Hướng dẫn quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hướng dẫn quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
huong_dan_quan_ly_khu_bao_ton_thien_nhien.pdf
Nội dung text: Hướng dẫn quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên
- Hướng dẫn quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tại Việt Nam
- Việc quy định về các thực thể địa Cơ quan xuất bản: ISBN: lý và trình bày các tư liệu trong ấn IUCN Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam 978-2-8317-1084-6 phẩm này không phản ánh bất cứ quan điểm nào của IUCN về tư Bản quyền: Biên tập: cách pháp lý của bất cứ quốc gia, © 2008 International Union for Nguyễn Hữu Dũng, Cục Kiểm lâm, lãnh thổ hay khu vực nào và các Conservation of Nature and Bộ NN&PTNT cơ quan có thẩm quyền của họ, Natural Resources Nguyễn Thị Yến, IUCN Việt Nam cũng như không phản ánh bất cứ quan điểm nào của IUCN về phân Các tổ chức hoặc cá nhân có thể Ảnh bìa: định ranh giới của các quốc gia, tái bản ấn phẩm này vì mục đích Vườn Quốc gia Tràm Chim lãnh thổ hay khu vực đó. giáo dục hoặc phi lợi nhuận mà không cần sự đồng ý trước bằng Dàn trang và in: Các quan điểm trình bày trong ấn văn bản của IUCN Việt Nam, Kimdo Design phẩm này không nhất thiết phản nhưng phải ghi rõ nguồn. ánh các quan điểm của IUCN và Ấn phẩm có tại: các tổ chức liên quan. Các tổ chức hoặc cá nhân không Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc được phép tái bản ấn phẩm này tế (IUCN), Chương trình Việt Nam Ấn phẩm này được xuất bản với sự để kinh doanh hoặc vì bất kỳ mục Villa 44/4, Phố Vạn Bảo, Ba Đình, hỗ trợ của Chính phủ Thụy Điển. đích thương mại nào mà không Hà Nội, Việt Nam Các nội dung trình bày trong ấn được sự đồng ý trước bằng văn Tel: +84 4 726 1575, phẩm này thể hiện quan điểm bản của IUCN Việt Nam. Fax: +84 4 726 1561 riêng của các tác giả, không phản Email: [email protected] ánh các quan điểm của Chính phủ Trích dẫn: Thụy Điển. Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế - IUCN Việt Nam. Hướng dẫn Cục Kiểm Lâm, Bộ NN&PTNT quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: 2 Ngọc Hà, Hà Nội, Việt Nam Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế. 2008, IUCN Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam trang.
- HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế Biên tập: Nguyễn Hữu Dũng Nguyễn Thị Yến Hỗ trọ xuất bản: Nguyễn Thị Bích Huệ Hà Nội , tháng 9/2008
- i Mục Lục Lời nói đầu 7 Lời Ban biên tập 8 Lời cảm ơn 9 Chữ viết tắt 10 Chương 1. Tổng quan 13 1.1. Khu bảo tồn thiên nhiên và Công ước Đa dạng sinh học 13 1.2. Hệ thống phân hạng quốc tế khu bảo tồn thiên nhiên theo IUCN 13 1.3. Các loại hình khu bảo tồn thiên nhiên khác 16 Chương 2. Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 21 2.1. Tầm quan trọng 21 2.2. Quy hoạch hệ thống 21 2.3. Đặc điểm của hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 22 2.3.1. Tính đại diện, toàn diện và cân bằng 22 2.3.2. Tính đầy đủ 23 2.3.3. Tính gắn kết và bổ sung 23 2.3.4. Tính nhất quán 23 2.3.5. Hiệu quả, hiệu suất và công bằng 23 2.4. Hòa nhập các hệ thống khu BTTN vào bối cảnh quốc tế 24 2.5. Quy hoạch vùng sinh học 24 2.6. Nội dung chính của quy hoạch hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 24 2.7. Quá trình xây dựng quy hoạch hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 25 2.8. Những điều kiện đảm bảo thực hiện quy hoạch hệ thống khu BTTN 25 2.8.1. Sự tham gia, tham vấn của cộng đồng 27 2.8.2. Tài chính 27 2.8.3. Cam kết và ủng hộ về mặt chính trị 27 2.8.4. Thể chế 28 2.8.5. Đào tạo 28 2.8.6. Đối tác 29 Chương 3. Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 33 3.1. Định nghĩa và các vấn đề có liên quan 33 3.1.1. Định nghĩa kế hoạch quản lý 33 3.1.2. Các lợi ích của KHQL 33 3.1.3. Yêu cầu của một kế hoạch quản lý tốt 34 3.1.4. Kinh phí để lập KHQL 35 3.1.5. Thời gian lập kế hoạch 35 3.1.6. Các kế hoạch khác có liên quan đến KHQL 35 3.2. Các yêu cầu trong chuẩn bị và thực hiện thành công KHQL 36 3.2.1. Các công việc cần làm 36 3.2.2. Tiến trình của công tác chuẩn bị 36 3.2.3. Cách trình bầy, cách viết và nội dung của KHQL 36
- ii 3.2.4. Bối cảnh thực hiện KHQL 37 3.2.5. Nguồn kinh phí, cam kết và năng lực 37 3.2.6. Các khó khăn trong quá trình lập kế hoạch và thực thi 38 3.3. Tiến trình lập kế hoạch quản lý 39 3.3.1. Tổng quan về tiến trình 39 3.3.2. Các bước xây dựng KHQL 39 3.4. Sự tham gia của cộng đồng 49 3.4.1. Lý do cần có sự tham gia của cộng đồng 49 3.4.2. Ai tham gia? 50 3.4.3. Các hình thức tham gia của cộng đồng 51 3.4.4. Công tác tham vấn 52 3.4.5. Các phương pháp 53 Chương 4. Giá trị kinh tế của khu bảo tồn thiên nhiên 57 4.1. Giới thiệu và cách tiếp cận mới đối với khu BTTN 57 4.1.1. Giới thiệu 57 4.1.2. Cách tiếp cận mới đối với các khu bảo tồn thiên nhiên 57 4.1.3. Cách tiếp cận “khách hàng” trong việc tạo nguồn thu cho khu BTTN 58 4.2. Giá trị kinh tế khu bảo tồn thiên nhiên 59 4.3. Khái quát về phương pháp khung lượng giá khu BTTN 63 4.3.1. Xác định đối tượng liên quan 63 4.3.2. Một số phương pháp phân tích lượng giá khu BTTN 64 Chương 5. Tài chính khu bảo tồn thiên nhiên 71 5.1. Cách tiếp cận “doanh nghiệp” trong quản lý khu BTTN 71 5.2. Kế hoạch tài chính của khu bảo tồn thiên nhiên 73 5.3. Kế hoạch kinh doanh của khu bảo tồn thiên nhiên 73 5.4. Các nguồn tài chính quốc tế hỗ trợ cho khu bảo tồn thiên nhiên 75 5.5. Các cơ chế tài chính cấp quốc gia 77 5.6. Các cơ chế tài chính cấp địa phương 79 Chương 6. Sự tham gia của cộng đồng địa phương và người bản địa: Nguyên tắc và hướng dẫn 83 Nguyên tắc 1 83 Nguyên tắc 2 84 Nguyên tắc 3 86 Nguyên tắc 4 87 Nguyên tắc 5 87 Chương 7. Du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn thiên nhiên 91 7.1. Khái niệm DLST và yêu cầu phát triển DLST ở các khu BTTN 91 7.1.1. Khái niệm DLST 91 7.1.2. Những yêu cầu của DLST 91 7.2. DLST là một công cụ bảo tồn 92 7.2.1. Các bên tham gia vào DLST 92 7.2.2. Lợi ích của DLST 93
- iii 7.2.3. Tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường 93 7.3. Lập quy hoạch DLST Quốc gia, Vùng và Địa phương 94 7.3.1. Các bước thực hiện quy hoạch 94 7.3.2. Điều tra về tài nguyên và các vấn đề liên quan 97 7.3.3. Giám sát DLST 101 7.4. Quản lý DLST 102 7.4.1. Các hoạt động DLST 102 7.4.2. Nhà nghỉ DLST 107 7.5. Vai trò của cộng đồng 110 7.5.1. Những lợi ích cho cộng đồng 110 7.5.2. Nguy cơ và giảm thiểu tác động 110 7.5.3. Sự tham gia của cộng đồng 111 7.5.4. Mối quan hệ giữa cộng đồng và các công ty du lịch 111 7.5.5. Quan hệ giữa du khách và văn hoá địa phương 111 7.6. Xúc tiến các dự án DLST 112 7.6.1. Nghiên cứu thị trường 112 7.6.2. Các chương trình xúc tiến 112 7.1. Một số kiến nghị cho sự phát triển DLST ở các khu BTTN Việt Nam 114 Các Phụ lục 116 Phụ lục 1 Hệ thống phân hạng Khu bảo tồn thiên nhiên IUCN 1994 116 Phụ lục 2 Các nguồn tài trợ tiềm năng 126 Phụ lục 3 Các cơ quan tổ chức bảo tồn chính và các địa chỉ trang web 128 Phụ lục 4. Danh sách các vườn quốc gia của Việt Nam 129 Phụ lục 5. Một số thuật ngữ 130 Phụ Lục 6. Các tài liệu tiếng Anh sử dụng trong biên tập 131
- v Lời nói đầu Trải qua hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu Bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng, miền cả nước. Đây là những tài sản thiên nhiên quý báu không chỉ có giá trị trước mắt cho thế hệ hôm nay mà còn là di sản của nhân loại mãi mãi về sau. Trong những năm qua, với sự lỗ lực mọi mặt của các ngành, các cấp và sự hỗ trợ của quốc tế trong công tác bảo tồn thiên nhiên, nhất là trong những năm đổi mới của đất nước, quá trình quản lý các khu khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã và đang tiếp cận, trao đổi kinh nghiệm, hài hoà với những thông lệ, tiêu chí quản lý bảo tồn thiên nhiên quốc tế. Tuy nhiên, cũng như các tri thức thuộc các lĩnh vực khác của nhân loại, nhận thức về quản lý bảo tồn thiên nhiên là một quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiên đến hoàn thiện, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà những kinh nghiệm, mô hình quản lý mới về bảo tồn thiên nhiên được hình thành và áp dụng thành công tại nhiều nước, chúng ta cần được tiếp cận, nghiên cứu, trao đổi, học tập để vận dụng linh hoạt, đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đất nước trong quá trình hội nhập. Để giúp bạn đọc, nhất là những người làm công tác quản lý và bảo tồn thiên nhiên có điều kiện cập nhật với những tài liệu của một số tổ chức quốc tế về xu thế phát triển trong quản lý bảo tồn thiên nhiên, Cục Kiểm lâm phối hợp với tổ chức Tổ Chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc Tế (IUCN) biên tập và xuất bản cuốn tài liệu “Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế”. Tài liệu này chủ yếu được biên dịch và soạn thảo từ Bộ tài liệu “Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên” của IUCN với mục đích cung cấp cho người đọc những kinh nghiệm, bài học, mô hình mới trong quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, góp phần nâng cao nhận thức khoa học trong quản lý khu bảo tồn thiên nhiên. Chúng tôi hy vọng cuốn tài liệu sẽ hữu ích đối với quý bạn đọc. Tuy nhiên, cuốn tài liệu này được biên tập lần đầu, chắc rằng không tránh được những khiếm khuyết, thiếu sót, chúng tôi mong nhận được ý kiến góp ý của quý bạn đọc. T.S. Hà Công Tuấn T.S.Vũ Văn Triệu Cục trưởng Cục Kiểm lâm Trưởng Đại diện IUCN Việt Nam
- vi Lời Ban biên tập Trong qua trình hình thành và phát triển, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã tiếp thu những quan niệm, kinh nghiệm của quốc tế và áp dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Ngày nay với xu thế tăng cường hội nhập, quá trình giao lưu giữa Việt Nam và quốc tế trong lĩnh vực quản lý khu bảo tồn thiên nhiên càng cần phải đẩy mạnh để những kinh nghiệm, mô hình mới của quốc tế, được nhanh chóng nghiên cứu, áp dụng vào nước ta; đồng thời chia sẻ, đóng góp những kinh nghiệm hay của Việt Nam cho công tác bảo tồn thiên nhiên của thế giới. Với mục đích trên, Ban biên tập đã nghiên cứu bộ tài liệu “Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên” của IUCN và thấy rằng đây là một bộ tài liệu phản ánh những quan niệm, xu thế và kinh nghiệm mới trong công tác quản lý khu bảo tồn thiên nhiên của quốc tế. Nhiều nội dung trình bày trong bộ tài liệu liên quan đến các quy hoạch và kế hoạch quản lý, cơ chế tài chính bền vững, sự tham gia của cộng đồng địa phương và du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Đây cũng chính là những vấn đề ưu tiên trong “Chiến lược quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003. Tài liệu “Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế” này được biên tập chủ yếu từ Bộ tài liệu của IUCN nói trên. Tài liệu gồm 7 Chương, với các chủ đề: Tổng quan, Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên, Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, Giá trị kinh tế của khu bảo tồn thiên nhiên, Tài chính khu bảo tồn thiên nhiên, Sự tham gia của cộng đồng địa phương và người bản địa: các guyên tắc và hướng dẫn, Du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn thiên nhiên. Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Cục trưỏng Cục Kiểm lâm và bà Nguyễn Thị Yến chủ trì biên tập. Bà Nguyễn Thị Yến, Chương trình Bảo tồn rừng và Các khu bảo tồn thiên nhiên của IUCN, biên soạn các chương Tổng quan, Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên và Sự tham gia của cộng đồng địa phương và người bản địa: các nguyên tắc và hướng dẫn. Ông Vũ Văn Dũng biên soạn chương Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên. TS. Nguyễn Xuân Nguyên biên soạn các chương Giá trị kinh tế khu bảo tồn thiên nhiên và Tài chính khu bảo tồn thiên nhiên. Ông Lê Văn Lanh, Hội Vườn Quốc Gia Việt Nam, biên soạn chương Du lịch sinh thái trong khu bảo tồn thiên nhiên. Bà Nguyễn Thị Bích Huệ cán bộ truyền thông của IUCN đóng góp vào quá trình xuất bản cuốn tài liệu. Cuốn tài liệu này trình bày các vấn đề rất quan trọng đối với các cán bộ quản lý và chuyên môn liên quan đến công tác bảo tồn thiên nhiên; đồng thời cung cấp một số thông tin đáng chú ý như: hệ thống phân hạng quốc tế các khu bảo tồn thiên nhiên của IUCN 1994, một số địa chỉ các trang website về các nguồn tài trợ tiềm năng cho các khu BTTN và danh sách các vườn quốc gia của Việt Nam. Hy vọng đây là những thông tin bổ ích cho bạn đọc. Ban Biên tập.
