Giáo dục môi trường địa phương thông qua môn Địa lí Việt Nam (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo dục môi trường địa phương thông qua môn Địa lí Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_duc_moi_truong_dia_phuong_thong_qua_mon_dia_li_viet_nam.pdf
Nội dung text: Giáo dục môi trường địa phương thông qua môn Địa lí Việt Nam (Phần 2)
- CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG TỈNH QUẢNG NAM VÀ TP ĐÀ NẴNG QUA MÔN ĐỊA LÍ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học địa lí cũng như để cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về môi trường địa phương tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, tìm những biện pháp giáo dục môi trường có hiệu quả nhất trong điều kiện nhà trường, thầy và trò ở Quảng Nam và Đà Nẵng và để kích thích lòng yêu quê hương xứ sở của học sinh, làm cho các em nhận rõ trách nhiệm của mình đối với công cuộc xây dựng một cuộc sống bền vững ở địa phương mình, chúng tôi đã nghiên cứu và thực nghiêm nhiều năm đề tài “ Giáo dục môi trường địa phương qua môn địa lí Việt Nam ở lớp 8, lớp 9 cho học sinh tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng”. Khi nghiêm cứu đề tài chúng tôi đã dựa trên những cơ sở lí luận và thực tiễn đã được trrình bày ở chương 1 và chương 2. Ở chương này, chúng tôi chỉ đưa ra những cơ sở thực tiễn của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng cùng với những ví dụ cụ thể ở địa phương, nhằm minh họa cho phần lí luận mà chúng tôi đã đúc rút ở chương 2 để các bạn đọc tham khảo. 3.1. NHỮNG CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỊA PHƯƠNG ĐÀ NẴNG ĐỂ LỰA CHỌN KIẾN THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG 3.1.1. Dựa vào tình hình môi trường và những vấn đề môi trường cần đặt ra cho thành phố Đà Nẵng a. Khái quát đặc điểm môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của thành phố Đà Nẵng Thành phố Đà Nẵng được tách ra từ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng vào 1/1997. Trong thực tế Quảng Nam và Đà Nẵng vẫn có mối quan hệ với nhau 69
- thật khăng khít cả về mặt tự nhiên và kinh tế xã hội. Trong tài liệu này đề cập đến môi trường của thành phố Đà Nẵng. Mặc dù tất cả các địa phương trên lãnh thổ Việt Nam đều mang những đặc điểm chung của môi trường tự nhiêm Việt Nam đó là: Tính chất nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa và sự phân hóa phức tạp. Tính chất này được thể hiện rõ trong tất cả các yếu tố thành phần như địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất và sinh vật. Nhưng chính sự phân hóa phức tạp, đa dạng đã tạo nên những nét riêng biệt độc đáo của tự nhiên ở mỗi địa phương, nơi này mưa nắng điều hòa, nơi kia mưa nắng thất thường, nơi này có mùa đông lạnh kéo dài, nơi kia lại không có mùa đông. Có địa phương lại nằm hoàn toàn trong miền núi, có địa phương lại nằm trong cả vùng đồng bằng, đồi núi và ven biển, đó là chưa kể đến tính chất thất thường của tự nhiên. Nét đặc thù và riêng biệt của mỗi địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống con người ở địa phương đó, các hoạt động kinh tế ở đồng bằng phải khác với nhiều đồi núi và vùng biển, từ đó mà trong vấn đề bảo vệ môi trường cũng có những nét khác nhau, những địa phương nào có nhiều đồi núi, có tiềm năng về rừng thì phải bảo vệ rừng. Địa phương nào có đồng bằng , có tiềm năng về đất đai thì phải bảo vệ đất. Địa phương nào có biển, giàu tiềm năng về biển thì phải bảo vệ tài nguyên biển . Không những thế trình độ dân trí và việc sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở mỗi địa phương cũng khác nhau, chính vì những lí do trên, muốn giáo dục môi trường địa phương tốt thì phải dựa vào tình hình thực tế của môi trường địa phương đó để lựa chọn những vấn đề cơ bản, nổi bật đặc thù của địa phương để đưa vào bài dạy địa lí Việt Nam nhằm giáo dục môi trường mang lại hiệu quả. - Đà Nẵng có diện tích đất tự nhiên là: 1248,4 km2, nằm gần như trung tâm của cả nước (cách Hà Nội 759km, cách thành phố Hồ Chí Minh 974km). Phía Bắc giáp Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông. Đây là một vị trí đặc biệt quan trọng không những về mặt tự nhiên mà còn về kinh tế, quốc phòng, vì thế cả Pháp và Mĩ và khi xâm chiếm Việt Nam đều đổ bộ vào Đà Nẵng trước tiên. 70
- Phần đất liền của Đà Nẵng nằm ở vĩ độ 15o55’19’’B – 16o31’20’’B, kinh độ 107o49’11’’Đ – 108o20’20’’Đ, có đường bờ biển kéo dài 30 km, ven biển có nhiều bán đảo, đảo và quần đảo như: Sơn Trà, Cù Lao Chàm, Hoàng Sa. Biển của Đà Nẵng có nhiều nguồn lợi như các loại hải sản, khoáng sản, cát thủy , đặc biệt có nhiều loại hải sản quý hiếm mà một số vùng biển khác ở nước ta không có như yến sào, đồi mồi, ngọc trai. Bờ biển Đà Nẵng từ lâu được mệnh danh là “ Hải khẩu nước sâu đậu tầu” trên bến dưới thuyền vì bờ biển nhiều vũng, vịnh, thềm lục địa sâu, rất thuận lợi cho việc xây dựng các cảng biến lớn. Hơn nữa, sự kết hợp hài hòa, độc đáo của núi và biển đã tạo cho Đà Nẵng có nhiều bãi biển Nam Ô, Xuân Thiều, Mĩ Khê, Non Nước, Thanh Bình . Ba phần tư diện tích của Đà Nẵng là đồi núi. Núi tập trung thành từng dài ở phía Tây, ăn lan ra cả phía Bắc và Nam, độ cao trung bình từ 800- 1000m, nhiều dãy có độ cao hơn 1.5000 m. Miền đồi núi chủ yếu có rừng rậm nhiệt đới phát triển, ở những nơi cao hơn 1000m thì có rừng á nhiệt đới trên núi như Bà Nà – Núi Chúa. Bên cạnh biển thì rừng cũng là một nguồn lợi lớn của Đà Nẵng. Rừng ở đây có nhiều chủng loại gỗ tốt: cẩm lai, gõ. kiền kiền , nhiều lâm thổ sản quý như trầm hương, quế , nhiều loại thú quý hiếm sót lại như tê giác, voi, voọc mũi xanh , ở đây cũng có nhiều loại khoáng sản phi kim loại như đá hoa cương, cẩm thạch, đá vôi, cao lanh phân bố ở khắp mọi nơi. Giữa miền đồi núi phía Tây, Bắc, Nam địa hình thấp dần xuống các thung lũng sông Túy Loan, Cẩm Lệ, Cu Đê, Hàn và dọc ven biển tạo nên vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển, các đồng bằng này là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động. Vị trí cộng với sự kết hợp của hoàn lưu gió mùa và địa hình đã làm cho khí hậu của Đà Nẵng có nhiều đặc điểm nổi bật, thể hiện tính chất chuyển tiếp rõ rệt của hai đới khí hậu Bắc và Nam Mùa hè: ảnh hưởng của gió mùa tây nam (gió Lào) làm cho khí hậu nóng và khô, nhiệt độ thường trên 35oC và thường gây hạn hán nặng. Mùa đông: vẫn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc, nhưng không sâu sắc và kéo dài như miền Bắc, Đông bắc, đặc biệt do ảnh hưởng của địa 71
- hình kết hợp với gió mùa đông bắc, áp thấp nhiệt đới tạo nên một mùa mưa bão lớn và lệch pha so với cả nước (mưa bão từ tháng 9 đến tháng 12) thường gây lũ lụt lớn và ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong đời sống của nhân dân địa phương. Địa hình và chế độ khí hậu còn tạo nên một mạng lưới sông ngòi của Đà Nẵng tương đối dày đặc, nhưng các sông đều nhỏ, ngắn, rất dốc và nghèo phù sa, nước lớn về mùa thu đông và thường có lũ đột ngột. Ở đây có một số con sông điển hình như: sông Hàn (là hợp lưu của sông Túy Loan và sông Vĩnh Điện), sông Túy Loan, Vĩnh Điện, Cu Đê. Giá trị lớn nhất của các sông là tưới tiêu và thủy điện. Nhìn chung, xét về đặc điểm tự nhiên, mặc dù có những khó khăn như gió phơn tây nam, mưa bão nhưng thiên nhiên vẫn ưu đãi Đà Nẵng về nhiều mặt, tạo cơ sở cho hai địa phương này phát triển một nền kinh tế toàn diện và mạnh mẽ, một trung tâm du lịch với nhiều thắng cảnh đẹp, nhiều di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng, một cửa ngõ lớn ở miền Trung với một thương cảng lớn và một quân cảng quan trọng. Tài nguyên thiên nhiên của Đà Nẵng thật phong phú và đa dạng, tuy nhiên cũng như nhiều địa phương khác, sự khai thác còn thiếu khoa học, không hợp lí của con người một cách liên tục trong nhiều năm đã làm cho môi trường tự nhiên ở đây bị biến đổi không ngừng và theo chiều hướng ngày càng xấu đi, gây bất lợi cho con người. Tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, hệ sinh thái bị phá vỡ, môi trường bị ô nhiễm , đó là những nguy cơ báo động, đòi hỏi toàn dân trong tỉnh quan tâm và điều chỉnh kịp thời. * Vấn đề nổi bật về môi trường ở Đà Nẵng phải đề cập đến là bảo vệ tài nguyên và hệ sinh thái rừng Đà Nẵng có tổng diện tích đất rừng 51.421 ha (chiếm 40,95% diện tích đất tự nhiên). Trong đó rừng tự nhiên là: 36.542ha, phân bố ở phía Tây Hòa Vang, một ít ở Liên Chiểu, Sơn Trà. Rừng trồng: 14.878ha, phân bố chủ yếu là Hòa Vang và Liên Chiểu. Rừng ở Đà Nẵng cũng bị chặt phá nhiều, khả năng điều tiết dòng chảy kém khi có mưa lớn và tập trung, làm cho tốc độ lũ trên các sông tăng lên, hiện tượng bồi lấp, xói lở, mức độ bào mòn, rửa trôi đều tăng lên mạnh mẽ, 72
