Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
dac_trung_cua_nen_kinh_te_thi_truong_dinh_huong_xa_hoi_chu_n.pdf
Nội dung text: Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Hội đồng lý luận Trung −ơng Bộ Khoa học và Công nghệ Ch−ơng trình KX.01 Đề tài cấp Nhà n−ớc KX.01.01 đặc tr−ng của nền Kinh tế thị tr−ờng định h−ớng XHCN ở Việt Nam Chủ nhiệm: GS.TS. Vũ đình bách 6547 21/9/2007 Hà Nội 2005
- Ban chủ nhiệm và thành viên của đề tài I. Ban chủ nhiệm 1. GS.TS. Vũ Đình Bách Chủ nhiệm 2. GS.TS. Trần Minh Đạo Phó chủ nhiệm 3. Th.S Hồ Hải Yến Th− ký hành chính II. Ban biên tập 1. GS. TS. Vũ Đình Bách Tr−ởng ban 2. GS.TS. Trần Minh Đạo P. Tr−ởng ban 3. TS. Hoàng Xuân Nghĩa Uỷ viên III. Những ng−ời viết đề tài nhánh và chuyên đề 1. GS.TS. Vũ Đình Bách Đại học Kinh tế Quốc dân 2. GS.TS. Trần Minh Đạo Đại học Kinh tế Quốc dân 3. GS.TS. Phạm Quang Phan Đại học Kinh tế Quốc dân 4. GS.TS. Nguyễn Kế Tuấn Đại học Kinh tế Quốc dân 5. TS. Phạm Văn Sinh Đại học Kinh tế Quốc dân 6. PGS.TS. Phan Thanh Phố Đại học Kinh tế Quốc dân 7. PGS.TS. Lê Thục Đại học Kinh tế Quốc dân 8. TS. An Nh− Hải Học viện CTQG HCM 9. TS. Tô Đức Hạnh Đại học Kinh tế Quốc dân 10. TS. Nguyễn Ngọc Huyền Đại học Kinh tế Quốc dân 11. TS. Đào Ph−ơng Liên Đại học Kinh tế Quốc dân 12. PGS.TS. Trần Bình Trọng Đại học Kinh tế Quốc dân 13. TS. Đặng Thắng Đại học Kinh tế Quốc dân 14. TS. Nguyễn Đình Tân Văn phòng Chính phủ 15. NCV. Đào Việt H−ng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới 16. NCV. Nguyễn Ngọc Mạnh Trung tâm Kinh tế châu á - TBD 17. Th.S. Trần Lan H−ơng Trung tâm Kinh tế châu á - TBD 2
- 18. TS. Hoàng Xuân Nghĩa Viện NCPT KINH Tế – XH Hà Nội 19. PGS.TS. Nguyễn Khắc Thanh Học viện CTQG HCM 20. TS. Trần Anh Tài Đại học Quốc gia Hà Nội 21. TS. Nguyễn Hữu Đạt Viện Kinh tế Việt Nam 22. TS. Nguyễn Văn Minh Đại học Th−ơng mại Hà Nội 23. PGS.TS. Phạm Thị Quý Đại học Kinh tế Quốc dân 24. TS. Phạm Huy Vinh Đại học Kinh tế Quốc dân 25. PGS.TS. Nguyễn Công Nhự Đại học Kinh tế Quốc dân 26. GS.TS. Phạm Ngọc Kiểm Đại học Kinh tế Quốc dân 27. PGS.TS. Phạm Công Nghĩa Đại học Kinh tế Quốc dân 28. TS. Phạm Đại Đồng Đại học Kinh tế Quốc dân 29. Th.S. Phạm Đăng Quyết TTTT – TK LĐ & XH 30. GS.TS. Hoàng Ngọc Việt Đại học Kinh tế Quốc dân 31. PGS.TS. Trần Hậu Thự Đại học Kinh tế Quốc dân 32. TS. Lê Văn C−ờng Đại học Kinh tế Quốc dân 33. TS. Tr−ơng Đình Chiến Đại học Kinh tế Quốc dân 34. TS. Vũ Trí Dũng Đại học Kinh tế Quốc dân 35. GS.TS. Đàm Văn Nhuệ Đại học Kinh tế Quốc dân 36. PGS.TS. Hoàng Văn Hoa Đại học Kinh tế Quốc dân 37. GS. Trần Đình Bút Chuyên viên kinh tế TP. HCM 38. PGS. Đào Công Tiến Đại học Kinh tế TP. HCM Và 23 nhà khoa học tham gia viết bài cho hội thảo Danh mục các chữ viết tắt 3
- DN : Doanh nghiệp PTSX : Ph−ơng thức sản xuất DNNN : Doanh nghiệp nhà n−ớc TKQĐ : Thời kỳ quá độ DNTN : Doanh nghiệp t− nhân NKTQĐ : Nền kinh tế quá độ NKTQD : Nền kinh tế quốc dân KT - CT : Kinh tế chính trị học KTTT : Kinh tế thị tr−ờng Nxb : Nhà xuất bản LLSX : Lực l−ợng sản xuất CTQG : Chính trị Quốc gia QHSX : Quan hệ sản xuất KHXH : Khoa học xã hội QHSH : Quan hệ sở hữu KHCN : Khoa học, công nghệ TLSX : T− liệu sản xuất CNTT : Công nghệ thông tin TSX : Tái sản xuất CNH : Công nghiệp hoá FDI : Đầu t− trực tiếp n−ớc ngoài HĐH : Hiện đại hoá USD : Đô la Mỹ NICs : Các n−ớc CN mới châu á NDT : Đồng nhân dân tệ EU : Liên minh châu Âu VNĐ : Đồng tiền Việt Nam R&D : Nghiên cứu và phát triển CNXH : Chủ nghĩa xã hội GDP : Tổng sản phẩm quốc nội CNCS : Chủ nghĩa cộng sản GNP : Tổng sản phẩm quốc dân CNTB : Chủ nghĩa t− bản HTX : Hợp tác xã 4
- Mục lục Lời mở đầu 7 Ch−ơng I. Quá trình hình thành và phát triển nền KTTT trên thế giới 11 1.1. Các hệ thống kinh tế. Sự hình thành hệ thống KTTT 11 1.1.1. Các hệ thống kinh tế 11 1.1.2. Hệ thống kinh tế thị tr−ờng và điều kiện ra đời 12 1.2. Các giai đoạn phát triển của KTTT TBCN 15 1.2.1. Giai đoạn phát triển KTTT tự do 16 1.2.2. Giai đoạn phát triển KTTT hiện đại có sự can thiệp của Nhà n−ớc 17 1.3. Các con đ−ờng phát triển KTTT trên thế giới 20 1.3.1. Phát triển KTTT theo con đ−ờng tuần tự - cổ điển 20 1.3.2. Phát triển KTTT theo con đ−ờng rút ngắn 23 1.4. Những kết luận rút ra từ nghiên cứu sự phát triển KTTT 29 Ch−ơng II. Các mô hình chủ yếu, đặc tr−ng và xu h−ớng vận động của nền KTTT TBCN hiện đại 32 2.1. Các mô hình chủ yếu của KTTT TBCN hiện đại 32 2.1.1. Mô hình KTTT tự do Hoa Kỳ 32 2.1.2. Mô hình KTTT có điều khiển Nhật Bản 40 2.1.3. Mô hình KTTT xã hội Cộng hoà Liên bang Đức 51 2.1.4. Mô hình KTTT Nhà n−ớc phúc lợi Thuỵ Điển 57 2.2. Các đặc tr−ng và xu h−ớng vận động của nền KTTT TBCN hiện đại 60 2.2.1. Xu h−ớng toàn cầu hoá kinh tế 60 2.2.2. Phát triển các LLSX TBCN hiện đại dựa trên tiến bộ KHCN, có các công nghệ cao 66 2.2.3. Xã hội hoá các quan hệ kinh tế TBCN 71 2.3. Vai trò lịch sử của kinh tế thị tr−ờng TBCN 74 2.3.1. Mâu thuẫn, khủng hoảng và sự tự phủ định của CNTB toàn cầu 74 2.3.2. B−ớc chuyển đổi sang xã hội hậu công nghiệp - sự phản ánh tiến trình xã hội phát triển theo định h−ớng XHCN 81 Ch−ơng III. Kinh tế thị tr−ờng và chủ nghĩa xã hội 86 3.1. Học thuyết Mácxit và các học thuyết khác về CNXH 86 3.1.1. Các t− t−ởng XHCN tr−ớc C.Mác 86 3.1.2. Học thuyết Mácxit về CNXH 88 3.1.3. Mô hình CNXH cổ điển ở Liên xô (cũ) và Đông Âu .89 5
- 3.1.4. Lý thuyết về CNXH thị tr−ờng 97 3.2. Mô hình kinh tế thị tr−ờng XHCN mang đặc sắc Trung Quốc 101 3.2.1. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng KTTT XHCN mang đặc sắc Trung Quốc. 101 3.2.2. Bản chất của KTTT XHCN mang đặc sắc Trung Quốc 102 3.2.3. Đặc tr−ng chủ yếu của KTTT XHCN đặc sắc Trung Quốc 105 Ch−ơng IV. Bản chất, đặc tr−ng của nền KTTT định h−ớng XHCN ở Việt Nam 120 4.1. Quá trình chuyển đổi sang nền KTTT định h−ớng XHCN ở Việt Nam 120 4.1.1. Tính tất yếu phát triển KTTT định h−ớng XHCN 120 4.1.2. Nền KTTT định h−ớng XHCN ở Việt Nam nh− là b−ớc chuyển đổi đặc thù trong tiến trình phát triển chung của nhân loại sang xã hội hậu công nghiệp và nền kinh tế tri thức 127 4.1.3. Bản chất, nội hàm và ý nghĩa của mô hình KTTT định h−ớng XHCN 129 4.2. Đặc tr−ng của nền KTTT định h−ớng XHCN ở Việt Nam 133 4.2.1. Đặc tr−ng về chế độ sở hữu trong nền KTTT định h−ớng XHCN 133 4.2.2. Đặc tr−ng về kết cấu kinh tế theo khu vực 145 4.2.3. Đặc tr−ng của khu vực kinh tế t− nhân 151 4.2.4. Đặc tr−ng phân phối trong nền KTTT định h−ớng XHCN 158 4.2.5. Đặc tr−ng về LLSX của nền KTTT định h−ớng XHCN 164 4.3. Những nhận xét rút ra từ việc so sánh các mô hình KTTT chủ yếu 177 Ch−ơng V. Các điều kiện đảm bảo cho sự vận hành và phát triển cuả nền KTTT định h−ớng XHCN 184 5.1. Thực trạng, nguy cơ và những thách thức đối với sự phát triển của nền KTTT định h−ớng XHCN 184 5.2. Các điều kiện đảm bảo cho sự vận hành và phát triển cuả nền KTTT định h−ớng XHCN 194 5.2.1. Đổi mới nhận thức và ph−ơng thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản 194 5.2.2. Nâng cao vai trò và cơ chế quản lý của Nhà n−ớc XHCN 199 5.2.3. Cải tạo và xây dựng cơ cấu trong nền KTTT định h−ớng XHCN 204 5.2.4. Xây dựng hạ tầng hiện đại, phát triển đồng bộ thể chế và các thị tr−ờng riêng của nền KTTT 210 Kết luận 221 Danh mục tài liệu tham khảo 223 6
- Lời mở đầu Đề tài "Đặc tr−ng của nền kinh tế thị tr−ờng định h−ớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - mã số KX.01.01" là một trong 11 đề tài cấp Nhà n−ớc thuộc Ch−ơng trình KX.01 - Kinh tế thị tr−ờng định h−ớng xã hội chủ nghĩa, giai đoạn 2001 - 2005. Đề tài có nhiệm vụ trọng tâm cùng với 10 đề tài thuộc Ch−ơng trình nhằm luận giải rõ về mặt lý luận và thực tiễn của nền kinh tế thị tr−ờng định h−ớng xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những căn cứ góp phần soạn thảo văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Hợp đồng số 01/2001/HĐ - ĐTCT - KX.01 ký giữa Chủ nhiệm Ch−ơng trình KX.01 và Chủ nhiệm Đề tài KX.01.01 ngày 5 tháng 11 năm 2001, Đề tài có 2 mục tiêu: - Làm rõ những đặc tr−ng (giống nhau, khác nhau) của kinh tế thị tr−ờng t− bản chủ nghĩa (KTTT TBCN), kinh tế thị tr−ờng xã hội chủ nghĩa (KTTT XHCN), kinh tế thị tr−ờng định h−ớng xã hội chủ nghĩa (KTTT định h−ớng XHCN). - Kiến nghị những điều kiện cơ bản đảm bảo sự phát triển và xây dựng thành công nền KTTT định h−ớng XHCN ở Việt Nam. Giải quyết thấu đáo hai mục tiêu này là một việc vô cùng khó khăn. Bởi lẽ, Việt Nam là quốc gia đầu tiên đề xuất mô hình đặc thù “nền KTTT định h−ớng XHCN” - hoàn toàn ch−a có tiền lệ và cũng ch−a đ−ợc thực tiễn kiểm nghiệm. Trong khi đó, lý luận về nền KTTT TBCN đã có từ rất sớm và rất phong phú, ngay cả tr−ớc khi Học thuyết Mác - xít xuất hiện. Lý luận này không phải gì khác hơn, mà chính là sản phẩm tất yếu của nhận thức khoa học về nền KTTT TBCN đ−ơng thời, nhất là trong thế kỷ XIX. Nh−ng từ đó đến nay bản thân KTTT TBCN không đứng yên mà trái lại, đã tự mình biến đổi rất nhiều để có thể thích nghi và phát triển trong những điều kiện mới của tổ chức sản xuất và công nghệ. Thực tiễn cũng cho thấy các mô hình KTTT TBCN ở những n−ớc khác nhau không giống nhau, mà có sự khác biệt đáng kể. Mỗi mô hình KTTT cụ thể đều phù hợp với những đặc điểm truyền thống, văn hóa dân tộc cũng nh− trình độ sản xuất của xã hội. Hơn nữa, chúng còn không ngừng cạnh tranh và hợp tác với nhau để phát triển. Cạnh tranh giữa những hàng hóa - dịch vụ của các quốc gia trên thị tr−ờng thế giới về thực chất là sự cạnh tranh giữa các mô hình KTTT. Chính điều này làm nên sức sống và sự tr−ờng tồn của KTTT với 7
- t− cách là thành tựu văn minh, hình thái xã hội của tổ chức các liên hệ sản xuất và mẫu số chung của hoạt động kinh tế giữa con ng−ời. Chúng ta thấy hiển nhiên, mỗi mô hình KTTT cụ thể ở một quốc gia có thể thăng trầm, nh−ng nền KTTT nói chung thì không ngừng đổi mới và phát triển. Chính sự rút lui và đào thải theo quy luật thị tr−ờng đối với những mô hình kém sức cạnh tranh lại là điều kiện để khẳng định các mô hình mới hiệu quả, năng động và đầy sức sống. Nh−ng đối lập lại một cách thách thức, mô hình CNXH thuần nhất dựa trên chế độ công hữu về các t− liệu sản xuất chủ yếu, với cơ chế vận hành theo kế hoạch hoá tập trung, phi thị tr−ờng sau hơn 70 năm tồn tại đã tỏ ra không có sức sống nội sinh, lâm vào khủng hoảng và bế tắc. Cuối cùng, mô hình này phải chấp nhận thất bại sâu sắc tr−ớc KTTT trong cuộc cạnh tranh lịch sử và buộc phải quay trở về (=chuyển đổi sang) cơ chế thị tr−ờng của vận hành kinh tế. Một mô hình KTTT mới của CNXH đã đ−ợc khởi x−ớng bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc: KTTT XHCN mang đặc sắc Trung Quốc. Mô hình KTTT mới này đ−ợc xây dựng dựa trên quan điểm: "sáng tạo, không ngừng giải phóng t− t−ởng, thực sự cầu thị, tiến lên cùng thời đại", nh−ng vẫn "kiên trì nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác". Một câu hỏi đ−ợc đặt ra: phải chăng đây là mô hình mới, con đ−ờng mới thực sự? Thực tế, từ khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng khởi x−ớng và lãnh đạo, đất n−ớc nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng và suy thoái, nền kinh tế thực sự có b−ớc phát triển ổn định, vững chắc, tiềm lực sản xuất và cơ sở vật chất – kỹ thuật không ngừng đ−ợc nâng cao, đời sống nhân dân từng b−ớc đ−ợc cải thiện. Nội dung của đổi mới ở đây chính là đổi mới về thể chế và cơ chế kinh tế, từng b−ớc áp dụng mô thức thị tr−ờng thay cho mô thức kế hoạch hoá chỉ huy. Trên cơ sở tổng kết và khái quát từ thực tiễn đổi mới phong phú, sinh động, Đảng ta đã đề xuất t− t−ởng sử dụng cơ chế thị tr−ờng vào xây dựng CNXH ở Việt Nam: "nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị tr−ờng có sự quản lý của Nhà n−ớc theo định h−ớng XHCN". Đến nay t− t−ởng này đ−ợc tiếp tục phát triển, khái quát hóa và nâng cao thành mô hình mới của CNXH: "nền kinh tế thị tr−ờng định h−ớng XHCN". Tuy rằng chúng ta chấp nhận KTTT, nh−ng không khỏi có những băn khoăn: Liệu KTTT và CNXH có thể kết hợp với nhau đ−ợc hay không? Nếu có thì sự kết hợp và cơ chế vận hành kinh tế cụ thể sẽ thế nào? Vậy thì KTTT định h−ớng XHCN giống, khác gì so với các nền KTTT thông th−ờng và con 8
