồng. Đây là xu hướng nghiên cứu mới mẻ và có rất nhiều hứa hẹn phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào vận dụng ưu thế mạnh nhất của học thuyết Freud
  41. 36 là xuất phát từ gốc rễ sâu thẳm của tâm lý nhân cách con người để lý giải tâm lý hành vi của lối sống nói chung và lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam nói riêng. Với các luận điểm nổi tiếng của Freud về vô thức, về libido, về bản năng eros, thanatos, về tính dục, về giáo dục giới tính, về đồng tính luyến ái, về tâm lý học đám đông, chắc chắn sẽ có mối dây liên hệ rất khăng khít để từ đó có thể lý giải những vấn đề đang nhức nhối là lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Cách tiếp cận như vậy là tìm hiểu nguyên nhân nội sinh từ trong mỗi con người, từ bản năng vốn có của mỗi con người dẫn đến hành vi và lối sống tiêu cực của giới trẻ. 1.3.2. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu Từ tên gọi của đề tài luận án, có thể thấy được hướng nghiên cứu của luận án chọn là nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống. Các nghiên cứu tổng quan về học thuyết Freud đã chỉ ra rằng, đây là học thuyết về tâm lý hành vi con người và có thể vận dụng các luận thuyết của học thuyết để phân tích, lý giải nhiều hiện tượng tâm lý xã hội và hành vi con người. Từ các cơ sở nêu trên, luận án chọn cách tiếp cận mà ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào lựa chọn là nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ - nguyên nhân nội sinh của hành vi dẫn đến lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ nhìn từ các luận thuyết cơ bản của học thuyết Freud, đó là: vô thức, libido, bản năng eros, thanatos, tính dục, đồng tính luyến ái, tâm lý đám đông. Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam rất đa dạng, Phạm Hồng Tung đã xác định được 4 xu hướng sống đó. Đây là cơ sở tốt và thuận lợi để NCS phân tích, nghiên cứu, mà không cần phải đi lại từ đầu để tìm hiểu về lối sống tiêu cực. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi lối sống tiêu cực của giới trẻ đều có thể lý giải từ các luận thuyết của học thuyết Freud. Vì vậy, NCS chọn ra ba lối sống tiêu cực điển hình với những biểu hiện của nó, để từ đó vận dụng các luận thuyết cơ bản phù hợp của học thuyết Freud để soi rọi, phân tích, nghiên cứu. Nhiệm vụ này sẽ được thực hiện trong các chương sau.
  42. 37 Kết luận chương 1 Trong chương 1, luận án giới thiệu tổng quan các nghiên cứu có liên quan tới nội dung đề tài luận án, đó là: Các nghiên cứu về giới trẻ và lối sống của giới trẻ hiện nay, các nghiên cứu về học thuyết Freud và vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống. Ở mảng tổng quan đầu, luận án đã nêu các nghiên cứu về giới trẻ và lối sống của giới trẻ thông qua các nghiên cứu từ điều tra xã hội học tới các đề tài NCKH, các tổng kết đánh giá, các văn kiện, nghị quyết về lối sống nói chung và lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt nam hiện nay. Luận án trình bày sâu hơn về đề tài NCKH cấp nhà nước KX03.16/06-10 “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Phạm HồngTung làm chủ nhiệm, cùng với tác phẩm công bố của đề tài là “Thanh niên và lối sống của thanh niên trong quá trình hội nhập”, theo đó, đã định dạng 4 xu hướng sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Đây là cơ sở để NCS phân tích trong luận án của mình mà không phải nghiên cứu tìm ra lối sống tiêu cực. Từ 4 lối sống đã được đề tài xác định, NCS chọn ra các biểu hiện của 3 lối sống mang tính điển hình mà có thể vận dụng các luận thuyết của học thuyết Freud để phân tích lý giải. Ở mảng tổng quan thứ 2, luận án đã nêu toàn cảnh các nghiên cứu về học thuyết Freud và vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống của các học giả trong và ngoài nước. Đây là hướng nghiên cứu rất thiết thực song còn mới mẻ ở Việt Nam. Sau khi tổng hợp hai mảng tổng quan, luận án đã phân tích đánh giá giá trị tham khảo của các nghiên cứu có trong tổng quan. Từ đó, NCS định hướng cách tiếp cận nghiên cứu của luận án mà ở Việt Nam hiện chưa có. Đó là tìm hiểu nguyên nhân nội sinh của hành vi dẫn đến lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ từ các luận thuyết cơ bản của học thuyết Freud.
