Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_luat_ngan_hang_viet_nam_phan_2.pdf
Nội dung text: Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam (Phần 2)
- Ch−ơng vI chiết khấu giấy tờ có giá I. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá 1. Khái niệm giấy tờ có giá Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về vốn và nhu cầu thanh toán trong quan hệ kinh doanh của các chủ thể ngày càng phát triển. Để đáp ứng nhu cầu về vốn và tăng c−ờng khả năng thanh toán, các chủ thể không chỉ sử dụng tiền mặt do Nhà n−ớc phát hành mà còn sử dụng các công cụ khác là các giấy tờ có giá. Giấy tờ có giá là loại giấy tờ có mệnh giá và có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt(1). Chủ thể phát hành giấy tờ có giá rất đa dạng nh− Nhà n−ớc, các loại doanh nghiệp (nh− công ty cổ phần, tổ chức tín dụng ) và các chủ thể kinh doanh khác. Giấy tờ có giá có nhiều loại. Nếu phân loại theo thời hạn thì giấy tờ có giá có hai loại là giấy tờ có giá ngắn hạn và giấy tờ có giá dài hạn. Thời hạn của giấy tờ có giá là khoảng thời gian từ khi giấy tờ có giá đ−ợc phát hành cho đến khi đến hạn thanh toán. Thời hạn của giấy tờ có giá phải đ−ợc ghi rõ trong nội dung của giấy tờ có giá. Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn d−ới 12 tháng. Giấy tờ có giá dài hạn là loại giấy tờ có giá có thời hạn từ 12 tháng trở lên. Giấy tờ có giá còn đ−ợc phân loại theo chủ thể phát hành giấy tờ có giá nh− Nhà n−ớc, doanh nghiệp hoặc th−ơng nhân Nhà n−ớc phát hành giấy tờ có giá nhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách nhà n−ớc hay để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Loại giấy tờ có giá do Nhà n−ớc phát hành bao gồm: trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc Nhà n−ớc, tín phiếu Ngân hàng Nhà n−ớc, trái phiếu công trình do Chính phủ hoặc chính quyền cấp tỉnh phát hành. Loại giấy tờ có giá do các chủ thể khác trong nền kinh tế phát hành nh− cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp do công ty cổ phần phát hành, kỳ phiếu ngân hàng do các ngân hàng th−ơng mại phát hành nhằm huy động vốn. (1) Tr−ờng ĐH Luật Hà Nội: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, (Phần thuật ngữ tài chính- ngân hàng, tác giả TS.Võ Đình Toàn), NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.230 111
- Ngoài ra, trong nền kinh tế thị tr−ờng, nhằm đa dạng hoá ph−ơng tiện thanh toán và tạo thuận lợi cho hoạt động thanh toán, còn có một loại giấy tờ có giá rất phổ biến là th−ơng phiếu. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, th−ơng phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Th−ơng phiếu gồm hối phiếu và lệnh phiếu. Hối phiếu là chứng chỉ có giá do ng−ời có quyền lập, yêu cầu ng−ời có nghĩa vụ thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong t−ơng lai cho ng−ời thụ h−ởng. Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do ng−ời có nghĩa vụ lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong t−ơng lai cho ng−ời thụ h−ởng. Th−ơng phiếu là loại giấy tờ có giá ngắn hạn. Thời hạn cụ thể của th−ơng phiếu theo thoả thuận của các bên. Th−ơng phiếu phải đ−ợc lập trên mẫu in sẵn của Ngân hàng Nhà n−ớc Việt Nam. Th−ơng phiếu đ−ợc áp dụng khá rộng rãi trong quan hệ thanh toán trong nền kinh tế ở các n−ớc có nền kinh tế phát triển. ở Việt Nam, quan hệ th−ơng phiếu còn khá mới mẻ nh−ng đã đ−ợc Nhà n−ớc quan tâm tạo điều kiện phát triển. Cơ sở pháp lý cho các quan hệ th−ơng phiếu là Pháp lệnh Th−ơng phiếu có hiệu lực ngày 01/7/2000. Bên cạnh đó, th−ơng phiếu còn đ−ợc điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác nh− Luật Ngân hàng Nhà n−ớc, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Th−ơng mại Giấy tờ có giá là một loại tài sản. Ng−ời sở hữu giấy tờ có giá đ−ợc pháp luật đảm bảo nhiều quyền năng, trong đó có những quyền năng cơ bản sau: - Đ−ợc chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá d−ới nhiều hình thức nh− bán, chiết khấu tại tổ chức tín dụng, tặng cho, thừa kế theo quy định của pháp luật. - Đ−ợc thụ h−ởng các lợi ích từ giấy tờ có giá. - Đ−ợc dùng giấy tờ có giá để đảm bảo cho các nghĩa vụ tài chính, chẳng hạn nh− cầm cố giấy tờ có giá để vay vốn của tổ chức tín dụng. - Đ−ợc ng−ời phát hành thanh toán khi giấy tờ có giá đáo hạn. - Đ−ợc quyền truy đòi ng−ời chuyển nh−ợng giấy tờ có giá cho mình nếu giấy tờ có giá không đ−ợc tổ chức phát hành thanh toán khi đến hạn. - Các quyền khác theo quy định của pháp luật 2. Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá Ng−ời sở hữu giấy tờ có giá có quyền chuyển nh−ợng giấy tờ có giá d−ới nhiều hình thức. Trong tr−ờng hợp tổ chức tín dụng mua giấy tờ có giá đ−ợc gọi là chiết khấu. Theo quy định của pháp luật, chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua th−ơng phiếu, giấy tờ có giá khác của ng−ời thụ h−ởng tr−ớc khi đến hạn thanh toán (khoản 14 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng). Theo thông lệ, khi thực hiện việc chiết khấu, tổ chức tín 112
- dụng sẽ thanh toán cho khách hàng số tiền thấp hơn số tiền mà tổ chức phát hành sẽ thanh toán cho khách hàng nếu giấy tờ có giá đến hạn. Nếu giấy tờ có giá đã đ−ợc chiết khấu tại tổ chức tín dụng, sau đó tổ chức tín dụng lại chiết khấu tại tổ chức tín dụng khác hoặc tại Ngân hàng Nhà n−ớc đ−ợc gọi là tái chiết khấu. Tái chiết khấu là việc chiết khấu th−ơng phiếu, giấy tờ có giá khác đã đ−ợc chiết khấu tr−ớc khi đến hạn thanh toán. Chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng theo quy định tại Điều 49 Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Về hình thức, quan hệ chiết khấu là quan hệ mua bán giấy tờ có giá hay chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá từ ng−ời thụ h−ởng cho tổ chức tín dụng trên cơ sở tổ chức tín dụng chuyển giao cho ng−ời thụ h−ởng một khoản tiền gọi là giá chiết khấu. Tuy nhiên về bản chất, đây là việc tổ chức tín dụng hoạt động cấp tín dụng vì các lý do sau đây: - Thứ nhất, khi thực hiện hoạt động chiết khấu, tổ chức tín dụng đã bỏ ra một khoản tiền và chỉ có thể thu hồi cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định (khi tổ chức tín dụng bán giấy tờ có giá cho chủ thể khác hoặc chủ thể phát hành thanh toán khi giấy tờ có giá đáo hạn). Ví dụ: ông Nguyễn Văn A là chủ sở hữu một lệnh phiếu trị giá 100 triệu đồng do Công ty X phát hành, thời hạn 6 tháng. Khi cách thời điểm th−ơng phiếu đáo hạn 3 tháng, do có nhu cầu cần tiền nên ông A đã đến Ngân hàng Y để chiết khấu lệnh phiếu đó. Ngân hàng Y đồng ý chiết khấu với giá chiết khấu 94 triệu đồng. Đến hạn, Ngân hàng Y yêu cầu Công ty X thanh toán theo mệnh giá th−ơng phiếu là 100 triệu đồng. Nh− vậy, Ngân hàng Y đã thu hồi vốn và lãi 6 triệu đồng. - Thứ hai, kể từ thời điểm chiết khấu, t− cách trái chủ của ng−ời thụ h−ởng đã đ−ợc chuyển giao cho tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng trở thành ng−ời có quyền nh− chính ng−ời cho chủ thể phát hành vay tiền và chỉ có thể đ−ợc ng−ời phát hành thanh toán khi giấy tờ có giá đáo hạn. Nh− vậy, nghiệp vụ chiết khấu t−ơng tự nh− nghiệp vụ cho vay. Tuy nhiên, đối với hoạt động cho vay, bên vay nhận tiền vay từ tổ chức tín dụng sau đó hoàn trả lại cho tổ chức tín dụng. Còn trong nghiệp vụ chiết khấu, khách hàng đ−ợc chiết khấu sẽ nhận tiền từ tổ chức tín dụng, còn ng−ời có nghĩa vụ thanh toán theo quy định của giấy tờ có giá là ng−ời phải trả nợ nh− ng−ời vay tiền. II. Pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá 1. Chủ thể quan hệ chiết khấu Chủ thể của quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá là các bên trong quan hệ chiết khấu bao gồm: - Chủ thể nhận chiết khấu giấy tờ có giá - Chủ thể chiết khấu giấy tờ có giá 113
- Ngoài ra, còn có bên phát hành giấy tờ có giá hoặc bên bị ký phát (đối với hối phiếu) với t− cách là bên liên quan. 1.1. Chủ thể nhận chiết khấu giấy tờ có giá Chủ thể nhận chiết khấu giấy tờ có giá là tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà n−ớc. Tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động chiết khấu cho những chủ thể có nhu cầu trong nền kinh tế nhằm mục đích kinh doanh. Ngân hàng Nhà n−ớc chỉ thực hiện hoạt động chiết khấu cho các tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và không nhằm mục đích kinh doanh. Tổ chức tín dụng đ−ợc phép hoạt động chiết khấu với t− cách là một hình thức cấp tín dụng. Để đ−ợc thực hiện hoạt động này, tổ chức tín dụng phải thoả mãn các điều kiện do pháp luật quy định. Thứ nhất, tổ chức tín dụng phải đ−ợc thành lập và hoạt động hợp pháp. Điều kiện này nhằm xác lập t− cách chủ thể trong quan hệ chiết khấu giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Bên cạnh đó, ng−ời đại diện giao kết hợp đồng chiết khấu phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có trình độ chuyên môn phù hợp và là ng−ời đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng (là đại diện đ−ơng nhiên hoặc đại diện theo uỷ quyền). Thứ hai, tổ chức tín dụng phải thoả mãn những yêu cầu đảm bảo an toàn cho hoạt động cấp tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà n−ớc. Mức chiết khấu của tổ chức tín dụng cho một khách hàng không v−ợt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Tr−ờng hợp chi nhánh ngân hàng n−ớc ngoài hoạt động tại Việt Nam thì giới hạn chiết khấu là 15% vốn tự có của Ngân hàng n−ớc ngoài (ngân hàng mẹ). Ngoài ra, tổ chức tín dụng phải thực hiện việc phân loại, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đối với số tiền chiết khấu, tái chiết khấu theo quy định của Ngân hàng Nhà n−ớc. Thứ ba, đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, tổ chức tín dụng phải đ−ợc phép hoạt động ngoại hối và tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối. 1.1.2. Chủ thể chiết khấu giấy tờ có giá Chủ thể chiết khấu giấy tờ có giá (bên bán giấy tờ có giá) là khách hàng của tổ chức tín dụng. Theo quy định, tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân n−ớc ngoài đang sinh sống, hoạt động tại Việt Nam đều có quyền chiết khấu giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng. Riêng đối với hoạt động tái chiết khấu, khách hàng đề nghị tái chiết khấu phải là tổ chức tín dụng đã chiết khấu giấy tờ có giá. Là một bên của quan hệ chiết khấu, khách hàng có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có giá phải thoả mãn các điều kiện sau đây: - Thứ nhất, khách hàng phải có năng lực hành vi dân sự. Đây là điều kiện đầu tiên để tham gia vào các quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ chiết khấu. Nếu khách hàng không có năng lực hành vi dân sự mà giao kết hợp đồng chiết khấu thì hợp đồng đó sẽ không phát sinh hiệu lực. 114
- - Thứ hai, khách hàng phải là chủ sở hữu của giấy tờ có giá. Chỉ có chủ sở hữu mới có quyền chuyển nh−ợng quyền sở hữu cho tổ chức tín dụng thông qua hoạt động chiết khấu. Trong một số tr−ờng hợp, pháp luật cho phép ng−ời không phải chủ sở hữu cũng có thể chuyển nh−ợng giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng theo hình thức chiết khấu: (i) ng−ời đ−ợc chủ sở hữu uỷ quyền hợp pháp; (ii) ng−ời giám hộ trong một số tr−ờng hợp nhất định theo quy định của Bộ luật Dân sự. 1.3. Chủ thể phát hành giấy tờ có giá hoặc bên bị ký phát (đối với hối phiếu) Chủ thể phát hành giấy tờ có giá hoặc bên bị ký phát (đối với hối phiếu) là ng−ời có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên giấy tờ có giá khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán. Bên phát hành giấy tờ có giá hoặc bên bị ký phát (đối với hối phiếu) không phải là một bên của quan hệ chiết khấu nh−ng có liên quan mật thiết đến quan hệ chiết khấu. Sau khi việc chiết khấu hoàn tất, sẽ phát sinh quan hệ giữa tổ chức tín dụng với bên phát hành giấy tờ có giá hoặc bên bị ký phát (đối với hối phiếu). Tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu chủ thể này thanh toán số tiền ghi trên giấy tờ có giá khi đến hạn. Nếu chủ thể này từ chối thanh toán sẽ nảy sinh quyền truy đòi của tổ chức tín dụng đối với ng−ời đ−ợc chiết khấu. 2. Điều kiện giấy tờ có giá đ−ợc chiết khấu Giấy tờ có giá đ−ợc chiết khấu phải thoả mãn những điều kiện nhất định. Những điều kiện này đảm bảo cho bên chiết khấu (tổ chức tín dụng) có thể thu hồi lại số tiền chiết khấu khi giấy tờ có giá đến hạn. Do đó, pháp luật đặt ra các điều kiện đối với giấy tờ có giá đ−ợc chiết khấu nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận chiết khấu. Theo quy định của pháp luật hiện hành(1), giấy tờ có giá đ−ợc nhận chiết khấu, tái chiết khấu phải thoả mãn những điều kiện sau đây: - Một là, giấy tờ có giá phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng. Đây là điều kiện đầu tiên và là điều kiện rất quan trọng nhằm đảm bảo sau khi chiết khấu, giấy tờ có giá phải đ−ợc chuyển quyền sở hữu hợp pháp cho tổ chức tín dụng thực hiện chiết khấu. Khách hàng khi đề nghị chiết khấu phải chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp của giấy tờ có giá xin chiết khấu và phải chịu trách nhiệm tr−ớc pháp luật về cam kết này. - Hai là, giấy tờ có giá phải ch−a đến hạn thanh toán. Ch−a đến hạn thanh toán đ−ợc hiểu là tại thời điểm chiết khấu, giấy tờ có giá ch−a thể đ−ợc bên phát hành hoặc bên cam kết thanh toán thực hiện việc chi trả do ch−a đến thời điểm đáo hạn của giấy tờ có giá. Nh− vậy việc chiết khấu mới có ý nghĩa nh− là một hình thức cấp tín dụng. (1) Điều 6 Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15/10/2004 ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. 115