- đ−ờng xây dựng nó sẽ phải ra sao? Trả lời những câu hỏi trên đây cũng chính là yêu cầu phải làm rõ đặc tr−ng và điều kiện đảm bảo cho nền KTTT định h−ớng XHCN. Vấn đề này hiện đang đ−ợc tiếp tục nghiên cứu, tranh luận và còn có những ý kiến khác nhau. Hơn nữa, chính bản thân đối t−ợng là nền KTTT định h−ớng XHCN cũng đang trong giai đoạn hình thành và phát triển ch−a đầy đủ, ch−a chín muồi. Tuy nhiên, với t− cách là nghiên cứu lý luận, vẫn cần thiết phải đ−a ra những phân tích, khái quát hóa về bản chất, những kết luận về ph−ơng diện quy luật và nguyên tắc, nhằm chỉ đạo cho quá trình nhận thức, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn mang tính cách mạng và sáng tạo. Đó cũng là lý do của việc hình thành Đề tài "Đặc tr−ng của nền KTTT định h−ớng XHCN ở Việt Nam". Đề tài đ−ợc thực hiện theo các nội dung chủ yếu sau: - Quá trình hình thành, phát triển và sự vận hành của nền KTTT. - Các mô hình chủ yếu, đặc tr−ng và xu h−ớng vận động của nền KTTT TBCN hiện đại. - Mối quan hệ giữa KTTT và CNXH nh− là những nấc thang tiến hoá tự nhiên. - Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành, đặc tr−ng của nền KTTT định h−ớng XHCN ở Việt Nam. - Kiến nghị về những điều kiện cơ bản đảm bảo sự vận hành, phát triển của nền KTTT định h−ớng XHCN. Trên cơ sở những nội dung đ−ợc đề cập, để đảm bảo thực hiện đ−ợc mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và phù hợp với đối t−ợng nghiên cứu, Đề tài sử dụng những ph−ơng pháp và quan điểm tiếp cận chủ yếu sau: Thứ nhất, lấy yêu cầu phát triển kinh tế, phát triển lực l−ợng sản xuất là tiêu chuẩn cao nhất để kiểm chứng đối với các quyết sách cũng nh− những đề xuất lý luận. Thứ hai, dựa trên nền tảng cơ bản của Học thuyết Mác - Lênin, có tính đến sự phát triển mới của nhận thức về những nội dung cụ thể của Học thuyết, theo nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan của xu thế vận động tiến bộ xã hội do Học thuyết phát hiện ra. Thứ ba, xuất phát từ mục tiêu xây dựng đất n−ớc do Đảng đề ra: “Làm cho dân giầu n−ớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đồng thời mạnh dạn đối chiếu với kết quả đạt đ−ợc, kết hợp phân tích lý luận với khảo sát, điều tra thực tiễn để chỉ ra những khía cạnh "không t−ởng" và "nóng vội 9
- duy ý chí” của các mô hình và lý thuyết về CNXH trong quá khứ cũng nh− hiện tại. Thứ t−, đề cao nguyên tắc giải phóng t− t−ởng, nghiêm túc trao đổi tranh luận, tăng c−ờng tính sáng tạo khoa học và thực sự cầu thị trong quá trình tìm tòi chân lý. Với tinh thần trên, trong quá trình triển khai Đề tài, nhóm nghiên cứu đã tìm tòi, tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu gốc và nhiều quan niệm khác nhau của các nhà khoa học trong, ngoài n−ớc, tổ chức nhiều cuộc hội thảo và đặc biệt là tổ chức các trao đổi chuyên đề sâu với giới khoa học cả n−ớc, kể cả tranh thủ ý kiến các nhà khoa học n−ớc ngoài, tiến hành khảo sát ở nhiều địa ph−ơng khác nhau. Nhân đây đề tài xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn tới Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố: Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Tây, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình D−ơng, An Giang, Cần Thơ, Bắc Cạn, Thái Nguyên,Tr−ờng Đại học Kinh tế Quốc dân, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho Ban chủ nhiệm Đề tài trong quá trình thực hiện nghiên cứu này. 10
- Ch−ơng I Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị tr−ờng trên thế giới 1.1. Các hệ thống kinh tế. Sự hình thành hệ thống kTTT 1.1.1. Các hệ thống kinh tế Nh− đã biết, đặc tr−ng của hoạt động sản xuất của con ng−ời là mang tính xã hội, là sản xuất xã hội. Khác với loài vật, tr−ớc tiên và đồng thời với quá trình tác động qua lại giữa con ng−ời với giới tự nhiên, thì hoạt động sản xuất còn là và chủ yếu là sự tác động qua lại giữa con ng−ời với nhau. Vì thế, hoạt động sản xuất của con ng−ời bao gồm hai mặt: (a), kỹ thuật - các lực l−ợng sản xuất; và (b) xã hội - các quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế. Chính điều này đã quy định tính lịch sử đặc thù của hoạt động kinh tế của con ng−ời. Nền sản xuất xã hội trong mọi giai đoạn phát triển đều vấp phải giới hạn về các nguồn lực sản xuất và giới hạn về khả năng thoả mãn các nhu cầu của con ng−ời. Do đó, nh− kinh tế học đã chỉ ra, vấn đề cốt yếu của các hệ thống kinh tế là nhằm trả lời hay giải quyết 3 vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất nh− thế nào? sản xuất cho ai hay phân phối chúng ra sao? Xét về mặt lịch sử hay tiến hoá toàn nhân loại, có thể phân chia làm ba giai đoạn chủ yếu hay ba hệ thống kinh tế lớn, căn cứ vào cách thức giải quyết những vấn đề cơ bản vừa nêu trên. Ba hệ thống đó là: 1, hệ thống kinh tế tự nhiên; 2, hệ thống kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao là kinh tế thị tr−ờng; 3, ng−ời ta cũng dự báo về một hệ thống kinh tế hậu thị tr−ờng, hậu công nghiệp trong t−ơng lai1; Ngoài ra, thế kỷ XX còn ghi dấu bởi dạng kinh tế đặc thù: hệ thống kinh tế kế hoạch hoá - chỉ huy hay hệ thống kinh tế phi thị tr−ờng, phi hàng hoá*. Về một ý nghĩa nhất định, nó nh− mặt đối chứng của KTTT và sự thể nghiệm không thành công của nền kinh tế hậu thị tr−ờng. 1 Xem các tác giả C.Mác, A.Toffle, Đaniel Bel, Ph.Khaeyc, R.Koud, M. Sumpeter * ở phần (3.2.) sẽ phân tích hệ thống kinh tế XHCN. 10
- Kinh tế tự nhiên là hệ thống kinh tế sớm nhất và sơ khai, gắn với th−ở bình minh của xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển thấp của các lực l−ợng sản xuất (LLSX) cũng nh− quan hệ sản xuất (QHSX). Điều này thể hiện trên các mặt sau: - Mục đích và sản phẩm sản xuất ra là nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tại chỗ hay tiêu dùng nội bộ. Vì vậy, hệ thống kinh tế này đ−ợc gọi là kinh tế tự cung tự cấp, vắng bóng của trao đổi và thị tr−ờng, hay còn gọi là nền kinh tế hiện vật. - Tổ chức kinh tế và sản xuất mang tính khép kín trong mỗi đơn vị cơ sở (chủ yếu là hộ gia đình nhỏ). Tình trạng này cũng đồng nghĩa với sự tách rời, cô lập và phân tán của các đơn vị kinh tế, không có sự phân công, hiệp tác giữa các đơn vị sản xuất. - Kỹ thuật sản xuất chủ yếu là thủ công, ph−ơng pháp sản xuất theo kinh nghiệm và thói quen, mang tính bảo thủ và lạc hậu. Vì lẽ đó, kinh tế tự nhiên đã từng tồn tại hàng ngàn năm mà không đ−a lại tiến bộ gì đáng kể trong kỹ thuật sản xuất, năng suất lao động cũng nh− tổ chức sản xuất. Tóm lại, cơ sở của kinh tế tự nhiên là ở trình độ thấp kém của các LLSX và phân công lao động xã hội, khiến cho năng suất rất thấp, sản phẩm làm ra không nhiều, chỉ đủ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng rất hạn chế cho chính bản thân ng−ời sản xuất. Kinh tế tự nhiên cũng đồng nghĩa với giai đoạn kinh tế nông nghiệp, theo hàm nghĩa là sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lấy việc khai thác sự màu mỡ của đất đai là yêú tố chính tạo ra sự phát triển. Kinh tế tự nhiên đã tồn tại trong xã hội nguyên thuỷ, trong xã hội trung cổ và tàn tích của nó vẫn còn dai dẳng tới sau này. Nh−ng theo yêu cầu phát triển của LLSX, khoa học kỹ thuật và phân công lao động xã hội, quan hệ trao đổi hàng hoá cũng dần dần xuất hiện, phá vỡ kinh tế tự nhiên, khép kín để chuyển sang thời đại kinh tế hàng hoá và thị tr−ờng. Kinh tế hàng hoá là hệ thống kế tiếp và phát triển tiến bộ hơn so với kinh tế tự nhiên. Kinh tế hàng hoá là hình thái tổ chức kinh tế xã hội mà ở đó mục tiêu của sản xuất là tạo ra các sản phẩm đem trao đổi trên thị tr−ờng. Trong nền kinh tế này các vấn đề cơ bản (sản xuất cái gì? nh− thế nào? và cho ai?) đều đ−ợc giải quyết thông qua thị tr−ờng và do thị tr−ờng quyết định. Kinh tế hàng hoá ra đời trong lịch sử có những điều kiện - tiền đề nhất định. Đó là: 11
- 1, phát triển của phân công và cùng với nó là trình độ cao của LLSX, tức sự phân chia xã hội về lao động và hình thành những ngành sản xuất vật chất cụ thể. 2, sự tách biệt về kinh tế giữa những ng−ời sản xuất, tức phân chia xã hội về sở hữu và hình thành sở hữu t− nhân đối với các yếu tố sản xuất chủ yếu. Những −u thế của kinh tế hàng hoá so với kinh tế tự nhiên là: kích thích sản xuất, cải tiến công cụ lao động và thúc đẩy LLSX phát triển; mở rộng phân công lao động, chuyên môn hoá và phát huy lợi thế so sánh của sản xuất xã hội; mở rộng giao l−u và hợp tác sản xuất, tạo lập nên hệ thống kinh tế thống nhất trong phạm vi quốc gia dân tộc và thị tr−ờng thế giới Kinh tế hàng hoá xuất hiện từ rất sớm ngay trong thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ trung cổ hàng ngàn năm, nghĩa là ở các ph−ơng thức sản xuất tiền TBCN, nó vẫn ở trình độ thấp kém, phổ biến vẫn là kinh tế hàng hoá nhỏ, giản đơn. Nguyên nhân là do những quan hệ - thiết chế phong kiến trung cổ vẫn tồn tại dai dẳng đã kìm hãm và thiếu những tiền đề kinh tế - xã hội cần thiết cho sự ra đời hệ thống KTTT TBCN. 1.1.2. Hệ thống kinh tế thị tr−ờng và điều kiện ra đời KTTT không phải là giai đoạn độc lập, khác biệt so với kinh tế hàng hoá, mà là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Chỉ khi nào LLSX và phân công đạt tới trình độ cao, sản xuất hàng hoá phát triển mạnh, trao đổi trở nên phổ biến và thị tr−ờng mở rộng, các quan hệ thị tr−ờng đ−ợc hoàn thiện bao gồm cơ cấu các quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và thể chế phù hợp, các loại hình thị tr−ờng hình thành đồng bộ và vận hành thông suốt, nghĩa là hoạt động nh− một hệ thống (chỉnh thể) kinh tế – xã hội hữu cơ, thì mới có KTTT. Nh− vậy, KTTT là giai đoạn phát triển tất yếu của xã hội loài ng−ời, là thành tựu văn minh nhân loại. Các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, vẫn có thể sử dụng KTTT vào phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế. Nh−ng trong lịch sử, nền kinh tế thị tr−ờng phát triển đã ra đời cùng với sự xuất hiện ph−ơng thức sản xuất TBCN; CNTB cũng là xã hội đầu tiên đã biết sử dụng KTTT phục vụ cho mục tiêu tạo ra của cải, lợi nhuận và tăng tích luỹ. Do đó, KTTT th−ờng đ−ợc đồng nghĩa với CNTB. Có thể tổng kết những điều kiện - tiền đề kinh tế và xã hội cho sự ra đời KTTT TBCN nh− sau: 12
- a) T− bản tiền tệ đ−ợc tích tụ vào tay các nhà t− bản cá biệt ở mức độ đủ lớn để hình thành các xí nghiệp sản xuất tập trung, quy mô. Đây là điều kiện tiên quyết đối với CNTB. Chúng ta biết rằng, PTSX TBCN vừa mới manh nha và ch−a có những cơ sở riêng là nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí hùng mạnh, nếu chỉ dựa vào sự tác động phân hóa của quy luật giá trị làm khánh kiệt những ng−ời sản xuất nhỏ và tập trung t− bản vào giới chủ doanh nghiệp thì sẽ rất lâu dài. Để rút ngắn quá trình này, giai cấp t− sản đã sử dụng thủ đoạn "tích lũy nguyên thủy”. Họ chủ tr−ơng đẩy mạnh buôn bán và phát triển th−ơng nghiệp, đặc biệt, ngoại th−ơng nhằm c−ớp bóc thuộc địa, khai thác lợi thế so sánh và sự chênh lệch năng suất tự nhiên giữa các quốc gia. Chủ nghĩa trọng th−ơng và chính sách bảo hộ mậu dịch đ−ợc nhà n−ớc t− sản áp dụng để thúc đẩy tích luỹ tiền tệ vào tay giới chủ t− bản. Ví dụ, n−ớc Anh thời nữ hoàng Elizabett sử dụng chính sách tăng thuế quan đối với thuyền bè ngoại quốc, khuyến khích th−ơng nhân v−ợt biển, mời thợ cả từ Đức sang phát triển công nghệ, thúc đẩy sản xuất và buôn bán nhiều loại hàng hoá, khôi phục l−u thông tiền bằng bạc nguyên giá Nhờ thế, tích luỹ tiền tệ - t− bản ở Anh đã diễn ra nhanh chóng hơn so những n−ớc khác. b) Xuất hiện thứ hàng hoá đặc biệt - sức lao động. Đây cũng là quá trình tách lao động khỏi các điều kiện sản xuất để biến họ thành ng−ời lao động tự do, ban bố các luật lệ – thiết chế cho việc hình thành thị tr−ờng lao động. Nhằm tạo ra nguồn cung sức lao động rẻ cho các công x−ởng TBCN vừa mới ra đời, giới chủ ở n−ớc Anh đã tiến hành các biện pháp khác nhau để tách nông dân khỏi ruộng đất, không ngoại trừ cả việc c−ỡng chế - t−ớc đoạt ruộng đất. "Phong trào rào đất" là một ví dụ, nhằm lập ra những đồng cỏ nuôi cừu phục vụ cho ngành dệt đang phát triển và dồn nông dân ra thành phố. Lịch sử gọi đây là hiện t−ợng “cừu ăn thịt ng−ời”2. Nhà nuớc t− sản đã đóng vai trò “bà đỡ” tích cực cho quá trình này, khi ban bố các đạo luật cho phép nông dân giải phóng khỏi ruộng đất và trở thành ng−ời lao động tự do; mặt khác, lại ra lệnh nghiêm trị nếu họ đi lang thang trên đ−ờng phố mà không chịu vào làm trong x−ởng thợ. Cùng với việc t−ớc đoạt ruộng đất và hình thành thị tr−ờng sức lao động, ở một số n−ớc ph−ơng Tây đã diễn ra cuộc cách mạng ruộng đất sớm và triệt để, đả kích mạnh vào cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ phong kiến, nhờ thế KTTT TBCN có thể ra đời và phát triển lớn mạnh. Bằng chứng là vào các thế kỷ XVIII - XIX, trong khi nền kinh tế n−ớc 2 C.Mác. T− Bản. QI. Nxb CTQG. 13
- Anh tiến triển nhanh theo h−ớng TBCN đại công nghiệp, thì n−ớc Đức do vẫn duy trì chế độ quân chủ cát cứ và sản xuất ph−ờng hội, không có nguồn tích luỹ từ thuộc địa và không tiến hành tách nông dân khỏi ruộng đất, nên vẫn chìm đắm trong quỹ đạo phong kiến. Các điều kiện vừa nói trên là những tiền đề quan trọng quyết định cho sự ra đời CNTB. Nh− C.Mac đã chỉ ra: nhờ có thứ hàng hóa đặc biệt - sức lao động và cách kết hợp TBCN (SLĐ + TLSX), mà PTSX TBCN mới có thể ra đời theo ý nghĩa là ph−ơng thức sản xuất và chiếm đoạt giá thặng d−, dựa vào việc kéo dài thời gian khai thác giá trị sử dụng của thứ hàng hóa đặc biệt - sức lao động hay kéo dài quá trình chế tạo giá trị v−ợt quá một điểm nhất định (v−ợt quá giá trị sức lao động). Điều này cũng gợi ý rằng: nếu loại bỏ tính chất TBCN của quá trình tích lũy nguyên thủy cũng nh− loại bỏ cách kết hợp TBCN giữa sức lao động với các yếu tố sản xuất, thì sự tích lũy vốn và phát triển thị tr−ờng sức lao động cũng chính là quá trình phát triển KTTT nói chung. c) Ngoài ra, cần phải có sự phát triển của thị tr−ờng tài chính với hai bộ phận cấu thành là thị tr−ờng vốn và thị tr−ờng tiền tệ ở mức độ nhất định. Trong nền KTTT phát triển, mọi quan hệ kinh tế đều đ−ợc tiền tệ hóa và biểu hiện d−ới hình thái chung nhất là t− bản - tiền tệ. Hơn nữa, t− bản - tiền tệ mà hình thái cao là t− bản – tín dụng giữ vai trò chi phối chứ không phải t− bản - hàng hóa nói chung. Việc đảm bảo cung cấp vốn cũng nh− yêu cầu chu chuyển các dòng vốn là rất lớn. Hệ thống tổ chức và cơ cấu của thị tr−ờng vốn cũng rất phức tạp, cơ chế phải rất linh hoạt nhằm l−u động vốn đủ, kịp thời cho nhu cầu nền kinh tế. Thị tr−ờng vốn, đặc biệt là thị tr−ờng chứng khoán đ−ợc coi là thể chế bậc cao và "trái tim" của nền KTTT hiện đại. d) Hệ thống kết cấu hạ tầng thị tr−ờng cũng nh− các thị tr−ờng riêng phải phát triển mạnh, đồng bộ nhằm đảm bảo l−u thông hàng hoá và thông tin thông suốt, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, dung l−ợng thị tr−ờng nhanh chóng. Mặt khác, nó cho phép phát huy hiệu quả các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất, tạo môi tr−ờng thuận lợi - hấp dẫn để kích thích các hoạt động đầu t− cũng nh− kinh doanh. Kinh nghiệm trong phát triển KTTT là nhà n−ớc cần tập trung đầu t− xây dựng hệ thống hạ tầng hiện đại nh− đ−ờng xá giao thông, bến cảng, sân bay, kho tàng, trong điều kiện ngày nay còn có ngành hàng không, b−u chính- viễn thông và mạng tin học - Internet 14