  43. 38 CHƯƠNG 2 LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ KHÁI LƯỢC HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD 2.1. LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1.1. Về phạm trù “giới trẻ” và phạm trù “lối sống” Phạm trù “giới trẻ” Trong luận án, phạm trù giới trẻ được xác định là những người trong độ tuổi thanh niên và thiếu niên hay vị thành niên. Thuật ngữ giới trẻ được sử dụng nhiều trong vài ba thập kỷ qua; nó mang tính phổ quát rộng hơn cách vẫn thường gọi là thanh thiếu niên. Tuy nhiên, về bản chất, không có sự khác biệt giữa thuật ngữ giới trẻ và thanh thiếu niên. Tại điều 1 của “Luật Thanh niên” được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 (Luật số 53/2005/ QH11) xác định: “Thanh niên quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Như vậy, “Luật Thanh niên” chỉ đề cập riêng về thanh niên với độ tuổi xác định. Trong khi đó giới trẻ còn được mở rộng tới độ tuổi thiếu niên, độ tuổi học đường rất nhạy cảm trong xã hội hiện nay. Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản năm 2010, thuật ngữ thanh niên được giải thích là: “Người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [149, tr.1169]. Việc xác định của “Từ điển Tiếng Việt” về thanh niên như vậy còn khá sơ lược, chung chung và chưa rõ ràng. Cũng trong “Từ điển Tiếng Việt”, thuật ngữ “thiếu niên” được giải thích là: “Những trẻ em trong độ tuổi khoảng từ mười, mười một tới mười bốn, mười lăm tuổi” [149, tr.1208]. Như vậy, nếu tổng hợp cách xác định theo “Luật Thanh niên” và theo “Từ điển Tiếng Việt” có thể xác định được khá chính xác độ tuổi của thiếu niên và thanh niên hay độ tuổi của giới trẻ nằm trong khoảng từ mười, mười một tới ba mươi tuổi. Thuật ngữ giới trẻ, tuổi trẻ trong tiếng Anh được dùng chung là youth. Từ điển Oxford của Anh giải thích từ youth: “Là người trẻ tuổi, trong giai đoạn giữa
  44. 39 tuổi thơ ấu và tuổi người lớn” Như vậy, youth trong tiếng Anh được hiểu là cả thanh niên và thiếu niên hay giới trẻ nói chung. Một thuật ngữ khác cũng thường được dùng để nói về thiếu niên và cận thanh niên là vị thành niên. Tuy nhiên, vị thành niên là một khái niệm chưa được thống nhất. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vị thành niên nằm trong độ tuổi từ 10 tới 19, còn thanh niên nằm trong độ tuổi từ 19 tới 24 tuổi. Ở Việt Nam thuật ngữ vị thành niên được dùng trong truyền thông mà chưa có xác định cụ thể về độ tuổi. Ở một số báo cáo của Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam (KHHGĐVN) đã tự mặc định độ tuổi của vị thành niên và thanh niên là 10-24 tuổi tương tự như của WHO, trong đó vị thành niên là từ 10 tới 19 tuổi, còn thanh niên là từ 19 tới 24 tuổi. Từ phân tích ở trên, kết hợp hài hòa giữa độ tuổi thanh niên từ “Luật Thanh niên" (16 - 30 tuổi) với độ tuổi của thiếu niên, vị thành niên, thanh niên của các tổ chức Quốc tế và của “Từ điển Việt Nam” (10-24 tuổi), NCS xác định: giới trẻ là đối tượng nghiên cứu của luận án bao hàm cả thanh niên và thiếu niên có độ tuổi từ 10 đến 30. Đây là độ tuổi có nhiều mặt tích cực song cũng dễ nảy sinh những mặt tiêu cực, trong đó độ tuổi của thiếu niên rất dễ bị tổn thương nhất trước những tác động của môi trường xã hội. Trong luận án, để phù hợp với từng ngữ cảnh, NCS dùng hai thuật ngữ tương đương nhau về bản chất sinh học và độ tuổi như đã phân tích hoặc là giới trẻ, hoặc là thanh thiếu niên. Ngoài ra, trong luận án ở một số trích dẫn có thuật ngữ thế hệ trẻ, cũng được hiểu là đồng nghĩa với hai thuật ngữ trên. Phạm trù “lối sống” Thuật ngữ lối sống được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ truyền thông của người Việt Nam. Luận án sử dụng thuật ngữ lối sống xuyên suốt quá trình nghiên cứu.Tuy nhiên, ở một số ngữ cảnh, để phù hợp, luận án sử dụng cả thuật ngữ xu hướng sống. Hai thuật ngữ này xin được hiểu là tương đương nhau về bản chất. Cho đến nay có nhiều nghiên cứu về lối sống, từ đó có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phạm trù lối sống. Theo Đôbơrianôp: “Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người” [32, tr. 213].
