Giáo trình Pháp luật đại cương (Phần 2)

pdf 62 trang ngocly 320
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Pháp luật đại cương (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_phap_luat_dai_cuong_phan_2.pdf

Nội dung text: Giáo trình Pháp luật đại cương (Phần 2)

  1. Chương V PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG I. KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm Luật Lao động Lao động là hoạt động sáng tạo, có mục đích của con người. Quá trình lao động là quá trình tuân thủ các quy luật tự nhiên và xã hội để tạo ra những sản phẩm có giá trị mà con người mong muốn. Trong lịch sử xã hội loài người, lao động có vị trí quan trọng hàng đầu, quyết định sự tồn tại của con người và xã hội. Mỗi chế độ xã hội có giai cấp đều tồn tại nhiều loại hình quan hệ lao động khác nhau do tính chất của quan hệ sản xuất xã hội đó quyết định và được nhiều ngành luật khác nhau điều chỉnh. Luật Lao động là một ngành luật độc lập, có đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động chính là quan hệ xã hội về sử dụng lao động (quan hệ lao động) và các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng lao động. Như vậy, có thể định nghĩa Luật Lao động như sau: Luật lao động là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động, trong đó có quan hệ giữa công nhân, viên chức với xí nghiệp, cơ quan nhà nước, những quan hệ giữa tổ chức công đoàn với ban quản lý xí nghiệp, cơ quan nhà nước có liên quan đến sử dụng lao động của công dân, viên chức. Từ định nghĩa trên ta thấy Luật Lao động có những chế định cơ bản: chế định tuyển dụng và thôi việc; chế định về hợp đồng lao động; chế định về học nghề, việc làm; chế định tiền lương; chế định thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi; chế định khen thưởng và kỷ luật lao động; chế định bảo hộ lao động Đối với viên chức nhà nước, Luật Lao động điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa viên chức với cơ quan quản lý viên chức đó trong các lĩnh vực như: tuyển dụng và cho thôi việc, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, trách nhiệm vật chất, chế độ bảo hiểm, khen thưởng và kỷ luật 2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Lao động Các nguyên tắc cơ bản của Luật Lao động là các tư tưởng, quan điểm chỉ đạo là cơ sở để xây dựng và thực hiện các quy phạm pháp luật về lao động, các nguyên tắc đó là: Nguyên tắc tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Nguyên tắc nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ mọi hoạt động tự tạo việc làm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hút nhiều lao động. Nguyên tắc trả lương trên cơ sở thoả thuận nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định theo năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc. Nguyên tắc người 54
  2. lao động được bảo hộ lao động và bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động. Nguyên tắc tôn trọng quyền thành lập và hoạt động của Công đoàn trong cơ sở lao động. Nguyên tắc chấp hành nghiêm chỉnh hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, kỷ luật lao động. II. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người lao động Quyền của người lao động: được tự do giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động, được bảo đảm tiền lương, tiền thưởng, an toàn trong lao động, được bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, được nghỉ ngơi theo quy định và thoả thuận giữa các bên. Nghĩa vụ của người lao động: thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, chấp hành nội quy của đơn vị. Thực hiện các quy định về an toàn và vệ sinh lao động, chấp hành kỷ luật lao động. 2. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người sử dụng lao động Quyền của người sử dụng lao động: tuyển chọn, bố trí và điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, công tác. Khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động: thực hiện đúng hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, các thoả thuận khác với người lao động, đảm bảo trả lương và các chế độ khác, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. III. VAI TRÒ, QUYỀN HẠN CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG QUAN HỆ VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1. Công đoàn Việt Nam Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động. Những người lao động Việt Nam làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đơn vị sự nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội (gọi chung là cơ quan, đơn vị, tổ chức) đều có quyền thành lập và gia nhập công đoàn trong khuôn khổ Điều lệ công đoàn Việt Nam. 55
  3. Các hội của những người lao động thành lập theo quy định của pháp luật có quyền gia nhập các Liên đoàn lao động. Khi thành lập, mỗi tổ chức công đoàn thông báo cho cơ quan chính quyền, tổ chức hữu quan để xây dựng quan hệ công tác. Cấm mọi hành vi cản trở, vi phạm nguyên tắc tự nguyện tham gia tổ chức và hoạt động công đoàn; phân biệt đối xử với lý do người lao động gia nhập, hoạt động công đoàn. Công đoàn từ cấp cơ sở trở lên có tư cách pháp nhân. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, các công đoàn ngành Việt Nam có quyền gia nhập các tổ chức công đoàn quốc tế phù hợp với mục đích hoạt động của mình. 2. Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế – xã hội, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động. Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có quyền tham dự hội nghị của Hội đồng bộ trưởng. Chủ tịch công đoàn các cấp được dự hội nghị của cơ quan Nhà nước, đơn vị, tổ chức hữu quan khi bàn những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động. Công đoàn có trách nhiệm tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật, giáo dục người lao động ý thức chấp hành và tham gia đấu tranh bảo vệ pháp luật, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, lao động có kỷ luật, có năng suất, chất lượng và hiệu quả. Công đoàn cơ sở cùng với cơ quan, đơn vị, tổ chức bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của tập thể lao động theo quy định của pháp luật. Công đoàn cùng với cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế quốc doanh, đơn vị sự nghiệp và hợp tác xã tổ chức phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi tiềm năng của người lao động thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội. Trong phạm vi các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có quyền trình dự án luật, pháp lệnh ra trước Quốc hội và Hội đồng nhà nước. 56
  4. Công đoàn tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách, chế độ về lao động, tiền lương, bảo hộ lao động và các chính sách xã hội khác liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động. Công đoàn có trách nhiệm đôn đốc, giám sát việc thực hiện các chính sách, chế độ về lao động. Công đoàn phối hợp với cơ quan nhà nước nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật bảo hộ lao động, xây dựng các tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp. Công đoàn có trách nhiệm giáo dục, vận động người lao động chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về bảo hộ lao động và bảo vệ môi trường. Công đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hộ lao động. Khi phát hiện nơi làm việc có dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng người lao động, công đoàn có quyền yêu cầu người có trách nhiệm thực hiện ngay các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, kể cả trường hợp phải tạm ngừng hoạt động, nếu thấy cần thiết. Việc điều tra các vụ tai nạn lao động phải có đại diện của công đoàn tham gia. Công đoàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước hoặc Toà án xử lý người chịu trách nhiệm để xảy ra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật. Công đoàn tham gia với cơ quan, đơn vị tổ chức hữu quan giải quyết việc làm, tổ chức dạy nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp, văn hóa, khoa học, kỹ thuật cho người lao động. Công đoàn tham gia xây dựng các chính sách xã hội và tham gia với cơ quan Nhà nước quản lý bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Công đoàn có trách nhiệm cùng cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan chăm lo đời sống văn hóa, hoạt động thể dục thể thao, tổ chức nghỉ ngơi, du lịch cho người lao động. Công đoàn cơ sở phối hợp với cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể, phục vụ lợi ích của người lao động. Trong phạm vi chức năng của mình, công đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hợp đồng lao động, tuyển dụng, cho thôi việc, tiền lương, tiền thưởng, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội và các chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động. 57
  5. Khi kiểm tra, công đoàn yêu cầu thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức trả lời những vấn đề đặt ra, kiến nghị biện pháp sửa chữa các thiếu sót, ngăn ngừa vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm pháp luật. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức phải trả lời cho công đoàn biết kết quả giải quyết những kiến nghị do công đoàn nêu ra trong thời hạn pháp luật quy định. Những vấn đề không giải quyết được phải nói rõ lý do. Công đoàn đại diện cho người lao động yêu cầu thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức tiếp và trả lời các vấn đề do người lao động đặt ra. Khi cần thiết, công đoàn tổ chức đối thoại giữa tập thể lao động với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động. Công đoàn cơ sở đại diện cho người lao động ký thoả ước lao động tập thể với giám đốc xí nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; giám sát việc ký kết và thực hiện hợp đồng lao động. Công đoàn tham gia với cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động theo pháp luật. Công đoàn đại diện cho người lao động thương lượng với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức để giải quyết các tranh chấp lao động xảy ra trong cơ quan, đơn vị, tổ chức mình. Khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc Toà án xét xử tranh chấp lao động phải có đại diện của công đoàn tham dự và phát biểu ý kiến. Người lao động, dù chưa là đoàn viên công đoàn cũng có quyền yêu cầu Ban chấp hành công đoàn đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan./. CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG V 1. Hãy trình bày nguyên tắc cơ bản của Luật Lao động. 2. Hãy cho biết trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động. 3. Hãy cho biết vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức Công đoàn như thế nào trong quan hệ với người lao động và người sử dụng lao động. 58