- e) Cuối cùng, sự thay đổi tích cực trong vai trò của nhà n−ớc là điều kiện “cần và đủ" cho phát triển KTTT. Thực tiễn lịch sử cho thấy trong giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hóa giản đơn sang KTTT TBCN, nhà n−ớc t− sản đã đóng vai trò "bà đỡ" nh−: can thiệp trực tiếp nhằm thúc đẩy tạo ra những tiền đề kinh tế - xã hội cần thiết cho KTTT, thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch và khuyến khích ngoại th−ơng theo tinh thần của chủ nghĩa trọng th−ơng. Nh−ng sang thời kỳ sau, khi giai cấp t− sản đã tích luỹ đ−ợc nhiều của cải và mạnh lên trong sản xuất kinh doanh, họ lại chủ tr−ơng theo h−ớng chủ nghĩa tự do kinh tế và phản đối sự can thiệp của nhà n−ớc. Nhà n−ớc TBCN từ vai trò "bà đỡ" chuyển sang vai trò “ng−ời gác đêm” để định ra các luật lệ - chính sách nhằm giữ gìn trật tự và sự ổn định của xã hội t− sản. B−ớc sang thế kỷ XX, từ sau “Đại khủng hoảng và suy thoái” năm 1929-1933, đặc biệt, tr−ớc sự đổ nát của nền kinh tế TBCN sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, nhiều n−ớc TBCN đã không còn tin t−ởng tuyệt đối vào vai trò điều tiết của “bàn tay vô hình”, họ chủ tr−ơng nhà n−ớc can thiệp vào kinh tế. Nhà n−ớc TBCN từ vai trò "ng−ời gác đêm" và nhân tố bên ngoài chuyển thành chủ thể và nhân tố cấu thành hữu cơ của nền KTTT hiện đại. Một mặt, vai trò nhà n−ớc đ−ợc xác định nh− là chủ thể thống nhất giữ trọng trách quản lý nền KTTT. Mặt khác, sự tham gia trực tiếp và kinh doanh nhà n−ớc với t− cách nh− một lực l−ợng thị tr−ờng là không thể thiếu, nh−ng đ−ợc giới hạn trong những phạm vi nhất định, chỉ ở đâu mà quy luật thị tr−ờng không phát huy tác dụng hay t− nhân không thể đảm đ−ơng. Cuối cùng, ph−ơng thức - công cụ mà nhà n−ớc sử dụng để tác động vào thị tr−ờng là tổng hợp: hành chính - pháp luật - kinh tế, trên nguyên tắc tôn trọng quy luật thị tr−ờng, nhằm bổ sung và hiệu chỉnh những khiếm khuyết và thất bại của thị tr−ờng, duy trì các cân đối vĩ mô, giúp cho thị tr−ờng vận hành đồng bộ, thông suốt. Trên cơ sở t− t−ởng này, đang diễn ra các cải cách mạnh mẽ nền KTTT TBCN theo h−ớng tự do hoá, thị tr−ờng hoá và t− nhân hoá rộng rãi. Ngoài ra, còn phải kể các điều kiện khác nh−: hoàn thiện chế độ sở hữu, xây dựng thể chế phù hợp của KTTT, phát triển các LLSX và cơ sở vật chất – kỹ thuật 1.2. Các giai đoạn phát triển của KTTT TBCN Kể từ khi ra đời đến nay d−ới tác động của các qui luật phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống KTTT TBCN đã biến đổi không ngừng. Căn cứ vào 15
- những đặc điểm cơ bản về hạ tầng cơ sở cũng nh− th−ợng tầng kiến trúc, có thể thấy hệ thống kinh tế này đã trải qua hai giai đoạn chủ yếu là kinh tế thị tr−ờng tự do và kinh tế thị tr−ờng hiện đại. T−ơng ứng với nó là giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh và giai đoạn CNTB độc quyền. 1.2.1. Giai đoạn phát triển KTTT tự do Giai đoạn này kéo dài ở các n−ớc ph−ơng Tây, từ cuối thế kỷ thứ XVII tới đầu thế kỷ thứ XX. Trong giai đoạn này các chủ thể kinh tế t− nhân đ−ợc xác lập. Nền kinh tế đ−ợc xây dựng chủ yếu trên hệ thống các doanh nghiệp t− nhân – hệ thống t− bản cá biệt và là nền tảng của chế độ xã hội. Cơ chế thị tr−ờng trở thành cơ chế vận hành chủ yếu của nền kinh tế. Với cơ chế này, toàn bộ hoạt động của nền kinh tế do thị tr−ờng quyết định và chủ yếu chịu sự chi phối bởi bàn tay vô hình. Trong giai đoạn này lý thuyết về “bàn tay vô hình” và sự hạn chế vai trò chính phủ của A. Smith đã có hiệu lực và thể hiện rõ nét. Ông viết: “Khi h−ớng ngành sản xuất của anh ta vào việc làm ra những sản phẩm có giá trị cao nhất, anh ta chỉ có ý định là thu đ−ợc lợi nhuận cho chính mình. Trong tr−ờng hợp này hay tr−ờng hợp khác anh ta đ−ợc dẫn dắt bởi bàn tay vô hình Tiến hành loại ngành nghề công nghiệp gì đây để số vốn mang sử dụng có khả năng làm ra đ−ợc sản phẩm có giá trị lớn nhất, việc này do từng cá nhân quyết định theo tình hình của địa ph−ơng”3. Đúng nh− vậy, các doanh nghiệp đã hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự do cạnh tranh, không bị tác động do sự can thiệp của Nhà n−ớc. Trong giai đoạn này, Nhà n−ớc chủ yếu cung cấp dịch vụ công cộng – quan trọng nhất là quốc phòng và an ninh cũng nh− những qui định về thể chế cho phép các thị tr−ờng phát triển mạnh mẽ. Điều đó cũng có nghĩa việc ra quyết định là phi tập trung hoá và tuỳ thuộc vào ng−ời chủ của các nhân tố sản xuất. Trong điều kiện nh− vậy những thành tựu của nền kinh tế nh− giải quyết công ăn việc làm mức độ tăng tr−ởng đ−ợc hoàn toàn quyết định bởi thị tr−ờng và hệ thống doanh nghiệp của các nhà t− bản. Nhà n−ớc tồn tại không phải với tính cách một chủ thể kinh tế lớn, bao trùm. Mức độ sở hữu và phạm vi khu vực kinh tế Nhà n−ớc còn rất nhỏ bé. Do đó, tác động của nó đến nền kinh tế quốc dân cũng hết sức hạn hẹp. 3 A. Smith. Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, HN, 1997, tr.648-649. 16
- 1.2.2. Giai đoạn phát triển KTTT hiện đại có sự can thiệp của Nhà n−ớc Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trên cơ sở của tự do cạnh tranh và phát triển của LLSX, trong các n−ớc t− bản phát triển đã diễn ra quá trình tích tụ, tập trung mạnh mẽ. Từ đây đã xuất hiện những mô hình tổ chức kinh doanh mới: công ty cổ phần. Năm 1894 Ph.ănghen đã viết “ ng−ời ta đều biết rằng nhiều hình thái mới về xí nghiệp đã phát triển, đấy là công ty cổ phần ở bậc 2 và 3”4. Sự xuất hiện các công ty cổ phần đã đánh dấu một đặc điểm mới của chế độ sở hữu trong giai đoạn KTTT TBCN hiện đại. C.Mác đã nhận xét về sự kiện này nh− sau: “Đó là sự thủ tiêu t− bản với t− cách là sở hữu t− nhân ở trong những giới hạn của ph−ơng thức sản xuất TBCN”5, “Đó là kết quả của sự phát triển cao nhất của nền sản xuất TBCN, là điểm quá độ tất nhiên để t− bản chuyển thành sở hữu của những ng−ời sản xuất, nh−ng không phải với t− cách là sở hữu t− nhân của những ng−ời sản xuất riêng lẻ nữa, mà với t− cách là sở hữu của những ng−ời sản xuất liên hiệp, trở thành sở hữu xã hội trực tiếp”6. Mặt khác, tích tụ và tập trung sản xuất đã dẫn đến độc quyền lũng đoạn: “Độc quyền phát sinh, kết quả sự tập trung sản xuất là qui luật phổ biến và cơ bản trong giai đoạn phát triển hiện nay của CNTB”7. Độc quyền và lũng đoạn đã bóp méo thị tr−ờng. Rốt cuộc, nền kinh tế thị tr−ờng tự do tồn tại kéo dài suốt hai thế kỷ đã bị sự độc quyền nảy sinh từ chính trong lòng nó đẩy tới chỗ bế tắc. Và cuộc đại khủng khoảng kinh tế năm 1929 - 1933 đã làm bộc lộ đầy đủ những khuyết tật của nền kinh tế thị tr−ờng tự do. Bằng chứng về sự thất bại của thị tr−ờng là những hiện t−ợng suy thoái trong sản xuất, khủng hoảng và thất nghiệp chu kỳ sâu sắc. ở Anh trong khoảng thời gian 1921 - 1938, tỷ lệ thất nghiệp không bao giờ d−ới 9,5%. Tại Mỹ trong thời kỳ này tỷ lệ thất nghiệp lên đến 25%, mức tiêu dùng tụt xuống và sản xuất công nghiệp đã giảm hơn một nửa. Không phải chỉ có sản l−ợng giảm sút một cách ghê gớm liên tục trong thời kỳ này, mà sang giai đoạn phục hồi cũng không hoàn toàn bù đắp đ−ợc mức sản xuất đã mất. Những điều trình bày trên đây cho thấy lý thuyết “Bàn tay vô hình” của A.Smith không còn tác dụng mạnh mẽ để đảm bảo nền kinh tế thị tr−ờng 4 C.Mác. T− bản, T3, q3, Phần II. Nxb Tiến bộ Matxcơva – Nxb Sự thật, tr.536. 5 C.Mác – Ph.ănghen. Toàn tập, T 25, Phần I. Nxb CTQG, HN, tr.667. 6 S.đ.d. tr. 668. 7 V.Lênin. Toàn tập, tiếng Việt. Nxb Tiến bộ, Matxcơva, T27, tr.402. 17
- TBCN hiện đại phát triển theo nghĩa tự điều chỉnh. Sự mất cân bằng sâu sắc trên thị tr−ờng đã làm nẩy nở nhiều học thuyết kinh tế vĩ mô, mà tiêu biểu là học thuyết của J.M.Keynes (1883 - 1946). Trong cuốn “Lý thuyết chung về việc làm, nhân dụng và lãi xuất”, ông đề xuất quan điểm cho rằng việc vận dụng đúng đắn các chính sách tiền tệ và tài khoá của chính phủ có thể ảnh h−ởng đến mức sản l−ợng và do đó làm giảm thất nghiệp và rút ngắn thời kỳ đình trệ kinh tế. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, học thuyết của J.M.Keynes đã trở nên phổ biến và thống trị trong kinh tế vĩ mô, đ−ợc vận dụng vào chính sách của nhiều chính phủ. Nhằm chống suy thoái, đảm bảo sự ổn định trong hoạt động kinh tế, các Nhà n−ớc TBCN đã sử dụng các chính sách và công cụ trong quản lý vĩ mô nh− chính sách tài khoá và tiền tệ, chính sách thu nhập để can thiệp vào thị tr−ờng làm cho nó đạt tới trạng thái cân bằng có thể, nhà n−ớc TBCN đã đóng vai trò điều tiết nền kinh tế. Giờ đây sản xuất cái gì, nh− thế nào và cho ai không phải hoàn toàn do “bàn tay vô hình” của thị tr−ờng quyết định mà có cả “bàn tay hữu hình” của chính phủ tham gia giải quyết. Đó là điểm mới của cơ chế vận hành trong nền KTTT TBCN hiện đại. Ngoài ra, sự phát triển của sở hữu Nhà n−ớc mà cụ thể là các DNNN trở thành khu vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cũng là đặc điểm đáng chú ý. Bên cạnh khu vực kinh tế t− nhân có vai trò nền tảng, kinh tế Nhà n−ớc đã trở thành một thực thể kinh tế lớn và công cụ kinh tế hỗ trợ cho Nhà n−ớc để thực hiện tốt các chức năng ổn định, công bằng và hiệu quả. Tuy nhiên, DNNN trong các n−ớc t− bản chỉ thực sự phát triển và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân chủ yếu từ những năm 50 của thế kỷ XX. Trong vòng 2 thập kỷ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chính phủ các n−ớc t− bản phát triển nh− Anh, Pháp, Italia, Cộng hoà Liên bang Đức đã thành lập một loạt các DNNN bằng cách quốc hữu hoá các doanh nghiệp t− nhân trong một số ngành quan trọng nh− điện lực, than, thép, khí đốt, đ−ờng sắt, hàng không Ngoài ra, các DNNN cũng đ−ợc hình thành bằng cách thành lập mới hoặc d−ới hình thức công ty cổ phần. Theo số liệu thống kê vào năm 1968, DNNN ở Pháp chiếm tỷ trọng 33,5% tổng tỷ lệ tài sản Nhà n−ớc; ở Italia là 28%, ở Cộng hoà Liên bang Đức là 22,7%, Hà Lan 21%, Anh 17% Trong một số ngành quan trọng, DNNN thậm chí hầu nh− độc chiếm. Ví dụ, năm 1971 DNNN ở Anh chiếm 100% trong các ngành than, khí đốt, đ−ờng sắt; chiếm 90% và 91% trong các ngành điện lực, gang thép. Năm 1969 - 1970, DNNN ở Italia chiếm 100% 18
- trong lĩnh vực vận tải hàng không, phát thanh, truyền hình. Sự phát triển mạnh mẽ DNNN trong các n−ớc t− bản phát triển đã tạo nên nền kinh tế hỗn hợp với hai khu vực: t− nhân và Nhà n−ớc. Nếu nh− khu vực kinh tế t− nhân có mặt ở hầu hết trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, thì trái lại, khu vực kinh tế Nhà n−ớc chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá dịch vụ công cộng và các doanh nghiệp thuộc những ngành then chốt của nền kinh tế quốc dân. Sự tồn tại của khu vực kinh tế Nhà n−ớc trong giai đoạn kinh tế thị tr−ờng hiện đại là một tất yếu khách quan. Nó gắn với mục đích khắc phục khuyết tật vốn có của cơ chế thị tr−ờng, tối đa hoá phúc lợi xã hội và trong chừng mực nhất định còn có tác dụng thúc đẩy, tạo môi tr−ờng thuận lợi cho kinh tế t− nhân phát triển. Việc hình thành và gia tăng số l−ợng DNNN ở các n−ớc TBCN trong thời gian sau Chiến tranh thế giới lần thứ II không thể không kể tới sự tác động của mô hình Xô - Viết, mà ở đây với số l−ợng áp đảo các DNNN đã cho phép CNXH tạo ra b−ớc đột phá trong quá trình CNH. Nh−ng d−ờng nh− tồn tại quy luật: khi một tỷ lệ về l−ợng DNNN v−ợt quá một giới hạn nào đó thì sẽ làm cho nền kinh tế trở nên phi hiệu quả. Vì vậy không nên cố định hoá một tỷ lệ DNNN quá cao trong nền KTTT. Quả thật, trong nền KTTT TBCN, vị trí của khu vực kinh tế nhà n−ớc không phải là nhất thành bất biến. Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX ở các n−ớc công nghiệp phát triển đã diễn ra quá trình t− nhân hoá rộng rãi các DNNN. Thực chất đây là quá trình đa dạng hoá các hình thức sở hữu, chuyển giao quyền kiểm soát trực tiếp của nhà n−ớc trong một số ngành công nghiệp, dịch vụ cho các công ty cổ phần t− nhân hoặc các công ty hỗn hợp. Đây đ−ợc coi là một chiến l−ợc có tính chất phổ biến nhằm giảm gánh nặng và thâm hụt ngân sách, tránh sa lầy vào tính phi hiệu quả cố hữu của kinh doanh trực tiếp của hệ thống DNNN, khai thác những động lực mới của khu vực kinh tế t− nhân và nền kinh tế thị tr−ờng, tăng thêm chất l−ợng và khả năng thâm nhập thị tr−ờng của hàng hoá - dịch vụ trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu ngày càng quyết liệt. Quá trình này đồng thời cho phép nâng cao hơn nữa vai trò quản lý vĩ mô của Nhà n−ớc theo mô hình của nền kinh tế hỗn hợp. Nhà n−ớc TBCN thông qua đó, một mặt, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của mình và mặt khác, để có thể tập trung vào thực hiện tốt chức năng quản lý chung bằng các chính sách và công cụ kinh tế vĩ mô. 19
