Giáo trình Đào tạo thuyền trưởng hạng ba - Môn: Kinh tế vận tải

doc 111 trang ngocly 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Đào tạo thuyền trưởng hạng ba - Môn: Kinh tế vận tải", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_trinh_dao_tao_thuyen_truong_hang_ba_mon_kinh_te_van_tai.doc

Nội dung text: Giáo trình Đào tạo thuyền trưởng hạng ba - Môn: Kinh tế vận tải

  1. BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI CỤC ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA VIỆT NAM GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO THUYỀN TRƯỞNG HẠNG BA MÔN KINH TẾ VẬN TẢI Năm 2014 0
  2. LỜI GIỚI THIỆU Thực hiện chương trình đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa quy định tại Thông tư số 57/2014/TT-BGTVT ngày 24 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Để từng bước hoàn thiện giáo trình đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa, cập nhật những kiến thức và kỹ năng mới. Cục Đường thủy nội địa Việt Nam tổ chức biên soạn “Giáo trình kinh tế vận tải”. Đây là tài liệu cần thiết cho cán bộ, giáo viên và học viên nghiên cứu, giảng dạy, học tập. Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý bạn đọc để hoàn thiện nội dung giáo trình đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đối với công tác đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa. CỤC ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA VIỆT NAM 1
  3. Chương 1 KIẾN THỨC CHUNG VỀ VẬN TẢI THỦY NỘI ĐỊA Bài 1: VỊ TRÍ VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH VẬN TẢI THỦY NỘI ĐỊA 1.1. Vị trí, vai trò: Đường thủy nội địa bao gồm các tuyến đường thủy có khả năng khai thác giao thông vận tải trên các sông, kênh rạch, cửa sông, hồ, ven vịnh, ven bờ biển, đường ra đảo, đường nối các đảo thuộc nội thủy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngành đường thủy nội địa là một ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân; nó quản lý, khai thác tới 2360 con sông lớn nhỏ với chiều dài tổng cộng hơn 41000km chưa kể diện tích các hồ chứa nước lớn và vùng châu thổ cùng với 3260 km đường ven biển và đường ra đảo nối liền khoảng 4000 đảo lớn nhỏ của Việt Nam. Hàng năm đường thủy nội địa đảm nhận khoảng 40% khối lượng luân chuyển, riêng ở đồng bằng sông Cửu Long vận tải thủy nội địa đảm nhận hơn 70% lượng hàng hóa khu vực, sản lượng vận chuyển hành khách cũng được tăng cao. Đường thủy nội địa có vai trò phục vụ cho công nghiệp điện, vận chuyển than cho các nhà máy, vận chuyển hàng rời, hàng container, LASH đến các vùng sâu, vùng xa. Vận tải hàng nội và liên vùng thay thế vận chuyển bằng đường bộ hoặc cùng vận tải đường bộ làm các nhiệm vụ vận tải nội vùng như vận tải thủy nội địa đã và đang phát triển đúng vai trò. Vận tải hàng xuất nhập khẩu, đặc biệt là việc tiếp nhận vận chuyển container như một khâu quan trọng trong dây chuyền vận tải đa phương thức, bao gồm việc rút hàng từ các cảng nội địa ra tầu biển, cảng biển và lấy hàng từ tầu biển vào các cảng nội địa. Vận tải hàng hóa Bắc Nam cực kỳ quan trọng do sự ra đời của một loạt các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có nhu cầu lưu thông hàng hóa cao. Vận tải khu vực hồ, đặc biệt là hồ Hòa Bình phục vụ cho công trình thủy điện Sơn La, đáp ứng cơ bản cho phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình. Vận tải từ bờ ra các đảo và giữa các đảo. Vận tải liên vận sang Trung Quốc, Campuchia, Lào sẽ tạo cầu nối cho việc phát triển hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước. 2
  4. Trong công tác bảo vệ an ninh và củng cố quốc phòng giao thông vận tải đường thủy nội địa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều động quân đội, vận chuyển vũ khí nhằm bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân. 1.2. Đặc điểm của ngành vận tải thủy nội địa: 1.2.1. So sánh ngành vận tải thủy nội địa với các ngành vận tải khác: Ngành vận tải thủy nội địa là một ngành ra đời sớm nhất và đảm nhận một khối lượng vận chuyển hàng hóa rất lớn trong cả nước. 1.2.1.1.Ưu điểm của ngành vận tải thủy nội địa: - Khả năng thông qua lớn: Trên cùng một đoạn sông trong cùng một lúc có nhiều đoàn tầu xuôi ngược được. - Chuyên chở được những loại hàng có khối lượng lớn, đối tượng phục vụ rộng rãi. - Vốn đầu tư thấp: Chi phí cho xây dựng, cải tạo, nạo vét đường thủy ít hơn chi phí xây dựng của các ngành vận tải khác. - Chi phí nhiên liệu thấp hơn chi phí nhiên liệu của đường sắt 16 lần, của vận tải bằng ô tô 6 lần, vận tải bằng đường hàng không 3 lần nhưng cao hơn vận tải bằng đường ống nhiều lần (chi phí nhiên liệu bình quân cho 1Tkm). - Chi phí kim loại thấp hơn đường sắt (chi phí kim loại bình quân cho 1 TKm). - Năng suất lao động cao hơn các ngành vận tải khác. - Giá thành vận tải rẻ hơn nhưng hiện nay còn tương đối cao vì năng suất xếp dỡ ở các đầu bến còn thấp và khan hiếm nguồn hàng v.v 1.2.1.2. Nhược điểm của ngành vận tải thủy nội địa: - Tốc độ còn thấp: Khoảng 7-20km/h, riêng tầu cao tốc có thể đạt 20-30 hải lý/h, nếu kéo bè thì tốc độ còn thấp hơn nhiều. Trong khi đó ô tô có thể đạt 50- 60km/h, vận tải bằng đường sắt bình quân khoảng 40-60km/h, hàng không có thể đạt 200-2200km/h. - Vận tải thủy nội địa còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên (thời tiết, mưa bão, luồng lạch) đồng thời chịu ảnh hưởng của cơ giới hóa xếp dỡ ở các đầu bến. - Hướng đường mâu thuẫn với hướng luồng hàng và luồng hành khách v.v 1.2.2. Quá trình sản xuất vận tải thủy nội địa: Mục đích vận tải thủy nội địa là vận chuyển hàng hóa và hành khách trong nội địa như trên: Sông, hồ, kênh rạch tự nhiên và nhân tạo, ven vịnh, ven bờ biển, đường ra đảo, đường nối các đảo. Quá trình vận tải thủy nội địa chủ yếu có 2 thành phần tham gia: Chủ hàng (người gửi và nhận hàng). Chủ 3
  5. vận tải (người có phương tiện đi chở thuê) cùng các bến cảng phục vụ bốc xếp. Thành phần và nhiệm vụ công tác trong quá trình sản xuất vận tải thủy nội địa: 1.2.2.1.Đối với tầu hàng thường gồm 7 bước: - Nhận hàng từ chủ hàng hoặc từ các ngành vận tải khác; - Bảo quản hàng ở cảng (hoặc bến) đi; - Xếp hàng xuống tầu; - Vận chuyển hàng từ bến đi tới bến đích; - Dỡ hàng từ tầu lên bờ; - Bảo quản hàng ở bến đích; - Giao hàng cho chủ hàng. 1.2.2.2.Đối với tầu khách nhất thiết có 4 bước: - Ổn định tổ chức bán vé; - Hướng dẫn hành khách xuống tầu; - Tổ chức chạy tầu từ bến đi đến bến đích; - Hướng dẫn hành khách lên bờ. Nhìn chung quá trình sản xuất vận tải thủy nội địa là tiến hành như vậy, cơ bản phải có kế hoạch vận chuyển, phối hợp nhịp nhàng giữa chủ hàng, chủ phương tiện và bến cảng để đảm bảo vận chuyển nhanh chóng, kịp thời cả số lượng và chất lượng đến nơi tiêu dùng. 4
  6. Bài 2: VẬN TẢI LÀ NGHÀNH SẢN XUẤT VẬT CHẤT ĐỘC LẬP VÀ ĐẶC BIỆT 2.1.Vận tải là ngành sản xuất vật chất độc lập: 2.1.1. Vận tải là ngành sản xuất vật chất: Đối với bất kỳ một ngành sản xuất vật chất nào cũng phải có đủ 3 yếu tố: Sức lao động, tư liệu sản xuất và đối tượng lao động. Ngành vận tải cũng có đầy đủ 3 yếu tố đó: - Sức lao động: Cán bộ, thuyền viên, công nhân xếp dỡ - Tư liệu sản xuất: Tầu, thuyền, cần trục, ôtô . - Đối tượng lao động: Hàng hóa và hành khách. Ngành sản xuất vận tải đã xuất hiện một quá trình trao đổi giá trị của nó. Nó không làm ra sản phẩm mới nhưng làm tăng thêm giá trị sản phẩm. 2.1.2. Vận tải là ngành sản xuất vật chất độc lập: Vì nó có đối tượng lao động riêng, tư liệu sản xuất riêng, sức lao động riêng và có vị trí quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 2.2 . Tính chất đặc biệt của ngành giao thông vận tải: Vận tải cũng như các ngành sản xuất vật chất khác, cũng có vốn đầu tư riêng, tư liệu sản xuất riêng, sức lao động và sản phẩm riêng, song nó còn có những điểm khác hẳn các ngành khác: - Sản phẩm của vận tải là cả quá trình dịch chuyển hàng hóa và hành khách trong không gian, vận tải không làm ra sản phẩm mới nhưng vận tải làm tăng thêm giá trị sản phẩm, cho nên sản phẩm của vận tải rất trừu tượng, sản phẩm đó không nhìn thấy được, không thể lưu lại được mà phương tiện dừng lại ở đâu là sản phẩm phân phối hết tại đó. Sản phẩm của vận tải không có hình dáng, kích thước hay mùi vị mà nó chỉ được xác định bằng toán học qua lượng hàng và quãng đường vận chuyển thực tế, đơn vị là tấn (khách), tấn kilômét (khách kilômét) - Giá trị của sản phẩm vận tải bao gồm giá trị sử dụng tức là sự di chuyển hàng hóa và hành khách từ nơi này đến nơi khác. Vận tải có lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nhất định, có cơ cấu kinh tế riêng, có tỷ lệ vốn cố định và vốn lưu động riêng, nó hoạt động theo một sắc thái riêng và tạo ra sản phẩm đặc biệt trong quá trình lưu thông. Sản phẩm của vận tải được tạo ra trong quá trình vận chuyển, khi vận chuyển kết thúc thì quá trình sản xuất cũng hoàn thành. 5
  7. Quay vòng vốn trong công nghiệp: Sức lao động + quá trình sản xuất Tiền Hàng Hàng (mới) Tiền (mới) (1) (2) (3) Tư liệu Nhìn vào diễn biến quay vòng vốn của công nghiệp gồm 3 giai đoạn nhưng công nghiệp chỉ tham gia ở giai đoạn (2) làm nhiệm vụ chế biến, còn giai đoạn (1) và (3) là vận tải làm nhiệm vụ đưa nguyên vật liệu đến nơi sản xuất và phân phối hàng hóa đến nơi tiêu dùng. Quay vòng vốn của vận tải khác hẳn, nó chỉ gồm 2 giai đoạn: Mua hàng Phương tiện Vận chuyển Tiền nhiên liệu Tiền (mới) (1) (2) Vận tải chỉ làm nhiệm vụ vận chuyển, vận tải không làm ra sản phẩm mới không có dự trữ sản phẩm mà chỉ có dự trữ phương tiện cho nên quá trình quay vòng đồng vốn rất nhanh. Trong tiền vốn đó chủ yếu là vốn cố định, rất ít vốn lưu động (chỉ có các nhà máy đóng mới và sửa chữa mới nhiều vốn lưu động). CÂU HỎI CHƯƠNG 1 1. Trình bày vị trí, vai trò và đặc điểm của ngành vận tải thủy nội địa? 2. Tại sao nói GTVT là ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt? 3. Tìm biện pháp phát huy các ưu điểm và hạn chế những nhược điểm trong quá trình sản xuất của đoàn tầu? Chương 2 6
  8. HÀNG HÓA VÀ PHƯƠNG PHÁP VẬN TẢI MỘT SỐ LOẠI HÀNG Bài 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HÀNG HÓA 1.1.Hàng hóa: - Hàng hóa nói chung là sản phẩm do lao động làm ra được trao đổi trên thị trường. - Theo quan điểm của người vận tải: Trong vận tải tất cả nguyên liệu, vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm mà người vận tải nhận từ nơi gửi hàng đến lúc chuyển giao cho nơi nhận hàng được gọi là hàng hóa. 1.2.Tính chất của hàng hóa: Mỗi loại hàng hóa có những tính chất lý, hóa khác nhau, nắm vững tính chất hàng hóa giúp ta thực hiện tốt việc bố trí hợp lý hàng hóa xuống tầu, tổ chức xếp dỡ cho các phương tiện với thời gian thích hợp, điều đó sẽ đảm bảo công tác bảo quản trong thời gian vận chuyển. 1.2.1. Tính vật lý: Tính vật lý của hàng hóa thể hiện như tính bay bụi, hút ẩm, bay hơi, hút, tỏa mùi vị của hàng hóa. Sau quá trình thế hiện đặc tính này hàng hóa không thay đổi về bản chất mà chỉ thay đổi về hình thức, màu sắc, trạng thái của chúng. Ví dụ: Đường hòa tan trong nước chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái lỏng mà vẫn giữ vị ngọt. 1.2.2. Tính hóa học: Tính chất này được thể hiện như tính ôxy hóa, tính ăn mòn, dễ cháy, dễ nổ của hàng hóa. Sau quá trình thể hiện đặc tính này hàng hóa không những thay đổi về hình thức, màu sắc , trạng thái mà còn thay đổi cả bản chất của chúng. Ví dụ: Sắt bị han gỉ là do sắt tác dụng với ôxy trong không khí, đó là hiện tượng ôxy hóa tạo ra ôxít sắt từ có màu nâu thẫm 3Fe + 2O2 = Fe3O4 1.2.3. Tính cơ học: Tính chất này thể hiện khả năng chịu lực bên ngoài tác dụng vào hàng hóa, thể hiện ở sức chịu nén, ép, uốn, xoắn, chịu va chạm, chịu rung động của hàng hóa. Bên vận tải có biện pháp đề phòng, khắc phục khi chỉ đạo bốc xếp lên xuống tầu và bảo quản trong khi vận chuyển được an toàn, trọn vẹn. 7