- - Ba là, giấy tờ có giá phải đ−ợc phép giao dịch. Đ−ợc phép giao dịch đ−ợc hiểu là chủ sở hữu giấy tờ có giá đ−ợc quyền bán, chuyển nh−ợng, cho, tặng, thừa kế giấy tờ có giá. Điều kiện đ−ợc phép giao dịch có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo quyền thu hồi vốn của tổ chức tín dụng. Một số loại giấy tờ có giá trong những thời điểm nhất định không đ−ợc phép giao dịch mặc dù ng−ời cầm giữ có quyền sở hữu hợp pháp (ví dụ nh− giấy tờ có giá đang là vật bảo đảm cho một nghĩa vụ khác của khách hàng hoặc là tài sản bị cấm giao dịch theo quyết định của cơ quan nhà n−ớc có thẩm quyền). Khi đó, giấy tờ có giá không thể đ−ợc chiết khấu tại tổ chức tín dụng. - Bốn là, giấy tờ có giá phải đ−ợc thanh toán theo quy định của tổ chức phát hành. Tổ chức tín dụng chỉ có thể nhận chiết khấu nếu nh− biết rằng tổ chức phát hành hoặc ng−ời bị ký phát (đối với hối phiếu) sẽ thanh toán giấy tờ có giá đó khi đến hạn. Một số loại giấy tờ có giá (nh− th−ơng phiếu chẳng hạn), khách hàng muốn đ−ợc chiết khấu phải có đ−ợc sự chấp nhận thanh toán của tổ chức phát hành hoặc ng−ời bị ký phát. Trái phiếu công ty cổ phần không thể đ−ợc chiết khấu nếu đó là loại trái phiếu tự động chuyển đổi (là loại trái phiếu tự chuyển thành cổ phiếu sau một khoảng thời gian nhất định). 3. Ph−ơng thức chiết khấu giấy tờ có giá Ph−ơng thức chiết khấu giấy tờ có giá là cách thức chiết khấu giấy tờ có giá đ−ợc pháp luật quy định. Ph−ơng thức chiết khấu giấy tờ có giá đ−ợc hình thành từ nhu cầu vốn của ng−ời xin chiết khấu và sự đáp ứng của tổ chức tín dụng trên cơ sở quy định của pháp luật. Hiện nay pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá quy định hai ph−ơng thức chiết khấu giấy tờ có giá là ph−ơng thức chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá và ph−ơng thức chiết khấu có thời hạn. Ph−ơng thức chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá là việc tổ chức tín dụng sẽ mua hẳn giấy tờ có giá theo giá chiết khấu, tái chiết khấu. Khách hàng phải chuyển giao ngay quyền sở hữu giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng. Khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán, tổ chức tín dụng sẽ xuất trình giấy tờ có giá cho tổ chức phát hành để đ−ợc thanh toán. Ph−ơng thức chiết khấu có thời hạn là việc tổ chức tín dụng mua giấy tờ có giá theo thời hạn và giá chiết khấu, tái chiết khấu và kèm theo cam kết của khách hàng về việc sẽ mua lại giấy tờ có giá đó vào thời điểm xác định. Khoảng thời gian từ khi chiết khấu đến khi khách hàng thực hiện việc mua lại giấy tờ có giá gọi là thời hạn chiết khấu. Thời hạn chiết khấu do các bên thoả thuận nh−ng không đ−ợc v−ợt quá thời hạn còn lại của giấy tờ có giá. Nếu hết thời hạn chiết khấu mà khách hàng không mua lại, thì tổ chức tín dụng là chủ sở hữu hợp pháp và h−ởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ giấy tờ có giá đó. 116
- Giữa hai ph−ơng thức này có sự khác nhau ở chỗ, trong ph−ơng thức chiết khấu toàn bộ thời hạn của giấy tờ có giá, tổ chức tín dụng là chủ sở hữu hợp pháp không kèm thêm bất cứ điều kiện nào, trong khi đó với ph−ơng thức chiết khấu có thời hạn, tổ chức tín dụng chỉ là chủ sở hữu thực sự nếu nh− khách hàng không mua lại giấy tờ có giá khi đến hạn chiết khấu. Giữa việc chiết khấu giấy tờ có giá theo ph−ơng thức chiết khấu có thời hạn và cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá về mặt hình thức có một số điểm t−ơng tự nhau. Tuy nhiên, đây là hai loại hình cấp tín dụng khác nhau. Trong cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, tổ chức tín dụng là ng−ời nắm giữ giấy tờ có giá nh−ng không phải là ng−ời sở hữu giấy tờ có giá đó. Nếu khách hàng vay không trả đ−ợc nợ hoặc trả không đủ nợ khi đến hạn, khi đó việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo ph−ơng thức thoả thuận, nếu không thực hiện đ−ợc theo thoả thuận thì sẽ bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Thủ tục chuyển quyền sở hữu trong cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá chỉ diễn ra sau khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vay. Trong khi đó, ph−ơng thức chiết khấu có thời hạn cho phép tổ chức tín dụng đ−ợc xác lập quyền sở hữu ngay khi thực hiện việc chiết khấu. Nếu khách hàng không thực hiện quyền mua lại giấy tờ có giá khi đến hạn chiết khấu, tổ chức tín dụng đ−ơng nhiên là chủ sở hữu hoàn toàn đối với giấy tờ có giá mà không cần thêm một thủ tục nào. 4. Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó, bên mua sẽ mua giấy tờ có giá ch−a đến hạn thanh toán thuộc sở hữu của bên bán theo giá chiết khấu thoả thuận. Pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về hợp đồng chiết khấu mà chỉ có các quy định điều chỉnh giao dịch chiết khấu. Tuy nhiên, thông qua đó có thể xác định đ−ợc những vấn đề cơ bản của hợp đồng chiết khấu. Về chủ thể của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, đó là tổ chức tín dụng với t− cách là bên mua giấy tờ có giá và khách hàng là bên bán giấy tờ có giá. Đối t−ợng của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là các giấy tờ có giá đ−ợc phát hành theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật hiện hành, các loại giấy tờ có giá sau đây đ−ợc chiết khấu, tái chiết khấu tại tổ chức tín dụng: - Các loại giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và h−ớng dẫn của Ngân hàng Nhà n−ớc. - Tín phiếu Ngân hàng Nhà n−ớc. - Các loại trái phiếu đ−ợc phát hành theo quy định của Chính phủ và h−ớng dẫn của Bộ Tài chính: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình của Chính phủ và của địa ph−ơng, các loại trái phiếu khác. 117
- - Các loại tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do tổ chức khác phát hành và đ−ợc phép chiết khấu theo quy định của pháp luật. Hiện nay, pháp luật ch−a có quy định cụ thể về việc chiết khấu th−ơng phiếu. Tuy nhiên, trong t−ơng lai, hoạt động thanh toán bằng th−ơng phiếu đ−ợc áp dụng phổ biến thì việc ban hành những quy định cụ thể về việc chiết khấu th−ơng phiếu là rất cần thiết. Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đ−ợc lập d−ới hình thức văn bản. Hình thức văn bản giúp cho các bên có cơ sở pháp lý chính xác để thực hiện thoả thuận. Hình thức văn bản của hợp đồng chiết khấu còn là bằng chứng để giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên. Do có hình thức văn bản, nên pháp luật quy định nội dung của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá và các quy định có liên quan. Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có thể đ−ợc lập theo hợp đồng mẫu do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam ban hành. Nội dung cơ bản của hợp đồng chiết khấu bao gồm: - Tên, địa chỉ các bên: Đây là yếu tố bắt buộc phải có để xác định t− cách của các bên khi giao kết hợp đồng. Các bên khi giao kết phải thoả mãn t− cách chủ thể. Nếu ng−ời đại diện theo uỷ quyền đứng ra ký kết thì phải ghi rõ nội dung ủy quyền hoặc giấy uỷ quyền là một phần gắn liền với hợp đồng. - Điều khoản về đối t−ợng hợp đồng: trong nội dung này phải chỉ rõ các loại giấy tờ có giá đ−ợc chiết khấu, chủ thể phát hành, số l−ợng từng loại, trị giá của từng giấy tờ có giá, thời điểm đến hạn của từng giấy tờ có giá, tổng giá trị v.v Nếu nhiều loại giấy tờ có giá khác nhau có thể lập thành bảng kê. - Điều khoản về lãi suất chiết khấu: các bên thoả thuận về lãi suất chiết khấu. Lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh− độ an toàn của giấy tờ có giá, thời hạn chiết khấu hoặc thời hạn còn lại của giấy tờ có giá, tổng giá trị của giấy tờ có giá - Điều khoản về số tiền thanh toán và ph−ơng thức thanh toán: số tiền thanh toán là khoản tiền mà tổ chức tín dụng sẽ trả cho khách hàng khi chiết khấu giấy tờ có giá. Số tiền thanh toán còn đ−ợc gọi là giá chiết khấu, đ−ợc xác định dựa trên các yếu tố nh− tổng giá trị thanh toán của giấy tờ có giá đ−ợc chiết khấu khi đáo hạn, lãi suất chiết khấu và thời hạn còn lại của giấy tờ có giá. Các bên phải thỏa thuận về ph−ơng thức thanh toán của tổ chức tín dụng cho khách hàng nh− thời điểm thanh toán, cách thức thanh toán (chuyển khoản, tiền mặt hay ngoại tệ, địa điểm thanh toán ). - Điều khoản về việc chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá: các bên thoả thuận về thủ tục, thời gian thực hiện việc chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá từ khách hàng sang cho tổ chức tín dụng. Nếu việc chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá phải tuân theo thủ tục của pháp luật hoặc của tổ chức phát hành thì các bên phải thoả thuận về vấn đề này. 118
- - Điều khoản về việc mua lại giấy tờ có giá trong ph−ơng thức chiết khấu có thời hạn: Nếu các bên thoả thuận chiết khấu theo ph−ơng thức có kỳ hạn thì điều khoản này rất quan trọng. Các bên phải thoả thuận về thời hạn chiết khấu nh−ng không đ−ợc v−ợt quá thời hạn còn lại của giấy tờ có giá, về thủ tục mua lại giấy tờ có giá của khách hàng, giá mua lại giấy tờ có giá - Điều khoản khác: ngoài những nội dung trên, các bên có thể thoả thuận các nội dung khác không trái với quy định của pháp luật. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá do các bên thoả thuận. Nếu các bên không thoả thuận thì thời điểm hợp đồng có hiệu lực là khi bên sau cùng ký vào hợp đồng. 5. Thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá Thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá là trình tự các b−ớc thực hiện giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá. Thông th−ờng, việc chiết khấu giấy tờ có giá xuất phát từ đề nghị của khách hàng. Tuy nhiên, tổ chức tín dụng cũng có quyền đề nghị mua giấy tờ có giá d−ới hình thức chiết khấu. Khách hàng có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có giá gửi giấy đề nghị chiết khấu giấy tờ có giá đến cho tổ chức tín dụng mà mình lựa chọn. Đồng thời, khách hàng phải gửi giấy tờ có giá kèm theo giấy đề nghị chiết khấu. Khách hàng phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lệ của giấy tờ có giá đ−ợc đề nghị chiết khấu. Sau khi nhận đ−ợc giấy đề nghị chiết khấu và giấy tờ có giá của khách hàng, tổ chức tín dụng tiến hành thẩm định. Mục đích của việc thẩm định giấy tờ có giá là nhằm kiểm tra giấy tờ có giá có đủ các điều kiện để đ−ợc chiết khấu hay không theo quy định của pháp luật và cân nhắc xem có chấp nhận đề nghị chiết khấu của khách hàng hay không. Căn cứ vào điều kiện tài chính, tính sinh lợi và tính rủi ro cũng nh− điều kiện khác, tổ chức tín dụng thông qua hoạt động thẩm định sẽ quyết định chấp nhận chiết khấu hoặc không chấp nhận chiết khấu giấy tờ có giá cho khách hàng. Trong tr−ờng hợp cần thiết, tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu khách hàng xuất trình các giấy tờ cần thiết chứng minh về điều kiện chiết khấu theo quy định của pháp luật. Nếu không chấp nhận chiết khấu, tổ chức tín dụng phải gửi trả lại giấy tờ có giá cho khách hàng và trả lời rõ ràng về việc không chấp nhận chiết khấu. Về nguyên tắc, tổ chức tín dụng không cần phải đ−a ra lý do về việc không chấp nhận chiết khấu. Nếu tổ chức tín dụng chấp nhận chiết khấu giấy tờ có giá cho khách hàng, các bên tiến hành làm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá từ khách hàng sang cho tổ chức tín dụng. - Đối với loại giấy tờ có giá không ghi tên, khách hàng phải trực tiếp chuyển giao giấy tờ có giá đó cho tổ chức tín dụng kèm theo các giấy tờ cần thiết khác (nếu có). 119