- diện tích đất trống, đồi trọc ở Hòa Vang và Liên Chiểu tăng lên rõ rệt. Hiện nay diện tích rừng vẫn còn tiếp tục giảm cả về số lượng và chất lượng. Rừng bị mất, môi trường bị đảo lộn, hệ sinh thái rừng mất cân bằng dẫn đến một số hậu quả mà nhân dân ở địa phương phải hứng chịu như: - Khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn, nhiều hiện tượng thời tiết đặc biệt thường xảy ra, lũ lụt xảy ra liên tục và gay gắt hơn làm cho mùa màng bị mất trắng, nhà cửa, cầu cống bị hư hỏng, thiệt hại hàng tỉ đồng sau mỗi trận lũ lụt, đặc biệt nhất là những trận lũ lụt năm 1998, 1999, và những năm sau 2000 vừa qua. Các cánh rừng lớn phía tây bị mất đi làm cho gió tây khô nóng dễ tràn vào Đà Nẵng và mức độ ảnh hưởng cũng sâu sắc hơn, thời tiết nóng và khô xảy ra thường xuyên ảnh hưởng không ít đến cây trồng, vật nuôi, người dân thường phải uống nước bị nhiễm mặn do mực nước ngầm bị hạ thấp, nhiều sông suối khô cạn, chẳng hạn trong những năm 80 rừng Sơn Trà tàn phá 16 con suối ở đây bị “chết” hẳn, hiện nay vẫn chưa hồi phục được. Khi rừng bi mất, nạn xói mòn ở vùng đồi núi xảy ra mạnh mẽ hơn, diện tích đất xấu Đà Nẵng đã tăng lên tới gần 50% trong tổng diện tích đất lâm nghiệp. Đó là chưa kể đến hàng loạt lâm thổ sản và động vật quý hiếm mất đi theo rừng, các loại động vật quý như gà lôi trắng, voọc mũi xanh tìm thấy ở rừng những năm 1970, nay không còn nhắc đến nữa. Rõ ràng sự khai thác bừa bãi của nhân dân địa phương đã làm rừng giảm đi nhanh chóng và gây ra hậu quả trước mắt và lâu dài. Đáng tiếc thay các biện pháp ngăn chặn và điều chỉnh của các cơ quan chức năng chưa mấy hiệu lực và chưa kịp thời nên chưa xử lý đúng và kịp các hành động vô tình hay cố ý phá hoại rừng. Vấn đề đầu tư ngân sách để phục hồi và bảo vệ rừng cũng gặp nhiều khó khăn, hằng năm tỉnh mới chỉ đáp ứng được 50% kế hoạch do sở lâm nghiệp dự trù. Gần đây, trước tiếng chuông báo động của rừng, Uỷ ban Nhân dân cùng Sở khoa học Công nghệ và môi trường đã ban bố những quy định quản lí và bảo vệ môi trường. Trên cơ sở pháp lí đó, Sở Lâm nghiệp và đầu tư xây dựng lại khu rừng cấm Sơn Trà, quy hoạch 10.000 ha rừng ở đèo Hải Vân trở thành khu rừng cấm, củng cố và xây dựng lại 14 lâm trường trồng và bảo vệ rừng, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các hạt kiểm lâm nhân dân các cấp, triển khai rộng rãi chương trình PAM dưới nhiều hình thức: tập 73
- thể, giao khoán cho hợp tác xã và cả đến hộ gia đình. Tuy nhiên, những cố gắng đó mới chỉ bù đắp được 10% diện tích rừng bị mất đi. Vì Vậy việc bảo vệ rừng chính là bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững * Nguồn tài nguyên biển giàu cónhưng chưa được khai thác đúng mức, gây lãng phí. Đà Nẵng được thiên nhiên ưu đãi, được coi là nơi có "rừng vàng biển bạc". Với 30km đường biển, và 1 huyện đảo Hoàng Sa là một ngư trường rộng lớn, trữ lượng hải sản lớn, hàng năm có thể khai thác từ 60 – 70 ngàn tấn. Ở đây có nguồn lợi quý báu về hải sản, nhưng cho đến nay vấn chưa có một số liệu cụ thể nào về điều tra, đánh gía và quy hoạch nguồn lợi này. Mấy năm gần đây mới tiến hành khảo sát về đặc điểm khí tượng thuỷ văn tại cửa biển Đà Nẵng và nghiên cứu các sinh vật phù du biển cũng như một số loại hải sản quý như yến sào, ngọc trai, bào ngư Vì vậy, việc đánh bắt hải sản chưa được là bao so với tiền năng sắn có, hơn nữa công cụ đánh bắt còn quá thô sơ nên chỉ tiến hành đánh bắt gần bờ, không ra khơi xa được, mà trữ lượng cá ngoài khơi (độ sâu từ 50 – 200m chiếm tới 48%) và vào mùa mưa bão thì công việc đánh bắt càng bị hạn chế hơn, lưới đánh bắt chưa quy định nên không đảm bảo được các loài hải sản chưa đến tuổi trưởng thành hoặc đang ở các thời kì đẻ, gây lãng phí hơn trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên biển. Đặc biệt, thỉnh thoảng ở nhiều nơi trong địa phương còn vẫn dùng chất nổ để đánh bắt, giết hại nhiều loài hải sản và gây ô nhiễm môi trường. Mặt khác, vùng biển Đà Nẵng còn có nhiều cảnh đẹp và nhiều bãi tắm tốt rất thuận lợi cho phát triển kinh tế du lịch, nhưng tiếc thay chúng ta cúng chưa khai thác tốt tiềm năng này. Chính vì vậy, việc đầu tư nghiên cứu để khai thác và sử dụng tốt tiềm năng nguồn lợi biển ở Đà Nẵng là điều hết sức cần thiết, cùng với nó là việc bảo vệ, làm sạch môi trường biển, vừa tăng giá trị về kinh tế vừa tăng giá trị về văn hoá du lịch. * Đà Nẵng là nơi quần tụ của các thắng cảnh tự nhiên cần được khai thác và bảo vệ. Đà Nẵng là một trong bốn trung tâm du lịch quan trọng của Việt Nam, ở đây phong cảnh hữu tình, con người mến khách, đường sá và giao thông thuận lợi đó là những yếu tố quan trọng để tạo nên một trung tâm du lịch thu 74
- hút được khách thập phương. Ở đây có rất nhiều cảnh đẹp do thiên nhiên ưu đãi. Dọc bờ biển có nhiều nơi có thể sử dụng làm nơi nghỉ mát và bãi tắm tốt như Nam Ô, Xuân Thiều, Mĩ Khê, Tiên Sa, Non Nước, liền với biển là núi non vô cùng thơ mộng như Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Hải Vân, Bà Nà - Núi Chúa và những dòng sông uốn lượn bao quanh thành phố như sông Hàn, Cu Đê, Túy Loan, khiến du khách hài lòng khi đến đây. Có thể đề cập đến một vài danh thắng điển hình - Non Nước Ngũ Hành Sơn: đây là tên gọi của một thắng cảnh tự nhiên, nằm trong trung tâm thành phố Đà Nẵng 8 km về phía Đông Nam. Từ máy bay nhìn xuống, chúng ta sẽ thấy núi Ngũ Hành Sơn nhô cao trên bờ biển cát trắng phía đông và dòng sông lượn lờ phía Tây. Ngũ Hành Sơn trở thành danh thắng từ thời Đại Việt, với nhiều hang động tự nhiên và cho đến nay có một bề dày của biết bao truyền thuyết, sự tích, văn thơ, âm nhạc và hội hoạ. Về mặt địa chất, Ngũ Hành Sơn được cấu tạo toàn bằng đá hoa và đá cẩm thạch có nhiều màu và vân tuyệt đẹp nên cư dân ở đây đã tập trung thành một làng nghề khai thác đá và chế biến đồ đá mĩ nghệ truyền thống có giá trị trên thị trường trong nước và trên thế giới. Chính điều này lại phơi bày mặt trái của nó và qua nhiều năm liên tục khai thác, ngày ngày từng nhóm người đục đẽo, gặm mòn sườn núi, những ngọn núi trong Ngũ Hành Sơn bị sụp lở và có nguy cơ mai một. Do đó, vấn đề bảo vệ thắng cảnh và bảo vệ một làng nghề là điều vô cùng khó khăn thách thức, đòi hỏi phải có nhiều biện pháp tối ưu để giữ gìn lại cho thế hệ mai sau cái khung cảnh tự nhiên rất có giá trị về văn hoá, tinh thần và kinh tế mà bàn tay con người không thể tái tạo lại được. - Hải Vân Sơn: "Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Nằm ở ranh giới giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, là ngọn đèo cao và khúc khuỷu nhất miền Trung. Đi trên ôtô, giữa sườn núi cheo leo bên trời, bên biển, du khách sẽ cảm nhận được hết phong cảnh đầy thơ mộng của Hải Vân, màu xanh của những cánh rừng ở đây sẽ góp phần tô điểm cho Hải Vân thêm phần ý vị. - Núi Tiên Sa: núi Tiên Sa hay còn gọi là Sơn Trà cao 693m so với mặt biển. Đứng bất kì ở đâu trên đất Đà Nẵng cũng đều thấy ngọn núi này nằm xoài ra phía biển, tạo thành một tấm bình phong đồ sộ chắn sóng to gió lớn 75
- cho vũng Hàn (vịnh Đà Nẵng). Trước kia nơi đây có nhiều thú rừng: hươu, nai, vượn, khỉ sinh sống trong những cánh rừng xanh tươi tốt nằm hai bên sườn núi, phong cảnh càng thêm hài hoà với nhiều ngọn suối đổ ra, tạo thành một khu bảo tàng thiên nhiên thật đẹp. Trong nhiều năm chiến tranh và sau chiến tranh, Sơn Trà đã bị tàn phá nặng nề, làm mất đi tới 70% sinh vật cảnh tự nhiên, nhiều động vật quý hiếm bị tiêu diệt, các con suối bị cạn nguồn. Thật may mắn khi chính quyền địa phương đã có những biện pháp tích cực can thiệp kịp thời khi chưa quá muộn. Sơn Trà đang được xây dựng và quy hoạch lại thành một khu rừng cấm của quốc gia. Hiện nay đang khôi phục lại rừng, bảo tồn động thực vật, khôi phục lại các dòng suối, xây dựng nhà nghỉ, khách sạn để thu hút khách đến tham quan. - Bà Nà - Núi Chúa: Bà Nà hay còn gọi là Núi Chúa có độ cao 1.482m so với mặt biển, nằm về phía tây bắc của huyện Hoà Vang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 30km. Điểm đặc biệt là trên đỉnh núi cao ấy lại có địa hình bằng phẳng như một cao nguyên nhỏ. Về mùa hè, trong khi ở Đà Nẵng nhiệt độ lên tới 32oC thì ở đây chỉ có xê dịch từ 17-20oC, ban đêm 15oC làm cho khí hậu ôn hoà. Khi mưa rơi quanh sườn núi thì trên đỉnh vẫn quang đãng, tràn ánh sáng. Nhiều rừng cây, nhiều suối càng tô điểm thêm cảnh đẹp tự nhiên. Nhận rõ ưu thế tuyệt diệu của Bà Nà, năm 1925 Pháp đã chọn nơi này làm địa điểm nghỉ mát, du lịch, nhưng hơn nửa thế kỉ qua kể từ khi Pháp rút đi, Bà Nà đã bị nhân dân quên lãng. Mãi cho đến gần đây Bà Nà mới được nhận diện lại. Thành phố Đà Nẵng đã và đang có kế hoạch phục hồi, xây dựng Bà Nà thành một trung tâm vui chơi, giải trí, nghỉ mát và du lịch của địa phương và để thu hút khách du lịch khắp mọi nơi. b. Đặc điểm về kinh tế- xã hội của Đà Nẵng * Hoạt động sản xuất công nghiệp ở Đà Nẵng và vấn đề môi trường. - Trước tháng 3- 1975 Đà Nẵng là trung tâm thương mại dịch vụ của miền Trung, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu chiến tranh của Mỹ, Nguỵ. Sản xuất công nghiệp chỉ có 200 cơ sở nhỏ, 3 công ty vừa và lớn với 4000 công nhân. 76
- - Sau ngày giải phóng, Đà Nẵng cùng cả nước xây dựng và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Theo thống kê của Liên đoàn lao động, tính đến cuối năm 1996 Đà Nẵng có: • 13 đơn vị doanh nghiệp Trung ương • 28 đơn vị doanh nghiệp địa phương • 26 đơn vị doanh ngiệp liên doanh • 49 đơn vị doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn • 49 đơn vị hợp tác xã • 4338 đơn vị cá thể. Các đơn vị đã giải quyết việc làm cho 50.000 lao động. Hầu hết các nhà máy, xí nghiệp đều nằm rải rác đan xen trong các khu dân cư nội và ngoại thành. Máy móc, thiết bị, trình độ công nghệ rất lạc hậu, hầu như các nhà máy đều chưa có hệ thống xử lí nước thải, chất thải, các hộ cá thể thì lại chủ yếu sản xuất bằng phương pháp thủ công nên mọi vấn đề xử lí nước thải, tiếng ồn, độ rung, bụi đều chưa được chú ý đúng mức, do đó vấn đề hoạt động công nghiệp và ô nhiễm môi trường vẫn là điều đáng lo ngại nhất cho thành phố. Theo thống kê điều tra của Liên đoàn Lao động Thành phố Đà Nẵng trong 170 nhà máy, xí nghiệp kết quả có tới 160/170 nhà máy xí nghiệp có độ độc hại vượt xa mức độ cho phép (chiếm tỉ lệ 93,02%) cụ thể như sau: + 70/160 nhà máy có tiếng ồn > 85 db chiếm 43,75% + 119/160 nhà máy cs độ nóng > 300C chiếm 73,7% + 67/160 nhà máy không đủ điều kiện ánh sáng chiếm 41,8% + 67/160 nhà máy có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn chiếm 47,5% trong đó có 6 nhà máy có bụi SiO2 , 1 nhà máy có bụi amiăng + 48/160 nhà máy có nồng độ hoá chất vượt tiêu chuẩn 30%, trong số này có các bộ phận có nồng độ benzen, chì, crôm, thuỷ ngân, SO2, SO3, H2SO4, thạch tín vượt tiêu chuẩn cho phép. Điều này cho thấy ảnh hưởng của sản xuất công nghiệp đến môi trường là nghiêm trọng và ngày càng tăng, làm ảnh hưởng lớn đến môi trường nước, môi trường không khí và sức khoẻ người lao động và của nhân dân. - Qua báo cáo của Sở Khoa học - Công nghệ MT Thành phố thì MT nước được điều khảo sát và đánh giá như sau: 77