  9. 1.2.4. Tính sinh học: Là quá trình phá hủy hàng hóa do vi sinh vật gây nên như: Lên men, lên mốc, thối rữa nhất là hàng rau quả tươi sống, lương thực; khi ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp làm cho vi sinh vật hoạt động mạnh , sẽ phá hoại các loại hàng kể trên nhanh chóng, nên cần có biện pháp xếp dỡ, bảo quản, thông hơi, thông gió cho thích hợp. 1.3. Phân loại hàng hóa: Để vận chuyển và bảo quản hàng hóa trong khi vận chuyển được an toàn, ngành vận tải phân loại hàng hóa theo nhiều cách. Phần này ta chỉ nghiên cứu 3 cách phân loại chính: 1.3.1. Phân loại dựa vào tính chất của hàng gồm các loại: - Loại hàng hút, tỏa mùi vị: Các loại hàng này không được xếp chung với nhau và phải bao gói kín, nếu để gần nhau dễ mất mùi vị, ảnh hưởng chất lượng hàng như: Trà khô, thuốc lá, băng phiến v.v - Loại hàng có mùi vị đặc biệt: Các loại hàng này có mùi vị khó chịu, không được để lẫn với các loại hàng hút mùi vị, làm ảnh hưởng đến chất lượng của các loại hàng đó như: Da sống, cá ướp, các loại mắm v.v - Loại hàng bay bụi bẩn: Như than cám, cát, sỏi, ximăng không xếp các loại hàng này gần hàng bắt bụi, hàng lương thực, thực phẩm và tránh xếp dỡ lúc trời có gió to hoặc mưa. - Loại hàng đông kết: Là những loại hàng khi gặp ẩm thì các phân tử nhỏ liên kết với nhau thành cục hoặc tảng lớn, làm giảm chất lượng hàng và gây khó khăn cho công tác xếp dỡ như: Than cám, xi măng, phân hóa học v.v nên khi xếp dỡ cần tránh mưa, chống ẩm, thời gian vận chuyển phải nhanh chóng. - Loại hàng dễ vỡ: Là các loại hàng dòn, kém chịu nén, ép, va đập như: Thủy tinh, đồ gốm. Khi vận chuyển phải đệm, chèn lót kỹ và xếp dỡ nhẹ nhàng, cẩn thận. - Loại hàng mau hỏng: Là loại hàng không chịu được nhiệt độ cao, không chịu nước, còn ở điều kiện thông thường cũng mau hỏng như: Rau, hoa quả tươi, thịt, cá, trứng v.v Các loại hàng này cần vận chuyển nhanh chóng, kịp thời, hầm hàng phải thông hơi, thông gió, vận chuyển nhẹ nhàng. - Loại hàng nguy hiểm: Là các hàng hóa chất và hàng quân sự, dễ cháy, dễ nổ, gây nhiễm độc, ăn mòn v.v làm nguy hiểm cho người và phương tiện vận tải nên loại hàng này cần sử dụng phương tiện chuyên dùng. Khi xếp dỡ vận chuyển và bảo quản cần thận trọng, đúng kỹ thuật và phương tiện phải có nội quy cụ thể. 8
  10. - Loại hàng động vật sống: Khi vận chuyển loại hàng này, ngoài việc thông hơi, thông gió, còn phải cho ăn uống, làm vệ sinh phòng dịch nên yêu cầu vận chuyển và bảo quản rất cao như vận chuyển lợn, bò, gà, vịt v.v 1.3.2. Phân loại dựa vào chỗ chất, xếp: 1.3.2.1. Dựa vào chỗ chất, xếp ở hầm tầu: - Loại hàng xếp ở dưới đáy hầm tầu: Những loại hàng có trọng lượng riêng lớn, chịu được sức nén ép và không chịu được mưa nắng. - Loại hàng xếp ở giữa hầm tầu: Hàng có trọng lượng riêng vừa, chịu được nén kém hơn loại hàng xếp dưới đáy tầu và cũng là hàng không chịu được mưa nắng, thường là hàng bách hóa. - Loại hàng xếp trên boong tầu: Loại hàng này có trọng lượng riêng vừa và nhẹ, chịu được mưa nắng và yêu cầu bảo quản không cao hoặc có chiều dài lớn hơn chiều dài của một khoang hầm như: Tre, nứa, thép ống v.v 1.3.2.2. Dựa vào chỗ chất xếp hàng ở kho bãi: - Loại hàng để ở kho bình thường: Hàng bách hóa, lương thực có thể để ở các kho bình thường, không đòi hỏi cao lắm về mái, tường và nền kho. - Loại hàng để ở kho đặc biệt: Là các hàng có yêu cầu bảo quản cao như xăng dầu, hóa chất, nên yêu cầu tường mái và nền kho phải đảm bảo khô ráo, thoáng và dùng vật liệu đặc biệt để xây dựng kho. Còn có những loại hàng yêu cầu cách nhiệt, cách điện, phải dùng gạch chịu lửa hoặc thép đặc biệt. - Loại hàng để ngoài bãi: Là những hàng chịu được mưa, nắng; yêu cầu bảo quản không cao lắm như: Than, đá, cát, sỏi v.v các hàng này có thể để lộ thiên hoặc dùng bạt để che đậy. 1.3.3. Dựa vào hình thức bên ngoài để phân loại: - Loại hàng đóng bao, hòm, kiện, thùng: Loại hàng này yêu cầu bảo quản cẩn thận, phải bao gói kín, đóng thùng, kiện chắc chắn như hàng: Bách hóa, lương thực, thực phẩm, xăng dầu v.v - Loại hàng rời: Than, cát, sỏi, đá v.v loại hàng này có số lượng lớn, yêu cầu bảo quản và giá trị không cao, thường được bảo quản ở ngoài bãi. - Loại hàng thể lỏng: Xăng, dầu các loại , hàng dễ bay hơi và dễ cháy nên được đóng vào thùng kín, chắc; để ở kho bảo quản cẩn thận. - Loại hàng mau hỏng: Rau, hoa quả tươi, trứng, cá v.v yêu cầu bảo quản cao, có thông hơi, thông gió, đảm bảo nhiệt độ thấp, thời gian vận chuyển phải nhanh chóng, kịp thời. Bài 2: BAO BÌ VÀ KÝ MÃ HIỆU HÀNG HÓA. 9
  11. 2.1.Bao bì hàng hóa: 2.1.1. Khái niệm: Những sản phẩm dùng để đặt hay gói sản phẩm bên trong và đảm bảo giữ nguyên chất lượng cùng số lượng hàng hóa trong quá trình bảo quản, vận chuyển và xếp dỡ gọi là bao bì. 2.1.2. Tác dụng của bao bì để vận chuyển - Đảm bảo cho hàng hóa không hư hỏng, mất mát trong quá trình bảo quản, vận chuyển và xếp dỡ. - Thuận tiện khi bảo quản, vận chuyển, xếp dỡ, giao nhận, sử dụng tốt các phương tiện vận tải, thiết bị xếp dỡ, dung tích kho bãi, nâng cao năng suất thiết bị xếp dỡ, năng suất lao động, giảm giá thành vận tải. - Đảm bảo an toàn cho người, phương tiện, thiết bị trong quá trình sản xuất. 2.1.3. Những yêu cầu kỹ thuật đối với bao bì vận chuyển: - Vật liệu làm bao bì phải sạch sẽ, khô ráo, vững chắc, nguyên vẹn, không gây ảnh hưởng xấu đến hàng hóa bên trong. - Hình dáng của bao bì phải phù hợp với hình dáng của hàng hóa. - Kết cấu vững chắc, chịu được va đập, xô đẩy, chèn ép khi tầu gặp sóng gió. - Kích thước phải được tiêu chuẩn hóa sao cho thuận tiện trong việc bảo quản, vận chuyển và xếp dỡ. Sử dụng hiệu quả thiết bị kho bãi. - Tận dụng nguyên vật liệu địa phương, giảm chi phí sản xuất bao bì đến mức thấp nhất, giảm trọng lượng bao bì thấp nhất và tăng thời gian sử dụng. 2.1.4. Các loại bao bì: Bao bì trong ngành vận tải có nhiều loại khác nhau về vật liệu và kích thước, song có thể chia ra các loại sau: 2.1.4.1. Bao gói ngoài: Có tác dụng giữ cho hàng hóa không bị hư hỏng, rơi vãi, va chạm, ngăn ngừa tạp chất bên ngoài lẫn vào hàng hóa, bao gói ngoài được chia ra nhiều loại: - Thùng: Làm bằng gỗ hoặc kim loại, có hình chữ nhật, hình trụ, hình vuông loại này thường có kích thước lớn. Ưu điểm là vận chuyển được nhiều loại hàng, thích hợp vận chuyển đường dài, vững chắc và sử dụng được nhiều lần. Nhược điểm là giá thành cao, hệ số sử dụng trọng tải phương tiện thấp. - Bao kiện: Làm bằng giấy, vải, đay, gai, loại này dùng bọc sách, báo, len, vải sợi hoặc các loại hàng chịu nén tốt. - Bao đay gai: Chiếm một vị trí quan trọng hiện nay, thường dùng chứa hàng lương thực. Bao bền, dai, dùng được nhiều lần. - Bao giấy: Thường làm bằng giấy dày, dai, bền, làm bằng nhiều lớp để chống rách, loại này thường có độ thấm nhỏ, dùng để chứa các loại hàng bột như xi măng, phân bón 10
  12. - Hộp carton: Loại này bằng nhiều lớp giấy dán lại với nhau từ 2 đến 6 lớp hoặc loại giấy có độ xốp lớn, dùng để chứa các loại hàng dễ vỡ. 2.1.4.2. Bao gói trong: Đây là loại bao gói trực tiếp đặt hàng và đặt bên trong bao gói ngoài. Mục đích nhằm ngăn ngừa, chống lại các loại mùi vị bên ngoài xâm nhập vào hàng hóa và giữ cho hương vị của hàng hóa khỏi bị bay ra ngoài. - Giấy kim loại dát mỏng: Được làm bằng bạc hoặc bằng thiếc, có ưu điểm chống ẩm cao, giữ cho hàng hóa không bị mất hương vị và mùi vị bên ngoài không thể xâm nhập vào hàng hóa. Ví dụ: Khi bảo quản thuốc lá, người ta dùng giấy bạc vì thuốc lá có tính hút ẩm mạnh. Độ ẩm tương đối ở nước ta trên 85% trong khi đó độ thủy phần thuốc lá quy định 13%. Nếu độ ẩm tương đối của không khí là 80% thì thuốc lá tiếp tục hút ẩm đến 58.2% mới cân bằng. - Giấy chống ẩm: Thường bọc các loại hàng dễ bị mốc, có loại được pha thêm chì, không được dùng loại giấy này để chứa các loại hàng lương thực, thực phẩm. - Giấy nến: Có tác dụng chống ẩm, không độc hại, rẻ hơn hai loại trên, được dùng rộng rãi. - Bao chất dẻo: Hiện nay người ta dùng loại bao bằng PolyvinylClorua hoặc Polyvetilen. Khi dùng bao chất dẻo chú ý chọn vật liệu có độ thẩm thấu nhỏ. Khi gói giảm bớt thể tích bao gói sao cho sát với hàng hóa, không để rách và tránh ánh nắng mặt trời. 2.1.4.3. Vật liệu đệm lót: Vật liệu đệm lót được đặt giữa hàng và bao gói bên trong hoặc giữa bao gói bên trong với bao gói bên ngoài. Vật liệu này thường được làm bằng mùn cưa, vỏ bào, rơm khô, vỏ khô hoặc các vật liệu khác có tính chất đàn hồi, chịu nén tốt. Vật liệu đệm lót cũng được coi là một loại bao gói không thể thiếu được. 2.2.Nhãn hiệu hàng hóa: 2.2.1. Khái niệm: Tất cả các ký hiệu, hình vẽ, chữ viết ghi trực tiếp lên hàng hóa hay bao gói để giúp cho sự nhận biết tính chất của hàng hóa, phương pháp vận chuyển, bảo quản, xếp dỡ, giao nhận gọi là nhãn hiệu hàng hóa. 2.2.2. Tác dụng của nhãn hiệu hàng hóa: - Nhãn hiệu thường dùng giới thiệu các đặc tính cơ bản của hàng hóa để giao nhận và xếp dỡ được tiện lợi. - Tránh cho hàng hóa bị hư hỏng, mất mát. - Giúp người làm công tác vận chuyển, xếp dỡ nâng cao được năng suất lao động 2.2.3. Các loại nhãn hiệu hàng hóa: 11
  13. Nhãn hiệu hàng hóa có rất nhiều loại, ở đây ta chỉ nghiên cứu một số loại thường gặp: 2.2.3.1.Nhãn hiệu theo hình thức bên ngoài: Loại nhãn hiệu này có 2 phần chính và phụ - Phần chính: Phần hình vẽ và chữ lớn viết ở bên ngoài bao bì, nơi trung tâm dễ nhìn thấy, ghi địa điểm nơi nhận. - Phần phụ: Phần các số liệu và chữ nhỏ viết phía dưới nhãn hiệu chính, thường ghi rõ những quy định về số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hóa Ví dụ: M D 38 40 HÀ BẾN NỘI THỦY Sài gòn Hải phòng A – 2/30 WT = 200 Kg WT = 100 Kg Nhãn hiệu chính: Hình vẽ chỉ rõ nơi nhận Hà Nội và Bến Thủy Nhãn hiệu phụ: Phần chữ và số nhỏ dưới nhãn hiệu chính A- 2/30 : Loại hàng A thùng thứ 2 trong số 30 thùng, Sài Gòn và Hải Phòng là nơi phát hàng 38 – 40 là thùng thứ 38 trong số 40 thùng từ Hải Phòng đi đến Bến Thủy WT = 200 Kg và WT = 100 Kg là trọng lượng kiện hàng kể cả thùng. 2.2.3.2. Nhãn hiệu căn cứ vào mục đích sử dụng: - Nhãn hiệu thương phẩm: Ghi rõ nơi sản xuất, nhà máy sản xuất và tên người sản xuất. - Nhãn hiệu phát hàng: Ghi rõ nơi phát hàng, nơi nhận hàng, họ tên người phát và nhận, số lượng, trọng lượng hàng, bao bì và kích thước bao bì (phần này do người phát hàng ghi) - Nhãn hiệu vận tải: Loại này ghi rõ nơi xuất phát, nơi đến, số lượng kiện hàng và làm theo yêu cầu của bên vận tải. Nhãn hiệu này phục vụ cho việc xếp dỡ và vận chuyển khỏi bị nhầm lẫn. Ví dụ: HP - BT- SG 750 12
  14. Trong đó: Hải Phòng là nơi phát hàng qua Bến Thủy vào Sài Gòn. Tổng số lượng kiện hàng là 750. 2.2.3.3. Nhãn hiệu chú ý: Chủ yếu dùng hình vẽ để biểu thị tính chất của các loại hàng đưa vận chuyển. (hình vẽ) 13
  15. Bài 3: TỔN THẤT HÀNG HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA KHÍ HẬU ĐẾN HÀNG HÓA 3.1.Lượng giảm tự nhiên và tổn thất hàng hóa: 3.1.1. Khái niệm: - Lượng giảm tự nhiên là lượng hàng hóa bị giảm đi trong quá trình vận chuyển, bảo quản và xếp dỡ do ảnh hưởng của các nhân tố thiên nhiên hay bản chất hàng hóa mà không thể khắc phục được (do khách quan). - Tổn thất hàng hóa là lượng hàng hóa bị giảm đi trong quá trình bảo quản, vận chuyển và xếp dỡ do con người gây nên (chủ quan). 3.1.2. Nguyên nhân: 3.1.2.1. Đối với lượng giảm tự nhiên do: - Bản chất hàng hóa. - Khí hậu, thời tiết trên tuyến đường vận chuyển. - Màu sắc phương tiện. - Hình thức vận chuyển. 3.1.2.2. Đối với tổn thất hàng hóa do: - Bao bì bị hư hỏng trong khi xếp dỡ. - Hàng hóa bị nén, ép, xô đẩy gây hư hỏng. - Hàng hóa bị thấm nước hoặc bị ẩm ướt. - Ảnh hưởng của nhiệt độ trên tuyến đường vận chuyển. - Sâu bọ hoặc côn trùng gây nên. 3.1.3. Biện pháp phòng ngừa và hạn chế hư hỏng hàng hóa: - Chuẩn bị tầu chu đáo trước khi nhận hàng: Phải vệ sinh sạch hầm, kiểm tra kỹ hệ thống thông gió, hút khô, độ kín nước của hầm hàng. - Chuẩn bị tốt dụng cụ chèn lót, ngăn cách: Đệm lót phải phù hợp và chèn lót ngăn cách đúng kỹ thuật. - Kiểm đếm và kết toán hàng hóa: Theo dõi số lượng, chất lượng và vỏ ngoài của hàng hóa. - Thực hiện đúng kỹ thuật xếp dỡ: Phải có sơ đồ xếp hàng. Khi xếp hàng phải chú ý tới tính chất của hàng hóa. Đảm bảo phân cách các lô hàng với nhau. - Bảo quản trong quá trình vận chuyển: Tiến hành thông gió vào thời điểm thích hợp. 14
  16. Lựa chọn phương pháp thông gió phù hợp với từng loại hàng. Kiểm tra sự chằng buộc hàng hóa. 3.2. Ảnh hưởng của khí hậu đến hàng hóa: Hàng hóa trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ và bảo quản thường xảy ra mất mát, hao hụt, biến chất hoặc chất lượng bị giảm; có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do tác động tương hỗ giữa các nhân tố bên trong và bên ngoài. Nếu ta khống chế được nhân tố bên ngoài thì riêng nhân tố bên trong khó làm hư hỏng được hàng hóa. 3.2.1. Nhân tố bên trong của hàng hóa: Đây là nhân tố ảnh hưởng từ nguyên vật liệu sản xuất, từ quá trình sản xuất và đóng gói. - Nguyên liệu đưa sản xuất không được tốt, làm cho chất lượng hàng không bảo đảm (cả chất lượng và thời gian bảo quản). - Quá trình sản xuất không bảo đảm kỹ thuật cho nên không để lâu hoặc chịu nén, chịu ép và chống ẩm kém. - Quá trình đóng bao gói không đúng quy cách. Sức chịu lực của bao bì không đảm bảo chịu nén, chịu ép. 3.2.2. Nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến hàng hóa: 3.2.2.1. Ảnh hưởng cuả thành phần không khí: Không khí là một hỗn hợp gồm 78% Nitơ, 21% Ôxy, 0.93% Ar, các khí khác, bụi, các hơi thải của chất đốt. Đặc biệt hàm lượng CO 2 trong không khí là 0.03% là nhân tố không tốt đối với sự sống, nhưng có tác dụng tích cực trong việc bảo quản hàng, nhất là các loại hàng tươi sống như rau quả, ngũ cốc Hàm lượng CO 2 trong không khí có ảnh hưởng đến mức độ phát triển của vi sinh vật. Khi nồng độ của CO 2 trong không khí là 10% có tác dụng ngăn ngừa sự hoạt động của vi sinh vật, nếu tăng lên 20% đa số mốc bắt đầu ngưng hoạt động. Khi nồng độ CO 2 trên 90% thì tất cả mốc ngừng hoạt động hoàn toàn. 3.2.2.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ: Khi nhiệt độ tăng thì các quá trình lý học, hóa học cũng tăng, thúc đẩy vi sinh vật phát triển và nhiệt độ tăng giảm làm cho các loại gỗ, kim loại biến dạng. 3.2.2.3. Ảnh hưởng của độ ẩm không khí: Không khí ngậm hơi nước gọi là độ ẩm của không khí được biểu thị bằng độ ẩm bão hòa hơi nước, độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm tương đối. Độ ẩm bão hòa còn gọi là áp suất hơi nước bão hòa (độ ẩm cực đại). Ở nhiệt độ nhất định 1m3 không khí chỉ chứa một lượng hơi nước nhất định. Độ ẩm tuyệt đối: Ký hiệu là [Ag/m 3] là số gam hơi nước chứa trong 1m 3 không khí ở nhiệt độ và áp suất nào đó. Độ ẩm tương đối của không khí là tỷ số % của lượng hơi nước có thực trong một thể tích không khí và lượng hơi nước bão hòa trong cùng một thể tích và nhiệt độ. 15