  6. Chương VI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG I. HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THOẢ ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ 1. Hợp đồng lao động 1.1. Khái niệm Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. 1.2. Các loại hợp đồng lao động Hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm. Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm. 1.3. Yêu cầu khi ký hợp đồng lao động Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ một năm trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác. Hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản và phải được làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Đối với một số công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao động giúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết bằng miệng. Trong trường hợp giao kết bằng miệng, thì các bên đương nhiên phải tuân theo các quy định của pháp luật lao động. Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn mức được quy định trong pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đang áp dụng trong doanh nghiệp hoặc hạn chế các quyền khác của người lao động thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó phải được sửa đổi, bổ sung. Hợp đồng lao động được giao kết trực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động, hoặc có thể được ký kết giữa người sử dụng lao động với người được uỷ quyền hợp pháp thay mặt cho nhóm người lao động; trong trường hợp này hợp đồng có hiệu lực như ký kết với từng người. 59
  7. Người lao động có thể giao kết một hoặc nhiều hợp đồng lao động, với một hoặc nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã giao kết. Công việc theo hợp đồng lao động phải do người giao kết thực hiện, không được giao cho người khác, nếu không có sự đồng ý của người sử dụng lao động. Trong trường hợp sáp nhập, phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với người lao động cho tới khi hai bên thoả thuận sửa đổi, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới. Người sử dụng lao động và người lao động thoả thuận về việc làm thử, thời gian thử việc, về quyền, nghĩa vụ của hai bên. Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 70% mức lương cấp bậc của công việc đó. Thời gian thử việc không được quá 60 ngày đối với lao động chuyên môn kỹ thuật cao và không được quá 30 ngày đối với lao động khác. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận làm thử mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải nhận người lao động vào làm việc chính thức như đã thoả thuận. Hợp đồng lao động có hiệu lực từ ngày giao kết hoặc từ ngày do hai bên thoả thuận. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất ba ngày. Việc thay đổi nội dung hợp đồng lao động có thể được tiến hành bằng cách sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động đã giao kết hoặc giao kết hợp đồng lao động mới. 1.4. Quyền của người sử dụng lao động Khi gặp khó khăn đột xuất hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày trong một năm. Khi tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất ba ngày, phải báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ và giới tính của người lao động. Người lao động tạm thời làm công việc khác, được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 70% mức tiền lương cũ nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. 60
  8. 1.5. Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc các nghĩa vụ công dân khác do pháp luật quy định. Người lao động bị tạm giữ, tạm giam. Các trường hợp khác do hai bên thoả thuận. Hết thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động đối với các trường hợp trên, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc. Việc nhận lại người lao động bị tạm giữ, tạm giam khi hết thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động do Chính phủ quy định. 1.6. Hợp đồng lao động chấm dứt trong những trường hợp sau đây: Hết hạn hợp đồng; đã hoàn thành công việc theo hợp đồng; hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng; người lao động bị kết án tù giam hoặc bị cấm làm công việc cũ theo quyết định của Toà án; người lao động chết; mất tích theo tuyên bố của Toà án. 1.6.1 Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong những trường hợp sau đây: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thoả thuận trong hợp đồng; không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn theo hợp đồng; bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động; bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước; người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc. Thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước trong các trường hợp: không được bố trí đúng công việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thoả thuận trong hợp đồng; không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng; bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động: ít nhất 03 ngày. Đối với các trường hợp: bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước: ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng xác định thời hạn từ một năm đến ba năm; ít nhất 03 61
  9. ngày nếu là hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm; Đối với trường hợp: người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc tuỳ thuộc vào thời hạn do thầy thuốc chỉ định. Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày. 1.6.2. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây: Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng; người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải; người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 06 tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động; do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc; doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động. Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động các trường hợp: Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng; người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải; người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 06 tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành Công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan lao động biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp hành Công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước: ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm; ít nhất 03 ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm. 62
  10. 1.6.3. Người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây: Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc, trừ trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng ốm đau đã điều trị 06 tháng liền và người lao động làm việc theo hợp đồng mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nữa thời gian hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết hợp đồng lao động. Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động; người lao động đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động cho phép; người lao động là nữ trong các trường hợp vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. 1.6.4. Quyền của mỗi bên đơn phương từ bỏ chấm dứt hợp đồng lao động Mỗi bên có thể từ bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước. Khi hết thời hạn báo trước, mỗi bên đều có quyền chấm dứt hợp đồng lao động. 1.6.5. Vi phạm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày người lao động không được làm việc. Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường tương ứng với tiền lương trong những ngày không được làm việc, người lao động còn được trợ cấp theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường phí đào tạo nếu có, theo quy định của Chính phủ. Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. 63
  11. 1.6.6. Quyền lợi khi chấm dứt hợp đồng lao động Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có. Khi chấm dứt hợp đồng lao động người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp hoặc bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xoá án kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm thì người lao động không được trợ cấp thôi việc. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản thì các khoản có liên quan đến quyền lợi của người lao động được thanh toán theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp. Người sử dụng lao động ghi lý do chấm dứt hợp đồng lao động vào sổ lao động và có trách nhiệm trả lại sổ cho người lao động. Ngoài các quy định trong sổ lao động, người sử dụng lao động không được nhận xét thêm điều gì trở ngại cho người lao động tìm việc làm mới. 2. Thoả ước lao động tập thể Thoả ước lao động tập thể (sau đây gọi tắt là thoả ước tập thể) là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động. Thoả ước tập thể do đại diện của tập thể lao động và người sử dụng lao động thương lượng và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và công khai. Nội dung thoả ước tập thể không được trái với các quy định của pháp luật lao động và pháp luật khác. Nhà nước khuyến khích việc ký kết thoả ước tập thể với những quy định có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động. 2.1. Đại diện ký kết thoả ước lao động tập thể Đại diện thương lượng thoả ước tập thể của hai bên gồm: Bên tập thể lao động là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc tổ chức công đoàn lâm thời. Bên người sử dụng lao động là giám đốc doanh nghiệp hoặc người được uỷ quyền theo điều lệ tổ chức doanh nghiệp hoặc có giấy uỷ quyền của giám đốc doanh nghiệp. 64
  12. Số lượng đại diện thương lượng thoả ước tập thể của các bên do hai bên thoả thuận nhưng phải ngang nhau. Đại diện ký kết của bên tập thể lao động là Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc người có giấy uỷ quyền của Ban chấp hành công đoàn. Đại diện ký kết của bên người sử dụng lao động là giám đốc doanh nghiệp hoặc người có giấy uỷ quyền của giám đốc doanh nghiệp. Việc ký kết thoả ước tập thể chỉ được tiến hành khi có trên 50% số người của tập thể lao động trong doanh nghiệp tán thành nội dung thoả ước đã thương lượng. 2.2. Nội dung của thoả ước lao động tập thể Mỗi bên đều có quyền đề xuất yêu cầu ký kết và nội dung thoả ước tập thể. Khi nhận được yêu cầu, bên nhận yêu cầu phải chấp nhận việc thương lượng và phải thoả thuận thời gian bắt đầu thương lượng chậm nhất 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Nội dung chủ yếu của thoả ước tập thể gồm những cam kết về việc làm và bảo đảm việc làm; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương; định mức lao động; an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Thoả ước tập thể đã ký kết phải làm thành 4 bản, trong đó: Một bản do người sử dụng lao động giữ; Một bản do Ban chấp hành công đoàn cơ sở giữ; Một bản do Ban chấp hành công đoàn cơ sở gửi công đoàn cấp trên; Một bản do người sử dụng lao động gửi cơ quan lao động cấp tỉnh chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày ký kết để đăng ký. Những doanh nghiệp có cơ sở ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì việc đăng ký thoả ước tập thể được tiến hành ở cơ quan lao động cấp tỉnh nơi có trụ sở chính của doanh nghiệp. Thoả ước tập thể có hiệu lực kể từ ngày được cơ quan lao động cấp tỉnh đăng ký. Chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản thoả ước tập thể, cơ quan lao động cấp tỉnh phải thông báo việc đăng ký. Nếu hết thời hạn trên mà không có thông báo thì thoả ước tập thể đương nhiên có hiệu lực. 2.3. Thoả ước lao động tập thể vô hiệu Thoả ước tập thể bị coi là vô hiệu từng phần khi một hoặc một số điều khoản trong thoả ước chưa được cơ quan lao động cấp tỉnh chấp thuận, các điều khoản khác đã được đăng ký vẫn có hiệu lực thi hành. Thoả ước tập thể thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là vô hiệu toàn bộ: Toàn bộ nội dung thoả ước trái pháp luật; người ký kết thoả ước không đúng thẩm quyền; không tiến hành theo đúng trình tự ký kết; không đăng ký ở cơ quan lao động cấp tỉnh. 65