- 1.3. Các con đ−ờng phát triển KTTT trên thế giới Kinh nghiệm lịch sử, một mặt, khẳng định những tính quy luật chung của quá trình tạo lập và phát triển KTTT, mặt khác, chỉ ra tính muôn vẻ của những con đ−ờng đi trong thực tiễn. Nó cho phép rút ra những bài học bổ ích có giá trị tham chiếu đối với những n−ớc đi sau, tuy rằng không thể áp dụng nguyên mẫu và máy móc các kinh nghiệm này trong những điều kiện mới đã thay đổi. 1.3.1. Phát triển KTTT theo con đ−ờng tuần tự - cổ điển Phát triển KTTT theo con đ−ờng cổ điển hay tuần tự là con đ−ờng mà các n−ớc Âu - Mỹ đã đi qua. ở đây, KTTT phải tuần tự hay lần l−ợt trải qua tất cả các giai đoạn nhất định và do đó, thời gian phát triển kéo dài 400-500 năm. Cần l−u ý rằng mô hình phát triển KTTT cổ điển chỉ áp dụng đối với những n−ớc TBCN đi tiên phong trong quá trình CNH và phải tự xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ của chính mình. Đây cũng là những quốc gia t−ơng đối lớn và giầu tài nguyên, có thể đảm bảo cung cấp khá dồi dào các yếu tố đầu vào cũng nh− thị tr−ờng đầu ra của sản phẩm hàng hóa. Điểm chung về con đ−ờng phát triển KTTT cổ điển là bắt buộc phải trải qua hai giai đoạn chủ yếu. a. Giai đoạn chuyển từ chế độ kinh tế hàng hoá giản đơn sang KTTT B−ớc chuyển này trùng với sự quá độ từ chế độ phong kiến sang CNTB diễn ra trong các thế kỷ XV đến XVII ở n−ớc Anh và một số n−ớc châu Âu. Tạo lập KTTT có các nội dung: - Thực hiện các cải cách t− sản trong lĩnh vực nông nghiệp, nhằm phá vỡ kết cấu kinh tế phong kiến và tạo ra các tiền đề kinh tế – xã hội cần thiết cho nền KTTT TBCN. Đó là cuộc cách mạng trong nông nghiệp nói chung cũng nh− cách mạng kỹ thuật canh tác và cách mạng quan hệ ruộng đất, cho phép tăng cung ứng nông phẩm cho xã hội, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và lao động nông nghiệp – nông thôn truyền thống, hình thành ph−ơng thức kinh doanh TBCN trong nông nghiệp. - Mở rộng cơ sở xã hội của KTTT. Đó là tạo ra tầng lớp lao động làm thuê và giới chủ doanh nghiệp trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Đây là các nhân vật trung tâm và giữ vai trò quyết định trong thời đại KTTT. Chính là giới chủ t− bản chứ không phải ai khác, với tài năng kinh doanh và động cơ lợi ích của giai cấp mình, đã lãnh đạo và thực hiện thành công cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh, biến n−ớc này thành quốc gia công nghiệp TBCN và “công x−ởng của thế giới”. 20
- - Phát triển ngoại th−ơng và thực hiện chính sách thực dân xâm chiếm thuộc địa. Đây là yếu tố đặc thù có tính bổ trợ quan trọng và không thể thiếu đối với những n−ớc đi tiên phong trong mô hình phát triển KTTT cổ điển. Ngoại th−ơng và sự c−ớp bóc thuộc địa đã cung cấp cho chính quốc các yếu tố đầu vào giá rẻ (nguyên liệu, vốn, sức lao động) và cho phép mở rộng thị tr−ờng tiêu thụ ra ngoài n−ớc. Đặc biệt, lợi dụng việc bán hàng không ngang giá, buôn bán nô lệ và chế độ đồn điền đã cho phép đẩy nhanh với tốc độ phi th−ờng quá trình tích luỹ nguyên thuỷ và chuẩn bị tích cực cho cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh trong thế kỷ XVII - XVIII. b. Giai đoạn phát triển KTTT tự do dựa trên cơ sở riêng Giai đoạn này kéo dài ở các n−ớc ph−ơng Tây từ cuối thế kỷ XVII tới đầu thế kỷ XX, gắn với sự ra đời của nền KTTT dân tộc theo chủ nghĩa tự do. Tiếp sau, giai đoạn phát triển KTTT hiện đại kéo dài từ đầu thế kỷ XX cho tới hiện nay, gắn với sự xuất hiện chủ nghĩa t− bản độc quyền và lũng đoạn, nền kinh tế hỗn hợp và toàn cầu hoá kinh tế. Phát triển KTTT thời kỳ này có những nội dung sau: - Phát triển LLSX và cơ sở vật chất - công nghệ, phân công lao động xã hội, cải biến cơ cấu nền kinh tế quốc dân và phát triển thị tr−ờng dân tộc. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng: nếu không có tích luỹ nguyên thuỷ thì CNTB rất khó ra đời trong một khoảng thời gian ngắn, nh−ng nếu không biết phát triển nền kinh tế thị tr−ờng dân tộc, đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá cơ sở vật chất – kỹ thuật của các ngành sản xuất trong n−ớc, thì CNTB không thể phát triển các tiềm lực kinh tế của mình lên gấp bội và chiến thắng hoàn toàn đối với sản xuất nhỏ, tiểu nông. Ví dụ, Hà Lan là c−ờng quốc kinh tế và n−ớc TBCN điển hình của thế kỷ XVII, nh−ng sau đó suy yếu và phải nh−ờng ngôi vị hàng đầu cho n−ớc Anh. Bởi ở Hà Lan, các nhà t− bản chủ tr−ơng làm giầu bằng buôn bán trục lợi, họ không chú trọng phát triển một nền công nghiệp dân tộc vững mạnh. Trong khi đó, các nhà kinh doanh n−ớc Anh đã biết kết hợp nguồn vốn tích luỹ từ bên ngoài với điều kiện tài nguyên, lao động trong n−ớc, đặc biệt, với các phát minh công nghệ - kỹ thuật quan trọng của thời đó là máy động lực - hơi n−ớc và máy công tác - dệt len. Nhờ đó, đã tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp vĩ đại, tr−ớc hết từ công nghiệp nhẹ - ngành dệt, sau đó tới công nghiệp nặng - các ngành chế tạo cơ khí phục vụ cho ngành dệt. Theo đó, CNTB đại công nghiệp – công x−ởng điển hình đã ra đời sớm nhất ở n−ớc Anh. Quá trình này diễn ra trong 4 thế kỷ XVI - XIX gọi là cuộc cách mạng công nghiệp. Phân công và máy móc ra đời đã thúc đẩy LLSX cũng nh− KHCN phát triển mạnh mẽ, đạt đ−ợc những tiến bộ khổng lồ, cho phép ngày nay nhân loại chuyển mình sang xã hội mới: hậu công nghiệp và kinh tế tri thức. 21
- - Củng cố chế độ sở hữu TBCN nh− là cơ sở của KTTT. Vịệc chuyển từ chế độ tiểu t− hữu sang chế độ t− hữu lớn TBCN dựa trên cơ sở kết hợp TLSX của nhà t− bản với SLĐ của những công nhân làm thuê là có ý nghĩa quyết định để chuyển kinh tế hàng hoá nhỏ, giản đơn sang thời đại KTTT TBCN – theo ph−ơng thức kinh tế tích luỹ và tăng tr−ởng. Những khả năng tích luỹ ở đây là vô cùng to lớn, chỉ phụ thuộc vào quy mô t− bản và số l−ợng sức lao động làm thuê đ−ợc sử dụng. Sự tích luỹ này về nguyên tắc khác biệt với ph−ơng thức tích luỹ rất hạn chế chỉ dựa vào “sự tiết kiệm và tiết dục” của ng−ời sản xuất hàng hoá nhỏ, bởi họ vừa là ng−ời chủ sở hữu đồng thời vừa là ng−ời lao động trực tiếp, nên không thể tự bóc lột mình. Việc cải biến sở hữu này dựa trên hai tiền đề: a) Về khách quan, đó là kết quả của sự phân hoá bởi quy luật giá trị đối với những ng−ời sản xuất hàng hoá nhỏ, b) Về chủ quan, đó là các thủ đoạn tích luỹ nguyên thuỷ nh− đã nói trên. Trên thực tế, quá trình chuyển hoá sở hữu này diễn ra trong các thế kỷ XVII - XX, còn bao gồm đồng thời ba quá trình bộ phận có tác động qua lại làm điều kiện và tiền đề cho nhau, giúp thúc đẩy KTTT TBCN ra đời: Một là, từ sở hữu nhỏ của t− bản cá biệt chuyển sang sở hữu lớn của tập thể các nhà t− bản hay sở hữu t− bản tập thể – sở hữu cổ phần, thậm chí là sở hữu của các công ty cổ phần hay tập đoàn xuyên quốc gia. Hai là, bên cạnh sở hữu t− nhân TBCN còn có sở hữu nhà n−ớc TBCN, đ−ợc ra đời trên cơ sở quốc hữu hoá xí nghiệp t− nhân hay thành lập các xí nghiệp nhà n−ớc mới hoàn toàn. Ba là, sự hình thành các hình thức sở hữu đa dạng về các TLSX chủ yếu nh− đất đai, sức lao động, hàng hoá và vốn - t− bản, do đó, là cơ sở cho hình thành các thị tr−ờng riêng cũng nh− đề ra yêu cầu phát triển đồng bộ các thị tr−ờng. - Phát triển mở rộng KTTT TBCN xét trên các khía cạnh: dung l−ợng, cơ cấu và hạ tầng kỹ thuật cuả thị tr−ờng. Về dung l−ợng: thị tr−ờng ngày càng mở rộng với khối l−ợng hàng hoá nhiều hơn và chủng loại hàng hoá cũng đa dạng, phong phú hơn. Về mặt cơ cấu, cũng có nghĩa rằng thị tr−ờng ngày càng phức tạp và gắn bó hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành, đặc biệt, giữa các thị tr−ờng riêng nh− thị tr−ờng hàng hoá - dịch vụ, thị tr−ờng sức lao động, thị tr−ờng đất đai, thị tr−ờng vốn, thị tr−ờng KH – CN. Về hạ tầng kỹ thuật thị tr−ờng cũng ngày càng hiện đại, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu giao dịch và thông tin thị tr−ờng thuận lợi hơn. Nhờ thế, tính đồng bộ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị tr−ờng, các bộ phận và lĩnh vực riêng cũng có yêu cầu cao hơn và đ−ợc đáp ứng tốt hơn. Tính đồng bộ và phụ thuộc của KTTT ngày nay là trên phạm vi toàn cầu. Ví dụ, chỉ riêng sự khủng hoảng của thị tr−ờng tài chính hay một thị tr−ờng khu vực nào đó cũng có thể gây ra chấn động tới toàn bộ nền KTTT TBCN thế giới; 22
- 1.3.2. Phát triển KTTT theo con đ−ờng rút ngắn 1.3.2.1. Con đ−ờng phát triển rút ngắn cổ điển Tr−ờng hợp Nhật Bản là thí dụ điển hình. Cho tới đầu thế kỷ XIX, n−ớc này vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu dựa trên cơ sở kinh tế nông nghiệp. Nh−ng với công cuộc Minh Trị duy tân, Nhật Bản đã b−ớc vào thời đại phát triển KTTT theo kiểu ph−ơng Tây. Chỉ trong vòng 50 năm (1868 - 1911) Nhật Bản đã thực hiện thành công b−ớc chuyển sang KTTT, rút ngắn đ−ợc con đ−ờng phát triển mà các n−ớc Âu - Mỹ đã phải trải qua hàng thế kỷ. Sau đó, Nhật Bản mất khoảng 50 năm nữa, tức là vào những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, để v−ơn lên trở thành một c−ờng quốc kinh tế TBCN chỉ sau Hoa Kỳ. Bí quyết thành công của Nhật Bản là: - Biết tận dụng lợi thế của n−ớc đi sau để rút ngắn thời gian, tăng tốc đuổi kịp và v−ợt các n−ớc TBCN phát triển. Kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản là huy động tối đa nội lực để tranh thủ ngoại lực; hay nh− một câu nói nổi tiếng của ng−ời Nhật: “kỹ thuật ph−ơng Tây + tinh thần Nhật Bản”. - Trong xây dựng và phát triển thể chế KTTT, Nhật Bản đã biết vận dụng một cách sáng tạo, không sao chép nguyên mẫu mà có chọn lọc, tức nội địa hoá cho phù hợp với điều kiện và truyền thống dân tộc. Đặc biệt, Nhật Bản triệt để sử dụng yếu tố văn hoá khổng giáo là tinh thần võ sĩ đạo và lòng trung thành với chủ, quan hệ thân tộc và chế độ lao động suốt đời trong xí nghiệp TBCN, tính kỷ luật và tinh thần tập thể thay vì chủ nghĩa cá nhân ph−ơng Tây. Các giá trị này đ−ợc chuyển tải vào xã hội mới, giúp ích cho xây dựng nền KTTT hiện đại theo kiểu Nhật Bản. - Nhà n−ớc chủ động tạo dựng môi tr−ờng thể chế thuận lợi, kịp thời hiệu chỉnh bổ sung và can thiệp khi nền kinh tế có những mất cân đối; đề ra các định h−ớng phát triển chiến l−ợc kết hợp với việc vận dụng linh hoạt, mềm dẻo hệ thống các chính sách, cơ chế và công cụ điều tiết. - Coi trọng sở hữu t− nhân, các quy luật KTTT và sáng kiến cá nhân, phối hợp tích cực với t− nhân nhằm khai thác, phát huy tối đa các tiềm năng và nguồn lực cho tăng tr−ởng. - Thực hiện một nền KTTT mở để tranh thủ các nguồn ngoại lực vào phục vụ cho phát triển đất n−ớc. Đó là vốn, tri thức và KHCN của các n−ớc TBCN hàng đầu. 1.3.2.2. Con đ−ờng phát triển rút ngắn hiện đại của các n−ớc NICs châu á Phải khẳng định rằng, mô hình này là sản phẩm của thời đại mới. Một mặt, nó vừa hội tụ đ−ợc −u điểm của con đ−ờng phát triển rút ngắn cổ điển 23
- nhằm đáp ứng đ−ợc yêu cầu phát triển KTTT hiện đại với sự điều tiết mạnh và "thông minh" của nhà n−ớc, mặt khác, có sự khác biệt cơ bản so với mô hình phát triển rút ngắn cổ điển ở mức độ sử dụng t− bản n−ớc ngoài và độ mở cửa nền kinh tế. Nếu nh− Nhật Bản đã tiến hành CNH từ lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng mô hình KTTT theo kiểu ph−ơng Tây, trái lại, các n−ớc NICs tiến hành CNH bằng cách ngay từ đầu thu hút đầu t− n−ớc ngoài (chủ yếu của Hoa Kỳ và Nhật Bản) và xây dựng mô hình KTTT đặc thù h−ớng ngoại (h−ớng về xuất khẩu). Điều này chỉ có thể thực hiện dựa vào các tiền đề: - Lợi dụng xu h−ớng của thời đại là toàn cầu hóa sản xuất và đầu t− thông qua vai trò các công ty xuyên quốc gia; - Phát huy vai trò tích cực của nhà n−ớc trong việc tạo ra những điều kiện bên trong thuận lợi để tận dụng các cơ hội đầu t− bên ngoài; - Ngay từ đầu kết hợp tốt giữa “bàn tay hữu hình” với “bàn tay vô hình” nhằm khắc phục khuyết tật của thị tr−ờng và hình thành đồng bộ thể chế KTTT hiện đại. Nh− đã biết, sự cất cánh của 4 con rồng châu á tiếp sau Nhật Bản đã làm thay đổi cục diện kinh tế thế giới - vốn từ tr−ớc đến nay do ph−ơng Tây, nơi sản sinh ra nền công nghiệp TBCN, giữ vai trò chi phối. Trong thời gian sau chiến tranh, nhất là vào những năm 60, các n−ớc nh− Xingapo, Hồng Công, Đài Loan, Hàn Quốc đã làm nên sự thần kỳ liên tục đạt tốc độ tăng tr−ởng kinh tế cao. Ngay trong năm 1987, là năm kinh tế toàn cầu tăng tr−ởng chậm và không ổn định, thì tốc độ tăng tr−ởng của 4 con rồng vẫn giữ mức cao nhất thế giới. Trong đó: Xingapo tăng 8,6%, Hồng Công -12%, Đài Loan –11,2% và Hàn Quốc –12,2%. Thành công cuả các n−ớc châu á cũng mở ra con đ−ờng phát triển mới độc đáo, không giống với con đ−ờng hiện đại hoá và phát triển KTTT ph−ơng Tây; cho thấy khả năng kết hợp giữa văn hóa ph−ơng Đông với văn minh công nghiệp và KTTT ph−ơng Tây để tạo ra một hình thái kinh tế mới đầy sức sống. Nó khẳng định rằng, trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia hay khu vực, hoàn cảnh quốc tế tất nhiên là quan trọng, nh−ng nhân tố bên trong mới có ý nghĩa quyết định và không gì thay thế đ−ợc (nh− thể chế, cơ chế và chính sách, sự điều hành vĩ mô của chính phủ ). Để phát triển thành công, một quốc gia hay khu vực phải biết kết hợp uyển chuyển giữa nhân tố bên 24