  17. Độ ẩm cao là điều kiện thích nghi cho vi sinh vật phát triển. Ví dụ: Người ta thí nghiệm thả 20 đôi mọt vào 3 loại gạo (50g) có độ thủy phần khác nhau. Sau 100 ngày kết quả cho thấy: Gạo 17% độ thủy phần sinh được 1263 con trùng. Gạo 15% độ thủy phần sinh được 543 con trùng. Gạo 13% độ thủy phần sinh được 16 con trùng. Thủy phần chênh lệch nhau 4% nhưng trùng bọ phát triển gấp gần 80 lần. Đối với thiết bị máy móc kim loại, khi nước đọng lại có khả năng hòa tan SO4 và CO2 tạo thành axit và axit ấy tác dụng với kim loại gây ra hiện tượng han gỉ. H2O + CO2 H2CO3 H2CO3 + Cu CuCO3 + 2H2 SO4 + O2 SO3 H2SO4 + Fe FeSO4 + H2 Hoặc khi lớp nước đọng lại bề mặt kim loại làm cho ôxy có thể khuếch tán tự do vào bề mặt kim loại gây ra hiện tượng ăn mòn. 2Fe + O2 = 2FeO 2FeO + H2O = Fe2O3 + H2 Đặc biệt trong hơi ẩm có mang theo lượng muối, muối Cloruanatri có khả năng phân li thành ion Clo và ion Natri, ion Clo có khả năng phá hoại kim loại gây nên gỉ. 3.2.3. Biện pháp khắc phục: Đây là công tác phức tạp, muốn làm tốt công tác này, chúng ta cần nắm vững đặc điểm các loại hàng và quy luật biến đổi của môi trường xung quanh. 3.2.3.1. Biện pháp dùng chất hút ẩm: Các chất thường dùng hiện nay là Silikazen, Canxiclorua, Axít Sunfuaric, vôi sống - Dùng chất Silikazen chính là keo thủy tinh, khả năng hút ẩm mạnh 30% đến 50% trọng lượng bản thân (có loại đến 80%). Chất này sạch, không chảy nước, không bay bụi, không làm hư hỏng thiết bị hàng hóa và hồi phục dễ dàng. - Canxiclorua: Loại này hút ẩm mạnh, tỏa nhiệt chảy thành dạng lỏng, có hàm lượng hút ẩm là 25% và đặc biệt có khả năng hút ẩm kể cả khi ở dạng lỏng. - Vôi sống (CaO): Loại này hút ẩm mạnh hơn 2 loại trên, thời gian sử dụng ngắn, tỏa nhiệt tơi thành bột dễ làm mất phẩm chất hàng hóa nhưng rẻ tiền. 3.2.3.2. Biện pháp thông gió: Nhằm thay đổi không khí trong hầm bằng không khí ngoài khô hơn và đẩy các độc khí ra ngoài. 16
  18. Cơ sở của việc thông gió: Dựa vào sự chênh lệch áp suất giữa bên trong và bên ngoài hầm tầu, do sự chênh lệch về nhiệt độ và độ ẩm tạo nên. Nguyên tắc: Chỉ tiến hành thông gió cho tầu khi nhiệt độ không khí bên ngoài thấp hơn nhiệt độ bên trong hầm. Nếu thông gió khi nhiệt độ bên ngoài cao hơn thì không khí nóng sẽ đi vào làm hàng hóa đổ “mồ hôi”. Tức là chỉ thông gió khi nào độ ẩm tuyệt đối của không khí bên ngoài nhỏ hơn bên trong hầm tầu. Thời gian thông gió nên tiến hành vào những ngày trời quang đãng của mùa khô, mùa mưa nên chọn những ngày trời mát không mưa, lúc sáng sớm là tốt nhất. 17
  19. Bài 4: THÔNG GIÓ HẦM HÀNG VÀ CHÈN LÓT HÀNG HÓA 4.1.Thông gió: Trong quá trình vận chuyển hàng hóa, tầu chạy qua nhiều vùng khác nhau, nhiệt độ và độ ẩm khí quyển luôn thay đổi ảnh hưởng đến hàng hóa xếp trong hầm tầu, nếu không có biện pháp thông gió thích hợp hàng hóa sẽ bị hư hỏng. Thông gió cho hầm hàng sẽ là một biện pháp cơ bản để bảo vệ chất lượng hàng. 4.1.1. Mục đích của việc thông gió hầm hàng: - Làm giảm nhiệt độ hầm hàng, giữ cho hàng không biến chất vì nóng. - Làm cho nhiệt độ điểm sương trong hầm hàng nhỏ hơn nhiệt độ vách hầm hàng và nhiệt độ bề mặt hàng hóa tránh đổ mồ hôi hầm hàng gây nên ẩm ướt hàng hóa. - Làm không khí lưu thông, đề phòng các loại hàng hút khí sẽ biến chất hoặc thối rữa. - Đề phòng hàng tự cháy - Thải mùi hôi và khí độc ra ngoài 4.1.2. Các phương pháp thông gió: 4.1.2.1. Thông gió tự nhiên: Là thông gió bằng các ống thông gió của hầm hàng nối trực tiếp với gió tự nhiên bên ngoài. Tùy từng điều kiện thời tiết bên ngoài và tính chất của hàng hóa ta có 2 cách sau: - Thông gió thải tự nhiên: Bằng cách mở toàn bộ nắp hầm hàng (nếu điều kiện cho phép) và quay toàn bộ ống gió về dưới gió làm cho không khí ẩm và nóng trong hầm bốc từ dưới lên trên thoát ra ngoài, đây là phương pháp điều tiết không khí chậm, không đột ngột và an toàn (H1) Hướng gió A B A B - Thông gió tuần hoàn: Xoay B về trên gió và A về dưới gió, nếu điều kiện cho phép ta mở một phần nắp hầm. Với cách này gió sẽ lùa vào miệng ống B khí 18
  20. nóng ẩm thoát khỏi miệng ống A và miệng hầm hàng, đây là phương pháp điều tiết hiệu quả, nhanh chóng song cần phải thận trọng, nếu nhiệt độ và độ ẩm không khí quá cao và nhiệt độ bên ngoài thấp thì có thể sinh ra mù trong hầm hàng (H2) 4.1.2.2. Thông gió cơ học: Dùng quạt điện để hút khí thải trong hầm ra cách này hiệu quả lớn không bị hạn chế, dễ điều tiết. 4.1.3. Mồ hôi hàng hóa và mồ hôi hầm hàng: Dưới một nhiệt độ nào đó không khí tự nhiên chỉ có thể chứa một lượng hơi nước nhất định, vượt quá giới hạn đó hơi nước dư thừa ngưng tụ thành nước hay tinh thể nước đóng trên vách trần hầm hàng và trên bề mặt hàng. Lượng hơi nước phụ thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ càng cao thì lượng hơi nước càng tăng và với một nhiệt độ không khí nhất định hơi nước trong không khí đạt giá trị cao nhất (nếu vượt quá giá trị đó thì hơi nước sẽ biến thành nước) nhiệt độ không khí đó gọi là nhiệt độ điểm sương, không khí ở trạng thái đó gọi là không khí ở trạng thái bão hòa. Hầu hết hàng hóa bị hư hại trong quá trình vận chuyển, phần lớn các hư hại đó do mồ hôi gây ra, mồ hôi có 2 loại: 4.1.3.1. Mồ hôi hầm hàng: Khi tầu xuất phát từ cảng có nhiệt độ tương đối nóng đến một vùng có nhiệt độ tương đối lạnh, nhiệt độ bên ngoài làm giảm nhiệt độ vách hầm tầu, đến khi thấp hơn nhiệt độ điểm sương của không khí bên trong hầm thì phát sinh mồ hôi trên vách hầm hàng gọi là mồ hôi hầm hàng. Tránh trường hợp nhiệt độ bên ngoài giảm đột ngột tạo ra luồng mồ hôi lớn làm hư hỏng hàng hóa 4.1.3.2. Mồ hôi hàng hóa: Khi tầu xuất phát từ một cảng có nhiệt độ thấp sang cảng có nhiệt độ cao hơn, độ ẩm lớn hơn thì nhiệt độ và độ ẩm trong hầm hàng sẽ tăng lên tương ứng nhưng nhiệt độ hàng hóa tăng chậm hơn so với nhiệt độ không khí trong hầm, xuất hiện nhiệt độ điểm sương trong không khí hầm hàng cao hơn nhiệt độ bản thân hàng hóa dẫn đến phát sinh mồ hôi trên bề mặt hàng hóa người ta gọi là mồ hôi hàng hóa. 4.1.4. Cách xác định nhiệt độ điểm sương: Dùng nhiệt kế khô, ướt đặt trong hầm hàng (nên đặt ở vài vị trí khác nhau) và lấy giá trị trung bình, lấy hiệu số t khô ướt ( t - t’), t: nhiệt độ khô, t’ là nhiệt độ ướt, dùng t’ và (t – t’) tra bảng được nhiệt độ điểm sương. Ví dụ: Nhiệt độ khô t = 20oC, t’ = 15oC. Hỏi nhiệt độ giảm bao nhiêu thì xuất hiện mồ hôi hầm hàng? t - t’ = 20oC – 15oC = 5oC Ta tra bảng nhiệt độ điểm sương: Lấy 5 oC làm đối số hàng ngang, t’ =15oC làm đối số cột dọc. Tìm được nhiệt độ điểm sương là 11 oC. Như vậy trong hầm 19
  21. chỉ cần nhiệt độ hạ xuống 11 oC thì bắt đầu xuất hiện đổ mồ hôi. Ta phải tiến hành thông gió. Quy trình thông gió phải từ từ theo từng bước tránh giảm nhiệt độ đột ngột gây hiện tượng ngưng tụ hơi nước. Khi nhiệt độ điểm sương ngoài không khí lớn hơn nhiệt độ điểm sương trong hầm hàng lúc đó tuyệt nhiên phải đóng kín không được phép thông gió. Tầu chạy từ vùng lạnh sang vùng nóng phải đóng chặt hầm hàng. Tóm lại: Khi nào nhiệt độ hầm hàng thấp hơn nhiệt độ điểm sương, đó là lúc bắt đầu phát sinh mồ hôi hầm hàng vì vậy vần đề cơ bản ở đây là tìm cách xác định nhiệt độ điểm sương của không khí trong hầm hàng và theo dõi nhiệt độ hầm hàng khi nào thấp hơn nhiệt độ điểm sương thì sẽ phát sinh mồ hôi hầm hàng và lúc đó cần thông gió. 20
  22. BẢNG NHIỆT ĐỘ ĐIỂM SƯƠNG (Bảng này chỉ thích ứng cho số đọc trên nhiệt kế ướt từ 350C đến dưới 00C khi chưa bị đóng băng) Nhiệ t độ Hiệu số nhiệt độ kế khô - ướt ( t - t' ) kế ướt t’0C 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 -7 -7 -10 -13 -17 -6 -6 -8 -11 -15 -5 -5 -7 -10 -13 -4 -4 -6 -8 -11 -15 -3 -3 -5 -7 -10 -13 -2 -2 -4 -6 -8 -11 -1 -1 -3 -5 -7 -9 0 0 -2 -3 -5 -8 -10 1 1 0 -2 -4 -6 -8 2 2 1 -1 -3 -4 -7 3 3 2 0 -1 -3 -5 -7 4 4 3 1 0 -1 -3 -5 5 5 4 3 1 0 -2 -3 6 6 5 4 3 1 0 -2 -4 7 7 6 5 4 3 1 0 -2 8 8 7 6 5 4 3 1 0 9 9 8 8 6 5 4 3 1 0 10 10 9 8 7 6 5 4 3 2 11 11 10 9 9 8 7 6 5 3 2 12 12 11 10 10 9 8 7 6 5 4 13 13 12 12 11 10 9 8 7 6 5 14 14 13 13 12 11 10 10 9 8 7 6 15 15 14 14 13 12 11 11 10 9 8 7 21
  23. Nhiệt độ Hiệu số nhiệt độ kế khô - ướt ( t - t' ) kế ướt t’0C 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 16 16 15 15 14 14 13 12 11 11 10 9 17 17 16 16 15 15 14 13 13 12 11 10 18 18 18 17 16 16 15 15 14 13 13 12 19 19 19 18 18 17 16 16 15 15 14 13 20 20 20 19 19 18 18 17 16 16 15 15 21 21 21 20 20 19 19 18 18 17 17 16 22 22 22 21 21 20 20 19 19 18 18 17 23 23 23 22 22 22 21 20 20 20 19 19 24 24 24 23 23 23 22 22 21 21 20 20 25 25 25 24 24 24 23 23 22 22 21 21 26 26 26 25 25 25 24 24 23 23 23 22 27 27 27 26 26 26 25 25 25 24 24 23 28 28 28 27 27 27 26 26 26 25 25 25 29 29 29 28 28 28 27 27 27 27 26 26 30 30 30 29 29 29 29 28 28 28 27 27 31 31 31 31 31 31 30 29 29 29 28 32 32 32 32 32 32 31 30 30 30 33 33 33 33 33 33 32 32 31 34 34 34 34 34 34 33 33 35 35 35 35 35 35 34 4.2. Chèn lót hàng hóa : 4.2.1. Cách thức chèn lót: Sử dụng chèn lót là một trong những biện pháp bảo vệ hàng, tuy nhiên nếu không sử dụng hợp lý sẽ có tác dụng ngược lại, chẳng hạn hàng bao khi dùng đệm lót không phẳng sẽ rách bao, gỗ dát không đúng hướng sẽ gây ra ướt hàng 4.2.1.1. Chèn lót ở dưới đáy hầm tầu: Ta dùng thanh gỗ dầy 2.5cm – 5cm lót theo chiều ngang của tầu ở gần rãnh lacanh, để thừa khoảng trống cho mồ hôi hầm hàng hoặc nước rò rỉ có thể chảy xuống lacanh. 4.2.1.2. Chèn lót ở vách ngang và vách mạn: Tùy thuộc vào từng loại hàng để đề phòng mồ hôi cần phải phủ chiếu cói hoặc bạt sao cho không trở ngại mồ hôi hầm hàng chảy từ trên xuống lacanh. 4.2.1.3. Chèn lót đề phòng hàng bị nén và dịch chuyển: Khi xếp hàng bao dưới hầm mà bao lại không chắc chắn thì cứ vài lớp ta lại đệm một lớp ván gỗ, 22
  24. để hàng khỏi xê dịch ta đệm bằng những thanh gỗ có hình dạng và kích thước thích hợp, những chỗ có khe nhỏ có thể đệm bằng rơm, gỗ Đề phòng phát sinh tia lửa do ma sát giữa hàng và sàn tầu ta phải bọc kỹ kim loại nhô ra ở sàn tầu bằng chiếu cói hay bằng bạt. Đệm lót thường kết hợp để phân cách hàng hóa thành từng lô, từng chủ hàng, giúp cho công tác kiểm đếm được thuận lợi, không nhầm lẫn, xếp nhanh chóng hiệu quả cao. 4.2.2. Vật liệu chèn lót: Vật liệu chèn lót dùng để đệm lót ngăn cách vỏ tầu với hàng hóa, sàn nền kho với hàng, giữa các hàng với nhau. Vật liệu chèn lót thường là: Mạt cưa, dăm bào, giấy vụn, rơm rạ, gỗ thông . Vật liệu chèn lót phải đảm bảo các yêu cầu: - Phải xốp, nhẹ, giữ cố định được hàng hóa, không hút ẩm, dễ gia công làm thay đổi hình dạng phù hợp với hàng hóa cần bảo quản. - Phải đàn hồi và độ xốp càng cao càng tốt làm giảm bớt chấn động của hàng hóa, chống xê dịch hàng và chống ẩm cho hàng. 23
  25. Bài 5: VẬN CHUYỂN CONTAINER 5.1. Định nghĩa: Container là loại thùng chứa hàng đặc biệt làm bằng kim loại dùng lâu bền, chắc, có kích thước trọng lượng được tiêu chuẩn hóa trong vận tải hay còn gọi là một dụng cụ vận tải. 5.2. Container cần đảm bảo yêu cầu: - Có tính bền chắc, đáp ứng được yêu cầu sử dụng nhiều lần. - Có cấu tạo riêng biệt, thuận lợi cho chuyên chở hàng bằng một hoặc nhiều phương thức vận tải mà không phải dỡ hàng ra và đóng gói lại ở dọc đường. - Được thiết kế thuận tiện, dễ dàng cho việc đóng hàng vào và rút hàng ra khỏi container. - Có thể tích chứa hàng bên trong từ 1m3 trở lên. 5.3. Lợi ích của vận chuyển bằng container: 5.3.1. Đối với người vận chuyển: - Rút ngắn được thời gian tầu đậu tại cảng để xếp dỡ hàng làm giảm thời gian quay vòng tầu. - Thuận lợi cho cách vận chuyển có chuyển tải và cách vận chuyển đa phương thức (vận chuyển đa phương thức hay vận chuyển liên hợp) do đó người vận chuyển tận dụng được trọng tải và dung tích của tầu, nâng cao hiệu quả khai thác. - Giảm được thủ tục bao bì, kiểm đếm. Đảm bảo an toàn cho hàng hóa. 5.3.2. Đối với người thuê vận chuyển: - Hàng hóa được bảo vệ, phòng chống tổn thất, hư hỏng, mất mát tốt hơn nhờ có vỏ bọc bền chắc của container che chở. - Chi phí bao bì ít tốn kém hơn, tiết kiệm hơn. - Hàng hóa kèm theo giá trị của nó được luân chuyển tiện lợi, nhanh chóng, tạo điều kiện kinh doanh đạt hiệu quả cao. - Giảm được nhân lực, chi phí thủ tục trong việc đóng gói, thuận lợi cho việc cơ giới hóa xếp dỡ. Cải thiện điều kiện lao động, nâng cao năng suất. 5.4.Đặc điểm của tầu container: 5.4.1. Đặc điểm chủ yếu: - Chỉ có 1 boong, không có boong giữa và có loại mạn kép hoặc mạn đơn. - Độ bền dọc và bền ngang cao, hệ số béo lớn. 24