  13. 2.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện thoả ước lao động tập thể Khi thoả ước tập thể đã có hiệu lực, người sử dụng lao động phải thông báo cho mọi người lao động trong doanh nghiệp biết. Mọi người trong doanh nghiệp, kể cả người vào làm việc sau ngày ký kết đều có trách nhiệm thực hiện đầy đủ thoả ước tập thể. Trong trường hợp quyền lợi của người lao động đã thoả thuận trong hợp đồng lao động thấp hơn so với thoả ước tập thể, thì phải thực hiện những điều khoản tương ứng của thoả ước tập thể. Mọi quy định về lao động trong doanh nghiệp phải được sửa đổi cho phù hợp với thoả ước tập thể. Khi một bên cho rằng bên kia thi hành không đầy đủ hoặc vi phạm thoả ước tập thể, thì có quyền yêu cầu thi hành đúng thoả ước và hai bên phải cùng nhau xem xét giải quyết; nếu không giải quyết được, mỗi bên đều có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo trình tự do pháp luật quy định. 2.5. Thời hạn ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể Thoả ước tập thể được ký kết với thời hạn từ một năm đến ba năm. Đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thoả ước tập thể, thì có thể ký kết với thời hạn dưới một năm. Chỉ sau ba tháng thực hiện, kể từ ngày có hiệu lực đối với thoả ước tập thể thời hạn dưới một năm và sau sáu tháng đối với thoả ước tập thể thời hạn từ một năm đến ba năm, các bên mới có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thoả ước. Việc sửa đổi, bổ sung được tiến hành theo trình tự như ký kết thoả ước tập thể. Trước khi thoả ước tập thể hết hạn, hai bên có thể thương lượng để kéo dài thời hạn thoả ước tập thể hoặc ký kết thoả ước tập thể mới. Khi thoả ước tập thể hết hạn mà hai bên vẫn tiếp tục thương lượng, thì thoả ước tập thể vẫn có hiệu lực. Nếu quá ba tháng, kể từ ngày thoả ước tập thể hết hạn mà thương lượng không đi đến kết quả, thì thoả ước tập thể đương nhiên hết hiệu lực. Trong trường hợp phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện thoả ước tập thể cho tới khi hết hạn hoặc tới khi ký kết thoả ước tập thể mới. Trong trường hợp sáp nhập doanh nghiệp, việc thực hiện thoả ước tập thể do Chính phủ quy định. Trong trường hợp thoả ước tập thể hết hiệu lực do doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, thì quyền lợi của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật. Người sử dụng lao động chịu mọi chi phí cho việc thương lượng, ký kết, đăng ký, sửa đổi, bổ sung, công bố thoả ước tập thể. 66
  14. Các đại diện tập thể lao động là người lao động do doanh nghiệp trả lương, thì vẫn được trả lương trong thời gian tham gia thương lượng, ký kết thoả ước tập thể. II. TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Tiền lương Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác. Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lương thực tế. Chính phủ công bố thang lương, bảng lương để làm cơ sở tính các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền lương khi làm thêm giờ, làm đêm, ngừng việc, nghỉ hàng năm và các trường hợp nghỉ việc khác của người lao động sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động. 1.1. Cách chi trả tiền lương Người sử dụng lao động có quyền chọn các hình thức trả lương theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng), theo sản phẩm, theo khoán nhưng phải duy trì hình thức trả lương đã chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người lao động biết. Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc ấy hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương cả tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán, được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hàng tháng được tạm ứng lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng. Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc. Trong trường hợp đặc biệt phải trả lương chậm, thì không được chậm quá 67
  15. một tháng và người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm do ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả lương. Lương được trả bằng tiền mặt. Việc trả lương một phần bằng séc hoặc ngân phiếu do Nhà nước phát hành, do hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt hại, phiền hà cho người lao động. Người lao động có quyền được biết lý do mọi khoản khấu trừ vào tiền lương của mình. Trước khi khấu trừ tiền lương của người lao động, người sử dụng lao động phải thảo luận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở; trường hợp khấu trừ thì cũng không được khấu trừ quá 30% tiền lương hàng tháng. Người sử dụng lao động không được áp dụng việc xử phạt bằng hình thức cúp lương của người lao động. 1.2. Tiền lương làm thêm giờ Người lao động làm thêm giờ được trả lương như sau: vào ngày thường, được trả lương ít nhất bằng 150% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường; vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ, được trả lương ít nhất bằng 200% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường. Nếu người lao động được nghỉ bù những giờ làm thêm, thì người sử dụng lao động chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường. Người lao động làm việc vào ban đêm tính từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ, tuỳ theo vùng khí hậu do Chính phủ quy định thì được trả thêm ít nhất bằng 30% của tiền lương làm việc vào ban ngày. 1.3. Trả lương trong trường hợp ngừng việc Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau: nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương; nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu; nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc vì những nguyên nhân bất khả kháng, thì tiền lương do hai bên thoả thuận, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu. 2. Bảo hiểm xã hội Nhà nước quy định chính sách về bảo hiểm xã hội nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao 68
  16. động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác. Các loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối với từng loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để bảo đảm cho người lao động được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội thích hợp. Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với những doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên. ở những doanh nghiệp này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật này và người lao động được hưởng các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và tử tuất. Người lao động làm việc ở những nơi sử dụng dưới 10 người lao động, hoặc làm những công việc thời hạn dưới ba tháng, theo mùa vụ, hoặc làm các công việc có tính chất tạm thời khác, thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm. 2.1. Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội Khi ốm đau, người lao động được khám bệnh và điều trị tại các cơ sở y tế theo chế độ bảo hiểm y tế. Người lao động ốm đau có giấy chứng nhận của thầy thuốc cho nghỉ việc để chữa bệnh tại nhà hoặc điều trị tại bệnh viện thì được trợ cấp ốm đau do quỹ bảo hiểm xã hội trả. Mức trợ cấp ốm đau phụ thuộc điều kiện làm việc, mức và thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội do Chính phủ quy định. Trong thời gian người lao động nghỉ việc để chữa trị vì tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải trả đủ lương và chi phí cho người lao động theo quy định của pháp luật. Sau khi điều trị, tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người lao động được giám định và xếp hạng thương tật để hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng do quỹ bảo hiểm xã hội trả. Trong thời gian làm việc, nếu người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thì thân nhân được nhận chế độ tử tuất theo quy định của pháp luật và được quỹ bảo hiểm xã hội trợ cấp thêm một lần bằng 24 tháng tiền lương tối thiểu theo quy định của Chính phủ. Trong thời gian nghỉ thai sản theo quy định của pháp luật, người lao động nữ đã đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp bảo hiểm xã hội bằng 100% tiền lương và được trợ cấp thêm một tháng lương, đối với trường hợp sinh con lần thứ nhất, thứ hai. Các chế độ khác của người lao động nữ được áp dụng theo quy định của pháp luật. 69
  17. 2.2. Chế độ hưu trí hàng tháng Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội như sau: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Tuổi đời được hưởng chế độ hưu trí của những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại hoặc làm việc ở vùng cao, biên giới, hải đảo và một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định, đã đóng bảo hiểm xã hội 20 năm trở lên. Trường hợp người lao động không đủ điều kiện quy định trên, nhưng nếu có một trong các điều kiện sau đây thì cũng được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn: Người lao động đủ điều kiện về tuổi đời theo quy định mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội nhưng ít nhất đã có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội; người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội 20 năm trở lên chưa đủ điều kiện về tuổi đời nhưng ít nhất đã đủ 50 tuổi đối với nam, 45 tuổi đối với nữ mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên; người lao động làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại theo quy định của Chính phủ, đã đóng bảo hiểm xã hội từ 20 năm trở lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. Người lao động không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo quy định trên, thì được hưởng trợ cấp một lần. Mức hưởng chế độ hưu trí hàng tháng và trợ cấp một lần phụ thuộc vào mức và thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội do Chính phủ quy định. 2.3. Các chế độ trợ cấp khác Người lao động đang làm việc, người hưởng chế độ hưu trí, hưởng trợ cấp hàng tháng về mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, khi chết thì người lo việc mai táng được nhận tiền mai táng do Chính phủ quy định. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người đã đóng bảo hiểm xã hội 15 năm trở lên, người hưởng chế độ hưu trí hàng tháng, chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp hàng tháng, khi chết nếu có con chưa đủ 15 tuổi, vợ (hoặc chồng), bố, mẹ đã hết tuổi lao động mà khi còn sống người đó đã trực tiếp nuôi dưỡng, thì những thân nhân này được hưởng chế độ tuất hàng tháng. Trường hợp người chết không có thân nhân đủ điều kiện hưởng chế độ tuất hàng tháng hoặc chưa đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm, thì gia đình được hưởng chế độ tuất một lần nhưng không quá 12 tháng lương hoặc trợ cấp đang hưởng. Người hưởng chế độ hưu trí, chế độ trợ cấp mất sức lao động, chế độ trợ cấp tai nạn lao động hạng 1, hạng 2 hoặc bệnh nghề nghiệp hạng 1, hạng 2 trước ngày ban hành Bộ luật này, thì thực hiện chế độ tử tuất theo quy định của pháp luật. 70
