Giấc mơ Trung Quốc (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giấc mơ Trung Quốc (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giac_mo_trung_quoc_phan_2.pdf
Nội dung text: Giấc mơ Trung Quốc (Phần 2)
- II. Quốc gia quán quân tiềm tại là đối thủ tự nhiên của quốc gia quán quân Trong lịch sử thế giới cận đại, quốc gia quán quân và quốc gia quán quân tiềm tại bao giờ cũng là đối thủ của nhau trên sân khấu quốc tế. Trong việc đối phó với các vấn đề quốc tế cụ thể, họ có thể hợp tác, có mối quan hệ đối tác với nhau; nhưng điều đó không thể thay đổi và làm mờ nhạt mối quan hệ cạnh tranh với nhau trên vấn đề địa vị quốc gia. Trong tình hình có mấy quốc gia quán quân tiềm tại, nhằm thực hiện chính sách chia để trị và nhằm đối phó quốc gia quán quân tiềm tại có tính thách thức lớn nhất, quốc gia quán quân có thể lập quan hệ đồng minh với các quốc gia quán quân tiềm tại khác. Chỉ cần trên sân khấu quốc tế có một quốc gia quán quân tiềm tại thì sự cạnh tranh giữa quốc gia quán quân với quốc gia quán quân tiềm tại sẽ gay gắt thêm, mối quan hệ đối thủ càng nổi bật. Cùng với sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc và sự sa sút tương đối của Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài chính, mối “quan hệ đối tác chiến lược có tính xây dựng” giữa Trung Quốc với Mỹ hình thành nhằm đối phó và giải quyết các vấn đề toàn cầu mà hai nước cùng đối mặt sẽ ngày một thắt chặt. Nhưng “cuộc chiến giành giật quán quân” trên vấn đề địa vị quốc gia giữa hai nước cũng sẽ gay go hơn, “mối quan hệ đối thủ chiến lược có tính cạnh tranh” giữa hai nước sẽ nổi bật hơn. Đây là xu thế tất nhiên không thay đổi bởi ý chí của hai nước. Hai nước Trung Quốc và Mỹ nhất định sẽ đi lên sân thi đấu Trên sân vận động, cặp đối thủ cạnh tranh gay go nhất là quán quân và á quân. Á quân muốn làm quán quân, quán quân muốn giữ chức quán quân, điều đó đều có tính bẩm sinh. Trong cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia, nhất là giữa quốc gia quán quân với quốc gia quán quân tiềm tại, mối quan hệ giữa hai quốc gia này cũng là quan hệ đối thủ tự nhiên. Dĩ nhiên, quốc gia á quân ở đây trở thành đối thủ tự nhiên của quốc gia quán quân phải là quốc gia á quân có quyết tâm và có năng lực cạnh tranh với quốc gia quán quân; nếu một quốc gia á quân không có chí hướng, năng lực và tiềm lực cạnh tranh với quốc gia quán quân, thì quốc gia á quân đó sẽ không thể trở thành đối thủ của quốc gia quán quân hiện có. Cũng vậy, một quốc gia thứ ba tạm thời xếp sau á quân có sở hữu và thể hiện được thực lực, tiềm lực và xu thế vượt qua quốc gia á quân và bám đuổi quốc gia quán quân, thì quốc gia thứ ba này được đương kim quốc gia quán quân đối xử như là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của mình. Trừ phi quốc gia thứ ba ấy từ bỏ mục tiêu bám đuổi của mình, hoặc quốc gia quán quân hiện hữu chuẩn bị từ bỏ địa vị quốc gia quán quân của mình, không cạnh tranh cuộc chiến bảo vệ địa vị của mình nữa, chủ động nhường vị trí quán quân hoặc phó mặc cho số phận quyết định. Định mệnh lịch sử chính là ở chỗ: Trung Quốc là quốc gia nhất định phải tranh làm quốc gia quán quân và Mỹ lại là quốc gia nhất định phải bảo vệ địa vị quán quân. Như vậy, một cuộc chiến giành quán quân và giữ quán quân không thể tránh được sẽ quyết định hai nước Trung Quốc và Mỹ đều đi lên sân thi đấu. Tiên đoán đề phòng người Hoa năm 1942 của người Mỹ Việc khảo sát lịch sử một cách toàn diện đối với quá trình nước Mỹ phòng ngừa Trung Quốc trỗi dậy là một nhiệm vụ cần các chuyên gia mới làm được. Song le chuyện Mỹ nhằm trúng Trung Quốc trên sân thi đấu quốc tế đâu phải là chuyện sau chiến tranh lạnh; ngay từ thời kỳ Nhật tiến hành chiến tranh xâm lược Trung Quốc hồi thập niên 40 thế kỷ XX đã có văn bản ghi chép rõ ràng chuyện đó. Điều này cho thấy, người Mỹ trong khi có tính cách chỉ cầu lợi trước mắt, đồng thời họ đúng là còn có toan tính sâu xa. Không lâu sau khi chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra, chuyên gia vấn đề quốc tế nổi tiếng người Mỹ Nicholas John Spykman(72) trong tác phẩm nổi tiếng “Chiến lược Mỹ trong chính trị
- thế giới: nước Mỹ và sự cân bằng quyền lực” đã vạch ra: “Chính sách của nước Mỹ sau chiến tranh nên được xác định dưới sự chỉ đạo của chiến lược duy trì thế cân bằng ở châu Âu và châu Á lợi ích của Mỹ không phải là quyền lực thống nhất mà là quyền lực phải cân bằng Nhưng vấn đề chủ yếu sau chiến tranh sẽ không phải là Nhật mà là Trung Quốc Một Trung Quốc quân sự hóa, hiện đại hóa, đầy sức sống, có 400 triệu dân sẽ là mối đe dọa không những với Nhật Bản mà còn cả với địa vị tại châu Á của các nước lớn phương Tây Nếu muốn duy trì được thế cân bằng tại Viễn Đông hiện nay và sau này thì Mỹ sẽ không thể không áp dụng chính sách bảo vệ Nhật Bản”. Cuốn sách này được viết trong tình hình sau vụ Trân Châu cảng năm 1941, cả nước Mỹ trên dưới đồng lòng cùng căm thù chống Nhật; cuốn sách đó không những gây ra phản ứng lớn trong dư luận Mỹ hồi ấy mà cho tới nay vẫn là một cuốn sách tham khảo cần đọc khi nghiên cứu chiến lược quốc gia của Mỹ. Khi chiến tranh lạnh vừa chấm dứt, khi những làn khói xanh còn đang bốc lên từ đống đổ nát của Liên Xô tan rã, nước Mỹ đã bắt đầu tìm kiếm đối thủ cạnh tranh mới, và họ hướng ánh mắt về phía Trung Quốc dĩ hòa vi quý. Ngày 17 tháng 9 năm 1992, tạp chí “Nghiên cứu chính sách” do một think tank nổi tiếng là Quỹ Truyền thống Mỹ(73) chủ trì, có đăng bài báo viết: “Sau khi trải qua những sai lầm bước đi đầu tiên trong một thế kỷ, xem ra Trung Quốc cuối cùng đã kiên định đi lên con đường kinh tế phát triển nhanh chóng, quân sự thể hiện được thực lực, và điều đó đúng là sẽ gây nên phản ứng tại châu Á và trên toàn thế giới. Sự việc này có ảnh hưởng lớn tới lợi ích kinh tế và lợi ích an ninh của Mỹ”. “Trên thế giới, Trung Quốc là nước lớn duy nhất đang nhanh chóng tăng cường lực lượng quân sự, hơn nữa Trung Quốc là một thí dụ thực tế đầu tiên về việc chế độ cộng sản đang đáp ứng nguyện vọng kinh tế của nhân dân mình”. Qua đó, “Thuyết Trung Quốc đe dọa” bị làm rùm beng. Những người cổ xuý cho luận điệu này thậm chí cho rằng trong thời kỳ cận đại, Trung Quốc bị các nước phương Tây bắt nạt quá nhiều cho nên Trung Quốc nhất định chờ dịp trả thù. Sau năm 1992, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc, Mỹ bắt đầu quan tâm hơn về cái gọi là mối đe dọa Trung Quốc có thể đem lại đối với địa vị chủ đạo của Mỹ. Năm 1995, một quan chức cấp cao Bộ Quốc phòng Mỹ tỏ ý: “Điều chúng tôi quan tâm nhất là sự lớn mạnh của Trung Quốc. Nếu tốc độ phát triển kinh tế của Trung Quốc cho tới nay lại tiếp tục thêm 10 năm nữa thì sự kiện lớn nhất về chiến lược cuối thế kỷ XX sẽ là sự phục hưng của Trung Quốc”. Từ tiên đoán lớn chiến lược “Vấn đề chủ yếu sau chiến tranh sẽ không phải là Nhật Bản mà là Trung Quốc” do người Mỹ nêu ra năm 1942 cho tới tuyên ngôn chiến lược “sự kiện lớn nhất về chiến lược cuối thế kỷ XX sẽ là sự phục hưng của Trung Quốc”, do Bộ Quốc phòng Mỹ nêu ra năm 1995, cuối cùng nước Mỹ đã hoàn tất việc định vị vai trò của Trung Quốc; vấn đề Trung Quốc trở thành sự việc lớn nhất đối với chiến lược của nước Mỹ, Trung Quốc vinh dự trở thành tuyển thủ số một được nước Mỹ quán quân coi trọng nhất, sắp hứng chịu cú ra đòn đấm bốc kiểu Mỹ. Trung Quốc bị Mỹ chọn làm đối thủ, không muốn cũng phải làm Rất nhiều người Trung Quốc mong sao Mỹ không chọn Trung Quốc làm đối thủ. Nhiều người nói Trung Quốc tuân theo chính sách “Bốn không” - không khiêu khích thách thức địa vị bá chủ của Mỹ; không thách thức trật tự thế giới; không coi Mỹ là đối thủ và địch thủ cạnh tranh; Trung Quốc không phải là mối đe dọa đối với nước Mỹ. Trung Quốc chỉ muốn làm đối tác chiến lược có tính xây dựng của Mỹ, tức là muốn hợp tác với Mỹ, hữu hảo với Mỹ. Cho dù các nguyện vọng và mong đợi ấy là chân thành, quý giá và khó có thể có được, song điều đó không thể khiến Trung Quốc tránh được số phận là đối thủ của Mỹ. Rốt cuộc Trung Quốc có làm đối thủ cạnh tranh chiến lược của Mỹ hay không? Sự định vị đó không chuyển dịch theo ý chí của Trung Quốc. Một số nhà chiến lược Mỹ từng nói rõ, nước Mỹ có đề phòng quốc gia nào hay không, điều đó không quyết định ở ý chí của quốc gia ấy mà phụ
- thuộc vào sức mạnh của quốc gia ấy. Kissinger cũng từng nói: “Xét về mặt địa chính trị, nước Mỹ cực kỳ rộng lớn, tài nguyên và số dân vượt xa nhiều nước ở đại lục Âu Á. Nếu tại bất cứ nửa nào của đại lục Âu Á - châu Âu hoặc châu Á - xuất hiện một nước lớn chiếm địa vị chi phối thì đó là tiêu chí rõ ràng của sự đe doạ chiến lược đối với nước Mỹ, bất kể có chiến tranh lạnh hay không đều như nhau. Bởi lẽ tập đoàn hình thành từ đó sẽ có năng lực vượt Mỹ về kinh tế và cuối cùng về quân sự. Mỹ cần chống lại mối nguy hiểm này, cho dù nước lớn ở vào địa vị chi phối đó tỏ ra rất hữu hảo đi nữa; bởi lẽ một khi ý đồ hữu nghị ấy thay đổi thì nước Mỹ sẽ phát hiện thấy năng lực tiến hành chống trả hữu hiệu và xoay chuyển tình hình của mình đã yếu đi rất nhiều”. Theo quan điểm của người Mỹ, ý nguyện của quốc gia là không đủ tin cậy, cái người Mỹ nhìn thấy là sức mạnh. Đặc điểm quan trọng trong tư duy chiến lược của người Mỹ là: sức mạnh quyết định địa vị, sức mạnh quyết định tính chất, sức mạnh quyết định mối quan hệ. Mối quan hệ giữa hai nước như thế nào, điều đó không quyết định bởi ý chí và nguyện vọng nhà nước mà quyết định bởi sức mạnh. Người Mỹ chọn đối thủ chiến lược của mình không lấy tiêu chuẩn là hình thái ý thức và ý chí lương thiện mà căn cứ theo tiêu chuẩn là mức độ sức mạnh. Một chuyên gia Mỹ nói, riêng sự thực phát triển nhanh chóng là đủ để Trung Quốc đi lên con đường xung đột với Mỹ. Đây là quan điểm chiến lược của Mỹ, là tư duy của Mỹ. Trên thế giới này chỉ có nước Mỹ là nhất thế giới, thế thì quốc gia nào có tốc độ phát triển nhanh nhất bám sát nước Mỹ nhất thì quốc gia ấy không tránh khỏi trở thành đối thủ của nước Mỹ một cách có tính lịch sử, dù muốn hay không muốn cũng phải làm. Chỉ cần anh ở vào địa vị phát triển nhanh nhất, chỉ cần trên sân đua quốc lực tổng hợp, anh cách nước Mỹ gần nhất, thế thì anh phải hưởng thụ đãi ngộ và địa vị “đối thủ” nước Mỹ dành cho anh. Trừ khi anh thiếu chí tiến thủ hoặc bị Mỹ ngăn chặn được, nếu không anh chớ có nghĩ tới chuyện thoát khỏi “số phận” bị đưa vào diện là “đối thủ” của nước Mỹ. Trung Quốc trong thế kỷ XXI từ lâu đã vinh dự được Mỹ chọn là đối thủ của họ, không muốn làm cũng ắt phải làm. Như Kissinger nói “bất kể có chiến tranh lạnh hay không cũng như nhau”, “cho dù nước lớn đó tỏ ra rất thân thiện” cũng không được. Mâu thuẫn cơ bản giữa Trung Quốc với Mỹ là gì? Mỹ là nước phát triển lớn nhất thế giới, Trung Quốc là nước đang phát triển lớn nhất thế giới, mâu thuẫn giữa hai nước này là gì? Học giả Mỹ Ezra Voge(74) từng tổng kết 10 mâu thuẫn lớn giữa hai nước Trung Quốc - Mỹ như sau: - vấn đề Đài Loan, - vấn đề Tây Tạng, - vấn đề Nam Hải [Việt Nam gọi là biển Đông], - vấn đề kinh tế, - vấn đề các tổ chức nhiều bên và tổ chức quốc tế, - vấn đề quan điểm đối với mối đe dọa tiềm tàng ở châu Á, - vấn đề liên minh chiến lược, - vấn đề phổ biến vũ khí, - vấn đề nhân quyền, - vấn đề môi trường. Những mâu thuẫn này đều là mâu thuẫn cụ thể nhưng chưa vạch ra được các mâu thuẫn căn bản giữa hai nước. Thực ra, mâu thuẫn căn bản giữa Trung Quốc với Mỹ là mâu thuẫn giữa quốc gia quán quân với quốc gia quán quân tiềm tại, là mâu thuẫn giữa quốc gia quán quân với quốc gia quán quân dự bị. Brzezinski từng nói, Mỹ là “nước lớn toàn cầu đầu tiên”, cũng là “siêu cường toàn cầu cuối cùng”. Mục tiêu chiến lược của Mỹ là giữ vững ngôi vị nhất thế giới; mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là xông tới ngôi vị nhất thế giới. Như vậy hai nước tất nhiên sẽ xảy ra va chạm, về khách quan là một loại mâu thuẫn. Cho nên mâu thuẫn căn bản này là mâu thuẫn quyết định cuộc đua giành quán quân vòng mới của thế giới. Mỹ là nước tư bản chủ nghĩa lớn nhất thế giới, Trung Quốc là nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất thế giới. Sự khác nhau về chế độ xã hội và hình thái ý thức là nguồn gốc quan trọng và nội dung quan trọng của mâu thuẫn giữa hai nước này. Nhưng mâu thuẫn căn bản giữa Trung