  26. - Tầu có các khung dẫn hướng trong hầm theo chiều thẳng đứng đảm bảo cho container không bị xê dịch trong lúc sóng gió. Trên boong có những cơ cấu cố định để chằng buộc container nhanh chóng và chắc chắn. 5.4.2. Các tham số của container: Kích thước bên ngoài 8ft x 8ft x 20ft 8ft 6in x 8ft x 40ft Thé Thé Nhô Th p Nhô Thé p Vật liệu chế tạo m ép thủy m p thủy tinh tinh 163 22 309 385 Trọng lượng bản thân (kg) 0 00 2030 0 0 3550 225 22 237 235 cao 8 09 2248 6 3 2405 Kích thước bên rộn 235 23 235 231 trong (mm) g 4 37 2370 1 5 2373 593 59 120 120 1206 dài 5 05 5935 60 70 9 30, Thể tích bên trong (m3) 31,6 5 31,6 67,4 65,0 68,8 215 21 229 222 cao 0 35 2135 0 0 2292 Cửa mở (mm) rộn 234 23 234 231 g 2 37 2280 2 5 2335 5.4.3. Các loại container thường dùng:: - Container thông thường. (1) - Container đông lạnh (2) - Container dầu (3) - Container hàng lỏng (4) - Container ô tô (5) - Container lững (6) 25
  27. 5.5. Xếp và cố định container trên tầu: Container được xếp vào hầm theo các khung định hướng (dẫn xuống) container trên boong được xếp và cố định tùy theo cơ cấu lắp ghép các container với nhau. Cơ cấu lắp ghép hiện nay thường sử dụng: 5.5.1. Góc lắp ghép container: Kết cấu có 3 lỗ nằm ở góc mặt trên của container, chốt hình nón vát ở đáy container nằm trên có thể lắp vào lỗ này. 5.5.2. Chốt hình nón vát ở đáy container có thể xoay được, sau khi lắp vào góc lắp ghép chỉ cần xoay chốt thì các container dính chặt vào nhau. 5.5.3. Chốt khóa cố định: - Giữa mặt boong và lớp container dưới cùng cũng lắp ghép bằng các chốt khóa cố định này. Ngoài ra giữa container với mặt boong còn được chằng buộc bằng cáp hay dây xích hoặc bằng các thanh chống. - Container trên boong được xếp từng hàng dọc ngang theo cùng hướng với container trong hầm. 26
  28. (2) Chốt hình nón vát nằm ở các góc đáy container, chốt này có thể xoay được, sau khi lắp vào góc lắp ghép chỉ cần xoay chốt thì các container dính chặt vào nhau. (3) Chốt khóa cố định 5.6. Những chú ý khi xếp và vận chuyển container: - Thực tế hàng xếp trong các container có trọng lượng khác nhau thậm chí có một số container rỗng. Phải nắm chắc trọng lượng của từng container, lập sơ đồ chất xếp để đảm bảo độ ổn định của tầu. - Đồng thời với việc lập kế hoạch chất xếp, phân bổ trọng lượng cần xem xét việc sử dụng một cách hợp lý các kết dầm balast sao cho hành trình của tầu cũng như quy trình xếp dỡ đạt hiệu quả kinh tế cao. - Thực tiễn khai thác, đảm bảo quay vòng tầu nhanh, nâng cao hiệu quả kinh tế. Sơ đồ chất xếp container thường được chuẩn bị bởi các cơ quan nghiệp vụ trên bờ, tuy vậy những hoạt động đó không làm giảm trách nhiệm của thuyền trưởng. Các cán bộ trên tầu phải đặc biệt chú ý đến tình trạng container được chuyển đến tầu, theo dõi vị trí chất xếp những hư hỏng, ký mã hiệu đặc biệt với hàng nguy hiểm. Tầu phải chịu trách nhiệm về an toàn của container trên boong mặc dù công nhân trên bờ chằng buộc. Cán bộ tầu phải có quan hệ chặt chẽ với các cơ quan trên bờ để nhận và xử lý thông tin phục vụ cho chất xếp hàng. 5.7.Bài tập thực hành (thời gian 5 giờ): Hướng dẫn cho người học xếp và cố định container trên tầu; thông gió hầm hàng, và chèn lót hàng hóa trên các tầu huấn luyện (hoặc liên hệ với các đơn vị sản xuất để thực hành). 5.8.Nhận xét, đánh giá: Nội dung, hình thức và thời gian thực hiện của người học. Bài 6: VẬN CHUYỂN HÀNG RỜI 27
  29. 6.1.Định nghĩa: Hàng rời là hàng không chứa trong bao bì khi vận chuyển. 6.2.Đặc điểm của chuyên chở hàng rời: 6.2.1. Có thể xảy ra nguy cơ: - Ứng suất kết cấu lớn do việc phân bố trọng lượng không đều. - Không đủ thế vững ban đầu lúc xếp hàng sẽ bị giảm thế vững khi hành trình. - Khả năng tự phát nhiệt, có thể có khí độc, gây nổ hoặc phản ứng ăn mòn. 6.2.2. Bị dịch chuyển: - Hàng rời có thể bị dịch chuyển, lan chảy, điều này phụ thuộc vào các phần tử hàng rời. Mỗi loại hàng đều có một góc nghỉ riêng biệt. - Góc nghỉ là góc nghiêng tạo nên bởi mặt phẳng với bề mặt hình nón của hàng rời. Góc nghỉ càng nhỏ thì ảnh hưởng mặt thoáng tự do của hàng hóa càng lớn. 6.2.3. Tỷ trọng của hàng rời: Các loại hàng rời được đề cập là loại hàng rời có tỷ trọng lớn, điều này cần chú ý việc phân bố trọng lượng khi chất xếp hàng có tỷ trọng lớn trên tầu tránh gây ra ứng suất kết cấu lớn. 6.2.4. Đánh tẩy hàng rời: Nói chung hàng rời sau khi xếp xuống tầu đều phải đánh tẩy. - Khi góc nghỉ lớn hơn 35 0: Với hàng có tỷ trọng lớn phải xếp vào hầm đáy và chú ý độ cứng. San đều khắp đáy. - Khi góc nghỉ nhỏ hơn 35 0 : Loại này phải san phẳng một cách thích đáng. Xếp càng đầy không gian của hầm càng tốt. Nếu xếp boong giữa phải đánh tẩy thật kỹ và bằng phẳng. 6.2.5. Yêu cầu khi chuyên chở hàng hạt rời: a. Tính chất chung: - Tính lan chảy: Dễ bị chảy lan và chỉ dừng lại ở góc nghỉ nào đó. Khi tầu lắc hàng dịch chuyển ảnh hưởng đến ổn định của tầu. - Tính lún: Giữa các hạt có khe hở nên trong hành trình do bị chấn động hàng bị lún làm cho thể tích hàng co lại tạo thành mặt thoáng tự do của ngũ cốc trong hầm khiến hạt ngũ cốc di động khi tầu lắc không có lợi cho độ ổn định của tầu. - Tính hấp thụ mùi: Dễ bắt các mùi lạ làm ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa. 28
  30. - Tính khuếch tán thủy phân: (Lượng hao hụt tự nhiên từ 1-3%) tự nóng, trong khi vận chuyển nếu không thông gió tốt sẽ khuếch tán hơi nước, tỏa nhiệt, hành trình dài dễ bị ẩm mốc. b. Yêu cầu vận chuyển: - Khi rót, xếp xuống hầm cần kiểm tra nghiêm ngặt hàm lượng nước trong hàng, có bị nhiễm côn trùng độc hại hay không, chỉ trong điều kiện giới hạn mới cho xuống hầm. - Hầm phải khô ráo, sạch sẽ, không có mùi lạ. hố và rãnh lacanh phải quét dọn sạch, đậy kín, các đường ống không bị rò rỉ. - Đệm lót những chỗ tiếp xúc giữa hàng với vỏ tầu (phía trong). - Dưới đáy hầm phải lót 2 lớp gỗ đệm dọc ngang, khe hở giữa các miếng gỗ không vượt quá 10cm. - Thông gió: Ngũ cốc, hạt là loại hàng dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt và ẩm, chúng hút ẩm vì vậy phải thông gió có hiệu quả, hàng phải được thông gió xuyên suốt. - Đề phòng lan chảy khi lắc, tầu bi nghiêng ảnh hưởng đến an toàn của tầu. Cần phải lắp miệng quầy phụ và các tấm ngăn cách dịch chuyển đề phòng hàng hóa xê dịch. Có thể chống lún, dịch chuyển bằng 5 – 10% số hàng bao ở trên bề mặt. - Không xếp chung với loại hàng có độc, các chất hóa học, thủy tinh, hàng dễ cháy. 6.3. Chuyên chở một số loại hàng rời: 6.3.1. Quặng đặc: 6.3.1.1 Kỹ thuật chuyên chở quặng đặc: Quặng đặc là quặng bị ngấm nước từng phần hay sền sệt như vữa. Chúng có một hàm lượng nước nhất định. Chở hàng này có nguy hiểm là hàm lượng nước trong hàng cao hơn giới hạn độ ẩm ướt vận chuyển, vì có nước khi tầu chạy rung biến thành dạng vữa nhão bị xê dịch khi tầu bị lắc và không trở về trạng thái ban đầu. Các tầu bách hóa thiết kế chở quặng phải có giấy chứng nhận của đăng kiểm. Tầu chở hàng rời chuyên dụng có cấu trúc đặc biệt thì không bị giới hạn về hàm lượng nước trong quặng. Nó có cấu trúc và thế vững thích ứng với loại hàng mà nó chuyên chở. Quặng là loại hàng nặng, khi chất xếp xuống tầu phải đảm bảo kỹ thuật vì trọng tâm của tầu quá thấp, chiều cao tâm ổn định quá nhỏ, tầu sẽ lắc nhiều gây ảnh hưởng không tốt đến kết cấu của vỏ tầu và an toàn khi chạy tầu. 29
  31. Phải san hàng đảm bảo lực dàn đều các khoang, nếu không sẽ làm cho tầu mất cân bằng về trọng lượng và lực nổi gây hiện tượng thân tầu bị uốn cong hoặc gãy khi gặp sóng lớn. Mặt khác vì quặng có tỷ trọng lớn nên quán tính chuyển động cũng lớn, quán tính này làm cho tầu khi lắc dọc càng nguy hiểm, mũi lái ngập sâu trong nước, sức cản của nước đối với tầu tăng không có lợi cho việc lợi dụng tốc độ khi chạy, hoặc đuôi tầu nâng lên sẽ làm cho sức cản của tầu tăng và hiệu suất của chân vịt giảm đi rất nhiều. Sử dụng tầu chuyên dụng để vận chuyển quặng sẽ giảm được tính lắc và ổn định của tầu tốt hơn, có kết cấu vững chắc, tỷ khối nhỏ, đáy trong tương đối cao. Nếu không có tầu chuyên dụng phải dùng tàu một tầng boong để vận chuyển thì phải gia cố thêm đáy tầu bằng gỗ tốt cách đáy ngoài 60 - 90cm. Khi đổ quặng xuống tầu theo hình chóp nón với mục đích nâng trọng tâm của tầu lên. Nếu có tầu hai tầng boong thì nên xếp 1/5 – 1/4 lượng quặng lên boong trên. Việc san hầm tầu phải đúng kỹ thuật, vì nó có tác dụng rất lớn trong việc tăng độ ổn định của tầu, giảm tính lắc, tăng hiệu suất chân vịt. Khi san hàng cố gắng dồn hàng về hai vách, hai sườn tầu để tăng thêm quán tính di chuyển ngang, giảm độ lắc ngang, bảo vệ cường độ tầu. Khi xếp quặng phải căn cứ vào tỷ lệ khối lượng hàng chứa trong từng hầm để xếp một cách đều đặn ở các hầm tầu, tuyệt đối không nên tập trung xếp một hầm. Nếu thiếu thiết bị xếp dỡ thì phải tiến hành xếp dỡ luân chuyển đồng đều ở các hầm. Đặc biệt chú ý độ cao đống quặng không được vượt quá áp lực cho phép trên 1m2 để tầu chịu áp lực đều. Khi xếp quặng xuống hầm tầu chú ý xếp sát vào vách sau, hầm lái thì xếp vào vách trước. Bởi lẽ ở khoang mũi và lái chịu sự giao động đột ngột nhiều luôn luôn có nguy cơ dồn hàng về phía mũi và lái. 6.3.1.2. Một số điều chú ý khi chuyên chở quặng: - Khi xếp quặng, tầu phải có lót, tránh hiện tượng ăn món vỏ tầu. - Đối với quặng phát nhiệt phải luôn kiểm tra, nếu phát hiện nguồn nhiệt phải đảo quặng. - Các loại quặng phải vận chuyển riêng, đặc biệt là quặng quý. - Khi rót quặng không rót quá cao vì tỷ trọng của quặng rất lớn gây hư hỏng phương tiện và bay bụi. - Bãi phải cao ráo, gia cố vững chắc, phải phân riêng từng khu vực để tránh lẫn lộn các loại quặng, đặc biệt là quặng sắt, vàng khi đã chọn lọc. - Độ cao xếp đống tùy ý phụ thuộc vào kết cấu nền bãi và thiết bị xếp dỡ. 6.3.2. Than đá: 6.3.2.1. Đặc tính: - Tính dễ cháy, dễ nổ: Các nguyên tố S, H, P có trong than ở điều kiện nhất định tạo thành khí than, khi gặp lửa sẽ cháy, nổ. 30
  32. - Tính độc hại: Do quá trình ôxy hóa thiếu ôxy tạo thành CO. - Tự cháy: Khi nhiệt độ trong hầm tăng lên 50 0C – 550C than có thể tự bốc cháy. - Hàm lượng nước trong than trên 5% sẽ bị đông kết trong mùa đông, có thể bị dịch chuyển khi tầu lắc. - Ăn mòn vỏ tầu, đặc biệt loại than có hàm lượng lưu huỳnh lớn và bị ướt thì khả năng ăn mòn kim loại mạnh. 6.3.2.2. Bảo quản khi vận chuyển xếp dỡ: - Than thường vận chuyển rời và than có thể tự cháy, ôxy hóa chậm ở nhiệt độ cao, do đó phương tiện vận chuyển than phải khô, sạch, có thiết bị che đậy và thông gió. Khi tầu chạy trên đường hoặc đậu ở bến nếu nhiệt độ tầu chở than đến 400C thì phải tưới nước tuần hoàn để giảm nhiệt. - Phương tiện chở than phải có thiết bị phòng chống độc, phòng và chữa cháy. - Khi xếp dỡ than lưu ý: Bốc xếp than cục và than bánh tránh làm vỡ nát và có thiết bị phòng độc, che đậy than. Bốc rót than cám tránh lúc gió to, bay bụi bẩn tới hàng hóa và thiết bị xung quanh. - Than để ở bãi, không được để đống cao quá, không cho nước chảy hoặc đường dây điện ngầm qua đống than. - Ngăn chặn tự nóng, tự cháy, cần lưu ý giữ cho trong hầm càng lạnh càng tốt - Không thông gió xuyên suốt vào trong hàng hóa, chỉ được thông gió bề mặt. Điều kiện thuận lợi của thời tiết thì mở nắp hầm hàng thông gió. - Khi trời nắng nóng cần phun nước mặt boong giảm nhiệt. - Trước khi xếp hàng dọn sạch sẽ lacanh, rãnh trong hầm. Xếp xong hàng phải đánh tẩy thật kỹ. - Thường xuyên kiểm tra nhiệt độ trong hầm. 6.3.3. Lương thực: Khối lượng lương thực nói riêng và ngũ cốc nói chung chiếm tỷ lệ lớn trong vận tải, nhất là vận tải đường thủy. Hàng lương thực có nhiều loại: Thóc, gạo, bột mì, ngô, đậu, lạc, vừng chiếm một tỷ lệ cao. 6.3.3.1. Tính chất: - Tính tự phân loại: Khi đổ thóc từ trên cao xuống, hạt chắc rơi nhanh xuống trước ở giữa đống, còn hạt xấu, lép nhẹ rơi và lăn ra xung quanh, do đó đống thóc có những vùng phân bổ mà chất lượng khác nhau. - Tính tản rời của lương thực: Do hình dáng, độ to nhỏ, mức độ nhẵn bóng, lượng nước, tạp chất quyết định. Tính tản rời được thể hiện qua góc nghiêng tự 31