- vii Lời cảm ơn Trân trọng cảm ơn Tổ chức Hợp tác Phát triển Thuỵ Điển (Sida) đã tài trợ cho việc biên soạn và xuất bản tài liệu “Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế”. Chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các nhà quản lý đã dành thời gian và tâm huyết góp ý quý báu cho bản thảo cuốn tài liệu này: GS. Võ Quý; TS. Hà Công Tuấn, Cục trưởng Cục Kiểm lâm, Bộ NN và PTNT; TS. Nguyễn Văn Tài, Phó Vụ Trưởng Vụ Môi Trường Bộ TN và MT; TS. Chu Tiến Vĩnh, Cục trưởng Cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản, Bộ NN và PTNT; PGS.TS. Triệu Văn Hùng, Vụ Trưởng Vụ Khoa Học và Công Nghệ, Bộ NN và PTNT; TS. Huỳnh Văn Kéo, Giám đốc Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Bộ NN và PTNT. Trân trọng cảm ơn Ban biên tập, các tổ chức, cá nhân đã đóng góp cho việc biên tập và xuất bản cuốn tài liệu này. Cục Kiểm Lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN)
- viii Chữ viết tắt ASEAN Hiệp hội Các nước Đông Nam Á BLI Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế BTTN Bảo tồn thiên nhiên CDM Cơ chế phát triển sạch CIDA Cơ quan Hợp tác Phát triển Ca-na-đa ĐDSH Đa dạng sinh học DLST Du lịch sinh thái DSTN Di sản thiên nhiên DTSQ Dự trữ sinh quyển EU Liên minh Châu Âu FFI Tổ chức Bảo vệ Động thực vật Quốc tế GEF Quỹ Môi trường Toàn cầu GIS Hệ thống thông tin địa lý IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế JICA Cơ quan Hợp tác Phát triển Nhật Bản KHQL Kế hoạch quản lý NGOs Các tổ chức phi chính phủ NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn RAMSAR Công ước Quốc tế về các khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế SDC Cơ quan Hợp tác Phát triển Thụy Sỹ Sida Cơ quan Hợp tác Phát triển Thụy Điển TEV Tổng giá trị kinh tế TN&MT Tài nguyên và môi trường UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc UNEP Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc UNESCO Cơ quan Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hợp Quốc USAID Cơ quan Hợp tác Phát triển Hoa Kỳ VCF Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam VQG Vườn Quốc Gia WWF Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên
- CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
- Ảnh: Khu BTTN Bình Châu Phước Bửu
- Tổng quan 3 1.1 Khu bảo tồn thiên nhiên và Công ước Đa dạng sinh học Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội. Đa dạng sinh học ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người. Các khu BTTN đóng vai trò chủ chốt trong bảo tồn đa dạng sinh học và đáp ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng. Định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của khu BTTN: “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994) Trong vài thập kỷ qua, các khu BTTN trên thế giới đang có xu hướng tăng cả về số lượng và diện tích. Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 khu BTTN (Tạp chí Khu bảo tồn thiên nhiên, Tập 14, số 3, năm 2004) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới. Vườn quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà khu BTTN có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Công ước ĐDSH (1992) xác định các khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ”. Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công Ước có các mục (a), (b) và (c) qui đinh rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống khu BTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các khu BTTN, và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các khu BTTN để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững. 1.2 Hệ thống phân hạng quốc tế khu bảo tồn thiên nhiên theo IUCN Nguồn gốc của khu bảo tồn thiên nhiên “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19. Vườn quốc gia Yellowstone là Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. Trong quá trình hình thành và phát triển các khu BTTN, mỗi nước đều có cách tiếp cận riêng, không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung, điều này gây trở ngại cho việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về khu BTTN trong phạm vi khu vực và toàn cầu. Những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ những thuật ngữ và phân hạng các khu BTTN được ghi nhận vào năm 1933. Hệ thống phân hạng quốc tế khu BTTN đầu tiên được IUCN xây dựng và công bố năm 1978 - gọi là Hệ thống phân hạng 1978. Hệ thống phân hạng 1978 của IUCN gồm có 10 phân hạng (Hộp 1). Hệ thống này đã được sử dụng tương đối rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới và trong các hoạt động quốc tế như làm cơ sở cho xây dựng “Danh Mục các khu BTTN của Liên Hiệp Quốc năm 1993”.
- 4 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Hộp 1: Hệ thống phân hạng khu BTTN 1978 • Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/nghiên cứu khoa học (Scientific Research/ Strict Nature Reserve) • Vườn Quốc gia (National Park) • Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National Monument/ Natural Landmark) • Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên/Bảo vệ đời sống hoang dã (Nature Conservation Reserve/ Managed Nature Reserve/ Wildlife Sanctuary) • Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/cảnh quan biển (Protected Landscape/Seascape) • Khu dự trữ tài nguyên (Resource Reserve) • Khu dự trữ thiên nhiên/nhân chủng học (Nature Biotic Area/Anthropological Reserve) • Khu quản lý sử dụng đa mục đích (Multiple use Management Area/Managed Resource Area) • Khu dự trữ sinh quyển (Biosphere Reserve) • Khu di sản thiên nhiên thế giới (World Natural Heritage Site) Tuy nhiên, ngay sau đó, Hệ thống phân hạng 1978 đã bộc lộ một số thiếu sót. Năm 1984, IUCN đã tiến hành những bước đầu tiên xem xét lại và đề xuất cập nhật Hệ thống phân hạng này. Hệ thống phân hạng khu BTTN quốc tế của IUCN hiện hành được công bố năm 1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng 1978 (chi tiết Hệ thống phân hạng 1994 trình bày tại Phụ lục 1). Hệ thống phân hạng 1994 có tất cả 6 phân hạng. Năm phân hạng đầu tiên chủ yếu dựa trên các phân hạng (I-V) của hệ thống phân hạng 1978. Phân hạng VI tập hợp các ý tưởng của các phân hạng VI, VII và VIII của hệ thống phân hạng 1978 (Hộp 2). Hộp 2: Hệ thống phân hạng khu BTTN 1994 • Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/Khu bảo vệ hoang dã (Strict Nature Reserve/ Wildeness Area): • Khu dự trữ thiên nhiên (Strict Nature Reserve) • Khu bảo vệ hoang dã (Wildeness Area) • Vườn Quốc Gia (National Park) • Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National Monument/Natural Landmark) • Khu bảo tồn loài/Sinh cảnh (Habitat/Species Management Area) • Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/biển (Protected Landscape/Seascape) • Khu bảo tồn kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (Managed Resource Protected Area) Mục tiêu quản lý các khu BTTN rất đa dạng, trong đó có các mục tiêu sau: • Nghiên cứu khoa học • Bảo vệ đời sống hoang dã • Bảo vệ đa dạng loài và nguồn gen • Duy trì các dịch vụ môi trường • Bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hoá
- Tổng quan 5 • Du lịch và nghỉ dưỡng • Giáo dục • Sử dụng bền vững tài nguyên của hệ sinh thái tự nhiên • Gìn giữ các bản sắc văn hoá và truyền thống Việc xắp xếp một khu BTTN vào một phân hạng nhất định cần căn cứ vào mục tiêu quản lý chủ đạo của khu BTTN đó. Mối quan hệ giữa các mục tiêu quản lý và các phân hạng thể hiện tại Bảng 1 như sau: Bảng 1: Mối quan hệ giữa mục tiêu quản lý và các phân hạng khu BTTN Mục tiêu quản lý Ia Ib II III IV V VI Nghiên cứu khoa học 1 3 2 2 2 2 3 Bảo vệ đời sống hoang dã 2 1 2 3 3 - 2 Bảo vệ đa dạng loài và gen 1 2 1 1 1 2 1 Gìn giữ các dịch vụ môi trường 2 1 1 - 1 2 1 Bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hoá - - 2 1 3 1 3 Du lịch và nghỉ dưỡng - 2 1 1 3 1 3 Giáo dục - - 2 2 2 2 3 Sử dụng bền vững tài nguyên của hệ sinh thái tự nhiên - 3 3 - 2 2 1 Gìn giữ các bản sắc văn hoá và truyền thống - - - - - 1 2 Cần chú ý một số nguyên tắc quan trọng của Hệ thống phân hạng khu BTTN 1994 như sau: • Các phân hạng căn cứ vào mục đích quản lý, không thể hiện hiệu quả quản lý; • Đây là hệ thống phân hạng quốc tế; • Tên các khu BTTN có thể thay đổi tuỳ từng quốc gia • Tất cả các phân hạng đều quan trọng • Các phân hạng thể hiện mức độ can thiệp của con người tăng dần từ phân hạng I đến phân hạng VI. Hệ thống phân hạng khu BTTN của IUCN không có ý định đặt ra những tiêu chuẩn hoặc làm hình mẫu chính xác để áp dụng ở cấp quốc gia. Các khu BTTN được thành lập trước tiên để đáp ứng các yêu cầu của địa phương và quốc gia, sau đó được “đặt tên” và gắn với các phân hạng của IUCN căn cứ vào mục tiêu quản lý. Mới đây, IUCN đã tiến hành nghiên cứu đánh giá việc áp dụng phân hạng IUCN về các khu BTTN trên thế giới thông qua dự án “Nói cùng một ngôn ngữ”. 1.3 Các loại hình khu bảo tồn thiên nhiên khác Hệ thống phân hạng năm 1978 của IUCN bao gồm Khu dự trữ sinh quyển và Khu di sản thiên nhiên thế giới (Phân hạng IX và X). Tuy nhiên, cũng như các khu RAMSAR và Công viên ASEAN, đây không phải là những phân hạng khu BTTN mà là những danh hiệu khu vực và quốc tế. Vì vậy hệ thống phân hạng 1994 của IUCN không bao gồm những khu này. Tuy nhiên những khu này được ghi nhận trong Danh sách của Liên hợp quốc và các ấn phẩm phù hợp khác của IUCN.
- 6 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 1.3.1 Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Khái niệm khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) được đưa ra vào những năm đầu thập niên 1970, và có bước phát triển mạnh từ năm 1995, khi người ta nhận thấy phương pháp bảo tồn truyền thống thông qua việc bảo tồn nghiêm ngặt trong các khu BTTN khó đạt được hiệu quả mong muốn, đặc biệt tại những nơi đông dân cư với nguồn tài nguyên hạn hẹp, nơi thường xảy ra xung đột giữa bảo tồn và phát triển. Cùng năm đó, tại Đại hội UNESCO về chiến lược khu DTSQ, khái niện khu DTSQ đã được UNESCO phê chuẩn. Khu DTSQ là nơi tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa con người và thiên nhiên, hài hoà giữa nhu cầu phát triển và mục tiêu bảo tồn. Các khu DTSQ được xem là nơi lý tưởng để thử nghiệm và áp dụng các cách tiếp cận phát triển bền vững, tiếp cận hệ sinh thái, trong đó có sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên, giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, qua đó đảm bảo các yếu tố cho sự phát triển bền vững. Hiện tại Việt Nam có 6 khu DTSQ được thế giới công nhận. Đó là Khu DTSQ Cần Giờ, Cát Bà, Đồng bằng sông Hồng, Cát Tiên, Kiên Giang, và Tây Nghệ An. Các khu này đều có vùng lõi là khu BTTN. 1.3.2 Di sản thiên nhiên thế giới Công ước Di sản thế giới là một trong những công ước quốc tế có sớm nhất. Công ước xác định các địa danh trên thế giới có các giá trị văn hóa và tự nhiên “nổi bật” để đưa vào danh sách các Di sản thế giới. Tương ứng với các giá trị văn hóa và tự nhiên được công nhận là các khu Di sản văn hoá và Di sản thiên nhiên thế giới. Ngoài ra còn có các khu di sản hỗn hợp có các giá trị văn hoá và thiên nhiên cùng được công nhận. Các khu Di sản thiên nhiên thế giới thường trùng với các khu BTTN. Các khu Di sản thế giới là niền vinh dự, tự hào của quốc gia và thường thu hút nhiều khách du lịch. Hiện tại Việt Nam có 5 khu Di sản thế giới , trong đó có 2 khu Di sản thiên nhiên thế giới (DSTN), đó là Vịnh Hạ Long và Khu Phong Nha – Kẻ Bàng. Khu Phong Nha - Kẻ Bàng trùng với Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. 1.3.3 Khu RAMSAR Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (viết tắt là RAMSAR) có hiệu lực từ năm 1975. Công ước tập trung bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế. Các nước tham gia Công Ước thành lập các khu BTTN và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế được Công ước công nhận và đưa vào Danh sách các khu RAMSAR của thế giới. Hiện tại Việt Nam có 2 khu RAMSAR, đó là khu Xuân Thuỷ (tỉnh Nam Định) và khu Bầu Sấu thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên. Cả hai khu này đều nằm trong Hệ thống khu BTTN quốc gia.
- CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
- Ảnh: Vườn Quốc gia Tràm Chim
- Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 9 2.1 Tầm quan trọng Những mối đe dọa chính tới khu BTTN ở hầu hết các nước thường xuất phát từ bên ngoài ranh giới khu BTTN. Khi những mối liên kết giữa khu BTTN và các yếu tố bên ngoài chưa được xác định và giải quyết, thì những vấn đề cơ bản của bảo tồn khó có thể giải quyết được. Do vậy, quy hoạch hệ thống khu BTTN không thể chỉ tập trung vào từng khu BTTN riêng biệt, mà phải đề cập đến các mối quan tâm rộng hơn của xã hội. Hệ thống khu BTTN và quy hoạch hệ thống khu BTTN có vai trò quan trọng, đảm bảo: • Kết nối hệ thống khu BTTN với các ưu tiên quốc gia và xắp xếp thứ tự ưu tiên trong quá trình phát triển khu BTTN. • Giúp tiếp cận tới các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế thông qua xác định các ưu tiên đầu tư cho khu BTTN, và tăng khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn vốn và tài nguyên. • Hạn chế đưa ra các quyết định về quản lý tài nguyên theo từng trường hợp đơn lẻ, thiếu tính hệ thống. • Thúc đẩy quá trình lồng ghép với các chiến lược liên quan khác như chiến lược phát triển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch quốc gia • Giúp giải quyết mâu thuẫn trong quá trình quyết định liên quan đến việc đánh đổi (trade-offs), làm rõ vai trò và trách nhiệm và thúc đẩy quá trình tham gia của nhiều bên có liên quan. • Tăng cường hiệu quả và hiệu xuất trong xây dựng và sử dụng ngân sách. • Giúp thực hiện các cam kết trong các công ước quốc tế. • Chủ động hơn trong quản lý bảo tồn và xây dựng hệ thống khu BTTN có hiệu quả. • Xây dựng khung hệ thống khu BTTN đa dạng, bao gồm các phân hạng chú trọng đến bảo vệ nghiêm ngặt và các phân hạng có sự tác động tích cực của con người. • Tạo điều kiện để các ban quản lý khu BTTN có được sự ủng hộ cần thiết của xã hội. 2.2 Quy hoạch hệ thống Quy hoạch hệ thống nhằm mục đích tối đa hoá các đặc điểm mong muốn nhất của một hệ thống khu BTTN quốc gia, được xây dựng trên cơ sở các điều kiện và bối cảnh của từng nước về các mặt: môi trường, lịch sử, xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa. Quy hoạch và quản lý hiệu quả các khu BTTN đòi hỏi cách tiếp cận điều phối - phối hợp với cả các bên có liên quan trong hệ thống, và cả với các hoạt động quản lý và sử dụng đất, tài nguyên thiên nhiên khác. Quy hoạch hệ thống khu BTTN đòi hỏi: • Xác định các khu BTTN là một ưu tiên quan trọng của quốc gia; Xác định mối quan hệ giữa các đơn vị và các phân hạng khu BTTN khác nhau và giữa các khu BTTN và các hình thức sử dụng đất khác; • Có cái nhìn chiến lược về khu BTTN • Xác định vai trò của các đối tác chính liên quan đến khu BTTN và mối quan hệ giữa các đối tác này; • Xác định các thiếu hụt trong hệ thống khu BTTN (bao gồm cả các cơ hội và yêu cầu kết nối) và những sự thiếu hiệu quả trong quản lý, và
- 10 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN • Xác định các tác động hiện tại và tiềm ẩn tới khu BTTN từ khu vực xung quanh và các ngành khác, và ngược lại. Quy hoạch hệ thống phải đưa ra những hướng dẫn về cơ chế, thể chế và qui trình cho việc điều phối và phối hợp giữa hệ thống khu BTTN với các khía cạnh sử dụng đất khác và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Quy hoạch cần đưa ra cơ chế phối hợp giữa trung ương với địa phương, phân cấp, giữa các khu vực và giữa các khu BTTN với nhau. Quy hoạch cần mô tả các khu BTTN hiện tại và các khu đề xuất, các điều kiện, khó khăn và thách thức trong quản lý. Trong quy hoạch hệ thống cũng cần xác định chức năng hoặc cơ sở pháp lý về khu BTTN là một ưu tiên trong bối cảnh phát triển của đất nước; cần chỉ rõ trách nhiệm, quá trình xây dựng, tài trợ, quản lý và phối hợp, điều phối hệ thống khu BTTN. 2.3 Đặc điểm của hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Các khu BTTN đóng vai trò chủ chốt trong “bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ”. Tuy nhiên, không khu BTTN nào thành công nếu được quản lý một cách riêng rẽ và cô lập. Quy hoạch hệ thống khu BTTN chú trọng tới mối quan hệ giữa các khu BTTN và đặt mạng lưới khu BTTN trong bối cảnh và mối liên quan tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa rộng lớn. Như vậy, quy hoạch hệ thống khu BTTN là cách tiếp cận để đảm bảo tầm quan trọng và hiệu quả của hệ thống khu BTTN quốc gia lớn hơn nhiều so với tổng số đơn thuần các khu BTTN. Hệ thống khu BTTN có ít nhất 5 đặc điểm sau: • Tính đại diên, toàn diện và cân bằng • Tính đầy đủ • Tính gắn kết và bổ sung • Tính nhất quán, và • Hiệu quả, hiệu suất và công bằng trong chi phí và lợi ích. 2.3.1 Tính đại diện, toàn diện và cân bằng Những đặc tính này được áp dụng đặc biệt đối với đa dạng sinh học của một nước tại các cấp: nguồn gen, loài, và sinh cảnh (hệ sinh thái), và cũng áp dụng đối với các giá trị khác như cảnh quan và văn hoá. Các khu BTTN hiện tại thường không được lựa chọn căn cứ vào các giá trị về đa dạng sinh học một cách hệ thống do các khu BTTN được thành lập một cách đơn lẻ, theo từng trường hợp. Vì vậy, nhiều nước cần tiến hành các nghiên cứu xác định các kiểu sinh cảnh và đa dạng sinh học với mục đích rà soát, quy hoạch lại các khu BTTN để đảm bảo tính đại diện. 2.3.2 Tính đầy đủ Một loạt các vấn đề cần cân nhắc xem xét khi lựa chọn các phương án quy hoạch hệ thống khu BTTN quốc gia. Vị trí, diện tích và ranh giới của các khu BTTN trong hệ thống cần được xem xét trên cơ sở các yếu tố sau: • Yêu cầu về khu vực cư trú của các loài quí, hiếm hay các loài khác; qui mô quần thể tối thiểu để duy trì sự tồn tại. • Liên kết giữa các khu BTTN (hành lang) cho phép sự di chuyển của động vật hoang
- Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 11 dã, hay đôi khi cần có sự cô lập, tách biệt nhằm giảm thiểu truyền dịch bệnh, loài săn mồi • Các mối quan hệ khu vực. • Mối liên kết hệ thống tự nhiên và ranh giới, ví dụ lưu vực sông (nước mặt và mước ngầm), núi lửa, các dòng hải lưu, và các hệ thống địa mạo khác. • Khả năng tiếp cận hoặc không thể tiếp cận để tiến hành các hoạt động quản lý hoặc phát hiện các tác động tiềm ẩn. • Các mối đe dọa từ bên ngoài hoặc các nguy cơ thoái hoá hiện tại. • Các hoạt động sử dụng, sở hữu tài nguyên thiên nhiên truyền thống và bền vững. • Chi phí cho việc thành lập các khu BTTN (phổ biến nhất là tiền đất, phí đền bù hoặc chuyển nhượng, phí thiết lập các cơ chế đồng quản lý). 2.3.3 Tính gắn kết và bổ sung Tính gắn kết và bổ sung của hệ thống khu BTTN được phản ánh qua sự đóng góp tích cực của từng khu cho toàn hệ thống. Các khu BTTN trong hệ thống quốc gia phải là một khối thống nhất và bổ sung cho nhau. Mỗi một khu BTTN cần phải tăng thêm giá trị cho toàn hệ thống quốc gia về mặt số lượng cũng như chất lượng. Tăng diện tích hoặc số lượng các khu BTTN ít có ý nghĩa trừ khi điều này mang lại lợi ích tương xứng với các chi phí bỏ ra. 2.3.4 Tính nhất quán Tính nhất quán thể hiện qua mối quan hệ giữa mục tiêu quản lý của khu BTTN và các hoạt động bảo tồn. Một trong những mục đích chính của phân hạng quản lý các khu BTTN của IUCN là thúc đẩy xây dựng hệ thống các khu BTTN dựa trên mục tiêu quản lý và nhấn mạnh rằng hoạt động quản lý phải nhất quán với những mục tiêu này. 2.3.5 Hiệu quả, hiệu suất và công bằng Việc thành lập và quản lý hệ thống khu BTTN cần đảm bảo sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích, và sự công bằng trong phân bổ chi phí và lợi ích giữa các bên có liên quan, trong đó chú trọng đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương và đồng bào dân tộc ít người. Hiệu suất thể hiện ở số lượng tối thiểu các khu BTTN cần có để đảm bảo mục đích bảo tồn của toàn hệ thống quốc gia. Thành lập và quản lý các khu BTTN phải được coi là một loại hoạt động kinh tế - xã hội. Khu BTTN được thành lập nhằm mục đích đem lại một số lợi ích cho xã hội và sự nghiệp bảo tồn thiên nhiên. Do vậy, hoạt động của các khu BTTN phải bảo đảm có hiệu quả, tương xứng với chi phí bỏ ra và được quản lý sao cho các tác động và lợi ích được phân bổ và chia sẻ công bằng với các cộng đồng và các bên có liên quan.
- 12 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 2.4 Hòa nhập các hệ thống khu BTTN vào bối cảnh quốc tế Mục tiêu bao trùm của hệ thống khu BTTN là nhằm tăng hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ”. IUCN khuyến nghị mạng lưới khu BTTN toàn cầu cần bao gồm đại diện của tất cả các hệ sinh thái khác nhau của thế giới để đảm bảo thành công về lâu dài. Ví dụ như một nước không còn hoặc còn rất ít rừng thường xanh, thì phần rừng thường xanh tương ứng rộng hơn của nước láng giềng cần được bảo vệ để bù vào thiếu hụt này. Vì vậy, quy hoạch hệ thống khu BTTN quốc gia cần thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia. Khả năng hợp tác và các sáng kiến bảo tồn chung cần được xác định và tăng cường, đặc biệt là thành lập và quản lý các khu BTTN liên biên giới. Các lợi ích hợp tác quốc tế còn bảo gồm: • Tăng cường hiệu quả của các nỗ lực bảo tồn của cả 2 nước • Thúc đẩy các quan hệ giữa 2 quốc gia (ví dụ “Công viên hoà bình”) và • Thúc đẩy chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và tăng cường năng lực, tập huấn. Tuy các thỏa thuận không chính thức giữa các quốc gia đôi khi cũng mang lại kết quả trong hợp tác, tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy nên có các thỏa thuận chính thức. Các cam kết như vậy có thể được hình thành trong khuôn khổ các khung hợp tác quốc tế sẵn có như Công ước đa dạng sinh học, Công ước về di sản thế giới, Công ước RAMSAR, Chương trình con người và sinh quyển của UNESCO, v.v. 2.5 Quy hoạch vùng sinh học Quy hoạch vùng sinh học tính đến cả những vùng ngoài ranh giới khu BTTN như vùng đệm, vùng hỗ trợ và các hành lang đa dạng sinh học với các hoạt động sử dụng đất thân thiện với hệ sinh thái. Bằng cách làm như vậy, quy hoạch vùng đa dạng sinh học giúp tăng cường hiệu quả của các khu BTTN và đặt chúng vào trung tâm chiến lược bảo tồn quốc gia. Các khu dự trũ sinh quyển thể hiện trên thực tế ý tưởng của quy hoạch vùng sinh học. Vì vậy, quy hoạch hệ thống khu BTTN phải giải quyết được các nhu cầu của các khu BTTN trong khung cảnh rộng lớn hơn của quy hoạch vùng sinh học. 2.6 Nội dung chính của quy hoạch hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Quy hoạch hệ thống khu BTTN phải phù hợp với hoàn cảnh. Không thể có một qui trình và cấu trúc tốt nhất cho mọi trường hợp. Quy hoạch hệ thống khu BTTN phải phù hợp với năng lực tổ chức, mức độ phát triển và môi trường của đất nước tại thời điểm xây dựng quy hoạch. Các quy hoạch cũng cần được xem xét, điều chỉnh phù hợp theo thời gian. Những yếu tố chủ chốt của quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN được đưa ra trong Hộp 3
- Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 13 Hộp 3 Những yếu tố chủ chốt của quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN Mô tả rõ ràng lý do, mục đích, phân hạng, các định nghĩa và định hướng tương lai cho các khu BTTN của cả nước • Đánh giá hiện trạng bảo tồn, điều kiện và khả năng quản lý của các đơn vị khác nhau • Đánh giá mức độ đại diện của hệ thống về mặt đa dạng sinh học và các di sản tự nhiên và văn hoá đi kèm của cả nước. • Đưa ra qui trình lựa chọn và thành lập các khu BTTN mới làm cho cả hệ thống có các đặc điểm tốt hơn • Xác định các cách để các hoạt động được thực hiện tại các cấp có thể hỗ trợ nhau nhằm đạt được các mục tiêu khu vực và quốc gia • Có cơ sở rõ ràng cho việc lồng ghép và phối hợp giữa khu BTTN với các chiến lược, quy hoạch khác của quốc gia (ví dụ chiến lược đa dạng sinh học quốc gia, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kinh tế và xã hội) • Đánh giá khung thể chế hiện có đối với khu BTTN (mối quan hệ, liên kết và trách nhiệm); xác định các ưu tiên cho xây dựng năng lực. • Các ưu tiên cho việc hoàn thiện hệ thống khu BTTN tương lai • Các qui trình xác định phân hạng phù hợp nhất cho mỗi khu hiện có và đề xuất, nhằm tận dụng toàn bộ các phân hạng các khu BTTN hiện có và thúc đẩy các cách thức trong đó các phân hạng khác nhau của hệ thống sẽ bổ sung lẫn nhau. • Xác định các yêu cầu đầu tư và các ưu tiên cho các khu BTTN • Xác định công tác đào tạo, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho các khu BTTN và • Hướng dẫn xây dựng và thực hiện các chính sách quản lý và kế hoạch quản lý cho từng khu BTTN. 2.7 Quá trình xây dựng quy hoạch hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Để thực sự có hiệu quả, quy hoạch và quản lý hệ thống khu BTTN của bất kỳ nước nào cũng phải phản ánh nhu cầu và các ưu tiên trên thực tế, và người thực hiện phải làm chủ qui hoạch này. Vì vậy, tuy có sự tham gia của nhiều bên có liên quan từ khi khởi xướng, việc xây dựng và thực hiện quy hoạch phải là nhiệm vụ chính của cơ quan chịu trách nhiệm về hệ thống khu BTTN, trên cơ sở hợp tác - đối tác với các ngành, các cấp, các tổ chức phi chính phủ và các bên có liên quan khác nhau; đặc biệt cần có sự tham gia của người dân địa phương sống xung quanh và bên trong các khu BTTN. 2.8 Những điều kiện đảm bảo thực hiện quy hoạch hệ thống khu BTTN Quy hoạch hệ thống khu BTTN sẽ khó có thể thành công trừ khi việc thực hiện quy hoạch được xem xét kỹ lưỡng ngay trong quá trình lập qui hoạch. Những vấn đề chính cần xem xét giải quyết tốt trong quá trình xây dựng quy hoạch quản lý cho hệ thống khu BTTN được trình bày trong Hộp 4 dưới đây.
- 14 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Hộp 4: Các vấn đề cần giải quyết trong quá trình xây dựng quy hoạch hệ thống khu BTTN quốc gia • Các hợp phần được điều phối và phối hợp như thế nào? • Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý khu BTTN trong nước và quốc tế? • Các cơ quan quản lý chính phủ có quan hệ như thế nào với các doanh nghiệp, các tổ chức cộng đồng và khối tư nhân, các cơ chế và mối quan hệ tổ chức này hỗ trợ như thế nào cho hệ thống khu BTTN? • Các mối quan hệ hay gắn kết tiềm năng nào giữ các cơ quan bảo tồn trong nước và quốc tế? • Xác định các ưu tiên: cơ chế mới, cơ cấu tổ chức, chuyên môn, tập huấn, kinh nghiệm, ngân sách, thông tin, truyền thông, trang thiết bị và hạ tầng cơ sở. • Các lựa chọn để thực hiện quy hoạch một cách có hiệu quả? Vì vậy, quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN phải gắn kết với các chiến lược bảo tồn và kế hoạch hành động. Có sự khác biệt rõ ràng giữa qui hoạch hệ thống khu BTTN và kế hoạch quản lý cho từng khu BTTN. Quy hoạch cho hệ thống xem xét một cách tổng thể cả nước, tạo cơ hội phối hợp điều phối với các quy hoạch, kế hoạch khác ở cấp quốc gia nhằm đạt được những kết quả mong muốn của một hệ thống hoàn chỉnh. Tuy nhiên, quy hoạch quản lý hệ thống cũng phải đưa ra những hướng dẫn về quy hoạch và kế hoạch quản lý cho các khu BTTN (Chi tiết hướng dẫn quy hoạch và kế hoạch quản lý cho từng khu BTTN được trình bày trong Chương 3). Bảng 2. So sánh giữa quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN quốc gia và kế hoạch quản lý một khu BTTN cụ thể. Chức năng Cấp • Hợp tác với các tổ chức, cơ quan quốc gia, quốc tế Quy hoạch quản lý • Phối hợp điều phối với các quy hoạch quốc hệ thống quốc gia gia và cơ quan quốc gia khác • Cung cấp các hướng dẫn khung cho quản lý tại các khu BTTN cụ thể • Lồng ghép vào các chính sách tại địa Phản hồi phương • Hài hòa với các xung đột địa phương • Xác định rõ ràng các mục tiêu của một khu BTTN cụ thể • Kế hoạch cho một khu BTTN và các chương Kế hoạch quản lý một khu BTTN trình quản lý • Giám sát và đánh giá
- Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 15 Trong quá trình thực hiện quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN, cần có một số điều kiện cơ bản đảm bảo sự thành công, đó là các vấn đề liên quan đến sự tham gia, tham vấn của cộng đồng; các nguồn tài chính, đảm bảo sự cam kết và ủng hộ về mặt chính trị; và thể chế, đào tạo và đối tác. 2.8.1 Sự tham gia, tham vấn của cộng đồng Phần lớn các khu BTTN đều có dân sinh sống xung quanh hoặc bên trong ranh giới. Tại hầu hết các nơi trên thế giới, kết quả của việc thành lập và bảo vệ các khu BTTN phụ thuộc vào sự hợp tác giữa cộng đồng địa phương và các ban quản lý khu BTTN. Các khu BTTN sẽ không đạt được kết quả mong muốn nếu những mối quan tâm của cộng đồng địa phương không được đáp ứng một cách phù hợp, người dân địa phương là những người hiểu biết rõ về những vấn đề quan trọng và sống còn đối với khu BTTN. Vì vậy, phải coi những cộng đồng này là những nhóm đặc biệt trong khi thành lập và quản lý khu BTTN. Các khu BTTN không thể tách rời khỏi các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và tinh thần của người dân địa phương. Nguyên tắc này được thể hiện ràng tại Đại hội các Vườn Quốc gia toàn cầu (1993). Các nguyên tắc chính cần tuân thủ khi lôi cuốn sự tham gia, tham vấn của cộng đồng vào các hoạt động liên quan đến khu BTTN được trình bày tại Chương 6 của Tài liệu này. 2.8.2 Tài chính Trong vài thập kỷ gần đây, tại nhiều nước, ngân sách dành cho các cơ quan quản lý khu BTTN giảm đi rõ rệt. Ngân sách hạn chế thường là cản trở chính trong qui hoạch và thực hiện thành công quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN. Do đó chiến lược đầu tư và tìm kiếm nguồn tài chính có vai trò rất quan trọng. Trong quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN cần xác định các ưu tiên tài trợ, khuyến khích các nguồn tài trợ tiềm năng dựa trên đánh giá các nguồn lực cần huy động cho việc thực hiện quy hoạch hệ thống. Các ban quản lý và các nhà quản lý khu BTTN cần phải tích cực và hiệu quả trong việc chứng minh các lợi ích kinh tế – xã hội của các khoản đầu tư vào khu BTTN để quản lý các khu này. Có thể hình thành các đối tác với các bên có liên quan, trong nước và quốc tế có các mối quan tâm về kinh tế, xã hội và môi trường liên quan đến các khu BTTN. 2.8.3 Cam kết và ủng hộ về mặt chính trị Hệ thống khu BTTN sẽ thất bại nếu thiếu những cam kết và ủng hộ về chính trị và xã hội. Để thành công, hệ thống khu BTTN tối thiểu cần có sự ủng hộ của 5 nhóm mục tiêu chủ yếu sau đây: Cộng đồng địa phương: Sự ủng hộ của cộng đồng địa phương là yếu tố rất quan trọng cho sự sống còn của khu BTTN.
