Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật 1
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật 1", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_ly_luan_nha_nuoc_va_phap_luat_1.pdf
Nội dung text: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật 1
- TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TẬP MÔN HỌC LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 1 Biên soạn: Nguyễn Hữu Lạc Lưu hành nội bộ C ần Thơ, 6 /2010
- LỜI NÓI ĐẦU 1. Giới thiệu khái quát môn học Lý luận nhà nước và pháp luật là một trong hai học phần là môn học quan trọng trong hệ thống khoa học pháp lý. Dựa trên cơ sở học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí M inh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cũng như tri thức chung của nhân loại về nhà nước và pháp luật. Môn học này là một trong hai học phần lý luận nhà nước và pháp luật được viết để phục vụ cho sinh viên đang theo học chuyên ngành luật; Ở phần một này sẽ giúp cho người học có những kiến thức cơ bản về sự hình thành của nhà nước và pháp luật, bản chất của nhà nước và pháp luật qua các giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội. Đây là môn cơ sở, là nền tản giúp cho sinh viên nghiên cứu tốt các môn học khác (môn Luật hiến pháp, luật hình sự, luật hành chính, luật dân sự ) 2. Mục tiêu môn học Môn học này sẽ giúp cho người học có một cách nhìn tổng thể về nhà nước và pháp luật. Giúp người học nắm vững được bản chất của từng kiểu nhà nước, từng kiểu pháp luật. 3. Yêu cầu môn học: Người học cần nắm vững những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước và pháp luật, chức năng, vai trò, nhiệm vụ của nhà nước và pháp luật để từ đó nắm bắt các nội dung các môn học sau này. 4. Cấu trúc môn học: Môn học này được cấu trúc lại để phù hợp với nhu cầu học tập của sinh viên hệ đào tạo từ xa, nên môn học này được chia làm 8 chương như sau: Chương 1: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của lý luận về nhà nước và pháp luật Chương 2: Nguồn gốc của nhà nước và pháp luật Chương 3: Bản chất, các kiểu và hình thức nhà nước Chương 4: Bản chất, đặc trưng, vai trò, các kiểu và hình thức pháp luật. Chương 5: Nhà nước và pháp luật chủ nô Chương 6: Nhà nước và pháp luật phong kiến. Chương 7: Nhà nước và pháp luật tư sản. Chương 8: Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
- CHƯƠNG I ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 1. Đối tượng nghiên cứu của lý luận về nhà nước và pháp luật Lý luận về nhà nước và pháp luật với tư cách là một ngành khoa học pháp lý nghiên cứu đồng thời cả hai hiện tượng nhà nước và pháp luật. Lý luận về nhà nước và pháp luật nghiên cứu nhà nước và pháp luật một cách toàn diện. Đối tượng nghiên cứu của nó là những vấn đề chung, khái quát và cơ bản nhất, như: Các khái niệm, phạm trù về nguồn gốc, bản chất, chức năng, hình thức, vai trò, giá trị xã hội của nhà nước và pháp luật. - Hệ thống các tri thức chung về nhà nước và pháp luật trong lịch sử: nhà nước và pháp luật chiếm hữu nô lệ, nhà nước và pháp luật phong kiến, nhà nước và pháp luật tư sản. - Hệ thống các tri thức chung của kiểu nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật là những quy luật đặc thù của sự ra đời, hình thành, phát triển, những đặc tính chung và những biểu hiện quan trọng nhất của nhà nước và pháp luật. 2. Lý luận về nhà nước và pháp luật trong hệ thống khoa học xã hội và khoa học pháp lý Khoa học pháp lý - khoa học về nhà nước và pháp luật - là một bộ phận của khoa học xã hội. Khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật là một ngành khoa học xã hội bởi nó nghiên cứu hai hiện tượng xã hội là nhà nước và pháp luật. Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội phức tạp và đa dạng được nhiều ngành khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau như: Triết học Mác - Lênin nghiên cứu nhà nước và PL cùng với việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội khác để rút ra những quy luật vận động và phát triển chung của XH Lịch sử nhà nước và pháp luật lại nghiên cứu nhà nước và pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể để tìm ra những đặc thù trong sự phát triển của nhà nước và pháp luật trong từng hoàn cảnh cụ thể
- Lý luận nhà nước và pháp luật có quan hệ với nhiều bộ môn khoa học khác như: Triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử), kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học Trong mối liên hệ với triết học duy vật biện chứng, triết học duy vật biện chứng đã trang bị cho lý luận về nhà nước và pháp luật phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu. Đối với triết học duy vật lịch sử, lý luận về nhà nước và pháp luật là sự tiếp tục trực tiếp các nguyên lý triết học chung của chủ nghĩa duy vật lịch sử về bản chất của nhà nước và pháp luật, sự tác động qua lại của nhà nước và pháp luật với cơ sở kinh tế và sự biến đổi của chúng theo sự phát triển của đời sống xã hội. Kinh tế chính trị học là khoa học về những quy luật quan hệ sản xuất - cơ sở kinh tế của xã hội. Những khái niệm của kinh tế chính trị học như: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, sở hữu có ý nghĩa to lớn đối với lý luận về nhà nước và pháp luật. Chính trị học nghiên cứu các quy luật và tính quy luật trong sự hình thành, phát triển của chính trị, của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước cùng những cơ chế, phương thức, cách thức sử dụng các quy luật đó trong xã hội được tổ chức thành nhà nước. Đối với chủ nghĩa xã hội khoa học, trong quá trình nghiên cứu, lý luận nhà nước và pháp luật vận dụng các quan điểm và kết luận của chủ nghĩa xã hội khoa học để giải thích các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của mình Trong hệ thống các khoa học pháp lý, lý luận về nhà nước và pháp luật giữ vai trò là môn khoa học pháp lý cơ sở có tính chất phương pháp luận để nhận thức đúng đắn các vấn đề có tính bản chất, các quy luật của nhà nước và pháp luật 3. Phương pháp nghiên cứu của lý luận về nhà nước và pháp luật Phương pháp nghiên cứu là những nguyên tắc và cách thức hoạt động khoa học nhằm đạt tới chân lý khách quan dựa trên cơ sở của sự chứng minh khoa học Lý luận về nhà nước và pháp luật có cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. * Phương pháp luận Mác - Lênin đòi hỏi khi nghiên cứu nhà nước và pháp luật phải xuất phát từ hai quan điểm sau: - Quan điểm duy vật: nhà nước và pháp luật phải được nghiên cứu trong mối liên hệ với đời sống vật chất của xã hội, coi đó là nguồn gốc sâu xa của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của nhà nước và pháp luật.