- trong với bối cảnh bên ngoài. Nói cách khác, là sự kết hợp hữu cơ giữa cơ may bên ngoài mà thời đại tạo ra với năng lực bên trong có thể nắm bắt cơ may, nội sinh hoá các điều kiện kinh tế và KHCN bên ngoài. Hay nh− cựu Thủ t−ớng Nhật Cai Phu nói: “Sự suôn sẻ cũng giống nh− vận may, chẳng phải tự d−ng mà có, chúng giống nh− là những lễ vật đ−ợc ban tặng cho những dân tộc có mẫn cảm lịch sử xuất sắc và chăm chỉ làm việc”8. Bảng 1: Tăng tr−ởng kinh tế của các n−ớc NICs9 (Tốc độ tăng tr−ởng hàng năm của GDP) (% ) 1 GDP thực tế GDP/Đầu ng−ời 2 1960-1970 1970-1980 1980-1987 1965-1988 3 Xingapo 9,6 9,6 5,4 7,2 4 Hồng Công 10,0 9,0 5,8 6,3 5 Hàn Quốc 8,8 8,6 8,6 6,8 6 Đài Loan 9,3 9,8 8,5 7,0* (*) Con số về Đài Loan tính từ 1965-1984. Những cơ may do bối cảnh quốc tế mang lại lúc đó là: lợi dụng hàng rào thuế quan ch−a nghiêm ngặt, buôn bán giữa các n−ớc này với Hoa Kỳ phần lớn là xuất siêu, lại thêm cuộc chiến tranh Việt Nam do Hoa Kỳ tiến hành đã tạo cơ hội cho các n−ớc này phát triển xuất khẩu hàng quân nhu, sửa chữa khí tài và dịch vụ quân sự. Những nhân tố bên trong cho phép 4 con rồng nhỏ tranh thủ đ−ợc thời cơ bên ngoài, thực hiện chiến l−ợc mở cửa có kết quả bao gồm nhiều nội dung, nh−ng có ý nghĩa then chốt và căn bản là thiết lập đ−ợc một cơ chế thị tr−ờng cho vận hành kinh tế vừa chắc chắn vừa linh hoạt, phù hợp với đất n−ớc mình. Nếu không có cơ chế này thì chiến l−ợc phát triển và mở cửa chỉ là ảo t−ởng. Trên thực tế, nền kinh tế nhiều n−ớc đang phát triển không cất cánh đ−ợc không phải vì họ thiếu nhận thức về tầm quan trọng mở cửa, mà vì thiếu một cơ chế vận hành kinh tế hiệu quả. Tiêu chuẩn lý t−ởng của cơ chế vận hành kinh tế là vừa kích thích sức sống và động lực phát triển kinh tế, lại vừa đảm bảo vận hành nền kinh tế một cách cân đối, nhịp nhàng. Từ đây, bốn con rồng châu á đã thiết lập hai cơ chế vận hành vừa dị biệt lại vừa có điểm t−ơng đồng: cơ chế kết hợp điều tiết thị tr−ờng ở mức cao nhất với sự can thiệp của chính phủ ở mức thấp 8 Nguỵ Kiệt – Hạ Diệu. Bí quyết cất cánh của bốn con rồng nhỏ. Nxb CTQG, HN,1993, Tr.9. 9 Nh− trên. 25
- nhất và cơ chế kết hợp “chính phủ cứng” với “thị tr−ờng mềm”. Trong khi cơ chế đầu nhấn mạnh sự điều tiết thị tr−ờng, thì cơ chế sau lại coi trọng vai trò chủ đạo của chính phủ. Cả hai cơ chế này, tuỳ nơi tuỳ lúc mà vận dụng linh hoạt, uyển chuyển để đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động năng động nh−ng vẫn giữ vững đ−ợc thế quân bình cần thiết. Nh−ng cuối cùng, dù vận dụng nh− thế nào thì cũng đều đi tới mục tiêu: thiết lập và phát huy vai trò của cơ chế thị tr−ờng trong phân bổ và điều tiết kinh tế. Vấn đề quan trọng nữa là các tác động mở cửa nhằm thu hút vốn n−ớc ngoài, tiếp thu KHCN và phát triển mậu dịch đối ngoại Thứ nhất, thu hút vốn đầu t− n−ớc ngoài: Có thể nói, đây là điều kiện tiên quyết và tất yếu cho một n−ớc lạc hậu có thể phát triển rút ngắn trong thời đại ngày nay. Về mặt lý luận, mô hình tăng tr−ởng kinh tế Harrođ - Đômar đã chứng minh: tăng tr−ởng của thu nhập quốc dân tùy thuộc vào mức tiết kiệm và tỷ lệ giữa vốn đầu t− và của cải làm ra. Thu nhập quốc dân của các n−ớc đang phát triển rất thấp, nên việc tăng tỷ lệ tích lũy bị giới hạn, trong khi đó nhu cầu về vốn cho phát triển và CNH lại rất lớn. Vì vậy, cần thiết phải huy động vốn bên ngoài bù đắp cho sự thiếu hụt này, từ đó cho phép khắc phục ng−ỡng tích lũy để đạt đ−ợc tốc độ tăng tr−ởng cao. Ví dụ, từ sau Chiến tranh thế giới II tới năm 1960, tiền vốn n−ớc ngoài đ−a vào Hàn Quốc d−ới hình thức viện trợ là 3 tỷ USD, những năm 1953- 1954 viện trợ chiếm 60% tổng vốn đầu t−. Từ năm 1959 Hàn Quốc bắt đầu thu hút vốn n−ớc ngoài d−ới hình thức vay nợ và các khoản vay mỗi năm một tăng lên. Để có thể vay nợ, n−ớc này cần xác lập sự tin cậy của chủ nợ, huy động vốn vay từ nhiều nguồn và nhiều chủ thể (nh− các khoản vay của các chính phủ hoặc tổ chức tiền tệ quốc tế với lãi xuất thấp, tín dụng xuất khẩu hoặc các khoản vay của ngân hàng t− nhân n−ớc ngoài ). Vào năm 1962, năm đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, vốn n−ớc ngoài chiếm 80% tổng vốn đầu t− toàn xã hội; tính chung trong cả kế hoạch 5 năm, vốn n−ớc ngoài chiếm trên 50% tổng vốn đầu t−. T−ơng tự, trong kế hoạch 5 năm lần 2, vốn n−ớc ngoài chiếm 40% tổng vốn đầu t−; kế hoạch 5 năm lần thứ 3, chiếm 28,2% và kế hoạch 5 năm lần thứ t− chiếm 31,3%. Trong thời gian 1962- 1984, bình quân hàng năm vốn n−ớc ngoài chiếm 28% tổng vốn đầu t−. Kinh nghiệm của các n−ớc châu á trong lĩnh vực này rất phong phú và bổ ích cho chúng ta tham khảo. Tùy theo những hoàn cảnh mà mỗi n−ớc có thể sử dụng các hình thức thu hút vốn sau đây: vốn FDI, vay nợ hoặc viện trợ 26
- không hoàn lại. Không giống nh− Đài Loan chủ yếu dựa vào thu hút vốn đầu t− trực tiếp, Hàn Quốc lại chủ yếu dựa vào vay nợ: các khoản vay chiếm tới 94,9%, còn đầu t− trực tiếp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong huy động vốn n−ớc ngoài. Số nợ n−ớc ngoài của Hàn Quốc rất lớn, đứng đầu châu á và thứ t− trong thế giới thứ ba, chỉ sau Mêxicô, Braxin và Achentina. Tuy vay nợ nhiều, nh−ng Hàn Quốc không sa vào vũng lầy nợ nần nh− một số n−ớc mà sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Chính phủ có các biện pháp tăng c−ờng quản lý tiền vốn nhập khẩu: thành lập bộ máy riêng nh− "Viện quy hoạch các xí nghiệp kinh tế" có quyền lực cao nhất về vạch kế hoạch khoa học và giúp chính phủ quản lý tập trung nhập vốn n−ớc ngoài; vừa có sự khống chế nghiêm ngặt lại vừa điều tiết linh hoạt hoạt động thu hút vốn; vừa có chính sách và quy hoạch tầm vĩ mô lại vừa có giám sát và kinh doanh ở tầm vi mô. Chính phủ cũng tạo môi tr−ờng hấp dẫn đầu t− nh−: ban hành Luật đầu t− −u đãi ng−ời n−ớc ngoài đầu t− nhiều với thời hạn dài, có hệ thống pháp luật đồng bộ về đầu t− quốc tế, có hạ tầng hiện đại Có thể thấy đầu t− bằng vốn n−ớc ngoài chiếm tỷ lệ cao là đặc tr−ng của mô hình CNH châu á và đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ cao: theo tính toán, trong mức tăng tr−ởng bình quân 8,8%/năm của Hàn Quốc vào thập kỷ 60, thì có 4% là nhờ vốn n−ớc ngoài. Thứ hai, học tập và tiếp nhận kỹ thuật - công nghệ tiến tiến của bên ngoài: Cần nhận thức đ−ợc rằng sự lạc hậu về KHCN là nguyên nhân cơ bản và sâu xa của tình trạng lạc hậu về kinh tế - xã hội. Nếu xét từ quan điểm lâu dài thì tăng vốn và lao động không phải mục tiêu cuối cùng, cũng không phải là nhân tố quyết định tạo nên tăng truởng, chỉ có tiến bộ KHCN mới tạo ra tăng tr−ởng chắc chắn, bền vững. Do đó, đối với các n−ớc chậm phát triển thì tiếp nhận KHCN bên ngoài là vô cùng bức thiết. Điều đó sẽ cho phép tiết kiệm chi phí và thời gian nghiên cứu. Ví dụ, Nhật Bản sau chiến tranh đã bỏ ra 5 tỷ USD để nhập một l−ợng kỹ thuật mà nếu nghiên cứu phát minh cần tới 180 tỷ USD và khoảng thời gian gấp 5 lần. Nhập kỹ thuật tiên tiến làm thay đổi nhanh chóng tình trạng lạc hậu và rút ngắn khoảng cách công nghệ, đi thẳng vào công nghệ cao (nh− tr−ờng hợp "V−ờn −ơm công nghệ Tân Trúc" của Đài Loan); ngoài ra, còn cho phép các n−ớc kém phát triển có cơ hội nâng cao trình độ quản lý hiện đại. Tr−ờng hợp Hàn Quốc là một ví dụ: ngoài nhập vốn còn chú trọng nhập kỹ thuật tiên tiến. Trong thời gian 30 năm sau chiến tranh n−ớc này đã 27
- nhập hơn 300 hạng mục kỹ thuật của n−ớc ngoài, số tiền chi phí bằng 55% tổng vốn FDI trong cùng kỳ, kỹ thuật đã đóng góp 13,6% cho sự tăng tr−ởng của nền kinh tế. Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong lĩnh vực này là: nâng cao năng lực đội ngũ và tiềm lực KHCN của đất n−ớc, mở mang các cơ sở nghiên cứu và phổ biến KHCN, khuyến khích tiếp nhận chủ động và nhanh chóng làm chủ KHCN thế giới; tăng c−ờng khai thác và phát triển, ứng dụng kỹ thuật ở xí nghiệp, nhằm tăng sức cạnh tranh quốc tế cho các xí nghiệp trong n−ớc; hỗ trợ thuế và tài chính cho kỹ thuật nhập ngoại; tuy nhiên, không nhập kỹ thuật n−ớc ngoài nguyên xi mà trên cơ sở cải tiến, đổi mới và nội sinh hóa cho phù hợp với hoàn cảnh đất n−ớc. Thứ ba, phát triển mậu dịch đối ngoại. Đây cũng là yếu tố quan trọng và không thể thiếu của mỗi quốc gia để tham gia vào hệ thống phân công quốc tế và phát triển trong thời đại toàn cầu hóa. Nh−ng điều này lại tùy thuộc vào vị trí của quốc gia cũng nh− mức độ liên kết với nền kinh tế thế giới, nói cách khác, tùy thuộc vào chính sự phát triển sức sản xuất của quốc gia đó. Trong quá trình cất cánh, các con rồng châu á đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa mậu dịch đối ngoại và phát triển kinh tế, biến ngoại th−ơng thành động lực chủ yếu cho tăng tr−ởng. Kể từ thập kỷ 60 của thế kỷ tr−ớc, các n−ớc này đã luôn giữ tốc độ phát triển mậu dịch đối ngoại v−ợt xa tốc độ của các n−ớc phát triển nh− Hoa Kỳ, Anh, Pháp Bí quyết của các n−ớc này là: xác định chiến l−ợc phát triển kinh tế "h−ớng về xuất khẩu", kiên trì nguyên tắc "xuất khẩu số một, mậu dịch đối ngoại đi tr−ớc", tích cực triển khai các hoạt động mậu dịch đối ngoại. Xây dựng mô hình kinh tế h−ớng vào xuất khẩu trên cơ sở sử dụng triệt để vốn và kỹ thuật n−ớc ngoài, phát triển sản xuất hàng xuất khẩu phi truyền thống nhằm bán ra thị tr−ờng quốc tế, thay thế cho các mặt hàng xuất khẩu sơ cấp truyền thống. Đồng thời thông qua khuyến khích việc tổ chức sản xuất và xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, nhằm trả nợ n−ớc ngoài và nhập khẩu kỹ thuật - thiết bị tiên tiến, thúc đẩy kinh tế trong n−ớc phát triển. Đặc điểm chung của các con rồng châu á là dịện tích nhỏ, thị tr−ờng hẹp, lại khan hiếm tài nguyên. Trong những năm 50, các n−ớc này thực hiện ph−ơng thức thay thế nhập khẩu, nh−ng gặp phải những khó khăn. B−ớc sang những năm 60 họ chuyển sang chiến l−ợc "h−ớng vào xuất khẩu". Hàn Quốc lúc đó cho rằng tăng tr−ởng xuất khẩu là th−ớc đo tổng hợp đánh giá sức mạnh của đất n−ớc, là con đ−ờng sống còn của đất n−ớc. Từ năm 1962-1989, kim ngạch mậu dịch đối ngoại của Hàn Quốc tăng từ 477 triệu USD lên 28
- 123,63 tỷ USD, tăng 258 lần. Trong đó, xuất khẩu từ 55 triệu USD tăng lên 62,8 tỷ USD, tăng 1.141 lần. Có thể coi đây là một kỳ tích của những con rồng châu á. Đóng góp quyết định cho thành tích mậu dịch đối ngoại phải kể đến: sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến l−ợc phát triển kiên định với sách l−ợc xuất khẩu linh hoạt, đa dạng; tích cực xây dựng căn cứ mậu dịch xuất khẩu – khu gia công xuất khẩu (khu chế xuất) và khu v−ờn −ơm KHCN, tạo môi tr−ờng tốt cho công nghiệp xuất khẩu; về phía chính phủ cũng có những chính sách nhằm −u tiên và tổ chức dịch vụ xuất khẩu. Nh− vậy, nghiên cứu lịch sử cho thấy có các con đ−ờng phát triển KTTT khác nhau nh−: con đ−ờng phát triển tuần tự - cổ điển, con đ−ờng phát triển rút ngắn - cổ điển và con đ−ờng phát triển rút ngắn - hiện đại. Do những đặc thù về các điều kiện lịch sử - cụ thể nh− thời gian ra đời, bối cảnh quốc tế và đặc điểm về chính trị - kinh tế - xã hội, mà các mô hình phát triển KTTT cũng rất khác nhau, sự ra đời KTTT có những nội dung, yêu cầu cụ thể và sắc thái riêng. Nh−ng về nguyên tắc, thời đại ngày nay đã tạo ra cơ hội cho phép không nhất thiết phải đi theo con đ−ờng phát triển KTTT kiểu tuần tự – cổ điển và dạng tiến hoá - tự nhiên. Con đ−ờng phát triển KTTT cho các n−ớc đi sau hiện nay, ví dụ nh− Việt Nam, cần phải là con đ−ờng rút ngắn – hiện đại và dạng tiến hoá - cải cách. 1.4. Những kết luận rút ra từ nghiên cứu sự phát triển KTTT Cần nhận thức sâu sắc sự khác biệt giữa hệ thống KTTT so với kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá giản đơn không phải chỉ ở chỗ chúng biểu hiện cho những giai đoạn hay nấc thang phát triển KTTT xét về trình tự thời gian, mà chủ yếu là ở bản chất xã hội hoá. Khác với những biểu hiện trên bề mặt của trao đổi và thị tr−ờng, KTTT xét về nội dung và bản chất, là quan hệ sản xuất và quan hệ kinh tế đặc tr−ng cho xã hội hoá, là kiểu tổ chức xã hội và sự kết hợp xã hội các quá trình kinh tế; KTTT là quan hệ đặc biệt gắn kết lao động cá nhân vào lao động xã hội, là quan hệ phân công lao động xã hội và quan hệ giữa các giá trị xã hội, hơn nữa, còn là quan hệ giá trị nhằm tạo ra giá trị thặng d− và giá trị gia tăng ngày càng lớn hơn. Do đó, về mặt nội dung, KTTT khác với kinh tế truyền thống ở chỗ nó là kinh tế hàng hoá tích 29