- 16 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Các chính trị gia và người ra quyết định các cấp: Sự ủng hộ của đối tượng này là cực kỳ quan trọng. Cần xác định được những người thực sự có ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định, và làm việc với họ trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch hệ thống khu BTTN để tạo được sự ủng hộ cần có và tăng cường các lợi ích của khu BTTN. Giới truyền thông địa phương và trung ương: là những người có thể giúp định hướng quan điểm và nâng cao nhận thức của công chúng. Cộng đồng tài chính và các công ước quốc tế: có thể dùng để gắn quy hoạch hệ thống khu BTTN quốc gia với các cơ hội quốc tế, ví dụ như những cơ hội trong khuôn khổ Công ước đa dạng sinh học, Công ước di sản tthế giới, Công ước RAMSAR, v.v. 2.8.4 Thể chế Quy hoạch hệ thống khu BTTN phải có khả năng thực hiện trong giới hạn nguồn lực sẵn có của các tổ chức. Thể chế tổ chức tạo điều kiện cho các khu BTTN hoạt động có hiệu quả. Trong khi xây dựng quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN, cần xem xét kỹ những vấn đề sau: • Phối hợp và điều phối giữa các cơ quan chính phủ, các cấp và các ngành khác nhau, giữa chính phủ và các tổ chức phi chính phủ nhằm tối đa hóa hiệu quả của các tổ chức tham gia vào các khu BTTN • Phối hợp quản lý bảo tồn với các nước láng giềng • Quản lý khu BTTN có hiệu quả đòi hỏi sự ổn định về thể chế: cơ quan bảo tồn và các cán bộ của cơ quan đó. • Cơ quan bảo tồn cần có ban lãnh đạo mạnh và hiệu quả - đây là yếu tố cực kỳ quan trọng • Tập trung vào các cơ chế giúp đạt được mục tiêu của khu BTTN • Cần thiết lập vai trò làm chủ của cơ quan bảo tồn, hướng tới một hệ thống khu BTTN thống nhất, không chỉ là các khu BTTN riêng biệt, cụ thể. • Kiến thức trong cơ quan bảo tồn dựa trên bài học, chia sẻ kinh nghiệm, đánh giá vai trò và sử dụng hiệu quả các chuyên gia tư vấn. 2.8.5 Đào tạo Đào tạo phải trở thành vấn đề ưu tiên trong quản lý khu BTTN. Với xu thế và yêu cầu hiện nay, bên cạnh những nội dung truyền thống trong công tác quản lý khu BTTN, cần mở rộng sang các lĩnh vực khác như kỹ năng lôi cuốn sự tham gia của cộng đồng, kỹ năng thương thảo và giải quyết tranh chấp, xung đột, xây dựng các kỹ năng công nghệ thông tin và quản lý. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, cần xây dựng năng lực nghiên cứu ứng dụng, đặc biệt là cách tiếp cận tổng hợp và đa ngành trong quản lý môi trường. Các kỹ năng, chính sách và chế độ lương thưởng phù hợp cho cán bộ bảo tồn cũng cần được xây dựng. Tại hầu hết các nước đều có nhu cầu xây dựng các kinh nghiệm thực tế cho các cán bộ cấp địa phương và tỉnh, sao cho hình thành được mạng lưới các tập huấn viên được đào tạo tốt, tài năng và có kinh nghiệm thực hiện các dự án có sự tham gia tại hiện trường.
- Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên 17 Như vậy, quy hoạch quản lý hệ thống khu BTTN quốc gia có nhiệm vụ xác định nhu cầu đào tạo cấp quốc gia và xây dựng chiến lược đào tạo để đạt được những mục đích đề ra với sự hỗ trợ quốc tế khi cần. 2.8.6 Đối tác Hiện nay, xu hướng trên toàn thế giới là phân cấp quản lý tài nguyên thiên nhiên từ cấp trung ương về cấp tỉnh và chính quyền địa phương, các cộng đồng, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân. Xu hướng này cho thấy, nếu khu BTTN muốn thành công thì cần có các đối tác cùng có lợi. Những điểm sau đây cần lưu ý khi xem xét vai trò của đối tác trong hệ thống khu BTTN Quốc gia: • Cần có đối thoại cởi mở và tìm kiếm các lĩnh vực cùng có lợi trong khi tìm kiếm các đối tác. Đối tác chỉ thực sự hoạt động tốt khi: ◦◦ Các bên đều quan tâm ◦◦ Các bên đều có lợi ◦◦ Các đối tác có khả năng tham gia, đóng góp • Đối tác hoạt động có hiệu quả sẽ tăng cường tinh thần làm chủ và sự cam kết, qua đó tăng tính hiệu quả và bền vững. Cần thực tế trong việc kỳ vọng vào các kết quả mà đối tác có thể đạt được. • Đối tác sẽ trở nên ngày càng phù hợp với các khu BTTN khi trong cơ cấu tổ chức quản lý có sự tham gia của các đối tác ngày càng trở nên phổ biến. Các tổ chức phi chính phủ ngày càng trở thành một đối các quan trọng, đóng vai trò cầu nối giữa cộng đồng và cơ quan Chính phủ. Họ cũng có thể giúp huy động nguồn lực, có năng lực đặc biệt trong hoà giải và tập hợp các nhóm để cùng nhau làm việc. Các tổ chức phi chính phủ có thể đóng vai trò tích cực trong quá trình tăng cường năng lực cho cộng đồng địa phương, liên hệ có hiệu quả hơn với Chính phủ và các cơ quan tài trợ.
- CHƯƠNG 3 KẾ HOẠCH QUẢN LÝ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
- Ảnh: Vườn Quốc gia Yok Đôn
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 21 Vấn đề quy hoạch hệ thống khu BTTN trình bày trong Chương 2 được áp dụng cho phạm vi quốc gia. Để quản lý có hiệu quả từng khu BTTN cần xây dựng kế hoạch quản lý cho riêng mỗi khu. Chương này trình bày tóm tắt những hướng dẫn về nội dung và các bước để xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý khu BTTN. 3.1 Định nghĩa và các vấn đề có liên quan 3.1.1 Định nghĩa kế hoạch quản lý Theo IUCN, kế hoạch quản lý (KHQL) khu BTTN, hiểu một cách đơn giản, là một tài liệu xác định mục tiêu và cách thức quản lý áp dụng đối với một khu BTTN trong một thời gian nhất định. Dưới đây là một số định nghĩa về KHQL. • KHQL là một tài liệu được soạn thảo, phê duyệt và sử dụng để quản lý một khu BTTN. Nội dung của KHQL bao gồm mô tả về địa điểm, tài nguyên thiên nhiên, các giá trị của khu BTTN, phân tích các vấn đề và xác định các cơ hội cho công tác quản lý bảo tồn thiên nhiên nhằm đạt được các mục tiêu đề ra thông qua thực hiện các hoạt động xác định trong một khoảng thời gian nhất định (Eurosite, 1999). • KHQL là một tài liệu giúp hướng dẫn và kiểm tra công tác quản lý của một khu BTTN. KHQL mô tả chi tiết tài nguyên, phân vùng và thiết lập các cơ sở trang thiết bị cần thiết nhằm hỗ trợ công tác quản lý và sử dụng khu BTTN. Như vậy KHQL là một tài liệu hướng dẫn và hỗ trợ tất cả các hoạt động quản lý và phát triển của một khu BTTN (Thorsel,1995). • KHQL là một tài liệu tạo cơ sở cho sự phát triển của khu BTTN và cung cấp chiến lược để giải quyết các vấn đề và thực hiện các mục tiêu quản lý đã định ra trong khoảng thời gian 10 năm. Các chương trình, các hành động và các điều kiện hỗ trợ cần thiết cho các hoạt động của khu BTTN sẽ được xác định dựa trên các chiến lược này. Trong quá trình qui hoạch, khu BTTN sẽ được xem xét hai chiều gây ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi bối cảnh của khu vực (Young and Young,1993). 3.1.2 Các lợi ích của KHQL Một KHQL tốt được cán bộ Ban quản lý và nhân dân địa phương ủng hộ sẽ tạo ra nhiều lợi ích sau: Công tác quản lý khu BTTN được đẩy mạnh, vì: • Các quyết định trong công tác quản lý dựa trên sự hiểu biết đày đủ về khu BTTN, các mục tiêu, các nguồn tài nguyên quan trọng và các giá trị có liên quan đến khu BTTN. • Là cẩm nang cho nhà quản lý dưới dạng một khung các hành động và cách quản lý lâu dài, bao gồm tầm nhìn, cách quản lý khu BTTN, xác định rõ các mục tiêu và ưu tiên cần đạt được. • Bảo đảm sự liên tục của công tác quản lý, giúp cho các cán bộ mới của khu BTTN vẫn duy trì đúng hướng và đúng mục tiêu của việc quản lý khu BTTN. • Giúp cho việc xác định “sự thành công” của công tác quản lý. Cải thiện việc sử dụng nguồn tài chính và nhân lực: • KHQL xác định, mô tả và chọn ra các hoạt động quản lý ưu tiên để thực hiện mục tiêu
- 22 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN của khu BTTN. Điều đó giúp người quản lý phân phối hợp lý cán bộ, kinh phí và vật tư. • KHQL chỉ ra chỗ nào cần bổ sung nguồn tài chính hoặc nhân lực. Với cách đó, KHQL như là một công cụ để tăng cường đầu tư. Nâng cao trách nhiệm: KHQL tạo một cơ chế để nâng cao trách nhiệm. • Đối với các nhà quản lý: Các nhà quản lý được giao nhiệm vụ hoạt động trong khuôn khổ KHQL, trong đó xác định rõ mục tiêu cần tiến tới và các mốc chuẩn cần phải đạt được. • Đối với các tổ chức hay cơ quan quản lý: KHQL được coi như một bản hợp đồng chung giữa nhà quản lý, cộng đồng địa phương và khách tham quan để đảm bảo cho khu BTTN được bảo vệ tốt trong tương lai. Tăng cường công tác tuyên truyền. Quá trình xây dựng KHQL sẽ tạo điều kiện để kết nối giữa giám đốc ban quản lý với những người có liên quan đến quản lý của khu BTTN thông qua: • Xác định những đối tác chủ yếu mà giám đốc cần liên hệ và làm rõ các vấn đề cần trao đổi. • Là phương tiện giao lưu với công chúng để giải thích các chính sách và các đề nghị. • Tăng cường và quảng bá khu BTTN với nhiều bên liên quan Là công cụ để thực hiện các chính sách quốc gia hay vùng liên quan đến bảo tồn và liên kết các chiến lược. 3.1.3 Yêu cầu của một kế hoạch quản lý tốt Một KHQL tốt cần thể hiện được các đặc điểm sau: • Đó là một quá trình chứ không phải một sự kiện vì nó không dừng lại khi soạn thảo xong bản kế hoạch mà vẫn tiếp tục thông qua việc thực hiện kế hoạch và xa hơn nữa. • Có liên quan đến tương lai; nó xác định các quá trình chọn lựa các hành động có liên quan trong tương lai. • Cung cấp các phương pháp suy nghĩ về các mối đe dọa, các cơ hội, các vấn đề khó khăn khác, cách giải quyết các vấn đề và thúc đẩy việc tăng cường thảo luận giữa các bên liên quan. • Có tính hệ thống: Cách tiếp cận có hệ thống có thể bảo đảm các quyết định được dựa trên sự hiểu biết, phân tích của chủ đề và trong bối cảnh của nó, giúp cho người khác hiểu được tính hợp lý của các hành động được đề xuất • Liên quan đến việc biện minh cho các giá trị của khu BTTN: Xây dựng và thực hiện KHQL có thể được coi như “ một quá trình bao gồm xác định khu BTTN là gì, nó sẽ được quản lý và phát triển để trở thành gì và làm thế nào để duy trì các điều kiện hiện có hoặc đạt được các điều kiện mong muốn trong khi phải đối mặt với các thay đổi cả ở bên trong và bên ngoài” (Lipscombe,1987) • Nó là một quá trình liên tục, không bao giờ tĩnh tại; thích ứng với các điều kiện và mục tiêu.