- • Ở một số địa điểm trên các sông, hồ, đầm: Sông Hàn, sông phú Lộc, Đầm Rong, ven biển Thạch Bình, Thuận Phước, hàm lượng oxi hoà tan (DO), nhu cầu oxi sinh hoá (BOD), nhu cầu oxi hoá học (DOD), nitrat (NO3), amoniac (NH4-H), vi khuẩn Ecoli, Fecal coli đều vượt quá giới hạn cho phép nhiều lần, đặc biệt là các chỉ tiêu vi sinh. • Nước ở các trung tâm dân cư, các khu du lịch, dịch vụ đều ô nhiễm do các nhà máy hoá chất, cao su, chế biến hải sản, xi măng, công nghiệp nhẹ, bệnh viện làm cho nồng độ BOD tăng lên từ 50-200mg/l, ô nhiễm hữu cơ tăng thêm 20-30%. • Ô nhiễm môi trường nước ở vịnh Đà Nẵng là nặng nề nhất, vì toàn bộ các chất thải, nước thải của hoạt động công nghiệp, của dân cư, bệnh viện, giao thông đều đổ ra vịnh. • Ở một số khu công nghiệp tập trung như Hoà Khánh - Liên Chiểu, Hòa Khương, vấn đề ô nhiễm càng nặng hơn như Bàu Tràm có diện tích khoảng 6 ha chứa khoảng 1 triệu m3 nước. Trước đây khi chưa có khu công nghiệp Hoà Khánh, đây là nơi sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản rất tốt, sản lượng cá hàng năm 150 tấn. Từ khi khu công nghiệp ra đời, Bàu Tràm trở thành túi đựng nước thải của các nhà máy: dưỡng khí, giấy, hoá chất, bia, sản xuất đồ chơi, xi măng, và các xí nghiệp tư nhân. Bàu Tràm bị ô nhiễm nặng nề, nước trở thành màu đen, độ nhớt cao, sủi bọt, hôi thối. Đo nồng độ BOD, COD, TSS, SS đều vượt quá tiêu chuẩn ch phép nhiều lần, đặc biệt hàm lượng thuỷ ngân cao hơn từ 2-7 lần. - MT không khí cũng bị ảnh hưởng rất lớn. • Hàm lượng bụi tổng hợp ở Thành phố Đà Nẵng vượt từ 1,5 → 2 lần cho phép • Hàm lượng CO trong không khí tại Thành phối Đà Nẵng nằm gần mức hạn cho phép, cá biệt có nơi vượt nhiều từ 1,5 → 2,5 lần (ngã ba Huế, ngã ba Đống Đa - Bạch Đằng). • Ô nhiễm tổng hợp do Hydro - cacbon ( Cx Hy) mức độ nhiễm CH rất rộng từ Hoà Khánh đến quận 3. Hàm lượng CH vượt từ 1,5 → 6 lần mức tiêu chuẩn cho phép. 78
- • Ô nhiễm do tiếng ồn: các nhà máy, xí nghiệp, đường sá, bến tàu, bến xe đều nằm ngay trong thành phố, cường độ tiếng ồn vượt rất lớn từ 10 - 20 db so với tiêu chuẩn cho phép, nhất là các khu Hoà Khánh, Kim Liên, ngã ba Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Trưng Nữ Vương, cầu Nguyễn Văn Trỗi, Phước Tường • Ô nhiễm do hơi độc khói; các loại hơi khí độc như SOx' NOx' Pb do các nhà máy xi măng, hoá chất, cơ khí thải ra ô nhiễm rất cao tới 90%, không những chỉ ảnh hưởng ở khu công nghiệp mà còn bay rất xa. (15) - Ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ người lao động và nhân dân địa phương. Tất cả các vẫn đề ô nhiễm do hoạt động công nghiệp gây ra, cuối cùng là ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống của con người, mà trước tiên là người lao động trong các nhà máy, xí nghiệp. Các bệnh chủ yếu thường người lao động thường bị: viêm tai, mũi, họng, vẹo vách ngăn, viêm mũi dị ứng Môi trường sản xuất và bệnh nghề nghiệp không còn là vấn đề đơn giản, nó đang trở thành một mối nguy cấp đòi hỏi các nhà chức trách, các nhà quản lí cần phải xem xét khẩn trương để hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu cho người lao động. * Hoạt động giao thông vận tải ở Đà Nẵng và vẫn đề môi trường Báo cáo khoa học của Liên đoàn Lao động Thành phố trong hội thảo khoa học thành phố 5/6/1997: Bên cạnh hoạt động sản xuất công nghiệp, thì giao thông vận tải cũng gây không ít vẫn đề cho môi trường. Đà Nẵng là khu vực có mật độ xe và số lượng xe cộ rất lớn. Nhất là trong thời kì đổi mới xây dựng kinh tế thì hệ thống giao thông vận tải ngày càng lớn lên thêm. Trong điều kiện hiện nay: số lượng xe cộ tăng nhanh, mật độ giao thông lớn, nhưng đường sá đang được nâng cấp cho nên vấn đề ô nhiễm cảng trở nên gay gắt hơn. Trong 44 mẫu khảo sát của Sở Khoa học - Công nghệ môi trường thành phố ở các nút giao thông thì đã có tới 39 mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là bụi, tiếng ồn, khí thải * Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở Đà Nẵng và vấn đề môi trường Ở Hoạt Đà Nẵng hoạt động sản xuất nông nghiệp tuy ít hơn các tỉnh khác nhưng vẫn gây ảnh hưởng đến môi trường. 79
- Khi tác động vào đồng ruộng một lượng phân hoá học và thuốc trừ sâu thì tức là cũng tác động vào môi trường đất và nước trên đồng ruộng, nó sẽ làm tăng độ đục của nước do các phân tử sét, thạch cao, các bon nát can xi, tăng độ cứng do nước do muối natri. Trong phân hoá học chứa nhiều NH3, H2 S và các sunfua hoà tan làm cản trở quá trình tự làm sạch của nước bị yếm khí. Các chất hữu cơ bị phân giải xảy ra quá trình khử mạnh, thiếu oxi làm cho các loại cá và thuỷ sinh không sống được. Nước trên đồng ruộng bị nhiễm độc sẽ gây nhiều tác hại: Người lao động trên đồng ruộng tiếp xúc với nước, sự bốc hơi nước thấm qua da vào cơ thể sẽ gây nên một số bệnh: ghẻ lở chân tay, giảm sút thần kinh và một số bệnh khó thấy ngay triệu chứng. Hơn nữa, vấn đề ô nhiễm không chỉ dựng lại ở nguồn nước trên mặt mà còn thấm qua đất ảnh hưởng tới mạch nước ngầm, rất nguy hiểm cho nhân dân dùng nước giếng. Mức độ ô nhiễm môi trường nước được đánh giá qua những biểu hiện cuộc sống của sinh vật, nhưng nó lại rất nguy hiểm vì ảnh hưởng của nó không biểu lộ ngay và rõ ràng như ô nhiễm môi trường đất, nên con người thường chủ quan và không thấy rõ mức độ tác hại. Chính vì vậy chúng ta cần lưu tâm và xem xét nghiêm túc vấn đề này. Hoạt động nông nghiệp hiện nay cũng ảnh hưởng đến chất lượng nông sản. Theo công bố của viện Dinh dưỡng quốc gia, trong những năm gần đây số vụ ngộ độc thức ăn tăng nhanh, vì ăn phải rau quả có dư lượng thuốc trừ sâu quá lớn làm rất nhiều người ngộ độc phải cấp cứu và có nhiều người đã chết. Nguyên nhân vì người trồng cây và nuôi con sử dụng nhiều loại thuốc phun trên tất cả các loại thực phẩm, nhất là các loại thuốc DDT, PCB, PBB, DBCP làm cho các loại rau quả thực phẩm bị nhiễm độc. Các nghiên cứu đã khẳng định ở nồng độ tồn tại PPm, DDT có thể gây đau tim, ung thư khi sử dụng nông sản. Tại Đà Nẵng, kết quả phân tích mẫu rau bắp cải trồng tại Bắc Mỹ an của Trung tâm tiêu chuẩn đo lường chất lượng II cho thấy: dư lượng thuốc tồn đọng từ 0,3-25,06 mg/kg rau tươi, vượt hàng 10 lần so với quy định WHO/FSO (0,1-0,5 mg/g). Nhưng số liệu trên làm chúng ta giật mình lo lắng cho số phận của mình khi hằng ngày sử dụng tất cả các lương thực, thực phẩm đều bị phun thuốc trừ sâu. Phải chăng chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận lại 80
- vẫn đề phát triển kinh tế nông nghiệp bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. 3.1.2. Dựa vào những chủ trương chính sách về môi trường của các cấp lãnh đạo thành phố Đà Nẵng Trước tiếng chuông báo động chung về vấn đề môi trường của nước ta, đặc biệt là trước hiện trạng và thực tế của môi trường địa phương, các cấp lãnh đạo và các ngành liên quan ở Đà Nẵng đã có những chuyển biến lớn về nhận thức và hành động, quan tâm nhiều đến vấn đề môi trường có tính chiến lược. Nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức, các vấn đề về môi trường được làm sáng tỏ, nhiều vẫn đề môi trường có tính chất chiến lược lâu dài được đặt ra đòi hỏi các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan phát triển thành phố phải quan tâm và chú trọng. Đáng chú ý nhất là 29-6-1993 UBND thành phố Đà Nẵng với sự tham gia của Sở Khoa học và Công nghệ và môi trường đã ban hành quy định về quản lí môi trường và môi trường của tỉnh. Bản quy định này gồm 6 chương với 24 điều khoản mang tính pháp luật đối với ngành sản xuất và khai thác các nhành và các ngành có liên quan. Nhìn chung, qua các Hội nghị khoa học, các văn bản cũng như trong bản quy định điều đã chú trọng đến việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên chính của địa phương và chú trọng đến một số vấn đề môi trường nổi cộm, cấp thiết như: * Phải kịp thời ngăn chặn các hành động phá hoại rừng, triển khai ngay kế hoạch trồng rừng, thành lập các khu rừng cấm, phổ biến các quy định về khai thác lâm sản và bảo vệ rừng, quy định quyền hạn của các cấp quản lí, bảo vệ rừng. * Khai thác hợp lí, triệt để tiền năng của biển, quy hoạch và bảo vệ các bãi đẻ và những nơi sinh sống tập trung của các loài thuỷ sản kết hợp với môi trường thuỷ sản. đặc biệt phải chống sự ô nhiễm và tàn phá môi trường biển, kể cả các thắng cảnh thiên nhiên dọc bờ biển. * Giải quyết các vẫn đề ô nhiễm môi trường trước mắt và cục bộ ở một số nơi, tiến tới xây dựng những dự án lớn để xử lí nước thải, chất thải của 81