  18. 2.4. Quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn sau đây: người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương; người lao động đóng bằng 5% tiền lương; Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động; các nguồn khác. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định của Chính phủ. III. THỜI GIAN LÀM VIỆC, THỜI GIAN NGHỈ NGƠI; KỶ LUẬT LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT; AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 1.1. Thời giờ làm việc Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết. Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận làm thêm giờ, nhưng không được quá bốn giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm. Thời giờ làm việc ban đêm tính từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ, tuỳ theo vùng khí hậu do Chính phủ quy định. 1.2. Thời giờ nghỉ ngơi 1.2.1. Thời giờ nghỉ ngơi hàng ngày và hàng tuần Người lao động làm việc 8 giờ liên tục thì được nghỉ ít nhất nửa giờ, tính vào giờ làm việc. Người làm ca đêm được nghỉ giữa ca ít nhất 45 phút, tính vào giờ làm việc. Người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca khác. Mỗi tuần người lao động được nghỉ ít nhất một ngày (24 giờ liên tục). Người sử dụng lao động có thể sắp xếp ngày nghỉ hàng tuần vào chủ nhật hoặc vào một ngày cố định khác trong tuần. Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hàng tuần thì người sử dụng lao động phải bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân một tháng ít nhất là 04 ngày. 71
  19. 1.2.2. Thời giờ nghỉ lễ, tết Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương những ngày lễ sau đây: Tết dương lịch: 01 ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch). Tết âm lịch: 04 ngày (một ngày cuối năm và ba ngày đầu năm âm lịch). Ngày Chiến thắng: 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch). Ngày Quốc tế lao động: 01 ngày (ngày 1 tháng 5 dương lịch). Ngày Quốc khánh: 01 ngày (ngày 2 tháng 9 dương lịch). Ngày giỗ tổ Hùng Vương: 01 ngày ( ngày 10 tháng 3 âm lịch). Nếu những ngày nghỉ nói trên trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày tiếp theo. 1.2.3. Thời giờ nghỉ hàng năm Người lao động có 12 tháng làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương theo quy định sau đây: 12 ngày làm việc, đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường; 14 ngày làm việc, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt và đối với người dưới 18 tuổi; 16 ngày làm việc, đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt. Thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hàng năm do Chính phủ quy định. Số ngày nghỉ hàng năm được tăng thêm theo thâm niên làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động, cứ 5 năm làm việc được nghỉ thêm một ngày. 1.3. Các quy định khác Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải thông báo trước cho mọi người trong doanh nghiệp. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hàng năm thành nhiều lần. Người làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ của hai năm để nghỉ một lần; nếu nghỉ gộp ba năm một lần thì phải được người sử dụng lao động đồng ý. Người lao động do thôi việc hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm, thì được trả lương những ngày chưa nghỉ. Khi nghỉ hàng năm, người lao động được ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ. Tiền tàu xe và tiền lương của người lao động trong những ngày đi đường do hai bên thoả thuận. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hàng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc và có thể được thanh toán bằng tiền. 72
  20. Người lao động được nghỉ về việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây: Kết hôn, nghỉ ba ngày; con kết hôn, nghỉ một ngày; bố mẹ (cả bên chồng và bên vợ) chết, vợ hoặc chồng chết, con chết, nghỉ ba ngày. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương. 2. Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất 2.1. Quy định về nội quy lao động Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động. Nội quy lao động không được trái với pháp luật lao động và pháp luật khác. Doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản. Trước khi ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp. Người sử dụng lao động phải đăng ký bản nội quy lao động tại cơ quan lao động cấp tỉnh. Nội quy lao động có hiệu lực, kể từ ngày được đăng ký. Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản nội quy lao động, cơ quan lao động cấp tỉnh phải thông báo việc đăng ký. Nếu hết thời hạn trên mà không có thông báo, thì bản nội quy lao động đương nhiên có hiệu lực. 2.2. Nội dung của nội quy lao động Nội quy lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi; trật tự trong doanh nghiệp; an toàn lao động, vệ sinh lao động ở nơi làm việc; việc bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp; các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, các hình thức xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất. Nội quy lao động phải được thông báo đến từng người và những điểm chính phải được niêm yết ở những nơi cần thiết trong doanh nghiệp. 2.3. Hình thức xử lý kỷ luật Người vi phạm kỷ luật lao động, tuỳ theo mức độ phạm lỗi, bị xử lý theo một trong những hình thức sau đây: Khiển trách; chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là sáu tháng; sa thải. Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động. Hình thức xử lý kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau đây: Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh 73
  21. nghiệp; người lao động bị xử lý kỷ luật chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật; người lao động tự ý bỏ việc bảy ngày trong một tháng hoặc 20 ngày trong một năm mà không có lý do chính đáng. Sau khi sa thải người lao động, người sử dụng lao động phải báo cho cơ quan lao động cấp tỉnh biết. 2.4. Thời hiệu xử lý kỷ luật Thời hiệu để xử lý vi phạm kỷ luật lao động tối đa là ba tháng, kể từ ngày xảy ra vi phạm, trường hợp đặc biệt cũng không được quá sáu tháng. Người bị khiển trách sau ba tháng và người bị xử lý kỷ luật chuyển làm công việc khác sau sáu tháng, kể từ ngày bị xử lý, nếu không tái phạm thì đương nhiên được xoá kỷ luật. Người bị xử lý kỷ luật chuyển làm công việc khác, sau khi chấp hành được một nửa thời hạn, nếu sửa chữa tiến bộ, thì được người sử dụng lao động xét giảm thời hạn. 2.5. Trách nhiệm vật chất Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về thiệt hại đã gây ra. Nếu gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất, thì phải bồi thường nhiều nhất ba tháng lương và bị khấu trừ dần vào lương theo quy định của pháp luật. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, làm mất các tài sản khác do doanh nghiệp giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì tuỳ trường hợp phải bồi thường thiệt hại một phần hay toàn bộ theo thời giá thị trường; trong trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trong trường hợp bất khả kháng thì không phải bồi thường. Người bị xử lý kỷ luật lao động, bị tạm đình chỉ công việc hoặc phải bồi thường theo chế độ trách nhiệm vật chất nếu thấy không thoả đáng, có quyền khiếu nại với người sử dụng lao động, với cơ quan có thẩm quyền hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định. 3. An toàn lao động và vệ sinh lao động Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động. Người lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp. Mọi tổ chức và cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và về bảo vệ môi trường. 74
  22. Chính phủ lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách của Nhà nước; đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động. Người sử dụng lao động phải bảo đảm nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác. Các yếu tố đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường. Người lao động có quyền từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe doạ nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khoẻ của mình và phải báo ngay với người phụ trách trực tiếp. Người sử dụng lao động không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc đó hoặc trở lại nơi làm việc đó nếu nguy cơ chưa được khắc phục. Nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại, dễ gây tai nạn lao động phải được người sử dụng lao động trang bị phương tiện kỹ thuật, y tế và trang bị bảo hộ lao động thích hợp để bảo đảm ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố, tai nạn lao động. Người sử dụng lao động phải bảo đảm các phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn chất lượng và quy cách theo quy định của pháp luật. Khi tuyển dụng và sắp xếp lao động, người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khoẻ quy định cho từng loại việc, tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, thông báo cho người lao động về những quy định, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh và những khả năng tai nạn cần đề phòng trong công việc của từng người lao động. Người lao động phải được khám sức khoẻ khi tuyển dụng và khám sức khoẻ định kỳ theo chế độ quy định. Chi phí khám sức khoẻ cho người lao động do người sử dụng lao động chịu. Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức chăm lo sức khoẻ cho người lao động và phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động khi cần thiết. Tất cả các vụ tai nạn lao động, các trường hợp bị bệnh nghề nghiệp đều phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. 75