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 23 3.1.4 Kinh phí để lập KHQL Trước khi xây dựng KHQL phải tính đến kinh phí và nguồn kinh phí thực hiện, đặc biệt kinh phí điều tra và tư vấn góp ý. Phải tính toán sao để tất cả chi phí có liên quan đến việc xây dựng KHQL đều được đáp ứng. Cũng cần chú ý là thời gian xây dựng bản KHQL có khi kéo dài trong vài năm mới có thể hoàn thành. Một việc hết sức quan trọng là phải dự trù kinh phí để thực hiện kế hoạch, sao cho những mục tiêu đề ra trong kế hoạch đều có thể trở thành hiện thực. 3.1.5 Thời gian lập kế hoạch Thời gian để xây dựng KHQL: Ngay đối với một khu BTTN nhỏ, thời gian để hoàn thành một KHQL cũng thường không dưới 12 tháng.Nếu đòi hỏi lấy ý kiến rộng rãi hay có nhiều vấn đề phức tạp sẽ cần nhiều thời gian hơn. 3.1.6 Các kế hoạch khác có liên quan đến KHQL Một số các kế hoạch và tài liệu khác thường kèm theo KHQL và là một phần của KHQL hoặc hỗ trợ cho KHQL. Tên gọi các kế hoạch và tài liệu này rất khác nhau giữa các quốc gia và đôi khi cũng có sự chồng chéo ở ngay trong một nước. • Kế hoạch hoạt động (còn được gọi là kế hoạch công việc, hay kế hoạch thực hiện): Kế hoạch này được xây dựng để xác định các hoạt động quản lý cụ thể được thực hiện khi nào và như thế nào. Kế hoạch hoạt động thường có thời gian ngắn hơn so với KHQL, ví dụ như kế hoạch hoạt động hàng năm. • Kế hoạch phối hợp: Là bản kế hoạch công việc của cơ quan quản lý khu BTTN. Kế hoạch này giải thích các công việc của đơn vị được tiến hành như thế nào, đưa ra các mục tiêu và các hoạt động ưu tiên và cung cấp các phương pháp để đánh giá việc thực hiện các hoạt động đó. Kế hoạch này được xây dựng từ KHQL. • Kế hoạch kinh doanh: Giúp cho khu BTTN có thể chủ động hơn về tài chính. Nó nghiên cứu các loại hàng hóa, dịch vụ , tiếp thị và chiến lược thực hiện cho khu BTTN (xem Chương 5 -Chiến lược tài chính). • Qui hoạch phân vùng chức năng: Qui hoạch này được xây dựng khi các tiểu vùng hay phân khu của khu BTTN có cách quản lý khác nhau. Nó xác định ranh giới và nội dung chi tiết của công tác quản lý cho mỗi phân khu. Quy hoạch này hỗ trợ cho việc thực hiện, đôi khi là một phần của KHQL • Kế hoạch phân ngành: Được xây dựng cho công tác quản lý của các ngành khác nhau trong khu BTTN, ví dụ du lịch (xem Chương 7 - Chiến lược và kế hoạch du lịch sinh thái), bảo tồn loài. Nó xuất phát từ các mục tiêu chung của KHQL nhưng chi tiết hơn. • Kế hoạch phát triển: Được soạn thảo để đáp ứng nhu cầu đầu tư và các công việc có liên quan đến một phần của khu BTTN. Ví dụ kế hoạch xây dựng Trung tâm du lịch. • Kế hoạch quản lý điểm: Được xây dựng để đáp ứng với nhu cầu quản lý của các điểm, khu vực cụ thể, ví dụ, kế hoạch quản lý một thắng cảnh cụ thể thu hút khách du lịch trong khu BTTN. • Kế hoạch bảo tồn: Hướng dẫn làm thế nào để bảo tồn các điểm. Bản kế hoạch này thường được xây dựng cho các khu bảo tồn di sản văn hóa
- 24 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN • Kế hoạch tổng thể: Tên kế hoạch này được sử dụng khi quy hoạch các khu BTTN của Mỹ và Canada vào những năm 1970. Kế hoạch tổng thể được coi là bản hướng dẫn cho công tác bảo tồn, quản lý và phát triển . Nhưng theo MacKinnon và cộng sự (1986) Kế hoạch tổng thể ít được sử dụng và đã được thay thế bằng KHQL. 3.2 Các yêu cầu trong chuẩn bị và thực hiện thành công KHQL 3.2.1 Các công việc cần làm Một KHQL muốn được thực hiện có kết quả cần chú ý các công việc sau : • Tiến trình của công tác chuẩn bị • Cách trình bầy, cách viết và nội dung của KHQL • Bối cảnh thực hiện KHQL • Nguồn lực, và năng lực để thực hiện KHQL 3.2.2 Tiến trình của công tác chuẩn bị Khi xây dựng KHQL cần theo nguyên tắc “ Có sự tham gia của cộng đồng” để lôi kéo cộng đồng trong công tác quản lý khu BTTN. Sự tham gia càng sớm càng tốt và kéo dài suốt tiến trình. Hai đối tượng cần được lôi cuốn: đối tượng bên ngoài ( người dân địa phương, khách tham quan và các bên liên quan khác), đối tượng bên trong (các cán bộ, nhân viên sẽ thực thi Kế hoạch). Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng, ở nhiều nước đã thành lập Ban quản lý với cơ chế đồng quản lý hoặc cơ chế tham gia khác. Đối với cả hai đối tượng nêu trên , quá trình chuẩn bị cần : • Phải rõ ràng, hợp lý, trước hết là đối với các mục tiêu quản lý. • Tập trung vào các vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa quan trọng của khu BTTN. • Tăng cường các hoạt động cụ thể hoặc các giải pháp đáp ứng các vấn đề trên và xác định ai sẽ chịu trách nhiệm để thực hiện các hoạt động đó. • Chọn cách tiếp cận rõ ràng để thực hiện, bao gồm cả nguồn nhân lực, vật lực yêu cầu. 3.2.3 Cách trình bầy, cách viết và nội dung của KHQL Cách trình bầy, cách viết và nội dung của KHQL là rất quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến sự hiểu biết và lôi kéo cộng đồng và các đối tác, mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện và sự hỗ trợ của cộng đồng trong công tác quản lý khu BTTN. Hộp 5 trình bày những đặc điểm của một KHQL tốt.
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 25 Hộp 5. Hướng dẫn về một KHQL tốt • Rõ ràng và sử dụng được: dễ đọc, ít từ đặc biệt và trình bày tốt. • Ngắn gọn và đủ ý: không dài quá, nhưng đủ thông tin để hoàn thành các chức năng của nó. • Chính xác và khách quan: Không có những thiếu sót như sai ngày tháng, các tiêu chí cần được giải thích rõ. • Có tính hệ thống và hợp lý: Với các chính sách quản lý bắt nguồn từ việc đánh giá khu vực và các đề nghị rất hợp lý. • Được chấp nhận và có tính khuyến khích đối với các bên liên quan. • Có tính thực thi cao: các mục tiêu rõ ràng, các phương pháp hiện thực để có thể hoàn thành các mục tiêu, kết quả là các thành quả mong muốn có thể giám sát được. • Tính tập trung và hiệu quả: Hoàn thành các mục tiêu như là một công cụ để quản lý khu vực, đáp ứng các yêu cầu của người sử dụng và thỏa mãn các nghĩa vụ hợp pháp Ngoài các đặc điểm trên, một KHQL tốt cũng cần thể hiện: • Tính chính xác nhưng linh động. • Tính khái quát nhưng đơn giản. • Các định hướng công tác quản lý dễ hiểu dối với mọi đối tượng. 3.2.4 Bối cảnh thực hiện KHQL Tính thống nhất của vùng KHQL được chuẩn bị trong bối cảnh đất đai, dân cư bao quanh khu BTTN. Nhà quản lý khu BTTN phải có tầm nhìn ra ngoài ranh giới khu vực mình quản lý, đặc biệt khi chuẩn bị các kế hoạch về giáo dục, về lôi cuốn sự tham gia của quần chúng và quản lý vùng đệm.Vì vậy KHQL cần được lồng ghép và kết hợp với các quá trình phát triển của địa phương và với các hoạt động của các cơ quan hoặc tổ chức đang hoạt động trong khu vực. Nguyện vọng và nhu cầu của cộng đồng địa phương sống quanh khu BTTN cần được xác định rõ và ghi nhận trong quá trình xây dựng kế hoạch và trong bản KHQL. Gắn kết với các quy hoạch hệ thống quốc gia, các quy hoạch và luật lệ khác KHQL cần gắn kết với các cơ quan, hệ thống quy hoạch hoặc các khu BTTN khác. Nó cũng cần gắn kết với các kế hoạch có liên quan khác như: Kế hoạch của chính quyền địa phương, quy hoạch phát triển, v.v 3.2.5 Nguồn kinh phí, cam kết và năng lực Nguồn kinh phí cần thiết Cần phải xác định rõ tổng kinh phí cần thiết và nguồn kinh phí để thực hiện các mục tiêu và hành động trong KHQL. Nếu thiếu kinh phí thì không thể thực hiện được các mục tiêu và hành động theo mong muốn của người quy hoạch. Năng lực lập kế hoạch Nếu có một đội ngũ các nhà lập kế hoạch được đào tạo và có trình độ học vấn cao thì công tác
- 26 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN lập kế hoạch sẽ rất thuận lợi (đặc biệt là đối với giám đốc khu BTTN). Vì vậy việc nâng cao năng lực cho cán bộ là một vấn đề cần được ưu tiên của công tác quản lý. Có thể sử dụng chuyên gia tư vấn trong nước hoặc quốc tế. Dùng cố vấn bên ngoài có nhiều lợi thế để xây dựng KHQL nhưng khi kết thúc công việc thì họ cũng mang theo các kinh nghiệm và hiểu biết của họ đi. Do đó điều quan trọng là ban quản lý khu BTTN cần có đủ năng lực để làm chủ quá trình xây dựng KHQL. 3.2.6 Các khó khăn trong quá trình lập kế hoạch và thực thi Các khó khăn trong việc lập và thực thi kế hoạch gồm 2 loại: • Các khó khăn trong quá trình lập KHQL • Các khó khăn khi thực hiện. Dưới đây giới thiệu một số khó khăn thường gặp và các nguyên nhân . Các khó khăn trong quá trình lập kế hoạch bao gồm: • Thiếu cán bộ có năng lực để tiến hành lập kế hoạch. • Thiếu kinh phí và trang thiết bị. • Thiếu hỗ trợ kỹ thuật do trình độ của người lập kế hoạch hạn chế. • Nhận thức chưa đầy đủ về khu BTTN của các cộng đồng địa phương. • Các áp lực kinh tế từ bên ngoài, như áp lực khai thác tài nguyên, hay các giá trị khác của khu BTTN • Thiếu sự giao lưu với cộng đồng và các bên liên quan khác. Khi các khó khăn trên chiếm ưu thế trong quá trinh lập kế hoạch, cán bộ thường mất sự động viên và tính năng động, làm cho mục tiêu trở nên khô cứng vì đã được định trước. Kết quả bản KHQL mang tính rập khuôn các bản khác, bị cộng đồng phê phán và khó được chấp nhận. Các khó khăn khi thực thi Những khó khăn nảy sinh trong khi thực hiện KHQL, có thể bắt nguồn từ sự yếu kém về nội dung của bản kế hoạch, cách viết hoặc có các điều bất hợp lý. Việc KHQL được chuẩn bị như thế nào (ai đã tham gia, tham gia ở giai đoạn, mức độ nào ) sẽ có ảnh hưởng đến việc thực hiện KHQL. Các khó khăn khi thực thi KHQL thường bao gồm: • Chưa thật chú ý đến vấn đề tài chính (các thông tin về tài chính hoặc không được đưa vào Kế hoạch hoặc kinh phí được nhận thấp hơn nhiều so với kinh phí dự trù) • Các giả định thiếu tính thực tiễn về năng lực quản lý của tổ chức. • Các mục tiêu được xác định mờ nhạt, chung chung (không có tính đặc trưng, không nêu lên được những giá trị đặc biệt của khu BTTN). • Không xác định được những chi tiết quan trọng nhất (phạm vi của vấn đề cần giải quyết), bị hoãn lại cho các nghiên cứu sau, mặc dầu cần sớm được triển khai thực hiện. • Giao nhiệm vụ không rõ ràng và cụ thể nên không tạo một cơ sở tốt cho các hoạt động thực địa • Việc nhấn mạnh quá đáng vào một số mặt của KHQL, ví dụ như du lịch hay giải trí có thể làm lệch hướng đầu tư ngân sách và nguồn lực vào các mặt quan trọng của khu BTTN.
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 27 • Sự không ổn định của tài chính, quản lý hoặc thể chế chính trị. • Không đề xuất được các việc cấp bách và cần ưu tiên. • Bản KHQL không có tính thực thi cao và không thể làm cơ sở cho các hoạt động. 3.3. Tiến trình lập kế hoạch quản lý 3.3.1. Tổng quan về tiến trình KHQL là một quá trình liên tục- một “vòng tuần hoàn” với 3 yếu tố chính: • Chuẩn bị KHQL • Thực hiện kế hoạch • Giám sát và chỉnh sửa kế hoạch Với nội dung trên, tiến trình cụ thể xây dựng KHQL có thể chia thành 13 bước sau: 1. Quyết định xây dựng KHQL, chọn nhóm lập kế hoạch, xác định phạm vi nhiệm vụ, tiến trình. 2. Thu thập số liệu, xác định các vấn đề, tư vấn. 3. Đánh giá số liệu và các thông tin về tài nguyên. 4. Xác định các hạn chế, cơ hội và đe dọa 5. Đề xuất tầm nhìn và mục tiêu. 6. Đề xuất các giải pháp để thực hiện tầm nhìn, mục tiêu, bao gồm cả việc phân khu chức năng. 7. Viết bản dự thảo KHQL 8. Lấy ý kiến tham gia bản dự thảo KHQL 9. Chỉnh sửa, hoàn chỉnh bản KHQL, báo cáo về kết quả của việc lấy ý kiến, lập tờ trình xin phê duyệt KHQL. 10. Phê duyệt KHQL 11. Thực thi 12. Giám sát và đánh giá 13. Chỉnh sửa và cập nhật KHQL. 3.3.2 Các bước xây dựng KHQL Bước 1. Quyết định xây dựng KHQL, chọn nhóm lập kế hoạch, xác định phạm vi nhiệm vụ, tiến trình. Đây là một trong những bước quan trọng nhất để xây dựng KHQL. Trong bước này cần xác định rõ: các công việc cần làm, cách tiến hành, thời gian và người thực hiện.Giai đoạn này thường bao gồm các bước sau: • Xác định rõ mục tiêu lâu dài và mục tiêu ngắn hạn của khu BTTN và đảm bảo tất cả các bên lên quan đều hiều rõ các điều đó. • Xác định các bước cần thực hiện. • Xác định người sử dụng bản KHQL. Bản KHQL được xây dựng chủ yếu cho giám đốc Ban quản lý khu BTTN sử dụng, nhưng thực tế đây không phải là bản kế hoạch công tác chi tiết, nên cộng đồng địa phương, cán bộ khu BTTN, doanh nghiệp có liên quan cũng là người sử dụng bản KHQL này.