- thành phố, quy hoạch thành phố gắn liền với xây dựng môi trường xanh sạch đẹp. * Tuyên truyền, giáo dục rộng rãi vấn đề môi trường cho tất cả các tầng lớp nhân dân địa phương, cho các ngành, các giới, đặc biệt là chú trọng giáo dục môi trường cho học sinh trong trường học. Đây cũng chính là những cơ sở thực tiến mang tính pháp lí để giáo viên có thể lựa chọn những vẫn đề về môi trường địa phương để đưa vào bài dạy địa lí Việt Nam. 3.1.3. Dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Đà Nẵng đối với vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường Ở lứa tuổi học sinh, học sinh Đà Nẵng cũng có những đặc điểm về tâm sinh lí lứa tuổi chung, đó là sự phát triển nhảy vọt về thể chất và tâm sinh lí trong thời kì giao thời của sự chuyển dàn từ trẻ con sang người lớn, tạo cho lứa tuổi này luôn những mâu thuẫn nội tâm. Các em thường xuyên bộc lộ những hành động và cử chỉ hồn nhiên vô ý thức của tuổi nhỏ như tò mò, ham hiểu biết, có khát vọng nhận thức, vì vậy các em càng hay hiểu rộng hay trèo cây, bẻ cây, bắt chim, bắn chim, quậy phá mà chưa nhận biết được tác hại của những việc này đối với môi trường xung quanh. Mặt khác, các em lại có những suy nghĩ và ham muốn như người lớn. Các em bước đầu đã có ý thức về bản thân mình, về vị trí của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội, bắt đầu đã có xu hướng tich cực trong các hoạt động giáo dục như tính tự lực, lòng tự trọng, tự ái. Về tình cảm, các em đã có những rung cảm mang ý nghĩa xã hội như biết yêu thương cộng đồng, kính trọng, yêu mến những cái tốt, căm ghét những cái xấu. Các mối quan hệ tập thể, bạn bè trong trường, lớp đã có tác dụng lớn đến sự phát triển nhân cách của các em. Điều này rất thuận lợi để giáo viên hướng dẫn cho các em biết phân biệt những việc làm tốt và chưa tốt trong những hành vi tác động đến môi trường. Trong hoạt động nhận thức, các em chuyển dần từ sự nhận biết những khái niệm cụ thể sang khái niệm trìu tượng, khái quát hơn, đã có khả năng tiến hành các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp và ứng dụng những trí thức trong sách vở vào thực tiễn. Nhờ vậy, các em có thể nắm bắt được bản chất sự vật, hiện tượng và có thể diễn đạt các bài luận, bằng chính ngôn ngữ của mình. Vì chưa rời hẳn tuổi thơ nên các em vẫn ham thích những hoạt động vui nhộn, không thích những việc bị gò bó, 82
- câu thúc, căng thẳng và buồn tẻ. Sự phát triển tâm sinh lí, đặc biệt là sự tự ý thức về vai trò và vị trí của mình trong cộng đồng và xã hội của lứa tuổi này là điều kiện cần thiết để tác động vào các mặt giáo dục nói chung và giáo dục môi trường nói riêng, do đó người giao viên nên lựa chọn những hình thức và phương pháp giáo dục phù hợp để áp dụng cho có kết quả. Ngoài những đặc điểm chung về tâm sinh lí lứa tuổi, học sinh Đà Nẵng còn có những nét tính cách rất riêng mang đặc trưng của người xứ Quảng đó là tinh thần hiếu học, cần cù, chăm chỉ, tiết kiệm, luôn là tự hào coi trọng truyền thống văn hoá và bản sắc dân tộc địa phương nên họ rất gắn bó với quê hương xứ sở. Khác với sự tế nhị, kín đáo của người Bắc và sự vui vẻ, phóng khoảng của người Nam. Những nét tính cách rất "Quảng Nam" này cũng bắt đầu bộc lộ ở lứa tuổi các em. Do đó, trong mọi sinh hoạt các em thường bày tỏ thái độ yêu ghét rõ ràng, không quanh co, rào đón Với các đặc điểm về tâm sinh lí và những nét tính cách ấy của học sinh Đà Nẵng, việc giáo dục môi trường trong trường học rất phù hợp và có nhiều thuận lợi. Để tìm hiểu thái độ của học sinh đối với vấn đề môi trường mà các em được biết qua các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tối đã tiến hành một bài kiểm tra trắc nghiệm nhỏ nhằm mục đích: - Kiểm tra thái độ học sinh đối với môi trường bị tàn phá, ô nhiễm - Kiểm tra thái độ học sinh đối với vài hành vi cụ thể của việc bảo vệ môi trường và phá hoại môi trường - Kiểm tra thái độ của học sinh đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Bài kiểm tra được tiến hành theo phương pháp Test, áp dụng thang Likevt thuận, mỗi câu hỏi đặt ra có 3 mức độ tỏ thái độ: đồng ý, phân vân, không đồng ý. Học sinh khi trả lời sẽ lựa chọn thái độ của mình trước những vẫn đề đặt ra trong câu hỏi và đánh dấu (x) vào một trong 3 thái độ. Kết quả thăm dò thái độ thể hiện ở bảng sau 83
- Bảng 6: Kết quả điều tra thái độ học sinh đối với vấn đề môi trường Các vấn đề môi trường được hỏi Đồng ý Phân vân Không đồng ý 1. MT địa phương nào bị tàn phá, 100% 0% 0% bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hiện tại và lâu dài của nhân dân địa phương đó. 2. Sự tăng dân số nhanh là một 38,5% 36,9% 24,6% trong những nguyên nhân gây nên nạn phá rừng. 3. Bẻ cây trong trường hợp chính là 43,2% 31,3% 25,5% một hành động phá hoại MT. 4. Làm cho trường lớp sạch đẹp, 31,2% 43,1% 25,7% thoáng mát chính là hành động bảo vệ môi trường 5. Bảo vệ môi trường địa phương là 35,4% 33,4% 31,2% nhiệm vụ của mọi người, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên trong nhà trường. 6. Bảo vệ môi trường là hành vi 14,4% 49,2% 35,4% đạo đức của mỗi học sinh. Kết quả kiểm tra cho thấy thái độ học sinh còn phân vân rất nhiều với lí do các em chưa hiểu cặn kẽ được những vẫn đề môi trường, có em viết thêm vào phiếu: "Trường, lớp không phải là môi trường" hoặc "Dân số tăng nhanh chưa phải là nguyên nhân gây phá rừng" Như vậy, đưa giáo dục môi trường địa phương vào bài dạy địa lí Việt Nam là rất cần thiết, đáp ứng được nhu cầu nhận thức và tìm hiểu thế giới xung quanh của các em, cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản về môi trường mà các em còn chưa biết, kích thích tình yêu quê hương làng xóm của 84
- các em. Để sau khi ra đời các em sẽ trở thành những người lao động có hiểu biết, có trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường địa phương. 3.1.4. Dựa vào điều kiện hoàn cảnh và tình hình giáo dục môi trường hiện nay của các trường phổ thông ở Đà Nẵng Mặc dù chương trình cải cách giáo dục phổ thông đã đề cập đến vấn đề đưa giáo dục môi trường vào bộ môn địa lí, nhưng thực tế ở các trường phổ thông tại Đà Nẵng việc thực hiện chưa mang lại hiệu quả rõ rệt. Khi điều tra và trao đổi với 53 giáo viên dạy địa lí ở các trường trung học cơ sở, chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng 7 Bảng 7: Kết quả thăm dò giáo viên về vấn đề giáo dục môi trường Nội dung trao đổi Số ý kiến Tỉ lệ % 1. Về nội dung chương trình, SGK a. Chương trình chưa đề cập đến vấn đề 25/53 47,70 môi trường một cách đầy đủ và cụ thể b. Sách giáo khoa thể hiện còn sơ sài 28/53 52,83 vấn đề môi trường c. Cần phải có một tài liệu hướng dẫn 51/53 96,23 trong từng bài, từng chương về vấn đề giáo dục môi trường. 2. Việc thực hiện nội dung giáo dục môi trường trong chương trình địa lí. a. Có chú ý lồng vào bài giảng. 11/53 20,75 b. Có lúc đưa vào có lúc không. 23/53 43,39 c. Chưa đưa vào bài dạy vì thời gian ít 19/53 35,84 và tài liệu chưa đủ. 3. Tác dụng của GDMT: a. Giúp học sinh mở rộng kiến thức địa 53/53 100,00 lí. b. Giúp học sinh yêu thiên nhiên, yêu 45/53 84,90 quê hương đất nước. c. Giúp học sinh trong quá trình lao 22/53 41,50 động sản xuất sau này. 85
- Kết quả trao đổi này cho thấy, vấn đề giáo dục môi trường trong nhà trường có vai trò rất quan trọng, đối với một bộ môn được coi là rất thuận lợi trong giáo dục môi trường như môn địa lí mà giáo viên vẫn còn lúng túng nhiều trong việc đưa kiến thức môi trường vào bài dạy địa lí, giáo viên chưa vận dụng linh hoạt và cũng chưa kết hợp những kiến thức địa lí và kiến thức môi trường. Hơn nữa, vì chưa có một văn bản pháp lí nào nên việc giáo dục môi trường cũng chưa là vấn đề quan trọng, bắt buộc đối với giáo viên, nên kết quả thu được không đáng là bao. Hầu như tất cả giáo viên đều mong muốn có một tài liệu hướng dẫn về kiến thức và phương pháp giáo dục môi trường. Phân tích kết quả và dựa vào tình hình khảo sát thực tế theo chúng tôi thấy có những nguyên nhân sau đây: * Quan niệm về giáo dục môi trường trong các môn học, cụ thể môn địa lí chưa rõ ràng, chưa có quy định chặt chẽ về việc phải tiến hành giáo dục môi trường cho học sinh thông qua môn học, dạy ở mức độ nào, kiến thức gì, dẫn đến tình trạng giáo viên có giáo dục môi trường hay không cũng chẳng ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo. Hơn nữa, các kiến thức về môi trường đưa vào phải mất thời gian tìm tòi, suy nghĩ, phải đầu tư công sức cho nên họ thường ngại đề cập đến vấn đề này. * Việc cải cách giáo dục và cải cách sư phạm không đồng bộ, nên một số khoá trước kia ra trường chưa được trang bị thêm một số chuyên đề mới mang tính thời sự cấp bách như: Giáo dục dân số, giáo dục môi trường, ma tuý, vấn đề bồi dưỡng giáo viên cũng chưa đề cập đến vấn đề này cho nên hiệu quả giáo dục môi trường không cao cũng là một thực tế. * Tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo, các phương tiện thiết bị dạy học, các tài liệu thông tin tuyên truyền còn quá ít ỏi, nhất là đối với đại đa số các trường ở nông thôn, miền núi. Ở nhiều trường ngay cả những phương tiện tối thiểu của địa lí như: bản đồ, quả địa cầu vẫn còn thiếu, vì vậy không thể đòi hỏi trang bị ngay được các phương tiện dạy học hiện đại như video, đèn chiếu, báo chí, những phương tiện này rất cần cho giáo dục môi trường. Những lí do vừa kể trên đã ảnh hưởng không ít đến giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông nói chung và qua môn giảng dạy địa lí nói 86
- riêng, và như vậy tất yếu cũng ảnh hưởng đến nhận thức của học sinh về vấn đề môi trường là rất hạn chế. Đó là một thực tế đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ của các cấp lãnh đạo liên ngành, của giáo viên và học sinh thì mới thực hiện được nhiệm vụ chiến lược của thời đại. 3.2. NHỮNG KIẾN THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG ĐÀ NẴNG THÔNG QUA MÔN ĐỊA LÍ VIỆT NAM 3.2.1. Trong bài dạy nội khoá Từ cơ sở lí luận và thực tiến đã được trình bày ở chương 1, 2, 3 chúng tôi đã tiến hành lựa chọn kiến thức về môi trường địa phương Đà Nẵng để đưa vào bài dạy địa lí Việt Nam, sử dụng những phương pháp đã đưa vào ra ở các phần trên để tiến hành giáo dục môi trường. Chúng tôi trình bày cụ thể ở bảng 8 và 9 sau đây: Bảng 8: Các kiến thức và phương pháp giáo dục môi trường địa phương Đà Nẵng qua bài dạy nội khoá địa lí lớp 8 Nội dung bài học chính Các kiến thức và phương pháp giáo dục môi trường địa phương Đà Nẵng Bài 24: Vùng biển Việt - Liên hệ với vùng biển Đà Nẵng bằng các Nam. phương pháp: 1. đặc điểm chung của + Đọc một vài đoạn văn nói về những cảnh đẹp vùng biển Việt Nam. của Đà Nẵng như Hải Vân, Sơn Trà, Ngũ Hành 2. Tài nguyên và bảo vệ Sơn ), và nói về nguồn lợi quý hiếm của vùng môi trường biển VN biển này. + Học sinh nhận xét đoạn văn trên và rút ra kết luận về vai trò ý nghĩa của vùng biển địa phương mình đối với đời sông svà kinh tế của địa phương. + Giáo viên có thể nêu thêm câu hỏi để học sinh về suy nghĩ: Muốn bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá đó cần phải làm gì? 87