- - Quan điểm biện chứng: nghiên cứu nhà nước và pháp luật phải đặt trong sự vận động, phát triển, biến đổi, trong những mối liên hệ biện chứng và những mâu thuẫn vốn có của nó. * Phương pháp trừu tượng khoa học có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu nhà nước và pháp luật. Trừu tượng khoa học là phương pháp tư duy trên cơ sở tách cái chung khỏi các riêng, tạm thời gạt bỏ cái riêng, giữ lấy cái chung. Bằng cách trừu tượng hoá, gạt bỏ những cái ngẫu nhiên, thoáng qua, không ổn định để đi vào cái chung, cái tất yếu, ổn định, bản chất, tức là quy luật của khách thể. * Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu nhà nước và pháp luật. Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn thể hay hiện tượng phức tạp ra thành những bộ phận hoặc những mặt, những yếu tố cấu thành đơn giản hơn. Nhờ phương pháp phân tích mà nhận thức một cách sâu sắc từng góc cạnh của hiện tượng nhà nước và pháp luật. Tổng hợp là phương pháp liên kết, thống nhất lại các bộ phận, các yếu tố, các mặt đã được phân tích, vạch ra mối liên hệ của chúng nhằm nhận thức sự vật hiện tượng trong tính tổng thể. * Phương pháp quy nạp là đi từ nhận thức những sự vật riêng lẻ, từ những kinh nghiệm đến những nguyên lý chung, tức là phương pháp đi từ cái riêng đến cái chung; * Phương pháp diễn dịch là phương pháp đi từ những tri thức chung đến tri thức về cái riêng. * Phương pháp phân tích thuần tuý quy phạm: nghiên cứu các hiện tượng pháp lý, phân loại, xử lý làm sáng tỏ cấu trúc pháp lý của chúng, làm rõ mối quan hệ lô gích của các quy phạm pháp luật, qua đó khắc phục các mâu thuẫn. * Phương pháp so sánh pháp luật: trên cơ sở của phương pháp này, các hiện tượng pháp lý, sự kiện pháp lý được nghiên cứu trong mối quan hệ so sánh với nhau. Việc so sánh có thể được tiến hành ở các mức độ khác nhau, từ việc so sánh hệ thống pháp luật với hệ thống pháp luật, ngành luật với ngành luật trên cơ sở đó rút ra những nét giống nhau, khác nhau, đặc thù của các hiện tượng được nghiên cứu. * Phương pháp xã hội học: (theo dõi, phỏng vấn, thăm dò dư luận ) để nắm được những thông tin, tư liệu thực tiễn, thể hiện những quan niệm, quan điểm trong xã hội về các vấn đề khác nhau của nhà nước và pháp luật từ đó, hình
- thành hoặc kiểm nghiệm lại những luận điểm, quan điểm, khái niệm,kết luận của lý luận về nhà nước và pháp luật. * Tóm lại, khi nghiên cứu nhà nước và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật phải dựa trên cơ sở của phương pháp luận Mác - Lênin và cần sử dụng tổng thể các phương pháp nghiên cứu. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Tại sao Khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật lại là một ngành khoa học xã hội? 2. Phân tích đối tượng nghiên cứu của khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật? 3. Phân tích phương pháp luận và phương pháp so sánh của khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật? 4. Phân tích vị trí của khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật trong hệ thống các khoa học pháp lý? 5. Phân biệt khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật và môn học lý luận chung về nhà nước và pháp luật. CHƯƠNG II NGUỒN GỐC CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
- 1. Nguồn gốc của Nhà nước 1.1. Các học thuyết phi Mác-xít về nguồn gốc của Nhà nước - Thuyết thần quyền: cho rằng thượng đế chính là người sắp đặt trật tự xã hội, thượng đế đã sáng tạo ra nhà nước nhằm bảo vệ trật tự chung, nhà nước là một sản phẩm của thượng đế. - Thuyết gia trưởng: cho rằng nhà nước xuất hiện chính là kết quả sự phát triển của gia đình và quyền gia trưởng, thực chất nhà nước chính là mô hình của một gia tộc mở rộng và quyền lực nhà nước chính là từ quyền gia trưởng được nâng cao lên – hình thức tổ chức tự nhiên của xã hội loài người. - Thuyết bạo lực: cho rằng nhà nước xuất hiện trực tiếp từ các cuộc chiến tranh xâm lược chiếm đất, là việc sử dụng bạo lực của thị tộc đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng đặt ra một hệ thống cơ quan đặc biệt – nhà nước – để nô dịch kẻ chiến bại. - Thuyết tâm lý: cho rằng nhà nước xuất hiện do nhu cầu về tâm lý của con người nguyên thủy luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ, - Thuyết “khế ước xã hội”: cho rằng sự ra đời của nhà nước là sản phẩm của một khế ước xã hội được ký kết trước hết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, trong trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình , các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kết khế ước mới. 1.2. Quá trình hình thành của Nhà nước theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin Chủ nghĩa Mác-LêNin cho rằng: - Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, nhưng không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến. Nhà nước luôn vận động, phát triển và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của chúng không còn nữa. - Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định. Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy. Nhà nước chỉ xuất hiện ở nơi nào và thời gian nào khi đã xuất hiện sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng. * Quá trình hình thành Nhà nước:
- Chế độ Cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc bộ lạc và quyền lực xã hội: - Cơ sở kinh tế: chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, không ai có tài sản riêng, không có người giàu kẻ nghèo, không có sự chiếm đoạt tài sản của người khác. - Cơ sở xã hội: trên cơ sở thị tộc, thị tộc là một tổ chức lao động và sản xuất, một đơn vị kinh tế - xã hội. Thị tộc được tổ chức theo huyết thống. Xã hội chưa phân chia giai cấp và không có đấu tranh giai cấp. - Quyền lực xã hội: quyền lực chưa tách ra khỏi xã hội mà vẫn gắn liền với xã hội, hòa nhập với xã hội. Quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra và phục vụ lợi ích của cả cộng đồng. - Tổ chức quản lý: Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc, bao gồm tất cả những người lớn tuổi không phân biệt nam hay nữ trong thị tộc. Quyết định của Hội đồng thị tộc là sự thể hiện ý chí chung của cả thị tộc và có tính bắt buộc đối với mọi thành viên. Hội đồng thị tộc bầu ra người đứng đầu như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự, để thực hiện quyền lực và quản lý các công việc chung của thị tộc. * Sự tan rã của tổ chức thị tộc bộ lạc và sự xuất hiện Nhà nước: Sự chuyển biến kinh tế và xã hội: - Thay đổi từ sự phát triển của lực lượng sản xuất. Các công cụ lao động bằng đồng, sắt thay thế cho công cụ bằng đá và được cải tiến. Con người phát triển hơn cả về thể lực và trí lực, kinh nghiệm lao động đã được tích lũy. - Ba lần phân công lao động là những bước tiến lớn của xã hội, gia tăng sự tích tụ tài sản và góp phần hình thành và phát triển chế độ tư hữu. - Sự xuất hiện gia đình và trở thành lực lượng đe dọa sự tồn tại của thị tộc. Chế độ tư hữu được củng cố và phát triển. - Sự phân biệt kẻ giàu người nghèo và mâu thuẫn giai cấp ngày càng gia tăng. Sự tan rã của tổ chức thị tộc – bộ lạc: những yếu tố mới xuất hiện đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, chế độ thị tộc đã tỏ ra bất lực. - Nền kinh tế mới làm phá vỡ cuộc sống định cư của thị tộc. Sự phân công lao động và nguyên tắc phân phối bình quân sản phẩm của xã hội công xã nguyên thủy không còn phù hợp. - Chế độ tư hữu, sự chênh lệch giữa giàu nghèo, sự mâu thuẫn giai cấp đã phá vỡ chế độ sở hữu chung và bình đẳng của xã hội công xã nguyên thủy.
- - Xã hội cần có một tổ chức đủ sức giải quyết các nhu cầu chung của cộng đồng, xã hội cần phát triển trong một trật tự nhất định. - Xã hội cần có một tổ chức mới phù hợp với cơ sở kinh tế và xã hội mới. Sự xuất hiện nhà nước, nhà nước “không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội” mà là “một lực lượng nảy sinh từ xã hội”, một lực lượng “tựa hồ đứng trên xã hội”, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong một “trật tự”. * Điểm qua sự ra đời của một số nhà nước điển hình: - Nhà nước Aten: là hình thức thuần túy nhất, nhà nước nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai cấp và phát triển ngay trong nội bộ xã hội thị tộc. Từ cuộc cách mạng Xô-lông (594TCN) và Klix-phe (509TCN) dẫn đến sự tan rã toàn bộ chế độ thị tộc, hình thành Nhà nước vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên. - Nhà nước Rôma: hình thành vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, từ cuộc đấu tranh bởi những người thường dân (Ple-bêi) chống lại giới quý tộc thị tộc La Mã (Pá- tri-sép). - Nhà nước Giéc-manh: hình thành khoảng giữa thế kỷ V trước công nguyên, từ việc người Giéc-manh xâm chiếm vùng lãnh thổ rộng lớn của đế chế La Mã cổ đại. Do Nhà nước hình thành không do sự đấu tranh giai cấp, xã hội Giéc-manh vẫn tồn tại chế độ thị tộc, sự phân hóa giai cấp chỉ mới bắt đầu và còn mờ nhạt. - Sự xuất hiện Nhà nước ở các quốc gia phương Đông: + Nhà nước Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập cổ đại, được hình thành từ rất sớm, hơn 3000 năm trước công nguyên. + Nhu cầu trị thủy và chống giặc ngoại xâm đã trở thành yếu tố thúc đẩy và mang tính đặc thù trong sự ra đời nhà nước của các quốc gia phương Đông. + Ở Việt Nam, từ sự hình thành phôi thai của Nhà nước cuối thời Hùng Vương – Văn Lang đến Nhà nước sơ khai thời An Dương Vương – Âu Lạc năm 208 trước công nguyên. So với tổ chức thị tộc trước kia, thì nhà nước có hai đặc trưng cơ bản là phân chia dân cư theo lãnh thổ và thiết lập quyền lực công cộng (không còn hòa nhập với dân cư nữa). 2. Nguồn gốc của pháp luật