- 28 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN • Đảm bảo KHQL sẽ được xem xét một cách toàn diện, nghĩa là theo phương pháp “Tiếp cận hệ thống”. • Các nhà chuyên môn và các bên có liên quan cần gặp nhau để thảo luận về cách quản lý khu BTTN. • Chọn “nhóm lập kế hoạch”. Phần phụ lục dưới đây sẽ cung cấp các thông tin về chuyên môn và nghiệp vụ đòi hỏi đối với một nhóm lập kế hoạch. • Chuẩn bị và thực hiện Sơ đồ công việc trong quá trình lập KHQL. • Lên kế hoạch lôi cuốn cộng đồng tham gia lập KHQL, thí dụ như: cán bộ Ban quản lý, các chuyên gia, người dân địa phương và các bên có liên quan khác. • Xác định và thống nhất về các thủ tục với các nhà quản lý có kinh nghiệm về việc công nhận và phê duyệt bản KHQL. Bước 2. Thu thập số liệu, xác định các vấn đề, tư vấn. Công tác lập kế hoạch và quản lý đòi hỏi các số liệu đáng tin cậy.Có 2 quan điểm về quan hệ giũa thu thập số liệu và xây dựng mục tiêu quản lý: Thông qua thu thập và phân tích số liệu để xác định và thống nhất mục tiêu quản lý. Từ các mục tiêu quản lý để xác định các số liệu cần thu thập. Thực tế, khu BTTN đã được thiết lập dựa trên các thông tin ban đầu (ví dụ bảo vệ các sinh cảnh và các loài đặc biệt), quá trình xây dựng KHQL đòi hỏi nhiều số liệu và thông tin hơn. Vì vậy giai đoạn này cần: • Thu thập các thông tin cơ bản hiện có (số liệu về lịch sử có thể chưa cần thu thập.) • Tiến hành ngoại nghiệp để kiểm chứng các thông tin và thu thập thêm thông tin, nếu cần. • Tư liệu hóa các thông tin dưới dạng mô tả khu BTTN (đôi khi gọi là “Báo cáo hiện trạng khu BTTN” Cần chú ý, không phải tất cả các thông tin thu thập đều được đưa vào KHQL. Một số số liệu và thông tin có thể đưa vào phụ lục của báo cáo chính. Bước 2 thường kết thúc khi chuyển sang bước đánh giá các thông tin, nhưng trong thực tiễn, đôi khi có sự trùng lặp giữa 2 bước này. Hộp 6. Hướng dẫn thu thập thông tin Dưới đây là danh sách các thông tin quan trọng cần thu thập: • Các tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên sinh thái) và đặc điểm của chúng. • Tài nguyên văn hóa và đặc điểm của chúng. • Các giá trị thẩm mỹ (các thắng cảnh đẹp). • Cơ sở hạ tầng ( đường sá, nhà cửa, nơi nghỉ, cung cấp điện nước). • Những đặc điểm cơ bản của môi trường kinh tế- xã hội. • Năng lực và điều kiện trong và ngoài khu BTTN để hỗ trợ cho các dự án. • Đặc điểm du lịch và ảnh hưởng của nó đối với khu BTTN • Dự đoán xu thế tương lai của các nhân tố trên. • Quy hoạch sử dụng đất của khu vực xung quanh.
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 29 Trong nhiều trường hợp, cán bộ lập kế hoạch cần lượng hóa các thông tin, ví dụ như: số khách du lịch, số xe cộ được khách du lịch sử dụng (xe bus, ô tô cá nhân, xe máy ). Các thông tin sẽ thể hiện trong phần mô tả ở hộp 7. Hộp 7. Hướng dẫn các thông tin được đưa vào phần mô tả. • Vị trí (vĩ độ và kinh độ) • Diện tích (ha hoặc km2) • Phân hạng quản lý khu BTTN • Tình trạng pháp lý, ví dụ, ranh giới (cả khu BTTN và từng phân khu) và các vấn đề pháp lý liên quan. • Sở hữu hợp pháp, tình hình xâm lấn, các điều kiện và hạn chế khác. • Địa chỉ của Ban quản lý và các cơ quan quản lý địa phương. • Các vấn đề về tổ chức. • Tình trạng sử dụng đất hiện nay (lâm nghiệp, sự khai thác các tài nguyên khác (khoáng sản, cát, cá ) • Các dịch vụ trong và ngoài khu BTTN • Các con đường chính. • Các thông tin về lịch sử (lịch sử sử dụng đất và các cảnh quan, nhân chủng học, quá trình xây dựng) • Các thông tin sinh học (các quần thể; hệ động vật, thực vật) • Các thông tin về tự nhiên (các đặc điểm về khí hậu, địa chất, địa mạo, thủy văn, đất) • Các thông tin về văn hóa, nhân văn (các thắng cảnh và đặc điểm của chúng, văn hóa) • Các thông tin kinh tế- xã hội (số liệu cơ bản và khuynh hướng phát triển của các cộng đồng địa phương và sự phụ thuộc của họ vào khu BTTN) Người lập kế hoạch cũng cần phải chú ý đến các cam kết quốc tế có liên quan đến khu vực. Ví dụ các địa điểm đã được các Công ước quốc tế công nhận (Công ước về di sản thế giới, Công ước Ramsar ); các điểm tuy chưa được công nhận bởi các thỏa thuận quốc tế, nhưng lại có tiềm năng để được công nhận. Vì vậy chất lượng của KHQL có thể là một điều kiện quan trọng trong quyết định công nhận của các Công ước quốc tế về sau này. Nếu khu BTTN nằm gần biên giới quốc gia hay tỉnh, có thể kết nối với các khu BTTN láng giềng thì nên thành lập các khu BTTN liên quốc gia hay liên tỉnh để tăng cường hiệu quả của công tác bảo tồn.
- 30 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Hộp 8. Hướng dẫn mô tả khu bảo tồn thiên nhiên • Xác định các hạn chế của thông tin. Đối với các khu BTTN có quá ít thông tin cơ bản, thì trong mô tả phải chú ý đến các hạn chế của thông tin. Việc xác định các hạn chế của thông tin là một trong những mục tiêu chính của bước này. Mỗi một hạn chế đòi hỏi các thông tin cần thiết. • Đừng trì hoãn việc lập kế hoạch cho đến khi có đầy đủ thông tin. Một KHQL tốt có thể thực hiện từ các mô tả tương đối đơn giản về các đặc điểm tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội của khu vực. Càng nhiều số liệu, càng tăng thêm lòng tin của nhà quản lý hay người lập kế hoạch. Sự thiếu hụt các thông tin cụ thể về địa điểm không phải là lý do để trì hoãn sự quản lý. Bước 3. Đánh giá số liệu và các thông tin về tài nguyên. Mục đích của bước này là xác định và thấy được tầm quan trọng của khu BTTN. Nó giúp cho việc mô tả các giá trị và giải thích lý do thành lập cũng như lợi ích của khu BTTN đối với xã hội. Việc đánh giá giá trị là một quá trình, bao gồm: • Xác định các đặc điểm cơ bản và giá trị độc đáo cần bảo vệ và duy trì để giữ lại ý nghĩa của khu BTTN. Chúng có thể không chỉ giới hạn trong ranh giới khu BTTN • Đưa ra một bản công bố đầy đủ về giá trị để thấy rõ tầm quan trọng của khu BTTN đối với xã hội hay đối với các nhóm liên quan, đặc biệt giới thiệu và phân tích các giá trị độc đáo của khu BTTN trong bối cảnh vùng, quốc gia và quốc tế. Một điều rất quan trọng trong bước đánh giá là đưa ra được các tiêu chí dùng để xác định và đánh giá các giá trị về tự nhiên, kinh tế- xã hội, văn hóa hiện nay và trong tương lai của khu BTTN. Hộp 9 ở trang bên giới thiệu các nhân tố cần được xem xét khi đánh giá những giá trị nổi bật của khu BTTN:
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 31 Hộp 9. Những tiêu chí để xác định các giá trị nổi bật Khi đánh giá ý nghĩa của khu BTTN, người lập kế hoạch cần xác định khu BTTN có các giá trị sau đây không: • Những điểm nổi bật có giá trị cao về tự nhiên, phong cảnh, địa chất, khoa học, sinh thái, hệ động vật, thực vật và vui chơi giải trí. • Những biểu tượng độc đáo về sinh học, kiểu thảm thực vật và cảnh quan (nếu có thì tại sao). • Những khu vực thiết yếu để bảo vệ tính toàn vẹn sinh thái của khu BTTN (ví dụ, các khu vực rất quan trọng để bảo vệ thác nước, đầm lầy ) • Các khu vực hoặc tài nguyên rất quan trọng đối với các cộng đồng địa phương (về kinh tế, văn hóa hay giá trị khác) • Các khu vực hoặc tài nguyên cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho người dân sống bên ngoài khu BTTN, đặc biệt khi chúng có ý nghĩa kinh tế hoặc chính trị cao. • Các loài động vật, thực vật quý hiếm và đặc hữu. • Các loài động vật, thực vật hoặc các sinh cảnh mẫn cảm, bị đe dọa hay có nguy cơ tuyệt chủng cao. • Những điểm nổi bật làm biến đổi cảnh quan và bằng chứng về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên. • Các điểm có giá trị cao về lịch sử, khảo cổ. • Các điểm văn hóa chính • Các đặc trưng đã được thế giới công nhận (ví dụ: Di sản thế giới) Bước 4. Xác định các hạn chế, cơ hội và đe dọa. Trước khi xác định các mục tiêu quản lý cụ thể của khu BTTN, cần xác định các hạn chế, các cơ hội và các đe dọa của nó. Các hạn chế có thể thể hiện ở dạng: • Quy định pháp luật. • Hạn chế về sở hữu. • Các sử dụng ưu tiên (ví dụ khai thác thủy sản hay hầm mỏ) • Sự chú ý về sức khỏe và an ninh. • Các hạn chế về quản lý. • Các hoạt động và sử dụng ưu tiên ( cần phải ưu tiên trong kế hoạch) • Nghĩa vụ đối với các khu BTTN láng giềng, khách du lịch. • Các cân nhắc khác của chính sách. Các đe dọa hay áp lực đối với khu BTTN có thể là do con người hoặc do thiên nhiên, có thể bắt nguồn từ trong hoặc từ ngoài khu BTTN Bước 5. Xây dựng tầm nhìn và mục tiêu quản lý Một tầm nhìn lâu dài. KHQL cần xây dựng mục tiêu lâu dài hoặc “tầm nhìn” của khu BTTN.Tầm nhìn thể hiện ý tưởng về tình trạng và biểu hiện của khu BTTN trong tương lai. Mục đích của tầm nhìn là xác định tiêu điểm hay định hướng cho các mục tiêu quản lý.
- 32 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Xác định và vai trò của các “ mục tiêu” Tiếp theo tầm nhìn cần phải xác định các mục tiêu. Đó là các mong muốn, dự định mà công tác quản lý phải hướng tới. Cần xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên. Để xây dựng mục tiêu quản lý trước mặt, có thể dùng cách tiếp cận 3 bước: • Xây dựng mục tiêu quản lý tổng thể • Xây dựng các giải pháp quản lý cụ thể • Chuẩn bị các lựa chọn quản lý trước mắt. Các mục tiêu thông thường được xác định nhằm giải quyết các vấn đề sau: • Quản lý loài và sinh cảnh • Điều tra, nghiên cứu và giám sát • Cơ sở hạ tầng , bao gồm các phương tiện liên lạc • Du lịch và nghỉ dưỡng • Giáo dục và đào tạo • Các đặc trưng về xã hội và văn hóa • Tạo thu nhập • Các dịch vụ khu BTTN • Hành chính Bước 6. Phân khu chức năng Phân khu chức năng trong khu BTTN nhằm đáp ứng mục tiêu quản lý. Có thể xác định nhiều phân khu chức năng. Trong mỗi phân khu, phương thức quản lý giống nhau, bao gồm các qui định về những hoạt động được phép và hoạt động không được phép thực hiện trong phân khu đó. Thông thường việc phân khu nhằm mục đích: • Tăng cường bảo vệ các sinh cảnh, hệ sinh thái và các quá trình sinh thái tiêu biểu và độc đáo. • Quản lý các hoạt động của con người hiệu quả hơn. • Bảo vệ các giá trị tự nhiên hoặc văn hóa trong khi vẫn cho phép tiến hành các hoạt động thân thiện với môi trường của con người • Đưa các diện tích bị tác động ra ngoài phân khu bảo vệ nghiêm ngặt để phục hồi. Các phân khu chức năng trong khu BTTN thuộc các hạng từ I-IV theo IUCN. Có nhiều loại phân khu chức năng và tên gọi cũng khác nhau. Dưới đây giới thiệu một số loại phân khu chức năng thường được sử dụng trong các Khu BTTN từ phân hạng I - IV theo IUCN: Phân khu có giá trị đặc biệt hay độc đáo. Phân khu có các giá trị độc đáo, đặc biệt hay nổi bật, thí dụ: Các di tích lịch sử; khu tự nhiên quan trọng như: đất ngập nước, đầm nước mặn, cửa sông hay các khu vực biển quan trọng như : bãi đẻ, cần được ưu tiên bảo vệ. Những phân khu này thường không có dân sinh sống và hạn chế du lịch.
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 33 Phân khu nguyên sinh/hoang dã Trong phân khu này không cho phép mở đường hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng lớn , thường cấm các hoạt động của xe cơ giới. Ở đây chủ yếu diễn ra các quá trình tự nhiên. Để phục vụ công tác quản lý chỉ nên có một vài đường mòn; có thể bố trí một vài điểm cắm trại, nhưng số lượng và nội dung hoạt động cần được kiểm soát chặt chẽ. Phân khu hạn chế phát triển. Trong phân khu cho phép thực hiện các hoạt động không gây tác hại tới các giá trị độc đáo và nổi bật của khu BTTN. Phân khu này cho phép tổ chức loại hình du lịch - nghỉ dưỡng, qua đó làm giảm sức ép lên khu vực nguyên sinh hay hoang dã. Phân khu phát triển/Phân khu dịch vụ. Trong phân khu này cho phép xây dựng đường giao thông, khách sạn, các điều kiện thuận lợi cho việc ăn ở và dịch vụ. Do đó nên tránh quy hoạch phân khu này trong hoặc gần khu vực có các giá trị đặc biệt hoặc độc đáo của khu BTTN. Phân khu này không được áp dụng đối với phân hạng khu BTTN mà mục tiêu chủ đạo là bảo vệ đa dạng sinh học, hoặc nghiên cứu khoa học (ví dụ, khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt). Xu hướng hiện nay là đưa phân khu này ra ngoài ranh giới khu BTTN. Phân khu sử dụng tài nguyên theo phương thức truyền thống. Nhiều khu BTTN có phân khu này nhằm mục đích tạo điều kiện cho người dân địa phương tiếp tục sử dụng tài nguyên cho nhu cầu sinh kế hoặc theo phương thức truyền thống. Các phân khu chức năng trong khu BTTN thuộc các hạng V và VI theo IUCN. Trong các khu BTTN thuộc phân hạng V và VI theo IUCN, việc phân vùng nhằm mục tiêu đáp ứng các nhu cầu về kinh tế, văn hóa, và bảo tồn tài nguyên. Phân vùng trong các khu BTTN thuộc phân hạng V thường thông qua quy hoạch sử dụng đất tại các cảnh quan trên đất liền hoặc trên biển; một phần của khu BTTN được quy hoạch cho các hoạt động kinh tế, các phần khác dành cho bảo tồn để bảo vệ các giá trị tự nhiên. Đối với các khu BTTN thuộc phân hạng VI), việc phân khu chức năng sẽ xác định ranh giới đối với các loại hình sử dụng đất khác nhau. Xác định các phân khu và chuẩn bị quy hoạch phân khu: Tới nay chưa có một công thức chung để xác định các phân khu chức năng. Tuy nhiên, một khu BTTN ít nhất phải có từ 02 phân khu chức năng trở lên, và trong đó phải có 01 khu được coi là vùng cần phải được bảo vệ nghiêm ngặt/khá nghiêm ngặt. Nhà quy hoạch và nhóm lập KHQL cần bắt đầu với các mục tiêu quản lý có liên quan. Sau đó sẽ thống nhất các tiêu chí để phân vùng, dựa trên mục tiêu của khu vực và các yêu cầu phát triển. Các phân khu được xác định căn cứ vào các thông tin tốt nhất có được và sự xét đoán chuyên nghiệp của nhóm lập kế hoạch giỏi. Những nhân tố sau đây cần chú ý trong khi xác định các phân khu: • Bảo vệ các giá trị tài nguyên đặc biệt. • Các hạn chế do cảnh quan và các yếu tố sinh thái, thí dụ như: độ dốc, dạng đất, chế độ thủy văn và giá trị cảnh quan.