  45. 40 Trần Văn Bính coi “lối sống là một phạm trù xã hội học, khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [10, tr. 211]. Dựa trên các phân tích và lập luận khoa học, Phạm Hồng Tung xác định: Lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người. Lối sống bao gồm tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của chúng [145, tr.89]. Dựa trên cơ sở xác định của UNESCO và của nhiều triết gia nổi tiếng trên thế giới, Wikipedia – Bách khoa toàn thư điện tử mở thông dụng hiện nay, đã đưa ra định nghĩa về lối sống như sau: Lối sống hay phong cách sống, nếp sống là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình, phong cách thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, hay cả một nền văn hóa. Thuật ngữ lối sống lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà tâm lý học người Áo Alfred Adler (1870- 1937). Lối sống cá nhân được đặc trưng bởi cách nhìn về thực tại (thế giới quan), cá tính, bản sắc cá nhân (bản ngã hay cái tôi) cũng như những ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh như gia đình, nơi sinh sống, giáo dục văn hóa và đặc biệt là truyền thông [126]. Cách xác định của Wikipedia về phạm trù lối sống nhìn chung là khá đầy đủ, mang tính triết học cao, có tính chất quốc tế và cũng phù hợp với Việt Nam. Xin được lưu ý, trong học thuyết hành vi con người của Freud có phạm trù quan trọng là cái tôi (ego), đó cũng là những đặc trưng về bản sắc cá nhân của lối sống mà Wikipedia đã định nghĩa. Đặc biệt, Alfred Adler người đầu tiên dùng thuật ngữ lối
  46. 41 sống là người cùng thời và cùng trong hiệp hội phân tâm học thế giới với Freud. Vì lẽ đó, luận án sử dụng định nghĩa về phạm trù lối sống của Wikipedia và mặc định xuyên xuốt quá trình nghiên cứu khi đề cập về lối sống. 2.1.2. Những biểu hiện của lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, đặc biệt trong gần một thế kỷ qua, từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo, giới trẻ nước ta đã luôn nêu cao tinh thần yêu nước, không ngại gian khổ hy sinh, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Giới trẻ nói chung và Đoàn Thanh niên nói riêng đã liên tục phấn đấu, vượt mọi khó khăn thử thách, đóng góp to lớn cho công cuộc xây dựng đất nước. Có rất nhiều tấm gương tiêu biểu đại diện cho hàng triệu thanh niên trong lao động sản xuất, trong hoạt động văn hóa xã hội, trong khoa học kỹ thuật và trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, từ khi đất nước tiến hành đổi mới, mở cửa, bước vào kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì lối sống thực dụng cùng các trào lưu văn hóa tư tưởng sống hưởng thụ, sống thác loạn, hành xử bạo lực, coi thường pháp luật khác xa với thuần phong mỹ tục của dân tộc ta đã len lỏi, xâm nhập vào một bộ phận không nhỏ giới trẻ. Bệnh dịch này lan tỏa, lây nhiễm rất nhanh trong giới trẻ bao gồm cả thanh niên và trẻ vị thành niên đang ngồi trên ghế nhà trường. Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đưa những tin tức và hình ảnh bức xúc về lối sống tiêu cực này. Nhiều công trình nghiên cứu và nhiều cuộc hội thảo đã đánh giá về tình trạng xuống cấp trong lối sống của giới trẻ. Trước hết phải kể tới kết quả của hai cuộc “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” tiến hành vào các năm 2003 và 2010 do UNICEF, WHO và Bộ Y tế, Tổng cục thống kê Việt Nam thực hiện SAVY1 (2003) và SAVY2 (2010) [151;152]. Ngoài những số liệu tích cực của thanh thiều niên Việt Nam như: ham học hỏi, năng động, chăm chỉ, có nhiều hoài bão, tự tin, gắn bó chặt chẽ với gia đình, tỷ lệ đi học cao, hai cuộc điều tra SAVY1 và SAVY2 còn đưa ra những số liệu thể hiện các mặt tiêu cực của thanh thiếu niên là: còn thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, về HIV/AIDS, hút thuốc lá; uống rượu bia rất nhiều; xu