- - Đối với loại giấy tờ có giá có ghi tên ng−ời sở hữu, khách hàng phải giao giấy tờ có giá và làm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu theo quy định của pháp luật và của tổ chức phát hành. - Đối với giấy tờ có giá phát hành d−ới hình thức bút toán ghi sổ, khách hàng giao giấy chứng nhận quyền sở hữu và tiến hành thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định của pháp luật và của tổ chức phát hành. - Đối với giấy tờ có giá đ−ợc l−u ký tại tổ chức đ−ợc phép l−u ký theo quy định của pháp luật, khách hàng và tổ chức tín dụng có thể uỷ quyền cho tổ chức l−u ký thực hiện chuyển quyền sở hữu từ khách hàng sang cho tổ chức tín dụng. Sau khi làm xong thủ tục chuyển quyền sở hữu, tổ chức tín dụng tiến hành việc thanh toán số tiền chiết khấu cho khách hàng. Nếu việc chiết khấu đ−ợc tiến hành theo ph−ơng thức chiết khấu có thời hạn, khi khách hàng mua lại giấy tờ có giá theo thoả thuận thì việc chuyển quyền sở hữu đ−ợc thực hiện t−ơng tự nh− trên. 6. Quyền truy đòi của tổ chức tín dụng trong tr−ờng hợp giấy tờ có giá không đ−ợc thanh toán khi đến hạn Một trong những vấn đề quan trọng đối với hoạt động chiết khấu là bảo đảm quyền truy đòi của tổ chức tín dụng nhận chiết khấu. Chỉ khi nào quyền truy đòi đ−ợc đảm bảo thì hoạt động chiết khấu và mua bán giấy tờ có giá mới thật sự đem lại hiệu quả cho nền kinh tế, tăng c−ờng khả năng sử dụng vốn và năng lực thanh toán cho các chủ thể. Giá trị của giấy tờ có giá phụ thuộc vào việc tổ chức phát hành hoặc ng−ời bị ký phát (đối với hối phiếu) có chấp nhận thanh toán hay không. Về nguyên tắc, quyền truy đòi là quyền năng phát sinh từ nghĩa vụ đảm bảo giá trị giấy tờ có giá của khách hàng. Do đó, khi giấy tờ có giá không đ−ợc chấp nhận thanh toán, tổ chức tín dụng có quyền truy đòi chính khách hàng đã chuyển nh−ợng giấy tờ có giá cho mình. Đối với th−ơng phiếu, pháp luật quy định khá cụ thể về quyền truy đòi của ng−ời thụ h−ởng khi th−ơng phiếu không đ−ợc chấp nhận thanh toán. Theo quy định tại Điều 38 Pháp lệnh Th−ơng phiếu thì khi th−ơng phiếu không đ−ợc chấp nhận thanh toán, ng−ời thụ h−ởng có quyền truy đòi đối với những ng−ời sau đây: - Ng−ời ký phát, ng−ời bảo lãnh trong tr−ờng hợp hối phiếu bị từ chối chấp nhận một phần hoặc toàn bộ theo quy định của pháp luật. Đ−ợc coi là từ chối chấp nhận nếu ng−ời bị ký phát không thực hiện hành vi chấp nhận ngay khi ng−ời thụ h−ởng xuất trình. - Ng−ời ký phát hoặc ng−ời phát hành, ng−ời chuyển nh−ợng, ng−ời bảo lãnh, khi th−ơng phiếu đến hạn thanh toán mà không đ−ợc thanh toán theo nội dung của th−ơng phiếu. -Ng−ời ký phát, ng−ời chuyển nh−ợng, ng−ời bảo lãnh trong tr−ờng hợp ng−ời bị ký phát bị tuyên bố phá sản hoặc giải thể, kể cả hối phiếu đã đ−ợc chấp nhận hoặc ch−a đ−ợc chấp nhận. 120
- - Ng−ời ký phát, ng−ời chuyển nh−ợng, ng−ời bảo lãnh trong tr−ờng hợp ng−ời ký phát bị tuyên bố phá sản hoặc giải thể, nếu hối phiếu ch−a đ−ợc chấp nhận. - Ng−ời phát hành, ng−ời chuyển nh−ợng, ng−ời bảo lãnh trong tr−ờng hợp ng−ời phát hành bị tuyên bố phá sản hoặc giải thể. Ngoài quyền truy đòi, tổ chức tín dụng có quyền khởi kiện khách hàng đã chiết khấu giấy tờ có giá hoặc tổ chức phát hành khi giấy tờ có giá không đ−ợc thanh toán khi đến hạn nếu các chủ thể trên không chấp nhận việc truy đòi. 121
- câu hỏi h−ớng dẫn học tập 1. Bản chất của chiết khấu? So sánh việc chiết khấu giấy tờ có giá với việc mua bán các tài sản khác? 2. Các loại chủ thể tham gia quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá? Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá? 122
- Ch−ơng Vii Cho thuê tài chính I. Khái niệm cho thuê tài chính và pháp luật cho thuê tài chính 1. Khái niệm, bản chất cho thuê tài chính, các ph−ơng thức cho thuê tài chính. 1.1. Khái niệm và bản chất của cho thuê tài chính Trong lịch sử phát triển xã hội, việc khai thác công dụng của tài sản đã góp phần quan trọng để con ng−ời sản xuất của cải vật chất nhằm phục vụ nhu cầu của chính mình. Quyền sở hữu chính là tiền đề để chủ sở hữu có thể khai thác công năng của tài sản. Tuy nhiên, không phải lúc nào ng−ời có nhu cầu sử dụng tài sản đã có đ−ợc quyền sở hữu tài sản đó vì nhiều lý do khác nhau. Chính vì vậy, để thoả mãn nhu cầu sử dụng tài sản, chủ thể có nhu cầu khai thác phải m−ợn hoặc thuê tài sản của chủ sở hữu. Bộ luật Dân sự có những quy định cụ thể về cho thuê và cho m−ợn mà theo đó, việc cho thuê và cho m−ợn đã tạo điều kiện cho ng−ời không phải chủ sở hữu có thể đ−ợc sử dụng tài sản của ng−ời khác. Cho thuê và cho m−ợn đ−ợc thực hiện d−ới dạng hợp đồng. Theo hợp đồng m−ợn tài sản, bên cho m−ợn giao tài sản cho bên m−ợn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên m−ợn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn m−ợn hoặc mục đích m−ợn đã đạt đ−ợc. Theo hợp đồng thuê tài sản, bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải trả tiền thuê. Nh− vậy, sự khác nhau rất cơ bản của cho thuê và cho m−ợn là cho thuê phải trả tiền thuê, còn cho m−ợn thì không phải trả tiền. Chính vì vậy, pháp luật quy định quyền của bên thuê rộng hơn quyền của bên m−ợn tài sản. Trong thực tế xã hội, hoạt động cho thuê cũng rất đa dạng. Cho thuê thông th−ờng đ−ợc hiểu là bên có nhu cầu thuê tài sản sẽ tìm đến bên có tài sản cho thuê để giao kết hợp đồng thuê tài sản. Tuy nhiên, trong một số tr−ờng hợp, việc thuê tài sản nh− vậy không thực hiện đ−ợc. Ví dụ, bên thuê muốn thuê tài sản còn mới, ch−a sử dụng, có đ−ợc các tiêu chuẩn mà rất ít bên cho thuê đáp ứng đ−ợc. 123
- Chính vì vậy, pháp luật đã phân biệt hai hình thức cho thuê cơ bản là cho thuê vận hành (cho thuê thông th−ờng) và cho thuê tài chính. Cho thuê vận hành là việc cho thuê tài sản để sử dụng trong một thời gian nhất định, bên thuê sẽ trả tiền thuê theo thời gian thuê đã thoả thuận. Còn theo “Chuẩn mực kế toán quốc tế số 17, sửa đổi năm 1997” (gọi là IAS 17) do Uỷ ban về chuẩn mực kế toán quốc tế ban hành thì cho thuê tài chính là loại cho thuê có khả năng dịch chuyển về cơ bản tất cả những rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản. Quyền sở hữu đó cuối cùng có thể đ−ợc chuyển giao hoặc không đ−ợc chuyển giao. Theo IAS 17, việc phân biệt cho thuê tài chính và cho thuê vận hành chính là bản chất của giao dịch chứ không phải là hình thức hợp đồng. Tiêu chí phân biệt quan trọng nhất là việc chuyển dịch hầu hết các quyền năng thuộc quyền sở hữu của bên thuê cho bên thuê. Theo quy định của pháp luật thì “cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, ph−ơng tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, ph−ơng tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã đ−ợc hai bên thoả thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đ−ợc quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận”(1). Đây là khái niệm t−ơng đối hoàn chỉnh thể hiện đ−ợc bản chất của cho thuê tài chính. Cho thuê tài chính là một dạng của cho thuê tài sản, nh−ng có nhiều đặc điểm đặc tr−ng. Cho thuê tài chính chính là một hình thức cấp tín dụng vì hoạt động này mang đầy đủ bản chất của hoạt động cấp tín dụng do tổ chức tín dụng thực hiện. Là một hình thức cấp tín dụng, cho thuê tài chính có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, trong hoạt động cho thuê tài chính, bên cho thuê chuyển giao tài sản cho bên thuê sử dụng. Sau khi giao kết hợp đồng cho thuê tài chính, bên cho thuê sẽ mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê. Khác với cho thuê tài sản thông th−ờng, hợp đồng cho thuê tài chính th−ờng đ−ợc giao kết tr−ớc khi bên cho thuê sở hữu tài sản thuê. Nh− vậy, về mặt hình thức, cho thuê tài chính là cho thuê tài sản, nh−ng thực chất bên cho thuê đã bỏ một khoản tiền để mua tài sản giao cho bên thuê sử dụng trong một thời gian mà các bên thoả thuận. Bên thuê sẽ hoàn trả khoản tiền mua tài sản này d−ới dạng tiền thuê. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải t−ơng đ−ơng với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Nh− vậy, khi kết thúc thời hạn thuê, bên cho thuê đ−ợc bên thuê hoàn trả (1) Điều 1 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính. 124
- cả gốc và lãi (số tiền gốc là số tiền bên cho thuê bỏ ra mua tài sản thuê và số tiền lãi là chênh lệch giữa tổng số tiền thuê và tiền mua tài sản cho thuê). Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động cho thuê tài chính do các tổ chức tín dụng thực hiện. Các tổ chức tín dụng này sử dụng nguồn vốn tự có và vốn huy động theo quy định của pháp luật để thực hiện việc cấp tín dụng d−ới hình thức cho thuê tài chính. Hoạt động cho thuê tài chính của tổ chức tín dụng phải tuân theo các quy định của pháp luật ngân hàng. Thứ hai, xuất phát từ bản chất của hoạt động cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng, nên hầu hết các quyền năng của chủ sở hữu tài sản thuê đ−ợc chuyển giao cho bên thuê. Điều này làm cho hoạt động cho thuê tài chính t−ơng tự nh− hoạt động cho vay(1). Trong cho thuê tài sản thông th−ờng, ngoài quyền đ−ợc sử dụng tài sản, các quyền năng khác liên quan đến tài sản rất hạn chế. Pháp luật chủ yếu quy định các nghĩa vụ của bên thuê(2). Ng−ợc lại, trong cho thuê tài chính, bên thuê có nhiều quyền năng hơn nh−ng cũng có nhiều nghĩa vụ hơn. Pháp luật giảm tối đa các nghĩa vụ của bên cho thuê. Ví dụ, trong cho thuê tài sản thông th−ờng, bên cho thuê phải sửa chữa tài sản nhằm đảm bảo khả năng sử dụng cho bên thuê nếu bên thuê không có lỗi. Còn trong cho thuê tài chính, bên thuê phải có nghĩa vụ bảo quản, sửa chữa tài sản, chịu mọi trách nhiệm về việc tài sản bị h− hỏng, mất mát, không phụ thuộc vào việc bên thuê có lỗi hay không. Nh− vậy, các quyền và nghĩa vụ của bên thuê trong cho thuê tài chính đã chứng minh rằng, hầu hết các quyền năng của chủ sở hữu đã chuyển sang cho bên thuê. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, bên cho thuê là chủ sở hữu tài sản thuê. Thứ ba, khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê chỉ có quyền lựa chọn giữa việc thuê tiếp hoặc mua lại tài sản thuê. Đặc điểm này cho thấy, bên cho thuê đã không phải nhận lại tài sản thuê. Bởi vì tài sản thuê đ−ợc mua theo yêu cầu của bên thuê. Việc không nhận lại tài sản thuê khi kết thúc thời hạn thuê đã bảo vệ quyền lợi cho bên cho thuê, vì họ chuyển giao một l−ợng giá trị, nên họ sẽ thu hồi d−ới hình thức giá trị. Thực tế cho thấy, sau khi kết thúc thời hạn thuê, bên cho thuê đã thu hồi đ−ợc cả gốc và lãi, nên có thể chuyển giao quyền sở hữu cho bên thuê theo giá danh nghĩa mà các bên thoả thuận, tuỳ theo khả năng sử dụng còn lại của tài sản. ở Việt Nam, hoạt động cho thuê tài chính ra đời khá muộn. Ban đầu, hoạt động này gọi là tín dụng thuê mua: “tín dụng thuê mua là hoạt động cho thuê máy móc thiết bị và các động sản khác phục vụ cho sản xuất kinh doanh đ−ợc các tổ chức tín dụng mua theo yêu cầu của bên thuê. Bên thuê thanh toán tiền thuê cho tổ chức tín dụng (1) Trong hoạt động cho vay, kể từ khi nhận tài sản vay, bên vay là chủ sở hữu tài sản vay (Điều 469 Bộ luật Dân sự) (2) Xem Điều 476 đến Điều 488 Bộ luật Dân sự 125
- trong suốt thời hạn thuê đã đ−ợc hai bên thoả thuận và không đ−ợc huỷ bỏ. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đ−ợc quyền sở hữu tài sản thuê, hoặc đ−ợc mua lại tài sản thuê, hay tiếp tục thuê tài sản thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thuê mua". Hoạt động tín dụng thuê mua do các ngân hàng và công ty tài chính thực hiện(1). Nh− vậy về bản chất, hoạt động tín dụng thuê mua và hoạt động cho thuê tài chính chỉ là một nh−ng có tên gọi khác nhau. Hoạt động cho thuê tài chính đã tồn tại khá lâu ở các quốc gia phát triển, vì nó đem lại nhiều lợi ích cho các bên trong hợp đồng cho thuê tài chính và cho cả nền kinh tế. 1.2. Một số ph−ơng thức cho thuê tài chính trong nền kinh tế Trong nền kinh tế, để phù hợp với nhu cầu khác nhau của ng−ời cho thuê và ng−ời đi thuê mà hoạt động cho thuê tài chính có nhiều ph−ơng thức. Cho thuê liên kết là ph−ơng thức cho thuê tài chính, theo đó, tồn tại từ hai công ty cho thuê tài chính trở lên với t− cách là bên cho thuê. Theo pháp luật Việt Nam, việc cho thuê liên kết này đ−ợc gọi là cho thuê hợp vốn. Cho thuê hợp vốn đáp ứng đ−ợc nhu cầu tín dụng lớn của khách hàng mà một công ty cho thuê tài chính không thể đáp ứng đ−ợc. Mặt khác, cho thuê hợp vốn là cách thức giải quyết khi nhu cầu về vốn để mua tài sản thuê của khách hàng v−ợt quá tỷ lệ cho phép so với nguồn vốn tự có của công ty cho thuê tài chính do pháp luật quy định. Cho thuê bắc cầu là ph−ơng thức cho thuê tài chính, theo đó, để đáp ứng nhu cầu về vốn của khách hàng thuê, bên cho thuê phải vay vốn của chủ thể khác. Khoản tiền vay này, theo pháp luật một số quốc gia, không đ−ợc v−ợt quá 80% giá trị của tài sản cho thuê. Bên cho vay sẽ đ−ợc hoàn trả số tiền vay từ tiền thuê. Bên thuê sẽ trả tiền cho bên cho vay theo yêu cầu của bên cho thuê. Khi nào số tiền vay đ−ợc trả hết thì bên thuê mới trả tiền cho bên cho thuê. Bán và cho thuê lại là ph−ơng thức cho thuê tài chính mà tài sản thuê tr−ớc đây thuộc sở hữu của bên thuê; bên thuê chuyển quyền sở hữu cho bên cho thuê, sau đó sẽ thuê lại để tiếp tục sử dụng. Hình thức cho thuê tài chính này rất đ−ợc bên thuê −a chuộng, do nó giải phóng đ−ợc một l−ợng vốn nằm trong tài sản cố định ban đầu để đầu t− cho hoạt động kinh doanh. Cho thuê giáp l−ng là ph−ơng thức cho thuê tài chính, theo đó, bên thuê có thể chuyển giao t− cách là bên thuê trong hợp đồng thuê tài chính của mình cho ng−ời thứ ba thuê lại nếu bên cho thuê đồng ý. Sau khi hợp đồng cho thuê lại đ−ợc ký kết, các quyền và nghĩa vụ liên quan, việc sử dụng tài sản của bên thuê thứ nhất sẽ chuyển cho bên thuê thứ hai. Những vấn đề nh− chi phí, giá trị tài sản và các vấn đề khác do (1) Xem Điều 32 Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ban hành năm 1990. 126