  23. IV. THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG, XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG; GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG 1. Thanh tra nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật về lao động Thanh tra nhà nước về lao động bao gồm Thanh tra lao động, Thanh tra an toàn lao động và Thanh tra vệ sinh lao động. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan lao động địa phương thực hiện thanh tra lao động và thanh tra an toàn lao động. Bộ Y tế và các cơ quan y tế địa phương thực hiện thanh tra vệ sinh lao động. Thanh tra nhà nước về lao động có các nhiệm vụ chính sau đây: thanh tra việc chấp hành các quy định về lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động; điều tra tai nạn lao động và những vi phạm tiêu chuẩn vệ sinh lao động; xem xét, chấp thuận các tiêu chuẩn an toàn lao động, các giải pháp an toàn lao động trong các luận chứng kinh tế - kỹ thuật, các đề án thiết kế; đăng ký và cho phép đưa vào sử dụng những máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định; tham gia xem xét chấp thuận địa điểm, các giải pháp vệ sinh lao động khi xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ và tàng trữ các chất phóng xạ, chất độc thuộc danh mục do Bộ Y tế quy định; giải quyết các khiếu nại, tố cáo của người lao động về vi phạm pháp luật lao động; quyết định xử lý các vi phạm pháp luật lao động theo thẩm quyền của mình và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm thuộc thẩm quyền xử lý của các cơ quan đó. Khi tiến hành thanh tra, Thanh tra viên lao động có quyền: thanh tra, điều tra những nơi thuộc đối tượng, phạm vi thanh tra được giao bất cứ lúc nào mà không cần báo trước; yêu cầu người sử dụng lao động và những người có liên quan khác cung cấp tình hình và các tài liệu liên quan đến việc thanh tra, điều tra; tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vi phạm pháp luật lao động theo quy định của pháp luật; quyết định tạm đình chỉ việc sử dụng máy, thiết bị, nơi làm việc có nguy cơ gây tai nạn lao động, gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường lao động và chịu trách nhiệm về quyết định đó, đồng thời báo cáo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thanh tra viên lao động phải là người không có lợi ích cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với đối tượng thuộc phạm vi thanh tra. Thanh tra viên lao động, kể cả khi đã thôi việc, không được tiết lộ những bí mật biết được trong khi thi hành công vụ và phải tuyệt đối giữ kín mọi nguồn tố cáo. Khi tiến hành thanh tra, Thanh tra viên lao động phải cộng tác chặt chẽ với Ban chấp hành công đoàn. Nếu vụ việc có liên quan đến các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, Thanh tra viên lao động có thể mời các chuyên gia, các kỹ thuật viên lành nghề về lĩnh vực hữu quan làm tư vấn; khi khám xét máy, thiết bị, kho tàng, phải có mặt người sử dụng lao động và người trực tiếp phụ trách máy, thiết bị, kho tàng. 76
  24. Thanh tra viên lao động trực tiếp giao quyết định cho đương sự, trong quyết định phải ghi rõ ngày quyết định bắt đầu có hiệu lực, ngày phải thi hành xong, nếu cần thiết ghi cả ngày phúc tra. Quyết định của Thanh tra viên lao động có hiệu lực bắt buộc thi hành. Người nhận quyết định có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của Thanh tra viên lao động. Chính phủ quy định việc xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động. 2. Tranh chấp lao động Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trình học nghề. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động. 2.1. Giải quyết tranh chấp lao động Tranh chấp lao động được giải quyết theo những nguyên tắc sau đây: Thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp; thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và tuân theo pháp luật; giải quyết công khai, khách quan, kịp thời, nhanh chóng, đúng pháp luật; có sự tham gia của đại diện công đoàn và của đại diện người sử dụng lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp. Việc giải quyết tranh chấp lao động tại các cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành khi một bên từ chối thương lượng hoặc hai bên đã thương lượng mà vẫn không giải quyết được và một hoặc hai bên có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động. Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động các bên tranh chấp có quyền: Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện của mình để tham gia quá trình giải quyết tranh chấp; rút đơn hoặc thay đổi nội dung tranh chấp; yêu cầu thay người trực tiếp tiến hành giải quyết tranh chấp, nếu có lý do chính đáng cho rằng người đó không thể bảo đảm tính khách quan, công bằng trong việc giải quyết tranh chấp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, các bên tranh chấp có nghĩa vụ: Cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động; nghiêm chỉnh chấp hành các thoả thuận đã đạt được, biên bản hoà giải thành, quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân. 77
  25. Cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu các bên tranh chấp lao động, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ; trưng cầu giám định, mời nhân chứng và người có liên quan trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động. 2.1.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm: Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) đối với những nơi không có Hội đồng hoà giải lao động cơ sở; Toà án nhân dân. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở được thành lập trong các doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên, gồm số đại diện ngang nhau của bên người lao động và bên người sử dụng lao động. Số lượng thành viên của Hội đồng do hai bên thoả thuận. Nhiệm kỳ của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở là hai năm. Đại diện của mỗi bên luân phiên làm Chủ tịch và thư ký Hội đồng. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở làm việc theo nguyên tắc thoả thuận và nhất trí. Người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở. 2.1.2. Trình tự hoà giải tranh chấp lao động cá nhân Trình tự hoà giải tranh chấp lao động cá nhân được quy định như sau: Hội đồng hoà giải lao động cơ sở tiến hành hoà giải chậm nhất bảy ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hoà giải. Tại phiên họp hoà giải, phải có mặt hai bên tranh chấp hoặc đại diện được uỷ quyền của họ. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở đưa ra phương án hoà giải để các bên xem xét. Nếu hai bên chấp nhận phương án hoà giải thì lập biên bản hoà giải thành, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của Chủ tịch và thư ký Hội đồng hoà giải lao động cơ sở. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành. Trong trường hợp hoà giải không thành, thì Hội đồng hoà giải lao động cơ sở lập biên bản hoà giải không thành, ghi ý kiến của hai bên tranh chấp và của Hội đồng, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của Chủ tịch và thư ký Hội đồng. Bản sao biên bản phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày hoà giải không thành. Mỗi bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu Toà án nhân dân cấp huyện xét xử tranh chấp. Hồ sơ gửi Toà án nhân dân phải kèm theo biên bản hoà giải không thành. Hoà giải viên lao động tiến hành việc hoà giải theo trình tự đối với các tranh chấp lao động cá nhân tại các doanh nghiệp sử dụng dưới 10 người lao động, tranh 78
  26. chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động, tranh chấp về thực hiện hợp đồng học nghề và phí dạy nghề. Hoà giải viên lao động phải tiến hành việc hoà giải chậm nhất bảy ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hoà giải. Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động hoà giải không thành, khi có đơn yêu cầu của một hoặc hai bên tranh chấp. Những tranh chấp lao động cá nhân sau đây có thể yêu cầu Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết, không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở: Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động. Người lao động được miễn án phí trong các hoạt động tố tụng để đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. 2.1.3. Thời hiệu yều cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, kể từ ngày mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm được quy định như sau: Một năm đối với các tranh chấp lao động về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động. Sáu tháng đối với các loại tranh chấp lao động khác. 2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể gồm: Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện nơi không có Hội đồng hoà giải lao động cơ sở; Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh; Toà án nhân dân. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở có thẩm quyền hoà giải cả những vụ tranh chấp lao động tập thể. Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh gồm các thành viên chuyên trách và kiêm chức là đại diện của cơ quan lao động, đại diện của công đoàn, đại diện của những người sử dụng lao động và một số luật gia, nhà quản lý, nhà hoạt động xã hội có uy tín ở địa phương. Thành phần Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được hình thành theo số lẻ, tối đa không được quá chín người, do đại diện cơ quan lao động cấp tỉnh làm Chủ tịch. Nhiệm kỳ của Hội đồng trọng tài lao động là ba năm. 79
  27. Hội đồng trọng tài lao động quyết định theo nguyên tắc đa số, bằng cách bỏ phiếu kín. Cơ quan lao động cấp tỉnh bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động. 2.2.1. Trình tự giải quyết tranh chấp lao động tập thể Trình tự hoà giải tranh chấp lao động tập thể được quy định như sau: Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động tiến hành hoà giải chậm nhất bảy ngày, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu hoà giải. Tại phiên họp hoà giải, phải có mặt hai bên tranh chấp hoặc đại diện được uỷ quyền của họ. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để các bên xem xét. Nếu hai bên chấp nhận phương án hoà giải thì lập biên bản hoà giải thành, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của Chủ tịch và thư ký Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc của hoà giải viên lao động. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành. Trong trường hợp hoà giải không thành, thì Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành, ghi ý kiến của hai bên tranh chấp và của Hội đồng hoặc của hoà giải viên lao động, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của Chủ tịch và thư ký Hội đồng hoặc của hoà giải viên lao động; mỗi bên hoặc cả hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết. Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hoà giải và giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể chậm nhất 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động tập thể, phải có mặt các đại diện được uỷ quyền của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở và đại diện cơ quan Nhà nước hữu quan tham dự phiên họp. Hội đồng trọng tài lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trong trường hợp hai bên nhất trí thì lập biên bản hoà giải thành, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của Chủ tịch Hội đồng trọng tài lao động. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành. Trong trường hợp hoà giải không thành, thì Hội đồng trọng tài lao động giải quyết vụ tranh chấp và thông báo ngay quyết định của mình cho hai bên tranh chấp; nếu hai bên không có ý kiến thì quyết định đó đương nhiên có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp tập thể lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, thì có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết hoặc đình công. Trong trường hợp người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, thì có quyền yêu cầu Toà án nhân dân xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài. 80