- luỹ và tăng tr−ởng, gắn với tính hiệu quả và quá trình tái sản xuất mở rộng, luôn cách mạng hoá ngay chính trong cơ sở công nghệ và kinh tế của mình. Sự hoạt động của KTTT dựa trên cơ sở cơ chế thị tr−ờng và các quy luật thị tr−ờng. Cơ chế thị tr−ờng đảm bảo cho sự vận hành của hệ thống KTTT. Đây là cơ chế về mối liên hệ và tác động qua lại giữa các bộ phận chủ yếu của thị tr−ờng là cung, cầu và giá cả. Cơ chế thị tr−ờng thực hiện vai trò phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế riêng và điều tiết sự phân bổ các phúc lợi cũng nh− nguồn lực trong nền kinh tế thông qua các quy luật KTTT. Các quy luật KTTT là một hệ thống bao gồm quy luật giá trị, quy luật giá trị thặng d−, quy luật cung – cầu, quy luật l−u thông tiền tệ Đáng l−u ý là các quy luật sau: - Quy luật giá trị là quy luật chung của kinh tế hàng hoá. Quy luật này yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Điều quan trọng là khi thừa nhận sự tồn tại và vận hành của quy luật giá trị, thì mọi hình thức can thiệp trực tiếp của nhà n−ớc hay các chủ thể kinh doanh vào mức giá cả thị tr−ờng đều làm méo mó giá cả. Thực chất đây là xu h−ớng phủ nhận quy luật giá trị và do đó, phủ nhận KTTT. Các độc quyền (dù là nhà n−ớc hay t− nhân) đều là những biểu hiện của xu h−ớng này. Quy luật giá trị là quy luật chung của KTTT, tự bản thân nó không mang đặc tr−ng và bản chất xã hội. Việt Nam đi theo con đ−ờng xây dựng nền KTTT thực sự, các chủ thể kinh tế và Nhà n−ớc cần và có thể sử dụng mặt tích cực của quy luật giá trị nhằm tính toán các chi phí và quản lý nền kinh tế. - Quy luật giá trị thặng d− - quy luật kinh tế của nền kinh tế thị tr−ờng phát triển. C.Mác nói: “sản xuất giá trị thặng d− là quá trình sản xuất giá trị đ−ợc kéo dài v−ợt quá một điểm nào đấy" hoặc "v−ợt quá giá trị sức lao động”. Về nguyên tắc thì quá trình sản xuất giá trị và giá trị thặng d− là thống nhất trong nền KTTT. Nh−ng trong điều kiện TBCN, quy luật này mang bản chất và dấu ấn của thời đại TBCN, nhằm phục vụ cho mục tiêu của t− bản nhằm chiếm đoạt gía trị thặng d−, tăng lợi nhuận và tích lũy của cải làm giàu cho giới chủ, còn phía kia trái lại, là tích lũy sự nghèo khổ và bần cùng đối với ng−ời lao động. Đó là mâu thuẫn xã hội và tính chất TBCN của quy luật giá trị thặng d−. Nếu gạt bỏ tính chất tiêu cực bóc lột ở đây, thì quy luật giá trị thặng d− là quy luật tất yếu của sự tiến bộ, đại diện cho thời đại kinh tế hàng hoá tăng tr−ởng, tích luỹ và TSX mở rộng không ngừng. Theo chúng tôi, phải chăng đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận quy luật giá trị thặng d− không phải nh− quy luật kinh tế riêng có và tuyệt đối của CNTB. Nó phải là quy luật của nền KTTT phát triển, còn tính chất TBCN 30
- của quy luật này chỉ là tính chất đặc thù trong điều kiện của PTSX TBCN. D−ới CNXH, nói chính xác hơn, trong nền KTTT định h−ớng XHCN cần và có thể khuyến khích mọi hình thức tổ chức kinh doanh hiệu quả, có khả năng tạo ra nhiều giá trị thặng d−, tích luỹ TSX mở rộng. Tuyệt nhiên không nên gắn giá trị thặng d− với bóc lột, cản trở việc làm giầu chính đáng và hợp pháp. - Ngoài ra, quy luật cạnh tranh cũng là quy luật quan trọng, đặc tr−ng cho vận hành của cơ chế thị tr−ờng. Trong các nền kinh tế tự nhiên và kinh tế kế hoạch hoá mệnh lệnh không tồn tại cạnh tranh, vì thế phát triển tiến bộ ở đây không trở thành một tất yếu. Cạnh tranh chủ yếu mang tính tích cực: nó thúc đẩy cải tiến hợp lý hoá sản xuất, áp dụng tiến bộ KHCN, giảm chi phí và hạ giá thành sản xuất, tăng năng suất lao động và phát triển các LLSX. Tuy nhiên, cạnh tranh còn có mặt tiêu cực là tiềm ẩn xu h−ớng dẫn tới độc quyền tự nhiên; những kẻ chiến thắng trong cạnh tranh luôn tìm mọi cách củng cố và giữ vững vị trí bá chủ, quay lại giết chết cạnh tranh làm ngăn trở tiến bộ KHCN và phát triển sản xuất. Nh− vậy, hoạt động của hệ thống KTTT đ−ợc phản ánh thông qua các quy luật thị tr−ờng. Điều này có nghĩa rằng các phạm trù của KTTT nh− cung - cầu, giá trị, giá cả, giá thành, lợi nhuận, tiền tệ, cạnh tranh phải đ−ợc tôn trọng và vận dụng theo đúng quy luật KTTT. Chỉ trong những điều kiện này, quy luật và cơ chế thị tr−ờng mới thực sự hoạt động và phát huy tác dụng điều tiết việc phân bổ các nguồn lực, nền KTTT mới thực tế vận hành nh− một hệ thống chỉnh thể thay cho hệ thống kinh tế tự nhiên và kinh tế kế hoạch hóa – chỉ huy. Việt Nam tiến hành phát triển KTTT và CNH – HĐH có xuất phát điểm rất thấp càng cần và có thể vận dụng các quy luật KTTT nhằm thực hiện phát triển rút ngắn, nhanh chóng nâng cao các LLSX của mình. 31
- Ch−ơng II Các mô hình chủ yếu, đặc tr−ng và xu h−ớng vận động của kinh tế thị tr−ờng TBCN hiện đại 2.1. Các mô hình chủ yếu của KTTT TBCN hiện đại Việc nghiên cứu các mô hình KTTT TBCN hiện đại là cần thiết để có thể hiểu đ−ợc trong thực tế nền KTTT vận hành nh− thế nào ở mỗi n−ớc cụ thể. Vì góc độ tiếp cận khác nhau nên ng−ời ta mô tả KTTT ở mỗi n−ớc cũng rất khác nhau. Theo chúng tôi, cách tiếp cận phổ biến hiện nay th−ờng căn cứ vào: mức độ sở hữu t− nhân và Nhà n−ớc, mức độ can thiệp và kiểm soát nền kinh tế của Chính phủ và quan điểm của Chính phủ về việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội. Căn cứ vào các tiêu chí này ng−ời ta th−ờng phân chia ra 4 mô hình KTTT chủ yếu: (a) mô hình KTTT tự do Hoa Kỳ mà đặc điểm là sự đề cao vai trò của thị tr−ờng trong việc điều tiết nền kinh tế và phân phối thu nhập so với vai trò của Chính phủ; (b) mô hình KTTT theo định h−ớng Nhà n−ớc Nhật Bản với đặc tr−ng là Nhà n−ớc can thiệp sâu vào đời sống kinh tế và hoạt động của các chủ thể kinh doanh; (c) mô hình KTTT xã hội Đức; và (d) mô hình nhà n−ớc xã hội dân chủ Thuỵ Điển có đặc tr−ng chính phủ luôn tác động vào đời sống kinh tế, xã hội để đảm bảo sự phát triển hài hoà các mặt kinh tế và xã hội. D−ới đây sẽ đi sâu vào các mô hình kinh tế thị tr−ờng TBCN thuộc từng dạng trên. 2.1.1. Mô hình nền KTTT tự do Hoa Kỳ Hoa Kỳ là một quốc gia công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, có thu nhập bình quân đầu ng−ời và tổng l−ợng sản phẩm - dịch vụ cao hơn nhiều quốc gia khác. Mô hình Hoa Kỳ có đặc tr−ng chiếm −u thế của sở hữu t− nhân, cơ chế thị tr−ờng cạnh tranh và sự năng động của kinh doanh, sự can thiệp thấp của chính phủ và do đó, chấp nhận sự phân hoá xã hội ở mức độ cao. a) Đặc tr−ng về sở hữu. Sự phát triển các doanh nghiệp t− nhân là một trong những đặc tr−ng cơ bản của KTTT tự do Hoa Kỳ. Tất cả các doanh nghiệp t− nhân đ−ợc phân chia thành 2 loại: những tập đoàn lớn (bao gồm các tập đoàn quốc gia và siêu quốc gia), bên cạnh là hàng trăm ngàn công ty 32
- nhỏ. Sự tập trung nhiều ngành công nghiệp trong tay một số ít doanh nghiệp lớn là một trong những đặc điểm của nền KTTT Hoa Kỳ. Xu h−ớng tập trung các doanh nghiệp quy mô lớn bắt đầu từ thế kỷ XIX. Vào những năm 1920 các tập đoàn lớn đ−ợc khuyến khích phát triển. Đặc biệt, cuộc Chiến tranh Thế giới II đã thúc đẩy hình thành các tập đoàn lớn nhằm sản xuất máy bay và xe tăng cho quân đội đồng minh, nhờ sáp nhập thành các tổng công ty (Conglomerate merger). Tình hình phát triển các tập đoàn lớn đ−ợc minh hoạ ở bảng sau. Bảng 2: So sánh tài sản của các tập đoàn lớn Hoa Kỳ với tổng tài sản của toàn ngành công nghiệp, 1995 Đơn vị: Tr.USD Các ngành kinh tế Tổng tài sản Tài sản các tập % so với của ngành đoàn lớn (trên ngành 250 tr USD) 1. Nông, lâm, ng− nghiệp 86.299 10.888 12,62 2. Khai mỏ 268.640 212.063 78,92 3. Xây dựng 265.813 43.677 16,43 4. Chế biến 4.941.073 4.214.495 85,30 5. Vận tải và các tiện ích công cộng 1.903.214 1.733.237 91,06 6. Th−ơng mại bán buôn và bán lẻ 1.919.718 1.081.317 56,32 7. Tài chính, bảo hiểm 15.677.267 14.074.066 89,77 8. Dịch vụ 950.737 502.757 52,88 Nguồn: Bộ Th−ơng mại Mỹ, Cục điều tra. Tóm tắt thống kê nền kinh tế Mỹ. Washington D.C: Cơ quan in ấn Chính phủ Mỹ, 1998, 546. Bên cạnh các tập đoàn lớn, ở Mỹ còn có hàng trăm ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Việc hình thành các DNVVN cũng là xu thế đang phát triển hiện nay. Các doanh nghiệp này có thể do một số ng−ời tr−ớc đây vốn điều hành tập đoàn lớn nay tách ra thành lập công ty riêng, hoặc là các công ty gia đình đ−ợc hình thành trên cơ sở vốn riêng, nhằm tận dụng những công nghệ hiện đại, thuê lao động có trình độ cao, sử dụng kỹ năng quản lý tài chính tiên tiến. Bên cạnh sở hữu t− nhân, nền KTTT Hoa Kỳ còn có bộ phận không lớn kinh tế Nhà n−ớc. Sở hữu Nhà n−ớc trong các ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ khá hạn chế, nh−ng chính phủ các cấp, từ trung −ơng đến địa ph−ơng đều 33
- sở hữu và vận hành những doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác nhau. Ví dụ nh− Tennessee Valley Authority (TVA), một xí nghiệp công rất lớn chuyên sản xuất và phân phối năng l−ợng công cộng cho khu vực Đông Nam Hoa Kỳ. TVA đ−ợc thành lập để xây dựng những công trình thuỷ lợi, những nhà máy thuỷ điện, cung cấp điện năng, cải thiện dòng chảy của dòng sông Tennessee River, kiểm soát lũ lụt trên con sông này và ngăn chặn nạn xói mòn đất. Các cơ quan khác của Chính phủ cũng sở hữu các hệ thống giao thông vận tải và sở hữu các nhà máy sản xuất n−ớc, gas và điện. Chính phủ cũng trực tiếp hay gián tiếp sản xuất năng l−ợng nguyên tử và các hàng hoá khác, thực hiện các dự án nhà ở nhằm xoá các khu nhà ổ chuột. b) Đặc tr−ng về sự can thiệp và vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Hoa Kỳ. Sự can thiệp của Chính phủ đối với nền kinh tế xuất hiện vì một số lý do sau: - Khi cạnh tranh trên thị tr−ờng xuất hiện những trục trặc, những khiếm khuyết, ví dụ nh− độc quyền, độc quyền nhóm hay những cấu trúc không hoàn hảo của thị tr−ờng cạnh tranh, khiến việc phân bổ các nguồn lực không hiệu quả và hiệu quả kinh tế xã hội không đ−ợc đảm bảo. - Khi trong nền kinh tế thị tr−ờng, cơ chế giá cả không đảm bảo cung cấp thông tin chuẩn xác, hoặc phản ứng đối với quá trình sản xuất và bán ra những hàng hoá độc hại. - Khi sự tiến bộ công nghệ tạo nên những ngoại ứng thị tr−ờng. Nh− quá trình phát triển ngành chế tạo ô tô đã có những tác động rất sâu rộng đến nền kinh tế Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu của thế kỷ 20, tạo ra hàng nghìn việc làm trong những ngành có liên quan nh− thép và cao su. Tuy nhiên, ngành công nghiệp ô tô cũng là thủ phạm chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí và tiếng ồn. - Trợ cấp thất nghiệp và các quỹ an sinh xã hội để cung cấp một công cụ bảo vệ những ng−ời lâm vào tình trạng khó khăn mà không phải hoàn toàn do lỗi của họ. Cần l−u ý rằng các ch−ơng trình phúc lợi xã hội ở Hoa Kỳ đ−ợc đ−a vào thực hiện chậm hơn nhiều và ch−a đ−ợc hoàn thiện nh− ở nhiều quốc gia khác. Để nhận diện sâu hơn về sự can thiệp của Chính phủ trong nền kinh tế, ta điểm qua các lĩnh vực can thiệp chủ yếu sau: - Tài chính công là một chỉ số đánh giá mức độ tham gia của Chính phủ trong nền kinh tế thị tr−ờng, mà thuế là công cụ quan trọng. Thuế nhằm vào hai mục đích: tạo nguồn thu cho Chính phủ và đ−ợc sử dụng trong việc tái phân phối thu nhập và của cải trong nền kinh tế. Thuế thu nhập cá nhân là 34
- nguồn thu quan trọng nhất của Ngân sách Liên bang, thuế doanh thu là loại thuế quan trọng nhất với ngân sách từng bang, còn chính quyền địa ph−ơng thì trông chờ chủ yếu vào thuế tài sản. Cấu trúc nguồn thu và chi của Chính phủ Hoa Kỳ nh− sau: Có ba nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Liên bang là thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội và đi vay. T−ơng ứng với nó, ba hạng mục chi tiêu quan trọng nhất của Ngân sách Liên bang là trợ cấp trực tiếp cho các cá nhân, chi an ninh quốc gia và trả lãi các khoản nợ quốc gia. Khoản chi lớn nhất trong tổng chi tiêu Chính phủ là trả bảo hiểm xã hội, chiếm khoảng 40% tổng chi tiêu Chính phủ. Chi tiêu Chính phủ thể hiện một sự chuyển giao nguồn lực từ khu vực t− nhân sang khu vực công cộng trong nền kinh tế, đồng thời nó cũng cho thấy phần đóng góp của khu vực Chính phủ trong GDP. Theo thống kê, tổng chi tiêu Chính phủ chiếm 31% GDP, so với khu vực t− nhân chiếm 69% (năm 1996). Trong đó, Chính phủ Liên bang chi khoảng 21% GDP, phần còn lại 10% do chính quyền bang và địa ph−ơng chi trả. Khi so sánh chi tiêu của Chính phủ Hoa Kỳ với các quốc gia khác, thấy rằng khoản chi tiêu trong phần trăm GDP này nhỏ hơn nhiều, ngoại trừ Nhật Bản. Điều này có thể là do phần thanh toán chuyển nh−ợng về thu nhập, bao gồm trợ cấp gia đình, y tế miễn phí, trợ cấp ng−ời mẹ mang thai, h−u trí, trợ cấp thất nghiệp, giáo dục miễn phí và trợ cấp tai nạn ở các quốc gia này là khá cao so với Mỹ. Nh−ng chi tiêu lớn làm cho mức đánh thuế của các quốc gia này cũng cao hơn nhiều so với Hoa Kỳ, tại Pháp, Thuỵ Điển, tỉ lệ này có khi chiếm tới hơn một nửa GDP. - Các chính sách bình ổn kinh tế. Sự can thiệp của Chính phủ bao gồm cả việc sử dụng các chính sách tiền tệ và tài khoá, các chính sách này đ−ợc thực hiện thông qua các chính sách đánh thuế (T) và thanh toán chuyển nh−ợng (TR), các khoản chi tiêu Chính phủ (G) cho hàng hoá dịch vụ, kiểm soát cung tiền (MS) cũng nh− điều hành lãi suất (I) của Cục Dự trữ Liên bang. Chính sách tài khoá liên quan đến việc sử dụng các chính sách thuế và chi tiêu Chính phủ của chính quyền Liên bang. Mục tiêu của nó là tăng hay giảm tổng cầu thông qua sự thay đổi trong mức chi tiêu Chính phủ và đánh thuế. Ngân sách Liên bang chính là điểm tựa của chính sách tài khoá. Chính sách tiền tệ đ−ợc thực hiện bởi Cục Dự trữ Liên bang để kiểm soát mức thu nhập quốc gia và mức giá thông qua việc cung tiền vào l−u thông. - Những quy định và sự kiểm soát Chính phủ đối với doanh nghiệp. Điều chỉnh và kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp là lĩnh vực thứ ba mà Chính phủ Hoa Kỳ đang c−ơng quyết thực hiện. Điều này là cần thiết vì các lý do gắn liền với những thất bại của thị tr−ờng. Mà một trong những thất bại đó là cơ chế thị tr−ờng không có khả năng trang bị cho các cá nhân và xã 35
