Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_phuong_phap_nghien_cuu_khoa_hoc_giao_duc_phan_2.pdf
Nội dung text: Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục (Phần 2)
- Chủ đề 3 Một số phương pháp thu thập dữ kiện Mục tiêu 1. Kiến thức: – Chỉ ra được mục đích và công dụng của các phương pháp : bút vấn, phỏng vấn, phân tích nội dung, quan sát. – Xác định những ưu điểm và hạn chế của phương pháp bút vấn, phỏng vấn. – Giải thích những khó khăn tồn tại trong mỗi phương pháp. 2. Kĩ năng: – Có khả năng chọn lựa phương pháp thích hợp cho một đề tài cụ thể. – Soạn thảo được một bản câu hỏi bút vấn hoặc phỏng vấn phục vụ cho một cuộc nghiên cứu khảo sát mẫu. – Phân biệt ba loại phỏng vấn chính. – Lập được kế hoạch chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn. – Thực hiện được một hệ thống phân loại khi cần phân tích nội dung. 3. Thái độ: – Thể hiện tính sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp thu thập dữ kiện. – Quan tâm phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế trong các phương pháp bút vấn quan sát. Các hoạt động a. Phương pháp bút vấn Hoạt động 1 : Tìm hiểu mục đích và công dụng của phương pháp bút vấn (25 phút) Thông tin cho hoạt động 1: (3 phút) Trong hoạt động này bạn sẽ cùng nhóm thảo luận và xác định mục đích và công dụng của phương pháp bút vấn. Trong các nhiệm vụ bên dưới, bạn cần chú trọng vào việc nêu ra được mục đích của phương pháp và công dụng chính của nó. Để giúp bạn thảo luận đúng hướng, bạn cần biết trong phương pháp bút vấn người ta sử dụng một bản câu hỏi được soạn sẵn theo một cấu trúc có tính hệ thống, nhằm định hướng người trả lời vào những vấn đề mà người nghiên cứu cần tìm hiểu. Những câu hỏi trong bản bút vấn có thể cho phép trả lời tự do (viết tự do theo ý riêng từng người) hoặc theo một khuôn mẫu định trước (chọn lựa một trong số các đáp ứng đã ghi sẵn).
- Nhiệm vụ Nhiệm vụ 1.1: Làm việc trong nhóm nhỏ (10 phút) Một giáo viên đang dạy lớp ba muốn tìm hiểu học sinh có hứng thú khác nhau như thế nào đối với các môn đang học. Giáo viên muốn thu thập thông tin từ nhiều học sinh trong một thời gian ngắn. Do đó đã chọn phương pháp bút vấn, dự định soạn khoảng mười câu hỏi và in ra đưa cho một số đông học sinh trong khối lớp ba trả lời. Hãy thảo luận và ghi ra những cách mà các bạn có thể thực hiện nếu có cùng mục đích như giáo viên nói trên. Trong khi thảo luận hãy nhận xét cách làm của giáo viên nói trên và chú ý chỉ ra ưu điểm của phương pháp bút vấn so với cách thu thập ý kiến bằng trò chuyện trực tiếp với từng học sinh. Nhiệm vụ 1.2: Thảo luận trong nhóm. (5 phút) Những người có kinh nghiệm nghiên cứu khuyên chỉ nên dùng bút vấn khi nào ta không thể sử dụng được các phương tiện thu thập dữ kiện khác. Bạn hãy trao đổi ý kiến của mình với nhóm, cùng phát hiện và ghi lại trên giấy những ý mà nhóm đã thống nhất cho rằng chúng làm cho bút vấn kém hiệu quả. Đánh giá hoạt động 1: (7 phút) – Câu hỏi 1: Bạn hãy cho biết mục đích và công dụng của phương pháp bút vấn. – Câu hỏi 2: Nêu ưu điểm và hạn chế của phương pháp bút vấn. Hoạt động 2 : Cách soạn bản bút vấn (90 phút) Thông tin cho hoạt động 2: (25 phút) Hoạt động 2 giúp bạn làm quen cách thức soạn một bản bút vấn. Trước hết, bạn cần biết sáu bước căn bản khi soạn một bản bút vấn: Bước 1. Quyết định thông tin nào cần được tìm hiểu. Bước 2. Quyết định loại câu hỏi nào cần được sử dụng. Bước 3. Viết bản phác thảo lần đầu tiên của bản bút vấn. Bước 4. Kiểm tra lần nữa và sửa lại bản bút vấn. Bước 5. Thử bản bút vấn. Bước 6. Chỉnh sửa lại bản bút vấn và chỉ rõ các thủ tục sử dụng chúng. Kế đến, bạn cần biết cấu trúc của một bản bút vấn. Thông thường, bản bút vấn gồm nhiều thành phần: – Ngay sau tiêu đề của bản bút vấn (thường thấy ghi là “Phiếu hỏi ý kiến”, “Phiếu trưng cầu ý kiến”, “Phiếu thăm dò sở thích”, v.v ) là phần giới thiệu ngắn gọn với người trả lời về mục đích của bản bút vấn, đề nghị họ hợp tác.
- – Phần thứ hai hỏi một số thông tin cá nhân (người trả lời). Có nhiều người xếp phần này ở cuối cùng. Nhưng theo kinh nghiệm thu thập dữ kiện, khi để ở cuối bản bút vấn, nhiều người trả lời đã bỏ qua những thông tin phần này, gây trở ngại cho việc thống kê, xử lí. – Phần thứ ba gồm các câu hỏi chính, phục vụ cho nhiệm vụ của đề tài. Các trả lời trong phần này sẽ cung cấp thông tin quan trọng để người nghiên cứu xử lí thống kê, phân tích, đối chiếu, hoàn thiện mục đích của cuộc nghiên cứu. – Phần cuối cùng là lời cám ơn và chào tạm biệt. Mỗi phần của bản bút vấn có yêu cầu riêng, bạn có thể đọc chúng trong phần “các thông tin phản hồi cho hoạt động 2” thuộc chương này. Sau đây bạn cần làm quen với cách tạo ra câu hỏi trong bản bút vấn. Thường thấy hai loại câu hỏi trong bản bút vấn. Hãy tham khảo mục 3 trong thông tin phản hồi cho hoạt động 2 để biết thêm. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 2.1: Làm việc cá nhân (ở nhà) Bạn đang cần tìm hiểu hứng thú học tập của học sinh đối với các môn học. Theo bạn, những ý nào cần đưa ra để hỏi học sinh ? Hãy liệt kê chúng ra giấy. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ này, hãy đọc phần thông tin phản hồi. Nhiệm vụ 2.2: Làm việc cá nhân tại lớp. (15 phút) Giả sử bạn cần tạo một câu hỏi về mức độ yêu thích của học sinh đối với một số môn học. Bạn hãy xác định những môn học cần hỏi và các mức độ bạn muốn đề nghị học sinh chọn. Viết ra câu hỏi đó. Nhiệm vụ 2.3: Làm việc theo nhóm. (25 phút) Trao đổi trong nhóm rồi viết ra các câu hỏi mở cho những ý sau: – ý thứ nhất : Hỏi học sinh sử dụng thời gian rỗi vào việc gì. – ý thứ hai : Hỏi các lí do làm cho học sinh yêu thích một môn học. Trong câu hỏi có lời nhắc mỗi học sinh chỉ ghi tối đa 3 lí do. – ý thứ ba : Hỏi các lí do gây chán học một môn học nào đó. Nhắc mỗi học sinh chọn ra 3 lí do ảnh hưởng nổi bật nhất. – ý thứ tư : Hỏi học sinh về các đề nghị của em với thầy cô, Ban giám hiệu nhà trường nhằm làm tăng thêm sự yêu thích môn học. Đánh giá hoạt động 2: (25 phút) Câu hỏi 2.1 Cho biết cấu trúc chung thường thấy trong bản bút vấn.
- Câu hỏi 2.2 Kể tên hai loại câu hỏi trong bản bút vấn. Với mỗi loại, bạn hãy tự chọn một ý cần hỏi rồi soạn một câu hỏi phù hợp với ý đó. Hoạt động 3: những điểm lưu ý khi soạn câu hỏi (45 phút) Thông tin cho hoạt động 3: (4 phút) Bạn cần lưu ý một số điểm đề cập dưới đây khi soạn câu hỏi để tránh những lỗi như : – Câu hỏi với ý hỏi không rõ ràng. – Câu hỏi hướng đến những đáp ứng thiên vị. – Câu hỏi với phần trả lời liệt kê quá nhiều trùng lắp hay gần ý. – Câu hỏi không thể trả lời hoặc phải trả lời sai sự thật vì thiếu ý chọn. – Câu hỏi được soạn rất khó xử lí về sau. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 3.1: Thảo luận nhóm. (5 phút) Trong câu 10 dưới đây người soạn câu hỏi muốn học sinh nhận xét về việc học môn Toán. Cùng thảo luận với nhóm, nhận xét cách đặt câu hỏi và trả lời. Bạn cần bổ sung điều gì ? Câu 10. Em hãy chọn một nhận xét đúng với ý mình về môn Toán đang học. a) Bổ ích b) Hào hứng c) Rất hay d) Nhiều hứng thú e) Quá khó đối với em Nhiệm vụ 3.2: Làm việc cá nhân (6 phút) Giả sử có một học sinh hằng ngày được chị giúp việc nhà chăm sóc, lo cho ăn uống, đưa đi học, còn cha mẹ học sinh này vì công việc phải đi làm suốt ngày, không có điều kiện gần gũi em ? Học sinh này sẽ chọn như thế nào khi trả lời câu hỏi 11 dưới đây ? Câu 11. Trong gia đình em, hằng ngày ai là người quan tâm chăm sóc em nhiều nhất ? a) Cha b) Mẹ c) Ông bà (nội, ngoại)
- Nhiệm vụ 3.3: Làm việc cá nhân (7 phút) Bạn hãy nhận xét cách đặt câu hỏi sau trong phần hỏi về thông tin cá nhân. Người được hỏi thuộc về mẫu 300 người được chọn từ những cán bộ, giáo viên đang làm việc tại một số trường học. Bạn có biết người đặt câu hỏi này muốn tìm hiểu điều gì ? Câu 4. Chức vụ hiện nay (đánh dấu X vào ô thích hợp, có thể nhiều chức vụ kiêm nhiệm): Hiệu trưởng Phó Hiệu trưởng Chủ tịch Công đoàn Phó Chủ tịch Công đoàn Cán bộ phụ trách Đội Bí thư Chi đoàn Khối trưởng Giáo viên Các chức danh khác (ghi rõ chức danh nếu không có trong danh sách): Nhiệm vụ 3.4: Làm việc nhóm (6 phút) Bạn hãy suy nghĩ và thử trình bày hướng xử lí cho câu hỏi 5 dưới đây sau khi đã thu thập đủ dữ kiện. Thực tế có những giáo viên tiểu học đã từng dạy qua nhiều khối lớp. Khi nêu câu hỏi 5 này, có phải bạn muốn về sau sẽ thống kê có bao nhiêu phần trăm giáo viên đã từng dạy nhiều lớp ? Hay là bạn muốn biết trong mẫu điều tra có bao nhiêu giáo viên dạy lớp một, lớp hai, lớp ba ? Câu 5: Bạn đã từng phụ trách giảng dạy các lớp nào ? lớp một lớp hai lớp ba lớp bốn lớp năm Nhiệm vụ 3.5: Làm việc cá nhân (7 phút) Nếu có nhiều câu hỏi với cách trả lời tương tự, nên phối hợp chúng thành một nhóm câu hỏi đặt gần nhau hay thành một bảng, có hướng dẫn cách thức trả lời. Hãy đọc câu hỏi 6 dưới đây và nêu nhận xét về tính chất thuận lợi cho người trả lời và dễ xử lí sau này. Câu 6. Anh (chị) tự đánh giá năng lực giảng dạy của mình về các môn ghi trong bảng sau đạt mức độ nào ? Trong từng môn, đánh dấu X vào mức độ tương ứng. Mức độ năng lực giảng dạy STT MÔN GIẢNG DẠY Yếu TB Khá Giỏi
- 1 Toán 2 Văn - Tiếng Việt 3 Tự nhiên - Xã hội 4 Thể dục 5 Mỹ thuật 6 Kỹ thuật thủ công 7 Hát nhạc 8 Đạo đức 9 Giáo dục sức khoẻ Đánh giá hoạt động 3: (10 phút) Bạn hãy ghi lại tất cả những điểm cần nhớ khi soạn câu hỏi bút vấn. Hoạt động 4 : Thử nghiệm bản bút vấn (20 phút) Thông tin cho hoạt động 4: (15 phút) Dù đã chuẩn bị chu đáo và rất cẩn thận khi soạn câu hỏi, bản bút vấn vẫn rất cần được thử nghiệm để có thêm những cơ hội điều chỉnh, sửa chữa những thiếu sót hay chưa phù hợp với đối tượng được hỏi. Bản bút vấn viết lần đầu tiên nên gửi đến những chuyên gia thuộc đúng lĩnh vực mà câu hỏi đề cập đến (tuỳ trường hợp, đó là chuyên gia tâm lí − giáo dục, các cán bộ quản lí giáo dục cấp Sở, Phòng Giáo dục quận (huyện), các hiệu trưởng, v.v ) để xin ý kiến. Số người được hỏi ý kiến lần đầu này không cần nhiều mà cần tìm đến những người có khả năng, am hiểu thực tiễn và sẵn lòng góp ý. Sau khi nhận được các góp ý về những câu hỏi nên bỏ, câu chưa sát thực tế, câu cần sửa, người biên soạn sửa lại thành bản bút vấn mới và tiếp tục đem thử nghiệm trên một nhóm người tương đối đông, đủ lớn để có thể xử lí bằng các số thống kê. Nhóm này cần có đặc tính gần giống như nhóm sẽ được khảo sát chính thức. Ví dụ: bản bút vấn khảo sát trên học sinh trung học phổ thông và giáo viên thì nhóm thử nghiệm được chọn trong học sinh trung học phổ thông và giáo viên. Nếu bản bút vấn khảo sát trên sinh viên của một số trường đại học, mẫu thử nên chọn ngẫu nhiên trong số các sinh viên thuộc những trường này. Điều cần lưu ý là những người trong nhóm thử sẽ không tham gia vào nhóm chính thức. Vậy nên dự kiến chọn những người trong nhóm chính thức trước, sau đó chọn những người vào nhóm thử nghiệm sau.