  28. Trong khi Hội đồng hoà giải lao động, Hội đồng trọng tài lao động đang tiến hành việc giải quyết tranh chấp lao động, thì không bên nào được hành động đơn phương chống lại bên kia./. CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG VI 1. Những yêu cầu cơ bản khi ký kết hợp đồng lao động và chấm dứt hợp đồng lao động (người lao động, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng, những trường hợp không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động). 2. Hợp đồng lao động chấm dứt trong những trường hợp nào. 3. Quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện thoả ước lao động tập thể. 4. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và tập thể (thẩm quyền, trình tự, thời hiệu). 5. Tại sao người lao động và người sử dụng lao động lại phải ký kết hợp đồng lao động ? nếu không ký kết hợp đồng lao động có được không ? vì sao ? 6. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động lại phải thực hiện thời gian báo trước cho người sử dụng lao động. 7. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, thực hiện nội quy lao động. 8. Chị Nguyễn Thị Hoa làm việc tại Công ty Du lịch Tỉnh BR-VT, trong thời gian làm việc chị Hoa luôn đi muộn, về sớm đã được cơ quan nhắc nhở nhiều lần nhưng không sửa chữa. Hội đồng kỷ luật của Công ty họp và đề nghị Giám đốc Công ty xử lý kỷ luật chị Hoa với hình thức: Khiển trách và chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn sáu tháng. Công ty xử lý kỷ luật đối với chị Hoa như vậy có đúng không ? tại sao ? 81
  29. Chương VII. LUẬT NHÀ NƯỚC (LUẬT HIẾN PHÁP) I. LUẬT NHÀ NƯỚC TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm luật Nhà nước Luật Nhà nước còn gọi là luật Hiến pháp, là một ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản pháp luật khác nhau, từ văn bản có tính hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp cho đến văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cơ bản có liên quan đến tổ chức quyền lực nhà nước, như: Chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, các nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, các quyền công dân và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân. Luật Nhà nước chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất, đó là những quan hệ xã hội thể hiện chủ quyền của nhân dân. Nhân dân ở đây với tư cách không phải là cá nhân công dân, mà là cộng đồng dân tộc trong một Nhà nước thống nhất, là chủ thể của luật Nhà nước. Luật Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm cũng cố nền tảng của một Nhà nước, một xã hội, đó là: Điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, nền tảng chính trị của một Nhà nước; củng cố cơ sở của kinh tế, các quan hệ xã hội cơ bản trong lĩnh vực kinh tế, như chế độ sở hữu, thành phần kinh tế, chiến lược kinh tế, mục tiêu kinh tế; điều chỉnh quan hệ nền tảng giữa Nhà nước với công dân (quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân); điều chỉnh nguyên tắc cơ bản, nền tảng về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; điều chỉnh những quan hệ thuộc chủ quyền một nhà nước, một quốc gia: tên nước, quốc huy, quốc kỳ, quốc ca, thủ đô; điều chỉnh hiệu lực của Hiến pháp, trật tự thay đổi Hiến pháp. 2. Vị trí của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam Từ khái niệm và đối tượng điều chỉnh của luật Nhà nước, có thể khẳng định: Luật Nhà nước là một ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật, là nguồn trực tiếp của các ngành luật khác và quy định trật tự thiết lập, thay đổi các quy phạm pháp luật của các ngành luật khác. Vì vậy có thể nói luật Nhà nước là luật gốc, là trung tâm của các ngành luật khác, là nhân tố đảm bảo sự thống nhất các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. II. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP NĂM 1992 1. Chế độ chính trị và chế độ kinh tế 1.1. Chế độ chính trị Trong lý luận về Nhà nước và pháp luật, chế độ chính trị được xem là hệ thống những nguyên tắc thực hiện quyền lực nhà nước. 82
  30. Dưới gốc độ là chế định của luật Hiến pháp thì chế độ chính trị là tổng thể các quy định về những vấn đề có tính chất nguyên tắc chung. Đó là quy định về bản chất nhà nước, nguồn gốc nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi hoạt động của nhà nước và xã hội, những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp”, bản chất của Nhà nước là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quan điểm, tư tưởng, nguyên tắc cơ bản trên có ý nghĩa quyết định toàn bộ nội dung của Hiến pháp. Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước không những mang tính quy luật khách quan, mà còn được nhân dân Việt Nam thừa nhận, được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên được xác định là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. 1.2. Chế độ kinh tế Chế độ kinh tế là một hệ thống quan hệ kinh tế được xây dựng trên cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, thể hiện tính chất và hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, các nguyên tắc sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm xã hội và tổ chức quản lý nền kinh tế. Chế độ kinh tế của nước ta được xác định là chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi nhận sự tồn tại của ba hình thức sở hữu: Sở hữu nhà nước (hay sở hữu toàn dân); Sở hữu tập thể; Sở hữu tư nhân. (Trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng). Nhà nước bảo hộ các hình thức sở hữu trên. Hiến pháp khẳng định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trên cơ sở các hình thức sở hữu cơ bản ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hình thành nhiều thành phần kinh tế “với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng đan xen hỗn hợp”, “Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”. 83
  31. Các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước ta hiện nay là: thành phần kinh tế Nhà nước; thành phần kinh tế tập thể; thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước. Đó là sự hợp tác để sản xuất kinh doanh giữa kinh tế nhà nước Việt Nam với các tổ chức kinh tế tư bản tư nhân trong nước và nước ngoài mang lại lợi ích cho các bên đầu tư kinh doanh. Các thành phần kinh tế trên được phát triển bình đẳng trước pháp, tự chủ và liên kết, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất kinh doanh. Như vậy, trên thực tế đã thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu ngoài quốc doanh, Nhà nước sử dụng và phát huy tác dụng tích cực của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. 2. Chính sách văn hoá – xã hội Với tính cách là một chế định của luật Hiến pháp, chính sách văn hoá – xã hội được quy định về chính sách văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ; chính sách phát triển văn hoá, nghệ thuật và chính sách chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Mục đích của chính sách văn hoá – xã hội nhằm bảo vệ những giá trị văn hoá dân tộc, xây dựng con người mới, cuộc sống mới, tạo ra lực lượng sản xuất, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới. 2.1. Chính sách phát triển văn hoá Điều 30 - Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn, kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân”. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp giáo dục, tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình văn hoá. 2.2. Chính sách giáo dục Điều 35 - Hiến pháp năm 1992 quy định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. 84
  32. 2.3. Chính sách khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điều 37 - Hiến pháp năm 1992 quy định: “Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” “Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia; xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến ”. 2.4. Chính sách phát triển văn hoá, nghệ thuật Chính sách của Nhà nước là: các hoạt động văn nghệ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp đều được khuyến khích phát triển, các tài năng văn học nghệ thuật được chăm sóc. 2.5. Chính sách chăm sóc sức khoẻ của nhân dân Điều 39 - Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước chăm lo và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển hệ thống chăm sóc sức khoẻ theo hướng dự phòng; phát triển và kết hợp y dược học dân tộc cổ truyền với y dược học hiện đại, kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ một cách thuận lợi, với chất lượng ngày càng cao”. Nhà nước và xã hội bảo vệ và chăm sóc bà mẹ và trẻ em, vận động sinh đẻ có kế hoạch. 3. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân chủ yếu được thể hiện qua quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp. Những quyền này thường được xuất phát từ quyền con người: được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm phạm. Nguyên tắc cơ bản khi xác định quyền và nghĩa vụ của công dân là “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, bình đẳng về hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước pháp luật, bình đẳng về hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước Nhà nước và xã hội, quyền và nghĩa vụ không tách rời. Các quyền và nghĩa vụ công dân được ghi nhận trong Hiến pháp được gọi là các quyền và nghĩa vụ cơ bản vì: xác định những mối quan hệ cơ bản nhất giữa Nhà nước với công dân; những quyền và nghĩa vụ ấy được quy định trong luật của Nhà nước; là cơ sở pháp lý làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ khác của công dân trong mọi ngành luật. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 được phân loại như sau: 85
  33. 3.1. Các quyền về chính trị Công dân được quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp (từ 18 tuổi trở lên được quyền bầu cử, từ 21 tuổi trở lên được quyền ứng cử). Quyền được tham gia quản lý nhà nước, xã hội, thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu. 3.2. Các quyền về kinh tế, văn hoá, xã hội Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, có quyền sở hữu những thu nhập hợp pháp, những của cải để dành, tư liệu sản xuất, vốn và những tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Trên cơ sở tự nguyện, cùng có lợi, công dân có thể góp vốn, góp sức sản xuất kinh doanh trong các tổ chức kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức với quy mô và mức độ tập thể hoá thích hợp. Tổ chức và cá nhân có quyền thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động Nhà nước cho phép các tổ chức và công dân được sử dụng ruộng đất một cách lâu dài, có quyền chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Mọi công dân có quyền lao động, quyền được học tập, quyền được nghiên cứu, được sáng tạo khoa học kỹ thuật, được bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền được bảo vệ sức khoẻ, quyền bình đẳng nam nữ, quyền được nhà nước bảo hộ về hôn nhân, gia đình 3.3. Các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân Nhóm quyền này bao gồm: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật, tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chổ ở, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, quyền bí mật thư tín, quyền tự do đi lại và cư trú 3.4. Các nghĩa vụ của công dân Công dân nước Việt Nam có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, pháp luật, đóng thuế Các quyền và nghĩa vụ nêu trên đều là các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bắt nguồn và phản ánh từ chế độ kinh tế và chính sách văn hoá – xã hội theo tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm, tạo điều kiện để công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của mình. Về phía công dân phải phát huy vai trò người làm chủ của đất nước trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ, phải luôn quán triệt nguyên tắc “quyền đi liền với nghĩa vụ”. Một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 1992: Hiến pháp quy định: “Công dân phải trung thành với Tổ quốc” “Bảo vệ Tổ quốc 86