- hội những ph−ơng tiện thoả đáng để đạt đ−ợc những nhu cầu nhất định, ví dụ nh− nhu cầu về một bầu không khí trong lành. Do đó, các cơ quan công cộng phải ra tay hành động để có đ−ợc bầu không khí trong lành, họ sử dụng các biện pháp kiểm soát mà chắc chắn sẽ gây ra những tác động không nhỏ tới hoạt động của các doanh nghiệp. Quá trình phân phối thu nhập và của cải có thể đ−ợc xem nh− một thất bại nữa của cơ chế thị tr−ờng. Rõ ràng phần lớn thu nhập xã hội rơi vào tay một số ít ng−ời, không phụ thuộc vào sự đóng góp của ng−ời đó cho xã hội mà do sự thừa kế của cải hay thực hiện một số đặc quyền đặc lợi mà có đ−ợc. - Khuyến khích cạnh tranh. Chính phủ Hoa Kỳ luôn khuyến khích cạnh tranh. Sự đề cao cạnh tranh xuất phát từ ý thức rằng cạnh tranh sẽ góp phần nâng cao phúc lợi xã hội. Khi thị tr−ờng và các ngành công nghiệp đ−ợc tổ chức và vận hành trong cạnh tranh thì nền kinh tế sẽ đạt đ−ợc những kết quả tốt đẹp. Tr−ớc hết, sự cạnh tranh đ−ợc xem là sẽ cung cấp cho ng−ời tiêu dùng nhiều sự lựa chọn hơn với mức giá thấp hơn. Nó cũng là nhân tố thúc đẩy sự cải tiến, đổi mới. Cuối cùng, cạnh tranh sẽ đảm bảo tính hiệu quả cho sự hoạt động của các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp; khi những doanh nghiệp hoạt động tốt, có lãi sẽ thành công, còn những doanh nghiệp hoạt động yếu kém, không hiệu quả sẽ bị loại bỏ. - Luật chống độc quyền ra đời là để tăng c−ờng cạnh tranh bằng việc ngăn cấm các hoạt động liên kết giữa một nhóm doanh nghiệp nhằm thao túng thị tr−ờng, ví dụ nh− các tơ-rơt và do đó, ảnh h−ởng xấu đến phúc lợi toàn xã hội. Luật chống độc quyền Hoa Kỳ có thể gói gọn trong các sắc luật Sherman và Clayton. Đạo luật Sherman ngăn cấm việc hình thành các thế lực độc quyền và các hình thức liên kết khác nhau giữa các doanh nghiệp, gây kìm hãm quá trình phát triển th−ơng mại giữa các bang hay th−ơng mại quốc tế. Đạo luật Clayton thì ngăn cấm quá trình sáp nhập với mục đích làm giảm tính cạnh tranh và ngăn chặn sự phân biệt giá cả nhằm thủ tiêu các đối thủ cạnh tranh. Đạo luật này cũng hạn chế khả năng một ng−ời có thể đồng thời làm giám đốc trong hai tập đoàn hoạt động, cạnh tranh trong cùng lĩnh vực. - Chính phủ cũng tham gia vào các quy định xã hội đối với doanh nghiệp trên các ph−ơng diện nh− thuê m−ớn ng−ời tàn tật, an toàn lao động, bảo vệ ng−ời tiêu dùng, bảo vệ môi tr−ờng. Lý do cho sự tồn tại của các quy định xã hội đó là cơ chế thị tr−ờng thật sự không hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề xã hội nh− sự phân biệt giới tính và chủng tộc, hay những ngoại ứng tiêu cực tạo ra do quá trình mức sống tăng lên. Ví dụ, khi nhu cầu về chất l−ợng cuộc sống tăng lên, áp lực phải duy trì bầu không khí trong lành, n−ớc sạch và xử lý an toàn rác thải đặt ra cho Chính phủ cũng tăng theo. Khi định nghĩa về sự bình đẳng đ−ợc mở rộng, những quyền lợi chính đáng mới 36
- của con ng−ời đ−ợc chú ý nhiều hơn thì cũng là lúc ng−ời ta nâng cao yêu cầu đối với Chính phủ. Các quy định từ phía Chính phủ là nhằm đáp ứng những yêu cầu này, ví dụ nh− yêu cầu bình đẳng về cơ hội nghề nghiệp. c. Đánh giá về nền kinh tế Mỹ Với sức mạnh kinh tế và tiềm năng KHCN, Hoa Kỳ đã thống trị thế giới trong suốt thế kỷ XX, thế kỷ này đ−ợc coi là thế kỷ của ng−ời Mỹ và có lẽ họ sẽ tiếp tục đóng vai trò đó trong thế kỷ XXI. Quay lại thời điểm giữa những năm 80 của thế kỷ XX, nhờ những cải cách trong lĩnh vực tiền tệ, quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp, tự do hoá nền kinh tế và thị tr−ờng lao động linh hoạt, Hoa Kỳ trong suốt thập niên 90 đã tạo cho mình những lợi thế cạnh tranh và xuất hiện nh− một lực l−ợng kinh tế mới của thế giới. Hoa Kỳ không chỉ đã giành lại đ−ợc mà còn mở rộng vai trò dẫn đầu thế giới về thị phần trong các ngành công nghệ cao nh− hàng không, d−ợc phẩm, phần mềm và viễn thông. Nh−ng Hoa Kỳ cũng phải đối mặt với những thách thức của riêng mình: những "bong bóng" kinh tế và những "tài sản ảo" tồn tại trong nền kinh tế, sự ra đời Liên minh châu Âu và đồng tiền chung Euro cũng đang đe doạ vị thế cạnh tranh của Hoa Kỳ. Theo một số nhà nghiên cứu, sức mạnh của nền kinh tế Hoa Kỳ còn có nguyên nhân do n−ớc Mỹ nằm trong vùng khí hậu ôn đới và nền văn hoá của họ thích hợp cho quá trình tăng tr−ởng kinh tế10. Chủ nghĩa t− bản Hoa Kỳ chính là tấm g−ơng phản ánh nền văn hoá Mỹ. Chủ nghĩa cá nhân đ−ợc du nhập vào Hoa Kỳ ngay từ khi miền Tây bắt đầu đ−ợc khai phá và dòng ng−ời nhập c− đổ về đây để làm ăn sinh sống. Đa phần những ng−ời này đến từ châu Âu, họ chạy trốn khỏi sự áp bức của Chính phủ hoặc vì những điều kiện kinh tế quá khắc nghiệt nơi quê h−ơng. Khi đó Hoa Kỳ đ−ợc xem nh− miền đất hứa, nơi các cá nhân có cơ hội phát triển mạnh mẽ dựa vào sức lực và khả năng của họ và mỗi thế hệ tiếp nối lại càng có thêm các cơ hội làm giàu. Miền Tây tạo ra cơ hội cho những ng−ời nhập c− đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, và đây chính là mảnh đất khiến chủ nghĩa cá nhân của Mỹ thăng hoa. Một đặc điểm nữa của chủ nghĩa t− bản Hoa Kỳ là ng−ời Mỹ rất đề cao của cải và chủ nghĩa tiêu dùng. Mô hình Role về quá trình tích luỹ của cải đã xuất hiện từ thế kỷ XIX, khi tầng lớp th−ợng l−u công nghiệp mới d−ới hình thức là các doanh nhân giàu có ra đời, trong đó, những ng−ời giầu nhất 10 David S.Landes. Của cải và sự giàu có của các quốc gia. 37
- đôi khi đ−ợc gọi là những nhà "tài phiệt" (robber barons). Những nhà t− bản đầu tiên, những ng−ời tự làm giàu bằng bàn tay và khối óc của mình là những nhà triệu phú nh− John D.Rockerfeller và Andrew Carnegie. Chính sự giàu có đã tạo ra những chuẩn mực tiêu dùng hàng hoá mà ng−ời Mỹ đều cố gắng đạt đ−ợc. Điều đáng chú ý là trong xã hội Hoa Kỳ, sự giầu có ch−a bao giờ bị khinh miệt hay căm giận mang tính giai cấp nh− các xã hội khác, những xã hội mà ý thức về giai cấp rất mạnh mẽ nh− ở Anh. Tổng giám đốc kiêm chủ tịch Microsoft, nhà tỉ phú giầu nhất Hoa Kỳ, đã truyền cho ng−ời dân sự kính trọng và niềm tin rằng bất cứ ai có đầu óc, có ý t−ởng đều có thể thành công trên đất Mỹ. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ còn đ−ợc thiên nhiên ban tặng cho những nguồn tài nguyên, khoáng sản phong phú và giàu có hơn các n−ớc khác, kể cả Đức và Nhật Bản. Không những thế, đất đai Hoa Kỳ cũng vô cùng trù phú và hầu nh− sẵn có cho tất cả mọi ng−ời, những ai có nhu cầu sử dụng. Do đó, xã hội Hoa Kỳ không bị phân chia giai cấp giữa số ít những chủ đất có nhiều đặc quyền đặc lợi đối lập với đa phần quần chúng lao động nghèo khổ nh− kiểu châu Âu. Điều này đã tạo nên phẩm chất tự lập, phát huy sức lực bản thân và tinh thần trách nhiệm cao của ng−ời Mỹ. Khả năng cạnh tranh quốc tế của Hoa Kỳ đ−ợc giải thích bởi hội đủ 4 yếu tố cơ bản sau: đó là −u thế tự nhiên về nhân tố sản xuất, những điều kiện thuận lợi về cầu hàng hoá trong n−ớc, những ngành công nghiệp liên quan bổ trợ và chiến l−ợc cũng nh− sự cạnh tranh thoả đáng của các công ty11. Cầu của thế giới, sức tiêu dùng mạnh, và ph−ơng pháp marketing phổ cập đại chúng đã tạo ra cầu về hàng hoá tiêu dùng Hoa Kỳ trên thị tr−ờng thế giới. Hoa Kỳ rất giỏi và chuyên nghiệp trong việc cung cấp các dịch vụ dựa trên sự trao đổi thông tin nhanh nhạy với thế giới. Họ còn có một hệ thống các tr−ờng đại học lớn đ−ợc −u tiên đầu t− cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Morgan Stanley, một nghiệp đoàn ngân hàng đa quốc gia, đã xuất bản ấn phẩm mang tên Sức mạnh cạnh tranh (The Competitive Edge), dựa trên ph−ơng pháp luận phân tích của Michael Porter. Kết luận mà họ đ−a ra là những đặc điểm của một quốc gia sẽ định hình những cơ hội riêng cho quốc gia đó. Nghiên cứu cho rằng có ba nhân tố mang tính quyết định trong việc hình thành khả năng cạnh tranh cho quốc gia cũng nh− cho mỗi công ty. Đó 11 Michael Porter. Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia. 38
- là: giá trị đồng tiền, sự chênh lệch chi phí lao động t−ơng đối và năng lực công nghệ. Trong thập niên 90, Hoa Kỳ đã sử dụng đồng tiền của mình một cách rất hiệu quả trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trên tr−ờng quốc tế. Hoa Kỳ cũng có lợi thế hơn châu Âu và Nhật Bản về chi phí lao động và v−ợt hẳn các n−ớc khác trong quá trình thích nghi với các công nghệ mới trong kỷ nguyên thông tin. Trong số các công ty có sức cạnh tranh toàn cầu, đa phần là các công ty Hoa Kỳ và Hoa Kỳ cũng là n−ớc có đa số công ty thống trị các ngành công nghiệp mà chúng đang hoạt động. Tuy nhiên, nền kinh tế Hoa Kỳ cũng có những điểm yếu. Đây là quốc gia nợ nhiều nhất trên thế giới, thâm hụt th−ơng mại hàng hoá và cán cân ngoại th−ơng liên tục tăng từ năm 1986. Vào năm 1997, chênh lệch tài sản n−ớc ngoài tại Hoa Kỳ đã v−ợt tài sản của Hoa Kỳ ở n−ớc ngoài. Đa phần nợ n−ớc ngoài của Hoa Kỳ là d−ới dạng ng−ời n−ớc ngoài nắm giữ các khoản nợ của kho bạc, ví dụ nh− trái phiếu kho bạc. Tài khoản th−ơng mại hàng hoá, bao gồm việc xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Hoa Kỳ với n−ớc ngoài, đã âm 114 tỷ USD (năm 1997). Tài khoản vãng lai, bao gồm 4 tài khoản cấp nhỏ hơn là tài khoản th−ơng mại hàng hoá, tài khoản dịch vụ, tài khoản về thu nhập và chi trả tài sản với n−ớc ngoài, tài khoản chuyển giao đa ph−ơng - đã âm hơn 100 tỷ từ năm 1997. Quy luật cạnh tranh và đào thải ở Hoa Kỳ rất nghiệt ngã. Hiện t−ợng này củng cố cho quan niệm "thắng làm vua" hay ng−ời chiến thắng sẽ có tất cả. Thị tr−ờng Hoa Kỳ ngày càng bị chế ngự bởi một số ít các siêu sao. Chỉ một sự chênh lệch nhỏ trong năng lực hay kỹ năng, thậm chí đơn giản là nhờ may mắn cũng có thể dẫn đến những khác biệt vô cùng lớn đối với thành quả của một số ít ng−ời. Tuy rằng sự cạnh tranh để giành ngôi vị dẫn đầu trên các thị tr−ờng đã đào luyện nên những ng−ời giỏi nhất, nh−ng nó cũng gây sự lãng phí lớn: thứ nhất, thu hút và tiêu diệt quá nhiều đối thủ cạnh tranh và thứ hai, khiến những khoản tiêu dùng và đầu t− trở nên phi sản xuất. Sự bất bình đẳng thu nhập và tài sản ở Hoa Kỳ rất trầm trọng và có chiều h−ớng gia tăng kể từ thập niên 80. Đối với 20% các gia đình nghèo nhất n−ớc Mỹ, thu nhập thực tế của họ hầu nh− không đ−ợc cải thiện gì đáng kể; chỉ có 5% những ng−ời giàu nhất n−ớc Mỹ là có lợi. Nếu vào năm 1970, 20% dân c− nghèo nhất nhận đ−ợc khoảng 5,4% thu nhập thực tế của xã hội so với 40,9% của 20% những ng−ời giầu nhất; thì đến năm 1996 những con số t−ơng ứng là 4,2% và 46,8% - tỉ số phần thu nhập thực tế giữa hai nhóm dân c− này là 1/11,2. 39
- Trên bình diện thế giới, bất bình đẳng thu nhập của Hoa Kỳ cao hơn so với các nền KTTT xã hội của châu Âu. Hệ số Gini* của Hoa Kỳ là 40,5% so với 24,5% của Đan Mạch. Chênh lệch trong phần thu nhập của 10% ng−ời thu nhập cao nhất và thấp nhất của Hoa Kỳ là 19:1 trong khi ở Đan Mạch chỉ là 5,5:1. Tuy nhiên, sự bất bình đẳng trong phân phối tài sản ở Hoa Kỳ còn lớn hơn và đậm nét hơn so với phân phối thu nhập. Của cải đ−ợc tích luỹ lại theo thời gian và đ−ợc thừa kế. Phần lớn của cải Hoa Kỳ nằm trong tay 6,5% các gia đình có thu nhập trên 100.000 USD/năm. Bill Gates có tổng tài sản lên tới 100 tỉ USD (năm 1999), là ng−ời giầu hơn 50% các gia đình nghèo nhất Hoa Kỳ gộp lại và nhiều hơn GDP của Nigeria, một quốc gia với 115 triệu dân. Khi bất bình đẳng thu nhập gia tăng, nhất là trong những năm của thập niên 80 - 90 thì cùng với nó sự bất bình đẳng về tài sản cũng tăng theo. Nghèo đói chính là mặt bên kia tấm huân ch−ơng của sự giàu có ở Hoa Kỳ. Mặc dù số ng−ời sống trong mức nghèo đói giảm từ 22,2% (năm 1960) xuống còn 13,7% dân số (năm 1996), nh−ng con số tuyệt đối những ng−ời sống d−ới mức nghèo đói vẫn là khoảng 36,5 triệu ng−ời. Trong số đó có 13,8 triệu trẻ em. Đặc biệt, mức độ nghèo đói đối với ng−ời da đen và ng−ời nói tiếng Tây Ban Nha ở Hoa Kỳ rất trầm trọng. Tóm lại, Hoa Kỳ là n−ớc TBCN đại diện cho mô hình KTTT tự do cá nhân. Nạn bất bình đẳng thu nhập và tài sản của Hoa Kỳ sâu sắc hơn so với các n−ớc khác. Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Hoa Kỳ cũng khác nhiều: khu vực t− nhân là nơi chủ yếu ra các quyết định chiến l−ợc cũng nh− chiến thuật về phát triển kinh tế của đất n−ớc. 2.1.2. Mô hình nền KTTT có điều khiển Nhật Bản a. Về kết cấu sở hữu và tổ chức kinh doanh Sở hữu t− nhân đã đ−ợc đề cao và khuyến khích phát triển trong nền KTTT Nhật Bản ngay từ thời Minh Trị. Trong thời kỳ này các võ sĩ đạo (Samurai) cũng có thể trở thành các doanh nhân. Nh−ng sự phát triển CNTB ở Nhật Bản mang những nét đặc thù: d−ới hình thức liên minh các doanh nghiệp mà ng−ời ta th−ờng gọi là zaibatsu. Mỗi liên minh nh− vậy bao gồm khoảng 20 - 30 doanh nghiệp lớn, tất cả tập trung xung quanh một ngân hàng chung. Những hãng lớn này đại diện cho các ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế, do đó, mỗi một nhóm các doanh nghiệp nh− vậy th−ờng bao * Gini: chỉ số đo sự bất bình đẳng thu nhập của các n−ớc. 40