- Quốc với Mỹ không phải là mâu thuẫn về hình thái ý thức; vấn đề thứ nhất mà Mỹ quan tâm Trung Quốc không phải là anh mang họ xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, mà là anh mạnh hay yếu. Mỹ không ngại Trung Quốc làm chủ nghĩa xã hội mà chỉ ngại Trung Quốc lớn mạnh. Nước Mỹ thà có một Trung Quốc xã hội chủ nghĩa không phát triển chứ không muốn có một Trung Quốc tư bản chủ nghĩa lớn mạnh. Chỉ cần Trung Quốc không bám đuổi và vượt qua Mỹ, không có chuyện cuối cùng thay thế Mỹ trở thành quốc gia lãnh tụ thế giới thì Trung Quốc làm chủ nghĩa xã hội cũng được nước Mỹ bao dung, hợp tác và viện trợ. Chỉ cần Trung Quốc muốn trỗi dậy trở thành nhất thế giới, muốn trở thành quốc gia quán quân thế giới, thế thì cho dù Trung Quốc có tư bản chủ nghĩa hơn cả chủ nghĩa tư bản của Mỹ thì cũng sẽ bị Mỹ kiên quyết ngăn chặn. Các mâu thuẫn căn bản ẩn giấu và lợi ích căn bản giữa hai nước Trung Quốc, Mỹ là sự cạnh tranh địa vị quốc gia, là mâu thuẫn cạnh tranh quốc gia lãnh tụ, là nước nào sẽ chủ đạo thế giới. Các mâu thuẫn căn bản trong thế kỷ XXI giữa Mỹ với Trung Quốc về cơ bản quyết định mục tiêu cốt lõi đại chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc, không phải là sự “Tây hóa” Trung Quốc trên hình thái ý thức mà là “làm suy yếu” Trung Quốc trên vấn đề thực lực quốc gia, “hạ thấp” Trung Quốc trên vấn đề địa vị quốc tế, là sự “làm chậm” Trung Quốc trên vấn đề phục hưng quốc gia. Cái gọi là “Tây hóa”, “phân hóa”, “làm xấu” đều là các thủ đoạn chiến lược “làm yếu” Trung Quốc, “làm chậm” sự trỗi dậy và phục hưng Trung Quốc, nhằm mục tiêu sao cho Trung Quốc trong thế kỷ XXI không muốn đuổi và vượt Mỹ, khiến cho thế kỷ XXI vẫn là “thế kỷ của Mỹ” chứ không phải là “thế kỷ Trung Quốc”. Mối quan hệ Trung Quốc - Mỹ trong thế kỷ XXI: cạnh tranh chiến lược, hợp tác chiến lược, cải tạo chiến lược Mối quan hệ Trung Quốc - Mỹ trong thế kỷ XXI là mối quan hệ phức tạp nhất trong lịch sử quan hệ giữa các nước lớn; về mặt địa vị quốc tế, nó là mối quan hệ cạnh tranh chiến lược; về mặt lợi ích chung, là quan hệ hợp tác chiến lược; về mặt hình thái ý thức, là quan hệ cải tạo chiến lược. Đây là một hệ thống quan hệ tam vị nhất thể, giai điệu chính của nó là quan hệ cạnh tranh chiến lược. Mối quan hệ cạnh tranh chiến lược là mối quan hệ có tác dụng chủ đạo trong hệ thống quan hệ Trung Quốc - Mỹ. Ba mặt trên cũng có thể nói là “Một trung tâm, hai điểm cơ bản” của quan hệ Trung Quốc - Mỹ: lấy cạnh tranh chiến lược làm trung tâm, lấy hợp tác chiến lược và cải tạo chiến lược làm hai điểm cơ bản. Trên mặt địa vị chiến lược, hai nước Trung Quốc và Mỹ có quan hệ cạnh tranh chiến lược, tức quan hệ đối thủ chiến lược. Sự khác biệt và đối lập về lợi ích chiến lược của hai nước tất nhiên dẫn đến sự cạnh tranh chiến lược. Là quốc gia quán quân của thế giới hiện nay, cũng là quốc gia bá quyền của thế giới, nước Mỹ e ngại tác động do sự trỗi dậy của Trung Quốc đem lại cho Mỹ. Vấn đề cơ bản mà sự trỗi dậy của Trung Quốc đặt ra với thế giới là: trong thế kỷ XXI, ai sẽ dẫn dắt cuộc chạy đua của thế giới? Trên vấn đề địa vị chiến lược căn bản của quốc gia này, Trung Quốc với Mỹ có mối quan hệ đối thủ cạnh tranh chiến lược. Trên mặt lợi ích chung, Trung Quốc và Mỹ có quan hệ hợp tác chiến lược, tức quan hệ đối tác chiến lược. Trong thế kỷ XXI, Trung Quốc và Mỹ là đối thủ cạnh tranh lớn nhất, cũng là đối tác hợp tác lớn nhất. Trong tình hình nền kinh tế các nước trong công cuộc toàn cầu hóa trở thành khối cộng đồng cùng số phận một nước phồn vinh thì tất cả đều phồn vinh, trong tình hình quản trị toàn cầu trở thành cơ sở và điều kiện ắt phải có của sự phát triển bất kỳ một quốc gia dân tộc nào, thì Trung Quốc và Mỹ là hai nước lớn trên thế giới tất phải hợp tác với nhau. Chiến lược gia người Mỹ Thomas Barnett nói: “Kỳ tích châu Á và việc Trung Quốc trỗi dậy với tư cách là một nước siêu lớn của ngành chế tạo không phải là sự báo đáp tồi đối với công cuộc đầu tư của chúng ta. Chớ nên quên là trong 10 năm qua, châu Á đã có tác dụng không thể coi nhẹ đối với tăng trưởng kinh tế của chúng ta. Không một quốc gia nào trong số các “quốc gia nòng cốt” có thể tự làm được hết mọi việc. Chúng ta ngày càng giống như ngồi trên một cỗ
- xe hai ngựa, cùng tiến cùng lùi”. Trên mặt hình thái ý thức, hai nước Trung Quốc và Mỹ có mối quan hệ cải tạo chiến lược, tức quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau. Trong quá trình cạnh tranh và hợp tác giữa hai nước, văn hóa Mỹ có ảnh hưởng tới Trung Quốc, văn hóa Trung Quốc cũng sẽ cải tạo nước Mỹ. Trong cải cách mở cửa, Trung Quốc học tập thế giới, kể cả học tập và tham khảo một số điều có ích của Mỹ. Tác dụng cải tạo của Trung Quốc đối với Mỹ không chỉ thể hiện trên tầng nấc trong nước mà còn cả trên tầng nấc quốc tế, làm cho nước Mỹ từ quốc gia dân chủ kiểu quốc nội dần dần tiến hóa thành quốc gia phi bá quyền trên quốc tế. Sự thiếu lực lượng chế ước quốc tế là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hậu quả chủ nghĩa bá quyền Mỹ hoạt động ngông cuồng. Dùng sự lớn mạnh phi bá quyền của Trung Quốc để chế ước Mỹ, dùng văn hóa hòa hợp của Trung Quốc để cải tạo văn hóa bá quyền của Mỹ sẽ có thể làm cho nước Mỹ hướng về phía dân chủ hóa và văn minh hóa trong mối quan hệ quốc tế. Hai nước Trung Quốc và Mỹ dù là cạnh tranh chiến lược hoặc hợp tác chiến lược đều nên có tính xây dựng. Cạnh tranh có tính xây dựng là một loại cạnh tranh lành tính, nó loại bỏ sự cạnh tranh dùng phương thức chiến tranh, vượt qua mô thức chiến tranh lạnh. Sự hợp tác có tính xây dựng là nói sự hợp tác theo hướng không dùng sự hy sinh công bằng và chính nghĩa quốc tế, nhằm vào và gây tổn hại cho lợi ích của bên thứ ba. Cạnh tranh và hợp tác có tính xây dựng phải là “cạnh tranh có mức độ” - không thể cạnh tranh vô hạn độ; “hợp tác có nguyên tắc”phải là không được hợp tác vô nguyên tắc. Quan hệ cạnh tranh hợp tác có tính xây dựng giữa Trung Quốc với Mỹ phù hợp lợi ích của Trung Quốc, của Mỹ, cũng phù hợp lợi ích hòa bình và phát triển hòa bình thế giới. “Việc lớn số một “ của Tổng thống Mỹ là gì? Sau khi nước Mỹ bước lên cương vị lãnh đạo thế giới phương Tây thì việc bảo vệ “quyền lãnh đạo” của nước Mỹ đã trở thành cốt lõi của lợi ích quốc gia Mỹ. Chiến tranh lạnh là cuộc chiến giành giật “quyền lãnh đạo” thế giới kéo dài tới hơn 40 năm, triển khai giữa Mỹ với Liên Xô. Sau chiến tranh lạnh, trong các văn kiện chiến lược hàng năm nước Mỹ công bố như Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia, Báo cáo đánh giá quốc phòng 4 năm, Báo cáo Quốc phòng, Thông điệp Liên bang của Tổng thống, việc bảo đảm địa vị lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới đều là nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược an ninh quốc gia Mỹ. Cái gọi là “An ninh nước Mỹ” trước tiên là an ninh cho địa vị bá quyền, địa vị lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới. Cái gọi là lợi ích quốc gia Mỹ, trọng tâm là địa vị bá quyền, địa vị lãnh đạo thế giới của Mỹ. Giáo sư chính trị học Đại học Chicago John J. Mear-sheimer khi trả lời phỏng vấn của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc từng nói: “Đối với ngài Tổng thống, chiến lược căn bản nhất của nước Mỹ là: thứ nhất, phải chiếm địa vị lãnh đạo thế giới phương Tây Thứ hai, phải bảo đảm trong phạm vi toàn cầu không có đối thủ cạnh tranh với nước Mỹ. Tức là nói không có một quốc gia nào khác dùng phương thức chúng tôi chủ đạo thế giới phương Tây để chủ đạo khu vực của họ. Trong thế kỷ XX, Mỹ đã ra sức bảo đảm Nhật, Đức và Liên Xô không thể thống trị châu Á hoặc châu Âu, bởi lẽ Mỹ không muốn có những kẻ cạnh tranh như vậy. Tình hình hiện nay là Mỹ rất rõ ràng đã trở thành nước lớn mạnh nhất thế giới và không có đối thủ cạnh tranh hoặc đối thủ cạnh tranh tiềm tại. Trong một thời gian, tình hình này không thể thay đổi”. Điểm cao khống chế hiện nay của chiến lược quốc gia Mỹ là: ngăn ngừa sự xuất hiện kẻ cạnh tranh chiến lược, kẻ thách thức bá quyền, kẻ tiến bước ngang hàng, kẻ thay thế bá quyền. Tổng thống Mỹ suốt năm bận bịu giải quyết các loại mâu thuẫn. Nhưng vấn đề chiến lược căn bản nhất Tổng thống Mỹ quan tâm là địa vị bá quyền thế giới của Mỹ, là trên toàn cầu không có đối thủ cạnh tranh hoặc đối thủ cạnh tranh tiềm tại. Có thể nói, chiến lược của Tổng thống Mỹ là chiến lược giữ chiếc mũ bá quyền. Đây là tầm mắt thế giới của Tổng thống Mỹ, là đặc trưng chiến lược của Tổng thống Mỹ.
- Xây dựng thế giới hòa hợp cần tăng cường tinh thần cạnh tranh Trong thế kỷ XXI, Trung Quốc có một cơ hội, đó là cơ hội cạnh tranh một vòng mới giành quán quân thế giới với Mỹ. Cái gọi là cơ may chiến lược, mức độ cao nhất của nó là ở đây. Không thể để mất thời cơ, thời cơ rất khó trở lại. Cơ chế của Mỹ là cơ chế cạnh tranh, gồm hai mặt cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế. Trên mặt cạnh tranh quốc tế, Mỹ là cao thủ của chủ nghĩa bá quyền. Cạnh tranh trong nước gồm: cạnh tranh giữa hai đảng, cạnh tranh giữa các ngành của chính phủ, cạnh tranh giữa các bang, cạnh tranh giữa bên quân đội với địa phương, cạnh tranh giữa các quân chủng với nhau, cạnh tranh giữa tư bản nhà đất với tư bản tài chính, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mới cũ, cạnh tranh giữa các nhà tư bản lớn nhỏ, và cạnh tranh giữa các cá nhân. Người Mỹ được hun đúc trong chủ nghĩa Darwin xã hội, tôn sùng giá trị của cạnh tranh, coi năng lực cạnh tranh xuất sắc là phẩm chất một cá nhân cần phải có, lấy đó để ca ngợi. Nhưng chính là sự cạnh tranh trên các phương diện ở Mỹ đã tạo ra sự cân bằng chế ước lẫn nhau, thực hiện kết hợp cơ chế cạnh tranh với cơ chế cân bằng, bảo đảm sức sống và sự ổn định của nước Mỹ. Thế giới hòa hợp không phải là dựa vào một chữ “Hòa” là có thể tạo dựng nên. Cũng như thế giới hòa bình không phải là dựa vào một chữ “Hòa” mà có. Nguyên tắc “luật rừng” trong trật tự quốc tế vẫn tồn tại, trong tình hình chủ nghĩa bá quyền vẫn tồn tại, bất kể sự xây dựng “quốc gia dân chủ” bên trong một quốc gia hay xây dựng “thế giới dân chủ” trong cộng đồng quốc tế, đều không phải là một chữ “Hòa” là có thể tạo dựng nên. “Hòa” là một loại thủ đoạn, càng là một loại kết quả. Bất luận thế giới hòa bình, thế giới hòa hợp, thế giới dân chủ, tất cả đều là một loại kết quả cạnh tranh, đều là một kiểu cân bằng lực lượng. Nhưng trong một thời kỳ lịch sử tương đối dài trước đây, do người Trung Quốc thiếu tinh thần cạnh tranh và lực lượng cạnh tranh, một mực tôn sùng văn hóa “Hòa”, “Hòa vi quý”, “Hòa vi thượng”, kết quả không những làm cho trong nước thiếu động lực và sức sống mà cũng chẳng phát huy được tác dụng nên có của mình để tạo dựng sự cân bằng thế giới. Cho nên khi bàn về tính cách Trung Quốc, trong nội dung đả kích tính quốc dân Trung Quốc, Lỗ Tấn có nêu ra một điều quan trọng là “buồn rầu khi thấy người khác gặp sự không may, bực tức và tiếc nuối khi thấy người khác không chịu đấu tranh”. Lỗ Tấn không thấy hài lòng và hâm mộ mà thấy phẫn nộ với tính cách “bất tranh (không tranh đấu)” của Trung Quốc. Ông cho rằng, sự “bất tranh” của Trung Quốc là nguyên nhân quan trọng gây nên những nỗi bất hạnh và đau lòng. Tân Trung Quốc do Mao Trạch Đông dẫn dắt thế hệ người cách mạng Trung Quốc “tranh đấu” mà ra từ trong cuộc chiến tranh mấy chục năm. Trung Quốc trỗi dậy là do Đặng Tiểu Bình và mấy thế hệ nhà lãnh đạo đảng dẫn dắt một thế hệ cải cách Trung Quốc, trong cuộc đấu tranh phức tạp “Giấu mình chờ thời” mà giành được. Bước sang thế kỷ XXI, chỉ có trong quá trình cạnh tranh quốc gia quán quân và xông tới ngôi vị quốc gia lãnh tụ thì Trung Quốc mới có thể cuối cùng thực hiện sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa.