- Nhiệm vụ Xem băng hình Đọc kĩ phần hướng dẫn dưới đây, chọn đúng nội dung (đoạn băng thứ hai trong băng). Sau khi xem xong cần trả lời những câu hỏi nêu ở mục “Những việc người học phải làm, sau khi xem băng”. Hướng dẫn sử dụng băng hình: Phần băng phải xem là đoạn băng hình thứ hai trong băng hình tiểu môđun 4 : Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục. Với chiều dài khoảng 5 phút, băng minh hoạ một buổi thu thập dữ kiện bằng bản bút vấn tại một trường tiểu học. Những việc người học phải làm trước khi xem băng: – Cần ôn lại các thông tin đã học trong hoạt động 1, 2, 3. – Chú ý đến thông tin phản hồi cho hoạt động 1 và 2: Ưu và hạn chế của phương pháp bút vấn, cấu trúc bản bút vấn, hai dạng câu hỏi bút vấn, v.v Những việc người học phải làm trong khi xem băng: – Ngay từ đầu chú ý những lời nói và hành động của cô giáo khi hướng dẫn học sinh cách trả lời trên bản bút vấn. – Quan sát toàn cảnh lớp học khi phát bản câu hỏi, sự di chuyển của người hướng dẫn trong lớp và các đối thoại trả lời khi học sinh hỏi. Những việc người học phải làm sau khi xem băng: Trả lời các câu hỏi sau để tự kiểm tra việc xem băng: – Những lời chỉ dẫn của cô giáo lúc đầu có đầy đủ, rõ ràng chưa ? Theo bạn, cần bổ sung điều gì thêm hoặc có thể đề nghị bỏ bớt (lời nói / hành động) vì quá thừa ? – Trong khi học sinh trả lời, người trả lời có nên đi lại nhiều không ? – Trong đoạn băng đã xem, bạn có phát hiện ra những lời nói/ hành động nào của cô giáo không phù hợp hoặc vi phạm nguyên tắc của bút vấn ? Đánh giá hoạt động 4: (5 phút) Câu hỏi 1 : Thử nghiệm bản bút vấn được thực hiện như thế nào ? Câu hỏi 2 : Việc thử nghiệm bản câu hỏi bút vấn đem lại những ích lợi gì ? b. Phương pháp phỏng vấn Hoạt động 5: Mục đích và công dụng của phỏng vấn (15 phút) Thông tin cho hoạt động 5: (2 phút)
- Phỏng vấn là một phương pháp thu thập thông tin trực tiếp từ người trả lời. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi ta muốn thu thập dữ kiện từ các trẻ em hay những người không biết đọc, viết thông thạo. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 5.1: Làm việc cá nhân (ở nhà) Lấy ra một tờ giấy trắng. Vạch một đoạn thẳng chia đôi tờ giấy. Hãy nêu điểm khác biệt giữa phỏng vấn so với bút vấn. Có điểm nào giống nhau giữa hai phương pháp này. Nhiệm vụ 5.2: Thảo luận trong nhóm (8 phút) Tình huống: “Bạn cần một số thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, đặc biệt trong giai đoạn đầu: đang muốn xây dựng các “khái niệm công cụ”, thiếu thông tin, hiểu biết về đặc điểm của những người sẽ gặp gỡ khảo sát, thu thập thông tin sau này. Hoặc bạn đang chuẩn bị xây dựng một phiếu điều tra”. Bạn định dùng phương pháp nào cho tình huống trên ? Đánh giá hoạt động 5: (5 phút) Nêu công dụng của phương pháp phỏng vấn. Hoạt động 6: Tìm hiểu về người phỏng Vấn (25 phút) Thông tin cho hoạt động 6: (3 phút) Với phương pháp phỏng vấn, người phỏng vấn giữ vai trò quan trọng. Kết quả phỏng vấn tuỳ thuộc vào cách gây thiện cảm, với người được phỏng vấn. Phong cách giao tiếp, cách đặt câu hỏi tránh thiên vị, biết rõ mục đích của cuộc phỏng vấn, phản ứng linh hoạt, biết chuyển hướng kịp thời khi thấy không khí căng thẳng, v.v là những kĩ năng cần có ở người phỏng vấn. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 6.1: Thảo luận trong nhóm (5 phút) Cùng nhóm thảo luận về đề tài: Người phỏng vấn có cần phải là người “biết nghe” ? Như thế nào là người “biết nghe” người khác nói ? Nhiệm vụ 6.2: Thảo luận trong nhóm (5 phút) Thảo luận để trả lời câu hỏi: Người nghiên cứu có nên là người phỏng vấn ? Khi thảo luận, mỗi người cố gắng phát biểu những điểm lợi và bất lợi khi người nghiên cứu là người phỏng vấn. Nhiệm vụ 6.3: Làm việc cá nhân (5 phút) Tìm hiểu những cách khắc phục sự thiên vị, chủ quan của người phỏng vấn.
- Đánh giá hoạt động 6: (7 phút) Câu hỏi 6.1: Vai trò của người phỏng vấn. Câu hỏi 6.2: Những biện pháp nào có thể áp dụng để đạt hiệu quả phỏng vấn cao ? Hoạt động 7: Tìm hiểu các loại phỏng vấn (15 phút) Thông tin cho hoạt động 7: (10 phút) Có 3 loại phỏng vấn chính: 1. Phỏng vấn với câu hỏi in sẵn: Bản câu hỏi đã được xây dựng với cấu trúc chặt chẽ. Người phỏng vấn chỉ làm nhiệm vụ hướng dẫn cách trả lời. Người được phỏng vấn đọc câu hỏi và viết câu trả lời. Ưu điểm: giảm được sự thiên vị so với phỏng vấn tự do. 2. Phỏng vấn điều tra: Các câu hỏi thường là những câu hỏi trực tiếp. Câu trả lời thường là “có” hoặc “không”, những trả lời ngắn về một số nội dung như : tuổi, nghề nghiệp, thâm niên công tác, số con, v.v Một số câu hỏi khác thuộc về quan niệm, ý kiến riêng cũng yêu cầu trả lời ngắn. Ví dụ: – “Quan niệm về tình yêu và hôn nhân trong thời đại ngày nay: có nên để cho bạn trẻ hoàn toàn tự do, cha mẹ không nên chen vào ?”. (nên/ không nên, vì sao ?) – “Anh (chị) có ý kiến như thế nào về hiện tượng hợp đồng “tình yêu thử nghiệm” của một số bạn trẻ hiện nay ? (ủng hộ/ tán thành một phần/ không tán thành. Giải thích vì sao ?). Loại phỏng vấn này rất tin cậy, nhưng phạm vi thông tin bị bó hẹp. 3. Phỏng vấn tự do: Cách đặt câu hỏi và trả lời hoàn toàn tự do, tuỳ thuộc vào bối cảnh lúc phỏng vấn. Người phỏng vấn sẽ dẫn dắt người được phỏng vấn vào các chủ đề thích hợp mà người nghiên cứu quan tâm. Vì vậy hiệu quả tuỳ thuộc vào kinh nghiệm và tài khéo léo của người phỏng vấn. Các câu hỏi có thể nêu ra rất nhiều nhưng chỉ có một số phục vụ trực tiếp cho nội dung nghiên cứu. Loại này chịu ảnh hưởng cao của sự thiên vị. Thường dùng tìm hiểu về thái độ, các ý kiến không thể thăm dò bằng bút vấn hay hai loại phỏng vấn trên. Đánh giá hoạt động 7: (5 phút) Phát biểu công dụng của các loại phỏng vấn.
- Hoạt động 8: Tìm hiểu cách thực hiện phỏng vấn (25 phút) Thông tin cho hoạt động 8: (5 phút) Các bước thực hiện: Bước 1: Chọn mẫu phỏng vấn. Mẫu chọn phải đại diện cho nhóm người cần tìm hiểu. Bước 2: Tiếp xúc sơ khởi với những người sẽ được phỏng vấn. Nội dung làm việc : nói rõ mục đích của cuộc phỏng vấn, xác định lịch hẹn làm việc thuận tiện cho từng người. Bước 3: Thực hiện các cuộc phỏng vấn theo kế hoạch. Buổi phỏng vấn chính thức có thể diễn ra ngay sau khi chấm dứt buổi tiếp xúc sơ khởi. Trong buổi tiếp xúc sơ khởi có thể một số người từ chối phỏng vấn. Cần hỏi trực tiếp để xác định được nguyên nhân từ chối. Bên cạnh đó cũng cần ước lượng mức độ thiên vị khi một số người không tham gia vào mẫu nghiên cứu đã chọn. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 8.1: Thảo luận trong nhóm (7 phút) Bạn cần quan tâm đến những điều gì khi tổ chức phỏng vấn ? Nhiệm vụ 8.2: Làm việc cá nhân (8 phút) Tìm hiểu những thiết bị nào hỗ trợ tốt người phỏng vấn ? ảnh hưởng của các thiết bị đến người được phỏng vấn. Nhiệm vụ 8.3: Xem băng hình. Đọc hướng dẫn trước khi xem băng. Nhớ trả lời các câu hỏi nêu ở mục “Những việc người học phải làm sau khi xem băng”. Hướng dẫn sử dụng băng hình: Phần băng phải xem là đoạn băng hình thứ nhất trong băng hình tiểu môđun 4 : “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục”. Với chiều dài khoảng 5 phút, băng minh hoạ một buổi phỏng vấn một học sinh về sở thích đọc truyện tranh trong và ngoài nước dành cho tuổi nhi đồng. Những việc người học phải làm trước khi xem băng: – Cần ôn lại các thông tin đã học trong hoạt động 5, 6, 7, 8, đặc biệt là hoạt động 8. – Chú ý đến thông tin phản hồi cho hoạt động 6 và 8: Ưu và hạn chế của phương pháp phỏng vấn, những điều cần lưu ý khi thực hiện buổi phỏng vấn. Những việc người học phải làm trong khi xem băng:
- – Ngay từ đầu chú ý lắng nghe những lời đối thoại giữa người phỏng vấn (cô giáo) và người được phỏng vấn (học sinh). Chú ý cả biểu hiện trên nét mặt và hành động của cô giáo và học sinh. – Quan sát toàn cảnh lớp học khi phát bản câu hỏi, sự di chuyển của người hướng dẫn trong lớp và các đối thoại trả lời khi học sinh hỏi. Những việc người học phải làm sau khi xem băng: Trả lời các câu hỏi sau để tự kiểm tra việc xem băng: – Lời của cô giáo trong băng có rõ không ? Cách thức làm quen, tạo quan hệ thân thiện lúc đầu có thể coi là được chưa ? Theo bạn, cần bổ sung hoặc bỏ đi những câu nói hay biểu hiện cử chỉ, hành động nào ? – Cô giáo đã ghi chép gì vào biên bản phỏng vấn ? – Dựa vào đoạn băng trên, đóng vai bạn là người phỏng vấn, hãy phác hoạ trình tự buổi phỏng vấn do bạn điều khiển. – Trong đoạn băng đã xem, bạn có thấy lời nói/ hành động nào của cô giáo không phù hợp hoặc vi phạm nguyên tắc của phỏng vấn ? Đánh giá hoạt động 8: (5 phút) Phát biểu những điểm cần lưu ý khi tổ chức các cuộc phỏng vấn. c. Phân tích nội dung Hoạt động 9: Mục đích và công dụng của phân tích nội dung (20 phút) Thông tin cho hoạt động 9: (2 phút) Phân tích nội dung là một phương pháp giúp người nghiên cứu mô tả một cách có hệ thống, khách quan và bằng phương pháp định lượng những nội dung thu thập được qua các sách báo, chương trình vô tuyến, các câu trả lời trên phiếu điều tra, v.v Nhiệm vụ Nhiệm vụ 9.1: Thảo luận nhóm (10 phút) Hãy chỉ ra tính chất có hệ thống, khách quan trong phương pháp phân tích nội dung. Gợi ý: Nhóm chọn một bài bình luận hay phóng sự không quá dài, đã đăng trong một nhật báo. Sau khi đọc xong, hãy thảo luận xem, để tóm lược hoặc trích ra những điểm chính yếu mà tác giả muốn nói trong bài, phải phân tích như thế nào ? Có phải là, muốn hoàn thành thì cần phải sắp xếp các ý theo một hệ thống ? Và dùng cách phân loại thông tin một cách khách quan ?
- Nhiệm vụ 9.2: Làm việc cá nhân (ở nhà) Dựa vào thông tin đã có trên đây, hãy kể ra một danh sách những trường hợp có thể sử dụng phương pháp phân tích nội dung để rút ra các kết luận từ nội dung đã có. Đánh giá hoạt động 9: (8 phút) Hãy trình bày lợi điểm khi áp dụng phương pháp phân tích nội dung trong việc nghiên cứu sách giáo khoa. Hoạt động 10 :Tìm hiểu phương pháp phân tích nội dung (50 phút) Thông tin cho hoạt động 10: (25 phút) Hoạt động 10 sẽ dẫn dắt bạn cách thức thực hiện phân tích nội dung sao cho khách quan và khoa học. Bước 1: Trước hết, cần phải xác định khía cạnh của vấn đề ta muốn tìm hiểu. Điều này có nghĩa là phải biết rõ ràng ta muốn gì trong các tài liệu cần phân tích. Ví dụ : Nếu ta quan tâm đến những truyện tranh dành cho tuổi nhi đồng đang bán tại các nhà sách Việt Nam thì cái gì sau đây là những chủ điểm ta định phân tích ? – Cốt truyện ? Khung cảnh xã hội ? – Các giá trị luân lí lồng trong cốt truyện ? – Lối hành văn của tác giả ? – Cách sử dụng từ ngữ ? – Cách cấu tạo câu văn ? – Chiều dài của câu văn ? – Số chữ khó tồn tại trong mỗi tài liệu ? v.v Bạn có thể chọn tả hoặc chỉ một số khía cạnh để phân tích. Bước 2: Phân loại hay thiết lập các phạm trù cho mỗi khía cạnh nghiên cứu. Chú ý hai điều kiện cần thiết cho việc phân loại: – Các phạm trù phải đầy đủ để ta có thể xếp đặt được tất cả các chi tiết liên hệ vào trong các phạm trù được thiết lập, mỗi chi tiết có một vị trí của nó trong một phạm trù nào đó.