- Bài 27: Thực hành đọc - Kết hợp cho bài tập để học sinh tự tìm hiểu suy bản đồ Việt Nam nghĩ và làm bài. (phần hành chính và BT1: Xác định vị trí địa lí của Nẵng trên bản đồ khoáng sản) Việt Nam. BT2: Tìm hiểu diện tích, dân số, mật độ dân số của Đà Nẵng và cho nhận xét. BT3: Tìm hiểu Đà Nẵng có những loại tài nguyên khoáng sản nào? - Giáo viên sẽ kiểm tra, bổ sung vào giờ học sau. Bài 28, 29: Đặc điểm - Liên hệ với môi trương địa phương bằng địa hình Việt Nam. phương pháp đàm thoại gợi mở kết hợp với bản - Các đặc điểm của địa đồ. hình + Khi phân tích đặc điểm địa hình, giáo viên đặt - Các khu vực địa hình câu hỏi: Nhìn trên bản đồ tự nhiên Đà Nẵng và quan sát thực tế địa phương, hãy cho biết những nét cơ bản của địa hình Đà Nẵng - Giáo viên gợi ý: tỉ lệ núi? đồng bằng? Đặc điểm của núi, của đồng bằng? Bài 30: Thực hành Đọc - Kết hợp cho bài tập để học sinh tự làm: bản đồ địa hình Việt BT1: Xác định đúng vị trí của Đà Nẵng và điền Nam tên lên bản đồ. BT2: Điền tên các ngọn núi cao > 1000m của Đà Nẵng lên bản đồ. - Giáo viên kiểm tra đánh giá vào giờ học sau. 88
- Bài 31: Đặc điểm khí - Liên hệ với môi trường địa phương bằng hậu Việt Nam. phương pháp đàm thoại gợi mở. - Các đặc điểm của khí 1. Khí hậu Việt Nam mang lại cho Đà Nẵng hậu Việt Nam. những thuận lợi và khó khăn gì? - Các mùa khí hậu và 2. Phải làm gì để giảm bớt và khắc phục những thời tiết khó khăn đó? - Những thuận lợi và - Giáo viên củng cố và bổ sung cho câu trả lời. khó khăn do khí hậu mang lại. Bài 33, 34: Sông ngòi - Liên hệ với sông ngòi Đà Nẵng bằng phương Việt Nam. pháp mô tả kết hợp đàm thoại. 1. Đặc điểm chung của + Giáo viên mô tả bằng hình vẽ ảnh hưởng của sông ngòi Việt Nam. dãy Trường Sơn đến đặc điểm của sông ngòi Đà - Khai thác kinh tế và Nẵng bảo vệ sự trong sạch + Giáo viên đặt câu hỏi: Lấy thực tế sông ngòi của các dòng sông Đà Nẵng để trả lời các câu hỏi trong SGK. 2. Các hệ thống sông + Giá trị của sông ngòi Đà Nẵng? cần làm gì để lớn giữ gìn sự trong sạch của sông? Bài 35: Thực hành về - Kết hợp cho bài tập để học sinh tự làm khí hậu, thủy văn VN BT1: Em hãy tìm hiểu về mùa mưa của Đà Nẵng 1. Vẽ biểu đồ thể hiện - Giáo viên gợi ý: Nguyên nhân mưa? Thời gian chế độ mưa, dòng mưa? Ảnh hưởng của mùa mưa? Các biện pháp chảy phòng tránh? 2. Tính thời gian, độ dài BT2: Phân tích mối quan hệ giữa mưa và lũ trên mùa mưa các sông ở Đà Nẵng 3. Nhận xét về quan - Giáo viên đánh giá, kiểm tra vào giờ học sau. hệ giữa mưa và lũ . 89
- Bài 36: Đặc điểm đất - Liên hệ với đất ở Đà Nẵng bằng phương pháp Việt Nam đàm thoại kết hợp với minh hoạ 1. Đặc điểm chung của 1. Em hãy suy nghĩ ở địa phương em có mấy loại đất Việt Nam. đất chính? 2. Vấn đề sử dụng và 2. Đất ở Đà Nẵng có bị xói mòn, rửa trôi, thoái cải tạo đất Việt Nam. hoá không? Vì sao? 3. Làm gì để bảo vệ tài nguyên đất của địa phương em? - Giáo viên có thể cho một số tài liệu để minh hoạ. Bài 37, 38: Đặc điểm - Liên hệ tới tài nguyên rừng Đà Nẵng bằng sinh vật Việt Nam. phương pháp sử dụng sơ đồ thực quan kết hợp 1. Đặc điểm chung . minh hoạ tranh ảnh, số liệu và đàm thoại gợi mở. 2. Bảo vệ tài nguyên + Sử dụng sơ đồ về mối liên hệ nhân quả khi mất sinh vật VN. rừng. + Sử dụng một số số liệu về diện tích rừng của Đà Nẵng qua một số năm, và một vài hình ảnh về sự tàn phá rừng. + Kết hợp với một số câu hỏi: 1. Diện tích rừng của địa phương giảm do nguyên nhân gì? hậu quả của nó? 2. Cần làm gì để bảo vệ rừng? - Học sinh nhìn vào sơ đồ có thể trả lời các câu hỏi trên. 90
- Bài 39: Đặc điểm chung - Liên hệ với môi trường địa phương bằng của tự nhiên Việt Nam. phương pháp đàm thoại gợi mở: 1. VN là 1 nước nhiệt Các em hãy suy nghĩ 4 đặc điểm trên thể hiện ở đới gió mùa. Đà Nẵng như thế nào? 2. VN là 1 nước ven - Câu hỏi này giáo viên nên đặt ra ở cuối ngày để biển. sau khi học xong học sinh có thể vận dụng suy 3. VN là xứ sở của đồi nghĩ và trả lời được. núi 4. Thiên nhiên phân hoá đa dạng, phức tạp Bài 41: Miền nam - Liên hệ với Quảng Nam và Đà Nẵng bằng Trung bộ và Nam bộ. phương pháp đàm thoại gợi mở. 1. Vị trí, phạm vi 1. Đà Năng nằm ở vị trí như thế nào của miền? 2. Một miền nhiệt đới 2. Qua tìm hiểu và các bài liên hệ em hãy cho gió mùa . biết Đà Nẵng có những nguồn tài nguyên thiên 3. Trường Sơn nam nhiên nào quan trọng nhất? hùng vĩ 3. Em có nhận xét gì về việc sử dụng các nguồn 4. Tài nguyên phong tài nguyên đó? phú Bài 44: Tìm hiểu địa - Đây là bài có thể giáo dục môi trường địa phương phương cho học sinh một cách tổng quát về môi trường tự nhiên của địa phương - Liên hệ bằng PP cho bài tập để học sinh tìm hiểu về địa phương của mình: + Tìm hiểu về Vị trí, phạm vi lãnh thổ của địa phương + Khái quát những đặc điểm tự nhiên đã lồng ghép ở các bài trên + Ý nghĩa của môi trường tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đối với cả nước 91
- Bảng 9: Các kiến thức và phương pháp giáo dục môi trường địa phương Đà Nẵng qua bài dạy nội khoá địa lí lớp 9 Nội dung bài học chính Các kiến thức và phương pháp giáo dục môi trường địa phương Bài 2: Dân số và sự gia tăng dân số - Liên hệ tới môi trường Đà Nẵng 1. Số dân bằng phương pháp và đàm thoại gợi 2. Sự gia tăng dân số mở kết hợp với giảng giải minh hoạ. 3. Cơ cấu dân số + Giáo viên giảng giải và minh hoạ bằng một số liệu về dân số và mức độ tăng tăng dân số của Đà Nẵng và nêu câu hỏi: 1. Mức tăng dân số của Đà Nẵng là nhanh hay chậm? Có ảnh hưởng gì đến kinh tế xã hội Đà Nẵng? 2. Phải làm gì để dân số của địa phương tăng phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế? 3. Giải quyết vấn đề tăng dân số có phải là giải quyết vấn đề MT hay không ? Tại sao? - Giáo viên bổ sung hoàn chỉnh câu trả lời. Bài 3: Sự phân bố dân cư và các loại - Liên hệ tới môi trường Đà Nẵng hình quần cư. bằng phương pháp và đàm thoại gợi 1. Mật độ dân số và phân bố dân cư. mở kết hợp với giải minh hoạ. 2. Các loại hình quần cư. + Giáo viên sau khi phân tích giảng 3. Đô thị hóa giải về mật độ dân số , có thể lấy ví dụ về mật độ dân số ở một số quận của Đà Nẵng và nêu câu hỏi: Sự phân bố như vậy có ảnh hường gì đến môi trường? 92
- + Khi phân tích về ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, giáo viên đặt câu hỏi: Em có nhận xét gì về quá trình đô thị hóa của thành phố Đà Nẵng? Những vấn đề môi trường cần quan tâm ở đây là gì? - Giáo viên bổ sung hoàn chỉnh câu trả lời. Bài 9: Sự phát triển và phân bố lâm - Liên hệ tới môi trường Đà Nẵng nghiệp, thủy sản bằng phương pháp đàm thoại gợi mở 1. Lâm nghiệp kết hợp minh hoạ. - Tài nguyên rừng + Khi giáo viên phân tích và khai - Sự phát triển và phân bố lâm thác và trồng rừng ở nước ta có thể nghiệp liên hệ về tình hình khai thác, trồng 2. Ngành thủy sản rừng ở Đà Nẵng, giáo viên đặt câu - Nguồn lợi thuỷ sản hỏi: - Sự phát triển và phân bố ngành 1. Việc khai thác rừng của Đà Nẵng thủy sản như thế nào? Cần làm gì để vừa khai thác vừa bảo vệ tốt nguồn tài nguyên này? 2. Đà Nẵng rất giàu về tài nguyên biển, nhưng việc khai thác nguồn tài nguyên này như thế nào? - Để học sinh có thể trả lời tốt giáo viên nên gợi ý và cho các em một số số liệu để minh hoạ: diện tích rừng hiện còn so với tổng diện tích đất rừng tự nhiên, sản lượng đánh bắt hải sản so với tiềm năng - Sau khi học sinh trả lời, giáo viên bổ sung và hoàn chỉnh. 93
- Bài 12: Sự phát triển và phân bố - Liên hệ tới môi trường Đà Nẵng công nghiệp bằng phương pháp đọc trích dẫn tài 1. Cơ cấu ngành công nghiệp liệu, đàm thoại gợi mở kết hợp minh 2. Các ngành công nghiệp trọng hoạ. điểm + Khi nói về các ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta, giáo viên đặt câu hỏi: 1. Đà Nẵng có những ngành công nghiệp nào quan trọng? 2. Sự phát triển công nghiệp ở Đà Năng có gây ảnh hưởng đến môi trường không? Tại sao? - Giáo viên bổ sung, nhận xét Bài 14: Giao thông vận tải và bưu - Liên hệ tới môi trường Đà Nẵng chính viễn thông bằng phương pháp sơ đồ minh hoạ 1. Giao thông vận tải kết hợp với đàm thoại gợi mở và - Ý nghĩa minh hoạ. - Tình hình phát triển + Khi nói về vai trò của giao 2. Bưu chính viễn thông thông vận tải giáo viên đề cập đến tính chất hai mặt của nó và đưa ra sơ đồ: chu trình sử dụng nguyên liệu và chất thải của ngành giao thông vận tải đường ôtô và nêu câu hỏi. 1. Tình hình hoạt động của giao thông vận tải ở thành phố Đà Nẵng? Ảnh hưởng của nó tới môi trường? 2. Cần làm gì để hạn chế những ảnh hưởng trên? + Giáo viên minh hoạ thêm một số số liệu về tỉ lệ các chất thải, bụi, tiếng ồn ở các điểm nút giao thông của Đà Nẵng. 94
- Bài 15: Thương mại và du lịch - Liên hệ tới môi trường Đà Nẵng 1. Thương mại bằng phương pháp đàm thoại gợi mở - Nội thương. kết hợp giảng giải và minh hoạ. - Ngoại thương. 1. Đà Nẵng có những tiềm năng gì 2. Du lịch để ngành thương mại và du lịch phát triển? 2. Hãy nêu một vài mối quan hệ giữa môi trường và sự phát triển du lịch ở địa phương? - Để học sinh trả lời được 2 câu giáo viên có thể giảng giải và lấy một vài ví dụ minh hoạ để học sinh có thể thực tế địa phương để trả lời. Bài 25, 26: Vùng duyên hải Nam - Liên hệ tới môi trườngbĐà Nẵng Trung Bộ. bằng phương pháp đàm thoại gợi mở 1. Vị trí, giới hạn kết hợp minh hoạ. 2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên 1. Qua các bài về vùng kinh tế Nam thiên nhiên Trung Bộ em hãy cho biết: 3. Đặc điểm dân cư, xã hội - Đà Nẵng nằm trong khu vực nào 4. Tình hình phát triển kinh tế của vùng? 5. Các trung tâm - Đà Nẵng có những thế mạnh gì đóng góp vào thế mạnh của vùng? - Đà Nẵng cần giải quyết những khó khăn gì trong phát triển kinh tế và vấn đề môi trường? 2. Giáo viên có thể lồng mỗi ý nhỏ vào trong phần của vùng để dễ liên hệ. Sau đó tổng hợp lại Bài 41, 42, 43, 44: Địa lí địa - Cho học sinh bài tập tìm hiểu, phương. nghiên cứu theo hệ thống các câu 95