- III. Nước Mỹ đã kiềm chế Nhật vươn lên như thế nào? Sau Thế chiến II, nước Mỹ nhảy lên địa vị quốc gia quán quân thế giới. Trong nửa cuối thế kỷ XX Mỹ đã thành công tiến hành hai cuộc chiến bảo vệ vương miện quán quân: lần thứ nhất là trong nội bộ phe tư bản phương Tây, Mỹ đã ngăn chặn thành công sự vươn lên của Nhật Bản, một quốc gia có cùng hình thái ý thức với Mỹ. Lần thứ hai là ngăn chặn thành công sự cạnh tranh của Liên Xô, một nước có hình thái ý thức khác với Mỹ. Tiến sang thế kỷ XXI, Mỹ bắt đầu cuộc chiến bảo vệ vương miện quốc gia quán quân lần thứ ba, tức đối phó toàn diện với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ba cuộc chiến nói trên là ba chiến dịch lớn giữa quốc gia quán quân với quốc gia quán quân tiềm tại, ba chiến dịch có tính chiến lược tiến hành xoay quanh quyền chủ đạo thế giới và quyền lãnh đạo thế giới; ba chiến dịch này thuộc ba loại khác nhau. Trong ba chiến dịch lớn kể trên, Mỹ đã thắng hai - áp chế thành công Nhật Bản, ngăn chặn thắng lợi Liên Xô. Nhưng trong chiến dịch thứ ba đối phó với Trung Quốc, liệu Mỹ còn có thể thắng được hay không? Sự phung phí tài nguyên chiến lược của Mỹ làm cho ngày “Nhật Bản số Một” đến sớm hơn Chủ nghĩa bá quyền là một loại lợi ích bá quyền. Chủ nghĩa bá quyền cũng phải trả giá cho bá quyền. Nhưng chủ nghĩa bá quyền không có tiết chế sẽ gây ra sự lãng phí tài nguyên chiến lược, qua đó làm suy yếu địa vị bá quyền của nó. Nước Mỹ sau chiến tranh đã lên tới đỉnh cao của bá quyền. Nhưng chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam làm cho Mỹ phải trả giá chiến lược đau đớn, gây nên sự phung phí lớn tài nguyên chiến lược và sự sa sút sức mạnh bá quyền của Mỹ, tạo ra cho Nhật và các nước lớn công nghiệp châu Âu những cơ hội và điều kiện trỗi dậy về kinh tế. Warren Cohen từng viết: “Sau thất bại trong Thế chiến II, Nhật dùng 99% ngân sách nghiên cứu triển khai vào sản xuất dân dụng, nhờ đó dễ dàng chiếm được thị trường Mỹ, còn Mỹ thì dùng 50% ngân sách nghiên cứu triển khai vào chế tạo vũ khí và trang bị quân sự Sự nổi lên của các quốc gia thương mại như Nhật và Đức cho dù không xuất phát từ tự nguyện, các quốc gia này lựa chọn thương mại chứ không dùng biện pháp quân sự để tạo ra của cải và sức mạnh Do cuộc chiến tranh không lý trí ở Việt Nam, ít nhất nước Mỹ đã làm cho cái ngày “Nhật Bản số Một” đến sớm hơn. Cơ hội tạo dựng một phong cách lãnh đạo hậu bá quyền hoàn toàn mới cùng với của cải và sức mạnh của nước Mỹ thế là đã bị phung phí mất”. Trong thập niên 80 thế kỷ XX, mấy lực lượng chính trị như Nhật, châu Âu, Trung Quốc không ngừng trỗi dậy, cạnh tranh gay gắt với Mỹ trên các mặt năng lượng, thị trường, thương mại; cùng với những điều đó, tiếng hò hét “châu Âu tự chủ”, “Nhật Bản số Một” làm cho hệ thống đồng minh của Mỹ bị thách thức. Đặc biệt là thành tựu kinh tế của Nhật đã gây ra tác động gần như lật đổ đối với kinh tế Mỹ. Địa vị kinh tế “nước Mỹ số Một” trở nên hết sức nguy cấp. Thành tích kinh tế của Nhật Bản dẫn đầu thế giới, làm rung chuyển nước Mỹ Cùng với đà phát triển kinh tế Nhật sau chiến tranh, từ cuối thập niên 50 thế kỷ XX giữa Mỹ và Nhật xuất hiện sự cọ xát về thương mại, đến thập niên 80 đã phát triển tới mức “cọ xát có tính tổng hợp”. Phạm vi cọ xát thương mại Nhật - Mỹ đã không còn giới hạn ở các sản phẩm cá biệt mà mở rộng đến sự va chạm trên các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, tài chính cho tới cơ cấu ngành nghề. Trong lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, bán dẫn thuộc về ngành sản xuất trung tâm; “cuộc chiến bán dẫn” là một thí dụ điển hình về chiến tranh công nghệ cao giữa Nhật với Mỹ. Vì Mỹ phát minh ra bán dẫn nên mới đầu Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối. Năm 1977, sản phẩm bán dẫn Mỹ chiếm 3% trên thị trường Nhật, tỷ lệ này của Nhật tại Mỹ chỉ có 1,6%. Nhưng tới thập niên
- 80 thế kỷ XX, Nhật đi sau về trước, vượt Mỹ. Kết quả là các bộ nhớ dùng trong siêu máy tính Mỹ đều là hàng Nhật; các trang bị quân sự và vũ khí cấp cao cũng dùng chi tiết bán dẫn Nhật chế tạo. Theo thống kê của “Hội công nghiệp bán dẫn Mỹ”, doanh số thị trường bán dẫn Mỹ năm 1984 là 11,6 tỷ USD, năm 1987 tăng lên 18,1 tỷ USD, trong đó tỷ lệ của Nhật từ 14% tăng lên 20%. Trong thời kỳ đó tỷ lệ của Nhật trên thị trường bán dẫn thế giới từ 38% tăng lên 43%. Xét về sản phẩm công nghệ mũi nhọn, tỷ lệ chiếm hữu của máy tính Nhật trên thị trường Mỹ từ 1% năm 1980 tăng lên 7,2% năm 1984; tỷ lệ máy móc thông tin từ 1,8% tăng lên 3,6%; các cấu kiện điện tử từ 3,2% tăng lên 7,2%; các thiết bị điện tử như ti vi và máy ghi âm từ 27,1% tăng lên 40,2%. Do hàng điện tử Nhật xuất khẩu sang Mỹ tăng mạnh, tiếng nói phê phán Nhật trong dư luận Mỹ ngày một lên cao. Tháng 7 năm 1987 từng có người đập máy thu thanh do hãng Toshiba chế tạo ngay trước toà nhà Quốc hội Mỹ để tỏ ý phản đối, yêu cầu cấm toàn diện việc nhập sản phẩm Toshiba vào Mỹ. Cuối thập niên 80 thế kỷ XX, Nhật không ngừng xâm nhập nền công nghiệp quốc tế, và mua nhiều tài sản của Mỹ, trong đó có cả toà tháp Rockefeller “tượng trưng cho nước Mỹ” và công ty điện ảnh Columbia “linh hồn của nước Mỹ”. Vì Nhật ở vào địa vị chủ nợ của Mỹ, cho dù hối suất đồng dollar Mỹ và đồng Yen điều chỉnh lên xuống ra sao thì nhập siêu thương mại khổng lồ của Mỹ đối với Nhật trong một thời gian dài vẫn khó có thể cải thiện được. Giữa thập niên 80 thế kỷ XX, Nhật đã trở thành chủ nợ lớn nhất trên thế giới và Mỹ trở thành con nợ lớn nhất thế giới. Tương phản lớn giữa kinh tế Nhật với kinh tế Mỹ thể hiện nổi bật trên bốn mặt sau đây: thứ nhất, địa vị của hai nước Nhật - Mỹ trong nền kinh tế thế giới xuất hiện thay đổi lớn, tỷ lệ của Nhật trong tổng GDP toàn thế giới từ 2,2% năm 1955 tăng lên 12% năm 1986, còn tỷ lệ của Mỹ trong cùng thời kỳ đó giảm từ 36,3% xuống còn 25,7%. Thứ hai, khoảng cách về khoa học kỹ thuật giữa hai nước rút ngắn lại. Trong lĩnh vực khoa học mũi nhọn, Nhật không ngừng thách thức Mỹ. Đến năm 1980, tỷ lệ của Nhật trong xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao toàn thế giới tăng gần gấp đôi còn Mỹ thì giảm 16,67%. Trong 83 lĩnh vực khoa học kỹ thuật được xét, Nhật đã đuổi kịp hoặc vượt Mỹ trên 35 lĩnh vực; trên 18 lĩnh vực khác, mỗi nước đều có sở trường riêng. Thứ ba, địa vị của Nhật trong hoạt động kinh tế đối ngoại nổi trội. Trong 16 năm thời gian 1970 - 1986, quy mô xuất khẩu của Nhật tăng 10 lần, còn Mỹ chỉ tăng gấp đôi. Thặng dư thương mại với Mỹ của Nhật năm 1980 là 9,9 tỷ USD, năm 1986 tăng lên tới 58,6 tỷ. Đầu tư nước ngoài của Nhật tăng thần tốc, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm thời gian 1980 - 1986 lên tới 19,45%, còn Mỹ chỉ là 3,2%. Thứ tư, địa vị tài chính quốc tế của Nhật và Mỹ phát sinh đảo ngược. Thập niên 80 thế kỷ XX, Nhật trở thành “nước chủ nợ ròng” số một thế giới, còn Mỹ trở thành “nước con nợ ròng” lớn nhất thế giới. Tài sản ròng đối ngoại của Nhật năm 1986 lên tới 180,4 tỷ USD, tổng nợ của Mỹ lên tới 263,6 tỷ USD. Thập niên 80 thế kỷ XX trở thành những năm nước Nhật nổi đình đám. Cuối năm 1985, tài sản ròng của Nhật ở nước ngoài vượt Anh và CHLB Đức, trở thành nước chủ nợ lớn nhất thế giới. Đến năm 1988, Nhật trở thành nước lớn về đầu tư, nước lớn chủ nợ, nước lớn tài chính. Năm 1987, GDP của Nhật chiếm 15% tổng GDP toàn thế giới, bằng 56% GDP Mỹ. Năm 1988, GDP bình quân đầu người của Nhật vượt Thuỵ Điển, nhảy lên vị trí thứ nhất thế giới. Kinh tế Nhật nhanh chóng trỗi dậy làm cho ảnh hưởng quốc tế của Nhật tăng mạnh. Đầu thập niên 80 thế kỷ XX, tại phương Tây dấy lên phong trào học tập Nhật. Bộ trưởng Bộ Lao động Mỹ Marshall đi thăm Nhật về nói: “Năng suất lao động của Nhật năm nào cũng tăng, về mặt quan hệ chủ - thợ và kinh doanh của các doanh nghiệp, người Nhật có những ưu điểm mà Mỹ không có, chúng ta cần phải học tập cách quản lý này của Nhật”. Đại sứ Anh tại Nhật, Will Ford viết trong báo cáo gửi chính phủ Anh như sau: “Nếu giới doanh nghiệp Anh không sáng tạo ra công nghệ riêng của mình, không nhập công nghệ mới của Nhật và các nước ngoài thì cuối thế kỷ này nước Anh sẽ tụt xuống thành một quốc gia nhỏ về công nghiệp”. Ông đề nghị chính phủ Anh cử đại diện thường trú tại Nhật để phụ trách vấn đề này nhằm học tập người Nhật tốt hơn. Liên minh châu Âu trước kia chế nhạo người Nhật là những “kẻ mắc chứng ngộ độc lao động sống trong hang thỏ”, nay thay đổi quan điểm. Một người phụ trách nói: “Giống
- như ngày xưa người Nhật học chúng ta, ngày nay chúng ta cũng nên cố gắng đuổi theo và học người Nhật trong các lĩnh vực tiên tiến”. Nước Pháp xưa nay nhấn mạnh tự chủ, nay cũng đề xuất “Nước mà chúng ta nên học tập không phải là châu Âu mà là Nhật”. Hồi ấy, khắp nơi trên thế giới đua nhau mở các cuộc hội thảo học “bí quyết thành công” của Nhật. Các đoàn khảo sát lũ lượt kéo đến nước Nhật. Riêng một cơ quan phụ trách năng suất lao động Nhật trong thời gian tháng 4 đến tháng 8 năm 1980 đã tiếp hơn 20 đoàn đến thăm. Năm 1988, hội phí do Nhật nộp cho Liên Hợp Quốc chiếm 10,84% tổng hội phí của tổ chức này, vượt Liên Xô, chiếm hàng thứ hai. Vào thập niên 80 thế kỷ XX, Nhật không những trở thành nước có xuất siêu lớn nhất thế giới và nước chủ nợ lớn nhất thế giới, mà trong nhiều ngành công nghệ cao Nhật đã thách thức ưu thế dẫn đầu của các doanh nghiệp Mỹ. Có một dạo khắp nơi bàn tán om sòm về việc Nhật sẽ thay Mỹ chiếm địa vị bá chủ nền kinh tế thế giới. Nhật là đồng minh quan trọng của Mỹ đồng thời cũng là đối thủ cạnh tranh hùng mạnh về kinh tế. Sự cọ sát giữa Nhật với Mỹ chẳng những xuyên suốt thập niên 80 mà còn liên tục chỉ có tăng không giảm. Năm 1982, nhập siêu thương mại của Mỹ với Nhật là 7 tỷ USD, năm 1983 lên tới 19 tỷ USD, 1984 bằng 37 tỷ USD; sau năm 1984 mỗi năm đều vào cỡ trên dưới 50 tỷ USD. Mấy lần cọ xát thương mại Nhật - Mỹ phần lớn đều kết thúc bằng sự nhân nhượng của Nhật. Năm 1988, Quốc hội Mỹ thông qua “Luật thương mại tổng hợp”, yêu cầu trả đũa đối với các quốc gia không công bằng trong buôn bán. Tháng 5 năm 1989, căn cứ theo điều khoản 301 luật đó, Mỹ tuyên bố Nhật là “quốc gia buôn bán không công bằng”. Tiếp đó hai bên bắt đầu đàm phán. Cuối thập niên 80, cọ xát thương mại ngày càng gay gắt khiến cho tinh thần dân tộc của hai nước tăng lên. Thặng dư buôn bán Nhật tích lũy được rất lớn, vốn của Nhật “ào ào xâm nhập” nước Mỹ, thổi lên làn gió mua tài sản của Mỹ. Các doanh nghiệp và tài sản nhà đất đều trở thành đối tượng Nhật mua lại, xu thế mua rất mạnh mẽ gây ra sự lo lắng trong công chúng Mỹ. Nhất là năm 1989, công ty Sony và công ty bất động sản Mitsubishi Nhật mua công ty giải trí và làm phim Columbia và trung tâm Rockefeller New York. Công ty giải trí - làm phim Columbia là tượng trưng cho văn hóa nghe nhìn của nước Mỹ, trung tâm Rockefeller là kiến trúc tiêu biểu của nước Mỹ. Hai vụ mua bán lớn này đã kích thích mạnh tình cảm công chúng Mỹ. Trên mặt kinh tế, Nhật hung hăng bức bách Mỹ, khiến cho “Thuyết Nhật Bản đe dọa” trở thành một trào lưu tư tưởng tại nước Mỹ. Bên trong bên ngoài Quốc hội Mỹ ầm ỹ tiếng la hét đòi “Trị cho Nhật Bản một trận”, “Trả đũa Nhật Bản”, “Ngăn chặn Nhật Bản”. Dư luận cho rằng “Sức mạnh kinh tế Nhật đe dọa Mỹ còn hơn cả sức mạnh quân sự của Liên Xô”, “Nếu không coi trọng sự xâm lược về kinh tế của Nhật Bản thì nước Mỹ sẽ khó mà làm chủ được số phận của mình”. Sự cọ sát kinh tế giữa Nhật với Mỹ đã vượt quá phạm vi kinh tế, về thực chất đã nâng lên đến mức là sự cọ sát tình cảm của dân chúng; sự đối kháng về tâm lý xã hội đã trở thành cuộc chiến giữa hai nước. Nhật Bản có thể nói “Không”: nước Nhật muốn làm trụ cột của thế giới, muốn đóng vai chính trong lịch sử Năm 1989, Akio Morita Chủ tịch Hội đồng Quản trị công ty Sony và Shintaro Ishihara nghị sĩ đảng Dân chủ Tự do cùng nhau viết cuốn sách “Nhật Bản có thể nói Không”. Cuốn sách này kịch liệt phê phán đả kích việc Mỹ thực hiện chính sách kinh tế thương mại “Bắt rễ từ thành kiến nhân chủng lệch lạc”, khuyến khích Nhật từ bỏ “ý thức nước nhỏ” hình thành sau Thế chiến II và ý thức khuất phục theo Mỹ, đi con đường độc lập tự chủ, “gánh vác trách nhiệm nặng nề là cột trụ trung lưu thời đại mới”, trở thành vai chính sáng tạo lịch sử thế giới mới. Việc xuất bản cuốn sách kể trên đã “làm rung chuyển mối quan hệ Mỹ - Nhật”. Dư luận Mỹ cho rằng, cuốn sách này đã “công bố trước thế giới sự phẫn nộ và kiêu ngạo của người Nhật”. Trong bối cảnh như vậy, mối quan hệ Mỹ - Nhật bước sang thập niên 90 thế kỷ XX.