- – Các phạm trù không dẫm đạp lên nhau, nghĩa là mỗi chi tiết liên hệ đến vấn đề có một vị trí và chỉ có một vị trí mà thôi trong hệ thống phân loại của ta. Ví dụ : Các phạm trù có thể thiết lập khi đề cập đến những điều con người quan tâm trong đời sống hằng ngày: – Phạm trù tổng quát: có ba nhóm phạm trù là Cá nhân, Gia đình, Xã hội. – Phạm trù chi tiết: Cá nhân có thể chia ra các khía cạnh: sức khỏe, việc làm, nhà ở, tiền bạc, học vấn, uy tín, thành đạt, v.v Gia đình có thể chia: cha, mẹ, ông bà, anh chị em, bà con trong họ, v.v Xã hội có thể chia: luật pháp, kinh tế, các chính sách, ngân hàng, phong tục, tập quán, văn hoá, v.v Bước 3: Huấn luyện các thẩm lượng viên một cách cẩn thận để họ tham gia phân tích. Dùng nhiều thẩm lượng viên để đối chiếu các kết quả, tránh chủ quan của một người. Bước 4: Định lượng nội dung tài liệu (xem trong hoạt động 11). Nhiệm vụ Nhiệm vụ 10.1: Làm việc cá nhân (8 phút) Hằng ngày trên ti vi thường chiếu các chương trình quảng cáo. Chọn một quảng cáo cho các loại dầu gội. Bạn hãy ghi ra những khía cạnh (khoảng bốn hay năm ý) mà bạn định quan tâm phân tích nội dung. Nhiệm vụ 10.2: Làm việc trong nhóm (7 phút) Các bạn đang muốn tìm hiểu xem mục “Bạn đọc viết” của báo tuổi trẻ các số ra trong tuần người ta thường viết về những vấn đề gì. Hãy cùng các bạn trong nhóm xây dựng một hệ thống các phạm trù liên quan hầu phục vụ cho việc phân tích nội dung. Đánh giá hoạt động 10: (10 phút) Bạn đang cần phân tích một số bài luận của học sinh để tìm hiểu thái độ của học sinh đối với trường học. Hãy xác định cái gì là đơn vị phân tích, cái gì là khía cạnh muốn nghiên cứu. Bạn chọn và huấn luyện 3 thẩm lượng viên để phân tích các bài luận văn, sau đó đối chiếu kết quả. Bạn cần điều gì nữa khi nhận được 3 kết quả của 3 người ? Hoạt động 11: Định lượng trong phân tích nội dung (20 phút)
- Thông tin cho hoạt động 11: (5 phút) Định lượng là gán các số đo lường cho những đối tượng khảo sát trong nội dung tài liệu phân tích. Không phải nội dung tài liệu, hình ảnh nào cũng định lượng dễ như nhau, nhưng mọi tài liệu đều có thể định lượng. – Cách định lượng thông dụng nhất là đếm số lượng trong mỗi loại (phạm trù) sau khi đã xếp đối tượng vào các phạm trù thích hợp (phương pháp đo lường danh số). Khi có các tần số, người nghiên cứu có thể chuyển sang các tỉ lệ %. – Một cách khác là xếp hạng. Người nghiên cứu yêu cầu những thẩm lượng viên xếp các đối tượng theo thứ hạng (căn cứ vào một số tiêu chuẩn). Nhiệm vụ Nhiệm vụ 11.1: Làm việc cá nhân (5 phút) Một kết quả phân tích nội dung các câu trả lời mở của 200 người về biện pháp nâng cao hiệu quả đào tạo ở đại học, thấy có rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng có thể tổng hợp về 4 phạm trù sau: (1) Biện pháp tăng học phí hoặc tính đầy đủ chi phí đào tạo: 46 ý. (2) Biện pháp giáo dục (đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, v.v ): 83 ý. (3) Tăng cường cơ sở vật chất − thiết bị dạy học: 41 ý. (4) Biện pháp tuyên truyền vận động ý thức học tập trong sinh viên: 30 ý. Hỏi tỉ lệ % ủng hộ cho mỗi biện pháp nói trên ? Biện pháp nào được nhiều người nói đến nhiều nhất ? Nhiệm vụ 11.2: Làm việc trong nhóm (5 phút) Bạn hãy trao đổi trong nhóm để làm rõ 4 phạm trù nêu ở nhiệm vụ 11.1 Sau đó cử 3 người đóng vai là thẩm lượng viên. Căn cứ vào kinh nghiệm của mỗi người, mỗi thẩm lượng viên sẽ đưa ra thứ hạng cho từng phạm trù. Tính trung bình các thứ hạng của 3 thẩm lượng viên trong mỗi phạm trù. So sánh với kết quả thu được ở nhiệm vụ 11.1 Đánh giá hoạt động 11: (5 phút) – Bạn hãy cho biết có mấy phương pháp định lượng sau khi phân tích nội dung ? – Nêu điểm khác biệt giữa phương pháp đo lường danh số và phương pháp xếp hạng. D. quan sát Hoạt động 12: Mục đích và công dụng của quan sát
- Thông tin cho hoạt động 12: (5 phút) – Mục đích và công dụng: + Quan sát là phương pháp nghiên cứu trực tiếp đối tượng hay những khách thể tham gia cuộc nghiên cứu. Thường được dùng để thu thập dữ kiện khi các phương pháp khác đều không thích hợp. + Quan sát được các nhà nghiên cứu dùng như là phương tiện thu thập dữ kiện chính trong nhiều đề tài nghiên cứu. Nó đặc biệt có ích khi cần ghi nhận những hành vi của nhiều cá nhân trong một thời gian lâu dài, khi thực hiện nghiên cứu về trẻ em hay trên các nhóm người đang hoạt động. + Quan sát còn được xem là phương pháp rất hữu hiệu của thầy giáo khi tổ chức dạy học trên lớp. Thầy giáo quan sát mọi hành vi, phản ứng của học sinh mà rất tự nhiên, không bị những trở ngại. + Quan sát cũng hỗ trợ tốt cho các phương pháp khác. Thường trong một nghiên cứu người ta kết hợp quan sát với bút vấn, phỏng vấn, trắc nghiệm, v.v để đạt hiệu quả cao hơn. – Khó khăn khi sử dụng quan sát: (5 phút) + Theo các kết quả của tâm lí học, khi quan sát người ta bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan, đặc biệt là kinh nghiệm của người quan sát. Sự quan sát (một sự vật hay các hành vi, cử chỉ, thái độ của con người, v.v ) chịu ảnh hưởng bởi các cảm xúc, các trạng thái tâm lí của cá nhân. + Trong khi quan sát có sự can thiệp của yếu tố bên ngoài. + Phạm vi của quan sát thường hạn chế. Một thầy giáo không thể phân phối chú ý đến toàn bộ học sinh trong lớp. Nhiệm vụ Xem băng hình luyện tập khả năng quan sát. Đọc trước hướng dẫn và các nhiệm vụ. Hướng dẫn sử dụng băng hình: Phần băng phải xem là đoạn băng hình thứ ba trong băng hình tiểu môđun 4 : “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục”. Với chiều dài khoảng năm phút, băng minh hoạ một số hình ảnh trong tiết học thực hành môn kĩ thuật của học sinh lớp năm. Nội dung chính của đoạn băng là phần hướng dẫn của cô giáo trước khi học sinh thực hành và phần làm việc của các nhóm học sinh khi lắp ráp mạch điện. Những việc người học phải làm trước khi xem băng: – Cần xem lại các thông tin đã học trong hoạt động 12.
- – Đọc thêm các tài liệu, thảo luận trong nhóm và ghi ra được những điểm ưu và hạn chế của phương pháp quan sát. Những việc người học phải làm trong khi xem băng: – Chú ý nghe và quan sát những hành động hướng dẫn của cô giáo lúc ban đầu. – Quan sát toàn cảnh lớp học, làm việc tại các nhóm, kết quả thành công và thất bại khi ráp mạch điện. Những việc người học phải làm sau khi xem băng: Trả lời các câu hỏi sau để tự kiểm tra việc xem băng: – Sau khi ổn định lớp, cô giáo làm gì vào lúc đầu giờ ? Bạn có thể lặp lại những lời của cô giáo đã nói không ? Theo bạn, cần bổ sung gì ở phần hướng dẫn không ? – Học sinh đã làm gì sau khi cô giáo hướng dẫn xong ? – Học sinh ngồi như thế nào ? Có mấy học sinh trong một nhóm ? – Các nhóm có khẩn trương làm việc không ? Có chăm chú khi lắp ráp không ? – Có mấy nhóm ráp tốt, làm cháy sáng được bóng đèn ? Bạn có thấy được sợi dây tóc bóng đèn sáng lên không ? Nếu chưa trả lời tốt, hãy xem lại băng và chú ý những chỗ không trả lời được ở lần xem trước. Đánh giá hoạt động 12: (5 phút) – Bạn hãy cho biết mục đích và công dụng của phương pháp quan sát. – Có những khó khăn gì khi sử dụng phương pháp quan sát. Thông tin phản hồi cho các hoạt động Thông tin phản hồi cho hoạt động 1 : Bút vấn là phương pháp thu thập dữ kiện được sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu khoa học giáo dục. Phương pháp này có nhiều ưu điểm như : cùng một lúc có thể thu thập thông tin trên nhiều người, tiết kiệm thời gian đi lại, công sức lao động, giảm chi phí so với phương pháp khác. Nó rất thích hợp cho những nghiên cứu chú trọng phát hiện những đặc điểm chung trong một nhóm lớn, một số đông người. Nó càng thích hợp cho những nghiên cứu liên quan đến các vấn đề “tế nhị”, người trả lời không muốn nói ra điều mình nghĩ khi phải đối thoại trực tiếp với người nghiên cứu (lúc ấy có thể họ chọn cách nói dối hay từ chối trả lời). Nếu bút vấn trên một mẫu đủ lớn và đại diện cho dân số học sinh (hay giáo viên), người nghiên cứu có thể dùng các kĩ thuật phân tích thống kê để phát
- hiện những kết quả có tính quy luật trong việc dạy học, giáo dục, hoặc kiểm chứng những giả thuyết nghiên cứu. Tuy vậy, cũng cần lưu ý những hạn chế của bút vấn như sau : – Các câu hỏi trong bản bút vấn rất cần được soạn thảo thật kĩ lưỡng. Câu hỏi phải phù hợp với trình độ và đặc điểm tâm lí của đối tượng được hỏi. Cách trả lời từng câu hỏi hay nhóm câu hỏi cũng phải được hướng dẫn rõ ràng, cụ thể. Bởi vì, rất ít khi hoặc không thể đối thoại trực tiếp với người ra câu hỏi, người trả lời không thể tự mình làm sáng tỏ những điều chưa rõ trong câu hỏi. Họ chỉ có thể đọc và hiểu dựa trên những chỉ dẫn trên bản bút vấn mà thôi. – Trong nhiều trường hợp, nếu người trả lời không được giải thích rõ mục đích và tính chất quan trọng của cuộc điều tra, họ có thể trả lời ẩu, làm giảm tính tin cậy của câu trả lời. Nếu bản câu hỏi được gửi đi gián tiếp (qua bưu điện, nhờ người khác, v.v ) thì không thể bảo đảm thu về đầy đủ các phiếu đã gửi đi. Tỉ lệ hao hụt trong trường hợp này có khi rất lớn, đến 70% hay hơn. – Ngoài ra, nếu soạn bản câu hỏi quá dài, người trả lời có tâm lí ngán đọc và suy nghĩ. Họ sẽ bỏ trống nhiều câu hỏi, gây trở ngại cho việc xử lí sau này. – Khi thực hiện nhiệm vụ 1.1, bạn cần nhận xét giáo viên đã chọn phương pháp bút vấn là đúng vì người ấy muốn thu thập ý kiến trên một số lớn học sinh trong thời gian ngắn. Trong điều kiện như vậy, không thể trò chuyện trực tiếp với từng học sinh. – Khi hoàn thành nhiệm vụ 1.2, bạn cần đối chiếu ý của các bạn với những thông tin phản hồi nêu trên. Thông tin phản hồi cho hoạt động 2 1. Cấu trúc bản bút vấn: Mỗi phần có mục đích riêng như sau: – Phần giới thiệu thường mang tính chất thủ tục, hầu hết tuân theo một khuôn mẫu. Người mới tập làm nghiên cứu có thể tham khảo những mẫu bút vấn đã có sẵn và sửa chữa lại cho phù hợp với đề tài của mình. – Phần thông tin cá nhân cần phải chọn lọc. Chỉ nên hỏi những gì phục vụ trực tiếp cuộc nghiên cứu, không hỏi tràn lan. Chẳng hạn đề tài quan tâm đến việc đối chiếu kết quả giữa nam sinh và nữ sinh, nghiên cứu trên các học sinh khối lớp ba mà không so sánh gì giữa các lớp trong khối thì không cần nêu câu hỏi về lớp, địa chỉ gia đình, nghề nghiệp cha mẹ, v.v Với bản câu hỏi dành cho giáo viên, khi đề tài không cần thống kê, đối chiếu thông tin về thâm niên công tác, về các danh hiệu được bình chọn, về quá trình đào tạo tại trường sư phạm thì không nên đưa các câu hỏi ấy vào. – Phần câu hỏi chính được xếp đặt theo một trật tự hợp lí. Nếu có nhiều câu hỏi khác nhau, nên xếp nhóm chúng. Những câu hỏi có cùng một cách trả lời
- cũng được gộp lại và trước mỗi nhóm câu đó nên có phần hướng dẫn cách trả lời. 2. Lập dàn bài cho phần câu hỏi: Bạn cần thiết lập một danh sách những ý cần đưa vào bản câu hỏi. Muốn vậy, hãy dựa vào mục đích của cuộc nghiên cứu và cơ sở lí luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu để phác hoạ các ý tưởng cần hỏi. Công việc này cần nhiều thời gian và sự sáng tạo. Nên liệt kê tất cả ra giấy. Nếu có khá nhiều ý, bạn cần đọc kĩ nhiều lần, loại bỏ những ý không hợp, các ý còn lại sắp xếp chúng vào các nhóm chủ đề. Mỗi nhóm sẽ gồm một số câu hỏi. Trong nhiệm vụ 2.1, để xác định các ý cần hỏi, bạn cần phải dựa vào cơ sở tâm lí học về hứng thú. Có hai khái niệm công cụ là “hứng thú” và “hứng thú học tập”. Theo các tài liệu tâm lí học đại cương, hứng thú được coi là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động. Khi nói đến hứng thú tức là nói đến sự tập trung chú ý cao, sự say mê trong hoạt động, sự gia tăng cường độ làm việc mà không mệt mỏi, tăng hiệu quả hoạt động nhận thức. Từ các ý nêu trên, hứng thú có liên quan đến cả ba mặt nhận thức, tình cảm, và hành động. Như vậy, tìm hiểu hứng thú học tập cần định hướng vào ba mặt: mặt nhận thức về học tập; mặt tình cảm đối với học tập và mặt hành động tích cực học tập. Bản bút vấn sẽ tập trung các câu hỏi làm rõ sự biểu hiện của ba mặt nói trên ở học sinh trong hoạt động học tập. Thành phần chính có thể là : Nội dung 1: Học sinh nhận thức tầm quan trọng của các môn học như thế nào ? Mức độ tập trung chú ý trong từng môn học ? Nội dung 2: Tình cảm của học sinh biểu hiện trong từng môn học ra sao ? Mức độ yêu thích ? Các lí do yêu thích hay chán nản một môn học ? Nội dung 3: Có những biểu hiện cụ thể gì trong hành động như sự kéo dài thời gian học tập với môn học yêu thích, sự gia tăng cường độ học tập hay làm nhiều hơn các yêu cầu của giáo viên ? Bạn hãy tiếp tục làm rõ hơn ba nội dung trên. Hãy chỉ ra thêm những biểu hiện khác về nhận thức, tình cảm và hành động của học sinh đối với các môn học. Khi các ý càng nhiều thì bảng câu hỏi càng đầy đủ. 3. Dạng câu hỏi: Có hai loại câu hỏi thường thấy trong bản bút vấn. a) Các câu hỏi mở (free-response questions): phần câu hỏi đề cập đến một vấn đề muốn hỏi (giống như các câu hỏi tự luận thường thấy trong lớp học). Phần trả lời bỏ trống nhiều dòng, người trả lời tự do viết ra các ý của mình. Khi xử lí các câu hỏi này, phải dùng phương pháp phân tích nội dung để mã hoá, phân loại.