- Những nguyên nhân làm phát sinh nhà nước cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật. Pháp luật được hình thành từ hai con đường: - Thứ nhất, nhà nước ghi nhận các phong tục tập quán hình thành trong dân cư phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và nâng chúng lên thành luật. - Thứ hai, nhà nước ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật Câu hỏi ôn tập A. Câu hỏi tự luận 1. Phân tích nội dung cac học thuyết phi Mác xít bàn về nguồn gốc và bản chất nhà nước. 2. Trình bày nguồn gốc ra đời của nhà nước. 3. Phân tích bản chất của nhà nước. 4. Phân tích vị trí, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp. B. Câu hỏi nhận định Hãy trình bày quan điểm riêng của anh (chị) về các nhận định sau đây theo hướng đúng hay sai? Giải thích tại sao? 1. Tập quán và những tín điều tôn giáo trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ chính là pháp luật bởi đó chính là những quy tắc xử sự hình thành trật tự của xã hội. 2. Nguyên nhân của sự hình thành pháp luật chính là nhu cầu quản lý và phát triển của xã hội. 3. Pháp luật chỉ có thể được hình thành bằng con đường ban hành của Nhà nước. 4. Nền chính trị của giai cấp cầm quyền quy định bản chất, nội dung của pháp luật. 5. Pháp luật là phương tiện mô hình hóa cách thức xử sự của con người. 6. Lợi ích giai cấp thống trị luôn là sự ưu tiên và luôn là được lựa chọn có tính quyết định khi hình thành các quy định pháp luật. 7. Pháp luật sẽ quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của kinh tế. 8. Pháp luật luôn tác động tích cực đối với kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển. 9. Pháp luật là tiêu chuẩn (chuẩn mực) duy nhất đánh giá hành vi của con
- người. 10. Ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, chính xác thể hiện tính quy phạm phổ biến của pháp luật. 11. Việc pháp luật đưa ra khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người thể hiện tính xác định chặt chẽ về hình thức của pháp luật. 12. Tính được bảo đảm bởi nhà nước của pháp luật đòi hỏi các quan hệ xã hội đã chịu sự điều chỉnh của pháp luật thì không thể chịu sự điều chỉnh của các quy phạm xã hội khác. 13. Chức năng bảo vệ của pháp luật thể hiện ở việc pháp luật ghi nhận các quan hệ chủ yếu trong xã hội. 14. Chức năng điều chỉnh của pháp luật chính là việc pháp luật tác động vào ý thức con người, từ đó con người lựa chọn cách xử sự phù hợp với quy định của pháp luật. 15. Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật lạc hậu, thể hiện trình độ pháp lý thấp. 16. Tập quán pháp và tiền lệ pháp có điểm chung là cùng dựa trên cơ sở các quy tắc xử sự đã tồn tại trong cuộc sống để hình thành các quy định pháp luật. 17. Các nhà nước xã hội chủ nghĩa không áp dụng hình thức tập quán pháp và tiền lệ pháp. 18. Nhà nước ban hành pháp luật, do vậy không phải trong mọi trường hợp nhà nước đều tôn trọng pháp luật, tổ chức và hoạt động đều phải trong khuôn khổ pháp luật. CHƯƠNG III BẢN CHẤT, CÁC KIỂU VÀ CÁC HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm và nội dung bản chất của nhà nước
- - Bản chất là toàn bộ những mối liên hệ, quan hệ sâu sắc và những quy luật bên trong quyết định những đặc điểm và khuynh hướng phát triển cơ bản của hệ thống vật chất. - Khái niệm bản chất của nhà nước: là tất cả những phương diện (những mặt) cơ bản quy định sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, thể hiện ở 2 phương diện giai cấp và xã hội quy định sự tồn tại và phát triển của nhà nước. - Ý nghĩa của việc nghiên cứu bản chất Nhà nước: cơ sở lý giải về các hiện tượng của nhà nước; hiểu và nắm bắt được quy luật vận động của Nhà nước; từ việc hiểu đúng bản chất của Nhà nước, để có được định nghĩa đầy đủ và bao quát nhất về Nhà nước. 1.1. Tính giai cấp Nhà nước thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Sự thống trị thể hiện dưới 3 mặt: - Thống trị (quyền lực) kinh tế: có vai trò quyết định, tạo ra sự lệ thuộc về mặt kinh tế của người bị bóc lột đối với giai cấp thống trị. - Thống trị (quyền lực) chính trị: có vai trò duy trì quan hệ bóc lột, là bạo lực có tổ chức của giai cấp nhằm đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị trong xã hội. - Thống trị (quyền lực) tư tưởng: là sự thống trị về mặt tinh thần, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị được xây dựng và thông qua con đường nhà nước trở thành hệ tư tưởng thống trị trong toàn xã hội 1.2. Tính xã hội Nhà nước còn thực hiện chức năng xã hội, phải giải quyết các vấn đề khác trong xã hội. Bên cạnh tính giai cấp, Nhà nước còn phải phản ánh lợi ích của các tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội. 2. Các dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước - Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt. - Nhà nước có lãnh thổ và quản lý dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ. - Nhà nước có chủ quyền quốc gia - Chỉ Nhà nước được quyền ban hành pháp luật và bảo đảm sự thực hiện pháp luật - Nhà nước qui định và tổ chức thu thuế dưới hình thức bắt buộc
- Định nghĩa nhà nước: Nhà nước là hình thức (phương thức) tổ chức xã hội có giai cấp, là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có chức năng quản lý xã hội để phục vụ lợi ích trước hết cho giai cấp thống trị và thực hiện những hoạt động chung nảy sinh từ bản chất của xã hội. 3. Khái niệm chức năng của nhà nước và bộ máy nhà nước 3.1 Chức năng của nhà nước Bản chất, vai trò của nhà nước được thể hiện trực tiếp trong nhiệm vụ và chức năng của nhà nước: Nhiệm vụ của nhà nước là mục tiêu mà nhà nước hướng tới, là những vấn đề đặt ra mà nhà nước cần giải quyết. Nhiệm vụ của nhà nước tuỳ thuộc vào bản chất và vai trò xã hội của nhà nước, vào điều kiện lịch sử của mỗi quốc gia qua từng giai đoạn cụ thể. Chức năng của nhà nước là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước. Chức năng và nhiệm vụ của nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau. Một nhiệm vụ của nhà nước làm phát sinh một hoặc nhiều chức năng và ngược lại một chức năng của nhà nước có thể nhằm thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ. Chức năng của nhà nước được quy định bởi bản chất của nhà nước. Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa khác với chức năng của các nhà nước bóc lột ở nội dung và hình thức thực hiện. Chức năng của nhà nước được thực hiện bởi bộ máy nhà nước. Do đó, khi nghiên cứu về vấn đề này cần phân biệt giữa chức năng của nhà nước và chức năng của cơ quan nhà nước. Chức năng của nhà nước như đã nêu, là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước mà mỗi cơ quan nhà nước đều phải tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau. Chức năng của cơ quan nhà nước chỉ là những phương diện hoạt động của cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện chức năng chung của nhà nước. Chức năng của nhà nước phân loại thành: + Chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại; + Chức năng cơ bản và các chức năng không cơ bản; + Chức năng lâu dài và chức năng tạm thời
- Tuy nhiên trong số các cách phân loại ở trên thì thông dụng nhất vẫn là cách phân chức năng nhà nước thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại căn cứ trên cơ sở đối tượng tác động của chức năng Chức năng đối nội của nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước trong nội bộ của đất nước. Chức năng đối ngoại của nhà nước là những hoạt động cơ bản của đất nước với các quốc gia khác, dân tộc khác. Các chức năng của nhà nước được thực hiện bằng những hình thức và phương pháp nhất định. Các hình thức pháp lý cơ bản để thực hiện chức năng của nhà nước bao gồm: hoạt động lập pháp, hoạt động chấp hành pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật. Các phương pháp cơ bản để thực hiện chức năng của nhà nước là phương pháp giáo dục, thuyết phục và phương pháp cưỡng chế. 3.2. Bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương, tổ chức và hoạt động trên những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Các yếu tố hợp thành bộ máy nhà nước là cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước rất đa dạng. Tuy nhiên, thông thường cơ quan nhà nước bao gồm 3 loại: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp Tất cả các cơ quan nhà nước tạo thành bộ máy nhà nước, nhưng bộ máy nhà nước không phải là tập hợp đơn giản các cơ quan nhà nước, mà là hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước. Yếu tố tạo nên sự thống nhất trong bộ máy nhà nước là hệ thống các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nước là một tổ chức có tính độc lập tương đối về mặt tổ chức - cơ cấu, bao gồm những cán bộ, công chức được giao những quyền hạn nhất định để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của cơ quan đó trong phạm vi do pháp luật quy định. Cơ quan nhà nước có các đặc điểm sau: - Là một tổ chức công quyền, có tính độc lập tương đối với các cơ quan nhà nước khác.
- - CQNN mang quyền lực nhà nước - Thẩm quyền của CQNN có những giới hạn về không gian, thời gian và đối tượng chịu sự tác động - M ỗi CQNN có hình thức và phương pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định. - CQNN chỉ hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình và trong phạm vi đó, nó hoạt động độc lập, chủ động và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình 4. Các kiểu Nhà nước Kiểu nhà nước là tổng thể các đặc trưng (dấu hiệu) cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội và những điều kiện phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Trong lịch sử nhân loại tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội: Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư sản và xã hội chủ nghĩa. Tương ứng với bốn hình thái kinh tế xã hội đó, có bốn kiểu nhà nước, đó là: Kiểu nhà nước chủ nô Kiểu nhà nước phong kiến Kiểu nhà nước tư sản Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa 5. Hình thức nhà nước Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và những biện pháp để tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức nhà nước được hình thành từ 3 yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị. 5.1. Hình thức chính thể Hình thức chính thể là cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ giữa chúng và mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này. Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ (hay một phần) vào trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế. Hình thức chính thể quân chủ được chia thành quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế.