  34. là nghĩa vụ thiêng liênh và quyền cao quý của công dân”. Mọi người Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, trình độ, tuổi tác, sức khoẻ đều có thể tham gia vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc không chỉ là tham gia quân đội và thực hiện nghĩa vụ quân sự. Bảo vệ Tổ quốc bao gồm cả bảo vệ quốc phòng và bảo vệ an ninh. Bảo vệ quốc phòng nghĩa là bảo vệ, giữ gìn bờ cõi, chống xâm lược; bảo vệ an ninh là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng và Nhà nước, bảo vệ sự nghiệp xây dựng đất nước và cuộc sống an toàn của công dân. Hiến pháp còn quy định: “Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”. Học sinh, sinh viên học tập tốt ở nhà trường, có tư tưởng quan điểm vững vàng, có làng yêu nước nồng nàn, yêu chủ nghĩa xã hội, có đạo đức và lối sống lành mạnh, có hành động góp phần bảo vệ quê hương là đóng góp thiết thực cho sự nghiệp quốc phòng và an ninh. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chổ ở, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín là các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân. Bất khả xâm phạm về chổ ở nghĩa là không ai được tự ý vào chổ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp pháp luật cho phép. Việc khám xét chổ ở của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. Khi công dân bị cá nhân hay tổ chức xâm hại đến các quyền nói trên của bản thân, có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được bảo vệ bằng pháp luật. Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc cá nhân. Để thực hiện triệt để quyền cơ bản này, Hiến pháp quy định: “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”. Đồng thời Hiến pháp cũng nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nai, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác./. CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG VII 1. Bộ máy nhà nước ta hiện nay đang thực hiện theo Hiến pháp nào. 2. Trình bày những nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992. 3. Tự liên hệ bản thân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 1992. 87
  35. Chương VIII PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH I. PHÁP LUẬT DÂN SỰ 1. Khái niệm Luật Dân sự, quan hệ pháp luật dân sự 1.1. Khái niệm Luật dân sự Luật Dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá tiền tệ và một số quan hệ nhân thân phi tài sản, phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối lưu thông, tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của nhân dân, trên cơ sở bình đẳng, độc lập, quyền tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó. 1.2. Quan hệ pháp luật dân sự Quan hệ pháp luật dân sự mang đầy đủ những đặc tính chung của quan hệ pháp luật về bản chất xã hội, bản chất pháp lý, tính cưỡng chế, Do tác động của các quy phạm pháp luật dân sự nên các bên tham gia vào các quan hệ đó có các quyền và nghĩa vụ tương ứng, được Nhà nước bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ xã hội mang tính chất ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật mà nội dung của nó được xác định bằng những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội ở một thời điểm nhất định. Ngoài ra, quan hệ pháp luật dân sự còn mang ý chí của các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó. Ý chí của các bên khi tham gia vào các quan này phải luôn luôn phù hợp với ý chí của Nhà nước được thể hiện qua các quy phạm pháp luật dân sự. Như vậy: Quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh, trong đó các bên tham gia độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên được Nhà nước bảo đảm thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế. 2. Một số chế định cơ bản của Luật Dân sự 2.1. Quyền sở hữu Quyền sở hữu được hiểu theo các nghĩa sau: Quyền sở hữu trước hết là một phạm trù pháp lý, chỉ tổng hợp các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ về sở hữu đối với lợi ích vật chất trong xã hội. 88
  36. Quyền sở hữu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Theo nghĩa này thì quyền sở hữu chính là những quyền năng dân sự chủ quan của một chủ thể cụ thể đối với một tài sản cụ thể, được xuất hiện trên cơ sở do sự quy định của các quy phạm pháp luật khách quan. Quyền sở hữu được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự. Quyền sở hữu bao gồm ba yếu tố: chủ thể, khách thể, nội dung như bất kỳ một quan hệ pháp luật dân sự nào khác. Như vậy, quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản, tư liệu sản xuất của cá nhân, tổ chức. 2.1.1. Nội dung của quyền sở hữu bao gồm: Quyền chiếm hữu là quyền kiểm soát và chiếm giữ vật trên thực tế. Quyền năng này được biểu hiện ở chổ: vật thực tế do ai kiểm soát, chiếm giữ, làm chủ và chi phối. (quyền chiếm giữ có thể là hợp pháp hay bất hợp pháp). Chiếm giữ hợp pháp là chiếm hữu dựa trên cơ sở pháp luật như: được chủ sở hữu giao vật trên cơ sở của một hợp đồng hợp pháp; chiếm hữu hợp pháp trên cơ sở mệnh lệnh của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ví dụ: anh H lái xe, chiếc ô tô do cơ quan giao cho anh H). Chiếm hữu bất hợp pháp là chiếm hữu không dựa trên cơ sở của pháp luật. Cụ thể một người chiếm hữu một tài sản nhưng không phải là chủ sở hữu của tài sản đó (chiếm hữu tài sản bất hợp pháp ngay tình và không ngay tình). Chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình là người chiếm hữu không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật. Tức là, luật không buộc người đó phải biết tính bất hợp pháp trong việc chiếm hữu của mình (ví dụ: mùa lũ cá từ ao của người khác tràn sang ao của mình). Chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, biết đó là chiếm hữu bất hợp pháp hoặc tuy không biết nhưng cần phải biết người chuyển dịch tài sản cho mình là người không có quyền chuyển dịch (ví dụ: người mua hàng biết hàng của gian nhưng vẫn mua vì giá rẻ). Quyền sử dụng là quyền khai thác những lợi ích vật chất của tài sản trong phạm vi pháp luật cho phép. (ví dụ: một người dùng xe máy của mình để đi lại, chở thuê; dùng lương thực của mình để ăn ). Việc sử dụng một tài sản thông thường là quyền của chủ sở hữu, nhưng người khác cũng có thể được thực hiện quyền này nếu họ được chủ sở hữu chuyển dịch cho trên cơ sở một hợp đồng hợp pháp (ví dụ: thông qua hợp đồng thuê nhà ở mà người đi thuê có quyền sử dụng ngôi nhà đó). 2.1.2. Quyền định đoạt Là quyền năng của chủ sở hữu để quyết định “số phận” của vật. Chủ sở hữu của vật có thể quyết định số phận của vật như: cho, tặng, tiêu dùng, bán, trao đổi . 89
  37. Các hình thức sở hữu: Pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định các hình thức sở hữu sau: sở hữu toàn dân; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu hổn hợp. 2.2. Quyền thừa kế Theo pháp luật dân sự, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người những người còn sống. Khái niệm quyền thừa kế được hiểu theo ba nghĩa sau: Theo nghĩa thứ nhất: Quyền thừa kế là một loại quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các chủ thể tham gia là những người được hưởng di sản của người chết theo một trình tự nhất định, xác định nội dung quyền nhận, khước từ hưởng di sản thừa kế của những người thừa kế đó. Theo nghĩa thứ hai: Quyền thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, tổng hợp các quy phạm pháp luật về thừa kế, quy định việc bảo vệ và điều chỉnh trình tự chuyển tài sản và quyền tài sản của người chết cho những người khác còn sống. Theo nghĩa thứ ba: Quyền thừa kế còn là quyền của chủ thể thừa kế (người được thừa kế). 2.2.1. Những quy định chung của pháp luật về thừa kế Người để lại di sản thừa kế: việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài sản chết. Người để lại di sản có thể là người đã thành niên, người chưa thành niên có tài sản riêng. Người để lại di sản là người mà sau khi chết có tài sản để lại cho người khác theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người để lại di sản thừa kế chỉ có thể là công dân (bao gồm cả người nước ngoài). Di sản thừa kế theo quy định tại Điều 637 – Bộ Luật Dân sự gồm: tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác; quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế. Di sản thừa kế phải là tài sản thuộc sở hữu của người đã chết, gồm quyền tài sản và cả nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Người thừa kế: là người được người chết để lại cho di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Người được thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân, nhưng thừa kế theo di chúc thì người kế là cá nhân, tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, cơ quan Nhà nước. Người thừa kế theo pháp luật phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Theo Điều 636 – Bộ Luật Dân sự thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày mà Toà án tuyên bố người đó chết. Con của người để lại di sản sinh ra sau thời điểm người để lại di sản chết cũng vẫn là người thừa kế theo luật hoặc theo di chúc của người đó. Người thừa kế 90
  38. theo di chúc nếu là cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội thì những tổ chức được thừa kế phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế và thời điểm chia thừa kế. Những người thừa kế không có quyền được hưởng di sản. (Theo Điều 646 – Bộ Luật dân sự) bao gồm: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó. Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. Việc xác định vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng phải căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền được hưởng. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 2.2.2. Các loại thừa kế Thừa kế theo di chúc: là việc chuyển di sản thừa kế (tài sản, quyền về tài sản) của người chết cho những người còn sống theo sự định đoạt của người đó khi còn sống. Cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên mà không đủ khả năng lao động hoặc túng thiếu, con chưa thành niên được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Thừa kế theo pháp luật: là việc để lại tài sản của người chết cho những người thừa kế không phải theo di chúc, mà theo các quy định của pháp luật về thừa kế. Theo Điều 678 – Bộ Luật Dân sự thì việc thừa kế theo pháp luật áp dụng trong các trường hợp sau: không có di chúc; di chúc không hợp pháp; những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, không còn ai vào thời điểm mở thừa kế; những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà họ không có quyền hưởng di sản hoặc tự họ từ chối quyền hưởng di sản; phần di sản không được định đoạt trong di chúc hoặc phần di sản liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật. Những người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật được xác định trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ vợ chồng và quan hệ nuôi dưỡng, căn cứ vào mức độ gần gũi, trách nhiệm nuôi dưỡng trong mối quan hệ với người để lại di sản. Những người thuộc diện thừa kế theo luật chia làm 3 hàng sau: Hàng thứ nhất gồm: vợ, chồng, bố, mẹ (đẻ, nuôi), con (đẻ, nuôi); Hàng thứ hai gồm: ông, bà (nội, ngoại), anh, chị, em ruột của người chết; Hàng thứ ba gồm: các anh chị em ruột của bố, mẹ người chết, các con của anh chị em ruột của người chết. 91