- Ví dụ: Hãy cho biết ý kiến riêng của bạn về nhu cầu học thêm của học sinh tiểu học hiện nay ? b) Các câu hỏi đóng (closed questions hay multiple-choice questions): phần hỏi giống câu hỏi mở. Phần trả lời đã ghi sẵn các ý để người trả lời lựa chọn. Tuỳ theo tính chất câu hỏi, chỉ được chọn 1 trong số đó (như chọn 1 mức yêu thích) hay có thể chọn nhiều hơn một (như chọn một số nguyên nhân trong danh sách các nguyên nhân). Đôi khi muốn được thêm thông tin, hoặc người nghiên cứu cho rằng các ý đưa ra chưa đủ thì sau các ý chọn người nghiên cứu ghi thêm dòng “các ý khác” và để vài dòng trống cho người trả lời. Ví dụ 1 : Bạn hãy tự đánh giá khả năng sử dụng ngôn ngữ của bạn ? a) Rất tốt. b) Khá tốt. c) Không tốt, không xấu (trung bình). d) Không được tốt lắm. e) Hoàn toàn không tốt. Ví dụ 2 : Theo bạn, những nguyên nhân nào sau đây là chủ yếu gây ra tình trạng học sinh tiểu học học kém ? a) Học sinh không tập trung chú ý trong giờ học. b) Thầy (cô) giáo không bao quát lớp học lúc giảng bài. c) Thầy (cô) giáo quá hiền, ít răn đe, trách phạt học sinh. d) Học sinh không có đủ sách giáo khoa. e) Học sinh không học bài, làm bài tập ở nhà. f) Cha mẹ ít quan tâm kiểm soát con cái học ở nhà. g) Thiếu giáo cụ trực quan dùng cho các tiết giảng. h) Học sinh bị mất căn bản kiến thức từ lớp dưới. i) Phương pháp dạy thúc đẩy học sinh học tủ, học vẹt. j) Những nguyên nhân khác (xin ghi ra bên dưới). Bạn cần biết một thực tế là, qua xử lí nhiều bản bút vấn, người ta thấy những phần trả lời mở trong bản bút vấn ít khi được tất cả người trả lời quan tâm điền
- đầy đủ. Họ thường bỏ trống. Có lúc những ý trả lời không sát với phần câu hỏi. Vì vậy nên có sự cân nhắc khi dùng các câu hỏi mở. Trường hợp cần phải dùng thì nên có giải thích rõ ý và khuyến khích người trả lời điền đầy đủ. Trong nhiệm vụ 2.2 bạn có thể liệt kê các môn học mà bạn đang quan tâm và chọn ba hay năm mức độ yêu thích. Câu hỏi có thể như bảng dưới đây: Câu 1: Hãy cho biết mức độ yêu thích của em đối với các môn học. Khi trả lời, em hãy đọc tên từng môn học và đánh dấu X vào ô chỉ đúng mức sở thích của em. Số Mức độ yêu thích MÔN HỌC TT Rất thích Thích Bình thường Chán Rất chán 1 Toán 2 Tiếng Việt 3 Tự nhiên - Xã hội 4 Đạo đức 5 Kỹ thuật thủ công 6 Hát nhạc 7 Giáo dục sức khỏe 4. Hoàn thiện các câu hỏi: Khi đã chọn xong loại câu hỏi, bạn còn phải chú ý đến cách viết và sửa các câu hỏi, quan tâm đến ý nghĩa, tính phù hợp, chú ý từng câu, chữ, hướng dẫn cách trả lời những câu hỏi này. Thông tin phản hồi cho hoạt động 3 Hoạt động 3 nhắc nhở bạn một số điểm cần lưu ý khi soạn câu hỏi bút vấn hầu tránh những sai sót do vô tình, hoặc do bạn còn thiếu kinh nghiệm với bút vấn. Nhiệm vụ 3.1: Nếu đặt câu hỏi như vậy sẽ thiếu rất nhiều đáp ứng phù hợp với học sinh. Nên thêm vào dòng “các ý khác” để cho người trả lời tự ghi theo ý mình. Nhiệm vụ 3.2: Câu hỏi chưa tính đến trong hoàn cảnh hiện nay, ở nhiều gia đình hai thế hệ, do công việc cha mẹ không đủ thời gian lo cho con cái mà phải nhờ đến người thân thuộc hoặc thuê người làm việc nhà. Nhiệm vụ 3.3: Trong câu hỏi 4, khi liệt kê nhiều chức vụ nghĩa là người soạn câu hỏi muốn biết chức vụ cụ thể của người trả lời. Vì mẫu hỏi có thể gồm nhiều người với những chức vụ khác nhau, việc liệt kê danh sách các chức vụ là cần thiết. Bạn cần thấy được rằng: tỉ lệ người giữ các chức vụ trong danh sách này là không giống nhau. Cho nên thông tin thu được chỉ có tính chất thống kê, để xem trong mẫu khảo sát, mỗi chức vụ có bao nhiêu người (hay bao nhiêu phần
- trăm). Nếu trong đề tài muốn phân tích có những khác biệt nào không về quan điểm, sở thích, v.v giữa các nhóm người giữ những chức vụ khác nhau thì không đạt được sự mong muốn, vì số lượng nhóm quá nhiều, số người trong mỗi nhóm không xấp xỉ bằng nhau, v.v Khi xử lí, bạn phải tốn thêm một số thao tác nữa. Vì vậy, nếu không cần phải mô tả tỉ mỉ thành phần, bạn nên gộp một số chức vụ để được các nhóm có những dấu hiệu đặc trưng hơn, như có ba nhóm: Ban giám hiệu, giáo viên, các chức vụ khác. Hoặc chỉ hai nhóm là : nhóm giáo viên và nhóm khác (không phải giáo viên). Người trả lời cũng đỡ mất công hơn. Nhiệm vụ 3.4: Câu hỏi 5 đã nêu rõ ràng về ý cần hỏi. Người trả lời chỉ đơn giản đánh dấu X vào các ô tương ứng. Tuy nhiên, khi xử lí thì không đơn giản. Nếu muốn biết có bao nhiêu giáo viên đã dạy nhiều lớp, phải đếm theo kiểu : đã dạy chỉ một lớp, dạy hai lớp, ba lớp v.v mà không quan tâm đến những lớp nào. Còn nếu cần đếm coi có bao nhiêu người đang dạy lớp một, hai, ba, v.v thì sẽ bị trùng lắp ở những người đã dạy lớp một, lớp hai, lớp ba, v.v Tổng cộng sẽ là con số lớn hơn số người được khảo sát. Thông tin phản hồi cho hoạt động 4 Xem thông tin cho hoạt động 4. Thông tin phản hồi cho hoạt động 5 Nhiệm vụ 5.1: Những điểm giống nhau giữa bút vấn và phỏng vấn: cả hai đều dùng để thu thập dữ kiện. Các yêu cầu về soạn câu hỏi để tránh thiên vị, về chọn mẫu, về tính tin cậy, v.v là như nhau. Điều khác biệt : thu thập thông tin trực tiếp (mặt đối mặt) hay gián tiếp. Trực tiếp khi phỏng vấn có thể ghi nhận những phản ứng của người trả lời (bình tĩnh, tự tin hay lúng túng, từ chối trả lời trước một câu hỏi). Gián tiếp với bút vấn: người trả lời cảm thấy không bị kiểm soát, tự do trả lời hơn. Tuy nhiên, cũng có thể bị trả lời dối. Hoặc không thể hỏi thêm điều gì ngoài thông tin trên bản trả lời. Ngoài ra, phỏng vấn không thể lấy mẫu lớn trong khi bút vấn thì có thể. Với trẻ em, người không thể đọc viết (mù chữ, khuyết tật, ) thì phỏng vấn thích hợp hơn. Thông tin phản hồi cho hoạt động 6 Nhiệm vụ 6.1: Những kết quả nghiên cứu của tâm lí học cho biết: Khi nghe, người ta không phản ánh đúng vào trí não những gì nghe được mà thường chỉ nghe những gì người ta muốn nghe và bỏ ngoài tai những điều trái với kinh nghiệm, định kiến, ước mơ, nguyện vọng của họ. Vì vậy người phỏng vấn có thể bỏ qua rất nhiều chi tiết quan trọng trong những thông tin do người được phỏng vấn cung cấp. Mặt khác, lại rất dễ thiên vị, có thể nhận thức sai lệch ý nghĩa các câu trả lời của người được phỏng vấn.