- “Nhật Bản muốn bắt đầu chuyến đi biển xa lần thứ ba”, “Nhật Bản muốn trở thành một đám mây ngũ sắc dẫn dắt thế giới” - đây là lời tuyên bố của Thủ tướng Nhật Zenko Suzuki năm 1981 tại buổi chiêu đãi trọng thể do Hội Nhật Bản tổ chức tại New York, về sau được người ta gọi là “Lần khai quốc [mở nước] thứ ba” hoặc “Khởi điểm mới thứ ba”. Lần khai quốc thứ nhất của Nhật là nói năm 1853 hạm đội Mỹ buộc Mạc Phủ Tokugawa khai quốc; sau đó qua cuộc Duy tân Minh Trị khiến Nhật trở thành một trong các cường quốc thế giới. Lần khai quốc thứ hai là nói sau Thế chiến II, nước Nhật trải qua sự phục hưng nhanh chóng trở thành nước lớn kinh tế thứ hai thế giới phương Tây, hoàn thành sứ mạng đuổi kịp các nước phát triển Âu Mỹ. Lần khai quốc thứ ba bắt đầu từ thập niên 80 thế kỷ XX, Nhật muốn từ một nước hưởng lợi bị động biến thành nước sáng tạo tích cực, với mục tiêu phấn đấu là từ “nước lớn kinh tế” đi lên “nước lớn chính trị”. Viện Nghiên cứu tổng hợp Nomura của Nhật Bản xuất bản cuốn “Xã hội kiểu chín muồi Nhật Bản”, trong đó có nói rõ: “Nước Nhật đứng trước thời cơ chuyển đổi quan trọng trong lịch sử”, “Hơn 100 năm nay, Nhật luôn luôn lấy các quốc gia tiên tiến Âu - Mỹ làm mục tiêu, lấy phát triển kinh tế làm trục chính, toàn tâm toàn ý đi theo con đường muốn trở thành quốc gia tiên tiến”, “Hiện nay mục tiêu Nhật Bản cần giành được đã biến mất trên đường kéo dài của trục phát triển kinh tế”, “Trọng tâm phát triển từ nay về sau của Nhật Bản không còn ở trên trục phát triển kinh tế nữa mà sẽ là phát triển nhiều mặt hoặc phát triển kiểu nhiều trục”, “Trong quá trình chuyển sang thế kỷ XXI từ nay trở đi Nhật sẽ nâng cao trình độ chín muồi để làm quốc gia tiên tiến”. Trong “Sách Trắng kinh tế ” đưa ra hồi đầu thập niên 80 thế kỷ XX chính phủ Nhật chính thức tuyên bố “Nhật Bản đã hoàn thành sứ mạng đuổi và vượt các quốc gia phát triển ở Âu, Mỹ”, và trong “Triển vọng dài hạn về chính sách công nghiệp thập niên 80” có đề ra từ nay trở đi sẽ từ “thời đại mô phỏng và theo đuổi khai hóa văn minh” tiến sang “thời đại khai phá văn minh sáng tạo và dẫn đầu”. Năm 1981, Thủ tướng Zenko Suzuki khi sang thăm Mỹ đã nói rõ hơn: “Phải thay đổi tư thế bị động trước đây áp dụng”, “thi hành tinh thần chủ động của mình”, “dùng phương thức tương xứng nhất với tài cán và năng lực của Nhật để phát huy tác dụng tương xứng với lực lượng và địa vị của Nhật”. Năm 1982, vài ngày trước hôm nhậm chức Thủ tướng Nhật, ông Yasuhiro Nakasone nói với nguyệt san “Chính luận”: “Cho tới nay chúng ta luôn cố gắng đuổi theo một đám mây trên đỉnh đèo mà hiện nay đám mây đó đã biến mất, chúng ta cần sáng tạo một đám mây mới”. Nước Nhật cần từ quốc gia kiểu bám đuổi, quốc gia kiểu bắt chước chuyển sang quốc gia kiểu sáng tạo, quốc gia kiểu khai phá, quốc gia kiểu dẫn dắt, thể hiện chí khí lớn của nước Nhật. Nhật Bản trở thành đối thủ số một của Mỹ Nhật Bản - bạn đồng minh của Mỹ đã trở thành đối thủ chiến lược số một của Mỹ. Nước Mỹ hồi thập niên 80 thế kỷ XX vừa phải đối kháng Liên Xô lại vừa phải ngăn chặn Nhật Bản, đồng thời đứng trước hai đối thủ chiến lược. Do xu thế Nhật tranh giành bá chủ kinh tế thế giới rất mạnh mẽ cho nên khắp nước Mỹ ai ai cũng cảm thấy nguy cơ Nhật Bản ngày một gay gắt. Cảm giác nguy cơ của người Mỹ đối với Nhật Bản thể hiện trên bốn mặt sau: 1. “Thuyết Nhật Bản đe dọa” lan tràn khắp nước Mỹ. Theo kết quả cuộc điều tra dư luận tiến hành hồi tháng 1 năm 1989 của công ty dư luận “Tập đoàn Nội tình Mỹ” tại Boston, 63% dân Mỹ cho rằng “So với lực lượng quân sự Liên Xô thì sức mạnh kinh tế Nhật tạo ra sự đe dọa lớn hơn đối với việc bảo đảm an ninh của nước Mỹ”. Báo chí đưa tin, một văn bản truyền đọc tại Quốc hội Mỹ viết: “Mỹ đang đứng trước hai loại chiến tranh thế giới, tức đấu tranh quân sự với Liên Xô và đấu tranh kinh tế, kỹ thuật với Nhật”, “Vũ khí hạt nhân của Mỹ đủ để ngăn chặn
- Liên Xô phát động tấn công quân sự nhưng Mỹ lại chưa có biện pháp kinh tế tương đương với vũ khí hạt nhân đủ để ngăn chặn cuộc tấn công của Nhật”, “Nếu Nhật thừa thắng xông lên thì cuối cùng Mỹ sẽ rơi vào cảnh trở thành thuộc địa kinh tế của Nhật”. Văn bản này cảnh báo: “Nhật Bản đã bắt đầu đe dọa sự tồn tại của nước Mỹ”. Như vậy Mỹ đã công nhiên xếp nước đồng minh của mình là Nhật Bản vào bên phía Liên Xô, coi là một trong các đối tượng Mỹ tiến hành “hai loại chiến tranh thế giới”. Qua đó có thể thấy cảm giác nguy cơ đối với Nhật của Mỹ nghiêm trọng tới mức nào. 2. Mỹ cực kỳ lo ngại trước dã tâm chiến lược của Nhật Bản. Về chính trị, Mỹ lo ngại Nhật lấy nước lớn kinh tế làm hậu thuẫn để chiếm địa vị lãnh đạo thế giới, áp đảo Mỹ. Sau khi Mỹ rơi xuống địa vị “nước con nợ” số một không ít người Mỹ cảm thấy rất lo ngại về sự thách thức mạnh mẽ của Nhật, cho rằng địa vị lãnh đạo và năng lực lãnh đạo có tính toàn cầu của Mỹ đang có nguy hiểm. Về kinh tế, Mỹ lo ngại bị Nhật khống chế. Cuối thập niên 80 thế kỷ XX, đầu tư của Nhật tại Mỹ tăng mạnh, ngoài việc mua bất động sản ra, Nhật còn bắt đầu trực tiếp đầu tư vào các nhà máy, xí nghiệp Mỹ. Năm 1987, khoản đầu tư Nhật dùng vào lĩnh vực này lên tới 30,9 tỷ USD, tăng 1/3 so với năm 1986. Người Nhật còn mua các doanh nghiệp Mỹ, thí dụ công ty lốp xe và cao su Firestone Tire & Rubber nổi tiếng nước Mỹ bị người Nhật mua với giá 2,6 tỷ USD. Tính đến năm 1987, người Nhật đã nắm tới 110 tỷ USD các loại cổ phiếu, trái khoán và công trái Mỹ. Sự xâm nhập mạnh mẽ của tư bản Nhật làm cho không ít người Mỹ lo ngại nước Mỹ sẽ rơi vào cảnh ngộ trở thành thuộc địa kinh tế của Nhật Bản. 3. Về quân sự, Lầu Năm Góc lo ngại Nhật sẽ đe dọa an ninh của Mỹ. Ngày càng có nhiều người Mỹ cho rằng sự đe doạ quân sự của Liên Xô đối với Mỹ sẽ không còn là thách thức nghiêm trọng nhất nữa mà Nhật sẽ đe dọa an ninh của Mỹ hơn cả Liên Xô. Nước Nhật về thực lực kinh tế sẽ vượt Mỹ, nếu về quân sự lại lớn mạnh hơn thì sẽ vô cùng nguy hiểm đối với Mỹ. Nhân vật quan trọng phụ trách soạn thảo chính sách an ninh Mỹ là Brent Scowcroft từng viết bài trình bày ý: “Từ nay trở đi không nên yêu cầu Nhật Bản tăng tỷ lệ của ngân sách quốc phòng”. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Lawrence Eagleburger viết bài chỉ rõ, việc tăng cường lực lượng phòng vệ Nhật Bản sẽ tổn hại lợi ích của Mỹ. Kissinger rung chuông báo động mọi người: “Nhật Bản có thể trở thành nước lớn về quân sự”. 4. Nhật Bản tăng mạnh niềm tin đòi chia sẻ quyền lực với Mỹ. Vào lúc cảm giác nguy cơ của Mỹ đối với Nhật không ngừng tăng lên thì phía Nhật cũng tăng tốc bước đi tiến tới trở thành nước lớn chính trị, ra sức đòi giành được quyền phát ngôn nhiều hơn trong việc tái phân phối quyền lực ở phương Tây. Trước tiên là ra sức thay đổi nền “ngoại giao theo đuôi” nghiêng một bên về phía Mỹ, thi hành ngoại giao tự chủ, công khai đề xuất đòi đóng vai trò “một trong các quốc gia chủ yếu giữ gìn trật tự quốc tế”. Tháng 9 năm 1989, Thủ tướng Nhật Kaifu Toshiki khi đến thăm Mỹ đã công khai tuyên bố “Nhật Bản không còn là anh học trò nhỏ ngoan ngoãn vâng lời ông thầy Mỹ nữa mà là hợp tác bình đẳng, có lúc là đối tác cạnh tranh”. Ông còn đề nghị Mỹ giảm bớt các nghĩa vụ gánh vác trên toàn cầu, để Nhật Bản có “đóng góp quốc tế” tương xứng với nước mình. Do sức mạnh kinh tế sa sút, Mỹ không thể không yêu cầu Nhật chia sẻ nghĩa vụ với mình. Nhật cũng tăng nhanh viện trợ ra nước ngoài, trở thành nước lớn số một trên thế giới về viện trợ đối ngoại. Hàm nghĩa thực sự của việc Thủ tướng Kaifu Toshiki nhấn mạnh yêu cầu chia sẻ nghĩa vụ với Mỹ là muốn chia sẻ quyền lực với Mỹ. Cố vấn đặc biệt của Bộ Công nghiệp Nhật Bản Kuroda nói: “Mỹ phải xem xét vấn đề chia sẻ quyền lực kèm theo chia sẻ nghĩa vụ.” Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Okita Saburo cũng nói: “Giờ đây Mỹ cần thay đổi tâm lý và phương pháp tư duy của họ”, “Nếu Mỹ muốn nước khác giúp họ xử lý vấn đề kinh tế thế giới thì họ ắt phải đồng ý để chúng tôi chia sẻ quyền quyết sách hoặc quyền chịu trách nhiệm”. Trước kia khi cọ xát giữa Nhật với Mỹ được giảm bớt, đa phần là phía Nhật nhân nhượng, giờ đây thì Nhật dám nói “Không” với Mỹ.
- Sự thăng trầm của các cường quốc” thôi thúc ý thức lo hoạn nạn của người Mỹ Năm 1979, học giả Ezra Vogel ở đại học Harvard xuất bản cuốn “Nhật Bản số Một”, gây ra phản ứng lớn trên toàn thế giới, trở thành sách bán chạy nhất tại Mỹ và Nhật. Năm 1987, giáo sư lịch sử Paul Kennedy tại Đại học Yale xuất bản sách “Sự thăng trầm của các cường quốc”(75). Đây lại là một cuốn sách bán chạy phổ biến khắp thế giới. Nếu nói “Nhật Bản số Một” là từ sự trỗi dậy của Nhật Bản nói lên sự tụt lại của Mỹ, thế thì “Sự thăng trầm của các cường quốc” đã trực tiếp vạch ra sự sa sút của Mỹ. Trong sách này, Paul Kennedy vạch ra toàn diện các triệu chứng suy thoái của Mỹ. Ông tuyên bố “Tốc độ sa sút tương đối của Mỹ thậm chí còn vượt cả Liên Xô”. Ông lớn tiếng kêu gọi: vấn đề nước Mỹ hiện nay đang đương đầu không phải là vấn đề có sa sút hay không mà là làm thế nào để sa sút một cách có thể diện như đế quốc Anh năm xưa. Có một dạo “Thuyết nước Mỹ suy thoái” trở thành đề tài bàn tán nóng hổi trên khắp nước Mỹ. Hai cuốn sách “Nhật Bản số Một” và “Sự thăng trầm của các cường quốc” phản ánh nỗi lo lắng hoạn nạn của giới tinh anh Mỹ. “Thuyết nước Mỹ suy thoái” không chỉ là ý kiến của vài học giả mà là cả một quần thể lớn tiếng báo động dân chúng Mỹ. Nỗi lo lắng của quần thể tinh anh đã kéo theo và đẩy mạnh cả một trào lưu tư tưởng của toàn bộ xã hội Mỹ. Nhiều người Mỹ cho rằng, Mỹ có thể chiếm thế thượng phong trong cuộc cạnh tranh giữa phương Đông với phương Tây, nhưng trong cuộc cạnh tranh kinh tế với Nhật và châu Âu thì Mỹ lại là kẻ thua, thậm chí đánh mất địa vị siêu cường. Ý thức nguy cơ mãnh liệt là động lực số một thúc đẩy nước Mỹ ứng phó với sự thách thức. Phản công chiến lược: ném bom nguyên tử tài chính Trong tình hình Nhật nhanh chóng trỗi dậy, chính phủ Mỹ đặt mục tiêu cơ bản trong chính sách đối với Nhật là bảo đảm địa vị lãnh đạo của Mỹ, buộc Nhật chia sẻ trách nhiệm. Nói cụ thể là: trên vấn đề thương mại song phương, bắt Nhật phải nhượng bộ Mỹ, giúp Mỹ giảm thâm hụt thương mại; về mặt kinh tế, yêu cầu Nhật đóng góp nhiều hơn nhưng đề phòng Nhật Bản lợi dụng viện trợ và đầu tư để ảnh hưởng tới môi trường chiến lược của Mỹ; về chính trị, cho phép Nhật phát huy tác dụng nhiều hơn nhưng không cho phép thay thế Mỹ; về quân sự, dưới tiền đề duy trì sự lãnh đạo tuyệt đối của Mỹ, để Nhật nâng cao năng lực phòng vệ, cùng Mỹ chia sẻ chi phí bảo đảm an ninh. Chiến lược toàn cầu của Mỹ trong thời gian chiến tranh lạnh có hai cột trụ quan trọng: một là Khối Bắc Đại Tây Dương NATO, hai là đồng minh Mỹ - Nhật. Mối quan hệ Mỹ - Nhật xưa nay được coi là hòn đá tảng trong chính sách châu Á của Mỹ. Nhiều năm nay hai nước này luôn mâu thuẫn với nhau trên vấn đề phòng vệ an ninh. Mỹ oán trách Nhật Bản dốc toàn lực phát triển kinh tế mà không chịu chi tiền cho phòng vệ an ninh, là vị “khách đi tàu an ninh không mua vé”, ra sức ăn chạc kinh phí của Mỹ, yêu cầu Nhật chia sẻ nhiều hơn trách nhiệm phòng vệ. Nhưng Nhật đã là một nước lớn kinh tế và đang theo đuổi địa vị nước lớn chính trị, không phải là quốc gia Mỹ có thể tuyệt đối khống chế được. Mỹ muốn Nhật chia sẻ gánh nặng chi phí và trách nhiệm, Nhật thì muốn chia sẻ quyền lợi với Mỹ. Sự phản kích của Mỹ đối với Nhật về cơ bản đã giành lại quyền chủ động chiến lược của Nhật, chủ yếu dựa vào hai thủ đoạn: một là thi hành chiến tranh tài chính với Nhật, coi như dùng vũ khí hạt nhân tài chính tấn công Nhật; hai là sáng tạo “nền kinh tế Mới” với đặc trưng cơ bản là tin học hóa và toàn cầu hóa. Nói về hậu quả chí mạng của việc Mỹ sử dụng vũ khí hạt nhân tài chính tấn công kinh tế Nhật, giáo sư Tề Thế Vinh ở khoa lịch sử Đại học Sư phạm Thủ đô cho biết: năm 1999, nước Mỹ chiếm 4,5% tổng số dân toàn thế giới mà sử dụng 85% vốn lưu động và 72% dự trữ của thế giới, điều đó cho thấy Mỹ vẫn chiếm địa vị bá chủ trong lĩnh vực tiền tệ thế giới. Do địa vị đặc biệt của đồng dollar Mỹ trong nền kinh tế thế giới khiến Mỹ có thể qua điều khiển tỷ giá hối
- đoái của đồng tiền này - chủ yếu là sụt giá biên độ lớn, để gán khó khăn kinh tế lên đầu các nước khác. Sau “Hiệp định Quảng trường”(76) ký kết giữa Mỹ với Đức và Nhật năm 1985, tỷ giá hối đoái của đồng Yen Nhật tăng gấp đôi trong hai năm, bong bóng kinh tế Nhật nổ vỡ dẫn đến cuộc suy thoái kinh tế kéo dài 10 năm của nước này. Điều đó nói lên Mỹ có thể lợi dụng địa vị bá quyền của đồng dollar để đánh bại đối thủ mà giành lấy phần thắng. Cái gọi là “Hiệp định Quảng trường” là cuộc họp Bộ trưởng Tài chính năm nước Mỹ, Anh, CHLB Đức, Pháp và Nhật tại khách sạn Quảng trường, công bố “Hiệp định Quảng trường” bày tỏ hy vọng nâng cao một mức nhất định tỷ giá hối đoái của các đồng tiền chính đối với đồng USD. Sau đó Nhật buộc phải nâng giá trị đồng Yen Nhật; trong một năm sau đó, hối suất của đồng Yen Nhật tăng 60%, dẫn tới hậu quả từ sau thập niên 90 thế kỷ XX, kinh tế Nhật xuất hiện tình trạng sa sút liền trong gần 10 năm, đến năm 2005 mới bắt đầu nhích lên từ từ. “Hiệp định Quảng trường” buộc Nhật Bản phải mở cửa chính sách tiền tệ, đồng Yen tăng giá chẳng khác gì chiếc diều đứt dây, nền kinh tế bong bóng sụp đổ, nước Nhật giống như con rùa bị lật ngửa mặt lên trời, trong một thời gian dài không trở mình được. Trong thời gian 1993-2000, nước này liên tục thay 7 Thủ tướng, nhiệm kỳ bình quân của mỗi Thủ tướng chưa đầy một năm. Đồng thời với việc sử dụng vũ khí tiền tệ đánh cho Nhật thất điên bát đảo, Mỹ còn khởi động chuyến tàu nhanh Kinh tế Mới, bỏ Nhật xa tít đằng sau mình. Nhật giải quyết không hiệu quả nạn kinh tế bong bóng, tình trạng kinh tế đình trệ xuất hiện xu thế kéo dài. Đến giữa thập niên 90 thế kỷ XX, kinh tế Mỹ phục hồi mạnh mẽ, hơn nữa lại nhờ cuộc cách mạng tin học mà có được sức cạnh tranh trội hơn các nước khác. Từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX, nhiều người Mỹ lo lắng về việc sức cạnh tranh kinh tế của Mỹ suy yếu và sút kém, về sự suy sụp địa vị bá quyền của Mỹ. Nhưng khi thập niên 90 kết thúc, chẳng những không xuất hiện tình trạng suy sụp tuyệt đối của Mỹ họ từng lo ngại, mà xu thế sa sút tương đối thực lực nền kinh tế Mỹ sau chiến tranh Việt Nam cũng được xoay chuyển. Sau khi trải qua tình trạng suy thoái nhẹ cuối 1990 tới đầu 1991 (theo thống kê của Bộ Thương mại Mỹ, tăng trưởng kinh tế quý 4 năm 1990 là âm 1,6%; quý 1 năm 1991 là âm 2,8%), kinh tế Mỹ tiến sang thời kỳ phát triển nhanh chóng, kéo dài. Cho đến cuối năm 1999, kinh tế Mỹ thực hiện tăng trưởng dài hạn liên tục 105 tháng (vòng tăng trưởng này cuối cùng chấm dứt vào quý 4 năm 2000, thời gian liên tục tăng trưởng là 114 tháng). Đây là quãng thời gian tăng trưởng trong hòa bình dài nhất của kinh tế Mỹ kể từ giữa thế kỷ XIX. Hồi ấy, các nước Tây Âu khốn khổ vì tỷ lệ thất nghiệp cao, kinh tế không còn hơi sức tăng trưởng; bong bóng kinh tế Nhật nổ vỡ, nền kinh tế rơi vào tình trạng đình trệ. Kinh tế Mỹ xuất hiện tình trạng tăng trưởng như huyền thoại, một mình nổi bật trong số các nước phát triển. Tỷ lệ của kinh tế Mỹ trong nền kinh tế thế giới cũng ngừng sa sút mà tăng trở lại. Năm 1990, tỷ lệ GDP của Mỹ, EU và Nhật là 1,88 : 2,07 : 1; GDP của Mỹ chiếm 25,29% tổng GDP toàn thế giới. Tới năm 2000 tỷ lệ này tăng lên đến 27,07%, đạt 7.898 tỷ USD. Tỷ lệ GDP của Mỹ, EU và Nhật bấy giờ là 2,2 : 2,2 : 1. Tất cả các chỉ tiêu cơ bản của kinh tế Mỹ đều chuyển biến tốt toàn diện. Đây không những là hiện tượng hiếm thấy trong chu kỳ kinh tế hiện đại của Mỹ mà cũng không phù hợp với lý thuyết dòng chính của kinh tế học phương Tây. Đã xuất hiện hiện tượng Kinh Tế Mới hoàn toàn khác với hiện tượng kinh tế truyền thống. Hiện tượng Kinh Tế Mới này chủ yếu có 3 biểu hiện: 1. Trong thời gian nhậm chức, Tổng thống Clinton đã tiêu diệt triệt để được thâm hụt ngân sách liên bang vượt quá 200 tỷ USD, từ 1998 bắt đầu chuyển sang dôi dư tài chính, hơn nữa còn thực hiện tăng trưởng kinh tế hàng năm bình quân trên 3%. Nước Mỹ giảm được thâm hụt ngân sách, áp dụng chính sách tài chính có tính thắt chặt mà không gây ra suy thoái kinh tế. 2. Trong quá trình tăng trưởng kinh tế hồi thập niên 90 thế kỷ XX, nước Mỹ luôn luôn giữ được tỷ lệ thất nghiệp dưới 5% và tỷ lệ lạm phát thì luôn luôn được