  39. Thừa kế thế vị: là việc các con (hoặc cháu) được thay thế vào vị trí của bố, mẹ (ông, bà) để hưởng di sản của ông, bà (các cụ) trong trường hợp bố, mẹ (ông, bà) chết trước người để lại di sản thừa kế. Người thừa kế chỉ được hưởng đúng phần di sản mà bố, mẹ mình (ông, bà) đáng lẽ được hưởng nếu họ còn sống. 2.3. Các quyền thân nhân Quyền thân nhân là những quyền luôn gắn với một con người cụ thể, không tự chuyển dịch được, bao gồm 3 loại sau: - Những quan hệ về danh dự, uy tín, tên gọi của công dân hay tổ chức cụ thể; - Quan hệ về quyền tác giả, tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình nghiên cứu về khoa học xã hội, tự nhiên; - Quan hệ về quyền sử hữu công nghiệp đối với các sáng chế, phát minh, kiểu dánh sản phẩm, hàng hoá. 2.4. Nghĩa vụ và hợp đồng dân sự 2.4.1. Nghĩa vụ Là những quan hệ pháp luật dân sự, trong đó người trái (bên phải thực hiện nghĩa vụ) phải thực hiện những hành vi nhất định vì lợi ích của người bên kia như: trả lại tài sản, phục hồi nguyên trạng tài sản, chữa bệnh, Người phải có quyền yêu cầu người trái phải thực hiện các hành vi đó, nếu không sẽ khởi kiện theo pháp luật để Nhà nước cưỡng chế. 2.4.2. Hợp đồng dân sự Là sự thoả thuận giữa hai bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự trong mua, bán, thuê, mượn, cho, tặng làm hoặc không làm một việc và các thoả thuận khác nhằm đáp ứng các nhu cầu hợp pháp của các bên hợp đồng. Hợp đồng dân sự có các hình thức cơ bản sau: hợp đồng miệng, hợp đồng viết tay; hợp đồng bằng văn bản có chứng thực của Nhà nước mới có hiệu lực (hợp đồng mua, bán nhà, hợp đồng liên doanh, liên kết, ). Hợp đồng vô hiệu là những hợp đồng có nội dung hoặc hình thức vi phạm pháp luật, Nhà nước không bảo hộ quyền lợi của mỗi bên. Nếu hợp đồng vô hiệu toàn bộ thì Nhà nước huỷ hợp đồng đó, nếu hợp đồng vô hiệu từng phần thì Nhà nước cho các bên tự lựa chọn có huỷ hay không, nhưng phần vô hiệu trong hợp đồng phải được sửa đổi cho hợp pháp luật nếu tiếp tục thực hiện. 2.5. Trách nhiệm dân dự Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, trong đó Nhà nước yêu cầu các bên tham gia quan hệ dân sự phải thực hiện bồi thường vật chất và tinh 92
  40. thần giữa các bên một cách công bằng, thoả đáng như bồi thường do gây thiệt hại vật chất, sức khoẻ ngoài hợp đồng, bồi thường theo nghĩa vụ hợp đồng, công khai xin lỗi, cải chính khi xâm phạm lợi ích tinh thần, quyền tác giả, 3. Trình tự, thủ tục xét xử và giải quyết các vụ kiện dân sự 3.1. Toà án thụ lý vụ án Là việc Toà án nhân dân chấp nhận đơn khởi kiện của công dân, tổ chức xã hội hay văn bản khởi tố của Viện kiểm sát. Nếu thấy việc đó thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì ghi vào sổ thụ lý của Toà án để giải quyết. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nộp đơn, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí ( Địều 37 – khoản 1 – Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989). 3.2. Giai đoạn điều tra và hoà giải Giai đoạn điều tra: kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ cần thiết, chuẩn bị cho giai đoạn xét xử. Giai đoạn hoà giải: là thủ tục bắt buộc, giúp các bên tự thoả thuận với nhau về các tranh chấp theo nguyên tắc tự định đoạt. Nếu hoà gải thành công thì vụ án không phải xét xử. 3.3. Giai đoạn xét xử sơ thẩm Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Toà án mở phiên toà sơ thẩm. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật thì Toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là Toà án xét xử sơ thẩm (xét xử lần đầu) hầu hết các vụ án dân sự như: thừa kế, hôn nhân và gia đình (ly hôn, huỷ hôn nhân trái pháp luật, xin xác định cha mẹ cho con ). 3.4. Xét xử sơ thẩm Là việc Toà án nhân dân cấp trên (Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, Toà án tối cao) trực tiếp hoặc giao cho Toàn án cấp dưới xét xử lại những bản án và quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật khi có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật, với mục đích là sửa chữa những sai lầm của Toà án cấp dưới trong các bản án chưa có hiệu lực pháp luật. 93
  41. 3.5. Giám đốc thẩm, tái thẩm Thủ tục giám đốc thẩm: được tiến hành đối với các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện thấy có sai lầm trong quá trình điều tra, xét xử. Thủ tục tái thẩm: được tiến hành đối với những bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện thấy tình tiết mới làm thay đổi tính chất của vụ án dân sự. 3.6. Thi hành án dân sự Là giai đoạn cuối cùng của tố tụng dân sự. Chỉ khi bản án, quyết định của Toà án nhân dân được thi hành xong thì quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân bị xâm phạm hay bị tranh chấp mới được bảo vệ trên thực tế . II. PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm Luật hôn nhân và gia đình là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ về nhân thân phi tài sản và những quan hệ về tài sản giữa vợ với chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa anh chị em, giữa ông bà và các cháu Đó là các quan hệ về: kết hôn, ly hôn, cấp dưỡng, nhận con nuôi, giám hộ, truy nhận cha mẹ cho con nhằm đảm bảo chế độ hôn nhân bình đẳng, tiến bộ, bảo vệ lợi ích bà mẹ và trẻ em, xây dựng già đình hạnh phúc, bền vững. 2. Những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú; Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ. 94
  42. 3. Một số nội dung cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình 3.1. Quan hệ vợ chồng Pháp luật cho phép nam đủ 20 tuổi, nữ đủ 18 tuổi, đang không có vợ có chồng, tự nguyện chung sống, không có quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời, không có các bệnh hoa liễu được kết hôn với nhau; vợ chống có nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho vợ thực hiện chức năng của người mẹ; vợ chồng có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, tự do hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội; vợ chồng có nghĩa vụ lựa chọn chổ ở, không bị rằng buộc bởi phong tục tập quan; vợ chồng có quyền sở hữu chung những tài sản làm ra trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền để tài sản riêng. Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau. 3.2. Chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân khi cả hai vợ chồng còn sống do một hoặc cả hai bên yêu cầu, được Toà án xét xử hay công nhận bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật. Những căn cứ cơ bản để Nhà nước cho ly hôn: do ngoại tình; do một bên phạm tội hình sự; do một bên bị tâm thần hoặc một bệnh khó chữa; do một bên bỏ nhà đi quá hai năm không có lý do; vợ chồng có mâu thuẩn trầm trọng về cách sống hoặc đối xử với nhau tệ bạc không con tình nghĩa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong trường họp vợ có thai chồng chỉ có thể ly hôn sau khi vợ đã sinh con được mật năm. Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của vợ. Khi ly hôn việc giao con cho ai nuôi phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của từng đứa con, về nguyên tắc con còn bú phải giao cho người mẹ nuôi giữ, người cha phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo tự nguyện hoặc do Toà án quy định mức cấp dưỡng. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên. Toà án chú trọng bảo vệ quyền lợi của người vợ và các con chưa thành niên. Sau khi ly hôn nếu một bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng, thì bên kia phải cấp dưỡng cho nhau theo mức thoả thuận, nếu không tự giác thì Toà án ra quyết định. 3.3. Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con cái Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con ngoài giá thú, khai nhận cha mẹ do Toà 95
  43. án quyết định trên cơ sở áp dụng biện pháp điều tra, giám định khoa học về gen di truyền . Cha mẹ có các quyền và nghĩa vụ sau đây với con cái: Nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức; quyền chi phối đương nhiên về mặt nhân thân của cha mẹ đối với con cái như: khai họ, đặt tên, khia dân tộc, quốc tịch, tên cha mẹ của đứa trẻ; nghĩa vụ đại diện cho con trước pháp luật: khi con chưa thành niện, trừ trường hợp pháp luật tước quyền chăm sóc con cái của cha hoặc mẹ; cha mẹ phải cấp dưỡng ăn học đầy đủ cho con vị thành niên trong phạm vi khả năng kinh tế, có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với hành vi trái pháp luật của con gây ra. 3.4. Những quy định về nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là sự thu nhận để nuôi dưỡng, giáo dục những đứa trẻ không phải do họ đẻ ra và được pháp luật thừa nhận, từ đó làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Điều kiện nhận nuôi con nuôi: đứa trẻ phải dưới 15 tuổi (trường hợp đối tượng là thương binh, người tàn tật thì có thể trên 15 tuổi) người nuôi phải hơn con nuôi ít nhất 20 tuôi. Việc nhận nuôi con nuôi phải được UBND cấp xã của người nuôi hoặc của người con nuôi công nhận. Sau khi được luật pháp công nhận thì giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ và các con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Quan hệ nuôi dưỡng có thể bị chấm dứt khi giữa người nuôi và con nuôi có hành vi xâm phạm nghiêm trọng thân thể, nhân phẩm lẫn nhau hoặc những hành vi khác làm cho tình cảm giữa người nuôi và con nuôi không còn nữa. 3.5. Chế độ đỡ đầu trẻ vị thành niên Đỡ đầu là trường hợp một người đã thành niên, có đủ các điều kiện xã hội cho phép nhận chăm sóc, giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi nhằm bảo đảm cuộc sống an toàn và sự phát triển bình thường của một vị thành niên. Thông thường cha mẹ là người đỡ đầu con cái, chăm lo giáo dục mọi mặt và đại diện cho con trước pháp luật. Nhưng có nhiều lý do khác nhau mà con cái phải xa cha mẹ, tách khỏi sự đỡ đầu của cha mẹ, khi đó chính quyền cơ sở thường đề nghị một cơ quan, đoàn thể nào đó đảm nhận việc đỡ đầu như: Hội phụ nữ, đoàn thanh niên, Nếu cá nhân thì người đỡ đầu phải đủ các điều kiện: Phải là công dân từ đủ 21 tuổi trở lên, có tư cách đạo đức tốt, có những điều kiện về thực tế để làm người đỡ đầu; UBND cấp xã làm thủ tục công nhận việc đỡ đầu và giám sát quá trình đỡ đầu đó, bảo đảm sự phát triển lành mạnh của trẻ vị thành niên đó; khi người đỡ đầu không còn đủ tư cách đạo đức thì UBND cấp xã cho người đủ điều kiện để thay người đỡ đầu. 96