- bên thuê thứ nhất và bên thuê thứ hai thoả thuận. Tuy nhiên, bên thuê thứ nhất vẫn phải chịu trách nhiệm trả tiền thuê và các trách nhiệm liên đới khác đối với bên cho thuê theo thoả thuận ban đầu. Ph−ơng thức cho thuê này giúp cho bên thuê thứ nhất tiết kiệm đ−ợc các chi phí trả tiền thuê khi không còn nhu cầu sử dụng tài sản thuê. Cho thuê tài chính thông th−ờng là việc bên cho thuê giao kết hợp đồng cho thuê tài chính với bên thuê theo các đặc điểm thông th−ờng của hoạt động này. Trong cho thuê tài chính thông th−ờng, chỉ tồn tại một công ty cho thuê tài chính với t− cách là bên cho thuê và một khách hàng thuê. Sau khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng sẽ thuê tiếp hoặc mua lại tài sản thuê theo thoả thuận. 2. Lợi ích của hoạt động cho thuê tài chính Đối với bên thuê, hoạt động cho thuê tài chính của tổ chức tín dụng giúp bên thuê có đ−ợc tài sản để phát triển sản xuất mà không cần phải bỏ ra một khoản vốn lớn. Doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn trong các tài sản cố định có thời gian khấu hao kéo dài. Việc tiết kiệm một khoản đầu t− đáng kể nh− vậy giúp doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất cả bề rộng và chiều sâu, tăng c−ờng khả năng cạnh tranh. Bên cạnh đó, hoạt động cho thuê tài chính hiện nay không thuộc đối t−ợng chịu thuế giá trị gia tăng(1) nên doanh nghiệp đi thuê có thể tránh đ−ợc các chi phí liên quan đến loại thuế này so với việc mua sắm tài sản cố định. Bởi vì, khi mua tài sản cố định, doanh nghiệp phải trả một khoản thuế giá trị gia tăng cho ng−ời bán và chỉ đ−ợc khấu trừ dần dần theo giá trị khấu hao. Còn trong cho thuê tài chính, một l−ợng vốn dùng để trả thuế nếu nh− mua tài sản đ−ợc sử dụng cho đầu t−. Trong hoạt động cho thuê tài chính, bên thuê có thể có đ−ợc tài sản từ nguồn vốn của tổ chức tín dụng mà không nhất thiết phải có tài sản bảo đảm. Điều này làm cho hoạt động cho thuê tài chính có lợi thế hơn hoạt động cho vay trong sự lựa chọn của các doanh nghiệp. So với cho thuê vận hành, mặc dù bên thuê có nhiều nghĩa vụ hơn nh−ng lại có nhiều quyền năng hơn, tạo sự chủ động cho bên thuê trong việc khai thác công năng sử dụng của tài sản. Khả năng chủ động là điều rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Đối với bên cho thuê, hoạt động cho thuê tài chính có nhiều tiện ích. Bên cho thuê sẽ thu hồi đ−ợc dần dần l−ợng tiền bỏ ra d−ới dạng tiền thuê mà không phải chờ đợi một thời gian nh− hoạt động cho vay. Mặt khác, hoạt động cho thuê tài chính có độ an toàn cao, do tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê và việc trả tiền thuê toàn bộ đã là một sự bảo đảm t−ơng đối chắc chắn cho bên cho thuê. (1) Xem Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) 127
- Hoạt động cho thuê tài chính lại không phải chịu các hạn mức tín dụng khắt khe nh− hoạt động cho vay. Bởi vì, giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng không quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng chỉ áp dụng với hoạt động cho vay bảo lãnh ngân hàng và chiết khấu giấy tờ có giá mà không áp dụng với hoạt động cho thuê tài chính. Theo quy định của pháp luật thì tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không đ−ợc v−ợt quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trừ tr−ờng hợp đối với những khoản cho thuê tài chính từ các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hoặc khách hàng thuê là tổ chức tín dụng. Mặt khác, những tài sản đ−ợc cho thuê chủ yếu là thiết bị, máy móc thuộc diện trong n−ớc ch−a sản xuất đ−ợc nên bên cho thuê sẽ không phải nộp thuế giá trị gia tăng khi mua tài sản. Do vậy, tổ chức tín dụng có thể giảm đ−ợc tiền cho thuê, tăng c−ờng khả năng cạnh tranh trong sự lựa chọn của các doanh nghiệp giữa hoạt động cho thuê tài chính và mua tài sản. Hoạt động cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn nên tạo đ−ợc khả năng sinh lợi ổn định và lâu dài cho tổ chức tín dụng. Mặt khác, tổ chức tín dụng có khả năng linh hoạt cao trong việc khai thác tài sản cho thuê. Sau khi kết thúc thời hạn thuê, về cơ bản tổ chức tín dụng đã có đ−ợc lợi nhuận, nh−ng vẫn có thể có thu nhập tiếp theo khi bên thuê tiếp tục thuê hoặc mua lại tài sản. Bên cạnh đó, do tài sản thuê thuộc sở hữu của bên cho thuê nên bên cho thuê sẽ thuận lợi hơn trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng tài sản của bên thuê để bảo vệ quyền lợi của mình. Đối với nền kinh tế, hoạt động cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy việc đổi mới công nghệ, gia tăng năng suất lao động và tiết kiệm đ−ợc chi phí xã hội. Mặt khác, hoạt động cho thuê tài chính còn góp phần cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu t− tài sản cố định, mở rộng sản xuất, là một lợi ích to lớn cho các nền kinh tế đang phát triển(1). 3. Pháp luật về cho thuê tài chính Pháp luật về cho thuê tài chính là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động cho thuê tài chính. Pháp luật về cho thuê tài chính bao gồm hai bộ phận chính là: - Pháp luật quy định về địa vị pháp lý của công ty cho thuê tài chính. Trong bộ phận này, có những quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của cho thuê tài chính với t− cách là chủ thể cấp tín dụng d−ới hình thức cho thuê tài chính. (1) Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản: Tìm hiểu và sử dụng tín dụng thuê mua, NXB Trẻ, tr.53 128
- - Pháp luật điều chỉnh hợp đồng cho thuê tài chính, điều chỉnh mối quan hệ giữa bên cho thuê và bên thuê trong việc giao kết hợp đồng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động cho thuê tài chính. Hoạt động cho thuê tài chính mới xuất hiện ở Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ XX. Quyết định số 149/QĐ-NH5 của Thống đốc Ngân hàng Nhà n−ớc ngày 27/5/1995 về việc ban hành “Thể lệ tín dụng thuê mua” là văn bản pháp luật đầu tiên quy định cụ thể về cho thuê tài chính. Luật Các tổ chức tín dụng ban hành năm 1997 và sửa đổi năm 2004 tại Điều 20, 61, 62, 63 và Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính đã quy định khá chi tiết về hoạt động cho thuê tài chính, làm cơ sở pháp lý cho việc phát triển thị tr−ờng tài trợ vốn d−ới hình thức này ở Việt Nam. iI. địa vị pháp lý của công ty cho thuê tài chính 1. Khái niệm và phân loại công ty cho thuê tài chính Hoạt động cho thuê tài chính do công ty cho thuê tài chính thực hiện. Điều 61 Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) quy định “hoạt động cho thuê tài chính đối với tổ chức, cá nhân đ−ợc thực hiện qua công ty cho thuê tài chính”. Nh− vậy, có thể thấy, công ty cho thuê tài chính là chủ thể duy nhất đ−ợc thực hiện hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam. ở một số quốc gia có nền kinh tế phát triển, hoạt động cho thuê tài chính do nhiều chủ thể thực hiện. Việc phân biệt một loại hình cho thuê có phải là cho thuê tài chính hay không phụ thuộc vào bản chất giao dịch chứ không phải là chủ thể cho thuê. Tuy nhiên, ở Việt Nam hoạt động này còn mới mẻ nên pháp luật phải có những quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo hình thành một thị tr−ờng ổn định và phát triển lành mạnh cho hoạt động này, góp phần thúc đẩy sự phát triển của cả hệ thống tín dụng. Công ty cho thuê tài chính là một loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng đ−ợc thành lập theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 20, Điều 45 của Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) và khoản 1 Điều 16 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thì công ty cho thuê tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ nh−ng không đ−ợc huy động tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn d−ới một năm và không đ−ợc làm dịch vụ thanh toán. Công ty cho thuê tài chính là loại hình doanh nghiệp có t− cách pháp nhân theo quy định của pháp luật. Công ty cho thuê tài chính đ−ợc Ngân hàng Nhà n−ớc cho 129
- phép thành lập và hoạt động; có tài sản riêng; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật. Công ty cho thuê tài chính có nhiều loại. Việc phân loại công ty cho thuê tài chính có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý nhà n−ớc về hoạt động cho thuê tài chính và cho việc nghiên cứu loại hình doanh nghiệp này. Theo tiêu chí nguồn gốc sở hữu, công ty cho thuê tài chính bao gồm: - Công ty cho thuê tài chính Nhà n−ớc. Đây là loại hình công ty cho thuê tài chính do Nhà n−ớc thành lập và đầu t− vốn. Công ty cho thuê tài chính Nhà n−ớc đ−ợc thành lập theo quyết định của cơ quan nhà n−ớc có thẩm quyền để hoạt động kinh doanh. Ngoài pháp luật ngân hàng, công ty cho thuê tài chính Nhà n−ớc còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp nhà n−ớc. Bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, loại hình doanh nghiệp này còn phải thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà nó đ−ợc giao. - Công ty cho thuê tài chính cổ phần. Đây là loại hình công ty cho thuê tài chính đ−ợc thành lập và hoạt động theo quy chế pháp lý của loại hình công ty cổ phần. Công ty cho thuê tài chính cổ phần do nhiều chủ sở hữu nắm giữ. Theo Luật Các tổ chức tín dụng 1997 thì loại hình công ty cho thuê tài chính cổ phần phải có sự tham gia góp vốn của nhà n−ớc. Tuy nhiên, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004 thì công ty cho thuê tài chính cổ phần không nhất thiết phải có sự tham gia góp vốn của nhà n−ớc. - Công ty cho thuê tài chính có vốn đầu t− n−ớc ngoài. Công ty cho thuê tài chính có vốn đầu t− n−ớc ngoài bao gồm công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn n−ớc ngoài. Công ty cho thuê tài chính liên doanh là loại hình công ty cho thuê tài chính có sự góp vốn của bên Việt Nam và bên n−ớc ngoài với t− cách là các bên liên doanh. Công ty cho thuê tài chính 100% vốn n−ớc ngoài là loại hình công ty cho thuê tài chính mà bên n−ớc ngoài đầu t− 100% vốn. Bên n−ớc ngoài đầu t− thành lập công ty cho thuê tài chính có vốn đầu t− n−ớc ngoài phải là tổ chức tín dụng n−ớc ngoài (đ−ợc thành lập và hoạt động theo pháp luật n−ớc ngoài); đ−ợc cơ quan nhà n−ớc có thẩm quyền n−ớc ngoài cho phép đầu t− vào Việt Nam (nếu phải xin phép) và đ−ợc cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cho phép hoạt động tại Việt Nam. Công ty cho thuê tài chính có vốn đầu t− n−ớc ngoài hoạt động theo pháp luật ngân hàng và pháp luật về doanh nghiệp có vốn đầu t− n−ớc ngoài. Công ty cho thuê tài chính có thể trực thuộc tổ chức tín dụng hoặc là doanh nghiệp độc lập (không trực thuộc tổ chức tín dụng). Do pháp luật quy định hoạt động cho thuê tài chính phải do công ty cho thuê tài chính thực hiện nên các tổ chức tín dụng muốn 130
- thực hiện việc cấp tín dụng theo hình thức cho thuê tài chính thì phải thành lập công ty cho thuê tài chính trực thuộc. Hoạt động của công ty cho thuê tài chính loại này chịu sự điều hành của công ty mẹ - tức là tổ chức tín dụng đã thành lập ra nó. 2. Cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty cho thuê tài chính Là một loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, công ty cho thuê tài chính đ−ợc thành lập theo quy định của pháp luật ngân hàng. Do hệ thống các tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và bản chất của hoạt động kinh doanh ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro, nên pháp luật quy định khá chặt chẽ việc thành lập và hoạt động của công ty cho thuê tài chính. Để đ−ợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động, các sáng lập viên của công ty cho thuê tài chính phải chứng minh là thoả mãn các điều kiện sau đây: - Có nhu cầu hoạt động cho thuê tài chính trên địa bàn xin hoạt động. Nhu cầu hoạt động cho thuê tài chính là điều kiện đầu tiên đảm bảo cho công ty cho thuê tài chính có thể hoạt động hiệu quả, tránh đ−ợc những tổn thất cho các nhà đầu t−, gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà n−ớc và ảnh h−ởng xấu đến hệ thống các tổ chức tín dụng. - Có số vốn không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ. Theo pháp luật hiện hành thì công ty cho thuê tài chính có vốn đầu t− trong n−ớc có mức vốn pháp định là 50 tỷ đồng, còn đối với công ty cho thuê tài chính có vốn đầu t− n−ớc ngoài là 5 triệu USD. Đây là điều kiện để công ty cho thuê tài chính có đủ năng lực tài chính để hoạt động. - Thành viên sáng lập là các tổ chức, cá nhân có uy tín và năng lực tài chính. Các sáng lập viên phải có đủ uy tín, đ−ợc gây dựng bởi thành tích kinh doanh, trình độ chuyên môn và các tiêu chuẩn khác. Bên cạnh đó, năng lực tài chính của các sáng lập viên là tiền đề quan trọng để công ty cho thuê tài chính thực sự có thể hoạt động đ−ợc. - Ng−ời quản trị, điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình độ chuyên môn phù hợp với hoạt động của công ty cho thuê tài chính; - Có dự thảo điều lệ về tổ chức, hoạt động phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật; - Có ph−ơng án kinh doanh khả thi. Ngoài các điều kiện trên đây, đối với công ty cho thuê tài chính liên doanh hoặc công ty cho thuê tài chính 100% vốn n−ớc ngoài, bên n−ớc ngoài phải đ−ợc tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật n−ớc ngoài cho phép liên doanh, cho phép hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam. Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động đối với công ty cho thuê tài chính đ−ợc gửi cho Ngân hàng Nhà n−ớc phải có các tài liệu sau đây: - Đơn xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; 131