- Ở các quốc gia có hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối, vua (hoàng đế ) có quyền lực vô hạn, các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tối cao đều nằm trong tay người đứng đầu nhà nước. Hình thức này chủ yếu tồn tại trong hai kiểu nhà nước đầu tiên là nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến, ví dụ như Nhà nước phong kiến Việt Nam Trong nhà nước có chính thể quân chủ hạn chế, người đứng đầu nhà nước hình thành bằng con đường truyền ngôi chỉ nắm một phần quyền lực nhà nước tối cao, bên cạnh họ có các cơ quan nhà nước hình thành bằng con đường bầu cử chia sẻ quyền lực nhà nước với họ; Chính thể cộng hoà là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về những cơ quan đại diện được bầu ra trong một thời hạn nhất định. Chính thể cộng hoà cũng có hai biến dạng là cộng hoà dân chủ và cộng hoà quý tộc. Chính thể cộng hoà dân chủ: quyền tham gia bầu cử để thành lập các cơ quan đại diện được quy định dành cho mọi công dân. Chính thể cộng hoà quý tộc: quyền bầu cử hình thành các cơ quan đại diện chỉ dành cho giai cấp quý tộc. 5.2. Hình thức cấu trúc Hình thức cấu trúc nhà nước là sự tổ chức nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành của nó, giữa cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước địa phương. Có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản là cấu trúc nhà nước đơn nhất và cấu trúc nhà nước liên bang. Hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất là hình thức trong đó lãnh thổ của nhà nước là toàn vẹn, thống nhất, nhà nước được chia thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ không có chủ quyền quốc gia, có hệ thống các cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương xuống đến địa phương. Nhà nước liên bang là những nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại. Trong nhà nước liên bang không chỉ có liên bang có dấu hiệu chủ quyền quốc gia mà trong từng bang thành viên đều có dấu hiệu chủ quyền, ví dụ: Ấn Độ và Liên Xô trước đây Ở nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và hai hệ thống cơ quan quản lý: một hệ thống chung cho toàn liên bang và một cho từng nhà nước thành viên.
- 5.3. Chế độ chính trị Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, biện pháp mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. Có thể phân các phương pháp, biện pháp này thành hai loại chính: phương pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ, tương ứng với hai phương pháp này có chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ. Trong chế độ chính trị dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng chủ yếu phương pháp giáo dục - thuyết phục. Tuy nhiên, phương pháp dân chủ có nhiều dạng khác nhau, phụ thuộc vào bản chất của từng nhà nước cụ thể, như: dân chủ hình thức, dân chủ thực sự, dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi Trong chế độ chính trị phản dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng các hình thức, phương pháp mang nặng tính cưỡng chế, đỉnh cao của chế độ này là chế độ độc tài, phát xít. CÂU HỎI ÔN TẬP A. Câu hỏi tự luận 1. Phân tích khái niệm kiểu nhà nước. 2. Phân tích khái niệm chức năng nhà nước. 3. Phân tích mối quan hệ giữa chức năng nhà nước với bộ máy nhà nước. 4. Trình bày những hiểu biết về hình thức nhà nước. B. Câu hỏi nhận định Hãy trình bày quan điểm riêng của anh (chị) về các nhận định sau đây theo hướng đúng hay sai? Giải thích tại sao? 1. Nhà nước là một hiện tượng có tính giai cấp có nghĩa là Nhà nước chỉ thuộc về một giai cấp hoặc một liên minh giai cấp nhất định trong xã hội. 2. Nhà nước mang tính giai cấp vì xét về nguồn gốc Nhà nước, Nhà nước ra đời khi mâu thuẫn giai cấp gay gắt đến mức độ không thể điều hòa được. 3. Quyền lực kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất so với quyền lực chính trị và tư tưởng bởi nó tạo nên sự lệ thuộc cơ bản nhất giữa giai cấp bị trị đối với giai cấp thống trị. 4. Quyền lực chính trị là cơ bản và quan trọng nhất so với quyền lực
- kinh tế và tư tưởng vì đó là sự bảo đảm cai trị bằng cưỡng chế của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị, là phương thức để giành chính quyền về tay giai cấp thống trị. 5. Quyền lực tư tưởng chỉ thể hiện vai trò quan trọng trong những nhà nước quân chủ mang nặng tính duy tâm. 6. Quyền lực tư tưởng của một nhà nước thể hiện ở sự thống trị và sự cho phép tồn tại duy nhất tư tưởng của giai cấp thống trị trong xã hội. 7. Bản chất của Nhà nước mang tính xã hội vì nhà nước chịu sự qui định bởi các điều kiện khách quan của xã hội. 8. Bản chất của Nhà nước mang tính xã hội vì Nhà nước chỉ có thể tồn tại trong một xã hội có giai cấp. 9. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-LêNin cho rằng mọi nhà nước đều phải mang tính giai cấp nhưng không phải nhà nước nào cũng mang tính xã hội. 10. Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước luôn luôn mâu thuẫn với nhau. CHƯƠNG IV BẢN CHẤT, ĐẶC TRƯNG, VAI TRÒ, CÁC KIỂU VÀ HÌNH THỨC PHÁP LUẬT 1. Bản chất và những đặc trưng cơ bản của pháp luật 1.1 Bản chất của pháp luật
- Pháp luật có 2 bản chất: tính giai cấp và tính xã hội. * Tính giai cấp: - Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị. - Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật * Tính xã hội - Thực tiễn pháp luật là kết quả của sự “chọn lọc tự nhiên” trong xã hội. - Quy phạm pháp luật vừa là thước đo của hành vi con người, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các QHXH, hướng chúng vận động, phát triển phù hợp với các quy luật khách quan Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội 1.2. Mối quan hệ của pháp luật với các hiện tượng xã hội khác. 1.2.1. Pháp luật với kinh tế - Pháp luật phụ thuộc vào kinh tế: các điều kiện kinh tế, quan hệ kinh tế không chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật, mà còn quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của pháp luật, trong đó: + Cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu hệ thống pháp luật; + Tính chất, nội dung của các quan hệ kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế quyết định tính chất nội dung của các quan hệ pháp luật, phạm vi điều chỉnh của pháp luật. + Chế độ kinh tế quyết định việc tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các thiết chế pháp lý. - Sự tác động trở lại của pháp luật đối với kinh tế theo 2 hướng: + Tác động tích cực: ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển khi pháp luật phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế-xã hội. + Tác động tiêu cực: cản trở, kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội khi pháp luật phản ánh không đúng trình độ phát triển kinh tế-xã hội. 1.2.2. Pháp luật với chính trị Đây là mối liên hệ giữa 2 yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, chúng có mối liên hệ tác động qua lại. Cụ thể:
- - Sự tác động của chính trị đối với pháp luật: nền chính trị của giai cấp cầm quyền quy định bản chất, nội dung của pháp luật. - Sự tác động của pháp luật đối với chính trị: + Pháp luật là hình thức, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. + Pháp luật là công cụ để chuyển hoá ý chí của giai cấp thống trị trở thành quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc đối với mọi người. 1.2.3. Pháp luật với Nhà nước Đây là mối quan hệ giữa 2 yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc, chúng có mối liên hệ tác động qua lại: - Sự tác động của Nhà nước đối với pháp luật: Nhà nước ban hành và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện trong cuộc sống. - Sự tác động của pháp luật đối với Nhà nước: quyền lực Nhà nước chỉ có thể được triển khai và có hiệu lực trên cơ sở pháp luật. Đồng thời, Nhà nước cũng phải tôn trọng pháp luật, tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. 1.2.4. Pháp luật với các quy phạm xã hội khác Pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác (quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm tập quán, quy phạm chính trị, ), cụ thể: - Pháp luật thể chế hoá nhiều quy phạm xã hội thành quy phạm pháp luật. - Pháp luật và các quy phạm xã hội khác có thể trùng hợp với nhau về phạm vi điều chỉnh và mục đích điều chỉnh. - Các loại quy phạm xã hội khác đóng vai trò hỗ trợ hoặc cản trở pháp luật phát huy hiệu lực, hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. 1.3. Những đặc trưng cơ bản của pháp luật 1.3.1 Tính quy phạm phổ biến * Tính quy phạm: - Pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người được xác định cụ thể. - Pháp luật đưa ra giới hạn cần thiết mà N hà nước quy định để các chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ pháp luật. * Tính phổ biến: - Pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, phổ biến và điển hình.