- 34 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN • Kinh nghiệm về nhu cầu khác nhau của khách du lịch. • Loại trừ hay giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên hay các hoạt động có ảnh hưởng xấu đến tài nguyên và gây khó khăn cho công tác quản lý của khu BTTN. • Năng lực của khu BTTN để hỗ trợ việc sử dụng tài nguyên hay các hoạt động phát triển khác. • Sự tham gia của cộng đồng cần được là ưu tiên trong việc xác định các phân khu.; chính sách và quyết định của Chính phủ có liên quan đến sử dụng đất. • Các phương thức sử dụng tài nguyên của cộng đồng và người dân địa phương. Bước 7. Viết bản dự thảo KHQL Lồng ghép tất cả các nội dung ở trên thành dự thảo KHQL. Có nhiều cách để trình bầy bản KHQL với nhiều nội dung khác nhau. Mẫu của KHQL sẽ tùy theo nguồn kinh phí, mục tiêu quản lý, cơ quan quản lý. Mặc dù không có một mẫu chuẩn chung cho KHQL, điều cơ bản là nội dung và cấu trúc của bản KHQL cần phản ảnh nhu cầu của khu BTTN, các mục tiêu và đòi hỏi của công tác quản lý và sử dụng tài nguyên. Hộp 10 giới thiệu đề cương của một KHQL.
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 35 Hộp 10. Nội dung và cấu trúc cơ bản của một KHQL Chú ý trong KHQL có thể chia hoặc không chia thành các chương hoặc các phần nhỏ hơn nữa, tùy theo tính phức tạp và đặc điểm của khu BTTN. Một số phần có thể bỏ đi hay thêm vào KHQL Tóm tắt KHQL. Phần này tóm tắt các vấn đề chủ yếu trong KHQL, các quyết định có liên quan. Phần này rất quan trọng vì những người quyết định cuối cùng thường không có thời gian để đọc và nắm hết các chi tiết của KHQL Giới thiệu. Phần này trình bày các mục tiêu, phạm vi của KHQL, giải thích các mục tiêu làm căn cứ để thành lập khu BTTN, bao gồm cơ sở pháp lý; thẩm quyền thực thi Kế hoạch; một số thông tin cơ bản về khu BTTN (vị trí, diện tích, tài nguyên và giá trị). Mô tả Khu BTTN. Tóm tắt các thông tin cần thiết về khu BTTN; thường bao gồm tóm tắt tài nguyên của Khu BTTN (thiên nhiên, văn hóa. lịch sử và kinh tế, xã hội), phương thức sử dụng tài nguyên, khung pháp lý và quản lý tài nguyên. Phạm vi điều chỉnh KHQL. Đánh giá Khu BTTN Phần này đánh giá tầm quan trọng của khu BTTN và giải thích giá trị của nó. Phần này thường thể hiện dưới dạng một bản “ Công bố tầm quan trọng” hoặc “ Các giá trị cơ bản” của khu BTTN. Phân tích các vấn đề. Bao gồm các phân tích các hạn chế, cơ hội tác động đến khu BTTN, xác định các đe doạ chính đối với công tác bảo vệ, duy trì và quản lý khu BTTN, các ảnh hưởng (bên trong và bên ngoài) đến các giá trị quan trọng của khu vực, các điều cần chú ý khác trong công tác quản lý. Tầm nhìn và mục tiêu Xác định tầm nhìn lâu dài và rộng lớn đối với khu BTTN, các chính sách quan trọng liên quan để quản lý khu BTTN; các mục tiêu nhằm định hướng cho những hoạt động quản lý trong một khung thời gian của Kế hoạch. Các phân khu chức năng Xác định ranh giới, các qui định về quản lý (những hoạt động được phép, không được phép). Sơ đồ phân khu có thể đưa vào KHQL, hoặc giới thiệu trong một phần riêng. Trong nhiều trường hợp, phân khu chức năng đã có trước khi xây dựng KHQL. Nội dung của phần phân khu chức năng thường được tóm tắt trong KHQL. Các hoạt hộng quản lý (Chỉ dẫn). Phần này trình bày các hoạt động cụ thể được tiến hành để hoàn thành các mục tiêu, thường bao gồm: • Danh lục các hoạt động quản lý, các chỉ dẫn • Kế hoạch công việc, bao gồm thời gian và người thực hiện • Xác định các hoạt động ưu tiên. • Nhân lực và kinh phí đòi hỏi để thực hiện các họat động (dự toán) Nếu phần này được soạn thảo rất chi tiết, nó có thể được tách biệt thành các “dự án” sau này. Mỗi dự án là một hoạt động chi tiết; có thể giải thích các hoạt động được thực hiện như thế nào. Thông thường, các thông tin trong phần này thường không thật chi tiết, nhưng sẽ được bổ sung bởi từng hoạt động hàng năm của Kế hoạch công việc, sẽ bao gồm dự toán và hướng dẫn chi tiết. Giám sát và điều chỉnh Phần này phác thảo cách làm thế nào để giám sát, thời gian và cách điều chỉnh. Nó cũng bao gồm các chỉ số để đánh giá được các hoạt động của khu BTTN.
- 36 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Tuy không nhất thiết phải theo đúng từng bước, đề cương trên có thể áp dụng đối với các Khu BTTN kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (phân hạng VI). Trong trường hợp đó, KHQLcó thể xây dựng một loạt các chương trình quản lý có liên quan đến: • Quản lý bảo tồn đa dạng sinh học • Quản lý môi trường tự nhiên • Quản lý các nhóm sinh vật • Các chương trình quản lý cộng đồng • Phát triển du lịch và khu BTTN. • Bộ máy hành chính khu BTTN. • Nghiên cứu và truyền thông • Giám sát và điều chỉnh KHQL của các Vườn quốc gia tại Anh và Xứ Wales cũng theo mẫu trên, với mỗi chương thể hiện những mục tiêu lớn của Vườn ( xem hộp 11) Hộp 11. Đề cương một KHQL Vườn quốc gia (Anh và Xứ Wales) 1. Lời nói đầu 2. Tầm nhìn 3. Bảo tồn a. Môi trường tự nhiên b. Bảo vệ các di sản văn hóa 4. Nâng cao nhận thức và giải trí a. Quản lý vui chơi giải trí b. Nâng cao nhận thức 5. Kinh tế và phúc lợi xã hội đối với các cộng đồng địa phương 6. Quy hoạch phát triển và tăng cường kiểm sóat 7. Các chủ đề/ chính sách liên quan đến VQG đối với các khu vực địa lý đặc biệt 8. Thực hiện : các chính sách áp dụng cho các khu vực đặc biệt của VQG: Chính sách, hành chính và tài nguyên 9. Giám sát và điều chỉnh Nguồn : Ủy Ban Countryside (1977) Ở Tanzania các“Kế hoạch hoạt động” của VQG trình bày các tiêu đề có liên quan đến các mục tiêu lớn của khu BTTN. Bước 8. Lấy ý kiến tham gia về bản dự thảo KHQL Một trong các bước quan trọng khi xây dựng KHQL là lấy ý kiến tham gia của các tổ chức, cá nhân liên quan về bản dự thảo. Khi gửi bản thảo KHQL đi lấy ý kiến cần ghi rõ thời hạn và địa chỉ để tổ chức, cá nhân có liên quan gửi ý kiến góp ý Ngoài hình thức đọc góp ý, có thể tổ chức các cuộc họp góp ý hoặc phỏng vấn trên phương tiện truyền thông công cộng Bước 9. Chỉnh sửa, hoàn chỉnh KHQL Tiến hành chỉnh sửa bản thảo trên cơ sở tiếp thu các ý kiến đóng góp. Có thể tóm tắt các ý kiến tham gia và đưa vào phần phụ lục của KHQL hoặc viết thành một báo cáo riêng kèm theo báo
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 37 cáo cuối cùng, trong đó phân tích các ý kiến được tiếp thu và giải thích tại sao một số ý kiến không được sử dụng. Bước 10. Phê duyệt Kế hoạch Thủ tục này rất khác nhau tùy theo qui định tại mỗi nước.Nhưng trong hầu hết các trường hợp, KHQL được chấp nhận, phê duyệt bằng một văn bản có tính pháp lý và được tư liệu hóa rõ ràng. Ví dụ ở Úc, KHQL của Vườn quốc gia được đệ trình lên Bộ trưởng Bộ Môi trường và Di sản để phê duyệt, đồng thời cũng được gửi đến Thượng nghị viện và Hạ Nghị viện. Bước 11. Thực hiện KHQL KHQL đưa ra các hành động cần thực hiện. Để thực thi KHQL có 2 cách tiếp cận thường được sử dụng: • Cách 1: Bản KHQL không ghi chi tiết các thông tin về nhân lực và kinh phí cho mỗi năm. • Cách 2: Bản KHQL ghi chi tiết các thông tin này. Cách 1 được áp dụng khi các nhiệm vụ có phạm vi lớn và phức tạp, khó dự tính được kinh phí chính xác cho một hoặc hai năm của Kế hoạch. Cách 2 được áp dụng đối với một kế hoạch công việc chi tiết, với tất cả các hoạt động cần thực hiện và ước tính kinh phí cho cả thời gian thực thi. Bước 12. Giám sát và đánh giá Khi bản KHQL đã được soạn thảo xong và được chấp nhận, bản kế hoạch hành động cũng đã được xây dựng để hướng dẫn thực thi, các cán bộ hiện trường đã có thể bắt đầu thực hiện KHQL. Với cách trên, công tác giám sát và đánh giá sẽ cung cấp các phản hồi về việc thực hiện kế hoạch. Mục tiêu của bước này là xác định xem KHQL có được thực thi có kết quả và đáp ứng được các mục tiêu đề ra hay không, rút kinh nghiệm từ việc quan sát các tác động của công tác quản lý; và điều chỉnh các hoạt động quản lý cho phù hợp với thực tế. Nơi nào, việc thực hiện kế hoạch có vấn đề, công tác giám sát và đánh giá có thể được sử dụng để làm căn cứ để điều chỉnh nguồn lực và tăng cường việc thực thi. Khung giám sát và đánh giá của IUCN tập trung vào 2 điểm: • Tính phù hợp của hệ thống và các tiến trình quản lý: được đo bằng cách đánh giá các kết quả của công tác quản lý và các tiến trình đã thực hiện. • Việc thực hiện các mục tiêu của khu BTTN: được đo bằng cách xác định các kết quả, đầu ra của công tác quản lý. IUCN đã xác định 6 yếu tố chính của tiến trình quản lý cần được đánh giá để xác định mức độ và lý do của sự thành công hay thất bại trong chu trình quản lý: • Chúng ta đang ở đâu? (Bối cảnh) • Chúng ta muốn đến đâu? (Kế hoạch) • Chúng ta cần cái gì? (đầu vào) • Chúng ta sẽ đi như thế nào? (tiến trình )
- 38 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN • Kết quả là cái gi ? (Đầu ra, ví dụ các hoạt động được tiến hành hoặc các dịch vụ được cung cấp) • Chúng ta đã hoàn thành cái gì? (kết quả- thí dụ những thành tích cụ thể của công tác quản lý) Bước 13. Chỉnh sửa và cập nhật KHQL. Bước cuối cùng của tiến trình thực hiện KHQL là quyết định xem có cần phải chỉnh sửa và cập nhật KHQL không. Trong nhiều trường hợp kế hoạch thường bị giới hạn về thời gian do các qui định có tính luật pháp, thường là 5, 7 hay 10 năm. Quyết định chỉnh sửa sẽ được tiến hành vào thời điểm phù hợp, cho phép có một bản kế hoạch mới thay thế trước khi bản cũ hết thời hạn. Đối với các KHQL phức tạp, cần tham vấn của nhiều bên liên quan thì việc chỉnh sửa được tiến hành 2 năm trước khi KHQL mới có hiệu lực. Nếu KHQL đơn giản hơn thì tiến trình được bắt đầu ít nhất là 12 tháng trước khi bản KHQL mới có hiệu lực. Tại bước này, các kết quả của giám sát và đánh giá sẽ được xem xét khi soạn thảo văn kiện mới. Một bản KHQL nên được viết lại ít nhất là sau thời hạn 10 năm. 3.4. Sự tham gia của cộng đồng 3.4.1. Lý do cần có sự tham gia của cộng đồng Cộng đồng bao gồm cộng đồng địa phương, các nhóm người sử dụng tài nguyên, các “nhóm sở thích ”, các quan chức địa phương, các đại diện của các tổ chức phi chính phủ, các doanh nhân, các nhóm khác và tất nhiên là bao gồm cả các cán bộ của khu BTTN. Việc tham gia của các cộng đồng địa phương cần được đặc biệt chú ý. Sự tham gia của cộng đồng là cần thiết trong quá trình xây dựng KHQL, vì tham gia thể hiện sự nhất trí của cộng đồng đối với các mục tiêu và tiến trình của bản kế hoạch và đem lại các lợi ích rõ ràng như liệt kê chi tiết trong Hộp 12
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 39 Hộp 12. Lợi ích của sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng KHQL • Nâng cao tính “sở hữu” đối với bản KHQL. Các cộng đồng sống trong hay gần khu BTTN, khách du lịch và các bên liên quan tới khu BTTN sẽ cảm nhận sâu sắc hơn sự cam kết với các mục tiêu và hoạt động quản lý, nếu họ có cơ hội được tham gia quyết định các vấn đề đó • Hỗ trợ mạnh hơn cho khu BTTN. Thành công của bản KHQL sẽ phụ thuộc vào sự hỗ trợ của cộng đồng và chính quyền địa phương. Cần phải duy trì sự trao đổi thường xuyên với cộng đồng về các quyết định có ảnh hưởng đến họ, và về công tác bảo vệ và sử dụng tài nguyên trong khu BTTN. • Sự tham gia tích cực của cộng đồng vào các quyết định sẽ giúp họ có ý thức hơn (và cảm thấy có thể ảnh hưởng) về những thay đổi trong phương hướng quản lý. • Tăng cường mối liên kết mục tiêu bảo tồn với nhu cầu phát triển. Trong một KHQL mà không đề cập đến những nhu cầu của người dân về phát triển kinh tế xã hội, thì khó có điều kiện để hoàn thành các mục tiêu của bản KHQL. • Tạo một cơ chế trao đổi, trong đó các quan điểm, mối quan tâm và ý kiến về quản lý khu vực được chia sẻ giữa các nhà quản lý và các bên liên quan. Điều đó giúp cho việc xác định và quyết định các vấn đề một cách phù hợp hơn và tăng cường hiểu biết và ủng hộ của cộng đồng đối với khu BTTN. 3.4.2 Ai tham gia? Một trong những câu hỏi quan trọng cần trả lời khi bắt đầu tiến lập kế hoạch là xác định ai là “bên liên quan” chính? “ Có nhiều “ quần chúng”, và bước đầu tiên phải xác định ai là đối tác đặc biệt của bạn. Họ có thể là các khách du lịch, nhà nghiên cứu, thợ săn địa phương, chủ trang trại và người đánh cá, các quan chức địa phương. Vậy ai trong số họ? (Thorsell,1995)” Nếu có người dân địa phương sống trong và quanh khu BTTN thì rất cần lôi cuốn họ tham gia vào quá trình. Đối với khu BTTN thuộc phân hạng V, trong đó luôn luôn có cộng đồng dân cư sinh sống, IUCN đề xuất là cần phải có sự tham gia của cộng đồng trong mọi giai đoạn lập kế hoạch và quá trình quản lý (Philipps,2002). Tuy vậy trong hầu hết các trường hợp cần xác định “cộng đồng địa phương” là ai. Có thể áp dụng tiêu chí ‘’người dân địa phương sống trong một khoảng cách nào đó so với khu BTTN’’? Làm thế nào để xác định đối tượng cần phải lôi cuốn? Có phải tất cả các bên liên quan đều là đại diện không?