- Do vậy, “phải biết nghe” hoặc “nghe một cách khách quan, vô tư” là một yêu cầu bắt buộc, một đặc điểm không thể thiếu của người phỏng vấn. Người biết nghe là người luôn có ý thức cao, không thiên vị, biết né tránh ảnh hưởng của kinh nghiệm bản thân, những mong đợi phù hợp với mình trong khi nghe, cẩn thận trước khi đưa ra những nhận định hay kết luận. Người phỏng vấn “biết nghe” luôn cảnh giác, cố gắng thu nhận thông tin một cách trung thực. Nhiệm vụ 6.2: Để tránh những thiên vị, tốt nhất người nghiên cứu không nên làm công việc phỏng vấn. Nên huấn luyện một số người có kĩ năng phỏng vấn để làm công việc này. – Điểm lợi nếu người nghiên cứu tham gia phỏng vấn: + Người nghiên cứu biết rõ mục đích nghiên cứu, luôn quan tâm đến những nội dung có thể giúp họ kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu. + Khi tham gia phỏng vấn, người nghiên cứu có thể bắt gặp nội dung cần cho đề tài, hỏi thêm các chi tiết để làm rõ hơn. – Điểm bất lợi: + Sự thiên vị trong khi phỏng vấn là khó tránh. + Sự ảnh hưởng qua lại giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn. Những kinh nghiệm, uy tín, sự quen thuộc của người nghiên cứu có ảnh hưởng đến người được phỏng vấn. Một số thông tin thu thập có thể kém tin cậy, thiếu khách quan, do người được phỏng vấn chịu ảnh hưởng hay muốn “giúp đỡ” người nghiên cứu. Nhiệm vụ 6.3: Những cách có thể thực hiện để khắc phục thiên vị, tránh ảnh hưởng qua lại giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn: – Thực hiện phỏng vấn lặp lại lần thứ hai trên một số người trong mẫu. – Sử dụng những người phỏng vấn khác. – Đối chiếu các biên bản của những lần phỏng vấn. Thông tin phản hồi cho hoạt động 7 Xem thông tin cho hoạt động 7. Thông tin phản hồi cho hoạt động 8 Bạn cần lưu ý gì khi phỏng vấn ? 1. Người phỏng vấn phải kiên nhẫn: Trong bất cứ trường hợp nào, sự kiên nhẫn là một phẩm chất quý đối với người phỏng vấn. Tính kiên nhẫn góp phần vào hiệu quả công việc. Ví dụ: Nếu bị từ chối trong cuộc tiếp xúc sơ khởi, người phỏng vấn tìm cách hẹn tiếp xúc vào lần khác, trong không gian và thời gian thuận lợi hơn. Nhờ đó, mẫu nghiên cứu (phỏng vấn) không bị suy giảm về số lượng. Vì mẫu chọn cho cuộc phỏng vấn thường không đông, nên muốn bảo đảm tính tin cậy cho cuộc phỏng vấn và đại
- diện cho dân số, bạn cần phải thu thập được dữ kiện trên toàn mẫu đã chọn. Việc thay thế một số người trong mẫu (do những lí do khách quan) có thể chấp nhận nếu chứng minh được mẫu mới sau này cũng có đủ những tính chất như mẫu ban đầu. 2. Tạo được bầu không khí thân mật, cởi mở với người được phỏng vấn: – Luôn tạo mọi điều kiện để người được phỏng vấn bộc lộ ý kiến của mình một cách tự do. – Nên gặp riêng từng người để bảo đảm những thông tin do người được phỏng vấn cung cấp là riêng tư, không bị ảnh hưởng bởi đám đông hay bởi một người nào đó. – Luôn giữ kín các thông tin và danh tánh của những người được phỏng vấn. 3. Ghi chép trong khi phỏng vấn: Tuỳ thuộc thái độ người được phỏng vấn, có thể xin phép họ để ghi chép những câu trả lời ra giấy. Có hai tác dụng của ghi chép ngay khi phỏng vấn: – Tích cực vì người được phỏng vấn nghĩ rằng ý kiến của mình là quan trọng. – Tiêu cực vì tâm lí e ngại của người phát biểu khi thấy lời nói của mình bị ghi chép. 4. Sử dụng các thiết bị (ghi âm, ghi hình): Việc ghi lại âm thanh hay hình ảnh cho phép người phỏng vấn nghe lại, xem lại nhiều lần và có thể ghi chép ra giấy. Tuy nhiên sự hiện diện của thiết bị này có ảnh hưởng đến người được phỏng vấn. Do đó cần phải giải thích lí do, xin phép trước khi sử dụng. 5. Nên bố trí nhiều người hỗ trợ : để làm gia tăng tính tin cậy và tính giá trị của thông tin thu được qua cuộc phỏng vấn. Tốt nhất là một người làm công việc phỏng vấn, ghi chép nhận xét và một người khác phân tích, giải thích dữ kiện. Thông tin phản hồi cho hoạt động 9 Nhiệm vụ 9.1: Nói về tính có hệ thống và tính khách quan. 1. Tính hệ thống: Khi phân tích nội dung, ta phải rút trích, phân tích, tổng hợp những thông tin đang được ghi ở dạng văn bản (như bài phát biểu, câu trả lời, sách, ), dạng hình ảnh hoặc lời nói (trong tranh ảnh, đoạn băng ghi âm, đoạn phim, v.v ). Việc làm này đòi hỏi người thực hiện phải có tầm bao quát rộng. Những nội dung được chọn ra phải tuân theo một hệ thống được thiết lập từ trước. Có như vậy mới bảo đảm tính chất đại diện. Tính hệ thống có liên quan đến việc chọn mẫu ngẫu nhiên. Ví dụ khi khối tài liệu thu thập được quá lớn, người nghiên cứu không thể phân tích hết tất cả chúng mà cách tốt hơn là chọn một mẫu trong số đó để phân tích. Muốn chọn
- mẫu đại diện, cần thiết phải sắp xếp tài liệu theo một hệ thống khách quan, sau đó dùng lối chọn ngẫu nhiên để chọn. Việc làm này tránh được sự thiên vị hay tuỳ tiện chọn theo sở thích, mong muốn cá nhân. 2. Tính khách quan: Khi thiết lập hệ thống, người nghiên cứu không thể làm tuỳ tiện mà thường là dùng một cách phân loại để đưa các thông tin vào những phạm trù tổng quát, sau đó dưới phạm trù tổng quát là những phạm trù nhỏ hơn, được chứa trong phạm trù tổng quát vừa lập. Cứ như vậy tiếp tục cho đến khi không phân chia nữa. Tính khách quan thể hiện ở việc xác lập các phạm trù, định nghĩa nó thật rõ ràng, để nhiều người khác nhau cũng có thể đạt kết quả tương tự khi thực hiện cùng một cách phân loại. Các ý trả lời trong đánh giá hoạt động 9: Việc áp dụng phương pháp phân tích nội dung trong sách giáo khoa mang lại nhiều lợi điểm: a) Giáo viên có thể nắm vững nội dung trình bày trong sách. Chẳng hạn, giáo viên (hay bạn) có thể xác lập những loại mục khi phân tích như: – Những khái niệm nào được đề cập đến trong sách giáo khoa ? – Trình tự thiết lập các khái niệm như thế nào ? – Khuynh hướng của tác giả khi lựa chọn và xếp đặt các đề mục. – Cách hành văn của tác giả ? – Hình thức trình bày, v.v b) Giáo viên còn có thể thực hiện những nghiên cứu nhỏ phục vụ việc giảng dạy của mình: Ví dụ đặt ra các mục tiêu như: – Tìm hiểu tính chất phù hợp của các từ ngữ sử dụng trong sách so với trình độ học sinh. – Tìm hiểu tác dụng của hình vẽ trong sách giáo khoa đối với trẻ nhi đồng: Chẳng hạn, Số lượng các hình vẽ sử dụng trong từng chương, bài có ảnh hưởng gì đến việc dễ dàng tiếp thu nội dung bài ? Tính chất của những hình vẽ minh hoạ có tuân theo một khuynh hướng nào không ? vv Thông tin phản hồi cho hoạt động 10 Bạn cần nhớ trong phân tích nội dung, trước hết phải xác định rõ ràng các khía cạnh của vấn đề muốn tìm hiểu. Kế đến là thiết lập các phạm trù cho mỗi khía cạnh nghiên cứu. Việc thiết lập các phạm trù là rất quan trọng. Không nên quá bao quát hoặc quá hẹp. Thường xếp thành từng nhóm, mỗi nhóm gồm có loại mục tổng quát được phân ra những phạm trù phụ chi tiết hơn. Mỗi phạm trù phải được định nghĩa rõ ràng và cụ thể để tránh sự giải thích hay suy diễn sai lệch. Người phân tích cũng
- phải được huấn luyện để họ nắm vững các định nghĩa và sử dụng thành thạo hệ thống phân loại đã lập. Các đơn vị phân tích: Có năm đơn vị phân tích: từ ngữ, câu văn, toàn thể tài liệu, nhân vật, đo lường thời gian và không gian. – Loại đơn vị phân tích theo lối dùng từ ngữ ít được dùng. – Loại đơn vị phân tích dựa trên câu văn : (dùng cả câu, chứa nhiều từ) khá phức tạp, không đáng tin cậy. – Loại đơn vị phân tích nhân vật: dùng phân tích truyện nhi đồng, ít dùng trong nghiên cứu khoa học giáo dục. – Loại đơn vị phân tích các đo lường thời gian và không gian: ví dụ chiều dài của câu văn, số chữ trong câu, số trang trong sách, số đoạn văn, số phút thảo luận, số phút thầy giáo thuyết giảng, v.v – Loại đơn vị phân tích tiết mục (item), là loại đơn vị phân tích quan trọng, thường dùng trong các nghiên cứu xã hội và nghiên cứu giáo dục. Tiết mục nói ở đây có thể là: toàn thể bản văn, bài diễn thuyết, một câu chuyện, một chương trình ti vi, một ý kiến trong cuộc phỏng vấn hay bút vấn, v.v Khi sử dụng nhiều thẩm lượng viên tham gia việc phân tích nội dung, cần đối chiếu kết quả của từng người, trong đó rất cần một sự nhất trí cao (hệ số đồng ý cao). Thông tin phản hồi cho hoạt động 11 và 12 Xem thông tin cho hoạt động 11 và 12. Tóm tắt Chương này giới thiệu một số phương pháp thu thập dữ kiện thông dụng. Đó là các phương pháp bút vấn, phỏng vấn, quan sát, phân tích nội dung các văn bản, tài liệu. Mỗi phương pháp đều có những mục tiêu và công dụng riêng, có những mặt mạnh và những khó khăn phải khắc phục. Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu của đề tài và điều kiện thực tiễn, bạn cần chọn lựa những phương pháp thích hợp. Bút vấn dùng thu thập dữ kiện, ý kiến, thái độ theo một khung cấu trúc nào đó từ những người mà ta không thể tiếp xúc trực tiếp. Nó cho phép khảo sát nhiều người trong một thời gian ngắn, đỡ tốn công sức và chi phí thấp. Trong bản bút vấn có thể đặt nhiều câu hỏi về nhiều mặt mà người nghiên cứu quan tâm. Người trả lời cũng được tự do bộc lộ ý kiến của mình, không phải né tránh khi gặp những vấn đề “tế nhị”. Nhưng nếu các câu bút vấn không chuẩn bị kĩ, phần hướng dẫn trả lời không chu đáo thì kết quả thu được cũng thiếu tin cậy. Phỏng vấn cho phép thu thập thông tin từ những người ta có thể tiếp xúc trực diện. Nhờ đó có thể tìm hiểu chi tiết hơn khi thấy cần hỏi thêm một vấn đề nào
- đó. Do sự tiếp xúc trực tiếp, số lượng thu thập không thể nhiều như bút vấn. Kết quả thu được cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan của người phỏng vấn. Phân tích nội dung là kĩ thuật nghiên cứu nhằm mô tả một cách có hệ thống, khách quan và bằng phương pháp định lượng nội dung các tài liệu, sách báo, các câu phát biểu tự do trong bản bút vấn, v.v Điều bạn cần nhớ là: Các phương pháp nêu trên đều phải được huấn luyện mới áp dụng có hiệu quả và phải chuẩn bị chu đáo trước khi sử dụng để bảo đảm tính tin cậy và giá trị cho các dữ kiện. Bạn cũng nên ghi nhớ các bước thực hiện một nghiên cứu: – Trước hết là chuẩn bị dụng cụ (qua đọc tài liệu lí luận, qua các công trình nghiên cứu, hay các nghiên cứu thăm dò trước). – Tiếp theo là bước thử nghiệm dụng cụ đo (nhờ các chuyên gia và cả khảo sát trên các mẫu tương tự). – Sau thử nghiệm người nghiên cứu sửa chữa dụng cụ này cho tốt hơn trước khi sử dụng chính thức. – Trong đợt khảo sát chính thức, người nghiên cứu phải chọn mẫu ngẫu nhiên để bảo đảm các kết quả đại diện cho dân số. – Cuối cùng, khi đã thu về đầy đủ dữ kiện, phải phân tích chúng bằng phương pháp thống kê. Sau đó mới khái quát hoá các kết quả. Tài liệu đọc thêm TS. Dương Thiệu Tống, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lí, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2002 (Đọc chương V “Các phương pháp thu thập dữ kiện”).
- Chủ đề 4 Xử lí các dữ kiện 6 tiết ( 4 tiết lí thuyết + 2 tiết thực hành) MỤC TIÊU 1. Kiến thức: – Trình bày các loại dữ kiện thường dùng trong nghiên cứu khoa học giáo dục. – Phân biệt về tính chất và công dụng của dữ kiện định tính với dữ kiện định lượng. – Chỉ ra được công dụng của số trung bình cộng và các số tỉ lệ % thường áp dụng trong một nghiên cứu nhỏ. – Phát biểu cách thức xác định tương quan giữa hai biến số. – Giải thích ý nghĩa của các dữ kiện thu thập dựa trên các số thống kê. 2. Kĩ năng: – Tính toán được các số trung bình cộng và số tỉ lệ khi đã có một tập hợp dữ kiện. – áp dụng các số trung bình và số tỉ lệ vào trong một đề tài nghiên cứu cụ thể. – Tìm ra mức độ liên hệ giữa hai biến số đang khảo sát trong một nghiên cứu bằng cách dùng một hệ số tương quan. – Trình bày rõ ràng các bảng thống kê số liệu. 3. Thái độ: – Thể hiện sự thận trọng khi kết luận, bình luận với các kết quả thống kê. – Quan tâm sử dụng dữ kiện định tính và định lượng cho từng loại nghiên cứu. Các hoạt động a. các loại dữ kiện Hoạt động 1: Tìm hiểu dữ kiện định tính (25 phút) Thông tin cho hoạt động 1: (3 phút) Dữ kiện định tính là loại dữ kiện phản ánh tính chất của một sự kiện, hiện tượng, hoặc chỉ sự hơn kém giữa các sự vật. Với dữ kiện này, ta không thể tính được giá trị trung bình. Theo phân loại, dữ kiện định tính có thể là: – Dữ kiện phân loại (categorical data): kết quả học tập xếp theo loại (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém); mức độ ham thích (rất nhiều, nhiều, trung bình, ít, rất ít), v.v
- – Dữ kiện thứ tự (ordinal data): dữ kiện được xếp thứ hạng 1, 2, 3, 4, v.v – Dữ kiện định danh (nominal data): phái (nam, nữ); màu tóc; khu vực (nội thành, vùng ven, ngoại thành). Nhiệm vụ Nhiệm vụ 1.1: Làm việc cá nhân (7 phút) Đọc đoạn mô tả sau, cho biết các biến định nghĩa dưới đây thuộc loại dữ kiện gì ? Trong một nghiên cứu về hứng thú học sinh đối với các giờ học vẽ, người ta cho học sinh vẽ một loạt tranh theo các chủ đề cây cối, con vật và vật dụng trong gia đình. Sau đó chấm điểm các tranh đó. Người nghiên cứu quan tâm đến các biến: phái tính (học sinh nam, nữ); lớp (các lớp ba, bốn ,năm); thành phần gia đình (cha mẹ là công nhân viên chức (CNVC), cha mẹ là tiểu thương (TT), cha mẹ làm các nghề lao động phổ thông (LĐPT)). Người nghiên cứu muốn so sánh điểm vẽ tranh của các học sinh được phân nhóm theo từng biến kể trên. Nhiệm vụ 1.2: Thảo luận trong nhóm. (8 phút) Hãy trình bày ý tưởng của mình trong nhóm liên quan đến các loại dữ kiện định tính nói trên, sau đó cùng nhóm thảo luận để nhất trí về những ví dụ. Ghi lại biên bản và nộp cho giảng viên phụ trách môn học. Đánh giá hoạt động 1: (7 phút) – Câu hỏi 1: Một giáo viên tiểu học muốn thu thập ý kiến của học sinh về phong trào thi đua giữ gìn “Vở sạch, Chữ đẹp”. Người này chọn ra 120 học sinh thuộc 3 loại học sinh: giỏi, khá, trung bình trong trường mình dạy (mỗi nhóm 40 học sinh). Biến số “loại học sinh” trong trường hợp này là dữ kiện thuộc loại thứ tự hay định danh ? – Câu hỏi 2: Hãy đưa ra một trường hợp cho thấy đó là dữ kiện thứ tự (không trùng với những ví dụ đã nêu trong tài liệu này). Hoạt động 2: Tìm hiểu dữ kiện định lượng (30 phút) Thông tin cho hoạt động 2: (3 phút) Dữ kiện định lượng là loại dữ kiện thể hiện bằng những con số (numeric). Loại này có được khi người nghiên cứu đo trên một hay nhiều nhóm người bằng một công cụ đo vật lí (như mét, cân nặng, v.v ) hoặc các thang đo tâm lí (như test trí tuệ Raven, thang thái độ, v.v ). Với loại dữ kiện này, ta tính được giá trị trung bình, các số thống kê khác như độ lệch tiêu chuẩn, hàng số, hệ số tương quan, v.v Dữ kiện định lượng có thể là liên tục (chiều cao, cân nặng của học sinh) hoặc rời rạc (số anh em ruột của mỗi học sinh = 0, 1, 2, 3 chứ không thể 2,5).