- - Pháp luật tác động đến tất cả các cá nhân, tổ chức trong những điều kiện, hoàn cảnh pháp luật đã quy định. 1.3.2. Tính quyền lực (cưỡng chế) Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Nhờ có tính cưỡng chế mà pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh. 1.3.3. Tính ý chí: Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền. Ý chí đó thể hiện rõ ở mục đích xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật và dự kiến hiệu ứng của pháp luật khi triển khai vào đời sống thực tế. 1.3.4. Tính xã hội (tính khách quan): Pháp luật phải phù hợp với thực tế khách quan, nhu cầu của xã hội. 2. Vai trò của pháp luật - Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước - Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế, xã hội. - Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới. - Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối bang giao giữa các quốc gia. 3. Các kiểu pháp luật Kiểu pháp luật là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù của pháp luật, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của pháp luật trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Để phân loại các kiểu pháp luật đã tồn tại trong lịch sử cần dựa vào hai tiêu chuẩn: Thứ nhất, pháp luật ấy ra đời và tồn tại trên cơ sở kinh tế nào? D o quan hệ sản xuất nào quyết định? Thứ hai, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp nào? Bảo vệ và củng cố quyền lợi của giai cấp nào? Tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp có các kiểu pháp luật : - Pháp luật Chủ nô. - Pháp luật phong kiến. - Pháp luật tư sản. - Pháp luật xã hội chủ nghĩa.
- 4. Các hình thức pháp luật 4.1. Khái niệm hình thức của pháp luật Hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình lên thành pháp luật. Hình thức pháp luật gồm: hình thức bên ngoài (nguồn của pháp luật ) và hình thức bên trong của pháp luật (cấu trúc của pháp luật). 4.2. Hình thức bên ngoài của pháp luật Hình thức bên ngoài của pháp luật là sự biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật. Dựa vào phương thức thể hiện ý chí của nhà nước thành pháp luật, ta có: Tập quán pháp, văn bản quy phạm pháp luật, tiền lệ pháp. - Tập quán pháp là những tập quán hình thành và lưu truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và được nhà nước thừa nhận, nâng chúng lên thành những quy tắc xử sự chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện. - Tiền lệ pháp là các quyết định của cơ quan hành chính hoặc xét xử được nhà nước thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự. - Văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung được áp dụng nhiều lần trong thực tế cuộc sống. Các văn bản quy phạm pháp luật chia làm 2 loại: văn bản luật và văn bản dưới luật 4.3. Hình thức bên trong của pháp luật Hình thức bên trong của pháp luật là hình thức cấu trúc của pháp luật. Pháp luật có các bộ phận cơ cấu, bao gồm: quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận. Quy phạm pháp luật là tế bào của hệ thống pháp luật. Chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội cùng loại, đồng tính chất trong cùng một ngành luật. Ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội bằng những phương pháp điều chỉnh đặc thù riêng.
- Câu hỏi ôn tập So sánh về các ưu và khuyết điểm của các hình thức pháp luật: tiền lệ pháp, tập quán pháp và văn bản pháp luật. CHƯƠNG V NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CHỦ NÔ 1. Nhà nước chủ nô 1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội và bản chất của nhà nước chủ nô. Nhà nước chủ nô là nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ. Là hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực thống trị của giai cấp chủ nô. Nhà nước chủ nô ra đời, tồn tại và phát triển dựa trên các quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại 2 giai cấp cơ bản: giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ.
- Giai cấp chủ nô là giai cấp thống trị mặc dù chỉ là thiểu số trong xã hội nhưng nắm hầu hết tư liệu sản xuất của xã hội và cả bản thân người lao động là nô lệ. Giai cấp nô lệ mặc dù chiếm đại đa số trong xã hội nhưng do không có tư liệu sản xuất trong tay và không làm chủ ngay cả chính bản thân mình nên họ hoàn toàn phụ thuộc vào giai cấp chủ nô cả về thể xác và tinh thần. Ngoài ra, xã hội chiếm hữu nô lệ còn những giai cấp và tầng lớp xã hội khác như: nông dân tư hữu, những người thợ thủ công, những người buôn bán Những người này về thân phận địa vị của họ trong xã hội không thấp kém như nô lệ nhưng so với giai cấp chủ nô họ có địa vị rất thấp và cũng chịu sự chi phối của giai cấp chủ nô. Nhà nước chủ nô cũng có 2 bản chất: tính giai cấp và tính xã hội. * Tính giai cấp Nhà nước chủ nô là công cụ bạo lực để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp chủ nô, duy trì sự thống trị mọi mặt của giai cấp chủ nô đối với nô lệ và các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội, duy trì tình trạng bất bình đẳng giữa chủ nô với nô lệ với các tầng lớp nhân dân lao động khác. * Tính xã hội Các nhà nước chủ nô ở các mức độ khác nhau đã tiến hành những hoạt động mang tính xã hội như: hoạt động làm thuỷ lợi ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương đông, xây dựng và bảo vệ các công trình công cộng, hay hoạt động phát triển kinh tế, thương mại ở Hy lạp 1.2. Chức năng của nhà nước chủ nô 1.2.1. Chức năng đối nội - Chức năng củng cố và bảo vệ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ - Chức năng đàn áp bằng quân sự đối với sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp nhân dân lao động khác - Chức năng đàn áp về mặt tư tưởng - Chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước chủ nô 1.2.2 Chức năng đối ngoại - Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược - Chức năng phòng thủ chống xâm lược 1.3 Hình thức nhà nước chiếm hữu nô lệ
- 1.3.1 Hình thức chính thể Lịch sử phát triển của nhà nước chủ nô gắn với các hình thức chính thể: quân chủ, cộng hoà dân chủ, cộng hoà quý tộc 1.3.2. Về hình thức cấu trúc nhà nước Tất cả các nhà nước chủ nô đều có cấu trúc nhà nước đơn nhất. 1.3.3. Về chế độ chính trị Ở các nước phương Đông chủ yếu tồn tại chế độ độc tài chuyên chế. Ở các nước phương Tây, chế độ chính trị đã mang tính dân chủ, tuy nhiên về bản chất đó chỉ là chế độ dân chủ chủ nô 2. Pháp luật chủ nô 2.1 Sự ra đời và bản chất của pháp luật chủ nô 2.1.1 Sự ra đời của pháp luật chủ nô Pháp luật chủ nô là kiểu pháp luật đầu tiên trong lịch sử, ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước chủ nô. Quá trình hình thành và phát triển cuả pháp luật chủ nô diễn ra chậm chạp trong một thời gian dài. Nó được hình thành đầu tiên trên cơ sở sự chuyển hoá của các tập quán, và sau đó là sự hình thành các văn bản quy phạm pháp luật của các nhà nước chủ nô. 2.1.2. Bản chất của pháp luật chủ nô * Tính giai cấp Pháp luật chủ nô là ý chí của giai cấp chủ nô được “đề lên thành luật”. Pháp luật chủ nô là công cụ để thiết lập, bảo vệ trật tự xã hội có lợi, phù hợp với lợi ích của giai cấp chủ nô. Củng cố và bảo vệ cơ sở kinh tế xã hội của XHCHNL, và địa vị thống trị của giai cấp chủ nô. * Tính xã hội Pháp luật chủ nô cũng là công cụ để duy trì trật tự xã hội quản lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho xã hội CHNL tồn tại và phát triển. Tuy nhiên tính xã hội của pháp luật chủ nô còn giới hạn trong phạm vi hẹp 2.2. Đặc điểm cơ bản của pháp luật chủ nô
- - Pháp luật chiếm hữu nô lệ củng cố cơ sở kinh tế của XHCHNL là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và đối với nô lệ, hợp pháp hoá chế độ bóc lột tàn nhẫn của chủ nô đối với nô lệ. - Pháp luật chủ nô ghi nhận củng cố tình trạng không bình đẳng trong xã hội. - Pháp luật chủ nô ghi nhận sự thống trị tuyệt đối của gia trưởng đối với vợ và các con trong gia đình. - Pháp luật chủ nô quy định những hình phạt dã man, tàn bạo - Pháp luật chủ nô có quan hệ mật thiết tới tôn giáo, đạo đức, luân lý và những quy tắc ứng xử trong gia đình cũng như trong xã hội. 2.3 Hình thức (nguồn) của pháp luật chủ nô Hình thức phổ biến của pháp luật chủ nô là tập quán pháp. Nhà nước chủ nô thừa nhận những tập quán xã hội cộng sản nguyên thuỷ thành pháp luật và bảo đảm cho chúng được thực hiện bằng pháp luật. - Ngoài tập quán pháp, các quyết định của cơ quan nhà nước chủ nô và cá nhân chủ nô khi giải quyết một trường hợp cụ thể cũng được thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết các trường hợp tương tự. - Giai đoạn sau, cùng với sự phát triển của chữ viết các nhà nước chủ nô ban hành các VBQPPL. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày những vấn đề cơ bản về nhà nước chủ nô. 2. Hãy phân tích nội dung của pháp luật chủ nô.
- CHƯƠNG VI NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN 1. Nhà nước phong kiến 1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội và bản chất của nhà nước phong kiến Nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước thứ hai ra đời trên cơ sở sự sụp đổ của xã hội chiếm hữu nô lệ, ở một số quốc gia nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước đầu tiên, ví dụ như Việt Nam, Triều Tiên Xã hội phong kiến có kết cấu giai cấp khá phức tạp. Trong xã hội có hai giai cấp chính là nông dân và địa chủ. Ngoài hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân, xã hội phong kiến còn có những tầng lớp khác nhau: tăng lữ, thợ thủ công, thương nhân, nô tỳ Tầng lớp nô tỳ chủ yếu phục vụ trong gia đình, không có vị trí đáng kể trong sản xuất. * Bản chất của nhà nước phong kiến Nhà nước phong kiến là công cụ chuyên chính chủ yếu của giai cấp địa chủ phong kiến để chống lại nông dân và những người lao động khác Nhà nước phong kiến duy trì địa vị kinh tế của giai cấp địa chủ phong kiến và thực hiện sự thống trị đối với toàn xã hội.