- 40 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Hộp 13 giới thiệu phương pháp có thể sử dụng để xác định các đối tác chủ yếu đối với khu BTTN. Hộp 13. Phương pháp xác định các đối tác chính Các cá nhân có ảnh hưởng đối với khu BTTN có thể là: • Giám đốc hoặc người đứng đầu của các đơn vị quản lý tài nguyên và đất đai khác • Lãnh đạo cộng đồng địa phương, các nhóm hoạt động hay các hội • Các chủ đất và chủ nhà ở vùng lân cận • Chủ trang trại hoặc người quản lý, có chứng nhận hay thuê trang trại ở gần khu BTTN • Các chủ doanh nghiệp, lực lượng lao động và đại diện của họ có liên quan đặc biệt đến các hoạt động kinh tế như cung cấp nước, lâm nghiệp, khai khoáng, đánh cá hay du lịch • Lãnh đạo ban quản lý khu BTTN và nhân viên của họ. • Đại diện của các tổ chức hay khách du lịch có ảnh hưởng đến khu vực do các hoạt động nghỉ ngơi hay giải trí của họ • Các nhà nghiên cứu với các đề tài hay địa điểm nằm trong hoặc gần khu BTTN Các câu hỏi dưới đây dùng để xác định các đối tác chính : • Quan hệ của họ với khu vực như thế nào? Họ sử dụng và coi trọng khu vực đó đến mức nào và như thế nào ? • Vai trò và năng lực của họ ra sao? • Họ có ảnh hưởng đối với các sáng kiến quản lý bằng cách nào ? • Các tác động hiện nay do các hoạt động của họ đối với các giá trị của khu BTTN ra sao ? 3.4.3. Các hình thức tham gia của cộng đồng “Tham gia” là một khái niệm chung chỉ sự liên quan của các nhóm hay các cá nhân trong quá trình quyết định. Có nhiều cách và mức độ tham gia. Lipscombe (1987) đã khuyên: “Có thể phát hiện trước các điều quần chúng muốn. Tuy nhiên đó là một công việc khó khăn và tốn kém, vì thường họ không nói lên sự thật. Sự tham gia đầy đủ trong quy hoạch vì vậy thường không thực hiện được. Cần chú ý đến các ý kiến trái ngược nhau về quan điểm, vì nó sẽ dẫn đến các vấn đề rất quan trọng cho nhà quy hoạch. Một điều cần chú ý là phải làm sao để người dân cảm thấy là họ có được một cơ hội tốt để thể hiện quan điểm của họ - điều này cần phải được xem xét một cách nghiêm túc”. Các mức độ tham gia thể hiện như sau: Thông báo : Đây là mức độ thấp nhất của sự tham gia. Các nhóm hay các cá nhân nhận được thông tin về các hoạt động dự kiến, nhưng họ không có điều kiện làm thay đổi chúng. Mục tiêu của việc thông báo là để thuyết phục cộng đồng về các quan điểm của nhà lãnh đạo. Đây là cách tiếp cận “từ trên xuống” khi quyết định trong công tác bảo tồn. Tham vấn: Đây là bước cao hơn thông báo.Các cộng đồng địa phương, các bên liên quan chủ chốt và các tổ chức nhận được thông báo về dự án hay kế hoạch để biết quan điểm của họ. Những ý kiến tham vấn được nhắc đến trong khi đánh giá, nhưng không nhất thiết được tiếp thu vì bản thảo cuối cùng đã xong.
- Kế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên 41 Cùng quyết định: Điều này xảy ra khi các bên liên quan được mời đến để biết và trao đổi về vấn đề cùng quan tâm và tham gia vào quyết định cuối cùng. Cùng phối hợp: Khi hai bên cùng tham gia quyết định và chia sẻ trách nhiệm để thực hiện các quyết định đó. Ủng hộ các mối quan tâm độc lập của cộng đồng: Đây là mức độ cao nhất của sự tham gia của cộng đồng. Cộng đồng chịu trách nhiệm xây dựng các chương trình bảo tồn và thực hiện các quyết định mà họ lựa chọn.Vai trò của các chuyên gia, các cơ quan hay nhà đầu tư là hỗ trợ cộng đồng bằng các thông tin và các kỹ năng và có thể cả nguồn lực để giúp cho đưa ra các quyết định với các thông tin tốt nhất có thể. Mức này thể hiện cách tiếp cận hoàn toàn “từ dưới lên” trong công tác bảo tồn. 3.4.4 Công tác tham vấn Việc tổ chức tham vấn nên theo các hướng dẫn sau (hộp 14 ) Hộp 14. Hướng dẫn công tác tham vấn • Sớm lôi cuốn quần chúng. Càng lôi cuốn cộng đồng tham gia sớm, càng có điều kiện để họ có ảnh hưởng đến kết quả KHQL. • Trao đổi thông tin. Có 2 cách: nghe ý kiến hoặc tham gia trao đổi và đánh giá. Kết quả là nâng cao sự hiểu biết về vấn đề và thường đi đến thống nhất các ý kiến về vấn đề đó • Cung cấp thông tin và giáo dục. Việc cung cấp thông tin và giáo dục bằng các hình thức phù hợp sẽ giúp cộng đồng đưa ra các quyết định dựa trên cơ sở hiểu rõ về các vấn đề mà họ được tham gia. • Dành thời gian thích hợp. Đây là điều cần thiết để tạo mối quan hệ, sự hiểu biết và nghiên cứu vấn đề, sự đồng ý và thu thập các số liệu mà cộng đồng cần, thường xuyên trao đổi và cung cấp thông tin và ý tưởng, các giải pháp và mối liên quan đến họ. • Phương pháp mềm dẻo. Tiến trình xây dựng kế hoạch cần được tiến triển một cách tự nhiên theo sự hiểu biết của cộng đồng và mức độ sẵn có của các thông tin. Ngoài các hướng dẫn ở trên, điều quan trọng là cộng đồng ở quanh khu BTTN cần nhận được sự khuyến khích tham gia trong quá trình lập kế hoạch và quản lý. Biện pháp để khuyến khích có thể là lợi ích kinh tế hoặc quyền lợi về văn hóa, xã hội. 3.4.5 Các phương pháp Có nhiều phương pháp để thu hút cộng đồng tham gia vào quá trình lập kế hoạch. Các phương pháp trình bày dưới đây được Cục Vườn Quốc gia và động vật hoang dã New South Wales sử dụng: • Đăng báo hay quảng cáo để kêu gọi sự tham gia • Các chương trình phát thanh hoặc truyền hình để thảo luận các vấn đề quy hoạch • Xuất bản các cuốn sách nhỏ hoặc tờ rơi liên quan đến các cuộc thảo luận chi tiết về các vấn đề đặc biệt. • Phổ biến bản thảo của KHQL • Mở diễn đàn cộng đồng để giới thiệu và thảo luận về tài liệu kế hoạch
- 42 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN • Tổ chức các cuộc họp các “nhóm sở thích” để cùng giải quyết các vấn đề mâu thuẫn • Tham vấn giữa các nhà lập kế hoạch và các cá nhân hoặc tổ chức liên quan • Các cơ quan hay thành phần thứ ba phân tích hoặc viết về sự tham gia của cộng đồng. • Chuyển các thỏa thuận của cộng đồng đến các nhóm tư vấn ở bên ngoài, thí dụ : hội đồng tư vấn gồm các lãnh đạo hay đại diện của cộng đồng • Lôi cuốn các hội đồng tư vấn độc lập đánh giá kế hoạch và sự chấp thuận của cộng đồng
- CHƯƠNG 4 GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
- Ảnh: Khu Bảo tồn biển Nha Trang
- Giá trị kinh tế của khu bảo tồn thiên nhiên 45 4.1 Giới thiệu và cách tiếp cận mới đối với khu BTTN 4.1.1 Giới thiệu Trước đây một số người chưa hoàn toàn ủng hộ việc hỗ trợ phát triển hệ thống các khu BTTN, mặc dù các khu BTTN có thể cung cấp nhiều dịch vụ môi trường và là địa điểm lý tưởng cho các dịch vụ du lịch và giải trí. Tuy nhiên, hiện nay nhận thức về vấn đề này đã thay đổi. Đa số các quốc gia đã cho rằng khu BTTN là một hình thức dịch vụ xã hội cũng như dịch vụ y tế, giáo dục, quốc phòng, và cung cấp hỗ trợ cho các khu BTTN một cách tương xứng. Các nước đang phát triển, nơi có nhiều vùng có giá trị đa dạng sinh học cao, thường eo hẹp về ngân sách. Vì vậy đầu tư ngân sách của chính phủ cho các khu BTTN thường không đầy đủ và không ổn đinh. Vì vậy, việc đổi mới và đa dạng hoá các nguồn tài chính cho các khu BTTN là một vấn đề quan trọng. Ngoài nguồn hỗ trợ của ngân sách nhà nước, có thể tìm kiếm các nguồn hỗ trợ khác trong xã hội và của các thể chế, tổ chức, chương trình quốc tế như Công ước quốc tế về đa dạng sinh học (CBD), Công ước về di sản quốc tế (WHC), Công ước Ramsar về vùng đất ngặp nước, Luật biển quốc tế, Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) của UNESCO Tuy nhiên để có thể huy động được các nguồn tài chính, cần đánh giá và nhận thức được giá trị kinh tế của các khu BTTN. 4.1.2 Cách tiếp cận mới đối với các khu bảo tồn thiên nhiên Tại Hội nghị thượng đỉnh năm 1992, chính phủ các nước đã đồng ý cần có một diễn đàn mới về phát triển bền vững. Diễn đàn mới này bao gồm cả Công ước quốc tế về đa dạng sinh học (CBD). Diễn đàn kêu gọi các chính phủ thành lập và hỗ trợ phát triển hệ thống các khu BTTN. Các chính phủ đã công nhận các khu BTTN là các đơn vị kinh tế đóng vai trò quan trọng trong xoá đói giảm nghèo, duy trì hệ sinh thái và hỗ trợ môi trường sống của các cộng đồng trên thế giới. Quan điểm mới này về khu BTTN đòi hỏi phải có nhận thức đúng và hiểu rõ giá trị kinh tế của các khu BTTN. Nếu biết quản lý và khai thác, các khu BTTN cũng có thể là các đơn vị tạo ra thu nhập, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế. Ví dụ, các nghiên cứu gần đây cho thấy tại Canada các hoạt động tại các khu BTTN đã đem lại khoảng 6,5 tỷ đô la Canada/năm, tạo ra 159.000 chỗ làm, và đóng góp 2,5 triêu đô la Canada tiền thuế cho chính phủ. Tại Úc, 8 vườn quốc gia đã thu được 2 tỷ đô la Úc/năm và đóng 60 triệu đô la Úc/năm thuế cho Chính phủ. Hàng năm, chính phủ Costa Rica đã đầu tư cho các vườn quốc gia khoảng 12 triệu đô la Mỹ; du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia là ngành có doanh thu đứng thứ 2 tại Costa Rica. Năm 1991, đã có 500.000 du khách quốc tế tới thăm và thu đuợc 330 triệu đô la Mỹ. Một số nơi cho thấy khu BTTN có tác động kinh tế tới đời sống dân cư. Ví dụ tại Tanzania, việc săn bắt trộm voi lấy ngà tại phía đông nam VQG Tarangire đã làm giảm đàn voi, kết quả là các
- 46 Hướng dẫn quản lý KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN cây thân gỗ mọc lan nhanh tạo môi trường cho một loại ruồi hút máu tsetse phát triển nhanh, loài ruồi này đã làm cho đàn gia súc của người dân quanh vùng ngày càng giảm sút. Do vậy việc khôi phục bảo vệ đàn voi sẽ góp phần giúp người dân phát triển đàn gia súc của họ. Theo tính toán thì thịt các loại thú rừng đóng góp 75% lượng đạm động vật cho người dân tại Congo; tại Botswana là 40%. Củi đun và phân trâu bò cung cấp 90% nhu cầu năng lượng của người dân tại Tanzania, Nepal and Malawi, và trên 80% tại nhiều nước khác. Tại Úc, nguồn thu từ nước của hồ chứa nước vùng thượng Thompson bang Victoria lớn hơn nguồn thu từ gỗ trên cùng diện tích. Tại Philippines du lịch và câu cá đem lại nguồn thu lớn hơn việc chặt gỗ. Còn ở Fiji, diện tích rừng đước ngập mặn đem lại nguồn thu từ củi, đánh cá và lọc nước thải lớn hơn so với việc chặt rừng để lấy đất làm nông nghiệp. Việc phá hoại môi trường vùng ven biển của Mỹ trong thời gian 1954-1978 đã làm cho ngành công nghiệp thuỷ sản nước này thiệt hại khoảng 200 triệu đô la/năm. Do việc giảm dân số nên kinh tế tại khu vực Abruzzo (Italy) đã suy sụp; nhưng nhờ việc phát triển của VQG tại đây nên kinh tế đã được phục hồi. Các ví dụ trên cho thấy vai trò của các khu BTTN, động vật hoang dã đối với phát triển kinh tế địa phương và kinh tế cả nước. Điều đó có nghĩa là việc đầu tư vào các khu BTTN có thể đem lại lợi nhuận và lợi ích kinh tế nhiều mặt, chứ không chỉ thuần tuý là nơi tiêu thụ ngân sách. Các hàng hoá, dịch vụ và sản phẩm mà các khu BTTN tạo có khả năng tái tạo cao, chúng không bị mất đi mà ngược lại ngày càng có giá trị cao hơn. Do vậy các nhà quản lý khu BTTN cần chuẩn bị tốt kế hoạch kinh doanh để quảng bá, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, qua đó tăng nguồn thu để phát triển khu BTTN. Phương pháp tổng giá trị kinh tế (Total Economic value - TEV) là phương pháp chuẩn để đánh giá lợi ích của các khu BTTN. Phương pháp này cho phép đánh giá và so sánh mức độ lợi ích giữa các khu BTTN và các hoạt động khác. 4.1.3 Cách tiếp cận “khách hàng” trong việc tạo nguồn thu cho khu BTTN Có nhiều cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng các dịch vụ và sản phẩm của khu BTTN, và họ có thể chi trả cho các sản phẩm, dịch vụ đó. Theo khái niệm kinh tế, đó là các “khách hàng” của khu BTTN. Vì vậy, các khu BTTN cần được coi như các tổ chức kinh doanh. Họ bán các dịch vụ về đa dạng sinh học, dịch vụ du lịch, dịch vụ bảo tồn nguồn tài nguyên để có kinh phí phát triển khu BTTN. Vấn đề là cần xác định các nhu cầu của từng loại khách hàng để có chiến lược bán hàng. Nhiều khu BTTN hoang dã ở Nam Á, công viên hoang mạc ở Châu Phi, rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ, khu BTTN sinh cảnh ở Châu Âu, khu BTTN biển ở nam Thai Bình Dương đã cung cấp tốt các dịch vụ này cho các khách hàng. Để có thể tiếp cận và thuyết phục khách hàng, cần giải đáp nhiều câu hỏi,ví dụ: • Khu BTTN thiên nhiên đem lại những lợi ích gì? Cho ai? Các lợi ích kinh tế mà khu BTTN thu được là gì? Có đủ để duy trì phát triển khu BTTN không? Làm thế nào để có thể huy động được thêm các nguồn thu để phát triển khu BTTN tốt hơn?