  33. nhiên (góc nghỉ). Ví dụ: Thóc 37 o – 45o, lúa mì 23o5, ngô 26o5. Góc nghiêng tự nhiên còn phụ thuộc vào độ lắc của tầu khi hành trình. Độ lắc càng lớn, góc nghiêng càng giảm, khả năng dồn chặt của lương thực càng cao và thu nhỏ thể tích đống hàng. Khi xếp hàng xuống tầu cần chú ý đến độ rỗng đống hàng. Độ rỗng lớn thì không khí lưu thông dễ dàng khí nóng dễ thoát ra ngoài, nếu độ rỗng nhỏ thì nhiệt bị tích tụ làm cho vùng đó nóng lên và thối mục v.v do đó khi đổ lương thực vào hầm tầu tránh đè nén và dẫm chân lên hàng. - Tính dẫn nhiệt: Lương thực dẫn nhiệt chậm. Tính dẫn nhiệt chậm có ưu điểm tránh được sự tác động của nhiệt độ ở môi trường bên ngoài vào trong đống nhưng có nhược điểm là hơi nước và nhiệt nóng khó thoát ra ngoài làm cho lương thực chóng hư hỏng. Tầu chở lương thực phải có dụng cụ đo nhiệt độ thường xuyên để có biện pháp xử lý kịp thời. Lương thực hút mùi vị các chất khác, hút hơi nước dẫn đến bị nhiễm mùi và hiện tượng hô hấp tăng lên Nguyên nhân hút ẩm là do nhiệt độ, độ ẩm của lương thực không cân bằng với độ ẩm của không khí. Độ ẩm của lương thực tăng lên làm cho lương thực bị thối mục đặc biệt ở nhiệt độ 50–55 oC. Ví dụ: Lương thực ẩm tới 33% thì trong 24 giờ khối lượng lương thực giảm 0.1– 0.2%. Thóc, gạo có độ thủy phần 15% hô hấp mạnh gấp 4-8 lần khi độ thủy phần 13%. 6.3.3.2. Yêu cầu bảo quản và chuyên chở lương thực rời: - Điều kiện vận chuyển: Lương thực phải khô, sạch. Nếu lương thực có độ ẩm vượt quá độ ẩm cho phép, có nhiều sâu bọ, tạp chất đang trong giai đoạn bốc nóng, hạt giống có nhiều cỏ dại, chưa khử khí sau khi tiến hành khử độc thì không nhận vận chuyển và yêu cầu chủ hàng giải quyết cho phù hợp với yêu cầu chất lượng. Trường hợp chủ hàng yêu cầu vận chuyển khẩn cấp thì phải ký kết hợp đồng rõ ràng, xác định mức độ chất lượng của lương thực. - Yêu cầu về phương tiện và kho bãi: Hầm tầu, kho, bãi và các công cụ xếp dỡ, vật liệu đệm lót, che đậy phải sạch sẽ, khô ráo, không có mùi hôi. Xung quanh kho đảm bảo sạch sẽ, vô trùng, thường xuyên quét dọn, diệt chuột. - Biện pháp an toàn khi vận chuyển: Một đặc điểm khác hẳn so với hàng lỏng là khi tầu nghiêng, mặt thoáng của hàng hạt không song song với mặt nước bên ngoài và rất khó trở về vị tri cũ. Tầu chạy với góc nghiêng tăng dần do hàng bị dồn xuống. Để ngăn ngừa ảnh hưởng xấu do hàng hóa gây ra, khi xếp hàng rời phải xếp đầy các hầm chính và hầm dự trữ. Nếu tầu chỉ có hầm chính mà không có hầm phụ thì nhất thiết phải thêm vách dọc. Độ cao của vách dọc bằng 1/3 chiều cao hầm. làm như vậy số lượng hàng dạt sang một bên giảm 4 lần so với khi không đặt vách dọc, tấm chắn. 32
  34. Ngoài ra trong công ước quốc tế quy định: Khi chở hàng rời, mỗi khoang chứa hạt phải đổ đầy tới miệng để tránh ảnh hưởng mặt thoáng khi hàng bị nén do tầu chòng chành. Trường hợp khi thể tích hàng hạt chứa không quá 1/3 thể tích khoang có đường trục chạy qua thì không cần đặt vách dọc hoặc tấm chắn. Trường hợp khi hàng đổ không đầy thì phải phủ lớp ván hoặc bạt và xếp hàng đóng bao cùng loại lên trên để đảm bảo không cho hàng rời dịch chuyển. - Yêu cầu bảo quản: Những người làm công tác bảo quản lương thực phải nắm được nhũng đặc tính cơ bản của lương thực và hiểu biết những yêu cầu bảo quản: Phải thường xuyên kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm, mùi vị, màu sắc, sâu bọ hoặc côn trùng. Thông gió kịp thời, đúng lúc để giảm nhiệt độ và độ ẩm lương thực, không để hiện tượng tỏa nhiệt của ngũ cốc duy trì trong thời gian dài, phải kịp thời xử lý khi sự cố xảy ra. Nếu lương thực đảm bảo độ khô sạch thì bảo quản tốt nhất là bịt kín đống lương thực không cần phải thông gió và đảo. Lúc cần thiết bơm khí CO2 với một lượng cần thiết để bảo quản. 6.3.3.3. Những điều cần chú ý khi vận chuyển hàng lương thực: - Khả năng lật tầu: Đây là một tai nạn nguy hiểm nhất trong các tai nạn khác có thể sinh ra khi vận chuyển lương thực rời. Có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do tính tản rời của lương thực gây ra. Trong quá trình chạy trên sông, biển tầu luôn bị lắc, lương thực dịch chuyển về một phía làm cho tầu bị nghiêng, mất ổn định. - Hiện tượng toả nhiệt, đổ mồ hôi và lên mốc: Nguyên nhân: Nhiệt độ, độ ẩm môi trường bên ngoài; độ thủy phần của lương thực và quá trình phát triển của vi sinh vật dẫn đến phân giải các chất béo, protit sinh ra nhiệt, CO2 và H2O làm cho hạt lương thực bị đổi màu, lên men, lên mốc. Nếu đi sâu nghiên cứu chúng ta thấy quá trình tỏa nhiệt dẫn tới mốc có 3 giai đoạn: + Giai đoạn 1: Nhiệt độ lương thực ở trong khoảng 280C. Giai đoạn này nhiệt độ tăng lên chậm, lương thực mới có hiện tượng hơi khác bên ngoài, nhưng chưa biểu hiện rõ nét. + Giai đoạn 2: Nhiệt độ lương thực trên 28 0C. Giai đoạn này nhiệt độ tăng nhanh, mỗi ngày tăng 0.5 đến 1 0C. Mặt ngoài hạt lương thực có hiện tượng đổ mồ hôi rõ rệt. Tính tản rời giảm dần, sinh vật hoạt động rất mạnh, màu sắc lương thực thay đổi và ẩm ướt. + Giai đoạn 3: Nhiệt độ lương thực trên 36 0C. Nhiệt độ trong lòng đống tăng lên nhanh với tốc độ mỗi ngày 2 – 30C và trong thời gian ngắn, nhiệt độ tăng lên 33
  35. trên 500C, sau đó nhiệt độ lại giảm dần do sinh vật hoạt động yếu đi, lương thực bắt đầu mốc nhanh, mùi mốc tỏa ra mạnh, màu sắc biến nhanh làm cho lương thực mất giá trị sử dụng. Cần chú ý khi kiểm tra nồng độ CO2 ngày càng tăng dễ gây ngộ độc chết người. - Sâu mọt và nhiễm bẩn: Sâu mọt phá hoại lương thực có đến 60 loại khác nhau: Vi khuẩn, men, mốc, vi sinh vật kỵ khí và vi sinh vật hiếu khí tùy tiện. Các loại này làm cho lương thực hư hỏng, lên men mốc, đẩy nhanh quá trình hư hỏng của khối hạt. Nhiễm bẩn là do điều kiện xung quanh và do con người. Khi xếp dỡ trong kho, trong hầm tầu hoặc do các loài khác gây nên. Lương thực bị dây bẩn không những ảnh hưởng đến giá trị sử dụng mà còn có thể gây độc. 6.3.4. Muối: 6.3.4.1. Thành phần và tính chất của muối: Muối chủ yếu là hợp chất hóa học giữa Natri và Clo – Natriclorua. Ngoài ra còn có các thành phần khác: Nước, tạp chất vô cơ không tan và có tan, chúng đều có tính chất chung như: - Tính hút ẩm: Muối tinh khiết rất ít hút ẩm, do thành phần tạp chất như Clorua, Magie, Clo hoặc Cloruacanxi thì có thể hút ẩm mạnh đến 12% trọng lượng bản thân. Hàm lượng nước trong muối quy định 3 - 7%, tốt nhất là 0.5%. - Tính hòa tan: Muối hòa tan trong nước và không hòa tan trong các chất hữu cơ có CH. Độ tan của muối phụ thuộc nhiệt độ: Ở nhiệt độ 0 0C độ hòa tan là 26.3%, ở nhiệt độ 500C độ hòa tan là 26.9%. - Tính đông kết: Khi độ ẩm lớn muối hòa tan; khi độ ẩm không khí thấp, có gió, nước bốc hơi làm tinh thể muối đông kết lại thành từng tảng vững chắc. Nguyên nhân làm muối đông kết: Nhiệt độ, độ ẩm không khí, kích thước của hạt muối, tạp chất trong muối, nhiệt độ, độ ẩm của muối, thời hạn bảo quản, độ cao chất xếp. - Hút mùi vị khác, dễ gây bẩn, gây ngứa. - Ăn mòn kim loại: Do thành phần có Natriclorua là hợp chất dễ ăn mòn kim loại làm cho kim loại bị gỉ nhanh chóng và trầm trọng. Mức độ ăn mòn của muối quyết định bởi số lượng ion Clo trong muối. Ngoài ra muối còn có tác dụng hóa học với các muối khác. - Tính chất khác: Những người làm công tác vận chuyển cần chú ý khối lượng riêng của muối tương đối lớn, dao động trong khoảng từ 1 – 2,3 T/m 3, nó phụ thuộc độ ẩm. Góc nghiêng tự nhiên của muối khi chuyển động 32 – 450. 6.3.4.2. Phân loại và các chỉ tiêu chất lượng: 34
  36. a. Phân loại muối: - Nếu căn cứ vào độ to nhỏ người ta chia: Muối hạt, muối bột, v.v - Căn cứ vào phạm vi sử dụng người ta chia: Muối ăn, muối công nghiệp. - Căn cứ vào hình thức vận chuyển người ta chia: Muối đóng bao, muối rời. - Theo phương pháp khai thác có thể chia: Muối giếng, muối hồ, muối biển, muối mỏ. - Ngoài ra người ta còn chia muối theo loại, hạng tùy theo hàm lượng tối thiểu về Natriclorua, nước (tối đa), các tạp chất. b. Các chỉ tiêu chất lượng: Gồm chỉ tiêu cảm quan và chỉ tiêu hóa học: Các chỉ tiêu cảm quan: - Màu sắc: Muối tố, trắng, tinh thể đều đặn, không dính, nhẵn bóng, tinh thể nhỏ, rời tơi, không vón cục. - Vị mặn: Nồng độ muối 5% có vị mặn thuần khiết, nếu có vị chát đắng hoặc vị lạ là muối kém phẩm chất. - Tạp chất: Dưới 0,1%. Các chỉ tiêu hóa học: - Hàm lượng Natriclorua ở ta quy định 90 – 95%. - Hàm lượng nước quy định ở ta 3 -7%, tốt nhất là 0,5%. - Hàm lượng tạp chất tan như Magieclorua, Kaliclorua phải ít. 6.3.4.3. Vận chuyển, bảo quản và xếp dỡ muối: Vận chuyển muối rời nên có tầu chuyên dùng, nếu dùng tầu thông thường để chở muối thì phải tiến hành công tác vệ sinh hầm tầu trước và sau khi xếp hàng. Khi chở các loại hàng hóa khác chuyển sang chở muối cần phải quét dọn, rửa, phơi khô hoặc thông gió đảm bảo hầm tầu khô ráo, sạch sẽ, không có mùi vị khác, không có tạp chất. Tầu chở muối rời phải kín và chống được rỉ nước, kết cấu đóng tầu phải vững chắc, có thiết bị chống dây bẩn của tầu. Phải có vật liệu đệm lót để cách ly giữa muối với thành, vách tầu chống hiện tượng ăn mòn vỏ tầu. Sau khi xếp muối xong người gửi hàng phải dọn sạch mặt boong, nếu mặt boong bằng kim loại thì phải dùng nước để rửa sạch. Sau khi dỡ muối xong nhất thiết phải rửa sạch hầm tầu, còn các thiết bị trên tầu phải rửa bằng nước nóng. Khi vận chuyển muối ăn phải tuyệt đối tuân theo các quy chế vệ sinh, tiến hành xếp dỡ trong điều kiện sạch sẽ, không đồng thời xếp dỡ với các loại hàng có tính chất bay bụi, dây bẩn như than, quặng, cát, hóa chất công cụ xếp dỡ và vận chuyển phải sạch sẽ, nếu cần phải có vật liệu đệm lót. Công nhân làm công tác xếp dỡ phải có đầy đủ trang thiết bị phòng hộ lao động. Về mùa đông vận 35
  37. chuyển muối rời phải chú ý chống đông kết, nhất là loại muối có độ ẩm lớn phải dùng vải bạt, chiếu cói che kín để chống ẩm ướt. Tốt nhất là khi vận chuyển phải kiểm tra độ ẩm của muối. Muối thường được bảo quản ở các kho đơn giản và ở bãi. Muối ăn bảo quản trong kho, muối kỹ thuật có thể bảo quản ở ngoài bãi. Bãi bảo quản muối phải cao hơn nền đất xung quanh chừng 0,15m, xung quanh có rãnh thoát nước. Muối thường để thành đống hình chop cụt, trên có phủ chiếu cói, vải bạt. Kho, bãi phải sạch sẽ. Đống muối càng to càng tốt vì quá trình hút ẩm càng chậm. Để duy trì độ ẩm của muối, người ta đã phủ một lớp vải bạt ướt trên bề mặt đống muối. Trong quá trình bảo quản phải chú ý cách ly với các loại hàng như: Kim loại, sản phẩm kim loại, vật liệu xây dựng như ximăng, thuốc lá, cá, lông súc vật, hàng thể lỏng, hàng tỏa mùi vị đặc biệt hay có tính hút ẩm. Các loại muối khác nhau phải bảo quản riêng biệt. Khoảng cách giữa đống muối và tường kho từ 50 – 60cm, đáy nền kho cũng phải có vật liệu đệm lót cách ly, nên để cao 15 -20cm, chiều cao đống muối không nên cao quá (thường từ 1,5 – 2m). 6.3.5. Phân hóa học: 6.3.5.1. Tính chất: Phân hóa học được vận chuyển bằng thể rời trong các tầu chuyên dùng và đóng bao 30 – 50kg bằng bao giấy hoặc bằng bao nilông tùy theo tính chất và giá trị của từng loại. Tương lai khối lượng vận chuyển thể rời ngày càng nhiều vì đây là phương án vận chuyển có nhiều ưu điểm. Dung trọng của phân hóa học trong khoảng 0,9 -1,2 T/m 3, gồm rất nhiều loại, tinh thể, màu sắc khác nhau: Phân đạm, phân lân, phân kali Phân đạm có 6 loại: - Sunfat đạm (NH 4)2SO4 gọi là đạm “một lá” tinh thể màu xám lóng lánh, chứa 21% Nitơ. - Nitoratamon (NH4NO3) – tinh thể nhỏ màu trắng có khi hạt vàng 35% Nitơ. - Cloruaamon (NH4Cl) tinh thể màu trắng tựa sinfatamon nhưng xốp hơn và nhẹ hơn. Nitơ chiếm khoảng 24%. - Nitơratnatri (NaNO3) – tinh thể lớn không màu, 16,5% Nitơ đây là loại phân dùng cho đất chua rất tốt. - Canxi xyanua (CaCN2) dạng bột có màu xanh. Phân lân có 2 loại: - Sunpephotphat (phân bón lúa) gồm có 2 loại: Sunpephotphat đơn Ca(H2PO4), CaSO4.H2O và sunpephotphat canxi 3Ca(H2PO4)2. - Phân lân nung chảy dạng hạt nhỏ, màu xám, hơi vàng tựa thủy tinh. Phân kali có 2 loại: Sunfatkali màu vàng và Nitorat kali gồm có hai nguyên tố: Kali và Nitơ, nên là loại phân quý, kết tinh màu trắng. Phân hóa học có tính chất chung là tan nhiều trong nước, hút ẩm mạnh. Nitơratamon hút ẩm làm tăng thể tích gấp đôi thể tích ban đầu. Cho nên phải bảo quản nơi khô ráo, tốt nhất là bảo quản trong kho kín. 36
  38. Tuy nhiên mỗi loại có tính chất riêng biệt. Clorua amon và sunfat amon tác dụng với kiềm làm mất đạm. (NH4)2SO4 + Ca(OH)2 NH3 + CaSO4 + H2O Nitơrat antri lại không tác dụng với kiềm. Canxi xyanua tác dụng với H 2O và CO2 làm mất đạm. Sunpephotphat gặp nước P 2O5 trôi đi còn bã sunphat canxi. Nitơrat kali ở nhiệt độ cao dễ phân giải và dễ cháy. Nitơrat amon dễ cháy nếu hàm lượng nước dưới 3%, có tính độc. Ngoài ra tất cả các loại phân hóa học đều là dạng muối dễ ăn mòn kim loại. 6.3.5.2. Yêu cầu bảo quản, vận chuyển và xếp dỡ: Do tính chất nêu trên, khi vận chuyển phân bón chủ yếu là chống hiện tượng hút ẩm, hòa tan của phân hóa học, hiện tượng chảy, nổ và ngộ độc. Phân hóa học đóng bao khi xếp dỡ không vứt, ném, phải xếp xa các loại hàng khác. Phải có đệm lót cẩn thận cách ly sàn kho, cách ly mạn tầu, đáy tầu. Khi xếp dỡ phân dạng rời có thể dùng thiết bị chu kỳ ngắn gầu ngoạm hoặc thiết bị liên tục.Đối với phân đóng bao dùng thiết bị chu kỳ kết hợp với xe nâng vạn năng để chuyển và xếp hàng vào kho bãi. Công nhân xếp dỡ phải được trang bị dụng cụ phòng hộ lao động. Độ cao chất xếp phải phù hợp, đặc biệt với bao mềm không nên cao quá 2m. Hình thức giao nhận đối với loại phân rời có thể giao nhận nguyên hầm, nguyên tầu, theo mực nước hoặc hình thức đếm bao. 6.3.6. Xi măng: 6.3.6.1. Phân loại: - Xi măng Pooclăng (silicat) gồm các loại đông kết nhanh (200, 250, 300, 400, 500, 600), loại kỵ nước (300, 400, 500, 600) loại hóa rắn nhanh (300) sau 3 ngày, xi măng trát (không phân loại). Thành phần ximăng silicat gồm có: CaO: 62% Fe2O3: 2,5% SiO2: 22% MgO: 2,5% Al2O3: 7,5% SO3: 1,5% - Xi măng ôxyt nhôm thành phần chủ yếu: 40% CaO, 10% SiO2 và 50% Al2O3. Xi măng ôxyt nhôm hóa rắn nhanh hơn xi măng silicat. Nó chống được tác dụng của nước biển nhiều hơn. Loại này đắt tiền nên chỉ dùng trong trường hợp đặc biệt. Có 2 loại xi măng ôxyt nhôm (300, 400, 500, 600), xi măng thạch cao (300, 400, 500, 600). - Xi măng chịu axit là hỗn hợp các thạch anh tán mịn với có chất silicat điôxit “hoạt động”. Loại này chịu các loại axit trừ HCl. - Xi măng màu trắng giống xi măng Pooclăng nhưng kém hơn về cường độ nên chỉ dùng để trát tường. 6.3.6.2. Tính chất: - Tính bay bụi: Vì khô và hạt nhỏ mịn, nếu vận chuyển rời thì lượng hao hụt do bay bụi có thể lên tới 20%. Bụi xi măng có hại đối với con người như gây viêm nhiễm và hư hỏng các loại hàng khác. 37