- gồm các công ty vận tải, công ty thép, công ty bảo hiểm và các công ty đại diện cho các ngành công nghiệp khác. Liên minh Zaibatsu có quy mô lớn hơn các tập đoàn của Hoa Kỳ và nằm d−ới sự kiểm soát, quản lý của một số ít các quyền gia thế tộc - những gia đình có quyền lực trong xã hội. Ví dụ nh− Liên minh Mitsui sử dụng tới 1.800.000 lao động từ tr−ớc Chiến tranh Thế giới II, Liên minh Mitshubishi sử dụng tới trên 1.000.000 lao động. Giữa các Zaibatsu và Chính phủ có mối quan hệ mật thiết; Chính phủ bằng sức mạnh quân sự và các quyền lực khác, đã tạo thuận lợi cho sự thâm nhập thị tr−ờng mới cho các Zaibatsu. Sự thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới II và chiếm đóng của Hoa Kỳ đã gây nên những xáo trộn đối với quá trình cải cách và tái tổ chức nền kinh tế Nhật Bản. Vào tháng 11 năm 1946, bản Hiến pháp mới, vốn tích hợp từ những nguyên tắc dân chủ nghị viện kiểu ph−ơng Tây, đã đ−ợc Hoa Kỳ ban bố và áp dụng cho Nhật Bản. Việc giải tán các Zaibatsu thành nhiều xí nghiệp kinh doanh độc lập cũng là một phần trong chính sách chiếm đóng của Hoa Kỳ. Các đạo luật chống độc quyền ra đời từ sau các sắc luật Sherman và Clayton cũng đ−ợc áp dụng đối với Nhật Bản. Tuy nhiên, sau này Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều đạo luật khác khiến nhiều ngành công nghiệp không còn chịu sự điều chỉnh cuả các đạo luật chống độc quyền này nữa. Nhằm cải thiện vị trí là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới, Nhật Bản đã cho phép một số hình thức cartels trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đ−ợc thành lập và đi vào hoạt động. Sự chiếm đóng của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản cũng mang tới đây các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, những ngành công nghiệp mà ng−ời Nhật đã hấp thụ trọn vẹn. Ng−ời Nhật trở thành những công dân đ−ợc sự bảo trợ của Hoa Kỳ: họ nhận đ−ợc những −u đãi, những khoản vay lãi suất thấp và những máy móc kỹ thuật có khả năng phục hồi sức sản xuất vốn có trong nhiều ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp dệt may. Tuy nhiên, chính sách phát triển kinh tế của Nhật Bản không thể phụ thuộc mãi vào Hoa Kỳ. Những nhu cầu trong n−ớc cần đ−ợc −u tiên tr−ớc, nhất là công nghiệp đóng tàu - ngành hầu nh− đã bị phá huỷ hoàn toàn trong chiến tranh, nh−ng quốc đảo Nhật Bản cần có các con tàu. Đ−ợc sự trợ giúp của Chính phủ, ngành công nghiệp đóng tàu đã phát triển nhanh chóng và năm 1956 Nhật Bản trở thành quốc gia sản xuất tàu thuỷ lớn nhất thế giới. Nhật Bản cũng tập trung cho các chính sách xuất khẩu nhằm phát triển công nghiệp. Thủ công mỹ nghệ, dệt may và các ngành công nghiệp quy mô 41
- nhỏ khác - những ngành công nghiệp mà Nhật Bản có lợi thế nhờ chi phí nhân công thấp. Nguồn lực con ng−ời là nhân tố rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản thời kỳ hậu chiến. Các tổ chức công nghiệp giữ vai trò lớn trong nền KTTT Nhật Bản. Tổ chức công nghiệp của Nhật Bản là sản phẩm của nền văn hoá và quá trình phát triển kinh tế độc đáo của Nhật Bản. Các nhóm, các tập đoàn công nghiệp Nhật Bản không giống với bất cứ quốc gia nào khác. Mặc dù về dân số, n−ớc Nhật chỉ bằng 1/2 Hoa Kỳ, về diện tích đất đai thì chỉ bằng 1/25, nh−ng Nhật Bản là n−ớc đứng thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ về số l−ợng các tập đoàn lớn. Mặc dù gặp nhiều hạn chế về tài nguyên, nh−ng Nhật Bản lại là một trong 3 n−ớc đứng đầu thế giới về kim ngạch xuất nhập khẩu và th−ơng mại. Nền kinh tế Nhật Bản dựa trên sự tập trung công nghiệp qua hai hình thái tổ chức: Keiretsu và Sogo Shosha. Thứ nhất, keiretsu: bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, khi các doanh nghiệp theo chế độ gia đình trị phát triển trong nền kinh tế Nhật Bản. Không giống nh− Hoa Kỳ đã đề ra các đạo luật chống độc quyền, ở Nhật Bản đ−ợc sự ủng hộ và giúp sức của Chính phủ, các công ty theo mô hình gia đình trị lại sản xuất ra tới 90% GNP của đất n−ớc. Các công ty này vẫn tồn tại đến hôm nay và đ−ợc chia thành hai loại chính: Keiretsu ngang và Keiretsu dọc. Nhật Bản có 6 Keiretsu ngang, nghĩa là một gia đình tập đoàn mà tầm hoạt động của nó v−ơn tới nhiều ngành công nghiệp khác nhau và tập trung lại thông qua một ngân hàng. Cần chú ý rằng các tập đoàn này đều thuộc số 500 tập đoàn lớn nhất thế giới theo sắp xếp của Tạp chí Fortune. Ngoài ra, có khoảng 39 Keiretsu dọc. Mỗi trong số họ bao gồm một tập đoàn công nghiệp và các công ty trực thuộc. Đa phần các công ty loại này hoạt động trong các ngành công nghiệp sản xuất ô tô và thiết bị điện tử. Ví dụ, Toyota có những mối quan hệ ràng buộc tài chính với tất cả những nhà cung cấp của họ. Cùng một lúc họ sở hữu 41% công ty chuyên sản xuất bánh xe, 33% các nhà sản xuất vật liệu bao bọc và 21% các công ty chuyên sản xuất khung xe cho họ. Các thành viên trong một Keiretsu dọc, cũng giống nh− trong các Keiretsu ngang, sở hữu cổ phần lẫn nhau, trao đổi thông tin và hợp tác với nhau trong những th−ơng vụ làm ăn. Thứ hai, Sogo Shosha (hay các công ty th−ơng mại): Một loại hình tổ chức doanh nghiệp quan trọng khác của nền kinh tế Nhật Bản. Có nhiều công ty th−ơng mại Nhật Bản thuộc số những công ty hàng đầu thế giới. Hầu hết 42
- quan hệ th−ơng mại với n−ớc ngoài của Nhật Bản đều đ−ợc thực hiện thông qua các công ty này, mỗi công ty đều có đại diện ở các n−ớc trên thế giới. Một công ty th−ơng mại có thể là một thành viên trong Keiretsu (ví dụ nh− tr−ờng hợp của Sumitomo). Các công ty th−ơng mại hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau và cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau cho các hãng thành viên. Họ mua nguyên vật liệu thô, phân phối sản phẩm và tài trợ cho một số hoạt động của các hãng thành viên. Họ tham gia vào cả các hoạt động nhập khẩu cũng nh− xuất khẩu và có thể giúp tập đoàn của họ trong việc xử lý, hạn chế rủi ro ngoại hối. Hơn thế nữa, họ cũng tham gia vào các nghiệp vụ kinh tế ở n−ớc ngoài cho các hãng của Nhật cũng nh− cho những ng−ời mua và bán của các quốc gia khác. Chịu trách nhiệm thực hiện đa phần các hoạt động xuất nhập khẩu của Nhật Bản, các sogo shosha hoạt động nh− một cơ chế xét duyệt để loại ra những mặt hàng nhập khẩu có khả năng gây tổn hại đến các thành viên của Keiretsu. Ví dụ, nếu hơi soda có thể đ−ợc nhập khẩu rẻ hơn so với sản xuất trong n−ớc, một công ty th−ơng mại có thể hạn chế việc nhập khẩu mặt hàng này để bảo vệ các công ty Nhật Bản. Sự liên minh công nghiệp trên quy mô lớn giữ vai trò thống trị trong quan hệ th−ơng mại giữa Nhật Bản với n−ớc ngoài. Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp lớn theo kiểu ph−ơng Tây, rất nhiều ngành công nghiệp quy mô nhỏ đang phát triển nở rộ để đáp ứng nhu cầu rất đặc thù của những ng−ời tiêu dùng Nhật Bản. Ngành công nghiệp sản xuất thức ăn và công nghệ bán lẻ của Nhật Bản là những ví dụ điển hình. Năng suất của các ngành này th−ờng thấp nh−ng họ lại đ−ợc Nhà n−ớc bảo hộ tr−ớc sự cạnh tranh của n−ớc ngoài. Cũng có những công ty gia đình sử dụng từ 2 - 100 lao động, họ th−ờng sản xuất những bộ phận hoặc chỉ cung cấp dịch vụ cho các khách hàng lớn, th−ờng xuyên của mình và tất nhiên điều đó khiến họ phụ thuộc nhiều vào sự thành bại của các khách hàng lớn. Để hiểu rõ hơn hệ thống tổ chức kinh doanh ở Nhật, cần nghiên cứu cả hệ thống ngân hàng và quan hệ của chúng với doanh nghiệp. Hệ thống ngân hàng Nhật Bản bị chi phối bởi các ngân hàng th−ơng mại lớn - các đại gia trong ngành ngân hàng, và họ th−ờng là thành viên của một Keiretsu. Trong nửa cuối của thế kỷ XIX, những ngân hàng này đóng vai trò then chốt, quan trọng trong việc thực hiện các chính sách phát triển của Chính phủ Nhật Bản. Họ thực hiện cho vay đối với các thành viên của Keiretsu và mua cổ phiếu phổ thông của các công ty này. Họ hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Ngoài ra, có một số ngân hàng t− nhân khác với quy mô nhỏ hơn rất nhiều và 43
- th−ờng chỉ tập trung vào hoạt động tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Bên cạnh đó, cũng có vai trò của một số định chế tài chính thuộc sở hữu Nhà n−ớc trong việc hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức tài chính t− nhân. Trong đó phải kể đến Ngân hàng Phát triển Nhật bản, thực hiện cho vay dài hạn với lãi suất thấp đối với các ngành công nghiệp cơ bản trong n−ớc; Ngân hàng Tiết kiệm B−u chính - là ph−ơng tiện chính để huy động tiết kiệm trong phạm vi n−ớc Nhật; Ngân hàng Xuất nhập khẩu cung cấp các khoản vay dài hạn với lãi suất mang tính trợ cấp cho các nhà xuất khẩu sản phẩm Nhật Bản. Hệ thống ngân hàng Nhật Bản đã lâm vào khủng hoảng đầu những năm 1990. Các ngân hàng đều có tỷ lệ nợ xấu lớn, thực hiện cho vay đối với bạn bè, ng−ời quen, những ng−ời đầu t− vào thị tr−ờng bất động sản và các tài sản khác ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác. Do đó, giá trị bất động sản bị thổi phồng nhanh chóng, tạo ra hiện t−ợng mà ng−ời ta vẫn gọi là nền kinh tế "bong bóng" và cuối cùng chiếc bong bóng đã vỡ tan. Không giống với các ngân hàng Hoa Kỳ, các ngân hàng Nhật Bản không đ−ợc kiểm soát chặt chẽ và những khoản vay hầu nh− không đ−ợc đảm bảo. Khi nền kinh tế "bong bóng" sụp đổ, thị tr−ờng cổ phiếu cũng đổ theo. Những nhà đầu cơ, sử dụng tiền vay từ các ngân hàng, cũng đầu cơ rất nhiều vào thị tr−ờng cổ phiếu. Các ngân hàng không thực hiện chế độ bảo hiểm, dự phòng tài chính cho các khoản nợ xấu trên bảng cân đối kế toán của họ. Có 5 ngân hàng thất bại nặng nề nhất trên thị tr−ờng tài chính thế giới chính là các ngân hàng Nhật Bản. b. Vai trò của Chính phủ Nhật Bản Chính phủ đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của Nhật Bản. Sự phát triển sau chiến tranh của các ngành công nghiệp Nhật Bản đ−ợc kích thích và tạo sức bật từ những khoản viện trợ của Chính phủ cũng nh− việc cho vay với lãi suất thấp. Điều đó một phần có đ−ợc nhờ việc sử dụng các chính sách tài khoá và tiền tệ để kích thích quá trình tăng tr−ởng kinh tế. Những động lực đặc biệt về thuế đ−ợc sử dụng để khuyến khích ng−ời ta nâng cao tiết kiệm, đầu t−, hình thành tích luỹ vốn, cũng nh− du nhập vào nền kinh tế các sản phẩm và công nghệ mới. Điều có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của nền kinh tế Nhật Bản là đã tạo lập đ−ợc mối quan hệ th−ờng xuyên, gần gũi giữa Chính phủ và doanh nghiệp. Khác hẳn với Hoa Kỳ và Đức, vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Nhật cũng rất đặc biệt trên các khía cạnh nh− Chính phủ chỉ chiếm phần nhỏ 44
- trong tiêu dùng xã hội, nh−ng lại chiếm phần lớn trong đầu t− và giữ quyền kiểm soát chặt chẽ khu vực t− nhân thông qua các trung gian của Chính phủ. Chi tiêu Chính phủ trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội cũng ít hơn nhiều. Ví dụ, đa phần ng−ời lao động trong các doanh nghiệp đều tham gia vào ch−ơng trình bảo hiểm của chính doanh nghiệp đó, những ch−ơng trình này đảm bảo chi trả các khoản l−ơng h−u, trợ cấp cho ng−ời công nhân căn cứ vào thu nhập của anh ta. Nh−ng điều tạo nên sự khác biệt lớn nhất giữa Nhật Bản với Hoa Kỳ và Đức là vai trò của các cơ quan hành chính và các bộ ngành trong nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển nền KTTT Nhật Bản, cần đi sâu nghiên cứu chức năng của một số cơ quan tổ chức của Chính phủ. Bộ Tài chính Nhật Bản, cơ quan kiểm soát thị tr−ờng tài chính. Bộ Tài chính là nơi quản lý tất cả các nguồn thu Ngân sách Chính phủ và họ cũng chính là ng−ời giữ quyền quyết định đối với việc sử dụng chúng. Bộ Tài chính thực hiện chính sách tài khoá. Nó cũng chịu trách nhiệm điều chỉnh, thay đổi tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân và doanh nghiệp, khởi x−ớng những điều khoản, những chính sách trong luật thuế nhằm kích thích sự phát triển của các sản phẩm và công nghệ mới. Thủ t−ớng và các cơ quan lập pháp không có quyền kiểm soát thực sự đối với Bộ Tài chính, họ chỉ nhận sự t− vấn, đóng góp từ những công chức của chính họ. Bộ Tài chính còn kiêm luôn chức năng kiểm soát vận hành hệ thống ngân hàng Nhật Bản. Bộ Th−ơng mại và công nghiệp quốc tế (MITI), cùng với Bộ Tài chính là hai bộ quan trọng nhất trong Chính phủ Nhật Bản. MITI là cơ quan Chính phủ quan trọng và giàu quyền lực nhất của Nhật Bản, ít nhất là trong con mắt của các doanh nghiệp Nhật Bản. Ra đời từ những năm 1940 nhằm mục tiêu hiện đại hoá công nghiệp Nhật Bản và đẩy mạnh xuất khẩu, chức năng của MITI là xác định một lộ trình hành động cơ bản nhằm cải tiến, nâng cao lợi thế so sánh trong t−ơng lai của nền kinh tế Nhật Bản và để huy động tất cả các khu vực, các nguồn lực vào quá trình phát triển chung của đất n−ớc. Chẳng hạn, xây dựng ngành công nghiệp thép là −u tiên số một của Nhật Bản trong thời kỳ phát triển hậu chiến. Để thực hiện sự −u tiên này, MITI đã khuyến khích các ngân hàng Nhật cung cấp vốn để mua các công nghệ và thiết bị sản xuất thép từ ph−ơng Tây mà chủ yếu là từ Hoa Kỳ. Những khuyến khích về thuế, các khoản vay với lãi suất thấp và các động lực tài chính khác đã đ−ợc MITI trao cho ngành công nghiệp thép. MITI đang tiếp 45