- - Dự thảo Điều lệ; - Ph−ơng án hoạt động 3 năm đầu, trong đó nêu rõ hiệu quả và lợi ích kinh tế của công ty; - Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn của thành viên sáng lập, thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát và Tổng Giám đốc (Giám đốc); - Ph−ơng án góp vốn và danh sách những cá nhân, tổ chức góp vốn; - Tình hình tài chính và các thông tin có liên quan về các cổ đông lớn; - Chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền nơi đặt trụ sở của công ty cho thuê tài chính. Ngân hàng Nhà n−ớc là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận đ−ợc đầy đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động của các sáng lập viên công ty cho thuê tài chính, Ngân hàng Nhà n−ớc phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép. Trong tr−ờng hợp từ chối cấp giấy phép, Ngân hàng Nhà n−ớc phải có văn bản giải thích lý do. Sau khi đ−ợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động, để đi vào hoạt động, công ty cho thuê tài chính phải có đủ các điều kiện sau đây: - Có điều lệ đã đ−ợc Ngân hàng Nhà n−ớc chuẩn y; - Có đủ vốn pháp định, có trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt động cho thuê tài chính và đã đ−ợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của cơ quan nhà n−ớc có thẩm quyền; - Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải đ−ợc gửi vào tài khoản phong toả tại Ngân hàng Nhà n−ớc tr−ớc khi hoạt động tối thiểu 30 ngày; - Đăng báo trung −ơng, địa ph−ơng theo quy định của pháp luật về những nội dung quy định trong giấy phép. Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đ−ợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động, công ty cho thuê tài chính phải khai tr−ơng hoạt động. Nếu công ty cho thuê tài chính không hoạt động, Ngân hàng Nhà n−ớc có quyền thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. 3. Cơ cấu tổ chức, quản trị và điều hành công ty cho thuê tài chính 3.1. Cơ cấu tổ chức của công ty cho thuê tài chính Cơ cấu tổ chức của công ty cho thuê tài chính phụ thuộc vào quy mô kinh doanh của công ty. Ngoài trụ sở chính là nơi tiến hành các hoạt động kinh doanh, công ty cho thuê tài chính đ−ợc phép mở sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện; thành lập công ty, đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật. Công ty cho thuê tài chính có quyền mở sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện tại các địa bàn trong n−ớc, ngoài n−ớc nơi có nhu cầu hoạt động, kể cả nơi đặt trụ 132
- sở chính; đ−ợc thành lập công ty trực thuộc có t− cách pháp nhân, hạch toán độc lập bằng vốn tự có để hoạt động trên một số lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm theo quy định của Chính phủ. Ngoài ra, công ty cho thuê tài chính có quyền thành lập các đơn vị sự nghiệp phục vụ cho hoạt động của mình. Để thành lập các đơn vị trên, công ty cho thuê tài chính phải xin phép Ngân hàng Nhà n−ớc. Điều kiện và thủ tục thành lập đ−ợc quy định tại Điều 33 Luật Các tổ chức tín dụng. 3.2. Quản trị và điều hành công ty cho thuê tài chính Việc quản trị, điều hành và kiểm soát công ty cho thuê tài chính do Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản pháp luật có liên quan quy định. T−ơng tự nh− các tổ chức tín dụng khác, công ty cho thuê tài chính chịu sự quản lý, điều hành và kiểm soát của Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (hoặc Giám đốc) và Ban kiểm soát. Luật Các tổ chức tín dụng đ−a ra mô hình quản trị và điều hành tổ chức tín dụng, các yêu cầu đặc thù cho mô hình quản lý này. Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng không quy định cách thức thành lập các cơ quan quản trị và điều hành mà việc thành lập phụ thuộc vào hình thức sở hữu của chúng. Ví dụ, việc thành lập Hội đồng quản trị, bổ nhiệm Tổng Giám đốc (Giám đốc) và Ban kiểm soát của công ty cho thuê tài chính nhà n−ớc sẽ tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp nhà n−ớc; việc thành lập các cơ quan trên của công ty cho thuê tài chính cổ phần sẽ theo quy định của Luật Doanh nghiệp Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng thì hội đồng quản trị công ty cho thuê tài chính giữ chức năng quản trị. Để đảm bảo khả năng lãnh đạo công ty có hiệu quả, pháp luật quy định hội đồng quản trị phải có số thành viên tối thiểu là 3 ng−ời, gồm những ng−ời có uy tín, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết về hoạt động ngân hàng. Mặt khác, trong hoạt động của hội đồng quản trị, các thành viên trong hội đồng quản trị không đ−ợc uỷ quyền cho những ng−ời không phải là thành viên hội đồng quản trị thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Điều này giúp nâng cao trách nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị, đồng thời giảm thiểu các sai sót trong lãnh đạo và đảm bảo việc bảo mật thông tin, góp phần giữ an toàn cho hoạt động tín dụng. Do chủ tịch hội đồng quản trị là một vị trí lãnh đạo quan trọng nên pháp luật có những yêu cầu dành riêng chức danh này. Chủ tịch hội đồng quản trị không đ−ợc đồng thời là Tổng Giám đốc (Giám đốc) hoặc Phó tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) của công ty cho thuê tài chính, trừ tr−ờng hợp pháp luật có quy định khác. Mặt khác, chủ tịch hội đồng quản trị của công ty cho thuê tài chính này không đ−ợc phép tham gia hội đồng quản trị hoặc tham gia điều hành tổ chức tín dụng khác, trừ tr−ờng hợp tổ chức tín dụng đó là công ty trực thuộc công ty cho thuê tài chính. Ban kiểm soát của công ty cho thuê tài chính đ−ợc thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật, có 133
- nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính và giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ của công ty cho thuê tài chính. Pháp luật quy định ban kiểm soát phải có tối thiểu là 3 ng−ời, trong đó có một ng−ời là tr−ởng ban và ít nhất phải có một nửa số thành viên là chuyên trách. Thành viên ban kiểm soát phải đáp ứng đ−ợc các yêu cầu về trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp do Ngân hàng Nhà n−ớc quy định. Ban kiểm soát đ−ợc sử dụng hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ của công ty cho thuê tài chính để thực hiện các nhiệm vụ của mình. Chịu trách nhiệm điều hành công ty cho thuê tài chính là Tổng Giám đốc (Giám đốc). Tổng Giám đốc (Giám đốc) là ng−ời chịu trách nhiệm tr−ớc Hội đồng quản trị, điều hành hoạt động hàng ngày theo nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Chức danh Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) của công ty cho thuê tài chính là cá nhân, ngoài việc có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều hành tổ chức tín dụng, thì còn phải thoả mãn các tiêu chuẩn sau đây: - Phải c− trú tại Việt Nam trong thời gian đ−ơng nhiệm; - Có trình độ chuyên môn, năng lực điều hành một tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà n−ớc. Pháp luật quy định những ng−ời sau đây không đ−ợc là thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ng−ời điều hành công ty cho thuê tài chính: - Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; - Đã bị kết án về các tội nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, các tội nghiêm trọng xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa, sở hữu của công dân; các tội nghiêm trọng về kinh tế; - Đã bị kết án về các tội phạm khác mà ch−a đ−ợc xoá án; - Đã từng là thành viên hội đồng quản trị hoặc Tổng Giám đốc (Giám đốc) của một công ty đã bị phá sản, trừ các tr−ờng hợp quy định tại khoản 2 Điều 50 của Luật Phá sản doanh nghiệp; - Đã từng là đại diện theo pháp luật của một công ty bị đình chỉ hoạt động do vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan và hạn chế hiện t−ợng vụ lợi cá nhân, pháp luật còn quy định bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của thành viên hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) không đ−ợc là thành viên ban kiểm soát, kế toán tr−ởng của cùng một công ty cho thuê tài chính. Để đảm bảo quản lý nhà n−ớc về hoạt động ngân hàng đ−ợc hiệu quả, pháp luật quy định các thành viên của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của công ty cho thuê tài chính phải đ−ợc Thống đốc Ngân hàng Nhà n−ớc 134
- chuẩn y hoặc đ−ợc Thống đốc Ngân hàng Nhà n−ớc uỷ quyền chuẩn y, trừ tr−ờng hợp do Thủ t−ớng Chính phủ bổ nhiệm. 4. Hoạt động của công ty cho thuê tài chính Là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, công ty cho thuê tài chính đ−ợc quyền nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo các quy định của Ngân hàng Nhà n−ớc. Việc đ−ợc nhận tiền gửi của khách hàng là cách thức huy động vốn hiệu quả của công ty cho thuê tài chính. Pháp luật không có giới hạn nào về số l−ợng tiền gửi mà công ty đ−ợc huy động. Về loại hình tiền gửi, công ty cho thuê tài chính có quyền nhận tiền gửi trung hạn (thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng) và dài hạn (trên 60 tháng). Công ty cho thuê tài chính không đ−ợc nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn d−ới một năm. Sở dĩ pháp luật có quy định hạn chế này nhằm đảm bảo cho công ty cho thuê tài chính hoạt động có hiệu quả và phù hợp với hình thức cấp tín dụng mà nó đ−ợc phép thực hiện. Công ty cho thuê tài chính đ−ợc phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn trên một năm để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong n−ớc và ngoài n−ớc khi đ−ợc Thống đốc Ngân hàng Nhà n−ớc chấp thuận. Việc phát hành giấy tờ có giá của công ty cho thuê tài chính tuân theo Quyết định số 1287/2002/QĐ- NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà n−ớc ngày 22/11/2002 ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong n−ớc. Theo quy chế này, công ty cho thuê tài chính đ−ợc phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn khi có đủ các điều kiện sau đây: - Tuân thủ các quy định về các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và h−ớng dẫn của Ngân hàng Nhà n−ớc. - Có tình hình tài chính lành mạnh theo đánh giá của thanh tra ngân hàng. Ngoài hình thức huy động vốn bằng nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá, công ty cho thuê tài chính có quyền vay vốn của các tổ chức tài chính, các tổ chức tín dụng trong và ngoài n−ớc để huy động vốn và đ−ợc nhận các nguồn vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà n−ớc. Bên cạnh hoạt động huy động vốn với t− cách là hoạt động kinh doanh, công ty cho thuê tài chính là loại chủ thể duy nhất đ−ơc pháp luật cho phép thực hiện hoạt động cho thuê tài chính. Là một hình thức cấp tín dụng, hoạt động cho thuê tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật ngân hàng. Theo quy định tại Điều 78 Luật Các tổ chức tín dụng về hạn chế tín dụng thì công ty cho thuê tài chính không đ−ợc cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện −u đãi cho những đối t−ợng sau đây: - Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại công ty cho thuê tài chính; kế toán tr−ởng, thanh tra viên; 135
- - Các cổ đông lớn của cho thuê tài chính; - Doanh nghiệp có một trong những đối t−ợng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó. Tổng d− nợ cho vay đối với các đối t−ợng trên đây không đ−ợc v−ợt quá 5% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính. Nhằm hạn chế rủi ro, pháp luật quy định công ty cho thuê tài chính phải không đ−ợc cấp tín dụng cho một khách hàng v−ợt quá tỷ lệ 30% vốn tự có của công ty. Tỷ lệ này cao hơn so với quy định hạn chế số tiền cho vay đối với một khách hàng của tổ chức tín dụng(1), bởi vì hoạt động cho thuê tài chính có độ an toàn cao hơn. Bên cạnh đó, công ty cho thuê tài chính phải đảm bảo duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn theo quy dịnh của Ngân hàng Nhà n−ớc. Công ty cho thuê tài chính có thể t− vấn cho khách hàng về những vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính. Hoạt động t− vấn này bên cạnh việc đem lại thu nhập cho công ty, có thể là tiền đề cho việc giao kết các hợp đồng cho thuê tài chính trong t−ơng lai. Công ty đ−ợc quyền thực hiện các dịch vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính. Bên cạnh những hoạt động trên, công ty cho thuê tài chính có quyền góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp khác. Hoạt động đầu t− tài chính ra bên ngoài này phải tuân theo các giới hạn do Ngân hàng Nhà n−ớc quy định. III. Hợp đồng cho thuê tài chính 1. Khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính Hoạt động cho thuê tài chính đ−ợc thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa bên cho thuê và bên thuê. Hợp đồng cho thuê tài chính là sự thoả thuận bằng văn bản giữa công ty cho thuê tài chính với khách hàng thuê, theo đó, bên cho thuê sẽ cung cấp tài sản theo yêu cầu của bên thuê; bên thuê sẽ trả tiền thuê trong suốt thời hạn thuê với tổng số tiền thuê ít nhất t−ơng đ−ơng với giá trị của tài sản thuê tại thời điểm ký kết hợp đồng. Trong hợp đồng cho thuê tài chính, các bên chủ thể bao gồm bên cho thuê và bên thuê. Bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính đ−ợc thành lập theo quy định của pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính. Bên cho thuê phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật đặt ra khi thực hiện giao kết hợp đồng cho thuê tài chính. Bên thuê trong hợp đồng cho thuê tài chính là tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam có nhu cầu thuê tài chính. Các cá nhân, tổ chức phải có đầy đủ năng lực hành vi khi tiến hành giao kết hợp đồng cho thuê tài chính. (1) Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng không đ−ợc cho một khách hàng vay quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng. 136