  39. - Tác dụng với không khí: Xi măng bảo quản quá 3 tháng thì cường độ chịu lực giảm 20%, quá 6 tháng giảm 30% và quá 12 tháng giảm 60%. - Tính kỵ nước: Xi măng khi gặp nước tạo thành chất keo, quá trình thủy phân diễn ra sinh nhiệt và đóng cứng. Thời gian sơ ninh trong vòng 24 giờ, sau đó là thời gian ninh kết rắn chắc. Phản ứng thủy phân hóa kéo dài trong khoảng 28 ngày. - Tác dụng với các chất khác: Chỉ cần 0,001% đường sẽ làm cho xi măng tăng độ dẻo khó đông kết, gặp NH3 xi măng đông kết nhanh. 6.3.6.3. Bảo quản, vận chuyển xi măng: Xi măng được vận chuyển dưới 2 hình thức rời và đóng bao. Xu hướng khối lượng vận chuyển rời ngày càng tăng vì nó có ưu điểm năng suất xếp dỡ cao, giảm chi phí bao gói, nhân lực đóng gói. Nhược điểm: Giá đóng tầu cao hơn tầu bách hóa khoảng 28%. Tỷ khối xi măng 1,05 – 1,2 m 3/T. Xi măng đóng bao hoặc thùng có khối lượng từ 50 – 150kg. Hiện nay người ta còn dùng container chuyên dùng (bao mềm) và container dây. Hình thức vận chuyển này mở ra một triển vọng mới. Khi vận chuyển xi măng, tuyệt đối không nhận loại xi măng chưa nguội (nhiệt độ xi măng lớn hơn 65 0C). Theo quy định chỉ nhận vận chuyển loại xi măng có nhiệt độ dưới 40 0C. Nếu nhiệt độ từ 41 – 65 0C thì yêu cầu bảo quản ở kho của chủ hàng để làm nguội hoàn toàn mới vận chuyển. Xi măng rời cũng như xi măng bao, trời mưa không được xếp dỡ, phương tiện vận chuyển phải khô sạch, có đệm lót cách ly mạn tầu, tầu phải có nắp đậy kín hoặc có vải bạt che mưa nắng. Trong kho phải xếp lên sàn gỗ cao hơn mặt đất 50cm, nếu nền gạch thì cao hơn 30cm, cách tường ít nhất 0,2m thường là 0,5m. Khi vận chuyển theo phương thức bao thì chủ hàng phải có bao dự trữ theo tỷ lệ sau đây: - Nếu qua một lần xếp dỡ thì số bao dự trữ bằng 3% số bao vận chuyển. - Nếu qua hai lần xếp dỡ thì số bao dự trữ bằng 5% số bao vận chuyển. - Nếu qua ba lần xếp dỡ thì số bao dự trữ bằng 8% số bao vận chuyển. Xi măng bao giấy không xếp cao quá 13 – 15 lớp để tránh bao dưới cùng bị vỡ. Xếp dỡ xi măng phải có thiết bị và công cụ phù hợp. Xi măng rời thường được thực hiện bằng thiết bị hút đẩy liên tục để chuyển lên kho xilô. Xi măng bao thường được thực hiện bằng các thiết bị xếp dỡ chu kỳ (cần trục + xe nâng), công cụ mang hàng tốt nhất là cao bản, tuyệt đối không dùng móc để móc trực tiếp vào bao. Công tác giao nhận xi măng có thể thực hiện theo phương thức nguyên hầm, nguyên tầu, hoặc đếm bao, mớn nước, nhưng tốt nhất là nhận theo phương thức nguyên hầm, nguyên tầu. 38
  40. Bài 7: VẬN CHUYỂN HÀNG NGUY HIỂM 7.1.Định nghĩa: Những loại hàng có các tính chất như: Cháy, nổ, ăn mòn, độc hại, phóng xạ trong quá trình vận chuyển có nguy cơ đe dọa đến tính mạng con người và tài sản được gọi là hàng nguy hiểm. 7.2.Phân loại hàng nguy hiểm: Mức độ nguy hiểm tùy theo tính nguy hại: - Nhóm 1: Hàng nổ - đạn dược, các loại có nguy cơ nổ hàng loạt. - Nhóm 2: Khí – khí nén, hóa lỏng, hòa tan bằng áp lực. Nhiều loại khí có thể nổ, cháy, độc hại, ăn mòn. - Nhóm 3: Chất lỏng dễ cháy, thoát hơi dễ cháy, đôi khi là hơi độc, một số chất có điểm cháy thấp. - Nhóm 4: + Chất rắn dễ cháy. + Chất cháy: Bao gồm chất lỏng và chất rắn dễ tự bốc cháy. +Chất ở thể rắn và thể đặc tiếp xúc với nước sẽ bốc khí, dễ cháy. - Nhóm 5: + Chất ôxy hóa: Tăng cường độ cháy khi có nhiệt. + Chất Peroxyde hữu cơ là tác nhân ôxy hóa dễ cháy đôi khi nổ mạnh. - Nhóm 6: Chất độc hại, gây tử vong nếu tiếp xúc với đường tiêu hóa. - Nhóm 7: Chất phóng xạ. - Nhóm 8: Chất ăn mòn. - Nhóm 9: Các chất nguy hiểm khác. 7.3.Yêu cầu khi vận chuyển và xếp dỡ hàng nguy hiểm: 7.3.1. Khi vận chuyển hàng nguy hiểm: Chủ hàng cũng như xí nghiệp vận tải phải cùng nhau giải quyết thủ tục theo đúng “Quy định vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường thủy” do Bộ giao thông vận tải ban hành. Ở cảng khởi hành khi nhận giấy vận chuyển trong vòng 10 ngày phải duyệt và trả lời cho chủ hàng biết. Đặc biệt với các chất dễ nổ, ôxy hóa cấp 1, khí nén, khí hóa lỏng, khí độc, chất ăn mòn, tính axit cấp 1 v.v (tất cả 9 loại trên), trước khi trả lời phải qua cảng vụ hoặc ban giám đốc kiểm tra, chứng nhận, nếu có qua cảng chuyển tải thì phải xin ý kiến của cảng chuyển tải, khi đồng ý nhận vận chuyển phải thông báo địa điểm và thời gian cho chủ hàng biết. Hàng nguy hiểm sau khi đã được đôi bên thỏa thuận hợp đồng vận chuyển phải được ưu tiên xếp và vận chuyển trước. 39
  41. Khi xếp xuống tầu phải căn cứ vào kế hoạch xếp hàng (kế hoạch này do bên vận tải lập dựa trên cơ sở, số liệu, tính năng kỹ thuật của tầu vận chuyển, kết cấu của tầu v.v ). Cảng phải báo chính xác thời gian chủ hàng đưa hàng đến cảng cho chủ hàng biết, tối thiểu là báo trước 24 giờ. Khi chủ hàng đưa hàng đến, bên vận tải cùng với công an hoặc kiểm tra của cảng vụ tiến hành kiểm tra và chứng nhận với nội dung: - Tên hàng kê trong đơn vận chuyển. - Nhãn hiệu bao bì. - Xác định khối lượng, kiểm tra chất lượng và quy cách của bao bì. - Đối với những hàng chưa có danh mục, phải tiến hành kiểm định kỹ thuật, xác định chất lượng hàng hóa. Chú ý nhân viên kiểm tra khi làm việc phải mặc đồng phục đầy đủ trang bị phòng độc. Kiểm tra xong, xếp hàng xuống tầu ngay, không nên chờ đợi tập trung quá nhiều trên cầu tầu. Những chất có tính nguy hiểm lớn không được để quá 8 giờ, các loại khác không để quá 24 giờ. Riêng ở những cảng gặp khó khăn có thể kéo dài thời gian nhưng không vượt quá 48 giờ. Sau khi đã xếp hàng xuống tầu xong, điện báo ngay cho cảng đến biết. Cảng đến phải thông báo ngay cho chủ hàng để chuẩn bị đến nhận hàng kịp thời. Khi tầu đến cảng phải báo ngay cho chủ hàng biết để kịp thời dỡ hàng. Khi xếp dỡ các loại hàng nguy hiểm (cấp 1) phải tiến hành ở cảng xa khu vực đông dân cư, khu công nghiệp, trường học, v.v Trường hợp khối lượng quá ít hoặc xếp dỡ những loại ít nguy hiểm có thể tiến hành xếp dỡ ở các cảng thông dụng nhưng phải xa cầu tầu lương thực, thực phẩm. Hàng rất độc không được sang mạn ở vũng tàu, đặc biệt ở cảng sông để đề phòng nguồn nước bị nhiễm độc. 7.3.2. Công tác xếp dỡ hàng nguy hiểm: Trước khi xếp dỡ phải làm tốt công tác chuẩn bị, kiểm tra công cụ xếp dỡ, phương tiện vận chuyển nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Công nhân xuống tầu làm việc phải có đủ trang bị phòng độc. Xếp dỡ phải tiến hành vào ban ngày. Mùa hè nóng bức khi xếp dỡ khí nén, khí hóa lỏng, ôxy hóa, dễ cháy nên tiến hành vào buổi sáng và chiều mát, nếu xếp dỡ ban đêm phải có đủ ánh sáng. Khi xếp dỡ phải mắc lưới an toàn giữa mạn tầu và cầu tầu, hay giữa mạn tầu với nhau, đối với hàng độc phải dùng lưới dày. Ở hiện trường xếp dỡ các hàng dễ nổ, độc phải có thiết bị phòng tiêu độc, có cán bộ y tế thường trực với các loại thuốc cấp cứu cần thiết. 40
  42. Phải quy định cụ thể phạm vi hiện trường xếp dỡ hàng dễ nổ, độc, nếu cần thiết phải bố trí cảnh giới. Những người ở trong phạm vi quy định không được gây ra hiện tượng phát sinh tia lửa. Phải kiểm tra hiện trường trước và sau khi xếp dỡ. Các thiết bị xếp dỡ và các loại xe vận chuyển trong cảng cần phải đảm bảo tốc độ thao tác, tốc độ chạy, không chạy nhanh, vượt ẩu. Xếp dỡ loại hàng dễ nổ, độc không được phép cẩu quá 50% sức cẩu của thiết bị. Khi vận chuyển hàng dễ nổ, cháy cấp 1, ôxy hóa cấp 1 không dùng xe bánh xích, bánh bọc sắt, còn các xe có bình ắcqui thì phải đậy kín. Công nhân làm việc trên hiện trường tuyệt đối không dẫm hay vứt ném lên kiện hàng. Khi xếp lên công cụ mang hàng hay phương tiện phải xếp ngay ngắn, vững chắc, ổn định, an toàn. Tuyệt đối không được tiến hành xếp dỡ cùng lúc với loại hàng khác. Các loại hàng kỵ nhau cũng không được xếp cùng lúc. Phần lớn các loại hàng nguy hiểm trước khi dỡ hàng phải xác định mức độ nguy hiểm của không khí trong hầm tầu và tiến hành thông gió để thải khí độc. Khi xác định chính xác trong hầm tầu đã an toàn mới mở nắp hầm và xuống xếp dỡ. Hầm hàng phải khô ráo, sạch sẽ, có điều kiện thông gió tốt. Yêu cầu trên tầu phải có đủ vật liệu thiết bị cứu hỏa như CO 2, cát, H2O có dụng cụ phòng hộ. Phải tuân thủ nguyên tắc và điều kiện quy định cụ thể các loại hàng được xếp chung hoặc không được xếp chung với nhau giữa hàng nguy hiểm và hàng thông thường. Đang xếp dỡ gặp trời mưa phải ngừng, trừ những cảng có thiết bị che mưa và chống trơn trợt tốt thì có thể tiếp tục công tác xếp dỡ. 7.4.Vận chuyển một số loại hàng nguy hiểm: 7.4.1. Vận chuyển chất nổ: - Phải có thiết bị chống sét, chất nổ để xa buồng máy, ống khói. - Trong quá trình xếp dỡ, vận chuyển phải treo cờ chữ B. Đêm đèn đỏ, neo đậu giữ khoảng cách an toàn với tầu khác. - Kiểm tra che chắn toàn bộ dây điện trong hầm. - Có thiết bị thông gió hầm hàng tốt, có hai lớp lưới đồng bảo vệ. - Đầy đủ trang bị chữa cháy. - Đệm gỗ ở những vị trí xếp hàng bằng sắt thép. - Thuốc nổ và ngòi nổ không xếp chung. - Không xếp các chất dễ cháy ở hầm lân cận. - Không lấy dầu, nước thông ống khói khi xếp dỡ. 41
  43. - Tăng cường giám sát khi xếp dỡ cũng như hành trình. Nhiệt độ trong hầm tới 40oC phải có biện pháp hạ nhiệt. 7.4.2. Vận chuyển khí nén, khí hóa lỏng: - Hầm hàng phải thông gió tốt, đủ thiết bị chữa cháy. - Số lượng ít có thể xếp lên boong, cần có đệm lót và chằng buộc. - Khí dễ cháy xếp xa buồng máy, ống khói. - Các bình khí nén nên để nằm và không xếp chồng quá cao cũng như phải chèn lót cẩn thận. Bình rò rỉ phải kịp thời xử lý. 7.4.3. Vận chuyển chất tự cháy: - Hầm hàng phải khô ráo. - Đủ trang thiết bị cứu hỏa. - Chèn lót gỗ, tre giữa các bình chứa để có thể thông gió. - Xếp hàng xa buồng máy, nồi hơi và các nguồn nhiệt khác. - Hàng không sợ nước có thể xếp trên boong nhưng chèn lót cẩn thận. - Cấm lửa xung quanh hầm hàng. 7.4.4. Vận chuyển chất bốc cháy khi gặp nước: - Đủ trang thiết bị cứu hỏa, thiết bị chống cháy CO2. - Xếp trong hầm khô ráo, sạch sẽ, xa buồng máy và các nguồn nhiệt khác. - Hệ thống đường ống nước qua hầm hàng phải kín, phủ bạt lên hàng đề phòng mồ hôi thân tầu rỏ xuống. - Đệm gỗ loại hàng chứa trong thùng sắt. - Hàng sợ ướt không được xếp chung với chất lỏng. 7.4.5. Vận chuyển chất độc hại: - Tầu phải kín nước, thông gió tốt, đủ dụng cụ phòng cháy. - Không xếp chung với hàng lương thực, thực phẩm. - Hầm khô ráo, không xếp trên boong. - Chất độc hại dễ cháy không xếp gần buồng máy. - Vệ sinh kỹ hầm sau một chuyến chở hàng. - Nước rửa phải xử lý theo quy định của nhà chức trách (cả nước thải). 7.4.6. Vận chuyển chất ăn mòn: - Có đủ trang bị cứu hỏa. - Loại sợ nước phải xếp trên tầu kín nước, thông gió tốt. - Quét dọn sạch sẽ hầm hàng. 42
  44. - Thùng, bình chứa chất ăn mòn có thể xếp trên boong, phải che đậy, chằng buộc cẩn thận. - Không xếp chung với lương thực, thực phẩm, xếp xa buồng máy. - Không xếp chồng lên các loại hàng khác. 7.4.7. Vận chuyển chất phóng xạ: - Tầu phải sạch sẽ, khô ráo, thông gió tốt, thiết bị ngăn khoang tốt. - Có đầy đủ trang thiết bị phòng chống cháy. Có trang bị CO2. - Xếp xa khu vực của thuyền viên, xa khu thực phẩm, bếp. Trình tự xếp sau cùng và dỡ trước tiên. - Vận chuyển khoáng chất phóng xạ cẩn đệm lót, che đậy kỹ trên dưới bằng vải nhựa. Với dung dịch phóng xạ nên đổ cát khô ở dưới đề phòng lan chảy. - Tuân thủ nghiêm khắc những quy tắc về vận chuyển chất phóng xạ trong I.M.D.G Code và những chỉ thị của người gửi hàng. 7.5. Nhãn hiệu hàng nguy hiểm: Tất cả các kiện hàng nguy hiểm nhận vận chuyển phải được gắn nhãn hiệu loại hàng nguy hiểm tương ứng, đồng thời phải ghi tên kỹ thuật của hàng hóa lên kiện hàng giống như tên ghi trong giấy tờ hàng hóa. Với container chứa hàng nguy hiểm cần phải có 4 nhãn hiệu loại hàng nguy hiểm gắn vào container. Tất cả nhãn hiệu nguy hiểm phải gỡ bỏ sau khi container không chứa hàng nguy hiểm nữa. Nhãn hiệu hàng nguy hiểm hình vẽ với tất cả chữ màu đen. Số từ 1-8 là phân nhóm hàng nguy hiểm. CÁC LOẠI NHÃN HIỆU SỬ DỤNG CHO HÀNG NGUY HIỂM 43