- Quyền lực nhà nước trong chế độ phong kiến là quyền lực được duy trì theo cách thức cha truyền con nối. Ngoài tính giai cấp, Nhà nước phong kiến cũng có tính xã hội: tiến hành các hoạt động kinh tế - xã hội vì sự phát triển đất nước, vì lợi ích của nhân dân trong nước. Tuy nhiên, sự quan tâm tới các hoạt động xã hội của nhà nước phong kiến chưa nhiều, chưa đúng với vị trí vai trò của nó trong xã hội. 1.2. Chức năng của nhà nước phong kiến 1.2.1 Chức năng đối nội - Chức năng bảo vệ và phát triển chế độ sở hữu phong kiến, duy trì sự bóc lột của phong kiến đối với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. - Chức năng đàn áp sự chống đối của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. - Chức năng đàn áp tư tưởng. 1.2.2. Các chức năng đối ngoại của nhà nước phong kiến - Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược. - Chức năng phòng thủ chống xâm lược. 1.3 Hình thức nhà nước phong kiến * Về hình thức chính thể: quân chủ phân quyền cát cứ, quân chủ trung ương tập quyền, quân chủ đại diện đẳng cấp và cộng hoà phong kiến. * Về hình thức cấu trúc: chủ yếu là cấu trúc đơn nhất (tập trung, đơn nhất chia lẻ). Đôi lúc cũng có cấu trúc liên bang: cộng hòa liên bang Gugenôtốp ở phía nam nước Pháp thế kỷ XVI. * Chế độ chính trị: biện pháp chủ yếu là lừa dối và bạo lực. nhà nước phong kiến công khai và hợp pháp hóa việc sử dụng bạo lực để quản lý nhà nước. 2. Pháp luật phong kiến 2.1. Bản chất của pháp luật phong kiến Về mặt bản chất giai cấp, pháp luật phong kiến thể hiện ý chí của giai cấp địa chủ, phong kiến, là phương tiện để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến, trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến. Về phương diện xã hội, Trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể pháp luật phong kiến không chỉ thể hiện ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến mà còn phản ánh ý chí chung của toàn xã hội.
- 2.2. Những đặc điểm cơ bản của pháp luật phong kiến - Pháp luật phong kiến là pháp luật đẳng cấp và đặc quyền - Pháp luật phong kiến mang tính dã man, tàn bạo. - Pháp luật phong kiến là pháp luật của kẻ mạnh. - Pháp luật phong kiến liên quan mật thiết tới tôn giáo và đạo đức phong kiến. 2.3. Hình thức của pháp luật phong kiến Hình thức phổ biến của pháp luật phong kiến là tập quán pháp. Bên cạnh luật của nhà vua còn có luật, lệ riêng của lãnh chúa phong kiến. Hình thức văn bản quy phạm pháp luật cũng phát triển với sự ra đời của nhiều bộ luật công phu. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày những vấn đề cơ bản về nhà nước phong kiến. 2. Hãy phân tích nội dung của pháp luật phong kiến.
- CHƯƠNG VII NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TƯ SẢN 1. Nhà nước tư sản 1.1. Sự ra đời, bản chất và quá trình phát triển của nhà nước tư sản * Sự ra đời của nhà nước tư sản Vào khoảng thế kỷ XV, XVI, một số nước Phong kiến Tây âu đã xuất hiện hàng loạt công trường thủ công và nhiều thành thị - là các trung tâm thương mại lớn. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự ra đời của lực lượng xã hội mới: tư sản và vô sản. Giai cấp tư sản được giao cho một sứ mạng cao cả là phải tiến hành cách mạng xã hội, thay thế hình thái kinh tế xã hội cũ bằng hình thái kinh tế xã hội mới, thiết lập hệ thống quan hệ sản xuất mới, tạo đà cho lực lượng sản xuất phát triển. Cách mạng tư sản được tiến hành dưới các hình thức cụ thể sau: 1. Khởi nghĩa vũ trang: hình thức này là hình thức cách mạng triệt để nhất, nó loại bỏ mọi tàn dư của xã hội phong kiến, thiết lập các nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ tư sản. 2. Cải cách tư sản: là hình thức cách mạng diễn ra dưới sự thoả hiệp giữa giai cấp tư sản với giai cấp quý tộc phong kiến, sử dụng vị trí của giai cấp mình trong nghị viện để loại bỏ dần những đặc quyền, đặc lợi của giai cấp quý tộc phong kiến, thâu tóm dần quyền lực chính trị về tay giai cấp mình. 3. Chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc áp đặt nhà nước tư sản lên đất đai và cư dân những miền đất “thuộc địa mới” vốn là thuộc địa của các nước Tư sản phát triển (Hợp chủng quốc Hoa kỳ, Canada, Ôxtrâylia). * Bản chất của nhà nước tư sản
- Bản chất của nhà nước tư sản do chính những điều kiện nội tại của xã hội Tư sản quyết định, đó chính là cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội và cơ sở tư tưởng. Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bản về tư liệu sản xuất ( chủ yếu dưới dạng nhà máy, hầm mỏ, đồn điền ), được thực hiện thông qua hình thức bóc lột giá trị thặng dư. Về xã hội, có hai giai cấp cơ bản là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản giữ vị trí thống trị, là giai cấp nắm hầu hết tư liệu sản xuất của xã hội, chiếm đoạt những nguồn tài sản lớn của xã hội. Giai cấp vô sản là lực lượng lao động chính trong xã hội. Về phương diện pháp lý họ được tự do, nhưng không có tư liệu sản xuất nên họ chỉ là người bán sức lao động cho giai cấp tư sản, là đội quân làm thuê cho giai cấp tư sản. Ngoài hai giai cấp chính nêu trên, trong xã hội tư sản còn có nhiều tầng lớp xã hội khác như: nông dân, tiểu tư sản, trí thức Về mặt tư tưởng giai cấp tư sản luôn tuyên truyền về tư tưởng dân chủ - đa nguyên, nhưng trên thực tế luôn tìm mọi cách đảm bảo địa vị độc tôn của ý thức hệ tư sản, ngăn cản mọi sự phát triển và tuyên truyền tư tưởng cách mạng, tiến bộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. 1.2 Chức năng của nhà nước tư sản 1.2.1 Chức năng đối nội * Chức năng củng cố, bảo vệ, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản Chức năng này bao hàm những nội dung sau: - Củng cố và bảo vệ chế độ tư hữu tư sản - Trấn áp các giai cấp bị trị về mặt chính trị - Trấn áp giai cấp bị trị về mặt tư tưởng * Chức năng kinh tế Sự biểu hiện của chức năng này thể hiện: - Nhà nước tư sản căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội để xây dựng và đưa ra các chương trình kinh tế cụ thể. - Nhà nước thông qua chương trình đầu tư tài chính nhằm phục vụ trực tiếp cho các chương trình và mục tiêu kinh tế. - Nhà nước đưa ra và thực hiện các chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách thuế, chính sách thị trường thích hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển kinh tế.
- - Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sức ép của thị trường kinh tế quốc tế. * Chức năng xã hội Nhà nước tư sản thực hiện chức năng xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội như: việc làm, thất nghiệp, dân số, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, vấn đề bảo trợ xã hội cho người già, giải quyết các tệ nạn xã hội 1.2.2. Chức năng đối ngoại - Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược và chống phá các phong trào cách mạng thế giới - Chức năng phòng thủ, bảo vệ nhà nước tư sản khỏi những ảnh hưởng của cách mạng XHCN - Chức năng đối ngoại hoà bình, hợp tác quốc tế - Gây ảnh hưởng quốc tế, tìm mọi cách để khẳng định vị trí thống trị của mình trên trường quốc tế, can thiệp vũ trang khi có điều kiện để lật đổ các chính phủ tỏ ra không thân hữu nhằm duy trì ảnh hưởng của mình. 1.3 Hình thức của nhà nước tư sản 1.3.1. Hình thức chính thể tư sản Nhà nước Tư sản có hai dạng chính thể cơ bản là chính thể quân chủ lập hiến và chính thể cộng hoà. - Chính thể quân chủ lập hiến Trong các nhà nước có chính thể quân chủ lập hiến có hai dạng biến dạng chính là chính thể quân chủ nhị nguyên và quân chủ đại nghị. - Chính thể cộng hoà tư sản Ở Hình thức này có hai biến dạng chủ yếu là cộng hoà tổng thống và cộng hoà đại nghị. Ngoài ra, hiện nay còn xuất hiện và tồn tại hình thức cộng hoà hỗn hợp giữa cộng hoà tổng thống và cộng hoà đại nghị (Pháp, Bồ đào Nha). Trong hình thức chính thể này, những đặc điểm của cộng hoà đại nghị được bảo lưu nhưng bên cạnh đó lại tăng cường quyền lực của tổng thống. 1.3.2. Hình thức cấu trúc nhà nước tư sản Nhà nước Tư sản có các hình thức cấu trúc sau: Hình thức liên bang và hình thức đơn nhất.