  47. 42 hướng sử dụng ma tuý và các chất gây nghiện mới ngày càng gia tăng. Đặc biệt, tai nạn giao thông, bạo lực học đường có xu thế tăng nhanh qua hai cuộc điều tra. Nói chung, kết quả điều tra từ SAVY1, SAVY2 cho thấy bức tranh tích cực về thanh thiếu niên Việt Nam. Tuy nhiên, về các mặt tiêu cực, mặc dù đã có một số số liệu cơ bản, song SAVY1, SAVY2 chưa khảo sát và đánh giá một cách đầy đủ để có thể phản ảnh đúng thực trạng của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay như xã hội mong mỏi, quan tâm [151;152]. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, mã số KX03.16/06-10, “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” [144] được tổng hợp trong sách “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” [145]. Ngoài những số liệu tích cực, các nghiên cứu và kết quả điều tra, đề tài cũng đưa ra không ít số liệu đáng báo động về lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Ở mức độ thấp là lối sống buông thả, lười học tập, lười lao động, thất vọng, bi quan, buồn chán, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, v.v Nặng nề hơn là sống thác loạn, lệch lạc hành vi, tình dục đồng giới, nghiện ma túy, mại dâm, nghiện cờ bạc, nghiện game, nghiện cá độ, kéo theo là lối hành xử thô bạo, ưa dùng bạo lực, cướp của giết người, coi thường pháp luật với những tội phạm đặc biệt nguy hiểm. Đề tài đã tổng hợp và phân chia theo 4 lối sống với các cấp độ khác nhau như sau: - Ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình và niềm tin. - Hời hợt, a dua đua đòi, chạy theo các trào lưu “thời thượng”, tiếp thu thiếu chọn lọc ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài. - Lối sống buông thả bản thân với các dạng: buồn chán, thất vọng, không muốn hoặc không thể làm việc, học tập như bình thường; tự gây thương tích, tự tử; sống thác loạn, nghiện hút; lệch lạc về hành vi tình dục, có hành vi tình dục không bình thường, đồng tính luyến ái. - Hành xử bạo lực bất chấp pháp luật, kỷ cương [145, tr.374 ]. Được nghiệm thu với kết quả xuất sắc, đề tài vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu sinh đồng tình với cách phân định về lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay của đề tài đưa ra. Mặt khác, do mục tiêu luận
  48. 43 án không đi sâu nghiên cứu các xu hướng sống tiêu cực, mà chỉ phân tích đánh giá căn nguyên của chúng, nên luận án tiếp thu, kế thừa phân định này của đề tài và lấy đó làm cơ sở để nghiên cứu phân tích. Để làm sâu sắc hơn những biểu hiện của lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ như đã nêu ở trên, NCS cập nhật bổ sung và phân tích thêm các số liệu mới, những thông tin mới có đến năm 2014 và năm 2015. 2.1.2.1. Biểu hiện của lối sống ích kỷ, thờ ơ vô cảm, thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình và thiếu niềm tin Ngạn ngữ Việt Nam có câu: thương người như thể thương thân; một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ; lá lành đùm lá rách thể hiện truyền thống tốt đẹp lâu đời của dân tộc ta, mọi người luôn quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ với nhau trong hoạn nạn, khó khăn. Tuy nhiên hiện nay, một bộ phận giới trẻ không giữ được truyền thống tốt đẹp đó mà chỉ nghĩ về bản thân mình, cho riêng mình, cho lợi ích của mình, thậm chí cho gia đình mình, cho nhóm đồng lợi ích