  45. Ký mã hiệu với tên kỹ thuật chính xác, nhãn hay hình vẽ trên kiện hàng có hàng nguy hiểm phải làm cách nào để những thông tin đó vẫn còn có thể nhận ra được trên kiện hàng ít nhất 3 tháng. Người vận chuyển có quyền dỡ khỏi tầu, hủy bỏ hoặc làm mất khả năng gây hại của hàng hóa dễ nổ, dễ cháy hoặc hàng hóa nguy hiểm khác mà không phải bồi thường nhưng vẫn được thu hồi cước, nếu hàng hóa đó đã được khai báo sai, hoặc người vận tải không được thông báo trước và cũng không thể nhận biết về những đặc tính nguy hiểm của hàng hóa khi bốc hàng quá sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường. Người thuê vận chuyển phải chịu các phát sinh trong trường hợp người vận chuyển đã bốc hàng hóa nguy hiểm lên tầu mặc dù đã được thông báo trước hoặc đã nhận biết tính chất nguy hiểm của hàng hóa đó qua sự hiểu biết thông thường và đã thực hiện các biện pháp bảo quản theo quy định, nhưng khi hàng hóa đó đe dọa sự an toàn của tầu, người và hàng hóa thì người vận chuyển cũng xử lý như trên. Trong trường hợp này người vận chuyển chịu trách nhiệm về tổn thất phát sinh theo các nguyên tắc về tổn thất chung và chỉ được thu cước theo cự ly đã đi. 45
  46. Bài 8: VẬN CHUYỂN DẦU MỎ VÀ SẢN PHẨM DẦU MỎ 8.1. Thành phần, tính chất của dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ: 8.1.1. Thành phần: Dầu mỏ là hóa hợp của các chất cacbon và hydro. Hóa hợp này rất phức tạp và gọi chung là cacbon hydro. Thành phần chủ yếu của dầu mỏ: Cacbon 83-87%; hydro 11.7-14.1% ngoài ra còn có các thành phần khác như ôxy, nitơ, lưu huỳnh 1-2% (nếu lưu huỳnh lên đến 5-5.4% gọi là lưu hóa dầu mỏ), nước dưới 2%, muối khoảng 0.01%. Các hợp chất của C và H2 chủ yếu là nhóm CnH2n+2 (mêtan); CnH2n (êtylen); CnH2n-2 (axêtylen); CnH2n-6 (benzen). Trong vận tải chúng ta thường gặp: Xăng dung môi, xăng nhiên liệu (máy bay, ôtô), dầu hỏa, diezen, dầu cơ giới cao tốc, dầu vadơlin, dầu đồng hồ, dầu máy ôtô AK-6, AK-10, AK-15, dầu xilanh số 11, số 24, số 38, số 52 v.v 8.1.2. Tính chất: Dầu mỏ và sản phẩm của dầu mỏ đều có 7 tính chất cơ bản giống nhau, tùy loại các tính chất đó có mức độ khác nhau: - Tính dễ cháy: Phụ thuộc vào thành phần hóa học của dầu, nhiệt độ của dầu và ôxy trong không khí, khi bốc cháy khó dập tắt, tốc độ cháy rất nhanh. - Tính dễ nổ: Khi trong không khí có một hỗn hợp khí dầu, dưới áp suất bình thường gặp lửa thì bùng nổ. Hiện tượng nổ còn xảy ra khi áp suất bể chứa lớn hoặc do xô đẩy va đập hay do nén đột ngột. - Tính nhiễm điện: Do ma sát giữa các phân tử dầu vào thành tầu hay bể chứa tạo ra một hiệu điện thế, đến mức nào đó sẽ gây ra phóng điện sinh lửa và bốc cháy. - Tính bay hơi nhanh: Do hợp chất của dầu có hàm lượng lớn cacbon hydro dễ bay hơi, kết hợp với điều kiện thích hợp như khoảng trống và diện tích mặt thoáng lớn, nhiệt độ và áp suất xung quanh cao. Khi bay hơi làm hao hụt số lượng lẫn chất lượng của dầu, đặc biệt là các loại dầu nhẹ, ét xăng v.v - Tính dãn nở: Phụ thuộc vào nhiệt độ, tính dãn nở sẽ làm tổn thất dầu khi dầu được chứa trong kho, thùng quá đầy gặp nhiệt độ tăng thì hệ số dãn nở β của dầu tăng và làm dầu tràn ra ngoài. - Tính ngộ độc: Dầu và sản phẩm của dầu rất độc đối với người, nhất là dầu lưu hóa (lượng lưu huỳnh từ 5.3 đến 5.4%) là loại độc nhất, nguy hiểm nhất, đặc biệt là C6H6 và loại có gốc C2H6 (êtan). Tỷ lệ dầu trong không khí có thể gây ngộ độc: Dầu xăng 0.2-0.3% 46
  47. C6H6 0.1% Dầu nhẹ madút 0.3% C6H5CH3 0.1% C6H5(CH3)2 0.02% - 0.04% 1 1 Xăng pha chì (têtraetyl chì) với hàm lượng thấp /1000 – /2000 để chống kích nổ cũng là loại rất độc. Khi ngộ độc thì chóng mặt, nhức đầu, tim đập mạnh, nếu nồng độ lớn thì có thể ngất và chết. Khi tiếp xúc hoặc gần với dầu và sản phẩm của dầu cần chú ý đề phòng ngộ độc. - Tính đông đặc: Phần lớn các sản phẩm dầu ở nhiệt độ thấp dễ đông kết. Khi dầu bị đông kết thì lực ma sát giữa dầu và ống dẫn dầu rất lớn, làm giảm tốc độ bơm dầu. Để khắc phục nhược điểm này, trước khi bơm dầu thường phải dùng phương pháp gia nhiệt để tăng tốc độ bơm. 8.2. Vận chuyển dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ: 8.2.1. Lập sơ đồ hàng hóa: Khi lập sơ đồ hàng hóa cần chú ý đến các yếu tố sau: - Thế vững của tầu: Chủ yếu xem xét đến mặt thoáng tự do của tầu ở các két chứa. Cố gắng làm giảm mặt thoáng tự do bằng cách dồn đầy vào một số két để tăng cao GM (chiều cao tâm nghiêng). - Độ lệch mớn mũi lái: Các tầu lớn chở dầu người ta cho phương án tối ưu là mớn nước ở chế độ cân bằng đều bằng nhau nhằm dễ tính toán lượng dầu trên tầu tại các cảng, vùng neo đậu. - Cường độ tầu: Tránh hiện tượng tầu vồng hoặc võng vì với tầu lớn khi có hàng võng, khi không hàng tầu vồng. Căn cứ các khoang để phân phối cho đều và tính toán chặt chẽ. - Nếu lấy nhiều loại dầu khác tính chất, để tránh hiện tượng thẩm thấu gây tổn thất hàng hóa, nên có khoang trống giữa các khoang. - Để chừa độ vơi nhất định đề phòng sự dãn nở của dầu hay cho dầu thở tự do có thể tính theo công thức sau: 47
  48. V (d –dm) Độ vơi (m3) = d Trong đó: V là dung tích của khoang chứa dầu (m3) d là tỷ trọng của dầu khi xếp dỡ dm tỷ trọng của dầu ở nhiệt độ dự đoán cao nhất - Xác định trình tự bơm dầu vào các khoang. Khi nhận vào khoang căn cứ yêu cầu bảo đảm cường độ của tầu. Cố gắng lấp đầy các khoang và để lại các khoang trống (nếu lấy hàng không hết tải) 8.2.2. Tỷ trọng của dầu và độ điều chỉnh cần thiết khi bơm dầu xuống tầu: Tỷ trọng (mật độ tương đối): Là tỷ số khối lượng của một thể tích dầu ở 0 0 20 nhiệt độ 20 C và khối lượng nước cùng thể tích ở nhiệt độ 4 C – ký hiệu d4 . Mật độ tương đối của dầu phụ thuộc vào nhiệt độ. Nhiệt độ càng tăng thì mật độ tương đối càng giảm. Bảng dưới đây giới thiệu phần tăng thêm và giảm đi của tỷ lệ dầu theo nhiệt độ. Mật độ của dầu Độ điều chỉnh 10C Mật độ của dầu Độ điều chỉnh 10C 0,69 – 0,6999 0,000010 0,85 – 0,8599 0,000699 0,70 – 0,7099 0,000897 0,86 – 0,8699 0,000686 0,71 – 0,7199 0,000884 0,87 – 0,8799 0,000637 0,72 – 0,7299 0,000870 0,88 – 0,8899 0,000660 0,73 – 0,7399 0,000857 0,89 – 0,8999 0,000647 0,74 – 0,7499 0,000844 0,90 – 0,9099 0,000633 0,75 – 0,7599 0,000831 0,91 – 0,9199 0,000620 0,76 – 0,7699 0,000818 0,92 – 0,9299 0,000607 0,77 – 0,7799 0,000805 0,93 – 0,9399 0,000594 0,78 – 0,7899 0,000792 0,94 – 0,9499 0,000584 0,79 – 0,7999 0,000778 0,95 – 0,9599 0,000567 0,80 – 0,8099 0,000765 0,96 – 0,9699 0,000554 0,81 – 0,8199 0,000752 0,97 – 0,9799 0,000541 0,82 – 0,8299 0,000738 0,98 – 0,9899 0,000528 48
  49. 0,83 – 0,8399 0,000725 0,99 – 0,9999 0,000515 0,84 – 0,8499 0,000712 8.2.3. Nhận và trả dầu: 8.2.3.1. Nhận dầu: Đây là một công việc phức tạp, phải chú ý đến độ ổn định của tầu, mớn nước mũi lái, cường độ dọc, cường độ ngang, lượng dầu cần xếp để đảm bảo an toàn trong suốt hành trình, phải có sơ đồ xếp hàng cụ thể, rõ ràng, trình tự bơm, kế hoạch sử dụng các loại bơm để tránh tình trạng nhầm lẫn, tổn thất đáng tiếc xảy ra. - Trao đổi với bờ để thông tin về số liệu: Mớn nước, độ lệch mớn, dọn vệ sinh khoang, kích cỡ ống, có cần chống ăn mòn cực âm hay không, cần sửa chữa đột xuất và cần khí trơ hay không. - Sau khi cập phải nắm rõ loại dầu, tính chất, thời gian xếp dầu, cách xử lý các két balast, tìm hiểu phương thức lấy dầu, tìm hiểu kỹ hệ thống đường ống, xử lý đường ống khi nhận dầu, yêu cầu giám định khoang và trao đổi trình tự thao tác. - Thải hết nước balast trước khi nhận hàng (lưu ý ô nhiễm). - Làm sạch các đường ống mà trước đó nhận dầu khác. - Kiểm tra lại trình tự bơm từng khoang. Phải tính toán lượng dầu cho phép ở các hầm để đảm bảo không gian mặt thoáng trong hầm ở giới hạn dãn nở cho phép, hạn chế hiện tượng lắc ngang. Nói chung khi tiến hành bơm dầu xuống tầu, mô men nghiêng ngang tương đối nhỏ, do đó khi bơm có thể bắt đầu cho 2 hầm ở hai bên trái và phải. Đồng thời có thể điều chỉnh độ nghiêng ngang bằng cách bơm dầu vào các hầm ở hai bên mạn. - Trình tự lượng dầu cho phép xuống tầu: Số lượng dầu xếp xuống tầu được xác định theo công thức sau: max Q = Vbể . d4 3 Trong đó: Vbể : Thể tích các khoang chứa dầu (m ) max d4 : Tỷ trọng của dầu ở nhiệt độ lớn nhất có thể gặp trên đường đi (t = 30o) Xác định tỷ trọng của dầu ở nhiệt độ khi xếp: max 20 1 d4 = d4 + (20 – t0 ) Xác định tỷ trọng tương đối của dầu ở nhiệt độ lớn nhất có thể gặp trên đường đi: 49
  50. max 20 max d4 = d4 + (20-t ) Khối lượng dầu cho phép xếp vào bể có tính đến độ dãn nở: tmax Qmax = Vmax . d4 (tấn) 1 Thể tích V1 dùng để xếp dầu ở trạm xếp khi nhiệt độ t0 Qmax 3 V1 = (m ) t1 d4 Chú ý: Nếu tầu một lúc nhận nhiều loại dầu có tỷ trọng khác nhau thì phải xác định tỷ trọng tiêu chuẩn bình quân theo công thức: Q1d1 + Q2d2 + + Qndn 20 T 3 d4 = ( /m ) Q1 + Q2 + + Qn Khi tính nhiệt độ các loại dầu có thể tính bằng hai cách: Cách thứ nhất là đo nhiệt độ tất cả các loại dầu cần xếp rồi tính bình quân hoặc lấy một loại đặc trưng để tính: o o o t1 + t2 + + tn toC = N Trong đó: : Độ điều chỉnh (tra bảng) Q1, Q2 số lượng dầu xếp trong mỗi khoang d1, d2 tỷ trọng tiêu chuẩn của từng loại dầu tn : Nhiệt độ của dầu loại n N: Tổng số khoang xếp dầu trong mỗi tầu Ví dụ 1: Tầu dầu A nhận dầu diezel ở 3 khoang. Khoang số 1 rót xuống 20 20 3000000kg khi d4 = 0.852; ở khoang số 2 rót xuống 8500000kg khi d 4 = 20 0.864; ở khoang số 3 rót xuống 6500000kg khi d4 = 0.858. Xác định tỷ trọng bình quân của dầu khi xếp? Giải: (3000000 x 0.852) + (8500000 x 0.864) + (6500000 x 0.858) 20 d4 = 3000000 + 8500000 + 6500000 50
  51. 20 d4 = 0.8595 Ví dụ 2: Một chiếc tầu có 24 khoang xếp cùng một loại dầu, khi xếp dầu thì nhiệt độ ở 6 khoang (chiếm 25%) có nhiệt độ dầu đo được: 52, 49, 52, 50, 50, 50 độ. Vậy: 50 + 50 + 52 + 49 + 50 + 52 t = = 50o5 6 Ví dụ 3: Trong khoang tầu cần nhận loại nhiên liệu diezel với dung tích 3 o 20 500m . Nhiệt độ dầu khi xếp 0 C, tỷ trọng của dầu d4 = 0.83. Xác định thể tích dự trữ nhỏ nhất cần thiết có tính dến sự dãn nở của dầu khi tầu chạy qua vùng nóng. Giải: o o a. Tỷ trọng của dầu khi nhiệt độ t1 C = 0 C o o o d4 = 0.83 + 0.000725 (20 C – 0 C) = 0.8445 o b. Tỷ trọng của dầu khi nhiệt độ tmax = 30 C 30 o o d4 = 0.83 + 0.000725 (20 C – 30 C) = 0.8228 3 c. Vmax = Vkhoang = 500m d. Số lượng dầu có thể xếp ở trạm dầu: 30 Qmax = Vmax . d4 = 500 x 0.8228 = 411.4 Tấn. e. Thể tích cần xếp: Qmax 411.4 3 V1 = = = 487.15 (m ) o d4 0.8445 f. Thể tích dự trữ được xác định: 3 Vdtrữ = Vkhoang – V1 = 500 - 487.15 = 12.85 (m ) - Trước khi nhận dầu phải kiểm tra chặt chẽ: Đầu nối các đoạn ống có chắc chắn chưa. Hệ thống ống dẫn có lưu thông hay không. Rà soát lại các cửa van của các khoang. Đóng kín các cửa ở gần khu vực khoang nhận dầu. Kiểm tra van đáy đóng chưa. 51
  52. - Nhận dầu vào khoang phải đúng thứ tự dự định, chừa độ vơi để tầu thở. Để nhận dầu lên tầu, người ta dùng các hệ thống bơm đặt trên bờ hoặc dưới tầu. Trước khi bơm phải nối dây tiếp đất trước, nối ống dẫn sau, sau khi bơm tháo ống dẫn trước, ngắt dây đất sau. Ống dẫn dầu phải đủ độ dài cần thiết để tránh thủy triều lên xuống có thể làm đứt ống. Phải có đệm lót cách ly ống dẫn dầu với nền cầu tầu. Trong khi bơm cấm lửa. Bơm dầu xuống tầu hoặc ngược lại phải theo thứ tự kế hoạch đã lập ở sơ đồ xếp hàng, bơm xuống các hầm giữa trước, cách một hầm bơm một hầm. Tốc độ bơm phải do công nhân chuyên nghiệp theo dõi và điều chỉnh tốc độ và số lượng dầu cho phép. Lượng dầu bơm vào khoang không quá đầy hoặc quá vơi vì đổ đầy quá dầu trương nở tràn ra ngoài, nếu đổ vơi thì hiện tượng cháy còn nguy hiểm hơn do hơi dầu gây ra. Đối với dầu nguyên khai, dầu nặng có độ dính lớn nếu cần gia nhiệt thì trước khi vào cảng phải gia nhiệt để khi cập bến có thể tiến hành bơm được ngay. Theo kinh nghiệm nếu bơm dầu từ trên cao xuống qua cửa mở, lượng hao hụt tăng 4 lần so với khi bơm dầu từ dưới tầu lên bờ. - Thao tác van phải đảm bảo kỹ thuật và an toàn khi chuyển khoang bơm. - Chú ý điều chỉnh mớn nước khi bơm sắp đầy. - Ngừng làm hàng khẩn cấp khi có dông bão, sấm, chớp, mưa và các tình huống nguy hiểm khác. - Tiến hành đo độ vơi các khoang khi lấy đầy hàng và kiểm tra đo nước dưới đáy két. 8.2.3.2. Trả dầu: - Trước khi trả phải tiến hành giám định và có kế hoạch dỡ từng khoang theo ý định. - Kiểm tra các van đáy, chúng phải được đóng kín. Phải khởi động bơm, đồng thời kiểm tra. Các khớp ống nối mềm có bị vỡ. Mực dầu trong khoang biến đổi thế nào. Áp lực bơm trên đồng hồ áp lực. 52