- kiềm chế ở mức 2%, thậm chí thấp hơn. Lý thuyết kinh tế truyền thống cho rằng tỷ lệ thất nghiệp thấp dưới mức tự nhiên thì sẽ dẫn đến lạm phát cao, nhưng lý thuyết này đã mất thiêng trước nền Kinh Tế Mới. 3. Năng suất lao động được nâng cao rõ rệt mà tỷ lệ hồi vốn luôn giữ ở mức cao, thị trường cổ phiếu lại càng liên tục tăng điểm mạnh. Địa vị bá chủ của kinh tế Mỹ được củng cố và tăng cường là nhờ sự xuất hiện của hiện tượng Kinh Tế Mới. Hiện tượng này bắt nguồn từ sự bứt phá của nước Mỹ dẫn đầu thế giới về công nghệ tin học. Thập niên 90 thế kỷ XX ngành tin học có tỷ suất cống hiến 35% đối với tăng trưởng kinh tế Mỹ. Số người có việc làm trong ngành tin học (theo nghĩa rộng gồm cả thông tin, truyền thông v.v.) chiếm khoảng 60% tổng số lao động Mỹ; ngành máy tính và thông tin chiếm 8,2% GDP năm 1998(77), trở thành ngành sản xuất lớn nhất vượt cả ngành xe hơi và xây dựng. Ngành tin học không những thông qua sự phát triển tự thân mà còn thông qua khả năng cải tạo các ngành sản xuất truyền thống mà nâng cao đáng kể năng suất lao động, giảm tiêu hao năng lượng và vật liệu, tăng cường năng lực tăng trưởng bền vững. Từ giữa thập niên 90 thế kỷ XX trở đi, sức cạnh tranh quốc tế của Mỹ liên tục xếp thứ nhất thế giới. Mỹ cải thiện được tình trạng lạc hậu một thời trong các lĩnh vực công nghệ linh kiện điện tử, công trình kỹ thuật, công nghệ gia công, giành được tiến bộ mới, dẫn đầu bỏ xa các nước khác về mặt phát triển các công nghệ mới quan trọng xây dựng trên cơ sở tin học, chiếm địa vị chủ động. Đồng thời Mỹ củng cố hơn nữa địa vị của mình trong các lĩnh vực có ưu thế truyền thống như sinh vật, môi trường, thiết kế công trình. Gợi ý từ chiến dịch lớn ngăn chặn Nhật Bản của Mỹ Việc Mỹ tiến hành ngăn chặn Nhật để lại cho mọi người ba điểm gợi ý: 1. Trên vấn đề “Mỹ thứ nhất” hay “Nhật thứ nhất”, trong cuộc cạnh tranh giữa quốc gia quán quân với quốc gia quán quân tiềm tại, nhân tố hình thái ý thức và chế độ xã hội mãi mãi đứng hàng thứ hai, suy nghĩ về lợi ích quốc gia, địa vị quốc gia bao giờ cũng xếp thứ nhất. Khi Nhật tiến sát Mỹ về kinh tế, ảnh hưởng tới địa vị quốc gia quán quân và quốc gia lãnh tụ của Mỹ thì Mỹ có thể xếp nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô ra đằng sau mà coi Nhật - quốc gia có cùng hình thái ý thức và chế độ xã hội với Mỹ - là đối thủ số một. 2. Trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, trong cuộc cạnh tranh giành địa vị căn bản trên thế giới, vào thời khắc then chốt của cuộc chơi chiến lược, cái gọi là “âm mưu” và “cạm bẫy” có thể được sử dụng và có thể phát huy tác dụng. ”Hiệp định Quảng trường” ký kết với Nhật do Mỹ thao túng là một âm mưu tài chính, một cạm bẫy tài chính, một cuộc chiến tranh tiền tệ. Bởi vậy, không phải là không có lý do sử dụng “Thuyết âm mưu” và “Thuyết cạm bẫy” trên sân khấu quốc tế . 3. Trong cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn, muốn về cơ bản giành được quyền chủ động chiến lược, muốn thật sự trở thành kẻ thắng, chỉ dựa vào vốn cũ là không được, chỉ dựa vào “Thuyết âm mưu” và “Thuyết cạm bẫy” cũng như chỉ dựa vào việc ngăn chặn sự phát triển của đối thủ là không đủ. Vấn đề mấu chốt, nhân tố quyết định vẫn là phải thiết thực phát triển lực lượng bản thân, trong sáng tạo và khai thác phải hình thành ưu thế lớn mạnh vượt đối thủ. Trong thập niên 90 thế kỷ XX, Mỹ có thể bỏ xa Nhật, nhân tố “Kinh tế Mới” phát huy tác dụng lớn nhất giành thắng lợi. Cho nên cuộc đua Mỹ thắng Nhật này vừa phải dựa vào việc làm giảm tốc độ tiến bộ của đối thủ lại càng phải dựa vào việc tăng tốc độ tiến lên của mình.
- IV. Mỹ ngăn chặn sự cạnh tranh của Liên Xô như thế nào Nếu nói rằng việc Mỹ ngăn chặn Nhật là sự ngăn chặn “bên trong mặt trận”, là sự ngăn chặn nội bộ đồng minh, thế thì việc Mỹ ngăn chặn Liên Xô là sự ngăn chặn “bên ngoài mặt trận”, ngăn chặn đối thủ bên ngoài khối đồng minh của Mỹ. Hơn nữa chiến dịch này là một chiến dịch “marathon” kéo dài gần nửa thế kỷ. Chiến tranh lạnh là phát minh chiến lược của Mỹ Khái niệm chiến tranh lạnh là do người Mỹ sáng tạo và đưa ra. Thượng nghị sĩ Mỹ Bernard Baruch trong một bài nói chuyện hôm 16 tháng 4 năm 1947 lần đầu tiên đề xuất khái niệm “chiến tranh lạnh”. Nhà bình luận nổi tiếng người Mỹ Lippmann đã viết một loạt bài về vấn đề này. Từ đó trở đi khái niệm “chiến tranh lạnh” được lưu hành và sử dụng rộng rãi. “Chiến tranh lạnh” trở thành danh từ chuyên dùng trong chính sách của Mỹ sau chiến tranh, nhất là trong chính sách đối với Liên Xô, nó cũng được cộng đồng quốc tế tán đồng và tiếp thu rộng rãi. “Chiến tranh lạnh” là gì? Đâu là định nghĩa của “chiến tranh lạnh”. Có ba loại định nghĩa: Một là định nghĩa của Liên Xô; họ cho rằng chiến tranh lạnh là chính sách Mỹ và các nước đế quốc khác áp dụng để đối phó với các nước xã hội chủ nghĩa, trước tiên là Liên Xô, trong thời kỳ sau Thế chiến II, từ thập niên 40 tới thập niên 60 thế kỷ XX, nhằm mục đích huỷ hoại thành quả thắng lợi của Thế chiến II, tước đoạt thành quả thắng lợi của nhân dân Liên Xô và các lực lượng hòa bình và dân chủ thế giới. Chiến tranh lạnh phản ánh lợi ích của giai cấp tư sản độc quyền phản động nhất ở phương Tây, đặc biệt là giai cấp tư sản độc quyền Mỹ. Chiến tranh lạnh là sự đối kháng lợi ích địa chính trị giữa hai tập đoàn lớn quân sự - chính trị. Mâu thuẫn giữa hai tập đoàn này biểu hiện nổi bật nhất trên vấn đề tập đoàn phương Tây phân biệt đối xử với Liên Xô và các nước đồng minh của Liên Xô về kinh tế, thương mại và khoa học kỹ thuật, và có ý định kiềm chế các nước này. Hai là định nghĩa của Mỹ về chiến tranh lạnh. Các học giả Mỹ cho rằng chiến tranh lạnh là sự đối kháng toàn diện (trừ xung đột quân sự trực tiếp) giữa các quốc gia có xung đột lợi ích, là một trạng thái đối lập giữa phương Đông với phương Tây. Ba là định nghĩa của các học giả Trung Quốc. Họ cho rằng chiến tranh lạnh là một loại hiện tượng đối kháng toàn diện giữa phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu với phe phương Tây do Mỹ đứng đầu trong thời kỳ sau Thế chiến II. Trừ xung đột quân sự trực tiếp ra, sự đối kháng đó bao trùm tất cả mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế và hình thái ý thức, là một trạng thái hòa bình ẩn chứa nguy cơ chiến tranh, cũng là một loại chiến tranh biểu hiện bằng hình thái hòa bình. “Chiến tranh lạnh” bắt đầu từ bao giờ? Trên vấn đề này hai vai chính tiến hành chiến tranh lạnh mỗi kẻ nói một khác. Tại Liên Xô cũ và nước Nga chủ yếu có ba quan điểm: một là lấy Cách mạng Tháng Mười làm khởi điểm. Hai là lấy sự kiện Mỹ ném bom nguyên tử làm khởi điểm, cho rằng tháng 8 năm 1945, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử, nước bị ném bom là Nhật Bản, nước rung động là Liên Xô, toàn thế giới thì sợ hãi; Mỹ không những giành được thắng lợi cuối cùng trong tác chiến chống Nhật Bản mà còn thành công trong việc phô diễn sức mạnh với Liên Xô, qua đó dẫn đến sự bùng nổ chiến tranh lạnh. Ba là lấy ngày ra đời chủ thuyết Truman làm khởi điểm. Tại Mỹ có năm quan điểm về thời điểm bắt đầu chiến tranh lạnh: 1. Chiến tranh lạnh là mô hình cơ bản của mối quan hệ Mỹ - Liên Xô, chiến tranh lạnh bắt đầu từ sau Thế chiến II. Căn cứ theo các hiệp định ký trong thời chiến, hai nước Liên Xô và Mỹ bố trí phạm vi thế lực chính trị của mình. Thời gian 1947
- - 1948 là thời khắc quan trọng, các tiêu chí chủ yếu là việc thành lập Cục Tình báo trung ương CIA Mỹ, cuộc khủng hoảng Berlin, sự kiện Tháng Hai Tiệp Khắc, chiến tranh Triều Tiên. 2. Chiến tranh lạnh là sự đối lập và cạnh tranh về hình thái ý thức, thời gian 1917 - 1920 là lựa chọn tốt nhất - Cách mạng Tháng Mười, nước Nga Xô Viết rút ra khỏi chiến tranh, can thiệp vũ trang, sự thành lập Quốc tế Cộng sản. 3. Chiến tranh lạnh bắt đầu trong thời gian giữa hai cuộc Thế chiến. 4. Chiến tranh lạnh bắt đầu từ Thế chiến II. 5. Chiến tranh lạnh bắt đầu từ tháng 8 năm 1945 khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống đất Nhật Bản. Các chuyên gia và học giả Trung Quốc cho rằng lý thuyết ngăn chặn do Kennan đề xuất đã cung cấp cho nước Mỹ cơ sở lý luận tư tưởng tư duy chiến tranh lạnh; Diễn văn “Bức màn sắt” của Churchill(78) mở màn cho chiến tranh lạnh; tiêu chí đánh dấu chiến tranh lạnh chính thức bắt đầu là sự ra đời chủ thuyết Truman. Chiến trường chủ yếu của chiến tranh lạnh là châu Âu, dần dần lan ra toàn thế giới. Vai chính trong chiến tranh lạnh là Mỹ và các nước đồng minh phương Tây, Liên Xô và các nước thành viên Khối Hiệp ước Warsawa; Trung Quốc và nhiều nước đang phát triển khác đều bị cuốn vào cuộc chiến tranh lạnh này với mức độ khác nhau. Chiến tranh lạnh, “lạnh” ở chỗ nào? “Chiến tranh lạnh” không có khói súng của đại chiến thế giới, không có đao kiếm vung lên; vậy cái “lạnh” của chiến tranh lạnh ở đâu? Thực ra cái “lạnh” căn bản nhất của chiến tranh lạnh là ở tư duy. Tư duy chiến tranh lạnh là một loại tư duy giết người không thấy máu, tiêu diệt một quốc gia mà không thay đổi sắc mặt. Cho nên để nhận thức cái “lạnh” của chiến tranh lạnh, điều quan trọng là cần vạch ra bản chất của tư duy chiến tranh lạnh. Cái gọi là “tư duy chiến tranh lạnh” là ý tưởng chiến lược có tính căn bản, nguyên tắc chiến lược và phương thức chiến lược được dựa vào, được tuân theo trong cuộc chơi giành giật bá quyền thế giới giữa Mỹ và Liên Xô, là tư tưởng chỉ đạo việc tiến hành chiến tranh lạnh của hai nước này. Về bản chất, tư duy chiến tranh lạnh là một loại tư duy bá quyền. Tư duy của hai bên tiến hành chiến tranh lạnh là tư duy tranh giành bá quyền thế giới, là tư duy được tiến hành xung quanh cuộc cạnh tranh giành bá quyền thế giới. “Tư duy chiến tranh lạnh” chủ yếu có sáu đặc điểm: 1. Tư duy rừng rú “Một núi không có hai hổ”. Đây là tư duy của chúa sơn lâm, kẻ mạnh thì làm chúa, kẻ bá chủ là vua, không cho phép xuất hiện kẻ thách thức và kẻ cạnh tranh, không ngừng tìm kiếm đối thủ để tiến đánh và ngăn chặn. Tư duy chiến tranh lạnh sợ xuất hiện thế giới đa cực, ngăn cản sự hình thành thế giới dân chủ. 2. Tư duy đặc quyền “Lấy lợi ích bá quyền làm lợi ích quốc gia”. Mỗi một quốc gia chủ quyền trong cộng đồng quốc tế đều có lợi ích quốc gia của mình. Nhưng lợi ích quốc gia không phải là tuỳ ý vô hạn độ; cũng như lãnh thổ quốc gia, lợi ích quốc gia có biên giới của mình. Nhưng tư duy chiến tranh lạnh của quốc gia tranh giành bá quyền có một đặc điểm và nội dung quan trọng là coi bá quyền thế giới là lợi ích quốc gia của mình và ra sức giành lấy, qua đó khoác lên hành động tranh giành bá quyền thế giới của mình chiếc áo “lợi ích quốc gia”, họ cũng coi việc cộng đồng quốc tế ngăn cản hành động đó là tổn hại lợi ích quốc gia của mình, từ đó ra sức đả kích các nước khác. Coi bá quyền là một loại lợi ích để tìm kiếm, coi lợi ích bá quyền là lợi ích quốc gia để giành lấy và giữ gìn, trên thực tế là dùng cách tổn hại lợi ích của toàn bộ cộng đồng quốc tế để thỏa mãn lợi ích đặc quyền của một quốc gia bá quyền và một dân tộc bá quyền. 3. Tư duy tuyệt đối “dùng nguy hiểm tuyệt đối của đối phương để thực hiện an toàn tuyệt đối của mình”. Trên lĩnh vực an ninh quốc gia, tư duy chiến tranh lạnh thể hiện thành “Thuyết an ninh bá quyền”, tức là cho rằng việc bảo đảm an ninh của
- một cường quốc thế giới chỉ có thể là bá quyền thế giới. Muốn an toàn thì phải thực hiện bá quyền thế giới, không có bá quyền thì không có an ninh. Bởi vậy, vì để giành được an ninh quốc gia thì phải giành được bá quyền thế giới. Do đó mà dốc sức tăng cường vũ trang, tiến hành chạy đua vũ trang, tìm kiếm ưu thế tuyệt đối về sức mạnh quân sự, dùng cách đặt đối thủ ở vào thế nguy hiểm tuyệt đối để bảo đảm và thực hiện an ninh tuyệt đối của mình. Kết quả dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang trên toàn thế giới, làm gay gắt tình trạng căng thẳng trên thế giới, cũng tạo ra sự mất an ninh hơn nữa cho chính mình; khi rơi vào cảnh theo đuổi an ninh tuyệt đối thì càng đặt bản thân vào tình trạng mất an ninh. Bá quyền không phải là sự bảo đảm cho an ninh tuyệt đối. Xây dựng sự an ninh tuyệt đối của mình trên cơ sở sự tuyệt đối mất an ninh của kẻ khác chứ không phải là xây dựng trên cơ sở an ninh chung, tất nhiên dẫn đến hậu quả tất cả đều không có an ninh, hình thành “tình cảnh khó khăn về an ninh”. 4. Tư duy số không “Cạnh tranh không thể bảo đảm đôi bên cùng thắng”. Tư duy chiến tranh lạnh tiến hành cạnh tranh ác tính theo quy tắc luật chơi kết cục bằng số không, hai bên đối kháng đều cho rằng bên mình được tức là bên đối thủ mất. Trong mối quan hệ đôi bên, trong cuộc cạnh tranh với nhau, không thắng tức là thua, không được tức là mất. Không có kết cục hai bên cùng thắng, không có lợi ích chung. 5. Tư duy loại trừ kẻ khác “một trái đất không thể có hai chế độ”. Ngay từ tháng 3 năm 1947, Tổng thống Mỹ Truman đã tuyên bố: “Toàn thế giới nên áp dụng chế độ của Mỹ; chỉ khi nào trở thành một chế độ thế giới thì chế độ của Mỹ mới có thể tồn tại tiếp”. Theo tư duy của Truman, thế giới này chỉ có thể tồn tại một chế độ, đó là chế độ của Mỹ, các chế độ khác không có quyền sinh tồn. Tư duy chiến tranh lạnh kết án tử hình các chế độ xã hội và hình thái ý thức khác với mình. Bá quyền về hình thái ý thức của Mỹ cho rằng nền văn minh nhân quyền, dân chủ và Ki Tô giáo của Mỹ đang đứng trước mối đe dọa nghiêm trọng từ nền kinh tế kế hoạch của các nước xã hội chủ nghĩa, bọn khủng bố chuyên chế và thuyết vô thần; hai chế độ chính trị kinh tế, hai phương thức sống và hai giá trị quan thì có mối quan hệ như nước với lửa, sự đối kháng và đấu tranh giữa chúng chỉ dẫn tới kết quả có ta thì không có ngươi, trong hai chọn một. Sứ mệnh của Liên Xô là đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản Mỹ; Mỹ thì muốn quẳng chế độ Xô Viết vào sọt rác lịch sử. Tư duy chiến tranh lạnh không cho phép thế giới này xuất hiện và tồn tại tình trạng “Một trái đất hai chế độ”, “Một trái đất nhiều chế độ”; nó bóp chết sức sống đa dạng hóa của thế giới. 6. Tư duy liên minh “Không là bạn tức là thù”. Tư duy chiến tranh lạnh căn cứ theo hình thái ý thức mà nghiêm ngặt vạch đường phân giới, hai bên tự xây dựng chiến lũy của mình, thực hành chiến lược đồng minh, tìm kiếm ưu thế địa chính trị, tiến hành sự đối kháng tập đoàn, đem cả thế giới đưa vào hệ thống chiến tranh lạnh, làm cho cả thế giới bị đám mây chiến tranh lạnh trùm lấy. Chiến tranh lạnh “chiến” vì cái gì Người Mỹ nói: “Chiến tranh lạnh là cuộc chiến giành quyền lãnh đạo thế giới”. Giáo sư Warren Cohen, nhà lịch sử lỗi lạc của nước Mỹ nói: “Vì sao vào cuối thập niên 40 thế kỷ XX, Mỹ và Liên Xô áp dụng thái độ đe dọa lẫn nhau? Vì sao thái độ đó có thể kéo dài đến cuối thập niên 80 thế kỷ XX? Chúng ta có thể dùng ba loại phương pháp nghiên cứu đan xen nhau để tìm ra được đáp án trên ba mặt”. “Trước tiên, người lãnh đạo Mỹ tiếp nhận trách nhiệm nước lớn mà mọi người đều nhìn vào, lãnh đạo thế giới và sáng tạo một trật tự thế giới mới. Thứ hai, đặc tính của hai nước Mỹ và Liên Xô đã tạo ra hành vi quá đáng của xã hội công dân một nước (quốc gia thế mạnh của Mỹ và mô hình chính phủ thế yếu) và một nước khác lại không tồn tại kiểu xã hội công dân ấy (thể chế chính trị Stalin cực quyền cao độ). Thứ ba là môi trường an ninh”.