của mình. Đây là xu hướng sống rất dễ nhận thấy trong xã hội hiện nay. Ích kỷ, thờ ơ, vô cảm như là bệnh dịch đang lan tràn trong xã hội nói chung và trong giới trẻ nói riêng. Trong số các biểu hiện của lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm ấy thì đáng xấu hổ nhất và đáng lên án nhất là sự thờ ơ vô cảm với nỗi đau, với thân phận, với tính mạng của con người. Những hiện tượng gây sốc trong dư luận xã hội gần đây dễ bắt gặp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các video clips đăng tải trên các mạng xã hội. Trong một clip trên Face Book đăng tải ngày 26/4/2013, một cháu gái tuổi chừng 15, bị trói vào gốc cây bên hè đường của một phố ở Thủ đô Hà Nội, quần áo rách bươm đang gào khóc, mọi người thờ ơ phóng xe ngang qua, nhiều người đi bộ hiếu kỳ đứng lại nhìn mà không ai có hành động gì quan tâm chia sẻ. Vào 5h sáng ngày 22/9/2014 tại km51 trên QL62 thuộc địa bàn xã Tân Lập, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, khiến 4 người trong xe ô tô, trong đó có 3 người trong gia đình một bác sỹ đều tử vong do ngạt nước. Xe lao xuống mương nước ven đường không sâu lắm. Người trong xe kêu cứu và có một người qua đường biết sự cố chạy ra giữa đường cầu cứu hỗ trợ, song nhiều ô tô chạy qua biết lời
  49. 44 kêu cứu đã không dừng lại cứu giúp. Nếu có người hỗ trợ, phá cửa kính xe có thể sẽ không có chuyện đáng thương nêu trên [113]. Sự vô cảm là nguồn gốc dẫn tới sự mất mát đau thương. Tương tự, một tin gây sốc trên thông tin đại chúng gần đây, một thiếu phụ mang thai đến bệnh viện địa phương chờ đẻ. Thiếu phụ thì đau đau đớn vật vã trong khi đó nhân viên, bác sỹ, y tá, mà đa phần là thanh niên, vẫn điềm nhiên nói chuyện và vui đùa. Người nhà thiếu phụ sốt ruột và yêu cầu được quan tâm giúp đỡ thì nhận được một câu trả lời xanh rờn rằng: “Chưa đẻ được đâu, không có vấn đề gì phải lo lắng!”. Kết cục là đứa trẻ bị chết trong bụng mẹ vì ngạt và người mẹ cũng bị chết vì kiệt sức [120]. Từ chỗ thờ ơ vô cảm với đau khổ, với tính mạng con người sẽ dẫn đến thờ ơ vô cảm với cộng đồng, với xã hội, với tương lai vận mệnh của đất nước. Đề tài khoa học KX03.16/06-10 đã đưa ra những số liệu rất đáng quan tâm và lo ngại [145, tr.379]. Thăm dò hơn 2000 thanh niên ở mọi lĩnh vực xã hội, đề tài cho kết quả: có tới 6,8% thanh niên được hỏi không quan tâm hoặc cơ bản không quan tâm tới tương lai, vận mệnh đất nước. Có tới 47,9% thanh niên thờ ơ, chưa bao giờ tham gia các phong trào thanh niên tình nguyện. Một bộ phận trong số đó cho rằng, các phong trào vận động, các môn học tập chính trị là rất xa lạ và không có tác dụng đối với họ. Mặc dù xu hướng lối sống ích kỷ, thờ ơ vô cảm, thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình và niềm tin chỉ có ở một bộ phận nhỏ giới trẻ hiện nay, song đó là một trong những xu hướng sống tiêu cực nguy hiểm, không những gây nhiều hiện tượng và cách hành xử phản cảm, tạo nên những bức xúc trong dư luận xã hội mà còn trực tiếp đe dọa tới thuần phong mỹ tục của dân tộc và xa hơn nữa là kìm hãm sự phát triển của đất nước. Những con số trên là hồi chuông báo động về bệnh dịch vô cảm đang lan tràn trong giới trẻ và tác động không nhỏ tới xã hội. Tháng 11 năm 2013, Viện khảo sát quốc tế Gallup (Mỹ) đánh giá và xếp loại Việt Nam đứng vào hàng thứ 13 trên thế giới về sự vô cảm trong xã hội. Mặc dù tiêu chí của đánh giá xếp loại cần phải bàn luận thêm, song dù biện minh gì đi nữa thì việc Việt Nam đứng trong tốp đầu của thế giới về vô cảm, trong đó có vai trò tiêu cực của giới trẻ là điều chúng ta đáng phải suy ngẫm.