- Hợp đồng cho thuê tài chính có đối t−ợng là tài sản thuê. Theo quy định của pháp luật, tài sản thuê là máy móc, thiết bị, ph−ơng tiện vận chuyển và các động sản khác theo quy định của pháp luật. Tài sản thuê phải thoả mãn các yêu cầu của pháp luật nh− phải đ−ợc phép giao dịch; nếu phải đăng ký quyền sở hữu hoặc mua bảo hiểm thì phải tuân theo các quy định đó. Để sử dụng tài sản, nếu cần phải có giấy phép sử dụng thì bên thuê phải có giấy phép đó khi giao kết hợp đồng cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê tài chính phải đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch có bảo đảm theo h−ớng dẫn của cơ quan nhà n−ớc có thẩm quyền. Hợp đồng cho thuê tài chính là loại hợp đồng có thời hạn từ một năm trở lên. Theo quy định của pháp luật, cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn nên thời hạn của hợp đồng cho thuê tài chính phải đáp ứng yêu cầu này. Việc quy định thời hạn hợp đồng cho thuê tài chính là trung và dài hạn đã bảo đảm quyền lợi cho bên cho thuê và cả bên thuê. Đối với bên cho thuê, thời hạn cho thuê tài chính là trung và dài hạn đã đảm bảo cho khả năng sinh lợi ổn định và lâu dài của nguồn vốn cấp tín dụng. Đối với bên thuê, thời gian thuê lâu dài giúp cho bên thuê khai thác có hiệu quả tài sản trong hoạt động kinh doanh và nâng cao khả năng trả tiền thuê do dần dần chiếm lĩnh đ−ợc thị tr−ờng. Một đặc điểm quan trọng của hợp đồng cho thuê tài chính là loại hợp đồng thanh toán trọn vẹn. Trong mọi tr−ờng hợp, bên thuê đều phải trả toàn bộ tiền thuê theo thoả thuận, không phụ thuộc vào thời gian sử dụng tài sản thực tế. Nếu bên cho thuê không có lỗi, bên thuê phải trả tiền thuê đầy đủ và đúng hạn, ngay cả khi việc chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính tr−ớc hạn không do lỗi của bên thuê. Nếu bên cho thuê có lỗi, bên thuê vẫn phải trả đầy đủ tiền thuê nh−ng có quyền yêu cầu bên cho thuê bồi th−ờng thiệt hại, trừ tr−ờng hợp chấm dứt hợp đồng tr−ớc hạn do lỗi của bên cho thuê theo quy định của pháp luật. Việc hợp đồng cho thuê tài chính phải đ−ợc thanh toán trọn vẹn thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng. Pháp luật bảo vệ bên cấp tín dụng trong việc đ−ợc hoàn trả lại l−ợng giá trị đã bỏ ra. Thanh toán trọn vẹn cũng bắt buộc bên thuê phải sử dụng tài sản có hiệu quả để giảm thiểu các chi phí liên quan đến tài sản thuê. 2. Ký kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính 2.1. Ký kết hợp đồng cho thuê tài chính Việc ký kết hợp đồng cho thuê tài chính là hành vi pháp lý của các bên nhằm giao kết hợp đồng. Việc ký kết hợp đồng cho thuê tài chính bắt đầu bằng đề nghị giao kết của một bên chủ thể. Thông th−ờng, bên thuê sẽ là ng−ời đề nghị giao kết hợp đồng cho thuê tài chính. Tuy nhiên, pháp luật không có hạn chế nào về việc công ty cho thuê tài chính là ng−ời đề nghị giao kết hợp đồng mà đó là quyền của họ. 137
- Sau khi nhận đ−ợc đề nghị giao kết hợp đồng cho thuê tài chính, các bên tiến hành gặp gỡ để th−ơng l−ợng. Trong b−ớc này, các bên nêu rõ các yêu cầu của mình về giá trị tài sản thuê, phí giao dịch, tiền thuê, thời hạn thuêv.v Sau đó, bên thuê tiến hành gặp gỡ bên cung cấp tài sản để th−ơng l−ợng, thoả thuận về việc mua tài sản. Sau khi có biên bản ghi nhận về thoả thuận cung cấp tài sản, bên thuê gửi hồ sơ xin cấp tín dụng d−ới hình thức cho thuê tài chính đến công ty cho thuê tài chính. Công ty cho thuê tài chính tiến hành thẩm định hồ sơ, quyết định cho thuê hoặc không cho thuê. Nếu không cho thuê, công ty cho thuê tài chính phải trả lời bằng văn bản. Nếu công ty cho thuê tài chính đồng ý việc cho thuê, các bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng cho thuê tài chính. Hợp đồng cho thuê tài chính có hiệu lực kể từ thời điểm các bên thoả thuận. Nếu các bên không thoả thuận thời điểm có hiệu lực, hợp đồng sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hợp đồng. Sau cùng, công ty cho thuê tài chính tiến hành các thủ tục mua tài sản để giao cho bên thuê theo thời hạn và ph−ơng thức thoả thuận 2.2. Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính là việc các bên chấp hành và thực hiện trên thực tế các quyền và nghĩa vụ đã thoả thuận đ−ợc ghi trong các điều khoản của hợp đồng. Việc thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính bắt đầu từ thời điểm các bên thoả thuận, sau khi hợp đồng có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên phải tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau phối hợp trên tinh thần đôi bên cùng có lợi. Mọi tranh chấp phát sinh tr−ớc tiên phải đ−ợc giải quyết bằng th−ơng l−ợng trên cơ sở tuân thủ các cam kết trong hợp đồng cho thuê tài chính. Trong quá trình thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính, các bên có quyền sửa đổi hợp đồng. Việc sửa đổi hợp đồng cho thuê tài chính sẽ do các bên thoả thuận trên nguyên tắc tự do thoả thuận và bình đẳng về t− cách pháp lý. Không bên nào đ−ợc tự ý đơn ph−ơng sửa đổi hợp đồng. Việc tự ý đơn ph−ơng sửa đổi hợp đồng cho thuê tài chính là hành vi vi phạm hợp đồng và phải bồi th−ờng thiệt hại. 2.3. Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính Hợp đồng cho thuê tài chính chấm dứt khi thời hạn thuê đã hết. Khi chấm dứt thời hạn thuê, bên thuê có quyền thuê tiếp hoặc mua tài sản thuê. Về mặt nguyên tắc, quan hệ hợp đồng cho thuê tài chính không thể bị huỷ ngang. Quy định này đảm bảo cho bên cho thuê có khả năng thu hồi số tiền thuê và bên thuê sử dụng hiệu quả tài sản thuê. Tuy nhiên, trên thực tế, hợp đồng cho thuê tài chính vẫn có thể phải chấm dứt tr−ớc hạn do nhiều nguyên nhân. Các bên cũng có thể thoả thuận chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính tr−ớc hạn. Theo quy định của pháp luật, bên cho thuê có quyền chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính tr−ớc hạn trong các tr−ờng hợp sau: 138
- - Bên thuê không trả tiền thuê theo quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tiền thuê là cam kết quan trọng nhất đối với bên cho thuê. Tiền thuê đảm bảo cho bên cho thuê thu hồi vốn. Do đó, quy định về nghĩa vụ trả tiền thuê luôn là điều khoản chủ yếu của hợp đồng cho thuê tài chính. Nếu bên thuê vi phạm điều khoản này, bên cho thuê sẽ có quyền chấm dứt hợp đồng tr−ớc hạn. - Bên thuê vi phạm các điều khoản khác của hợp đồng cho thuê tài chính mà các bên thoả thuận rằng bên cho thuê có quyền chấm dứt hợp đồng tr−ớc hạn khi bên thuê vi phạm các cam kết đó. - Bên thuê bị phá sản, giải thể. Đây là việc bên thuê chấm dứt t− cách pháp lý, đ−ơng nhiên hợp đồng cho thuê tài chính phải chấm dứt tr−ớc hạn. - Ng−ời bảo lãnh bị phá sản, giải thể và bên cho thuê không chấp thuận đề nghị chấm dứt bảo lãnh hoặc đề nghị ng−ời bảo lãnh khác thay thế của Bên thuê. Trong tr−ờng hợp hợp đồng cho thuê tài chính bị chấm dứt tr−ớc thời hạn theo một trong các tr−ờng hợp trên, bên thuê phải thanh toán ngay toàn bộ số tiền thuê còn lại cho bên cho thuê. Nếu bên thuê không thanh toán đ−ợc tiền thuê, bên cho thuê có quyền thu hồi ngay lập tức tài sản cho thuê và bên thuê phải bồi th−ờng thiệt hại vật chất cho bên cho thuê. Sau khi thu hồi tài sản cho thuê bên cho thuê có quyền chuyển nh−ợng hoặc cho bên khác thuê tài sản. Quyền sở hữu của bên cho thuê đối với tài sản cho thuê trong suốt thời hạn cho thuê không bị ảnh h−ởng trong tr−ờng hợp bên thuê phá sản, giải thể, mất khả năng thanh toán. Tài sản cho thuê không đ−ợc coi là tài sản của bên thuê khi xử lý tài sản để trả nợ cho các chủ nợ khác Bên thuê cũng có quyền chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính tr−ớc hạn. Pháp luật quy định bên thuê có thể chấm dứt hợp đồng tr−ớc hạn khi bên cho thuê vi phạm một trong các tr−ờng hợp sau: - Bên cho thuê không giao đúng hạn tài sản cho thuê. Đối với bên thuê, việc đ−ợc giao tài sản đúng hạn rất quan trọng vì nó liên quan đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của bên thuê. Do vậy, nếu bên cho thuê không giao tài sản đúng hạn, bên thuê có quyền chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính. - Bên cho thuê vi phạm hợp đồng. Trong tr−ờng hợp bên thuê chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính tr−ớc hạn, do bên cho thuê có lỗi nên phải bồi th−ờng thiệt hại cho bên thuê theo quy định của pháp luật. Ngoài các tr−ờng hợp một trong các bên đơn ph−ơng chấm dứt hợp đồng, hợp đồng cho thuê tài chính sẽ đ−ợc chấm dứt tr−ớc hạn cho thuê trong tr−ờng hợp tài sản cho thuê bị mất, hỏng không thể phục hồi sửa chữa. Nếu bên cho thuê chấp thuận để bên thuê thanh toán toàn bộ tiền thuê tr−ớc thời hạn ghi tại hợp đồng cho thuê tài chính thì hợp đồng cũng có thể chấm dứt tr−ớc hạn. 139
- 3. Nội dung các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cho thuê tài chính 3.1.Quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê Các quyền mà bên cho thuê đ−ợc pháp luật quy định nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi cho bên cho thuê mà chủ yếu là: (i) bảo đảm cho bên cho thuê thu hồi vốn; (ii) thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê; (iii) bảo vệ mình tr−ớc các vi phạm của bên thuê. - Bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê cung cấp các báo cáo quý, quyết toán tài chính năm và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các vấn đề có liên quan đến tài sản cho thuê. Đây là biện pháp nhằm kiểm tra trên sổ sách việc sử dụng tài sản thuê, tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của bên thuê, từ đó có những biện pháp nhằm đảm bảo khả năng thu hồi vốn. - Bên cho thuê có quyền kiểm tra việc quản lý và sử dụng tài sản cho thuê. Việc kiểm tra này nhằm có đ−ợc những thông tin về việc tài sản đ−ợc sử dụng trên thực tế. Từ đó, bên cho thuê có thể đánh giá đ−ợc bên thuê có sử dụng tài sản đúng mục đích hay không. Nếu bên thuê không sử dụng tài sản đúng mục đích thoả thuận, bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê thanh toán toàn bộ tiền thuê và thu hồi tài sản thuê. - Bên cho thuê có quyền nhận tiền thuê theo đúng thời hạn và ph−ơng thức đã thoả thuận. Tiền thuê phải đ−ợc thanh toán đầy đủ và trọn vẹn theo thời hạn thuê đ−ợc ghi trong hợp đồng, không phụ thuộc vào thời gian thực tế sử dụng tài sản. - Bên cho thuê có quyền gắn ký hiệu sở hữu trên tài sản cho thuê trong suốt thời hạn cho thuê. Việc gắn ký hiệu sở hữu lên tài sản không chỉ nhằm xác định chính xác tài sản thuê mà còn là hành vi khẳng định “th−ơng hiệu” của bên cho thuê. - Bên cho thuê có quyền chuyển nh−ợng các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng cho thuê tài chính cho một công ty cho thuê tài chính khác. Trong tr−ờng hợp này, bên cho thuê chỉ cần thông báo tr−ớc bằng văn bản cho bên thuê. Việc chuyển nh−ợng t− cách cho thuê không những đảm bảo quyền kinh doanh của bên cho thuê mà còn đảm bảo cho bên thuê tiếp tục đ−ợc thuê tài sản ổn định theo hợp đồng cho thuê tài chính đã ký kết. - Bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê đặt tiền ký c−ợc hoặc có ng−ời bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính nếu thấy cần thiết. Nh− trên đã phân tích, hoạt động cho thuê tài chính có lợi thế ở chỗ, bên cho thuê có đ−ợc sự bảo đảm do quyền sở hữu tài sản thuộc về mình. Tuy nhiên, nếu bên cho thuê thấy cần thiết phải có biện pháp bảo đảm khác thì các bên sẽ thoả thuận về biện pháp đó. 140