- “Nếu nước Mỹ không có quyết tâm lãnh đạo thế giới thì khó tưởng tượng có chuyện xuất hiện chiến tranh lạnh. Nếu Mỹ lựa chọn quan niệm “chủ nghĩa châu lục” (hướng về chính sách hợp tác chính trị, kinh tế với các nước cùng châu Mỹ và có tính chất bài xích các châu lục khác) do một số nhà trí thức đề xướng hồi thập niên 30 thế kỷ XX, hoặc chính sách tự cấp tự túc do một số nhà trí thức khác hồi thập niên 60 thế kỷ XX cực lực chủ trương, thì động lực phát triển thế giới sau chiến tranh sẽ khác đi rất nhiều. Song le các nhà lãnh đạo Mỹ trong thời gian một đời người đều rút ra kết luận như sau: chính là do Mỹ trốn tránh trách nhiệm lãnh đạo thế giới sau Thế chiến I nên mới tạo điều kiện cho Adolf Hitler và bọn quân phiệt Nhật Bản có dịp tạm thời hoành hành, mới làm cho cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới và Thế chiến II trở thành hiện thực. Liên tưởng tới câu cách ngôn của nhà thơ và nhà triết học Mỹ George Santayana(79) Ai quên quá khứ thì người đó nhất định sẽ giẫm lên vết xe đổ, người Mỹ đã rút ra được bài học từ các sử gia và từ giữa thập niên 40 thế kỷ XX họ ứng dụng nó vào trong thực tiễn”. “Mục tiêu của họ là sáng tạo một trật tự thế giới có thể tăng tiến lợi ích của Mỹ. Trong trật tự thế giới đó, của cải và quyền thế của Mỹ sẽ không ngừng tăng lên, các quan niệm giá trị người Mỹ trân trọng sẽ mở rộng ra toàn thế giới”. Trong con mắt người Mỹ, sở dĩ Adolf Hitler và bọn quân phiệt Nhật Bản có thể hoành hành, sở dĩ cuộc đại suy thoái kinh tế toàn cầu và Thế chiến II trở thành hiện thực, bài học là ở chỗ nước Mỹ đã lẩn tránh trách nhiệm lãnh đạo thế giới, không kịp thời gánh lấy sứ mạng người lãnh đạo thế giới. Đây là một sai lầm có tính lịch sử và là điều đáng tiếc về chiến lược của nước Mỹ. Vì để không “giẫm lên vết xe đổ”, sau Thế chiến II nước Mỹ tất phải bước lên cương vị lãnh đạo thế giới và tất phải tiến hành chiến tranh lạnh với Liên Xô nhằm duy trì địa vị lãnh đạo ấy. Bởi thế theo quan điểm của người Mỹ thì chiến tranh lạnh là cuộc chiến vì quyền lãnh đạo thế giới. Chiến tranh lạnh giữa Mỹ với Liên Xô, bất kể là cuộc đấu tranh và xung đột giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa Marx tiến hành trên tầng nấc hình thái ý thức, đấu tranh giữa chế độ chính trị kinh tế tư bản chủ nghĩa với chế độ chính trị kinh tế xã hội chủ nghĩa tiến hành trên tầng nấc chế độ xã hội, hay là cuộc chạy đua vũ trang, nhất là chạy đua vũ khí hạt nhân tiến hành nhằm giành ưu thế quân sự trên tầng nấc quân sự, thì thực chất đều là keo vật và đọ sức tiến hành xung quanh bá quyền thế giới (quyền lãnh đạo thế giới). Chiến tranh lạnh là một cuộc chiến tranh giành bá quyền dây dưa kéo dài trong tình hình hai cường quốc thế giới hình thành sau khi kết thúc Thế chiến II - Mỹ và Liên Xô đều muốn tranh bá quyền thế giới, trong tình hình hai loại hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đều muốn chủ đạo hình thái ý thức thế giới, trong tình hình chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ tư bản đều muốn thay thế đối phương, dưới điều kiện vũ khí hạt nhân trở thành vũ khí chiến lược của cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn, lấy bá quyền thế giới làm mục tiêu, lấy thực lực quân sự làm hậu thuẫn, lấy hình thái ý thức làm ngọn cờ, lấy mặt trận, liên minh làm hình thức tổ chức. Chiến tranh lạnh là một cuộc đấu tranh giữa ngăn chặn với chống ngăn chặn do quốc gia quán quân là Mỹ tiến hành với quốc gia á quân là Liên Xô. Chiến tranh lạnh là hệ thống quốc tế song song tồn tại đối kháng và đối thoại, cạnh tranh và hợp tác, ngăn chặn và câu kết, đấu tranh và thỏa hiệp. Nó cũng là trạng thái hòa bình ẩn chứa ý đồ giết nhau và nguy cơ chiến tranh, là chiến tranh đặc chủng tiến hành dưới hình thức hòa bình. Chiến tranh lạnh sử dụng thủ đoạn chủ yếu là chạy đua vũ trang, đấu tranh ngoại giao, sức ép kinh tế và khoa học kỹ thuật, đối lập hình thái ý thức và chiến tranh gián điệp. Nguồn gốc của “chiến tranh lạnh” là sự theo đuổi bá quyền. Cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô tiến hành vì tranh giành bá quyền. Trọng tài của “chiến tranh lạnh” là “phát triển” Thế giới bao giờ cũng phải tiến lên phía trước. Chiến tranh lạnh giữa Mỹ với Liên Xô nhằm
- mục đích bá quyền thế giới mà trọng tài của chiến tranh lạnh lại là sự “phát triển”. Logic của tiến bộ lịch sử biến cuộc chiến tranh lạnh Mỹ - Liên Xô thành một cuộc cạnh tranh và ganh đua “phát triển” không thể chuyển dịch theo ý chí con người, và căn cứ theo thành tích của họ để thực hành nguyên tắc giỏi thắng kém thua. Cuộc cạnh tranh và ganh đua phát triển quyết định thành bại của hai phía tham gia chiến tranh lạnh. Trong quá trình cạnh tranh bá quyền thế giới, hai nước Mỹ và Liên Xô vừa nói xấu nhau, công kích nhau trên vấn đề hình thái ý thức và chế độ xã hội, lại vừa mở hết tốc lực phát triển kinh tế và xã hội, rượt đuổi nhau. Mỹ tâng bốc cuộc cạnh tranh giữa hai nước là cuộc đấu tranh giữa hai lối sống, đấu tranh giữa thế giới tự do với thế giới cực quyền. Mỹ tuyên bố nền văn minh vật chất trình độ cao của họ, điều kiện sinh hoạt ưu việt và phương thức hoạt động tự do của họ có sức thu hút vô song. Liên Xô thì công kích Mỹ là chủ nghĩa tư bản thối nát giãy chết. Về căn bản, sự so sánh đối chiếu hai nước Mỹ và Liên Xô quyết định tình thế cạnh tranh của hai bên, quyết định sự lên lên xuống xuống và biến đổi quanh co lắt léo trong quá trình cạnh tranh giữa hai nước. Tuy nước Mỹ có quốc lực tổng hợp đứng đầu thế giới nhưng trong quá trình cạnh tranh Mỹ - Liên Xô, phía Mỹ từng xuất hiện tình hình thoái trào và bị động. Thập niên 70 thế kỷ XX là những năm tồi tệ trong tiến trình lịch sử của nước Mỹ, những năm tháng nảy sinh lắm vấn đề và mất lòng tin. Hồi đó kinh tế Mỹ liên tục suy thoái, số người thất nghiệp lên tới 8 triệu, nhân dân Mỹ mất lòng tin với chính phủ, họ tỏ ra bi quan với tiền đồ của mình. Các cuộc thăm dò dân ý cho thấy so với năm 1958 thì tình hình năm 1978 có biến đổi lớn: tỷ lệ người cho rằng chính phủ Mỹ chỉ phục vụ một thiểu số người giàu tăng từ 18% lên 74%; tỷ lệ người cho rằng chính phủ Mỹ không thể đưa ra phán đoán chính xác từ 25% tăng lên 70%; cho rằng chính phủ Mỹ chịu sự thống trị của những người không biết mình làm gì từ 28% tăng lên 56%. Trong Thông điệp Liên bang đầu tiên, Tổng thống Reagan thừa nhận trong số 10 người được hỏi ý kiến thì 6 người cảm thấy bi quan về tiền đồ của mình. Trong vòng sơ tuyển Tổng thống tại bang New Hampshire hồi tháng 2 năm 1980, Reagan xúc động nói: “Một số người Mỹ lớn tuổi nhớ lại thời gian trước Thế chiến II, hồi ấy người Mỹ ở mọi nơi trên thế giới, dù họ làm gì đi nữa, chỉ cần đeo chiếc huy hiệu có quốc kỳ Mỹ thì họ có thể đi bất cứ nơi nào. Ngày nay ngược lại, người Mỹ nảy sinh nguy cơ tín nhiệm và lòng tin, đánh mất sự tôn trọng của bạn bè và kẻ địch; đây thực sự là một chuyện buồn”. Phát triển là đạo lý muôn thuở, nếu bị động trong phát triển thì sẽ đánh mất sự chủ động trong cạnh tranh. Reagan nhậm chức Tổng thống Mỹ vào thời gian nước Mỹ đang ở vào thoái trào, gặp nhiều khó khăn, có thể nói tình trạng nát bét như tương, Tổng thống Reagan đã cố gắng tái tạo lại uy lực quốc gia, chủ yếu tập trung công sức giải quyết các vấn đề trong nước, tăng tốc phát triển, thông qua việc chấn hưng kinh tế và tăng cường lực lượng quân sự để đạt mục tiêu chấn hưng sức mạnh quốc gia. Ông áp dụng một loạt biện pháp chiến lược, đặc biệt là ngày 13 tháng 8 năm 1981 ký luật giảm thuế biên độ lớn, quyết định trong ba năm sẽ giảm 25% thuế thu nhập. Luật này trở thành chất xúc tác cho sự phục hưng và phồn vinh nền kinh tế Mỹ. Bắt đầu từ nửa cuối năm 1982, chính phủ Reagan thực hành chính sách “ba cao”: thâm hụt ngân sách cao, lãi suất cao, hối suất đồng USD cao, nhằm kích thích sự phục hồi và phát triển kinh tế. Tháng 12 năm 1982, kinh tế Mỹ đi ra khỏi đáy vực. Năm 1983, GDP Mỹ thực tế tăng 3,6%; năm 1984 kinh tế tăng trưởng 6,5%, là tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 30 năm gần đây. Tỷ lệ lạm phát trong ba năm hạ xuống còn 3,9%, mức thấp nhất trong 17 năm. Trong hai năm đã tạo ra 7,3 triệu việc làm. Reagan thi hành chiến lược tái chấn hưng sức mạnh quốc gia, sức mạnh quân sự, dùng thực lực để tìm kiếm hòa bình. Chi phí quân sự của Mỹ tăng từ 171 tỷ USD năm 1981 lên 376 tỷ USD năm 1986. Mọi người nói thời kỳ Reagan là thời kỳ tấn công, thời kỳ phát động tổng công kích Liên Xô dưới ngọn cờ chủ nghĩa tân bảo thủ. Cơ sở và hậu thuẫn để thực hành chiến lược tiến công là phát triển kinh tế. Tại nước Mỹ, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ liên tục thay nhau ở vào địa vị lãnh tụ. Thập niên 30 - 40 thế kỷ XX, chủ nghĩa tự do thịnh hành, kinh tế Mỹ phồn vinh, địa vị chiến lược hùng mạnh, nước Mỹ là lãnh tụ thế giới phương Tây, là kẻ mạnh trong cuộc
- cạnh tranh Mỹ - Liên Xô, song cũng tích lũy nhiều loại mâu thuẫn. Từ thập niên 70 trở đi, chủ nghĩa tân bảo thủ nổi lên trong thế giới tư bản và dần dần trở thành trào lưu tư tưởng chính. Đặc điểm của chủ nghĩa tân bảo thủ là: hữu khuynh hóa về chính trị, chống cộng sản mạnh mẽ về hình thái ý thức, chủ trương tiến hành cuộc thánh chiến không đội trời chung, cuộc thập tự chinh với chủ nghĩa cộng sản. Trong lĩnh vực kinh tế, tuân theo lý thuyết của phái cung ứng, chủ nghĩa tân bảo thủ khai tử chính sách phúc lợi xã hội. Chủ nghĩa tân bảo thủ kiên trì tư tưởng chiến lược hai cực đối đầu nhau, tích cực đẩy mạnh ngoại giao sức mạnh và triển khai chạy đua vũ trang nhằm giữ gìn lợi ích quốc gia. Niềm tin cơ bản của Reagan là chính quyền nhỏ, thu thuế thấp, giảm bớt phúc lợi, tăng cường quốc phòng. Ông tôn sùng vũ lực, mê say chiến tranh lạnh, kiên quyết chống Liên Xô, chống cộng sản. Các cố vấn của Reagan chủ trương ban lãnh đạo Liên Xô phải lựa chọn giữa thay đổi chủ nghĩa cộng sản theo phương hướng của phương Tây hay là tiến hành chiến tranh, không có phương thức giải quyết nào khác hoặc phương thức chiếu cố cả hai. Tiến sang thập niên 80 thế kỷ XX, mục tiêu chiến lược của Mỹ đối với Liên Xô không phải là cùng chung sống với Liên Xô nữa mà là phải thay đổi thể chế của Liên Xô, đạt được mục tiêu không đánh mà thắng. Dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa tân bảo thủ, chính phủ Reagan ấn định “chính sách tổng hợp” tam vị nhất thể đối với Liên Xô, đó là chạy đua vũ trang, trừng trị về kinh tế, dự án chiến tranh giữa các vì sao SDI, nhằm thách thức toàn diện Liên Xô trên các mặt quân sự, kinh tế và kỹ thuật. Trong giai đoạn này, sở dĩ chính phủ Reagan có thể phát động thế tiến công, tiến hành “chính sách tổng hợp” tam vị nhất thể cứng rắn đối với Liên Xô, đó là nhờ dựa trên cơ sở kinh tế Mỹ phát triển tốt. Ba mặt của “chính sách tổng hợp” này, mặt nào cũng dựa vào sự nâng đỡ của sức mạnh kinh tế. Thời kỳ tiến công của Reagan và thời kỳ phát triển của kinh tế Mỹ lại trùng với thời kỳ trì trệ của Brezhnev. Hồi giữa và cuối thập niên 70 thế kỷ XX, Liên Xô tiến sang thời kỳ đình trệ, biểu hiện chủ yếu là thể chế chính trị, kinh tế truyền thống ngày một xơ cứng đã nghiêm trọng ngăn cản sự phát triển xã hội và kinh tế; bệnh giáo điều, quan liêu thịnh hành, quyền lực tập trung cao độ; dân chủ hữu danh vô thực; kinh tế tăng trưởng chậm; mâu thuẫn xã hội và dân tộc hé lộ; trong sự so sánh và cạnh tranh sức mạnh với Mỹ, Liên Xô ngày một rơi vào địa vị bất lợi; cơ cấu quan liêu và đội ngũ cán bộ khổng lồ do Liên Xô xây dựng đã phình to ác tính dưới thời Brezhnev. Theo thống kê năm 1982, đơn vị cấp Bộ (Bộ và Ủy ban) và các đơn vị trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng có tới 110 đơn vị. Thời gian 1975 - 1983, tổng số nhân viên các cơ quan quản lý trong toàn Liên Xô tăng mạnh lên 3 triệu, hình thành một đội ngũ cán bộ đông tới 21 triệu người. Các cơ quan quản lý từ trung ương tới địa phương chồng chéo nhau. Ngành công nghiệp và xây dựng Liên Xô lập hơn 40 bộ toàn liên bang và liên bang kiêm nước cộng hòa, đặt hơn 700 tổng cục quản lý, tiến hành quản lý thông qua kế hoạch hơn 50 nghìn doanh nghiệp. Hơn 6 triệu cán bộ lãnh đạo thao túng hoạt động kinh tế nhà nước. Số cán bộ quản lý trong ngành nông nghiệp tới 3 triệu người, đông hơn cả tổng số nông dân Mỹ. Cán bộ Liên Xô áp dụng chế độ ủy nhiệm và trên thực tế là chế độ suốt đời, khiến cho đội ngũ cán bộ phổ biến già hóa. Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXVI bầu ra Bộ Chính trị có 25 người thì toàn bộ là bộ sậu từ đại hội XXV, tuổi bình quân của Bộ Chính trị là 70,1 tuổi, của Ban Thư ký là 68 tuổi. Cán bộ chỉ chịu trách nhiệm với cấp trên, trình độ người lãnh đạo hạ thấp nhanh chóng, cơ quan chính trị thi hành chế độ “đào thải tự nhiên chiều ngược”, đề bạt một loạt người tầm thường, không có năng lực, không ngay thẳng, còn những người có tài và dám đề xuất ý kiến thì không được dùng. Bệnh quan liêu, tham nhũng thịnh hành, không ít người mê muội với việc tranh chức tước và kiếm tiền, chẳng những hình thành một tầng lớp quý tộc đặc quyền mà còn chuyển giao đặc quyền đó cho con cháu, hình thành chế độ kế thừa đặc quyền. Brezhnev thích được ca tụng công đức. Năm 1976, báo “Sự Thật” lần đầu mở chuyên mục 7 ngày liền chúc thọ Brezhnev 70 tuổi.