- (Địa lí tỉnh hoặc thành phố) hỏi sau: - Các vấn đề về địa lí tự nhiên 1. Hãy nêu đặc điểm về môi trường - Dân cư và lao động tự nhiên Đà Nẵng, từ đó rút ra - Kinh tế những thuận lợi và khó khăn của - Thực hành về địa lí địa phương môi trường tự nhiên Đà Nẵng ? 2. Đà Nẵng có những nguồn TNTN nào chủ yếu để phát triển kinh tế xã hội địa phương? 3. Những vẫn đề môi trường nổi bật nhất của Đà Nẵng hiện nay? 4. Mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết vấn đề môi trường ở Đà Nẵng. 5. Đà Nẵng đã có chủ trương chính sách, các biện pháp gì để giải quyết những vấn đề môi trường? - Học sinh nghiên cứu, giáo viên hướng dẫn viết báo cáo hoàn thiện trình bày trên lớp. 3.2.2. Những kiến thức và phương pháp giáo dục môi trường địa phương Đà Nẵng trong hoạt động ngoại khoá. a. Đối với lớp 8 * Sinh hoạt câu lạc bộ địa lí với hình thức: - Tổ chức cuộc thi tìm hiểu các danh lam thắng cảnh của Đà Nẵng. - Tổ chức thi "Đố vui địa lí" với 2 chủ đề "Đà Nẵng thành phố cảng của em " và "Em yêu rừng, biển quê em". * Tổ chức tham quan thực tế môi trường ở Đà Nẵng - Tham quan một số khu vực bị ô nhiễm nhất của Đà Nẵng - Tham quan nơi môi trường được cải tạo đẹp đẽ nhất: như công viên 29 -3 được xây dựng lên từ bãi rác thành phố. * Tổ chức thảo luận về 2 vấn đề 96
- - Du canh và sự phá rừng. - Bảo vệ làng nghề truyền thống và bảo vệ thắng cảnh Non Nước. b. Đối với lớp 9 * Tổ chức thuyết trình về 2 chủ đề: - Dân số và môi trường địa phương. - Hoạt động công nghiệp ở Đà Nẵng và vẫn đề ô nhiễm môi trường * Tổ chức tranh luận về chủ đề: "Sinh đẻ có kế hoạch của địa phương" - Nhóm 1: thành phố Đà Nẵng phải sinh đẻ có kế hoạch. - Nhóm 2: Thành phố Đà Năng chưa cần sinh đẻ có kế hoạch. * Hoạt động dã ngoại: Nghiên cứu chất lượng nước của Bàu Tràm. * Tham quan thực tế MT địa phương - Tham quan khu công nghiệp Hoà Khánh. - Tham quan nhà máy hoá chất Đà Nẵng. 3.2.3. Các hoạt độn thực tiến nhằm giữ gìn và BVMT địa phương - Lao động vệ sinh trường lớp định kì mỗi tuần 1 lần vào thứ 5 hoặc thứ 7. - Phát động phong trào "Mỗi học sinh là một tuyên truyền viên" về môi trường và bảo vệ môi trường ở gia đình, ở trong lớp học và ở phường, xã. 3.3. MỘT SỐ BÀI DẠY CỤ THỂ. Trên cơ sở lí lụân đã trình bày, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm qua một số bài dạy cụ thể nhằm: - Kiểm nghiệm tính khả thi của nội dung và phương pháp giáo dục môi trường đã lựa chọn ở trên. - Thăm dò kết quả của việc thực hiện giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông qua việc cung cấp những kiến thức cơ bản về môi trường tự nhiên ở địa phương và một số kinh nghiệm hoạt động của nhân dân địa phương trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường - Trên cơ sở đó giáo dục học sinh có nhận thức, thái độ và hành vi đối với môi trường; Rèn luyện và tạo điều kiện cho học sinh thể hiện bằng hành động và những kĩ năng bảo vệ môi trường xung quanh nơi các em sinh sống và học tập. 97
- 3.3.1. Các bài dạy nội khóa Bài 24: Vùng biển Việt Nam (địa lí lớp 8) 1. Mục đích giáo dục môi trường: - Học sinh (HS) hiểu rõ: Biển cũng là một bộ phận cấu thành quan trọng của đất nước ta và nó có vai trò to lớn. - Qua bài học sinh cũng hiểu được Đà Nẵng có một vùng biển rộng, giàu tài nguyên. Các em cần phải hiểu những thuận lợi và khó khăn cơ bản trong việc khai thác vùng biển quê hương, qua đó nhận thức được sự cần thiết phải bảo vệ nguồn tài nguyên này, đặc biệt là chống những hoạt động làm ô nhiễm môi trường biển của địa phương. 2. Đồ dùng dạy học: - Bản đồ tự nhiên Việt Nam. - Bản đồ tự nhiên Đà Nẵng - Các tài liệu minh hoạ cho việc bảo vệ môi trường biển của Đà Nẵng, 3. Tiến trình bài giảng: Sau khi phần 2 giáo viên (GV) củng cố bài dạy và liên hệ với vùng biển địa phương bằng phương pháp đọc trích dẫn tài liệu kết hợp đàm thoại. GV đọc một đoạn văn ngắn nói về cảnh đẹp và nguồn lợi biển của Đà Nẵng trong cuốn: Việt Nam non xanh nước biếc của Hoàng Thiếu Sơn và Tạ Thị Bảo Kim - NXB. Giáo dục Hà Nội, 1991 về: - Hải Vân: Đệ nhất tùng quan - trang 41. - Non Nước Ngũ Hành - trang 37 - Tiên Sa Sơn Trà - trang 65 Đọc xong, GV nêu câu hỏi: qua các đoạn văn trên các em rút ra vai trò và ý nghĩa của vùng biển Đà Nẵng so với những vùng biển khác? HS trả lời: Biển Đà Nẵng cũng có tác dụng điều hoà khí hậu, cung cấp nhiều loại hải sản, cát, muối ăn GV bổ sung: Đường bờ biển ĐN kéo dài 30 km, ở đây có những đặc sản, có nhiều cảnh đẹp, nhiều bãi tắm tốt rất có giá trị du lịch, vùng biển Đà Năng đã từ lâu được mệnh danh là "Hải khấu nước sâu đậu tàu" rất thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn. 98
- Tuy nhiên, vùng biển Đà Nẵng cũng đang nằm trong tình trạng chung của cả nước là chưa điều tra kĩ và chưa khai thác được là bao. GV đặt câu hỏi tiếp: "Theo các em vùng biểm ở Đà Nẵng đã bị ô nhiễm chưa? Nếu có thì ở đâu? Và do nguyên nhân nào?". HS trả lời có và ở các bãi biển ven thành phố, chưa giải thích được nguyên nhân. GV bổ sung: "Nguyên nhân ô nhiễm là do bị nước thải, chất thải của thành phố từ cống rãnh đổ ra". Cuối cùng GV kết luận: "Bảo vệ môi trường biển là điều hết sức cần thiết để cho nguồn tài nguyên biển tăng thêm giá trị nhưng bảo vệ bằng cách nào? Các em hãy suy nghĩ và lần sau trả lời". 4. Nhận xét bài giảng: Qua phần liên hệ, GV đã thực hiện mục đích giáo dục môi trường biển của địa phương. Tuy không nhiều nhưng HS đã hiểu một số thuận lợi và khó khăn cơ bản của vùng biển quê mình; đồng thời cũng thấy được sự cần thiết phải bảo vệ môi trường biển. Những kiến thức môi trương địa phương được liên hệ ở cuối bài đã giúp HS hiểu thêm bài học mới và thấy được giá trị của vùng biển nước ta, giúp cho bài học kết quả tốt. (Phần liên hệ tới môi trường địa phương mất 5 phút). * Bài 38: Bảo vệ tài nguyên sinh vật Việt Nam (địa lí lớp 8) 1. Mục đích yêu cầu của bài: - HS hiểu rõ được giá trị to lớn của tài nguyên sinh vật Việt Nam và những nguyên nhân làm tổn hại của giới sinh vật nước ta. - HS hiểu được thực trạng tài nguyên rừng ở Đà Nẵng và những nguyên nhân làm suy giảm rừng, các biện pháp bảo vệ rừng ở Đà Nẵng. 2. Đồ dùng dạy học: - Bản đồ Việt Nam. - Sơ đồ chuỗi các mỗi liên hệ nhân quả của sự mất rừng Một số tài liệu, tranh ảnh minh hoạ cho sơ đồ 6 liên hệ tới tài nguyên rừng của địa phương. 99
- Sơ đồ 6: Chuỗi liên hệ nhân quả do mất rừng (GV tự vẽ) Khai thác bừa Du canh đốt Chiến tranh phá bãi lâm sản và Du cư rừng hoại rừng của Pháp khoảng sản và Mĩ Hàm lượng CO Dòng chảy không 2 Mất rừng tăng => khí hậu tiêu hoà => lũ lụt, xấu đi hạn Con người mất nơi Quá trình xói Mất tài nguyên sinh ngỉ ngơi giải trí => mòn rửa trôi tăng vật => mất những sức khoẻ kém => đấtxấu đi mẫu chuẩn TN => Canh cư, định cư BẢO VỆ RỪNG: => Ban hành luật khai thác => Trồng, bảo vệ rừng, thành lập những khu rừng cấm 3. Tiến trành bài giảng: Khi dạy phần 1 GV đặt câu hỏi: "Em hãy cho biết vai trò của động thực vật, nhất là rừng đối với sự phát triển kinh tế và đời sống của con người? " HS trả lời: Rừng có vai trò to lớn cung cấp gỗ và các lâm sản, chống xói mòn và cải tạo khí hậu. Khi dạy phần 2 GV nêu vấn đề: "Rừng có vai trò to lớn như vậy, nhưng hiện nay rừng đang bị giảm sút cả về số lượng và chất lượng". GV yêu cầu đọc các số liệu ninh hoạ trong SGK trang. Sau khi HS đọc xong GV nói: "Rừng của Đà Nẵng cũng nằm trong tình trạng (minh hoạ số 100
- liệu) diện tích đất lâm nghiệp của Đà Nẵng là 67.148 ha, nhưng rừng tự nhiên của Đà Nẵng chỉ còn 36.542 ha. GV đặt tiếp một số câu hỏi: "Vì sao diện tích rừng bị giảm? rừng mất đi sẽ dẫn đến những hậu quả gì? Và phải làm gì để bảo vệ rừng?". Muốn trả lời được các câu hỏi đó các em hãy quan sát sơ đồ. HS dựa vào sơ đồ lần lượt trả lời 3 câu hỏi trên. Để minh hoạ thêm, GV cho HS xem 3 ảnh chụp về cảnh đốt rừng, khai thác rừng, Sau khi HS quan sát sơ đồ, trả lời câu hỏi và xem ảnh, GV nêu vẫn đề: "Các em có suy nghĩ gì trước tình trạng rừng của thành phố nói riêng và cả nước nói chung? Mỗi HS chúng ta phải làm gì để bảo vệ rừng? Bởi vì chắc chắn các em không muốn tài nguyên quý giá của quê hương mình bị huỷ hoại". Các em sẽ trả lời vấn đề này vào giờ học sau. (Phần liên hệ với MT địa phương hết 5 phút). 4. Nhận xét bài giảng Qua phần liên hệ, GV đã đạt được mục đích: HS đã hiểu được thực trạng của tài nguyên rừng ở Đà Nẵng và những nguyên nhân chính gây nên thực trạng đó. HS cũng thấy được nhiệm vụ cần thiết phải bảo vệ rừng. GV cũng nêu được cho HS thấy được điều này và khuyến khích các em phải suy nghĩ và có những hành động bảo vệ rừng ở địa phương. Những kiến thức liên hệ với thực tế môi trường địa phương đã bổ sung làm rõ những nguyên nhân làm cho rừng ta giảm sút và đặt cho HS nhiệm vụ tìm hiểu những biện pháp cơ bản bảo vệ rừng mà trong bài học chính yêu cầu. Qua bài này HS phát biểu khá sôi nổi, bài học có kết quả tốt. * Bài 12: Sự phát triển và phân bố công nghiệp (địa lí lớp 9) 1. Mục đích giáo dục môi trường của bài: - HS nắm vững vai trò của ngành công nghiệp Việt Nam, đồng thời hiểu được những ảnh hưởng của hoạt động công nghiệp đến môi trường - HS hiểu được sự phát triển của công nghiệp Đà Nẵng và ảnh hưởng của nó tới môi trường địa phương. 2. Đồ dùng dạy học: - Bản đồ địa lí công nghiệp Việt Nam. - Lược đồ các trung tâm công nghiệp trong SGK. 101