- - Bên cho thuê có quyền giảm tiền thuê, gia hạn thời hạn trả tiền thuê theo đề nghị của bên thuê. Việc bán tài sản cho thuê, bên cho thuê thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà n−ớc. - Bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê bồi th−ờng thiệt hại khi bên thuê vi phạm hợp đồng cho thuê tài chính. - Bên cho thuê có quyền khởi kiện bên thuê theo quy định của pháp luật. Bên cạnh các quyền, pháp luật quy định các nghĩa vụ đối với bên cho thuê để đảm bảo quyền lợi cho bên thuê. Về cơ bản, bên cho thuê có những nghĩa vụ sau đây: - Ký hợp đồng mua tài sản với bên cung ứng theo các điều kiện đã đ−ợc thoả thuận giữa bên thuê và bên cung ứng. Bên cho thuê không chịu trách nhiệm về việc tài sản cho thuê không đ−ợc giao hoặc giao không đúng với các điều kiện do bên thuê thoả thuận với bên cung ứng. - Làm thủ tục nhập khẩu tài sản theo yêu cầu của bên thuê. Nếu các bên thoả thuận bên cho thuê chịu trách nhiệm làm thủ tục nhập khẩu tài sản, thì bên cho thuê phải thực hiện để đảm bảo giao tài sản cho bên thuê đúng thời hạn. - Đăng ký quyền sở hữu, làm thủ tục mua bảo hiểm đối với tài sản cho thuê nếu pháp luật quy định tài sản thuê phải đăng ký quyền sở hữu và mua bảo hiểm. Việc đăng ký quyền sở hữu để bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà n−ớc đối với tài sản cho thuê và quyền sở hữu đối với bên cho thuê. Mua bảo hiểm cho tài sản thuê là để bảo vệ quyền lợi cho cả bên thuê và bên cho thuê. - Thực hiện đầy đủ, đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất đối với bên cho thuê. Việc bên cho thuê thực hiện đúng cam kết sẽ giúp bên thuê thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình. 3.2. Quyền và nghĩa vụ của bên thuê Bên thuê có quyền lựa chọn, thoả thuận với bên cung ứng về đặc tính kỹ thuật, chủng loại, giá cả, cách thức và thời hạn giao nhận, lắp đặt và bảo hành tài sản cho thuê. Đây là hoạt động cho thuê tài chính nên tài sản thuê sẽ do bên thuê quyết định tr−ớc khi bên cho thuê mua tài sản. Ngay cả giá cả của tài sản thuê cũng do bên thuê thoả thuận, bởi lẽ giá của tài sản thuê sẽ tỷ lệ thuận với tiền thuê. Đ−ơng nhiên, bên cho thuê có quyền không đồng ý với mức giá mà bên thuê đã thoả thuận với bên cung cấp tài sản. Bên thuê có quyền trực tiếp nhận tài sản cho thuê từ bên cung ứng theo thoả thuận trong hợp đồng mua tài sản. Mặc dù bên cho thuê có thể là ng−ời nhập khẩu tài sản với t− cách là ng−ời sở hữu, nh−ng bên thuê có quyền nhận tài sản từ ng−ời cung cấp để đảm bảo rằng, tài sản đúng nh− thoả thuận. Pháp luật quy định bên cho thuê không chịu trách nhiệm nếu tài sản không đ−ợc giao hoặc giao không đúng thoả thuận nên quyền này của bên thuê này càng có ý nghĩa quan trọng. Bên thuê có quyền quyết định việc mua tài sản hoặc tiếp tục thuê sau khi kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính. Thông th−ờng, đối với hợp đồng hoàn trả toàn bộ (là loại 141
- hợp đồng cho thuê tài chính mà tổng số tiền thuê đảm bảo cho bên cho thuê thu hồi vốn và có lãi), bên thuê có quyền mua lại tài sản thuê theo giá danh nghĩa. Bên cho thuê có thể lựa chọn việc tiếp tục thuê nếu thấy cần thiết. Bên thuê có quyền yêu cầu bên cho thuê bồi th−ờng thiệt hại khi bên cho thuê vi phạm hợp đồng cho thuê tài chính. Việc bồi th−ờng thiệt hại tuân theo quy định của pháp luật. Bên thuê có quyền khởi kiện bên cho thuê nếu thấy bên cho thuê vi phạm các thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính đã giao kết. Bên cạnh các quyền, pháp luật quy định khá chi tiết các nghĩa vụ của bên thuê. Các nghĩa vụ này đảm bảo cho bên cho thuê thực hiện các quyền của mình. Bên thuê phải cung cấp các báo cáo quý, quyết toán tài chính năm và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, các vấn đề liên quan đến tài sản thuê khi bên cho thuê yêu cầu; tạo điều kiện để bên cho thuê kiểm tra tài sản cho thuê. Bên thuê phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn, thoả thuận về đặc tính kỹ thuật, chủng loại, giá cả, cách thức và thời hạn giao nhận, lắp đặt và bảo hành tài sản cho thuê đối với bên cung cấp tài sản. Sử dụng tài sản thuê đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính; không đ−ợc chuyển quyền sử dụng tài sản thuê cho cá nhân, tổ chức khác nếu không đ−ợc bên cho thuê đồng ý bằng văn bản. Không đ−ợc dùng tài sản thuê để thế chấp, cầm cố hoặc để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ khác. Những nghĩa vụ này nhằm đảm bảo cho quyền sở hữu tài sản của bên cho thuê. Trong quá trình sử dụng, đối với loại tài sản cần phải có giấy phép sử dụng, bên thuê phải có giấy phép đó trong suốt quá trình thuê. Pháp luật còn quy định, đối với tài sản có giấy chứng nhận quyền sở hữu, bên cho thuê là ng−ời giữ bản gốc, bên thuê chỉ đ−ợc giữ bản sao duy nhất có công chứng của cơ quan công chứng. Trả tiền thuê theo thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính và thanh toán các chi phí có liên quan đến việc nhập khẩu, thuế, lệ phí đăng ký quyền sở hữu, bảo hiểm đối với tài sản thuê. Chịu mọi rủi ro về việc mất mát, h− hỏng đối với tài sản thuê và chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do việc sử dụng tài sản thuê gây ra đối với tổ chức và cá nhân khác trong quá trình sử dụng tài sản thuê. Nếu tài sản thuê bị mất mát, bên thuê phải bồi th−ờng cho bên cho thuê sau khi đã thanh toán đầy đủ tiền thuê. Nếu tài sản bị h− hỏng, bên thuê phải có trách nhiệm sửa chữa. Bảo d−ỡng, sửa chữa tài sản thuê trong thời hạn thuê. Việc bảo d−ỡng, sửa chữa không chỉ đảm bảo quyền lợi cho bên cho thuê mà còn đảm bảo cho bên thuê tiếp tục sử dụng đ−ợc tài sản. Bên thuê không đ−ợc tẩy xoá, làm hỏng ký hiệu sở hữu gắn trên tài sản thuê. 142
- Ngoài ra, bên thuê phải thực hiện đầy đủ, đúng các điều khoản khác đã cam kết trong hợp đồng. 143
- Câu hỏi h−ớng dẫn học tập 1. Chứng minh cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng? 2. Chứng minh rằng, cho thuê tài chính có độ an toàn cao hơn các hình thức cấp tín dụng khác? 144
- Ch−ơng Viii dịch vụ trung gian thanh toán I. Tổng quan về dịch vụ thanh toán 1. Khái niệm về trung gian thanh toán và dịch vụ thanh toán Trong quá trình phát triển của xã hội loài ng−ời, các quan hệ mua bán, trao đổi đ−ợc diễn ra với nhiều ph−ơng thức khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của sản xuất hàng hoá và trình độ văn minh nhân loại. Hình thức sơ khai của quan hệ trao đổi là vật đổi vật. Sự ra đời của tiền tệ đã làm thay đổi gần nh− hoàn toàn ph−ơng thức trao đổi hàng hoá. Với chức năng là ph−ơng tiện l−u thông và ph−ơng tiện thanh toán, tiền tệ đóng vai trò là hàng hoá trung gian để việc trao đổi đ−ợc thuận tiện và dễ dàng hơn. Ng−ời mua hàng trả tiền cho ng−ời bán khi nhận hàng hoá hoặc dịch vụ do ng−ời bán cung cấp theo ph−ơng thức và thời gian thoả thuận. Việc sử dụng tiền mặt để thanh toán thẳng giữa ng−ời mua và ng−ời bán đ−ợc gọi là thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. Sự phát triển của nền kinh tế dẫn đến việc ra đời các tổ chức kinh doanh tiền tệ gọi là các tổ chức tín dụng và các tổ chức hoạt động tiền tệ khác đã hình thành nên một ph−ơng thức thanh toán mới gọi là thanh toán qua trung gian thanh toán. ở hình thức thanh toán này, các tổ chức tín dụng, cơ quan kho bạc thực hiện việc thanh toán cho chủ nợ hoặc ng−ời mắc nợ theo những hình thức thanh toán đ−ợc pháp luật quy định. Khi đó, các tổ chức này đóng vai trò trung gian giữa ng−ời chi trả và ng−ời thụ h−ởng trong quá trình thanh toán. Dịch vụ thanh toán là việc các tổ chức đ−ợc Nhà n−ớc cho phép cung ứng ph−ơng tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong n−ớc và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ liên quan đến chi trả theo yêu cầu của ng−ời sử dụng dịch vụ thanh toán. Về cơ bản, dịch vụ thanh toán gồm có các hình thức sau đây: - Hoạt động cung ứng các ph−ơng tiện thanh toán. Ph−ơng tiện thanh toán là tiền mặt và các ph−ơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt đ−ợc sử dụng nhằm thực hiện giao dịch thanh toán nh− séc, lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các ph−ơng tiện thanh toán khác. 145
- - Thực hiện các giao dịch thanh toán trong n−ớc và quốc tế theo sự uỷ nhiệm của khách hàng nh− các giao dịch chuyển khoản, trả bằng tiền mặt, thanh toán séc, thanh toán thông qua hình thức th− tín dụng - Thực hiện việc thu hộ hoặc chi hộ cho các chủ thể có nhu cầu. - Cung ứng các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà n−ớc quy định. Các chủ thể đ−ợc phép thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động dịch vụ thanh toán trên đ−ợc gọi là trung gian thanh toán. Nh− vậy, trung gian thanh toán là tổ chức thực hiện các uỷ nhiệm thanh toán giữa ng−ời chi trả và ng−ời thụ h−ởng. Ng−ời chi trả là chủ thể có nghĩa vụ trả tiền theo thoả thuận của ng−ời đó với một chủ thể khác hoặc trả tiền theo quy định của pháp luật. Ng−ời thụ h−ởng là chủ thể có quyền nhận tiền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật, các tổ chức sau đây đ−ợc thực hiện dịch vụ thanh toán: - Ngân hàng Nhà n−ớc đ−ợc thực hiện dịch vụ thanh toán cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng n−ớc ngoài, các tổ chức tiền tệ quốc tế, ngân hàng quốc tế và các tổ chức khác đ−ợc phép thực hiện dịch vụ thanh toán. - Các tổ chức tín dụng là ngân hàng đ−ợc Ngân hàng Nhà n−ớc cho phép thực hiện dịch vụ thanh toán. - Các tổ chức khác đ−ợc phép thực hiện dịch vụ thanh toán theo quyết định của cơ quan nhà n−ớc có thẩm quyền. Ví dụ: Kho bạc Nhà n−ớc thực hiện dịch vụ thanh toán cho các đơn vị dự toán để thực hiện nhiệm vụ thu, chi. 2. Vai trò của dịch vụ thanh toán Dịch vụ thanh toán có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, từ sự phát triển của tiền mặt d−ới hình thức tiền giấy, làm cho nền kinh tế vấp phải một trở ngại là khó có thể kiểm soát đ−ợc l−ợng tiền mặt có trong nền kinh tế, nguy cơ lạm phát ảnh h−ởng đến chính sách phát triển và sự quản lý vĩ mô của Nhà n−ớc cũng nh− đời sống của từng ng−ời dân. Bên cạnh đó, việc thanh toán trực tiếp đôi khi không đáp ứng đ−ợc nhu cầu của các chủ thể thanh toán do phải vận chuyển một l−ợng tiền mặt đáng kể và có thể gặp nhiều rủi ro, nếu thanh toán cho nhiều chủ thể trong cùng một thời điểm sẽ gặp khó khăn. Khi xem xét vai trò của chế độ dịch vụ thanh toán, có thể tiếp cận từ lợi ích từ các chủ thể khác nhau liên quan đến hoạt động này. - Đối với tổ chức thực hiện dịch vụ thanh toán Tổ chức thực hiện dịch vụ thanh toán có mục đích không giống nhau. Ngân hàng Nhà n−ớc thực hiện dịch vụ thanh toán nhằm mục đích thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thuộc chức năng ngân hàng trung −ơng. Thông qua hoạt động dịch vụ thanh 146
- toán liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà n−ớc đứng ra tổ chức, hệ thống tín dụng có sự liên kết chặt chẽ, có khả năng đối phó với những rủi ro từ hoạt động kinh doanh tiền tệ mang lại, thông qua đó Ngân hàng Nhà n−ớc thực hiện việc quản lý nhà n−ớc trong lĩnh vực ngân hàng đ−ợc tốt hơn. Kho bạc Nhà n−ớc thực hiện dịch vụ thanh toán tr−ớc hết là nhằm mục đích giúp đỡ các chủ thể sử dụng kinh phí từ Quỹ ngân sách Nhà n−ớc trong hoạt động thanh toán và giảm khả năng cung ứng tiền mặt cho các chủ thể sử dụng ngân sách. Bên cạnh đó, thông qua việc thực hiện dịch vụ thanh toán, có thể kiểm tra, giám sát đ−ợc hoạt động sử dụng kinh phí từ Quỹ ngân sách Nhà n−ớc. Đối với các tổ chức tín dụng là ngân hàng và các chủ thể khác đ−ợc phép thực hiện dịch vụ thanh toán thì hoạt động này đem lại nhiều lợi ích. Tr−ớc tiên, hoạt động dịch vụ thanh toán có thể đem lại thu nhập thông qua việc thu phí dịch vụ từ những chủ thể sử dụng dịch vụ thanh toán. Bên cạnh đó, việc mở tài khoản và hình thức thanh toán qua chuyển khoản sẽ tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng và các tổ chức khác mở rộng khả năng cung ứng tiền mặt cho nền kinh tế, thông qua đó nâng cao hơn lợi nhuận của mình. Đối với ng−ời chi trả và ng−ời thụ h−ởng, thông qua dịch vụ thanh toán do các trung gian thanh toán cung cấp, ng−ời chi trả và ng−ời thụ h−ởng có thể thực hiện hoạt động thanh toán nhanh chóng hơn, tiết kiệm chi phí và an toàn hơn. Đối với Nhà n−ớc với t− cách là chủ thể quản lý nền kinh tế, thanh toán qua trung gian thanh toán góp phần giảm áp lực tiền mặt đối với nền kinh tế, qua đó kiểm soát lạm phát tốt hơn. Mặt khác, việc sử dụng trung gian thanh toán cũng góp phần giúp Nhà n−ớc kiểm soát nguồn thu nhập của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, do đó việc thu thuế thu nhập cũng hiệu quả hơn, tăng c−ờng khoản thu cho ngân sách nhà n−ớc. II. mở và sử dụng tài khoản thanh toán 1. Chế độ mở tài khoản Tài khoản là công cụ ghi chép phản ánh vốn và nguồn vốn của chủ tài khoản. Tài khoản đ−ợc thể hiện d−ới hình thức sổ tài khoản hoặc hình thức điện tử. Tài khoản do các chủ thể mở tại các trung gian thanh toán để thực hiện thanh toán thông qua dịch vụ thanh toán gọi là tài khoản thanh toán. Chủ tài khoản là ng−ời đứng tên mở tài khoản. Đối với tài khoản của cá nhân, chủ tài khoản là cá nhân đứng tên mở tài khoản. Đối với tài khoản của tổ chức, chủ tài khoản là ng−ời đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của tổ chức mở tài khoản. Đồng chủ tài khoản là hai hay nhiều ng−ời cùng đứng tên mở tài khoản. Tài khoản thanh toán bao gồm hai phần là "Có" và "Nợ". Phần "Có" ghi chép luồng tiền vào (ghi tăng) phản ánh khoản thu vào của chủ tài khoản, còn phần "Nợ" ghi chép luồng tiền ra (ghi giảm) phản ánh khoản đã chi của chủ tài khoản. Chênh lệch giữa 147