- 1.3.3. Chế độ chính trị Nhìn chung cho thấy nhà nước tư sản hoặc có chế độ chính trị dân chủ hoặc chế độ phản dân chủ. Việc xác lập chế độ chính trị nào là tuỳ thuộc vào tương quan chính trị trong nước, vai trò tiến bộ hay phản động của bộ phận cầm quyền, tình hình chính trị quốc tế. 1.4. Bộ máy nhà nước tư sản Bộ máy nhà nước tư sản được tổ chức trên cơ sở thuyết phân quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) nhằm chống lại sự độc đoán chuyên quyền của chế độ chuyên chế phong kiến, giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ của giai cấp tư sản và che đậy bản chất thực của mình trước quần chúng nhân dân lao động. Ba nhánh quyền này phải được giao cho ba cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ trên cơ sở: kìm chế, đối trọng nhau nhưng độc lập với nhau, yếu tố chủ đạo của học thuyết là “dùng quyền lực để hạn chế quyền lực”. Về cơ bản bộ máy nhà nước tư sản bao gồm những bộ phận sau: * Nghị viện Về hình thức, nghị viện tư sản là cơ quan quyền lực cao nhất, nắm quyền lập pháp. * Nguyên thủ quốc gia Nguyên thủ quốc gia là người người đứng đầu nhà nước, đại diện cho các quốc gia trong các quan hệ đối nội và đối ngoại. * Chính phủ Chính phủ là cơ quan nắm quyền hành pháp trong nhà nước tư sản. Trên thực tế, chính phủ tư sản quyết định phần lớn các chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước tư sản. * Toà án Toà án tư sản nắm quyền tư pháp, Toà án có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp tư sản. * Ngoài ra, Nhà nước tư sản còn có hệ thống quân đội – cảnh sát, và bộ máy hành chính 2. Pháp luật tư sản
- 2.1. Bản chất của pháp luật tư sản Pháp luật tư sản thể hiện ý chí của giai cấp tư sản là bằng mọi giá duy trì và củng cố chế độ tư hữu là cơ sở tồn tại của Nhà nước tư sản, C.M ác và Ph.Ăng ghen đã chỉ rõ bản chất của pháp luật tư sản: “pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định”. Cũng giống như bản chất của bất kỳ kiểu pháp luật bóc lột nào, pháp luật tư sản trước tiên là công cụ để bảo vệ sở hữu tư nhân- cơ sở kinh tế của xã hội bóc lột và bảo vệ chế độ người bóc lột người. Thứ hai, pháp luật tư sản ghi nhận và bảo vệ sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản. Thứ ba, pháp luật tư sản ghi nhận và bảo vệ sự thống trị của tư sản về mặt tư tưởng. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ, toàn vẹn và khách quan bản chất của pháp luật tư sản phải cần thiết thông qua các chế định cụ thể được quy định trong pháp luật. * Quyền sở hữu Hiến pháp và pháp luật các nước tư sản tuyên bố quyền tư hữu là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. Pháp luật tư sản quy định các hình phạt nặng nề đối với các hành vi xâm phạm tới quyền tư hữu; đồng thời hạn chế áp dụng các biện pháp tịch thu, trưng thu, trưng mua, trưng dụng * Chế định hợp đồng Về hình thức, chế định hợp đồng quy định quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, khi tham gia quan hệ các bên tự mình quyết định việc có ký kết hợp đồng hay không, không bên nào cưỡng ép bên nào Thực chất, chế định hợp đồng cũng phản ánh bản chất của giai cấp tư sản, bởi lẽ nó là hình thức pháp lý tốt nhất cho chế độ cạnh tranh tự do mua và bán, tự do vốn rất phù hợp với lợi ích của nhà tư sản. * Địa vị pháp lý của công dân Các quyền tự do, dân chủ mà pháp luật tư sản quy định vẫn luôn mang bản chất giai cấp và thể hiện ý chí của giai cấp tư sản.
- Các quyền tự do, dân chủ của cá nhân được pháp luật tư sản bảo đảm về mặt pháp lý. Song các bảo đảm thực tế cho việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ này bị hạn chế. 2.2 Hình thức và hệ thống pháp luật tư sản * Hình thức pháp luật tư sản Hình thức của pháp luật tư sản bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, tiền lệ pháp, tập quán pháp và ở một số ít các nước hồi giáo là luật tôn giáo. * Hệ thống pháp luật tư sản Căn cứ vào những nét tương đồng này có thể xếp pháp luật các nước tư sản vào các hệ thống pháp luật khác nhau, mà phổ biến là hai hệ thống: Ăng lô-xắc xông và La mã- Giéc manh (Châu Âu lục địa). 2.3. Pháp chế tư sản Pháp chế tư sản là sự tuân thủ của công dân, của các tổ chức, cơ quan đối với pháp luật hiện hành. Pháp chế tư sản có hai yêu cầu: - Thứ nhất, hiến pháp phải có hiệu lực tối cao. Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành phải phù hợp với hiến pháp, nếu nội dung của nó trái với hiến pháp sẽ bị vô hiệu. - Thứ hai, việc tuân thủ đầy đủ của công dân đối với pháp luật hiện hành. Câu hỏi ôn tập 1. Phân tích bản chất của nhà nước tư sản. 2. Trình bày những hiểu biế về bộ máy nhà nước tư sản. 3. Phân tích chức năng của nhà nước tư sản. 4. Trình bày những hiểu biết về hình thức nhà nước tư sản. 5. Hãy phân tích bản chất của pháp luật tư sản. 6. Các hình thức của pháp luật tư sản? 7. Phân tích các đặc trưng của các hệ thống pháp luật tư sản. 8. Phân tích vấn đề pháp chế tư sản. CHƯƠNG VIII NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
- 1. Sự ra đời, cơ sở tồn tại và bản chất của nhà nước XHCN 1.1. Tính tất yếu khách quan và sự ra đời của nhà nước XHCN - Tiền đề về kinh tế : M âu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn đến yêu cầu phải có một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. - Tiền đề về tư tưởng – chính trị : Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng căng thẳng; giai cấp vô sản ngày càng phát triển nhanh về số lượng và chất lượng với yêu cầu xóa bỏ nhà nước cũ, xây dựng nhà nước của giai cấp mình. - Các hình thức ra đời của nhà nước XHCN như Công xã Paris (1971), Nhà nước Xô Viết (1917), Cu ba (1959), Việt Nam (1945) 1.2. Cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của nhà nước XHCN - Cơ sở kinh tế: chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, với mục đích nhằm thoả mãn những điều kiện vật chất và tinh thần của người dân. - Cơ sở xã hội: tiến tới xoá bỏ giai cấp trong xã hội, chỉ còn tồn tại các nhóm xã hội, các tầng lớp trên cơ sở sự hợp tác. - Cơ sở tư tưởng: là Chủ nghĩa M ác – LêNin. 1.3. Bản chất của Nhà nước XHCN - Nhà nước XHCN vừa là một bộ máy chính trị - hành chính, một cơ quan cưỡng chế, vừa là tổ chức quản lý kinh tế xã hội của nhân dân lao động, nhà nước XHCN không còn là nhà nước theo nguyên nghĩa mà chỉ còn là “một nửa nhà nước”. - Dân chủ XHCN là thuộc tính của nhà nước XHCN; - Nhà nước XHCN luôn giữ vai trò tích cực và sáng tạo, là công cụ để xây dựng một xã hội nhân đạo công bằng và bình đẳng. 2. Các hình thức nhà nước XHCN 2.1 Hình thức chính thể Tất cả các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều được tổ chức theo hình thức cộng hoà dân chủ, dù tên gọi ở mỗi nước có khác nhau. * Công xã Paris
- Công xã Pari là hình thức nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên, ra đời trong cuộc khởi nghĩa vũ trang ngày 18/3/1871 của công nhân thủ đô Pari đã chiến thắng quân đội chính phủ Thiers. Công xã Pari có những đặc trưng sau: - Công xã xoá bỏ chế độ đại nghị tư sản, thiết lập hệ thống cơ quan đại diện mới. - Công xã Pari thực hiện việc đập tan bộ máy nhà nước cũ của giai cấp tư sản, xây dựng bộ máy nhà nước mới của giai cấp công nhân. - Công xã đã xoá bỏ những nguyên tắc tổ chức của bộ máy nhà nước tư sản, xác lập các nguyên tắc mới về tổ chức bộ máy nhà nước mới của giai cấp vô sản. - Công xã Pari thiết lập một chế độ dân chủ mới với nhiều biện pháp nhằm thu hút, tạo điều kiện cho nhân dân lao động tham gia quản lý công xã và xã hội đồng thời bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân - Công xã Pari đã thi hành các biện pháp cưỡng chế đối với các phần tử phản cách mạng. * Cộng hoà Xô Viết Xuất hiện lần đầu trong cuộc tổng bãi công của công nhân thành phố Pêtrôgrát năm 1905 với tư cách là Hội đồng đại biểu công nhân. Sau khi tiến hành thành công Cách mạng Tháng 10, hình thức Xô viết đã trở thành hình thức chính thể được áp dụng ở nước Nga và sau là Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Hình thức Cộng hoà Xô Viết có những đặc trưng sau: - Cộng hoà Xô Viết là tổ chức quyền lực của quần chúng, thể hiện ý chí và nguyện vọng của quần chúng. - Các Xô Viết tạo thành một hệ thống cơ quan được tổ chức và hoạt động dựa trên nguyên tắc tập trung - dân chủ. - Cộng hoà Xô Viết tập trung trong tay Xô Viết cả quyền lập pháp và hành pháp. - Cộng hoà Xô Viết không có sự thoả hiệp giữa các đảng trong việc tham gia chính quyền. Nhà nước được xây dựng trên cơ sở sự lãnh đạo của một đảng chính trị duy nhất - Đảng Bônsêvích. - Chế độ dân chủ trong Nhà nước Xô Viết thể hiện tính giai cấp công khai và không khoan nhượng.
- Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nên Nhà nước Xô Viết đã không dành được thắng lợi trong công cuộc cải tổ và đi đến sụp đổ vào năm 1991. * Nhà nước dân chủ nhân dân Hình thức Nhà nước dân chủ nhân dân ra đời sau Đại chiến thế giới II, hình thức này có những đặc trưng sau: - Nhà nước dân chủ nhân dân (trừ Việt Nam và Bungari) có đặc điểm chung là sử dụng kết hợp phương pháp hoà bình và bạo lực để dành và tổ chức chính quyền, thực hiện bước chuyển tiếp từ cách mạng dân chủ nhân dân sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. - Trong tất cả các nước đều tồn tại hình thức mặt trận đoàn kết dân tộc với sự tham gia rộng rãi của các đảng phái chính trị và tổ chức quần chúng, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản các nước. M ặt trận giữ vai trò quan trọng trong việc tham gia vào thành lập, củng cố bộ máy chính quyền. - Nhà nước dân chủ nhân dân trong thời kỳ đầu mới thành lập có sử dụng một số chế định pháp lý cũ nhưng không trái với nguyên tắc của chế độ mới và có bổ sung thêm những nội dung mới. - Thực hiện nguyên tắc bầu cử bình đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín để thành lập cơ quan quyền lực nhà nước. - Cơ sở xã hội của Nhà nước dân chủ nhân dân rộng rãi hơn nhiều so với cơ sở xã hội trong Nhà nước Xô Viết. - Tổ chức cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất được hình thành tương tự như hình thức hình thành các cơ quan tương ứng trong chế độ cũ, tuy có sự thay đổi về bản chất và nội dung hoạt động cho thích ứng với xu hướng chính trị mới. - Chế định nguyên thủ quốc gia có lúc, có nơi là cơ quan tập thể với tên gọi là Hội đồng nhà nước hoặc Đoàn chủ tịch cơ quan quyền lực nhà nước tối cao. Trong những năm cuối của thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, các nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu đã không kịp thời đổi mới cho thích ứng với tình hình trong nước và thế giới vì thế đã dẫn đến hậu quả là sụp đổ vào năm 1990 - 1991. 2.2 Hình thức cấu trúc Ở nhà nước xã hội chủ nghĩa có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản: nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang.
- 2.3 Chế độ chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa Tất cả các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều có chung một đặc điểm trong chế độ chính trị là nó mang tính dân chủ cao, thể hiện và bảo vệ lợi ích của đông đảo nhân dân lao động trong xã hội. Phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước của nhà nước xã hội chủ nghĩa chủ yếu là thuyết phục, giáo dục, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. 3. Một số vấn đề cơ bản của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 3.1. Bản chất nhà nước CHXHCN Việt Nam - Nhà nước CHXHCN Việt Nam là một nhà nước dân chủ thật sự và rộng rãi; - Nhà nước CHXHCN Việt Nam là một nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Niệt Nam; - Nhà nước CHXHCN Việt Nam thể hiện tính xã hội rộng rãi; - Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị. 3.2. Chức năng của Nhà nước XHCN - Chức năng đối nội + Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế; + Chức năng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và âm mưu phản cách mạng khác; + Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ; + Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân. - Chức năng đối ngoại + Chức năng bảo vệ tổ quốc Việt Nam; + Chức năng mở rộng quan hệ hợp tác với các nước; các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi; ủng hộ và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- 3.3. Bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam - Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước CHXHCN Việt Nam + Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân tổ chức nên bộ máy nhà nước và tham gia quản lý nhà nước; + Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; + Nguyên tắc tập trung dân chủ; + Nguyên tắc pháp chế XHCN. - Các loại cơ quan nhà nước XHCN + Cơ quan quyền lực nhà nước gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; + Cơ quan hành chính nhà nước gồm Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp; + Cơ quan xét xử gồm Tòa án nhân dân, tòa án quân sự và các tòa án khác thành lập theo luật định; + Cơ quan kiểm sát gồm Viện kiểm sát nhân dân và viện kiểm sát quân sự. 4. Nhà nước trong hệ thống chính trị XHCN 4.1. Khái niệm hệ thống chính trị XHCN Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là toàn bộ các thiết chế chính trị gắn bó hữu cơ, tác động lẫn nhau cùng thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Xét về mặt cấu trúc Hệ thống chính trị nước ta gồm có các bộ phận cấu thành sau: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính tri-xã hội. 4.2 Hệ thống chính trị của Nhà nước CHXHCN Việt Nam - Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị. - Nhà nước CHXHCN Việt Nam giữ vị trí trung tâm. - M ặt trận tổ quốc Việt Nam giữ vai trò thực hiện và phát huy dân chủ.
- Câu hỏi ôn tập 1. So sánh cơ sở tồn tại của nhà nước xã hội chủ nghĩa so với các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến và tư bản chủ nghĩa. 2. Cơ sở kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới cần phải công hữu về tư liệu sản xuất và khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước hay không? 3. Cơ sở tư tưởng của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới có nên chọn con đường đa nguyên chính trị hay không? Một nhà nước CHCN có thể tồn tại hệ tư tưởng đa nguyên trong xã hội hay không? 4. Phân tích các tiền đề ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa. 5. Phân tích bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. 6. Trình bày những hiểu biết về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 7. Khái niệm hình thức pháp luật xã hội chủ nghĩa? 8. Phân tích hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. 9. Khái niệm hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa? 10. Trình bày các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 11. Phân tích các nguyên tắc xây dựng pháp luật. 12. Tầm quan trọng của công tác hệ thống hoá pháp luật? TÀI LIỆU THAM KHẢO
- I. Tài liệu bắt buộc 1 - Khoa Luật – ĐH Quốc gia Hà Nội, NXB ĐHQGHN, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội 2005. 2 - Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB CAND, Hà Nội 2005. II. Tài liệu mở rộng 1- Đỗ Ngọc Thịnh, Nhận thức về vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 năm 1999, trang 41. 2- Lê Minh Thông, Một số vấn đề pháp lý của quá trình toàn cầu hóa, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 1 năm 2003. 3- Phạm Hữu Nghị, Chính sách xã hội và vai trò của pháp luật việc bảo đảm thực hiện chính sách xã hội, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 năm 2001, trang 3. 4- Trần Thái Dương, Pháp luật trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế của nhà nước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 năm 2001, trang 59. 5- Nguyễn Văn Luyện & Võ Khánh Vinh, Pháp luật và lợi ích xã hội, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 2 năm 2003. 6- LeNin, Tác phẩm “Bàn về nhà nước” (1917). 7- PGS. TS. Trần Phúc Thắng, Giai cấp và đấu tranh giai cấp – M ột số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội 2005. 8- Ngân hàng thế giới, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, NXB CTQG, Hà Nội 1998. 9- Về vai trò và chức năng của nhà nước, Nguyễn Thị Hồi, Tạp chí NN&PL, số 11/2004. 10- Chức năng xã hội của nhà nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Lê Thu Hằng, Tạp chí Luật học, số 1/2001. 11- PGS. TS. Đỗ Lộc Diệp, Chủ nghĩa tư bản ngày nay: mâu thuẫn nội tại – xu thế - triển vọng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2003. 12- Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 – 2000, M ichel Beaud, NXB Thế giới, Hà Nội 2002. 13- Tuyển chọn các bài viết góp ý kiến cho Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng X, Tranh luận để đồng thuận, NXB Tri thức, Hà Nội 2006. 14- Viện sĩ Kornal János, Hệ thống Xã hội chủ nghĩa, NXB VHTT, Hà Nội 2002.