- - Sơ đồ minh hoạ ảnh hưởng của công nghiệp hoá chất Đà Nẵng đến môi trường thành phố Đà Nẵng. 3. Tiến trình bài giảng: Sau khi dạy hết phần 2, GV nêu vấn đề: Bên cạnh vai trò to lớn mà công nghiệp đem lại, thì công nghiệp có ảnh hưởng gì đến môi trường?" HS trả lời: Công nghiệp có vai trò to lớn đối với nên kinh tế quốc dân nhưng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường do các chất thải. Muốn biết nguyên nhân các em quan sát sơ đồ khái quát của một nhà máy ở Đà Nẵng. GV treo sơ đồ đã vẽ lên bảng cho HS quan sát Sơ đồ 7: Khái quát về chu trình sản xuất của nhà máy hoá chất Đà Nẵng. Nguyên liệu Sản phẩm chính HCL, xút, xà phòng Qúa Trình Điện sản xuất Các chất thải - Khí thải: HNO3' C6 H6' Nước CH4, - Nước thải, Bụi Sau khi HS quan sát sơ đồ xong, GV kết luận: Nếu như các nhà máy, xí nghiệp khi xây dựng, thiết kế không chú ý đến công nghệ xử lí chất thải thì sẽ gây ô nhiễm môi trường nặng nề. GV đặt câu hỏi tiếp: "Đà Nẵng có khu công nghiệp nào tập trung nhất? Môi trường ở đó ra sao?" HS trả lời: Đà Nẵng có khu công nghiệp Hoà Khánh - Liên Chiểu, môi trường trong khu vực bị ô nhiễm nặng . Sau đó GV nêu vấn đề để HS về suy nghĩ. "Vậy chúng ta phải làm gì để ngăn chặn ô nhiễm môi trường do công nghiệp?". HS suy nghĩ và trả lời vào giờ học tới. 4. Nhận xét bài giảng: 102
- Phần liên hệ này được lồng ghép để bổ sung cho bài học chính nên thời gian không ảnh hưởng gì đến bài học. Qua phần liên hệ, GV đã thực hiện được mục đích giáo dục môi trường chung và riêng cho địa phương. Tuy không nhiều, nhưng HS đã hiểu được những nguyên nhân cơ bản của ô nhiễm môi trường ở địa phương và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường. Những kiến thức đó đã giúp HS hiểu thêm bài học và giúp các em, những người lao động sau này có ý thức bảo vệ môi trường trong quá trình lao động, xây dựng quê hương. Bài học sinh động và sôi nổi. * Bài 41: Địa lí địa phương. 1. Mục đích yêu cầu: - Qua việc hướng dẫn và giúp HS tìm hiểu, trả lời các câu hỏi, gợi ý trong sách, làm cho các em nắm được những đặc điểm sơ bản của các yếu tố tự nhiên của Đà Nẵng như: khí hậu, sông ngòi, đất đai. thực động vật. - Từ đó cho HS nắm được các nguồn tài nguyên thiên nhiên chính của địa phương và vấn đề khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên đó. 2. Đồ dùng giạy học: - Bản đồ tự nhiên Đà Nẵng. - Các tài liệu, tranh ảnh, số liệu về tài nguyên thiên nhiên của Đà Nẵng. 3. Tiến trình bài giảng: Bài này đã được HS chuẩn bị trước, HS tự tìm hiểu và nghiên cứu. Sau khi GV hướng dẫn, giúp HS trả lời các gợi ý ở từng phần trong sách giáo khoa, GV đặt vấn đề: "Qua nghiên cứu về điều kiện tự nhiên của Đà Nẵng, các em hãy cho biết địa phương có những tiềm năng tự nhiên gì cơ bản nhất để phát triển kinh tế?". HS trả lời: Đà Nẵng đều có nguồn tài nguyên rừng và biển rất phong phú, tạo điều kiện cho việc phát triển Lâm nghiệp, Ngư nghiệp và xây dựng cảng biển. GV gợi ý thêm: "Ngoài rừng của biển Đà Nẵng còn có điều kiện gì thuận lợi nữa không?" HS trả lời: Còn có tài nguyên đất đai. 103
- GV gợi bổ sung: "Ngoài rừng biển, đất đai còn có vị trí thuận lợi nằm gần như trung tâm của cả nước nối liền 2 khu vực kinh tế phát triển: Bắc Bộ - Nam bộ. Đà Nẵng có nhiều thắng cảnh đẹp, nhiều di tích văn hoá và lich sử tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế du lịch phát triển". Sau khi bổ sung, GV hỏi tiếp: "Những vẫn đề sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đó như thế nào?" HS trả lời: Vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hợp lí: rừng bị tàn phá nhiều, biển bị ô nhiễm. GV nhắc HS nhớ lại số liệu về diện tích rừng giảm, sản lượng đánh bắt hải sản so với nhu cầu và tiềm năng và những hiện tượng đã được biết vào các giờ học trước GV kết luận Đà Nẵng giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Muốn khai thác và phát triển theo đúng tầm vóc thì phải chú ý vấn đề sử dụng hợp lí và đi đôi với bảo vệ môi trường. 4. Nhận xét bài giảng: Đây là một bài giảng về địa lí địa phương nên việc kết hợp giữa giảng dạy kiến thức địa lí địa phương và giáo dục môi trường địa phương hết sức thuận lợi và dề dàng. Qua bài học HS không chỉ nắm được các mặt mạnh, yếu, thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên của địa phương, mà các em còn nhận thức được rằng: muốn địa phương mình giàu có và đẹp đẽ thì phải biết khai thác hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, HS chủ động tích cực, bài giảng có chất lượng. 3.3.2. Các hoạt động ngoại khóa Chúng tôi chỉ mô tả một số buổi sinh hoạt ngoại khoá điểm hình với nội dung về giáo dục môi trường địa phương Đà Nẵng mà chúng tôi đã tiến hành trong quá trình thực nghiệm. * Sinh hoạt câu lạc bộ địa lí Chủ đề: Báo cáo kết quả cuộc thi "Tìm hiểu những danh lam thắng cảnh của Đà Nẵng ". - Đối tượng: HS lớp 8A, 8B trường Thực hành sư phạm - Đại học sư phạm Đà Nẵng năm học 1992 - 1993. - Mục đích yêu cầu: HS biết tìm hiểu, sưu tầm về môi trường địa phương mình và thể hiện nhận thức thái độ của mình về vấn đề môi trường 104
- địa phương. Đồng thời rèn luyện kĩ năng viết, trình bày một báo cáo về một vấn đề môi trường cụ thể. - Trình tự tiến hành: Để khai mạc, GV phụ trách đọc một bài viết ngắn gọn nói về ý nghĩa ngày môi trường thế giới (ngày 5 tháng 6) và giới thiệu đôi nét về Đà Nẵng, nhấn mạnh hai khía cạnh là thiên nhiên tươi đẹp, con người trung kiên để kích lệ lòng tự hào và tình cảm yêu quê hương của HS. Sau lời khai mạc, một HS hát bài về Đà Nẵng, sau đó đi vào nội dung chính gồm 2 phần: + Phần 1: Báo cáo các bài dự thi của HS đã được lựa chọn. 1- Ngũ Hành Sơn, cảnh đẹp thần tiên do em Lê Văn Nam lớp 8B trình bày. 2- Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, do em Đinh Thế Phú lớp 8A trình bày 3- Bà Nà - Núi Chúa, nơi nghỉ mát tuyệt hảo của miền Trung chúng ta, do em Mai Văn Hà lớp 8B trình bày + Phần 2: Thảo luận trao đổi. GV trích một số ý kiến trong các bài viêt để HS trao đổi ý kiến và thảo luận. " Nạn đào đục đá ở Ngũ Hành Sơn để làm đồ mĩ nghệ của nhân dân địa phương sẽ làm cho Ngũ Hành Sơn dần dần bị san bằng, nhưng vấn đề bảo vệ có rất nhiều khó khăn vì đây là một nghề truyền thống và nghề sống duy nhất của dân làng " (bài viết của Lê Văn Nam). " Sơn Trà là một bán đảo rất có ý nghĩa đối với thành phố Đà Nẵng, là nơi bảo tồn nhiều giống loài sinh vật quý. Trong nhiều năm qua, Sơn Trà bị tàn phá nặng nề, ngày nay đang được khôi phục và quy hoạch lại, nhưng ngay chính bây giờ cũng vấn còn tiếp tục bị tàn phá như: chặt trộm gỗ, chặt củi, bắt trộm thú rừng phải tìm những biện pháp gì có hiệu quả nhất để bảo vệ khu rừng quý giá này " (báo viết của Đinh Thế Phú). " Bà Nà là nơi nghỉ mát thật tốt của người dân Đà Nẵng, nhưng có lẽ đã bị lãng quên từ lâu. Nhìn vẻ hoang vu của Bà Nà mà chúng ta thấy tiếc. Nếu như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt là những nơi thu hút rất nhiều khách du lịch 105
- trong nước và ngoài nước mang lại giá trị lớn thì tại sao địa phương mình không đầu tư cho Bà Nà? Đường lên Bà Nà rất gần, không khó khăn nguy hiểm như những vùng khác như Sa Pa, Đà Lạt mà cảnh cũng rất đẹp. Em tin rằng nếu Bà Nà được đầu tư thì cũng sẽ trở thành nơi nghỉ mát lí tưởng của nước ta " (bài viết của Mai Văn Hà). Các ý kiến thảo luận trao đổi của HS: (trích dẫn 1 số ý kiến) " Nếu các bạn nói như vậy, tức là chúng ta đành bó tay để con người phá hết những thắng cảnh đẹp sao? Tôi nghĩ ở Ngũ Hành Sơn, ngoài những ngọn núi chính còn có núi phụ nhỏ trước mắt có thể quy định cho nhân dân lấy đá ở đó. Còn năm ngọn núi chính thì phải bảo vệ thật cẩn thận, chính quyền phải đưa ra những quy định xử phạt nghiêm khắc đối với người vi phạm " (ý kiến của Nguyễn Văn Thi lớp 8A). " Làm sao mà kiểm tra cả ngày lẫn đêm được, nhà họ ở rất sát núi, họ đục đá lúc nào mà không được. Tôi nghĩ về lâu dài phải tìm cho họ công ăn việc làm khác " (Ý kiến của Mai Văn Hải lớp 8B). " Nói như bạn Hà cũng không dễ gì, một nghề truyền thống lâu đời nay dễ chi họ bỏ, hơn nữa nghề đó kiếm ra tiền mà cũng là một nghề quý giá. Làm thế nào để bảo vệ được cả 2 cái, tôi nghĩ chỉ có cách phối hợp với lực lượng: công an, ban quản lí thắng cảnh Ngũ Hành Sơn và nhân dân, quan trọng nhất là nhân dân tố giác. Nhưng phải tuyên truyền cho dân hiểu được giá trị kinh tế về nhiều mặt của Ngũ Hành Sơn thì họ tự bảo vệ ". Sau buổi thảo luận: GV chốt lại "Qua cuộc thi và qua buổi thảo luận cô thấy hầu hết các em bằng việc sưu tầm, nghiên cứu và tìm hiểu địa phương mình đã hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của các thắng cảnh tự nhiên và điều đáng quý nhất là các em đã hiểu đượcrawngf việc bảo vệ những thắng cảnh thiên nhiên đó là rất cách cấp bách, mặc dù có nhiều khó khăn và trở ngại nhưng các em cũng đã đưa ra được những biện pháp hay, sáng tạo. Cô ghi nhận và sẽ truyền đạt đề nghị các ý kiến đó lê các cấp có thẩm quyền". - Nhận xét chung: Cuộc thi đem lại kết quả tốt. HS sôi nổi hào hứng tham gia, những ý kiến trao đổi biểu lộ rõ ý thức và sự quan tâm của các em đến vấn đề môi trường của địa phương. Qua thảo luận các em đều bày tỏ thái 106
- độ tích cực trong việc phê phán các việc làm có hại, ủng hộ những việc làm tốt, có ích đối với môi trường, các em rất nhiệt tình hưởng ứng cuộc thi này. + Về số lượng: Tuy 2 lớp 8 có 63 HS, nhưng đã có 70 bài vì một số em đã có 2 bài dự thi. + Về chất lượng: Hầu hết các bài viết đều đúng bố cục, có nhiều bài viết rất tốt. Nhiều em quan sát, mô tả đối tượng một cách tinh tế, có nhiều nhận xét sát thực tế. Có nhiều em có những đề xuất đúng đắn, tốt. Có nhiều em có những cảm nghĩ rất hay nhất là các em khá giỏi. "Em rất yêu thành phố cảng này của em, một thành phố núi đứng bên biển, trên bến dưới thuyền. Nhưng em không muốn thành phố của em có những đống rác cao như núi, bốc mùi hôi thối trên các đường phố, ở góc các công viên. Em ước mong sau này em sẽ trở thành một nhà khoa học để có thể chế biến những đống rác ấy thành nguồn phân bón làm cho đồng ruộng quê em tốt tươi và thành phố quê em sạch đẹp " (cảm nghĩ của em Trần Thị Bích, HS giỏi văn lớp 8B thể hiện trong bài viết của mình). Ở một số bài có những kiến nghị rất táo bạo: " Toà án cũng phải xử những cá nhân, cơ quan xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường và những hành động phá hoại môi trường " (ý kiến đề xuất của Cao Xuân Trường, HS giỏi toán lớp 8A). Tất cả những điều đó chứng tỏ các em rất yêu quê hương, làng xóm của mình, xa hơn nữa là yêu thiên nhiên đất nước, mong muốn cho quê hương mình, đất nước mình tươi đẹp và giàu mạnh. Đó là những kết quả thật bất ngờ của hoạt động này. * Thi đố vui địa lí: Chủ đề "Em yêu vùng biển quê em". Đối tượng: HS lớp 8A, 8B trường Thực hành sư phạm, Đại học sư phạm Đà Nẵng. - Mục đích yêu cầu: + Kiểm tra sự hiểu biết của HS về thực trạng tài nguyên biển của địa phương mà các em đã được học trong các bài nội khoá và qua quá trình tự tìm hiểu thực tế. + Giúp các em nắm được biện pháp cơ bản để bảo vệ các nguồn tài nguyên đó của địa phương. - Trình tự tiến hành: + GV phụ trách giới thiệu ban giám khảo đại diện của 2 đội 107