- phần "Có" và "Nợ" đ−ợc gọi là số d− tài khoản. Chủ tài khoản phải duy trì số d− tài khoản không thấp hơn mức tối thiểu do tổ chức thanh toán quy định. Pháp luật quy định chỉ có những tổ chức đ−ợc thực hiện dịch vụ thanh toán mới có quyền nhận mở tài khoản thanh toán. Nh− vậy, các tổ chức sau đây đ−ợc phép nhận mở tài khoản thanh toán cho khách hàng: - Ngân hàng Nhà n−ớc nhận mở tài khoản thanh toán cho các tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà n−ớc, ngân hàng n−ớc ngoài và các tổ chức tín dụng quốc tế; - Kho bạc Nhà n−ớc nhận mở tài khoản cho các đơn vị sử dụng ngân sách; - Ngân hàng nhận mở tài khoản cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu; - Các tổ chức khác không thuộc đối t−ợng trên đây nếu đ−ợc Ngân hàng Nhà n−ớc cho phép. Để mở tài khoản tại trung gian thanh toán, pháp luật quy định có sự khác biệt giữa tổ chức và cá nhân. Đối với tổ chức có nhu cầu mở tài khoản phải gửi cho đơn vị thanh toán nơi muốn mở tài khoản những giấy tờ sau: - Giấy đăng ký mở tài khoản, th−ờng đ−ợc lập theo mẫu do đơn vị thanh toán quy định bao gồm những nội dung cơ bản sau: + Tên tổ chức (bao gồm cả tên đầy đủ và tên giao dịch); + Địa chỉ trụ sở chính + Họ tên chủ tài khoản (th−ờng là ng−ời đứng đầu tổ chức); số chứng minh nhân dân, nơi cấp, ngày cấp chứng minh nhân dân của chủ tài khoản; + Tên đơn vị thanh toán nơi mở tài khoản; + Bản đăng ký mẫu dấu và mẫu chữ ký của những ng−ời liên quan đến hoạt động thanh toán nh− chủ tài khoản, kế toán tr−ởng và những ng−ời đ−ợc uỷ quyền ký thay. - Các giấy tờ chứng minh t− cách pháp nhân của tổ chức nh− quyết định thành lập, giấy phép thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quyết định bổ nhiệm ng−ời đứng đầu, văn bản uỷ quyền Nếu là bản sao phải có công chứng của cơ quan nhà n−ớc có thẩm quyền. Đối với cá nhân có nhu cầu mở tài khoản phải gửi đến ngân hàng nơi muốn mở tài khoản các giấy tờ sau đây: - Giấy đăng ký mở tài khoản. Trên giấy này phải thể hiện đầy đủ các thông tin sau: họ và tên; hộ khẩu th−ờng trú; số chứng minh nhân dân, nơi cấp và ngày cấp chứng minh nhân dân; đơn vị thanh toán nơi có nhu cầu mở tài khoản; chữ ký mẫu. - Bản sao giấy chứng minh nhân dân có công chứng Sau khi nhận đầy đủ các giấy tờ trên, đơn vị thanh toán tiến hành thẩm định và quyết định đồng ý cho mở tài khoản. Nếu từ chối đơn vị thanh toán phải trả lời bằng văn bản. Đối với việc mở tài khoản tại Kho bạc Nhà n−ớc, do tính chất của hoạt động ngân sách, việc mở tài khoản có những quy định đặc thù. Điều đó xuất phát từ việc Kho bạc 148
- Nhà n−ớc nhận mở tài khoản không phải vì mục đích thu lợi mà nhằm để quản lý hoạt động sử dụng ngân sách. 2. Chế độ sử dụng tài khoản thanh toán Chế độ sử dụng tài khoản là tổng hợp các quy định của pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ tài khoản, của tổ chức quản lý tài khoản trong việc sử dụng số d− trên tài khoản của chủ tài khoản để thực hiện việc thanh toán. - Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản thanh toán thông qua các lệnh thanh toán phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà n−ớc và pháp luật khác có liên quan. - Chủ tài khoản có quyền nhận tiền từ các giao dịch hợp pháp chuyển vào tài khoản. - Chủ tài khoản có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc sử dụng tài khoản thanh toán nh− việc duy trì số d− tối thiểu trên tài khoản, thực hiện các lệnh thanh toán đúng theo quy định của Ngân hàng Nhà n−ớc và thoả thuận với đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán. - Chủ tài khoản đ−ợc ủy quyền cho ng−ời khác bằng văn bản sử dụng tài khoản theo quy định của pháp luật. Ng−ời đ−ợc uỷ quyền có quyền hạn và nghĩa vụ nh− chủ tài khoản trong phạm vi đ−ợc uỷ quyền và không đ−ợc ủy quyền lại cho ng−ời thứ ba. Các quyền năng trên đây không đ−ợc áp dụng khi tài khoản bị phong toả. Tài khoản bị phong toả là tài khoản tạm thời không đ−ợc sử dụng, do đó không có khả năng thanh toán. Tài khoản thanh toán bị phong toả một phần hoặc toàn bộ số tiền có trên tài khoản trong các tr−ờng hợp sau: - Khi có thoả thuận giữa chủ tài khoản và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; - Khi có quyết định hoặc yêu cầu bằng văn bản của ng−ời có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; - Các tr−ờng hợp khác do pháp luật quy định; Việc phong toả tài khoản thanh toán chấm dứt trong những tr−ờng hợp sau đây: - Kết thúc thời hạn thoả thuận phong toả tài khoản giữa chủ tài khoản và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; - Ng−ời có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ra quyết định hoặc yêu cầu chấm dứt việc phong toả; - Những tr−ờng hợp khác theo quy định của pháp luật. Ngoài tr−ờng hợp tài khoản bị phong toả, tài khoản có thể bị đóng. Đóng tài khoản là tr−ờng hợp tài khoản chấm dứt sử dụng và các bên tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật. Việc đóng tài khoản sẽ đ−ợc thực hiện nếu chủ tài khoản có yêu cầu hoặc chủ tài khoản không còn năng lực hành vi dân sự (Khi chủ tài khoản là cá nhân bị chết, mất 149
- tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc tổ chức có tài khoản chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật) Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đ−ợc quyền quyết định việc đóng tài khoản khi chủ tài khoản vi phạm pháp luật trong thanh toán hoặc vi phạm thoả thuận với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; hoặc khi tài khoản có số d− thấp và không hoạt động trong thời hạn nhất định theo quy định của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Sau khi tài khoản đ−ợc đóng, số d− còn lại trên tài khoản đ−ợc xử lý nh− sau: - Chi trả theo yêu cầu của chủ tài khoản hoặc ng−ời đ−ợc thừa kế, đại diện thừa kế trong tr−ờng hợp chủ tài khoản là cá nhân chết hoặc ng−ời giám hộ trong tr−ờng hợp chủ tài khoản là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự; - Chi trả theo quyết định của toà án; - Quản lý theo quy định của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đối với tr−ờng hợp tài khoản bị đóng theo quyết định của tổ chức tín dụng đóng trong những tr−ờng hợp quy định mà chủ tài khoản, ng−ời đ−ợc thừa kế, đại diện thừa kế hoặc ng−ời giám hộ không nhận lại số tiền còn lại trên tài khoản sau khi tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đã thông báo về việc đóng tài khoản bằng văn bản cho chủ tài khoản, ng−ời đ−ợc thừa kế, đại diện thừa kế hoặc ng−ời giám hộ biết. III. Các hình thức thanh toán qua trung gian thanh toán 1. Hình thức thanh toán thông qua séc Séc là ph−ơng tiện thanh toán do chủ tài khoản lập d−ới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, lệnh cho tổ chức thực hiện thanh toán trả không điều kiện một số tiền nhất định cho ng−ời thụ h−ởng. Trong quá trình thực hiện thanh toán bằng séc có các chủ thể sau đây: - Ng−ời ký phát là ng−ời lập và ký tên trên séc để ra lệnh cho ng−ời thực hiện thanh toán thay mặt mình trả số tiền ghi trên séc. - Ng−ời đ−ợc trả tiền là cá nhân hoặc tổ chức mà ng−ời ký phát chỉ định có quyền h−ởng hoặc chuyển nh−ợng quyền h−ởng đối với số tiền ghi trên tờ séc. - Ng−ời thụ h−ởng là cá nhân hoặc tổ chức cầm tờ séc mà tờ séc đó có ghi tên ng−ời đ−ợc trả tiền là chính mình hoặc mình đ−ợc chuyển nh−ợng hợp pháp. - Tổ chức thực hiện thanh toán là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi ng−ời ký phát đ−ợc sử dụng tài khoản thanh toán với một khoản tiền để ký phát séc theo thoả thuận giữa ng−ời ký phát với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đó. - Tổ chức thu hộ là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán làm dịch vụ thu hộ séc. - Trung tâm thanh toán bù trừ séc là Ngân hàng Nhà n−ớc hoặc Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đ−ợc Ngân hàng Nhà n−ớc cấp phép để tổ chức, chủ trì việc trao 150
- đổi, thanh toán bù trừ séc và quyết toán các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ việc thanh toán séc cho các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là thành viên. Séc có nhiều loại nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ tài khoản sử dụng séc. Nếu phân loại theo tính chỉ định ng−ời thụ h−ởng thì có hai loại là séc ký danh và séc vô danh. Séc ký danh là loại séc có ghi tên ng−ời thụ h−ởng, còn séc vô danh thì không ghi tên ng−ời thụ h−ởng. Nếu phân loại theo tính bảo đảm thanh toán của tờ séc thì có séc bảo chi và séc không bảo chi. Séc bảo chi là loại séc đã đ−ợc tổ chức thực hiện thanh toán tiến hành thủ tục bảo chi séc. Tổ chức thực hiện thanh toán theo yêu cầu của chủ tài khoản sẽ trích số tiền trên séc từ tài khoản để lập một tài khoản riêng chỉ để chi trả cho tờ séc đó khi tờ séc đ−ợc nộp và đ−ợc chấp nhận thanh toán. Tổ chức thực hiện thanh toán sẽ đóng dấu bảo chi lên tờ séc đ−ợc bảo chi. Nếu phân loại theo ph−ơng thức thanh toán séc thì có hai loại là séc chuyển khoản và séc trả tiền mặt. Séc chuyển khoản là loại séc mà tổ chức thực hiện thanh toán séc thanh toán thông qua chuyển tiền vào tài khoản của ng−ời thụ h−ởng mà không trả tiền mặt. Séc trả tiền mặt có thể cho phép ng−ời thụ h−ởng rút tiền mặt hoặc chuyển khoản. Nếu phân loại theo phạm vi không gian thanh toán thì có séc thanh toán trong n−ớc và séc thanh toán quốc tế. Séc thanh toán trong n−ớc chỉ có khả năng thanh toán khi nó đ−ợc nộp cho tổ chức thực hiện thanh toán trong n−ớc. Trong khi đó séc thanh toán quốc tế có thể đ−ợc thanh toán khi nó đ−ợc nộp cho tổ chức thực hiện thanh toán n−ớc ngoài. Khi có nhu cầu sử dụng séc, chủ tài khoản đề nghị tổ chức thực hiện thanh toán nơi mình mở tài khoản cung cấp séc trắng. Séc trắng là chứng từ để lập séc, đ−ợc các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán in sẵn theo mẫu nh−ng ch−a đ−ợc điền đầy đủ nội dung của các yếu tố theo quy định khi ký phát séc và ch−a có hiệu lực là một tờ séc. Trên cơ sở chứng từ này, ng−ời đ−ợc cung ứng séc trắng lập nên tờ séc để trả cho ng−ời đ−ợc trả tiền. Để thanh toán một số tiền nhất định cho ng−ời thụ h−ởng, chủ tài khoản tiến hành ký phát séc. Khi ký phát séc, chủ tài khoản phải điền đầy đủ các nội dung của tờ séc. Tờ séc có hiệu lực phải đầy đủ các yếu tố sau đây: - Chữ "Séc" đ−ợc in phía trên tờ séc; - Số séc; - Số tiền xác định, đ−ợc ghi cả bằng số và bằng chữ; - Tên của ng−ời thực hiện thanh toán; - Ngày ký phát; - Chữ ký (có ghi rõ họ tên) của ng−ời ký phát. 151
- Tên tổ chức, cá nhân đ−ợc trả tiền có thể đ−ợc ghi (đối với séc ký danh) hoặc không đ−ợc ghi (nếu là séc vô danh). Để đ−ợc thanh toán, ng−ời thụ h−ởng phải xuất trình séc trong thời hạn do pháp luật quy định tại địa điểm thanh toán. Nếu ng−ời ký phát không ghi địa điểm thanh toán thì tờ séc đ−ợc thanh toán tại trụ sở của ng−ời thực hiện thanh toán hoặc tại trung tâm thanh toán bù trừ séc nếu séc đ−ợc chấp nhận thanh toán tại trung tâm này. Ng−ời thụ h−ởng có thể trực tiếp xuất trình séc hoặc thông qua ng−ời thu hộ là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác (thông th−ờng là tổ chức thanh toán mà ng−ời thụ h−ởng mở tài khoản). Tờ séc đ−ợc chấp nhận thanh toán khi có đủ các điều kiện sau đây: - Tờ séc đ−ợc nộp trong thời hạn xuất trình là 30 ngày. Nếu nộp chậm ch−a quá 6 ngày vẫn có thể đ−ợc thanh toán nếu không có lệnh đình chỉ thanh toán của ng−ời ký phát. - Tờ séc đ−ợc lập trên mẫu và đầy đủ các yếu tố, không bị tẩy xoá, sửa chữa hoặc bị rách. - Số tiền trên séc không v−ợt quá số d− trên tài khoản của ng−ời trả tiền. Nếu số tiền trên tài khoản không đủ để trả cho tờ séc, tờ séc đó vẫn có thể đ−ợc thanh toán trong hai tr−ờng hợp sau: (i) thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên séc nếu tổ chức thực hiện thanh toán chấp nhận thấu chi(1); (ii) thanh toán một phần số tiền trên séc trong phạm vi số d− tài khoản. Trong tr−ờng hợp này, tổ chức thực hiện thanh toán phải ghi rõ số tiền đã thanh toán trên tờ séc và trả cho ng−ời cầm séc, ng−ời cầm séc phải ghi biên nhận về số tiền đã đ−ợc thanh toán. Tổ chức thực hiện thanh toán sẽ thanh toán cho tờ séc thông qua chuyển tiền vào tài khoản hoặc trả tiền mặt cho ng−ời thụ h−ởng. Tr−ờng hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng làm cho séc không thể đ−ợc xuất trình để thanh toán hoặc thông báo truy đòi không đ−ợc gửi trong thời hạn đã quy định thì thời hạn đó sẽ đ−ợc kéo dài cho đến khi sự kiện bất khả kháng chấm dứt, nh−ng không quá 06 tháng kể từ ngày ký phát. Pháp luật đảm bảo quyền lợi cho ng−ời thụ h−ởng trong tr−ờng hợp séc bị từ chối thanh toán bằng việc quy định quyền truy đòi. Ng−ời thụ h−ởng có quyền thực hiện truy đòi đối với ng−ời ký phát, những ng−ời chuyển nh−ợng, ng−ời bảo lãnh và những ng−ời có nghĩa vụ khác liên quan đến tờ séc về khoản tiền ghi trên séc nếu tờ séc đã đ−ợc xuất trình trong thời hạn xuất trình nh−ng bị từ chối thanh toán và có giấy xác nhận từ chối thanh toán do ng−ời thực hiện thanh toán hoặc Trung tâm thanh toán bù (1) Thấu chi: là tr−ờng hợp tổ chức thanh toán chấp nhận trả tiền cho ng−ời thụ h−ởng v−ợt quá số d− trên tài khoản theo thoả thuận với chủ tài khoản. 152