- Các bài viết đầy những lời lẽ a dua nịnh bợ tởm lợm. Giới yếu nhân chính trị Liên Xô gọi Brezhnev là “lãnh tụ của chúng ta”, “nhân vật vĩ đại nhất thời đại chúng ta”, tuyên bố nhân dân Liên Xô khắp nơi đều đang “đọc, đọc lại, quên ăn quên ngủ nghiên cứu các trước tác của Brezhnev”, bởi lẽ đó là “suối nguồn trí tuệ tư tưởng vô cùng vô tận”. Năm 1975, Brezhnev bệnh tình rất nặng, hồi ấy ông ta tập trung quyền hành lớn trong tay mình, Liên Xô tiến sang thời kỳ người già trị quốc, bệnh nhân trị quốc. “Hồi ký Gorbachov” viết: “Brezhnev đã không thể tiếp tục lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các cuộc họp Bộ Chính trị càng ngày càng rút ngắn thời gian. Brezhnev ngồi đấy mà không hay biết gì, không biết mình đang ở đâu, cuộc họp có những ai dự, mình nên làm gì. Thường xuất hiện tình hình như thế này: Ông ta ngồi và đọc các bài phát biểu ngắn gọn do trợ lý dự thảo và đánh máy cỡ chữ đặc biệt to, có lúc còn đọc không nổi, câu trước câu sau không ăn nhập với nhau. Hình như ông ta đã hiểu được điều đó, chỉ dùng con mắt buồn rầu nhìn mọi người”. Các thành viên dự họp vì muốn chấm dứt cảnh hành hạ mọi người ấy nên đều vội vã thông qua các nghị quyết rồi rời phòng họp với tâm trạng bất an. Andropov nắm quyền lãnh đạo 14 tháng, trừ đi thời gian ốm đau, thực tế làm việc chưa đầy nửa năm. Chernenko là một viên chức điển hình trong chế độ Liên Xô, tư tưởng bảo thủ, khi lên nắm chính quyền trên thực tế đã mất khả năng làm việc, trong thời gian hơn một năm không có công trạng gì cả. Không có phát triển thì không có sức thu hút và sức cạnh tranh. Chủ nghĩa xã hội mô hình Liên Xô đi tới tận cùng, sự sụp đổ của phe Liên Xô khó mà tránh được. Trong đó cuộc trốn chạy lớn của công dân Cộng hòa dân chủ (CHDC) Đức là một màn kinh điển. Tây Berlin là cái tủ kính của thế giới tư bản, cái gương của lối sống phương Tây. Theo thống kê, trong các năm 1948 - 1960 trước sau có 2,5 triệu người CHDC Đức di cư sang Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức, con số này tương đương 20% tổng số dân CHDC Đức! Riêng trong năm 1961 có 200 nghìn người CHDC Đức chạy trốn sang CHLB Đức. Phần lớn họ chạy từ Đông Berlin sang Tây Berlin. Năm 1989 CHDC Đức bắt đầu có nhiều người ra đi. Ngày 4 tháng 11 năm 1989, Đông Berlin nổ ra cuộc biểu tình của nửa triệu người. Trong 24 tiếng đồng hồ từ ngày 11 đến 14 giờ ngày 12, tổng cộng có 540 nghìn người CHDC Đức đi sang CHLB Đức. Đến ngày 13, cảnh sát CHDC Đức nói họ đã cấp visa du lịch cho 5,18 triệu người. Hải quan CHDC Đức cho biết thời gian từ ngày 9 tới 27 tháng 11 đã có 16,90 triệu người CHDC Đức và 2,40 triệu ô tô đi qua trạm biên phòng. Nhiều đợt công dân CHDC Đức đã ra đi, họ từ bỏ lối sống đã mất sức thu hút họ. Một điều kiện quan trọng để chiến tranh lạnh có thể duy trì lâu dài là thế cân bằng về “lực lượng”. Thực lực có thể đối kháng nhau của Liên Xô và Mỹ là điều kiện vật chất và cơ sở vật chất của chiến tranh lạnh. Lực lượng răn đe của hai bên hình thành cục diện cân bằng răn đe; nền hòa bình xây dựng trên cơ sở đối kháng ngang bằng thực lực là một kiểu cầm cự ở thế cân bằng, là một cuộc kéo co chiến lược. Trong quá trình phát triển, khoảnh cách chênh lệch giữa hai bên bị nới rộng, thế cân bằng bị phá vỡ, cũng tức là kết thúc cuộc chơi kéo co chiến lược này. Bình tâm xem xét “chiến tranh lạnh” Nói chiến tranh lạnh nghìn năm công tội, nhưng vẫn cần có sự đánh giá khách quan về địa vị lịch sử của chiến tranh lạnh. Trong lịch sử thế giới cận đại, quá trình tranh giành bá quyền của các nước lớn chưa bao giờ ngừng, nhưng nói một cách so sánh thì chiến tranh lạnh vẫn là một cuộc cạnh tranh văn minh nhất. Nói chiến tranh lạnh là một cuộc chiến văn minh, chủ yếu thể hiện ở ba mặt sau: 1. 1. Mục tiêu của chiến tranh lạnh tương đối văn minh. Liên Xô và Mỹ tranh giành “ba quyền” đối với thế giới: quyền chủ đạo, quyền lãnh đạo và bá quyền. Rốt cuộc, không thể đánh đồng điều đó với quyền chiếm lĩnh, quyền thống trị, quyền thực dân đối với thế giới mà trước kia các nước lớn tranh giành nhau, là mục tiêu chiến lược tương đối văn minh. 2. Thủ đoạn của chiến tranh lạnh tương đối văn minh. Tuy chiến tranh lạnh sử dụng
- nhiều thủ đoạn, cũng xuất hiện nhiều lần nguy cơ khủng hoảng, nhưng rốt cuộc Mỹ và Liên Xô không có xung đột quân sự trực tiếp, không xảy ra đại chiến thế giới, đặc biệt không nổ ra chiến tranh hạt nhân. Tình hình có cạnh tranh lớn mà không có chiến tranh lớn là điều chưa từng có trong lịch sử. Điều đó cũng thể hiện sự kiềm chế và lý trí của hai bên, đây là sự tiến bộ và tiến hóa văn minh của chính trị thế giới. 3. Kết cục của chiến tranh lạnh tương đối văn minh. So sánh với việc kẻ thắng xử lý và bố trí kẻ thua trong thời gian sau Thế chiến I và II, có thể thấy chiến tranh lạnh vẫn có sự kiềm chế và tương đối văn minh. 4. Chiến tranh lạnh trả giá tương đối nhỏ. Cái giá phải trả của chiến tranh lạnh tuy rằng nặng nề, nhưng với tư cách là một cuộc cạnh tranh nước lớn không đánh mà thắng, rốt cuộc là tương đối rẻ so với giá của các cuộc chiến tranh giữa các nước lớn trong quá khứ. Chiến tranh lạnh là sản phẩm của thời đại. Ở thời đại đó loài người chịu đựng không nổi cái giá của cuộc đại chiến thế giới, lại càng không chịu nổi cái giá của chiến tranh hạt nhân; bởi thế nước lớn muốn tranh quyền bá chủ thế giới chỉ có thể áp dụng hình thức chiến tranh lạnh. Chiến tranh lạnh là một sản phẩm lỗi thời, bởi lẽ thời đại ngày nay nhân loại chịu không nổi cái giá của chiến tranh lạnh, số phận của chiến tranh lạnh chỉ có thể đưa vào viện bảo tàng, vào sọt rác. Cuộc cạnh tranh chiến lược của các nước lớn vẫn sẽ tiếp tục, dùng phương thức phi chiến tranh lạnh để tiếp tục. Các gợi ý từ chiến tranh lạnh Chiến tranh lạnh là một giai đoạn của cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn trong lịch sử thế giới, là một mô hình cạnh tranh nước lớn dưới điều kiện lịch sử nhất định. Chiến tranh lạnh đem lại nhiều gợi ý đối với sự cạnh tranh giữa các nước lớn. Tính tất nhiên và tính ngẫu nhiên của chiến tranh lạnh Sự nảy sinh chiến tranh lạnh có tính tất nhiên nhưng cũng có tính ngẫu nhiên nhất định. Có người nói, nếu Tổng thống Roosevelt sống thêm được năm năm nữa thì mối quan hệ Mỹ - Liên Xô sẽ phát triển ra sao? Mỹ là quốc gia rất chú trọng dân ý. Tình hình dân ý ở Mỹ trước khi bắt đầu chiến tranh lạnh như thế nào? Trước ngày kết thúc Thế chiến II, tuy một số quan chức Mỹ đã coi Liên Xô là kẻ địch tiếp sau, nhưng cuộc thăm dò dân ý tiến hành vào tháng 12 năm 1945 cho thấy chỉ có hơn 1/3 người Mỹ dự đoán trong 1/4 thế kỷ tiếp sau sẽ có một trận đại chiến và họ coi Liên Xô là quốc gia sẽ gây ra chiến tranh. Cuộc thăm dò dân ý tháng 9 năm 1946 thì cho thấy chỉ có 8% người Mỹ đồng ý từ bỏ sự hòa giải với Liên Xô, còn 74% người cho rằng hai nước Mỹ và Liên Xô đều có trách nhiệm về mối bất hòa đã xuất hiện giữa hai nước. Có thể thấy ý thức chiến tranh lạnh không phải là luồng chính trong ý thức của người dân Mỹ. Ý thức chiến tranh lạnh của dân chúng Mỹ là do sự tuyên truyền và kích động của giới tinh anh Mỹ gây nên. Nếu giới tinh anh Mỹ không phải là phái chủ trương chiến tranh lạnh, nếu họ hướng dẫn dư luận theo một hướng khác thì sự thể có lẽ đã khác đi. Luồng chính của “dân ý” Mỹ không phải là chiến tranh lạnh, thế thì “quan ý” trong chính phủ Mỹ phải chăng cũng nghiêng về phía chiến tranh lạnh? Cũng chẳng phải là thế. Các nhà chính trị Mỹ chống chiến tranh lạnh có những người thái độ khá kiên quyết. Sau Thế chiến II, chính sách cứng rắn đối với Liên Xô của Tổng thống Truman đã chủ đạo chính trường Mỹ, nhưng cũng có người phản đối. Thí dụ Henry A. Wallace Bộ trưởng Bộ Thương mại trong chính phủ Truman chủ trương tiếp tục thi hành chính sách Mỹ hợp tác chung sống với Liên Xô của Roosevelt, chủ trương trên cơ sở phạm vi thế lực và thế cân bằng, Mỹ và Liên Xô tiến hành sắp xếp, tiếp tục duy trì mối quan hệ đồng minh trong thời chiến tranh, chủ trương bảo đảm an ninh của Liên Xô tại Đông Âu nhằm đạt được sự thông cảm về chính trị với Liên Xô, để chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản tiến hành cạnh tranh “cơ sở hữu hảo”, trong tình hình toàn
- thế giới đều mở cửa thương mại. Wallace công khai công kích chính sách cứng rắn của Mỹ đối với Liên Xô, cho rằng chủ nghĩa Truman chẳng khác gì lời tuyên chiến với Liên Xô, là “sự mạo hiểm ngu ngốc”, sẽ dẫn toàn thế giới tiến vào “thế kỷ khủng bố”. Truman thì lên án Wallace là “kẻ theo chủ nghĩa hòa bình”, là nhân vật nguy hiểm hơn các các phần tử thân Quốc xã trong thời kỳ Thế chiến II, là “phần tử gây rối” phục vụ Stalin. Kết quả Wallce bị mất chức. Truman dùng chính sách ngăn chặn thay thế chính sách hợp tác nước lớn và an ninh tập thể của Roosevelt, cũng từ đó đánh dấu chấm hết chủ nghĩa biệt lập của Mỹ. Dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa ý tưởng hợp tác nước lớn và an ninh tập thể của Roosevelt với chính sách cứng rắn đối với Liên Xô của Truman, đã có ảnh hưởng khác nhau đối với nước Mỹ và tình hình thế giới sau chiến tranh. Lịch sử không thể giả thiết, nhưng có thể tranh thủ và sáng tạo tương lai. Trong tính tất nhiên và tính ngẫu nhiên của chiến tranh lạnh có không gian để người ta phát huy tính năng động chủ quan và tính sáng tạo. Trong nội bộ nước lớn, làm thế nào để hình thành nhận thức đúng đắn, tránh được các sai lầm về quan niệm chiến lược; giữa các nước lớn cạnh tranh với nhau, làm thế nào để hình thành nhận thức chung về chiến lược, ngăn ngừa sự bóp méo ý tưởng chiến lược, là những vấn đề trọng đại quyết định số phận quốc gia và tiền đồ thế giới. Trên vấn đề đối với nước Mỹ, Trung Quốc ngày nay kiên trì “tăng cường tín nhiệm, mở rộng sự đồng thuận chung, phát triển hợp tác, không làm chuyện đối kháng”. Đây là một ý tưởng mới trong cuộc cạnh tranh nước lớn. Sự cố gắng của Trung Quốc không chỉ vì để đóng góp cho việc mở ra tình hình mới trong mối quan hệ Trung Quốc - Mỹ, hơn nữa còn hình thành ảnh hưởng chiến lược tích cực đối với tình hình thế giới. So sánh mô hình Liên Xô với mô hình Mỹ Mục tiêu của cuộc chiến tranh lạnh Mỹ - Liên Xô là giành quyền bá chủ thế giới, nhưng kết cục cuộc cạnh tranh lại phụ thuộc vào sự phát triển. Cho nên trong thực tiễn, chiến tranh lạnh là sự so sánh lớn hai loại mô hình phát triển, là sự so sánh lớn mô hình Liên Xô với mô hình Mỹ. Kết quả so sánh là chủ nghĩa tư bản đặc sắc Mỹ chiến thắng chủ nghĩa xã hội mô hình Liên Xô. Mô hình Liên Xô là một sáng tạo vĩ đại trong lịch sử nhân loại, nhưng từ sau khi hình thành vào thập niên 30 thế kỷ XX, mô hình Liên Xô tự cho mình là “ưu việt”, suốt nửa thế kỷ không biến đổi gì cả, mấy chục năm vẫn như cũ, cuối cùng sa vào tình trạng trì trệ và xơ cứng, đánh mất động lực phát triển và sức sống. Còn chủ nghĩa tư bản mô hình Mỹ thì trong cuộc đại khủng hoảng hồi thập niên 30 được trải qua sự cải tạo “Chính sách Mới” của Roosevelt sau đó lại có điều chỉnh, khiến cho mô hình Mỹ so với mô hình Liên Xô càng có sức sống và tiềm lực phát triển. Điều này về căn bản đã quyết định kết cục và số phận cuộc cạnh tranh giữa hai bên. Lý tưởng của một quốc gia chỉ có thể được thực hiện qua mô hình lý tưởng. Áp dụng mô hình phát triển cứng nhắc thì cho dù anh thuộc vào “chủ nghĩa” nào đi nữa, sẽ đều không có sức sống, sức ngưng tụ và sức cạnh tranh. Mô hình phát triển quốc gia ắt phải không ngừng phát triển, không thể dựa vào “xuất thân” màu đỏ, không thể “ăn vào vốn cũ”. Một mô hình phát triển chỉ có thể đi trước mô hình khác trong so sánh quốc tế, đặc biệt là ưu việt hơn mô hình phát triển của đối thủ, thì mới làm cho quốc gia ở vào vị thế thuận lợi trong cuộc cạnh tranh. Sự trỗi dậy của Trung Quốc là sự trỗi dậy của mô hình chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc; bất kỳ mô hình nào khác trên thế giới đều không thể sánh được với sức sống phát triển của mô hình này. Nhưng mô hình Trung Quốc vẫn còn đang không ngừng sáng tạo cái mới; nó đã làm nên huyền thoại chấn động cả thế giới và thể hiện tiềm lực to lớn. Cạnh tranh hình thái ý thức và sự thành bại của chiến tranh lạnh Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Liên Xô in đậm màu sắc hình thái ý thức chưa từng có tiền lệ trong lịch sử cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Chiến tranh lạnh từ đầu đến cuối diễn ra