- Nhiệm vụ Nhiệm vụ 2.1: Làm việc cá nhân (7 phút) Đọc và trả lời câu hỏi: “Trong một nghiên cứu khảo sát năng lực giảng dạy 6 môn của giáo viên tiểu học, người nghiên cứu yêu cầu mỗi giáo viên tự đánh giá khả năng của mình bằng cách đánh dấu X vào một trong 4 mức : Tốt, Khá, Trung bình, Yếu của từng môn. Sau đó các mức này được cho điểm theo thứ tự như trên là 4, 3, 2, 1. Tính tổng điểm của 6 môn, chia 6 để được điểm trung bình năng lực giảng dạy. Nếu chọn mẫu nghiên cứu là 300 giáo viên tiểu học thì có 300 điểm trung bình năng lực giảng dạy”. Hỏi: Có thể coi 300 điểm trung bình nói trên là một tập dữ kiện định lượng không ? Nếu bạn muốn tìm hiểu về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên, bạn có làm như trên không ? Nhiệm vụ 2.2: Thảo luận trong nhóm. (10 phút) Cùng nhóm thảo luận để đưa ra các ví dụ về dữ kiện định lượng. Đánh giá hoạt động 2: (10 phút) – Câu hỏi 1: Sau 2 tháng phát động phong trào thi đua : “Giữ gìn vở sạch, rèn chữ đẹp” trong khối lớp năm, ban giám khảo cuộc thi đã thu tập vở học sinh và chấm điểm riêng hai mặt “giữ vở sạch” và “rèn chữ đẹp” theo thang điểm 1 đến 10. Biến “điểm vở sạch” và “điểm chữ đẹp” trong trường hợp này có thể coi là dữ kiện định tính hay định lượng ? – Câu hỏi 2: Trong một điều tra, người ta muốn tìm hiểu về sở thích xem truyện tranh ở học sinh khối lớp ba, lớp bốn và lớp năm. Danh sách truyện tranh được ban tổ chức thảo luận từ rất nhiều tên truyện tranh có trên thị trường và chọn ra tiêu biểu 10 truyện, gồm 5 tên truyện tranh Việt Nam và 5 tên truyện tranh dịch từ nước ngoài. Với từng tên truyện tranh, học sinh sẽ trả lời bằng cách chọn 1 trong 4 mức: Rất thích, Thích, Không đọc (chưa đọc) và Không thích. Sau đó người nghiên cứu quy đổi thành điểm số như sau: Rất thích = 2 điểm, Thích = 1 điểm, Không đọc = 0 điểm, Không thích = −1 điểm. Điểm tổng cộng 10 truyện được coi là điểm yêu thích truyện tranh của học sinh. Hỏi: Người nghiên cứu làm như vậy có đúng không ? Biến “điểm tổng cộng” có thể xem là biến định lượng ? – Câu hỏi 3: Hãy cho ví dụ về các trường hợp dùng dữ kiện định lượng.
- Hoạt động 3: Thống kê và mô tả các dữ kiện định tính (40 phút) Thông tin cho hoạt động 3: (18 phút) Những thông tin sau đây giúp bạn xử lí các dữ kiện định tính sau khi thu thập số liệu từ mẫu nghiên cứu: a) Bảng số liệu một chiều: Thông tin trong bảng thường gồm có 3 cột: cột ghi các mức phân loại của dữ kiện, cột tần số (đếm số lần xuất hiện) và cột tỉ lệ %. Ví dụ: Bảng 1: Thống kê tần số và tỉ lệ % học sinh trường Kim Đồng theo học lực. Học lực Tần số Tỉ lệ % Giỏi 120 13,87% Khá 267 30,86% Trung bình 428 49,48% Yếu 50 5,78% Tổng cộng: 865 Chú thích: Tần số = số học sinh b) Bảng số liệu hai chiều: Thông tin trong bảng hai chiều có hai biến số, mỗi chiều là một biến số xếp theo hàng ngang và hàng dọc. Bên trong các mức của biến (hàng hay cột) thường ghi tần số và tỉ lệ %. Ví dụ ở bảng 2 có hai biến là trường và giới tính. Nội dung mô tả thành phần nam và nữ trong từng trường. Các trường được trình bày theo hàng, giới tính theo cột. Các tỉ lệ % (nam, nữ) tính theo từng trường (tức lấy tần số chia cho tổng hàng). Trong thực tế, khi cần người ta còn tính tỉ lệ theo cột (tần số chia cho tổng cột) hoặc theo từng ô (tần số từng ô chia cho tổng toàn thể): Bảng 2: Thống kê tần số và tỉ lệ % học sinh 3 trường theo giới tính. Nam Nữ Trường Tổng số Tần số Tỉ lệ % Tần số Tỉ lệ % Kim Đồng 520 43,7% 671 56,3% 1191 Lê Văn Tám 628 46,8% 713 53,2% 1341 Trần Văn Ơn 567 48,7% 598 51,3% 1165 Tổng cộng: 1715 1982 3697
- c) Bảng số liệu ba chiều: Tuỳ thuộc vào nhu cầu mô tả, bạn có thể thiết lập bảng ba chiều hay hơn nữa. Dưới đây là một minh hoạ. Bảng 3 mô tả thành phần của mẫu 366 sinh viên thuộc hai nhóm ngành học là Tự nhiên và Xã hội, phái tính (nam, nữ) được bố trí lồng nhau theo chiều trái sang phải và 4 năm học (năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư) theo chiều trên xuống. Bảng 3: Minh hoạ bảng thống kê với 3 biến. Ket qua thong ke tong hop nganh hoc, phai tinh theo tung nam Tu Nhien Xa Hoi Table Total Nam Nu Nam Nu Count Col % Count Col % Count Col % Count Col % Count Col % Nam thu 1 26 31.0% 25 23.1% 23 27.7% 22 24.2% 96 26.2% Nam thu 2 22 26.2% 25 23.1% 21 25.3% 26 28.6% 94 25.7% Nam thu 3 18 21.4% 31 28.7% 20 24.1% 23 25.3% 92 25.1% Nam thu 4 18 21.4% 27 25.0% 19 22.9% 20 22.0% 84 23.0% Table Total 84 100.0% 108 100.0% 83 100.0% 91 100.0% 366 100.0% Kết quả tổng hợp ngành học, phải tính theo từng năm Lưu ý: Bảng 3 được tạo bởi phần mềm thống kê trên máy tính SPSS for Windows, phiên bản 11.5 với các số liệu của một nghiên cứu tại Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Các số ghi trong cột count là số sinh viên (tần số), các tỉ lệ % được tính theo cột (kí hiệu col%), tức theo từng năm học. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 3.1: Làm việc cá nhân (8 phút) Hãy thu thập kết quả xếp loại học tập của 1 lớp học sinh tiểu học. Chú ý các biến được sử dụng: Biến phái tính (nam, nữ), biến cha mẹ với 3 nhóm như sau : (1) Bố và mẹ đều là CNVC; (2) Bố hay mẹ là CNVC; (3) Bố mẹ không là CNVC. Trước hết lập bảng 3.1a để thống kê mô tả tần số và tỉ lệ % học sinh Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, Kém. Sau đó lập các bảng hai chiều với yêu cầu như sau: – 3.1b mô tả tần số và tỉ lệ % học lực của học sinh theo phái tính. Loại học lực bố trí theo từng hàng, phái tính (nam, nữ) mô tả theo cột. – Tương tự, bảng 3.1c mô tả tần số và tỉ lệ % các loại học lực theo những nhóm cha mẹ nêu trên. Nhiệm vụ 3.2: Thảo luận trong nhóm. (7 phút)
- Cùng thảo luận với bạn về một nghiên cứu dự định sẽ thu thập số liệu trên sinh viên Cao đẳng Sư phạm, trong đó có sử dụng 3 biến định tính là năm học, ngành học và giới tính. Phác hoạ một bảng thống kê mô tả các số liệu này. Đánh giá hoạt động 3: (7 phút) − Câu hỏi: Bạn đang tìm hiểu về yêu thích âm nhạc ở các em tiểu học. Phiếu điều tra được thu thập ở các lớp ba, bốn, năm tại nhiều trường: một số trường ở nội thành, một số trường thuộc vùng ngoại thành. Giả sử bạn quan tâm điều tra tên những bài hát được thiếu nhi yêu thích (về sau các bài hát sẽ được phân loại thành năm chủ đề); tên một số nhạc sĩ. Hãy thiết lập 2 bảng thống kê mô tả tần số và tỉ lệ : 1 bảng là các chủ đề bài hát được yêu thích, 1 bảng là các nhạc sĩ được yêu thích. Nếu phối hợp thêm các biến “lớp” hay “khu vực” nội, ngoại thành thì các bảng sẽ như thế nào ? b. các số thống kê thường dùng và công dụng Hoạt động 4 :Cách tính và công dụng của số trung bình cộng (45 phút) Thông tin cho hoạt động 4: (10 phút) Định nghĩa: Số trung bình cộng (thường gọi là trung bình hoặc điểm trung bình), kí hiệu là Mean hay x được tính bằng cách cộng tất cả điểm số (của bài làm học sinh) và sau đó chia cho tổng số bài (hay số học sinh có bài làm). Cách tính: Điểm trung bình của 10 điểm số 5, 8, 7, 4, 8, 6, 9, 10, 7, 5 là : Mean = (5 + 8 + 7 + 4 + 8 + 6 + 9 + 10 + 7 + 5)/10 = 69/10 = 6.9. Cần biết: Khi mỗi điểm số có hệ số khác nhau, ta nhân hệ số này với điểm số trước khi cộng và mẫu số bây giờ là tổng các hệ số. Nếu là phân bố tần số, ta nhân từng điểm số (X) với tần số (f) để có cột X.f, sau đó mới tính tổng cột X.f. Trị số Mean chính là tổng này chia với tổng các tần số. Ví dụ: Tính điểm trung bình của 5 điểm số của một học sinh: bài 1 = 7 có hệ số 2, bài 2 = 6 có hệ số 1, bài 3 = 8 có hệ số 2, bài 4 = 9 có hệ số 1, bài 5 = 10 có hệ số 1. Tổng hệ số = 2 + 1 + 2 + 1 + 1 = 7 và trị số trung bình là: Mean = 7 × 2 + 6 × 1 + 8 × 2 + 9 × 1 + 10 × 1= 55/7 = 7.85.
- Nhiệm vụ Nhiệm vụ 4.1: Làm việc cá nhân (5 phút) Tính trung bình số người tham dự triển lãm trong một ngày, biết số liệu ghi tại một điểm triển lãm như sau (đơn vị người): thứ hai: 2383, thứ ba: 2574, thứ tư: 2812, thứ năm: 1964, thứ sáu: 2249, thứ bảy: 2816. Nhiệm vụ 4.2: Làm việc trong nhóm. (10 phút) Bạn hãy cùng bạn trong nhóm thu thập điểm những học phần các môn chung (bắt buộc cho tất cả sinh viên Cao đẳng Sư phạm) và điểm các môn chuyên ngành của 5 đến 8 sinh viên, trong đó có bạn. Lưu ý số đơn vị học trình của từng học phần. Tính điểm trung bình các môn chung cho từng người. Tiếp tục, tính điểm trung bình các môn chuyên ngành của từng người. Dựa trên các điểm trung bình chung và chuyên ngành của các sinh viên này, bạn hãy thảo luận cùng nhóm rút ra các nhận xét. (Ví dụ, ai học tốt môn chuyên ngành hơn môn chung. Điểm chuyên ngành so với môn chung thì có gì đáng nói ?, v.v ). Đánh giá hoạt động 4: (20 phút) − Câu hỏi 1: Tính điểm trung bình môn Toán của 40 học sinh lớp 5A, biết phân bố điểm số sau: Điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tần số 2 1 4 5 9 7 5 2 4 1 − Câu hỏi 2: Bạn hãy tìm và liệt kê một danh sách những trường hợp trong đời sống người ta dùng số trung bình cộng (hoặc có dùng từ “bình quân”) để mô tả đặc trưng một hoạt động, một công việc nào đó. Ví dụ: + Thu nhập bình quân của một công nhân tại phân xưởng sản xuất A, nhà máy M được 700 nghìn đồng. + Bình quân sản lượng lúa của . . . − Câu hỏi 3: Hãy điểm lại các trường hợp dùng số trung bình cộng trong hoạt động diễn ra hằng ngày ở trường học. Hoạt động 5 : Cách tính và công dụng của số tỉ lệ
- (45 phút) Thông tin cho hoạt động 5: (12 phút) Cùng với số trung bình cộng, số tỉ lệ rất thông dụng trong giáo dục và trong cuộc sống. Ví dụ: Tỉ lệ học sinh 6 tuổi đến trường trong đầu năm học. Tỉ lệ học sinh bỏ học (ở một cấp lớp, một khối lớp). Tỉ lệ thanh niên từ 18 đến 25 tuổi có việc làm tại một địa phương. Số tỉ lệ thường kí hiệu là p. Trong đời sống, người ta thường dùng dạng tỉ lệ %. Công dụng: Số tỉ lệ cho biết tỉ lệ phần trăm một thành phần trong toàn thể. Cách tính: Ta nên tìm hiểu cách tính tỉ lệ qua một trường hợp cụ thể: Lớp 4A có 40 học sinh. Cuối học kỳ I vừa qua có 10 học sinh được xếp loại Giỏi, 19 học sinh loại Khá, 8 học sinh loại Trung bình, còn lại là loại Yếu. Các tỉ lệ % học sinh Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu trong lớp được tính như sau: Tổng số học sinh của lớp 4A là 40. Số học sinh loại Yếu = 40 − (10+19+8) = 3. Tỉ lệ % học sinh đạt loại Giỏi = 10/40 = 0,250 hoặc 25%. Tỉ lệ % học sinh đạt loại Khá = 19/40 = 0,475 hoặc 47,5%. Tỉ lệ % học sinh đạt loại Trung bình = 8/40 = 0,20 hoặc 20%. Tỉ lệ % học sinh đạt loại Yếu = 3/40 = 0,075 hoặc 7,5%. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 5.1: Làm việc trong nhóm nhỏ (8 phút) Hãy tìm hiểu có bao nhiêu sinh viên trong lớp của bạn sinh vào tháng 4, tháng 11. Sau đó tính xem các bạn này chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong lớp ? Nhiệm vụ 5.2: Làm việc cá nhân (10 phút) Tính tỉ lệ % học sinh mỗi khối trong trường Tiểu học Nguyễn Trung Trực bằng cách điền vào các ô để trống trong bảng. Chỉ nên lấy một giá trị thập phân. Khối lớp Số học sinh Tỉ lệ % Một 315 Hai 294 Ba 271 Bốn 243 Năm 218 Tổng cộng : 1341 Nhiệm vụ 5.3: Làm việc ở nhà. Bạn (có thể cùng với nhóm) hãy làm một cuộc điều tra nhỏ trong các sinh viên cùng khoá với bạn về sự kiên định đối với nghề sư phạm. Chọn mẫu để phát phiếu điều tra khoảng trên 100 người. Các câu hỏi có thể theo dạng như sau:
- Câu 1: Bạn đã quyết định vào học tại Trường Cao đẳng Sư phạm từ khi nào? a) Trong khoảng từ khi học lớp mười cho đến đầu lớp mười hai. b) Trong thời gian làm hồ sơ dự thi Đại học, Cao đẳng. c) Sau khi nhận được giấy báo trúng tuyển. Câu 2: Hiện nay bạn đã yên tâm với việc học để làm nghề dạy học ? a) Rất yên tâm. b) Chưa yên tâm. Câu 3: Nếu được phép chọn lại một trường để học, bạn vẫn quyết định chọn trường Sư phạm ? a) Vẫn chọn lại trường Sư phạm. b) Sẽ chọn một trường khác. Sau khi thu về các phiếu trả lời, hãy tính tỉ lệ % cho từng mức trả lời (a), (b) và (c) ở câu 1 và các trả lời (a), (b) ở câu 2 và 3. Từ các con số, hãy đưa ra những nhận xét. Đánh giá hoạt động 5: (15 phút) Câu hỏi 1: Tính tỉ lệ % giáo viên và tỉ lệ % công nhân viên được khen thưởng trong một trường tiểu học vào cuối năm. Biết toàn trường có 45 giáo viên, 16 công nhân viên và ban giám hiệu có 3 người. Số giáo viên được giấy khen cấp quận là 12, cấp trường là 26. Số công nhân viên được khen tổng cộng 11 người. Câu hỏi 2: Hãy kể ra các trường hợp dùng số tỉ lệ trong nhà trường và trong cuộc sống hằng ngày. Hoạt động 6 :Hệ số tương quan pearson và công dụng (45 phút) Thông tin cho hoạt động 6: (10 phút) Trong giáo dục, khi cần tìm hiểu hoặc khẳng định mối liên hệ giữa hai (hay nhiều) biến số, người ta thường dùng một hệ số tương quan. Ví dụ muốn tìm mức độ liên hệ giữa hai biến số: kết quả học tập tại trường sư phạm và điểm thành tích trong công tác sau khi tốt nghiệp đi dạy. Giá trị tương quan tính được sẽ cho biết mức độ liên hệ giữa các biến số đó là bao nhiêu ? Có chặt chẽ hay không ? Dưới đây chỉ giới thiệu hệ số tương quan Pearson, có lúc gọi là tương quan tuyến tính hay tương quan tích số mômăng. Đó là tương quan giữa hai tập giá trị của hai biến lấy tên là X và Y. Kí hiệu hệ số tương quan là Rxy hay R.