- + Ban giám khảo nêu nội quy cuộc thi và thang điểm. + Các đội lần lượt trả lời câu hỏi. Sau đây chúng tôi xin đưa ra 10 câu hỏi và đáp án của cuộc thi. Câu 1: Rừng có vai trò gì đối với tự nhiên và đời sống sản xuất của con người? Đáp án: - Vai trò của rừng đối với tự nhiên: + Tác dụng điều hoà khí hậu + Tác dụng bảo vệ đất, tránh xói mòn và rửa trôi, làm giảm lũ lụt - Vai trò của rừng đối với con người: + Cung cấp gỗ cho công nghiệp và đời sống sinh hoạt của con người + Cung cấp nguồn lâm thổ sản quý như quế, sa nhân, trầm hương + Là nơi ở của nhiều loại động vật quý hiếm có giá trị bảo tồn đối với con người. Nó vừa có giá trị về kinh tế, vừa có giá trị về mặt khoa học và cảnh quan. Câu 2: Đà Nẵng có bao nhiêu diện tích đất lâm nghiệp? Trong đó diện tích rừng tự nhiên là bao nhiêu? Đáp án: Đà Nẵng có 51.421 ha diện tích đất lâm nghiệp, tổng diện tích rừng tự nhiên là 36.542 ha Câu 3; Rừng ở Đà Nẵng có giảm sút không? Do những nguyên nhân nào? Đáp án: - Rừng Đà Năng bị giảm sút nhiều - Rừng QN, ĐN bị giảm sút do các nguyên nhân sau: + Khai thác bừa bãi + Do cháy rừng + Do sự tàn phá của chiến tranh hoá học của Mĩ. Câu 4: Rừng mất đi sẽ dẫn đến những hậu quả gì? Đáp án: - Làm giảm trữ lượng gỗ, mất đi nhiều nguồn lâm thổ sản quý. - Làm mất đi nhiều loại động, thực vật quý hiếm. - Làm cho khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn. - Làm mất đi cân bằng về nguồn nước, làm cho sông suối cạn dòng. - Gây xói mòn và rửa trôi mạnh mẽ. Câu 5: Phải làm gì để bảo vệ tài nguyên rừng? 108
- Đáp án: - Phải có những quy định chặt chẽ về khai thác và sử dụng tài nguyên rừng - Nghiêm cấm và xử phạt các hành động phá rừng bừa bãi. - Có chính sách định canh định cư cho đồng bào miền núi - Tích cực trồng và bảo vệ rừng, xây dựng các khu rừng cấm. Câu 6: Ở Đà Nẵng có những khu rừng cấm nào? Ở đâu? Đáp án: - Đà Nẵng có 2 khu rừng cấm. + Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà ở Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng + Khu rừng cấm Hải Vân thuộc xã Hoà Hiệp, Hoà Vang, Đà Nẵng. Câu 7: Bờ biển QN, ĐN dài bao nhiêu km? Biển có ý nghĩa gì? Đáp án: - Bờ biển Đà Nẵng dài 30km. + Biển Đà Nẵng có ý nghĩa rất to lớn đối với thiên nhiên và kinh tế + Điều hoà khí hậu + Cung cấp một lượng hải sản rất lớn cho nhân dân và cho xuất khẩu + Cung cấp muối cho người dân và cho công nghiệp + Cung cấp cát cho xây dựng và công nghiệp thuỷ tinh Đà Nẵng + Có giá trị về du lịch và nghỉ mát + Có giá trị về xây dựng cảng biển lớn Câu 8: Biển Đà Nẵng có bị ô nhiễm không? Ở đâu? Vì sao? Đáp án: - Biển Đà Nẵng đã bị ô nhiễm, đặc biệt là ở các bãi biển ven thành phố Đà Nẵng, do chất thải, nước thải của thành phố đổ ra. - Nước ra ở một số nơi của quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn đánh cá bằng chất nổ. Câu 9: Phải làm gì để bảo vệ tài nguyên biển của địa phương em? Đáp án: - Phải xử lí nước thải, chất thải trước khi đổ ra biển. - Cấm đánh bắt hải sản bằng chất nổ - Tuyên truyền, vận động nhân dân ven biển giữ gìn vệ sinh - Điều tra, quy hoạch nguồn tài nguyên biển. Câu 10: Em có muốn trở thành thành viên của đội tuyên truyền bảo vệ môi trường không? Vì sao? Đáp án: - Tình huống, tuỳ thuộc vào câu trả lời của HS. 109
- Sau khi hai đội trả lời xong, ban giám khảo tổng kết số điểm và xếp loại nhất - nhì. GV bộ môn nhận xét, đánh giá về chất lượng các câu trả lời. Cuối cùng là phát thưởng. * Hoạt động thực tiến: "Ngày hội chúng em làm cho sạch đẹp". 1. Mục đích: - Giúp ch HS hiểu rõ một số nguyên nhân làm cho trường lớp bị ô nhiễm: đó chính là các hành động của các em như vứt giấy bừa bãi, ăn quà rồi vứt rác ra trường lớp, đi vệ sinh không đúng nơi quy định - Giúp HS thấy được tác hại của môi trường trường lớp bị ô nhiễm: nhiều ruồi, muỗi, hôi hám , gây mất vệ sinh ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi và sức khẻo của các em. - Giáo dục ý thức giữ gìn vệ sinh chung, cùng nhau bảo vệ và xây dựng môi trường trường lớp sạch đẹp. 2. Chuẩn bị dụng cụ: - Chổi, xẻng, cuốc, thùng rác - Giấy, bút. 3. Thời gian và phương thức hoạt động: - Thời gian: 90 phút. + Đặt vấn đề, phân công: 10 phút. • Nêu vấn đề: đặt mục đích của hoạt động cần đạt đến. • Phân công nhóm: mỗi nhóm 8 em, mỗi nhóm chịu trách nhiệm vệ sinh một khu vức: khu lớp học, khu sân trường, khu hành lang sau trường, khu nhà vệ sinh + Thực hiện hoạt động: 60 phút • Vệ sinh • Tìm hiểu ghi chép: khu vực nhóm phụ trách nhiều nhất là loại rác gì nguyên nhân? Biện pháp giữ gìn và chống? + Thảo luận: 20 phút • Báo cáo việc tìm hiểu ghi chép của mỗi nhóm • Thảo luận và thống nhất các biện pháp bảo vệ môi trường trường lớp - Giá viên tổng kết, khen thưởng. 110
- 4. Mở rộng: Có thể phối hợp với tổ dân phố, phường, xã để tổ chức các hoạt động như: khai thác cống rãnh, thu gom rác, vệ sinh nơi công cộng, vận chuyển rác đến nơi quy định, rất bổ ích và có tác dụng giáo dục cao hơn. 111
- ĐÔI LỜI KẾT LUẬN Giáo dục môi trường cho HS trong nhà trường là một nhiệm vụ chiến lược cực kì quan trọng đối với nước ta, để làm tốt nhiệm vụ này, đã đến lúc mỗi giáo viên ở mọi cấp, mọi môn học đều phải trở thành một nhà môi trường trong giảng dạy lĩnh vực chuyên môn của mình. Sự cố gắng của mỗi giáo viên dù là nhỏ cũng sẽ đem lại thành quả lớn cho nhiều thế hệ trong chiến lược phát triển bền vững của chúng ta. Thay cho lời kết của cuốn sách này, chúng tôi xin trích 2 ý kiến của hai nhà khoa học về giáo dục môi trường: "Thập kỉ 90 đã và đang chứng kiến một sự quan tâm rộng lớn, sâu sắc về môi trường trong mọi lĩnh vực của nhân loại. Đặc biệt là thế hệ trẻ, một thế hệ muốn biết nhiều hơn về việc làm thế nào để có thể đóng góp, giữ gìn hành tinh của chúng ta và có tài nguyên của nó cho những thế hệ mai sau. Muốn làm được việc nay, chỉ có thể tiến hành nghiêm túc giáo dục môi trường cho mọi người mà trước hết là cho HS, sinh viên ở tất cả các cấp, bậc ngành học. Đây cũng chính là cách tiếp cận khôn ngoan nhất và có hiệu quả nhất trong việc xem xét vấn đề môi trường theo quan điểm phát triển bền vững". Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo GS.TS Vũ Ngọc Hải - Giám đốc dự án quốc gia VIE 95/041 "Không thể đạt được điều gì trong giáo dục môi trường nếu đơn giản chỉ mong chờ vào các hiện ước kí kết hoặc các sắc lệnh ban hành. Xa hơn thế, các mục tiêu sẽ đạt được thông qua cam kết của nhân dân Việt Nam. Nhà trường là nơi lí tưởng nhất tạo ra nhận thức và hình thành cam kết. Có một câu thành ngữ tiếng Anh: Gieo một ý tưởng, sẽ gặt một lời nói. Gieo một lời nói, sẽ gặt một hành động. Gieo một hành động, sẽ gặt một thói quen. Gieo một thói quen, sẽ gặt một vận mệnh". GOR DON JOHNSON Trưởng ban quản lí tài nguyên và MT UNDP(2) 112
- TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lê Thạc Cán (1995), Cơ sở khoa học môi trường. Viện Đại học mở Hà Nội 2. Các hướng dẫn chung về giáo dục môi trường dành cho người đào tạo giáo viên - Dự án VE 95/041, Hà Nội 1997. 3. Cứu lấy Trái Đất. NXB Khoa học kĩ thuật, Hà Nội, 1993. 4. Nguyễn Dược (1986), Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông. NXB Giáo dục, Hà Nội. 5. Nguyễn Dược (Tổng chủ biên), Địa lí lớp 8. Bộ Giáo dục và Đào Tạo 6. Nguyễn Dược (Tổng chủ biên), Địa lí lớp 9. Bộ Giáo dục và Đào tạo 7. Nguyễn Dược, Nguyễn Trung Hải (1998), Sổ tay thuật ngữ địa lí. NXB Giáo dục 8. Địa lí học và vấn đề môi trường. NXB Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 1979. 9. A.G. Ixasenco (1985), Địa lí học ngày nay. NXB Giáo dục, Hà Nội. 10. Nguyễn Phi Hạnh - Nguyễn Thị Kim Chương (1997), Giáo dục môi trường qua môn địa lí ở trường phổ thông. NXB Giáo dục. 11. Nguyễn Thị Thu Hằng (1994), Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí ở trường phổ thông Việt Nam. Luận án Phó tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội . 12. Nguyễn Kim Hồng (chủ biên) và ntg (2001), Giáo dục môi trường. NXB Giáo dục. 13. Hoàng Đức Nhuận (1998), Giáo dục vì môi trường Việt Nam hôm nay và ngày mai. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 6, (trang 29) 14. Nguyễn Viết Phổ (1996), Hiện trạng môi trường Việt Nam. Thông tin môi trường, số 5, 6, Sở Khoa học - công nghệ và môi trường QNĐN. 15. Sở KHCN và MT thành phố Đà Nẵng (1997 – 2000), Các báo cáo tình hình môi trường Đà Nẵng 16. Sharman, P. C (1990), Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống. Đề án Giáo dục Dân số VIE/88/PIO. 113
- Chịu trách nhiệm xuất bản: NGÔ TRẦN ÁI VŨ DƯƠNG THUỴ Biên tập nội dung: NGUYỄN TẤN LÊ Trình bày bìa: HỒ MINH QUÂN GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA MÔN ĐỊA LÍ VIỆT NAM In 1 000 cuốn, khổ 14,5 x 20,5 cm. Tại xí nghiệp in SGK Hoà Phát - Chi nhánh NXBGD tại Đà Nẵng . Giấy phép XB số: 67/213 - 99-CXB. Do Cục Xuất bản cấp ngày 25 tháng 1 năm 1999. In xong và nộp lưu chuyêủ tháng 10 năm 1999 114



