Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương: Quản lý sâu bệnh hại rừng trồng

pdf 125 trang ngocly 70 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương: Quản lý sâu bệnh hại rừng trồng", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfcam_nang_nganh_lam_nghiep_chuong_quan_ly_sau_benh_hai_rung_t.pdf

Nội dung text: Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương: Quản lý sâu bệnh hại rừng trồng

  1. BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH LÂM NGHIỆP & ĐỐI TÁC CẨM NANG NGÀNH LÂM NGHIỆP Chương QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI RỪNG TRỒNG NĂM 2006
  2. Biên soạn: Hà Công Tuấn Đỗ Thị Kha Đoàn Hoài Nam Đỗ Quang Tùng Chỉnh lý: Nguyễn Văn Tư Vũ Văn Mễ Nguyễn Hoàng Nghĩa Nguyễn Bá Ngãi Trần Văn Hùng Đỗ Quang Tùng Hỗ Trợ kỹ thuật và tài chính: Dự án GTZ-REFAS 2
  3. MỤC LỤC MỤC LỤC i ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1: SÂU BỆNH HẠI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SÂU, BỆNH HẠI 3 1. Khái niệm 3 1.1. Khái niệm về sâu hại 3 1.2. Khái niệm bệnh cây rừng 4 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sâu, bệnh hại 5 2.1. Các nhân tố phi sinh vật 5 2.2. Các nhân tố sinh vật 6 2.3. Sự hình thành dịch sâu 7 CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SÂU, BỆNH HẠI RỪNG TRỒNG VÀ TÁC HẠI CỦA CHÚNG 9 1. Sự phân bố và phát sinh, phát triển của một số loài sâu, bệnh hại rừng chủ yếu ở Việt Nam 9 2. Tình hình và sự rối loạn về sâu, bệnh hại rừng 9 3. Tác hại của sâu, bệnh đối với cây rừng 11 4. Những nghiên cứu về sâu, bệnh hại ở Việt Nam 11 CHƯƠNG 3: ĐIỀU TRA, PHÂN LOẠI VÀ DỰ BÁO SÂU BỆNH HẠI RỪNG TRỒNG 15 1. Điều tra và xác định tỷ lệ sâu bệnh hại 15 1.1. Chọn tuyến và ô tiêu chuẩn 15 1.1.1. Tuyến điều tra 15 1.1.2. Ô tiêu chuẩn 15 1.1.3. Điều tra trong ô tiêu chuẩn 16 1.1.4. Điều tra trên các cây tiêu chuẩn 16 1.2. Xác định tỷ lệ cây bị sâu bệnh và mức độ bị hại 16 1.2.1. Xác định tỷ lệ cây bị sâu bệnh: 16 1.2.2. Xác định mức độ bị hại: 16 1.2.3. Phân cấp mức độ hại 17 2. Phân loại sâu, bệnh và chẩn đoán bệnh 18 2.1. Phương pháp phân loại sâu, bệnh hại 18 2.1.1. Phân loại sâu 18 2.1.2. Phân loại bệnh cây 25 2.2. Chẩn đoán bệnh cây 31 2.2.1. Chẩn đoán theo triệu chứng bệnh 31 2.2.2. Chẩn đoán theo vật gây bệnh 31 2.2.3. Chẩn đoán bằng thí nghiệm lây bệnh nhân tạo 31 2.2.4. Chẩn đoán bằng phương pháp điều trị bệnh 31 2.3. Phương pháp thu thập và làm mẫu sâu bệnh 32 3. Dự báo sâu bệnh hại 32 3.1. Dự tính về số lượng sâu hại 32 3.2. Dự tính, dự báo khả năng phát dịch của sâu hại 34 3.2.1. Dự tính, dự báo bằng khí hậu đồ 34 3.2.2. Dự tính, dự báo bằng các hệ số chất lượng 34 CHƯƠNG IV. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU, BỆNH HẠI RỪNG 37 1. Các biện pháp phòng trừ sâu 37 i