- Công thức hệ số tương quan Pearson: Như tên gọi, tương quan này do Karl Pearson lập ra. Công thức có thể biểu thị dưới nhiều dạng, sau đây là dạng công thức thực hành giúp dễ tính toán. Gọi X, Y là một cặp điểm số của mỗi học sinh. Để tương quan có ý nghĩa, cần phải có N học sinh (N ít nhất phải lớn hơn 5). Các tổng được tính trên điểm số của nhóm N học sinh đó. Cách tính: Bạn thực hiện cách tính qua một bài tập cụ thể. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 6.1: Làm việc cá nhân (15 phút). Bạn hãy xem cột X và Y của bảng 6.1. Đây là điểm số hai môn Toán và Tự nhiên và Xã hội của mười học sinh. Để tính hệ số tương quan, bạn hãy chép lại các điểm số này vào tờ giấy trắng và cần tạo thêm ba cột nữa là X*Y, X2 và Y2. Bạn đừng xem các con số đã có trong ba cột này mà lần lượt điền các trị số vào các ô theo cách X nhân với Y (cột X*Y) hay bình phương các giá trị của X (cột X2 ) hay của Y (cột Y2). Sau đó tính tổng các cột. Thay vào công thức trên, dùng máy tính bỏ túi và hoàn thành các phép tính để được kết quả. Đối chiếu kết quả tính được với trị số R ở cuối bảng. Bảng 6.1 Bảng 6.2 X Y X*Y X2 Y2 X Y X*Y X2 Y2 5 6 30 25 36 7 8 7 8 56 49 64 8 7 6 5 30 36 25 10 10 4 5 20 16 25 9 7 8 9 72 64 81 6 8 10 9 90 100 81 3 4 6 7 42 36 49 7 6 8 7 56 64 49 8 10 9 9 81 81 81 6 9 5 4 20 25 16 9 7 68 69 497 496 507 R = 0.863 Tương quan là : Cao R =
- Nhiệm vụ Nhiệm vụ 6.2: Làm việc cá nhân (20 phút). Lặp lại các thao tác đã làm để tính hệ số tương quan điểm số hai bài thi X và Y (số liệu ghi trong bảng 6.2). ý nghĩa của hệ số tương quan Pearson: Giả sử bạn đã tính được tương quan Pearson giữa 12 cặp giá trị của hai biến số X, Y là Rxy = 0.753. Hiểu con số này như thế nào ? Có thể nói gì về mức độ tương quan giữa X và Y ? Trước hết ta cần làm kiểm nghiệm ý nghĩa hệ số tương quan, xem thực sự có mối tương quan tuyến tính giữa X và Y hay không. Muốn vậy, đơn giản nhất là so sánh trị số Rxy tính được với trị số đọc trong bảng giá trị tới hạn của hệ số tương quan tuyến tính (thường viết với kí hiệu Rα). Ta phải chọn một giá trị xác suất ý nghĩa, thông thường là 5% (hay 1% nếu muốn chính xác hơn) khi ra quyết định. Trị số đọc trong bảng sẽ ứng với vị trí giao nhau của hàng có độ tự do df = N − 2 và cột xác suất ý nghĩa α = 0.05 (hay 0.01). Xin xem bảng đính kèm trong phần thông tin phản hồi hoạt động 6 của chủ đề này. Kết luận: Nếu Rxy > Rα ghi trong bảng, ta kết luận hai dãy số X, Y có tương quan. Ngược lại, Rxy 0.576, do đó có thể kết luận là hai biến X, Y có tương quan ý nghĩa. Hoạt động 7 : Thực hành giải thích các số liệu (40 phút) Thông tin cho hoạt động 7: (1 phút) Trong hoạt động này, bạn tập giải thích ý nghĩa của vài số liệu thu thập được. Bạn cần nhớ rằng, việc xếp đặt, trình bày các bảng số liệu sao cho rõ ràng, khoa học sẽ giúp bạn chỉ ra những con số có ý nghĩa. Nhiệm vụ Nhiệm vụ 7.1: Làm việc cá nhân (14 phút). Dựa vào số liệu cho ở bảng 7.1, bạn hãy nhận xét về tình hình học tập của học sinh khối lớp năm ở hai Trường Tiểu học Lê Văn Tám (thuộc vùng nội thành) và Hồ Thị Kỷ (thuộc vùng ngoại thành).
- Bảng 7.1: Thống kê loại học sinh khối năm Trường Tiểu học Lê Văn Tám và Trường Tiểu học Hồ Thị Kỷ. Lê Văn Tám Hồ Thị Kỷ Xếp Loại Tổng số Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Giỏi 124 35,0% 41 12,9% 165 Khá 188 53,1% 117 36,9% 305 Trung bình 42 11,9% 134 42,3% 176 Yếu 0 0 25 7,9% 25 Tổng cộng: 354 100 % 317 100% 671 Nhiệm vụ 7.2: Làm việc cá nhân (25 phút). Bảng 7.2 cho biết hệ số tương quan giữa một số môn học, tính trên điểm số 38 học sinh lớp 5A. Hãy làm các kiểm nghiệm ý nghĩa, sau đó đưa ra những nhận xét về mối tương quan giữa các môn học. Chọn mức xác suất ý nghĩa 5%. Bảng 7.2 Hệ số tương quan Pearson giữa các môn học. Toán Văn Khoa học Đạo đức Sử Toán 1.00 0.43 0.26 0.03 0.11 Văn 1.00 0.28 0.17 0.32 Khoa học 1.00 0.09 0.24 Đạo đức 1.00 0.14 Sử 1.00 Thông tin phản hồi cho các hoạt động Thông tin phản hồi cho hoạt động 1: Ta biết các dữ kiện định tính thường được phân chia thành ba nhóm: phân loại, thứ tự và định danh. Dữ kiện phân loại và định danh có đôi chút khác biệt, nhưng sự phân biệt chỉ có tính chất tương đối. Chẳng hạn như biến giới tính (nam, nữ) hay màu tóc (đen, nâu, bạch kim, v.v ) có tính chất gọi tên, còn loại học sinh (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém) là do ta xếp loại học sinh theo cách phân loại. Tuy nhiên, biến các lớp (lớp ba, bốn, năm hay các lớp mười, lớp mười một, lớp mười hai) tuy có thứ tự cao thấp nhưng lại xếp vào biến định danh.
- Với nhiệm vụ 1.1: Các biến mà nhà nghiên cứu quan tâm là các biến định danh. Với nhiệm vụ 1.2: Bạn hãy đề nghị giảng viên cho thông tin phản hồi về các trường hợp bạn nêu ra. Thông tin phản hồi cho hoạt động 2: Với nhiệm vụ 2.1: Điểm trung bình của 1 giáo viên trên 6 môn giảng dạy có thể coi như là một con số thể hiện năng lực giảng dạy của giáo viên này. Do đó nó là một dữ kiện thuộc kiểu định lượng (liên tục). Với nhiệm vụ 2.2: Cần lấy thông tin phản hồi từ giảng viên về các ví dụ. Với câu hỏi 1: Các điểm số thường được coi là dữ kiện định lượng vì có thể so sánh với nhau, xếp thứ hạng, tính điểm trung bình và các trị số thống kê khác. Nhưng điểm số cũng có thể là định tính nếu ta phân chia các điểm số đó thành loại: tốt, khá, trung bình và chưa đạt. Với câu hỏi 2: Cách làm của người nghiên cứu là đúng. Học sinh trả lời sự yêu thích của mình theo các mức từ “rất thích” đến “không thích”, nhưng các mức này có tính chất cao, thấp, hoàn toàn có thể quy ra điểm số. Tổng cộng các điểm số là một biến định lượng. Thông tin phản hồi cho hoạt động 3: Với nhiệm vụ 3.1: Bảng 3.1a là loại bảng 1 chiều, trong đó cột 1 ghi 5 loại học sinh và cột 2 mô tả tần số, cột 3 là tỉ lệ % từng loại. Bảng 3.1b là bảng 2 chiều, học lực được xếp ở cột đầu tiên (vì vậy các mức học lực viết theo hàng). Phái tính có 2 giá trị là nam và nữ trình bày theo hàng ngang, vì vậy nam có cột 2 (tần số) và cột 3 (tỉ lệ %); nữ có cột 4 (tần số) và cột 5 (tỉ lệ %). Có thể lập thêm cột 6 với tiêu đề cột là tổng cộng. Bảng 3.1c cũng có dạng tương tự như bảng 3.1b, ta thay thế biến phái tính (với 2 giá trị nam, nữ) thành biến cha mẹ (với 3 giá trị). Bảng 3.1a: Bảng 3.1b: Loại HS Tần số Tỉ lệ % Nam Nữ Loại HS Tổng cộng Giỏi Tần số Tỉ lệ %Tần số Tỉ lệ % Khá Giỏi Tr.Bình Khá Yếu Tr.Bình Kém Yếu Tổng cộng Kém Tổng cộng
- Với nhiệm vụ 3.2: Tên đề tài nghiên cứu có thể là: “Tìm hiểu khả năng tự đánh giá những kĩ năng nghề nghiệp của sinh viên một số ngành học thuộc Cao đẳng Sư phạm”. Về bảng thống kê với ba biến đã cho, tuỳ thuộc nhu cầu mô tả, có thể là bảng một chiều, hai chiều, ba chiều. Xem các bảng ở trên. Thông tin phản hồi cho hoạt động 4: Với nhiệm vụ 4.1: Tổng cộng số người dự triển lãm = 14.798. Trung bình số người dự triển lãm trong một ngày = 2466,33 (người). Với nhiệm vụ 4.2: Sau khi thu thập các điểm số, nên lập thành bảng như sau: Điểm môn chung Điểm môn chuyên ngành Họ và tên sinh Môn Môn Môn Môn Môn Môn . . . viên 1 2 3 1 2 3 1. 2. 3. 4. 5. 6. . . . Với câu hỏi 1 : Để tính điểm trung bình, cần lập thêm hàng X.f. Điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tần số 2 1 4 5 9 7 5 2 4 1 X.f 2 2 12 20 45 42 35 16 36 10 Tổng của X.f = 220. Suy ra, Mean = 5.50. Thông tin phản hồi cho hoạt động 5: Với nhiệm vụ 5.2: Để tính các tỉ lệ, bạn lấy số học sinh của mỗi khối lớp chia cho tổng số học sinh và nhân với 100%. Với nhiệm vụ 5.3: Khi thu phiếu về, bạn cần làm một bảng dùng để ghi dấu tần số cho từng ý (a), (b), (c) trong mỗi câu. Sau đó tính được các tỉ lệ %. Câu hỏi Lựa chọn Ghi dấu tần số Tổng cộng Câu 1 A B C
- Câu 2 A B Câu 3 A B Với câu hỏi 1 phần đánh giá hoạt động: Để tính tỉ lệ % giáo viên được khen, phải cộng số được khen cấp trường và cấp quận. Thông tin phản hồi cho hoạt động 6: Với nhiệm vụ 6.2: Thực hiện các cột trong bảng 6.2, tính toán như phần hướng dẫn. Kết quả Rxy = 0.60. Cần biết: Khi các điểm số là những trị số lớn (Ví dụ chiều cao tính bằng cm, trọng lượng là kg, các giá trị lấy chính xác đến hai số thập phân, như cao 152 cm, nặng 48,25 kg) và N lại khá lớn (số người N có thể lên đến vài trăm) thì chắc chắn tính toán thật là vất vả. Trường hợp này, nếu bạn biết sử dụng máy vi tính và dùng được Microsoft Excel (phần mềm bảng tính cho văn phòng), bạn có thể tính nhanh hơn theo cách chỉ dẫn sau: Nhập hai dãy điểm số X, Y vào hai cột A và B của một sheet. Xong tại một ô trống gần đó, gõ công thức sau : =PEARSON(địa chỉ dãy số thứ nhất X, địa chỉ dãy số thứ hai Y) Ví dụ với số liệu bảng 6.2 nhập từ hàng thứ 2, sau đó gõ và quét các dãy: =PEARSON(A2:A11,B2:B11) rồi ấn phím Enter. Kết quả hệ số tương quan R hiện ra ngay. Bảng các giá trị tới hạn của r Dùng khi kiểm nghiệm hệ số tương quan tuyến tính R (TQ Pearson) Chọn xác suất ý nghĩa α = 5% (hay 1%). Trị số đọc trong bảng là Rα. Quy tắc quyết định: + Nếu R > Rα và df = N − 2 : tương quan có ý nghĩa (có tương quan). + Nếu R < Rα và df = N − 2 : tương quan không có ý nghĩa. df = N -2 α = .05 α = .01 df = N -2 α = .05 α = .01 1 .997 1.000 24 .388 .496 2 .950 .990 25 .381 .487 3 .878 .959 26 .374 .478 4 .811 .917 27 .367 .470 5 .754 .874 28 .361 .463 6 .707 .834 29 .355 .456 7 .666 .798 30 .349 .449 8 .632 .765 35 .325 .418 9 .602 .735 40 .304 .393 10 .576 .708 45 .288 .372