  53. Kiểm tra đối chiếu các van của khoang chưa dỡ. Quan sát vùng nước xung quanh xem có váng dầu hay không? - Khi phải dỡ nhiều loại dầu, cần chú ý quan sát bề mặt dầu các khoang chưa bơm có hiện tượng không bình thường thì phải ngừng. - Phải tăng mớn nước lái khi bơm vét (có thể cho tầu nghiêng). - Bơm xong phải kiểm tra xem dầu đã bơm hết chưa. Khi bơm nước đẩy dầu chú ý các bước sau: Ngừng bơm dầu, đóng van xuất. Điều chỉnh van nước, khởi động bơm chờ áp lực tăng cao thì bắt đầu mở van đáy. Đợi đến khi có nước vào khoang dầu. Khi áp lực đã ổn định thì bắt đầu mở van xuất cho nước vào ống đẩy dầu ra. 8.2.4. Những chú ý khi rửa hầm dầu: 8.2.4.1. Khi vận chuyển dầu mà phải thay đổi chủng loại ta tiến hành rửa hầm, tùy từng loại mà áp dụng các cách dọn rửa khác nhau. Giả sử trước đó tầu chở dầu diezel thì ta dùng dầu trắng tẩy rửa cho kỹ, sau đó nếu chở dầu nhớt thì cũng phải rửa kỹ vì dầu nhớt yêu cầu rất cao để giữ chất lượng dầu. Khi thay đổi giữa các loại dầu thô và nặng thì không cần phải rửa. 8.2.4.2. Khi chở dầu đen sang dầu trắng ta tiến hành theo thứ tự: - Bơm hơi nước nóng vào các hầm tầu, đậy kín nắp hầm và các ống thông gió để dầu và cặn đóng trên thành vách hầm tầu được hâm nóng chảy ra. Mặt khác hơi nước nóng sẽ có tác dụng làm tan khí dầu, giảm nồng độ hơi dầu trong không khí. - Sau một thời gian nhất định ta bắt đầu mở cửa hầm và tiến hành thông gió để thải khí dầu trong hầm ra ngoài. - Dùng vòi nước lã phun mạnh vào vách hầm, tiến hành cọ sạch hầm, bơm nước bẩn qua tầu vệ sinh rồi lau khô. Chú ý: Đồng thời phải rửa các ống dẫn dầu để khi bơm không làm mất phẩm chất của dầu. 8.2.5. Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế hư hỏng hàng hóa: - Cấm không được dùng kim loại gõ lên boong tầu vì dễ sinh ra tia lửa. - Nếu nhiệt độ bên ngoài cao phải phun nước trên mặt boong để giảm nhiệt độ. - Đề phòng ngộ độc khi đỗ, lúc kiểm tra dầu không đứng dưới hướng gió thổi, phải đeo mặt nạ phòng hơi độc khi vào hầm tầu để lau chùi hoặc kiểm tra. - Khi tiến hành tiêu độc phải mặc quần áo bảo hộ lao động, đeo găng tay cao su, đi ủng. 53
  54. - Khi hỏa hoạn phải bình tĩnh đối phó, sử dụng các thiết bị cứu hỏa để dập tắt lửa. - Khi làm việc dưới hầm tầu ngoài việc đeo mặt nạ phòng hơi độc còn phải cột dây an toàn để khi cần thiết người ở trên boong có thể kéo lên cấp cứu kịp thời. - Trên tầu dầu cấm đi giày đóng cá, hút thuốc lá. Phải tuyệt đối tuân theo nội quy phòng hỏa trên tầu. 54
  55. Bài 9: VẬN CHUYỂN HÀNG MAU HỎNG – TƯƠI SỐNG 9.1. Hàng mau hỏng: 9.1.1. Phân loại: Tất cả những hàng hóa, trong điều kiện bình thường không thể bảo quản và vận chuyển lâu, muốn bảo quản lâu phải để hàng hóa trong điều kiện nhiệt độ thấp gọi là hàng mau hỏng. Nó được phân làm 2 loại: - Hàng thuộc tính động vật như thịt, cá, trứng và các sản phẩm của chúng. - Hàng thuộc tính thực vật như các loại rau, hoa quả. Trong các chất vô cơ có các chất khoáng và nước, trong đó lượng nước chiếm phần lớn, thường từ 50 – 90%. Ví dụ thịt có từ 45 -78%, cá có từ 62 - 81%, rau quả tươi có từ 80 -95% là nước. Các chất khoáng chiếm tỷ lệ rất thấp trên dưới 1%. Trong các chất hữu cơ gồm có: Đường, chất béo, protit, axit hữu cơ, các sinh tố và các chất men. Tất cả các chất này đều là những thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người. 9.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hàng mau hỏng: Các chất dinh dưỡng trong thành phần của hàng mau hỏng dễ ôi thối là điều kiện cho vi sinh vật tồn tại và phát triển. Kết quả quá trình hoạt động, sinh trưởng của vi sinh vật dẫn đến hậu quả làm cho hàng hóa bị biến chất, thối rữa v.v Các loại vi sinh vật muốn hoạt động đươc, sinh trưởng được ngoài điều kiện về chất dinh dưỡng trong hàng hóa còn phải có điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp. Đối với loại vi sinh vật hiếu khí không thể sống và phát triển trong điều kiện thiếu không khí. Đối với loại vi sinh vật ưa lạnh cũng chỉ có thể hoạt động trong phạm vi nhiệt độ thấp nhất là 0oC và nhiệt độ thích nghi nhất là 20oC, nhiệt độ cao nhất là 40 0C. Ngoài nhiệt độ trên loại vi sinh vật này ngừng hoạt động hoặc có thể bị chết. Loại vi sinh vật ưa ấm: Nhiệt độ thấp nhất là từ 5- 10oC, cao nhất 50-60oC, thích nghi là 30-35oC. Loại vi sinh vật ưa nóng: Nhiệt độ thấp nhất là 20-25 oC, cao nhất 70-75oC thích nghi là 45-60oC. Tất cả những loại vi sinh vật này, nếu ở nhiệt độ môi trường cao hơn hoặc thấp hơn sẽ bị chết hoặc ngừng hoạt động. Độ ẩm là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật. Ví dụ: Vi khuẩn mốc ngừng hoạt động nếu độ ẩm của hàng hóa là 12-13%, vi khuẩn lên men ngừng hoạt động nếu độ ẩm dưới 22% v.v 55
  56. Vậy hàng hóa có chất dinh dưỡng đầy đủ, nhiệt độ thích hợp là điều kiện tốt cho các loại vi sinh vật hoạt động mạnh, phá hủy hàng hóa nhanh chóng. 9.1.3. Biện pháp chống lại sự ôi thối mau hỏng: Muốn tránh được hàng bị biến chất ôi thối phải có biện pháp diệt khuẩn và hạn chế hoạt động của vi sinh vật. Các biện pháp thông dụng đó là: - Diệt khuẩn và vi sinh vật ở nhiệt độ cao rồi đóng hộp. - Phơi khô hoặc sấy khô (rau khô, quả khô, cá khô ). - Ướp muối, ướp đường, ngâm dấm, ngâm rượu v.v muối và đường có khả năng thẩm thấu cao phá hủy thành phẩn nước của vi sinh vật, làm cho vi sinh vật bi khô, nguyên sinh chất thu nhỏ gây ức chế sự hoạt động của chúng. - Dùng thuốc chống khuẩn (trong vận chuyển ít dùng). - Phương pháp ướp lạnh là phương pháp lý tưởng có nhiều ưu điểm nhất. Bằng phương pháp này có thể diệt được một số vi khuẩn và ức chế sự hoạt động của một số loại vi khuẩn khác, có khả năng làm giảm mức độ ôxy hóa của hàng hóa. Phương pháp này cơ bản là giữ được phẩm chất của hàng hóa như màu sắc, mùi vị, chất dinh dưỡng, sinh tố v.v Đối với hàng thực vật, ướp lạnh còn có tác dụng hạn chế hiện tượng hô hấp của hàng hóa. Mặt khác nhiệt độ thấp, thực phẩm đóng băng làm cho vi sinh vật không hút được các chất dinh dưỡng và không tiến hành được phản ứng sinh hóa do đó một số vi sinh vật bị chết, nhưng có loại chưa chết hẳn nên muốn đảm bảo hàng hóa không bị hư hỏng, biến chất phải đảm bảo nhiệt độ ướp lạnh từ đầu đến cuối. Có 2 phương pháp làm lạnh: Làm lạnh bình thường: Chỉ làm cho nhiệt độ hàng hóa từ nhiệt độ khí quyển giảm xuống 4-0oC, ở mức độ này chỉ làm đông thành phần nước ở lớp ngoài của hàng hóa. Làm đông hoàn toàn: Phần nước và chất lỏng đông hoàn toàn. Để đạt được yêu cầu này phải giảm nhiệt độ xuống tới -28 oC. Phương pháp này có nhược điểm là nhiệt độ quá thấp sẽ phá vỡ tổ chức các tế bào thực phẩm làm ảnh hưởng đến phẩm chất hàng hóa nhưng lại kéo dài được thời gian bảo quản hàng hóa. 9.1.4. Kỹ thuật vận chuyển hàng mau hỏng: Các phương pháp ướp lạnh nêu trên có thể khống chế những nhân tố gây biến chất hàng hóa, nhưng trong quá trình vận chuyển, bảo quản hàng vẫn có thể bị biến chất do: - Khi tiếp nhận hàng để vận chuyển, kiểm tra không chu đáo, chất lượng hàng không tốt. - Hầm tầu không sạch sẽ, cửa hầm không được kín dẫn đến không khống chế được nhiệt độ, độ ẩm thích hợp trong hầm tầu. 56
  57. - Chất xếp hàng không đúng kỹ thuật, bao bì không đúng quy cách tiêu chuẩn, thông gió không kịp thời. - Không đảm bảo thời gian chạy tầu dẫn đến kéo dài thời gian bảo quản trong khâu vận chuyển. Để đề phòng các nguyên nhân trên và đảm bảo chất lượng hàng hóa, cần phải tuân theo các điều kiện sau: 9.1.4.1. Xếp hàng xuống tầu: - Trước tiên phải kiểm tra máy lạnh, xem chế độ làm việc có bình thường, có đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm theo yêu cầu không. - Tiến hành làm vệ sinh, tẩy độc hầm tầu. - Kiểm tra các thiết bị trong hầm tầu, các vật liệu cách nhiệt, ống dẫn nước muối, ống dẫn nước, hệ thống thải nước balast, kiểm tra độ kín của các cửa ra vào, tiến hành xác định nhiệt độ, độ ẩm trên các đồng hồ và các thiết bị. - Phải làm lạnh hầm hàng trước khi xếp, làm cho nhiệt độ của không khí, các thiết bị trong hầm tầu xuống thấp hơn nhiệt độ yêu cầu, để trong quá trình xếp hàng do ảnh hưởng của nhiệt độ bên ngoài làm cho nhiệt độ tăng dần. Ví dụ: Đối với hàng làm lạnh toàn bộ thì nhiệt độ hầm tầu phải là - 12oC, đối với hàng làm lạnh lớp ngoài nhiệt độ yêu cầu là -5 oC. Đối với hàng hoa quả nhiệt độ yêu cầu là 0oC. Công tác làm lạnh hầm hàng cần tiến hành trước khi xếp hàng từ 24-48 giờ. - Khi tiếp nhận hàng cần phải kiểm tra cẩn thận, hàng không phù hợp quy cách, chất lượng không tốt, không nhận vận chuyển. Ví dụ: Thịt ướp lạnh nhưng mềm, có mùi ôi là không đạt quy cách. Thịt cá ướp lạnh đóng trong hòm gỗ, có nước nhỏ giọt chứng tỏ hàng chưa làm lạnh hoàn toàn, không phù hợp quy cách. Trứng gà: Quả trứng không trong, mờ, không hợp quy cách. Hoa quả: Mềm nhũn, màu sắc không tốt, chín quá không phù hợp quy cách. - Sau khi đã kiểm tra và quyết định cho phép xếp hàng xuống tầu phải đặc biệt chú ý phương pháp chất xếp, điều kiện xếp chung, xếp riêng đối với từng loại hàng. Ví dụ: Khi xếp thịt, xung quanh đống hàng có một khoảng cách nhất định để lưu không khí lạnh, cách vách hầm tầu 0.3m, cách ống dẫn khí lạnh 0.4m, cách đỉnh hầm tầu 0.2m. Rau, hoa quả: Khoảng cách giữa các kiện hàng, giữa hàng và vách hầm tầu 20-25cm để tiện thông gió.Nếu xếp rau cải, su hào, bắp cải, bí đao v.v không nên xếp quá cao để tránh lớp dưới bị hỏng (bí đao, đậu độ cao chừng 1.8m; rau cải chừng 1.7m; dưa gang, dưa chuột chừng 1.5m). Tuyệt đối không xếp chung các loại hàng khác với nhau. 9.1.4.2. Bảo quản trong khi tầu chạy: 57
  58. Công tác bảo quản trong quá trình chạy tầu chủ yếu là khống chế nhiệt độ trong hầm hàng đảm bảo nhiệt độ trong phạm vi yêu cầu của từng loại; luôn phải kiểm tra và điều tiết nhiệt độ vì có những loại hàng chỉ cần thay đổi nhiệt độ trong phạm vi nhỏ hẹp trong khoảng thời gian ngắn cũng đủ gây ra tổn thất lớn. Đối với thịt ướp lạnh hay rau quả bảo quản phải chú ý đến lượng CO 2 vì nó có tác dụng tích cực trong bảo quản. Nhưng CO 2 lớn hơn 8% sẽ làm cho thịt biến sắc, mất phẩm chất, hoặc trong rau quả nếu lượng CO 2 lớn hơn 5% sẽ làm cho chúng chóng hư hỏng. Những ngày trời nóng phải thường xuyên kiểm tra nhiệt độ. Để giảm ảnh hưởng có thể dùng các vật liệu cách nhiệt hoặc phun nước trên bề mặt boong. Trong khi kiểm tra hầm hàng cần phải ghi tỉ mỉ vào nhật ký hàng hóa để làm căn cứ khi có sự cố. Nhiệt độ và độ ẩm cần thiết bảo quản các loại hàng theo bảng: Tên hàng Nhiệt độ cần Độ ẩm tương Mức độ thông Thời hạn bảo thiết (0c) đối (%) không khí quản Thịt bò, thịt 1 ÷ (-1) 80 ÷ 85 Thích hợp 10 ÷ 12 ngày lợn ướp lạnh Thịt bò ướp (-9) ÷ (-18) 95 ÷ 100 Thích hợp 5 ÷ 12 tháng lạnh hoàn toàn Thịt lợn ướp (-9) ÷ (-18) 98 ÷ 100 Thích hợp 3 ÷ 10 tháng lạnh hoàn toàn Thịt cừu ướp (-9) ÷ (-18) 95 ÷ 100 Thích hợp 3 ÷ 12 tháng lạnh Thịt miếng (-10) ÷ (-18) 95 ÷ 100 Thích hợp 4 ÷ 8 tháng ướp lạnh Cá tươi 0 ÷ (-1) 95 ÷ 100 Thích hợp 1 ÷ 2 ngày Cá tươi lạnh (-18) ÷ (-25) 95 ÷ 100 Thích hợp 6 ÷ 9 tháng cứng Lươn 0 ÷ (-1) 90 ÷ 95 Thích hợp 7 ÷ 10 tháng Lươn làm (-18) ÷ 20 > 95 Thích hợp 6 ÷ 8 tháng lạnh hoàn toàn Trứng tươi 0.6 ÷ (-0.6) - Thích hợp Trong 1 tháng 58
  59. Đào 0 ÷ (-0.5) 90 Thích hợp 1 tháng Rau cải 0 ÷ (-0.5) 85 ÷ 90 Thích hợp 6 tháng Hành tây (-1.5) ÷ (-2.5) 85 ÷ 90 Thích hợp 4 ÷ 8 tháng 9.1.4.3. Dỡ hàng: Trước khi dỡ hàng phải tiến hành kiểm dịch. Phải báo chính xác thời gian tầu vào cảng, xác định thời gian mở cửa hầm tầu, điều chỉnh nhiệt độ trong hầm hàng. Đối với các loại hàng này khi xếp cũng như khi dỡ phải tiến hành nhanh gọn, tốt nhất là vào lúc sáng sớm khi trời mát. Công cụ và thiết bị xếp dỡ phải thích hợp 9.2. Hàng tươi sống: 9.2.1. Gia súc, gia cầm: Bao gồm những động vật được nuôi ở các gia đình, các trang trại chăn nuôi như: Trâu, bò, cừu, lợn, ngựa, dê, gà, vịt, ngan, ngỗng v.v Điều kiện sống của các loại gia súc, gia cầm đòi hỏi phải có chuồng trại rộng rãi, khí hậu phải thích hợp với từng loại, đảm bảo không khí trong sạch, đủ thức ăn, nước uống, nơi sống phải yên tĩnh, có đủ ánh sáng v.v Đặc điểm chung của gia súc, gia cầm không thích nghi ở nhiệt độ cao, nóng bức, lạnh, gió mạnh, bẩn, ẩm ướt, tiếng động mạnh, sống chen chúc, đói khát, có loại còn sợ say sóng. Vì vậy trong quá trình vận chuyển nếu không chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ, động vật sẽ sinh bệnh, chết hoặc sút cân nhanh chóng, không đảm bảo yêu cầu xuất, nhập khẩu. Yêu cầu khi vận chuyển: Tạo mọi điểu kiện thích nghi với từng loại, chú ý từng đặc điểm riêng của mỗi loài để có biện pháp chăn nuôi trong quá trình vận chuyển. 9.2.2. Điều kiện vận chuyển: Vận chuyển các loại gia súc, gia cầm phải có giấy phép xuất của cơ quan vệ sinh địa phương cấp phát. Nếu số lượng vận chuyển lớn hoặc đối với những loại khó nuôi, quý hiếm nhất thiết phải có nhân viên áp tải, thậm chí còn phải cử cán bộ thú y đi theo. Thông thường quy định cứ 10 con bò sữa, 20 con ngựa, 30 con trâu hoặc lợn, 60 con dê hoặc cừu, 10 – 15 sọt gà, vịt, ngan, ngỗng phải có nhân viên áp tải. Nếu vận chuyển hàng đàn (số lượng vượt quá 200 con), thời gian vận chuyển quá 5 ngày đêm, ngoài số nhân viên áp tải còn phải có một số cán bộ thú y đi theo. Những người này do chủ hàng cử, các chi phí (kể cả vé tầu) đều do chủ hàng chịu. Nhân viên áp tải phải là những người có kinh nghiệm về chăn nuôi, nhiệm vụ của họ là cho gia súc, gia cầm ăn uống, hằng ngày quét dọn, làm vệ sinh (mỗi 59