- dưới ngọn cờ hình thái ý thức. Cái gọi là cạnh tranh phát triển không những là phát triển kinh tế mà còn là phát triển hình thái ý thức. Tư tưởng chủ nghĩa Marx, hình thái ý thức chủ nghĩa xã hội trỗi dậy trong trào lưu tư tưởng phê phán và chôn vùi chủ nghĩa tư bản, ban đầu vốn có ưu thế lớn mạnh. Song le cái ưu thế đó cần được duy trì trong sự phát triển; sự đình trệ và xơ cứng sẽ làm mất ưu thế. Đáng tiếc là sau Thế chiến II, nhất là sau khi Stalin qua đời, Liên Xô trước sau không còn chiếm được điểm cao khống chế trong lĩnh vực hình thái ý thức có thể kích động và vẫy gọi nhân dân thế giới, không hình thành được ưu thế hình thái ý thức của mình. Kết quả là chẳng những không được lòng dân trên mặt so sánh lợi ích vật chất mà trên mặt tinh thần và văn hóa cũng khó giành được sự thuận lòng quy phục của thiên hạ. Một số nội dung hình thái ý thức do Liên Xô đề ra khó giành được sự tán đồng của nhân dân trong nước mình mà trên quốc tế cũng không thể giành được sự chủ động về đạo nghĩa, thậm chí càng bị cô lập trên thế giới. Trong mối quan hệ với Trung Quốc, Liên Xô thi hành chủ nghĩa Sô-vanh, biến Trung Quốc từ bạn đồng minh thành kẻ địch. Liên Xô đưa ra thuyết chủ quyền hữu hạn, thuyết chuyên chính quốc tế, đưa xe tăng vào Tiệp Khắc càng làm mất lòng dân và sự ủng hộ của các nước khác. Nghị quyết của Liên Hợp Quốc lên án Liên Xô xâm nhập Afghanistan từ năm 1980 trở đi ngày càng được nhiều nước ủng hộ: năm 1986 được 122 nước tán thành, chỉ có 19 nước ủng hộ. Trên mặt coi trọng sự chiếm lĩnh điểm cao đạo đức, nước Mỹ có nhiều chỗ đáng chú ý. Từ chính sách ngoại giao theo chủ nghĩa lý tưởng của Tổng thống Wilson, “bốn tự do lớn” của Roosevelt cho đến ngoại giao nhân quyền của Tổng thống Carter, sức mạnh mềm hình thái ý thức ở trong và ngoài nước của Mỹ đều có khả năng cạnh tranh chiến lược. Chính sách ngoại giao Mỹ trong thời kỳ Thế chiến I đã bao hàm nhân tố nhân quyền, Tổng thống Wilson đưa ra chính sách ngoại giao theo chủ nghĩa lý tưởng, tuyên truyền rộng rãi nước Mỹ không tìm kiếm lợi ích riêng, “chỉ bảo vệ quyền lợi của loài người”. Điều đó đã coi sự tôn nghiêm của quốc gia và cái gọi là nhân quyền là cơ sở quan trọng của chính sách Mỹ. Nền ngoại giao chủ nghĩa lý tưởng do Tổng thống Wilson đề xuất đã có ảnh hưởng quan trọng tới Tổng thống Roosevelt. Trong Thông điệp Liên bang ngày 6 tháng 1 năm 1941, Roosevelt đề xuất xây dựng an ninh tập thể và tìm kiếm “một thế giới có bốn loại tự do cơ bản của loài người”, đó là: tự do ngôn luận và phát biểu ý kiến; tự do dùng cách của mình để tôn thờ Thượng Đế; tự do không lo thiếu thốn; tự do không lo sợ hãi. Ngày 9 tháng 8 năm 1941, Roosevelt và Churchill ký “Hiến chương Đại Tây Dương”, trong đó nhắc lại các nguyên tắc cơ bản nói trên: sau khi chiến thắng phát xít, thế giới cần xây dựng hòa bình, làm cho nhân dân các nước an cư lạc nghiệp, sống tự do, không phải lo sợ gì, không lo thiếu thốn. Các văn kiện quốc tế sau này công bố như “Tuyên ngôn Liên Hợp Quốc” và “Hiến chương Liên Hợp Quốc” đều nhắc lại các nguyên tắc và điều văn liên quan tới nhân quyền cơ bản. Sau chiến tranh, chính phủ Mỹ luôn luôn quan tâm vấn đề nhân quyền, vì những cái đó liên quan tới giá trị quan của nước Mỹ cũng như tới hình ảnh cùng địa vị lãnh tụ thế giới của Mỹ. Nhưng trước giữa thập niên 70 thế kỷ XX, chính phủ Mỹ về căn bản không ràng buộc nhân quyền với ngoại giao. Tổng thống Carter muốn lãnh đạo phong trào nhân quyền trên toàn thế giới, cho rằng nêu cao nhân quyền sẽ trở thành trào lưu của thế giới trong tương lai, nước Mỹ cần đứng trên đỉnh ngọn sóng trào lưu ấy, nhấn mạnh nhân quyền là linh hồn và tinh túy của chính sách ngoại giao Mỹ, là nhân tố quan trọng xác định mối quan hệ ngoại giao với các nước khác. Tuyên bố nhân quyền là hòn đá tảng của chính sách ngoại giao Mỹ, nhân quyền trở thành ngọn cờ thế giới của Mỹ, trở thành điểm cao khống chế hình thái ý thức Mỹ, là giá trị phổ cập mà nước Mỹ tuyên truyền rộng rãi. Mỹ dùng nhân quyền để chế ước chủ quyền, mượn cớ bảo vệ nhân quyền để đẩy mạnh bá quyền thế giới, tăng cường khả năng tiến hành cạnh tranh chiến lược với Liên Xô. Phát triển là đạo lý muôn thưở, không những chỉ là phát triển kinh tế mà còn là phát triển tư tưởng, tinh thần, phát triển văn hóa, phát triển hình thái ý thức. Cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc với Mỹ có một lĩnh vực quan trọng là cạnh tranh giữa giá trị quan của Trung
- Quốc với giá trị quan của Mỹ, lĩnh vực này là miền quê linh hồn của mọi người. Hình thái ý thức của Trung Quốc phải có điểm cao khống chế của mình, giá trị quan của Trung Quốc phải có sức truyền cảm thế giới, giá trị quan Trung Quốc phải có giá trị quan phổ quát thế giới. Một Trung Quốc có thể dẫn dắt thế giới về mặt tinh thần thì mới có thể trở thành “quốc gia linh hồn” của thế giới. Thời đại chiến tranh lạnh và thời đại phi chiến tranh lạnh Chiến tranh lạnh là một mô hình cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nó cũng là sự trả giá cho cuộc cạnh tranh đó, hơn nữa còn là cái giá cao khó có thể gánh chịu nổi. Chiến tranh lạnh chẳng những đem số phận hai nước Liên Xô và Mỹ ra đánh cược mà còn đem số phận của toàn nhân loại ra đánh cược. Nói về hai bên thắng thua trong cuộc chiến tranh lạnh, cố nhiên bên thua thì thua thảm hại, còn bên thắng thì sao lại không phải là thắng một cách thảm hại, thắng sát nút! Cái giá phải trả cho chiến tranh lạnh rất nặng nề. Không những gây ra tình trạng mở rộng cuộc đấu tranh giai cấp trong cộng đồng quốc tế mà chiến tranh lạnh còn mở rộng đấu tranh giai cấp nội bộ nước mình. Chính sách chiến tranh lạnh của Mỹ thể hiện ở sự ngăn chặn Liên Xô và cũng thể hiện ở phong trào “Tuyên thệ trung thành” trong nước Mỹ. Ngày 21 tháng 3 năm 1947, Tổng thống Truman ra mệnh lệnh số 9835 yêu cầu tiến hành một đợt thẩm tra an ninh đối với 2,5 triệu viên chức nhà nước. Đợt điều tra lòng trung thành này còn mở rộng tới 3 triệu thành viên trong lực lượng vũ trang và 3 triệu người làm thuê cho các doanh nghiệp nhận thầu đơn hàng ngành quốc phòng. Như vậy tại nước Mỹ ít nhất có 8 triệu người thường xuyên sống trong nỗi ám ảnh cần chứng minh lòng trung thành của họ. Nếu cộng thêm gia đình của họ thì nước Mỹ có 20 triệu người đứng trước mối đe dọa bị thẩm tra bất cứ lúc nào. Cuối cùng cả đến lòng trung thành của Tổng thống Mỹ cũng bị nghi ngờ. Ngày 6 tháng 11 năm 1953, Bộ trưởng Tư pháp Mỹ buộc tội Truman có ý định bao che cho một gián điệp Liên Xô. Các đảng viên Cộng sản Mỹ phải đăng ký với toà án, nếu không sẽ bị án tù hai năm. Cái giá phải trả về mặt kinh tế của chiến tranh lạnh cũng rất lớn. Hồi giữa thập niên 20 thế kỷ XX, mối quan hệ buôn bán giữa Mỹ với Liên Xô được phát triển nhất định, lần lượt xuất hiện các tổ chức thương mại dân doanh. Mỹ trở thành một trong các nhà cung cấp lớn nhất cho Liên Xô các thiết bị cần cho công cuộc xây dựng Liên Xô, cũng như đã bắt đầu tiến hành đầu tư và hợp tác kỹ thuật tại Liên Xô. Đến năm 1931 có khoảng 40 công ty lớn của Mỹ đã ký 134 thoả thuận hợp tác kỹ thuật với Liên Xô, có chừng 1.000 kỹ sư Mỹ làm việc ở Liên Xô, 842 cán bộ Liên Xô sang đào tạo tại Mỹ. Năm 1933, Mỹ và Liên Xô lập quan hệ ngoại giao, năm 1937 Mỹ cho Liên Xô hưởng chế độ tối huệ quốc. Nhưng sau khi chiến tranh lạnh bắt đầu, kim ngạch thương mại phương Tây với phương Đông chỉ còn chiếm 1,3% tổng kim ngạch thương mại toàn thế giới, năm 1956 cũng chỉ có 2,6%. Mối quan hệ kinh tế giữa Mỹ với Liên Xô không thể phát triển trong một thời gian dài. Cái giá phải trả cho chiến tranh lạnh của hai “phe” cũng rất cao. Chiến tranh lạnh tiến hành đối kháng lẫn nhau dưới hình thức phe và liên minh. Liên Xô gánh chịu rất nặng cho việc duy trì phe xã hội chủ nghĩa. Theo ước tính của phương Tây, năm 1986 mỗi ngày Liên Xô cung cấp cho Cuba 1,3 triệu USD, mỗi năm là 5 tỷ USD; cho Afghanistan mỗi ngày 12 triệu USD; cho Việt Nam mỗi ngày 8 triệu USD; cho Ethiopia mỗi ngày 3 triệu USD. Còn có một số liệu thống kê nữa: trong thời gian 1986-1990, hàng năm Liên Xô viện trợ Việt Nam 2,5 tỷ USD, ngoài ra còn 1 tỷ USD viện trợ quân sự. Trong 5 năm đó, Liên Xô cung cấp cho Mông Cổ 3 tỷ USD. Liên Xô đã cung cấp cho Cuba 3,5 tỷ USD viện trợ kinh tế và quân sự, chưa kể các khoản viện trợ gián tiếp và ưu đãi về vật tư. Cuộc chiến tranh lạnh kéo dài nửa thế kỷ là một đợt kiểm nghiệm, một sự tuyên án, cũng là một bài học. Cạnh tranh ác tính kiểu chiến tranh lạnh là tai nạn của nhân loại; kết cục của chiến tranh lạnh là lời tuyên án của lịch sử; bài học của chiến tranh lạnh cũng làm cho thế giới đi tới sự đồng thuận là cần sáng tạo một thế giới không có chiến tranh lạnh.
- V. Mỹ sẽ ngăn chặn Trung Quốc như thế nào Trong cuộc giành giật ngôi vị quốc gia quán quân, Mỹ là tay thiện nghệ về khoản ngăn chặn đối thủ. Trong chuyện này, Mỹ vừa thạo đánh tốc chiến lại cũng có khả năng chịu đựng đánh lâu dài. Khi ngăn chặn Nhật Bản, trên căn bản Mỹ dùng cách đánh nhanh thắng nhanh; khi ngăn chặn Liên Xô, Mỹ lại dùng chiến tranh lâu dài. Giờ đây Mỹ muốn tiến hành “cuộc chiến bảo vệ vương miện quán quân” lần thứ ba của họ - cuộc chiến ngăn chặn Trung Quốc. Đặc điểm nổi bật của việc Mỹ ngăn chặn Trung Quốc Việc Mỹ ngăn chặn Trung Quốc trong thế kỷ XXI có bốn đặc điểm. 1. Có tính tất nhiên về bản chất. Mỹ ngăn chặn Nhật Bản một cách không lịch sự, ngăn chặn Liên Xô một cách không nương nhẹ; Mỹ ngăn chặn Trung Quốc cũng có thể là “không chớp mắt”, “không do dự”. Tổng thống Obama tuyên bố Mỹ không tìm kiếm sự ngăn chặn Trung Quốc. Thực ra Mỹ luôn luôn ngăn chặn Trung Quốc: không thừa nhận Trung Quốc là “quốc gia dân chủ”, thế chẳng phải là “ngăn chặn chính trị” đối với Trung Quốc đó sao? Không thừa nhận “địa vị kinh tế thị trường” của Trung Quốc chẳng phải là “ngăn chặn kinh tế” đối với Trung Quốc ư? Mỹ làm rùm beng “Thuyết Trung Quốc đe dọa quân sự”, gây sức ép và liên minh các quốc gia châu Âu thực hành cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc, hạn chế xuất khẩu công nghệ cao và khoa học công nghệ quân sự sang Trung Quốc, đồng thời liên tục bán vũ khí tiên tiến cho Đài Loan, đấy chẳng phải là sự “ngăn chặn quân sự” đối với Trung Quốc hay sao? Mỹ thọc tay vào vấn đề Đài Loan, can thiệp tình hình eo biển Đài Loan, ngăn cản Trung Quốc thống nhất đất nước, chẳng những là ngăn chặn mà còn là can thiệp nội chính Trung Quốc. Cho nên trên vấn đề đối phó Trung Quốc, Mỹ sẽ không “từ bỏ ngăn chặn, lập tức thành Phật”. 2. Có tính nghệ thuật cao. Nếu nói việc Mỹ ngăn chặn Nhật Bản chủ yếu là sự ngăn chặn kinh tế đơn nhất, ngăn chặn Liên Xô là ngăn chặn phe chủ nghĩa xã hội một cách rạch ròi biên giới, trận tuyến rõ ràng, thế thì việc Mỹ ngăn chặn Trung Quốc sẽ là sự ngăn chặn trong liên hệ khăng khít và trong hợp tác, là sự thống nhất hợp tác với ngăn chặn. Điều đó nâng cao yêu cầu đối với nghệ thuật ngăn chặn của Mỹ. Thí dụ có học giả Trung Quốc nói, trong mối quan hệ với Mỹ, Trung Quốc cần tuân theo chiến lược “đi xe không mất tiền”, đáp chiếc chiến xa bá quyền của Mỹ để đi con đường phục hưng của mình. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hillary thì kêu gọi Mỹ cần “cùng hội cùng thuyền” với Trung Quốc. Cả hai bên Trung Quốc và Mỹ đều rất thông minh cũng rất nghệ thuật. Nhưng không thể phủ nhận một điểm: chiếc xe mà người Trung Quốc đi nhờ không mất tiền ấy là xe của người Mỹ và do người Mỹ lái, con thuyền mà hai nước cùng hội cùng thuyền ấy cũng do người Mỹ cầm lái. Như vậy lên xe và thuyền của người ta thì tính mạng của mình sẽ không hoàn toàn do mình làm chủ nữa. Trung Quốc có thể thăng cấp lên làm “tay lái phụ” giúp Mỹ đối phó với các rủi ro, song le như thế lại giúp làm nổi bật địa vị người cầm lái của Mỹ. Mỹ cho đối thủ cùng với mình ngồi chung một xe, cùng đáp một con thuyền, đó là sự khống chế khôn ngoan hơn, là nghệ thuật ngăn chặn cao minh hơn. 3. Có tính lâu dài của “cuộc chơi thế giới”. Để ngăn chặn Nhật Bản xốc tới địa vị nhất thế giới, Mỹ tuy đã tiến hành một cuộc chơi chiến lược căng thẳng nhưng thời gian cuộc chơi đó chẳng qua cũng chỉ khoảng 10 năm, 8 năm gì đó, thời kỳ chủ yếu cũng chỉ độ vài năm mà thôi, dùng cách đánh lẻ tẻ không tập trung cũng có thể trừng trị xong Nhật Bản. Việc ngăn chặn Liên Xô thì gian khổ hơn nhiều, chẳng những thời gian kéo dài gần nửa thế kỷ mà giữa chừng đã mấy lần giằng co, mấy lần cục diện tiến công phòng thủ có biến đổi, trong cuộc chơi với Liên Xô, Mỹ đã dùng cách thay đổi đường đi nước bước và “đường quyền tổ hợp”. Song quá trình Mỹ ngăn chặn Trung Quốc sẽ là một “cuộc chơi trăm năm”. Cuộc