  50. 45 2.1.2.2. Biểu hiện của lối sống hời hợt, a dua đua đòi theo các trào lưu “thời thượng” tiếp thu thiếu chọn lọc văn hóa từ bên ngoài Trong quá trình mở cửa hội nhập, lối sống thực dụng chạy theo các trào lưu “thời thượng” được du nhập vào Việt Nam rất nhanh và đang có ảnh hưởng khá mạnh mẽ trong một bộ phận giới trẻ. Lối sống hời hợt, bắt chước các trào lưu “thời thượng” của nước ngoài không chỉ xuất hiện ở khu vực thành thị mà còn lan rộng cả khu vực nông thôn vì các phương tiện tuyền thông hiện nay rất phổ biến và phổ cập rất nhanh nên giới trẻ ở mọi vùng miền dễ dàng tiếp cận. Trước hết, họ đua đòi theo cách phục trang, đầu tóc của thanh niên nước ngoài và của các ngôi sao điện ảnh, âm nhạc Âu, Mỹ, Hàn Quốc mà họ coi là thần tượng. Bất kể cách phục trang, đầu tóc đó có phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc, có phù hợp với môi trường sống và phù hợp với lối sống gia đình của mình hay không thì họ không hề quan tâm. Những cô gái mặc quần trễ xuống ngang hông để hở hết những phần cơ thể mà lẽ ra phải được kín đáo hay những bộ váy ngắn đến nỗi không còn có thể ngắn hơn nữa vẫn thấy trên các đường phố. Những trang phục trong suốt từ trong ra ngoài của Lady GaGa năm 2012, 2013 cũng được nhiều cô gái trẻ đua nhau bắt chước làm trang phục “sành điệu” của mình. Dường như lối sống hời hợt, a dua, đua đòi theo các trào lưu ngoại lai ở trên không nguy hại ngay tới đạo đức tới xã hội, song thực chất nó đã phá vỡ thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm cho giới trẻ xa dần với tính cách truyền thống, với văn hóa dân tộc, làm cho giới trẻ chỉ biết đòi hỏi, hưởng thụ, chỉ muốn ăn chơi đua đòi mà ngại lao động, ngại học tập, ngại phấn đấu. Trong lối sống a dua, đua đòi của một bộ phận giới trẻ hiện nay phải kể tới một dạng biểu hiện đặc biệt đó là nạn đua xe trái phép tại các thành phố lớn, điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và điểm nóng nhất là Bà Rịa Vũng Tàu. Đua xe trái phép cho đến nay luôn làm đau đầu các nhà chức trách, các bậc phụ huynh và cộng đồng xã hội, đó như là một vấn nạn chưa có giải pháp khắc phục hữu hiệu. Các phương tiện truyền thông đại chúng thường xuyên phản ánh việc hàng trăm thanh thiếu niên tụ tập thành từng đoàn trên một số tuyến đường ở các thành phố lớn vào những ngày cuối tuần hoặc các ngày lễ lớn để tham gia đua xe. Các đối