- 11 .553 .684 50 .273 .350 12 .532 .661 60 .250 .325 13 .514 .641 70 .232 .302 14 .497 .623 80 .217 .283 15 .482 .606 90 .205 .267 16 .468 .590 100 .195 .254 17 .456 .575 125 .174 .228 18 .444 .561 150 .159 .208 19 .433 .549 200 .138 .181 20 .423 .537 300 .113 .148 21 .413 .526 400 .098 .128 22 .404 .515 500 .088 .115 23 .396 .505 1000 .062 .081 Nguồn trích dẫn: GS Hoàng Chúng, “Phương pháp toán thống kê trong nghiên cứu khoa học giáo dục”, NXB Giáo dục, 1982. Giải thích mức độ tương quan. Về độ lớn, khi đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận giữa hai đại lượng X, Y có tương quan, ta đối chiếu giá trị Rxy với các gợi ý bên dưới để thẩm định mức độ tương quan. Nếu giá trị tuyệt đối của R có độ lớn : − từ 0.80 → 1.0 : ta nói X, Y có mối liên hệ chặt chẽ, tương quan rất cao. − từ 0.60 → 0.79 : X, Y có tương quan ở mức khá cao. − từ 0.40 → 0.59 : tương quan X, Y ở mức trung bình. − từ 0.20 → 0.39 : tương quan mức yếu. Các trị số Rxy bé hơn 0.20, thường tương quan không có ý nghĩa (không đủ cơ sở thống kê để nói là tương quan). Các trị số R âm hiểu là tương quan nghịch (dùng giá trị tuyệt đối để giải thích mức độ nêu trên). Thông tin phản hồi cho hoạt động 7: Với nhiệm vụ 7.1: Vì số học sinh khối năm của hai trường không bằng nhau nên ta dùng tỉ lệ % là phù hợp. Dựa vào bảng số liệu, ta so sánh số học sinh loại Giỏi và Khá của hai trường. Dễ dàng thấy ở trường Lê Văn Tám có tỉ lệ học sinh đạt Giỏi đến 35% và loại Khá đến 53,1% nhiều hơn trường Hồ Thị Kỷ, chỉ có 12,9% Giỏi và 36,9% Khá. Tính gộp chung hai loại Khá và Giỏi thì trường Lê Văn Tám chiếm rất cao (88,1 %) so với trường Hồ Thị Kỷ (chỉ 49,8%). Trong khi đó, tỉ lệ học sinh loại Trung bình ở trường Hồ Thị Kỷ cao hơn nhiều lần so với trường Lê Văn Tám
- (42,3% so với 11,9%). Ngoài ra, trường Lê Văn Tám không có học sinh yếu, trong khi trường Hồ Thị Kỷ có khoảng 8% học sinh yếu. Kết luận chung: Học sinh Trường Lê Văn Tám có thành tích học tập tốt hơn học sinh trường Hồ Thị Kỷ. Tóm tắt Chủ đề 4 này giúp bạn tìm hiểu hai loại dữ kiện: định tính và định lượng. Với dữ kiện định tính, có thể lập các bảng thống kê một chiều, hai chiều hay hơn, trong đó các ô tương ứng là tần số hoặc số tỉ lệ % hoặc dùng cả hai. Với các dữ kiện định lượng (thường là điểm số), có thể mô tả tính chất, đặc điểm của tập điểm số này bằng cách dùng số trung bình cộng, số tỉ lệ %. Trường hợp muốn mô tả sự liên hệ, quan hệ giữa hai hay nhiều biến số, có thể dùng một hệ số tương quan. Hoạt động 4 đến hoạt động 6 giới thiệu cách tính số trung bình cộng, số tỉ lệ % và hệ số tương quan Pearson thông qua những trường hợp cụ thể. Bên cạnh đó cũng trình bày công dụng của các số thống kê căn bản này. Bạn có thể sử dụng thông tin thu nhận được qua các ví dụ này để áp dụng trong hoàn cảnh số liệu của bạn. Các nhiệm vụ của hoạt động 7 giúp bạn luyện tập cách giải thích số liệu thu được. Có thể so sánh các điểm trung bình cộng hoặc tỉ lệ % của nhiều nhóm người. Chẳng hạn như so sánh điểm trung bình một môn thi giữa nhiều lớp trong cùng một khối. Hoặc so sánh các tỉ lệ % loại học sinh Giỏi, Khá, Trung bình, v.v của nhiều trường. Tương tự, cũng có thể đối chiếu nhiều hệ số tương quan để rút ra những kết luận có ý nghĩa. Tài liệu đọc thêm 1. Hoàng Trọng, Xử lí số liệu nghiên cứu với SPSS for Windows, NXB Thống kê, 2002. 2. TS. Dương Thiệu Tống, Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục, Tập 1: Thống kê mô tả, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000. 3. TS. Dương Thiệu Tống, Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục, Tập 2: Thống kê suy diễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003.
- Chủ đề 5 Đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục 2 tiết (1 tiết lí thuyết +1 tiết thực hành) MỤC TIÊU 1. Kiến thức − Hiểu rõ các tiêu chí và phương pháp đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học − Nhận thức được vai trò, nhiệm vụ của các thành viên trong hội đồng đánh giá, đặt biệt là yêu cầu về nội dung của nhận xét phản biện. 2. Kĩ năng − Sơ đồ hoá được các tiêu chí cũng như phương pháp đánh giá hội đồng và phương pháp chuyên gia. − Tổ chức được một hội đồng đánh giá công trình nghiên cứu khoa học giáo dục. 3. Thái độ Thể hiện tính sáng tạo, linh hoạt trong việc đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học. Có tinh thần chủ động và cách đánh giá khách quan, khoa học về một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục. Các hoạt động Hoạt động 1: Các tiêu chí và phương pháp đánh giá công trình nghiên cứu khoa học giáo dục (45 phút) Thông tin cho hoạt động 1 1. Các tiêu chí: 1.1 Hiệu quả khoa học 1.2 Hiệu quả xã hội 1.3 Hiệu quả kinh tế 1.4 Hiệu quả giáo dục 2. Phương pháp đánh giá: 2.1 Phương pháp đánh giá hội đồng
- 2.2 Phương pháp chuyên gia Nhiệm vụ Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cá nhân. Nhiệm vụ 2: Thảo luận nhóm về các tiêu chí và phương pháp đánh giá. Nhiệm vụ 3: Thuyết trình trước tập thể về các tiêu chí và phương pháp đánh giá. Đại diện 01 (một) nhóm thuyết trình. Nhiệm vụ 4: Bổ sung các kiến thức và nhận xét của các nhóm về nội dung thuyết trình Đánh giá hoạt động 1: − Bài tập 1: Trình bày và phân tích các tiêu chí đánh giá công trình nghiên cứu khoa học giáo dục. − Bài tập 2: Chọn các câu trả lời thích hợp bằng cách gạch chéo vào các ô tương ứng: Phương pháp kết quả nghiên cứu gồm phương pháp chuyên gia và phương pháp hội đồng. Các tiêu chí đánh giá là hiệu quả khoa học, xã hội, kinh tế và giáo dục. Như thế các tiêu chí này thể hiện trong: (1) Tính xác thực của kết quả nghiên cứu. (2) Tính đúng đắn về phương pháp luận khoa học giáo dục. (3) Tính ứng dụng trong thực tiễn giáo dục. (4) Tính phát triển những vấn đề mới trong khoa học giáo dục. (5) Tất cả các nội dung trên. Hoạt động 2: Hội đồng đánh giá công trình nghiên cứu khoa học giáo dục (45 phút) Thông tin cho hoạt động 2 1. Thành phần hội đồng đánh giá. 1.1 Chủ tịch 1.2 Phản biện 1.3 Uỷ viên hội đồng 1.4 Thư kí hội đồng 2. Yêu cầu về nội dung của nhận xét phản biện 2.1 Mục tiêu của đề tài 2.2 Nội dung nghiên cứu 2.3 Phương pháp nghiên cứu
- 2.4 Các tác động của kết quả nghiên cứu Nhiệm vụ: Nhiệm vụ 1: Thảo luận nhóm Nhiệm vụ 2: Tập thể lớp lập ra một Hội đồng đánh giá gồm các giáo sinh với đầy đủ các thành phần. Các thành viên của Hội đồng tuỳ theo nhiệm vụ sẽ nhận xét, đánh giá một đề tài nghiên cứu do tập thể lớp tiến hành. Nhiệm vụ 3: Giáo viên nhận xét và tổng kết kinh nghiệm về đánh giá công trình nghiên cứu khoa học. Nhiệm vụ 4: Xem băng hình Đọc kĩ phần hướng dẫn sau đây, chọn đúng nội dung đoạn băng minh hoạ một buổi nghiệm thu đề tài. Sau khi xem xong cần trả lời các câu hỏi nêu ở mục “Những việc phải làm sau khi xem băng“. Hướng dẫn sử dụng băng hình Phần băng phải xem là đoạn băng thứ tư trong băng hình tiểu môđun 4: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục. Băng minh hoạ một buổi nghiệm thu đề tài. Những việc người học phải làm trước khi xem băng – Cần ôn lại các thông tin đã học trong hoạt động 1 và 2, đặc biệt là hoạt động 2. – Chú ý đến thông tin phản hồi cho hoạt động 1 và 2 : các tiêu chí đánh giá công trình nghiên cứu khoa học và tổ chức một hội đồng đánh giá. Những việc người học phải làm trong khi xem băng – Chú ý lắng nghe những lời thoại, những hành động của người báo cáo và các ý kiến nhận xét của hội đồng. – Quan sát toàn cảnh và các chi tiết trong buổi nghiệm thu : vị trí của người báo cáo so với màn hình, vị trí của các thành viên hội đồng. Những việc người học phải làm sau khi xem băng Trả lời các câu hỏi sau để tự kiểm tra việc xem băng: – Người báo cáo có bình tĩnh, tự tin trong cách thể hiện không ? Bạn có thấy rõ được những thông tin trên máy chiếu không? Theo bạn có những điều gì cần bổ sung ? – Những thành viên nào của hội đồng đã phát biểu trong buổi nghiệm thu ? Bạn thử ghi lại nội dung phát biểu của người phản biện, của Chủ tịch hội đồng. Người tham dự có phát biểu không ?
- Đánh giá hoạt động 2 − Bài tập 1: Tập thể lớp thành lập một Hội đồng đánh giá gồm chủ tịch, hai uỷ viên phản biện, một uỷ viên thư kí, ba uỷ viên để đánh giá một công trình nghiên cứu do tập thể lớp chủ trì ngay khi học xong chủ đề 2: Logíc tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục. Đề tài này có bốn nội dung do bốn nhóm cùng thực hiện. Giáo viên trực tiếp hướng dẫn việc đánh giá của Hội đồng đảm bảo theo đúng các quy định hiện hành về đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục. Thông tin phản hồi cho hoạt động Thông tin phản hồi cho hoạt động 1 – Bài tập 1: Các tiêu chí đánh giá công trình nghiên cứu khoa học giáo dục gồm: hiệu quả khoa học, xã hội, kinh tế, giáo dục. – Bài tập 2: (5) Thông tin phản hồi cho hoạt động 2 Tổ chức được một Hội đồng đánh giá với đầy đủ các thành phần: Chủ tịch, hai uỷ viên phản biện, một uỷ viên thư kí, ba uỷ viên (số lượng thành viên Hội đồng có thể từ năm đến chín người). Sau khi nghe ý kiến của các uỷ viên phản biện, Hội đồng thảo luận và bỏ phiếu theo mẫu do giáo viên cung cấp, gồm các mức: giỏi, khá, đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu. Tóm tắt Chủ đề này cung cấp các kiến thức và kĩ năng cơ bản trong công tác đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục với các tiêu chí và phương pháp đánh giá cũng như cách thức thành lập Hội đồng đánh giá. Tài liệu đọc thêm 1. Nguyễn Văn Lê, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB Trẻ, 2001, (Đọc chương VI :?Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học). 2. Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kĩ thuật, 2003. (Đọc phân đoạn “Nghiệm thu đề tài” và “Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học” thuộc chương IX : Trình tự thực hiện đề tài).