  4. 1.1. Biện pháp canh tác 37 1.2. Biện pháp sinh học 37 1.3. Biện pháp vật lý cơ giới 37 1.4. Biện pháp hoá học 37 1.5. Biện pháp kiểm dịch thực vật 38 1.6. Biện pháp phòng trừ tổng hợp 38 2. Các biện pháp phòng trừ bệnh hại 38 2.1. Biện pháp kiểm dịch thực vật 38 2.2. Biện pháp kỹ thuật lâm nghiệp 38 2.3. Biện pháp phòng bệnh trong kỹ thuật trồng rừng 39 2.4. Biện pháp phòng trừ sinh vật học 39 2.5. Biện pháp vật lý cơ giới 40 2.6. Biện pháp phòng trừ bằng hoá học 40 2.7. Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) 40 2.7.1. Khái niệm về IPM trong lâm nghiệp: 40 2.7.2. Các bước nghiên cứu IPM 41 2.7.3. Nguyên tắc kinh tế học và chỉ tiêu phòng trừ của IPM 41 2.7.4. Điều kiện cơ bản của việc thực hiện IPM 41 3. Một số loại thuốc phòng trừ bệnh cây thường dùng 42 3.1. Nhóm thuốc diệt nấm vô cơ 42 3.1.1. Nước Borđô (Bordeaux) 42 3.1.2. Hợp chất lưu huỳnh - vôi (ISO) 42 3.2. Nhóm thuốc diệt nấm hữu cơ 43 3.2.1. Zineb: C4H6SZn 43 3.2.2. PCNB (Pentaclorua nitrobengen) C6Cl5NO2 43 3.2.3. Daconin, Chlorothalomin, TPN: C8N2Cl4 43 3.2.4. Formalin, CH2O 43 3.3. Thuốc diệt nấm nội hấp 43 3.4. Chất kháng sinh và thuốc diệt nấm bằng cây cỏ 44 3.5. Thuốc diệt tuyến trùng 44 4. Các biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh 44 4.1. Các dạng thành phẩm của thuốc trừ sâu bệnh 44 4.2. Các biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu 45 4.2.1. Phun thuốc: 45 4.2.2. Xông hơi 45 4.2.3. Bón thuốc vào đất 46 4.2.4. Làm bả độc 46 4.2.5. Những điểm chú ý khi dùng thuốc 46 CHƯƠNG 5: MỘT SỐ LOẠI SÂU, BỆNH HẠI RỪNG TRỒNG PHỔ BIẾN TẠI VIỆT NAM VÀ CÁCH PHÒNG TRỪ 47 1. Các loại sâu, bệnh hại phổ biến trong các vườn ươm và cách phòng trừ 47 1.1. Sâu hại trong vườn ươm và các biện pháp phòng trừ 47 1.1.1. Nhóm dế: 47 1.1.2. Nhóm bọ hung: 48 1.1.3. Sâu xám nhỏ 49 ii
  5. 1.2. Bệnh hại trong vườn ươm và các biện pháp phòng trừ 50 1.2.1. Bệnh mốc hạt 50 1.2.2. Bệnh thối cổ rễ cây con 50 1.2.3. Bệnh rơm lá thông 51 1.2.4. Bệnh khô lá thông, sa mu, sa mộc 51 1.2.5. Bệnh phấn trắng lá keo 52 1.2.6. Bệnh đốm lá cây lá rộng 52 1.2.7. Bệnh tuyến trùng rễ cây con 53 2. Các loại sâu, bệnh hại rừng trồng phổ biến và biện pháp phòng trừ 54 2.1. Sâu bệnh hại thông 54 2.1.1. Sâu hại thông 54 2.1.2. Bệnh hại thông 59 2.2. Sâu bệnh hại cây bồ đề và biện pháp phòng trừ 60 2.2.1. Sâu hại bồ đề 60 2.2.2. Bệnh hại cây bồ đề và các biện pháp phòng trừ 62 2.3. Sâu bệnh hại cây mỡ và các biện pháp phòng trừ 62 2.3.1. Sâu hại cây mỡ 62 2.3.2. Bệnh hại cây mỡ 64 2.4. Sâu bệnh hại cây phi lao và các biện pháp phòng trừ 64 2.4.1. Sâu hại cây phi lao 64 2.4.2. Bệnh hại phi lao 66 2.5. Sâu bệnh hại quế và biện pháp phòng trừ 67 2.5.1. Sâu hại quế và biện pháp phòng trừ 67 2.5.2. Bệnh hại cây quế và các biện pháp phòng trừ 69 2.6. Sâu bệnh hại cây luồng và các biện pháp phòng trừ 72 2.6.1. Sâu hại cây luồng 72 2.6.2. Bệnh hại cây luồng 74 2.7. Sâu bệnh hại tếch và các biện pháp phòng trừ 75 2.7.1. Sâu hại tếch 75 2.7.2. Bệnh hại tếch 76 2.8. Sâu bệnh hại keo và các biện pháp phòng trừ 77 2.8.1. Sâu hại keo 77 2.8.2. Bệnh hại keo 81 2.9. Sâu bệnh hại bạch đàn và các biện pháp phòng trừ 83 2.9.1. Sâu hại bạch đàn 83 2.9.2. Bệnh hại bạch đàn 84 2.10. Một số loại sâu rừng trồng và cây rừng phổ biến khác và các biện pháp phòng trừ 87 2.10.1. Sâu hại rừng tràm 87 2.10.2. Sâu đo ăn lá lim 88 2.10.3. Sâu do ăn lá trẩu và lá sở 89 2.10.4. Bọ nẹt ăn lá trẩu 89 2.10.5. Sâu ăn lá hồi 90 2.10.6. Châu chấu hại tre 90 2.10.7. Bọ xít vải 90 2.10.8. Các loài xén tóc 90 iii
  6. 2.10.9. Mối hại cây con 91 2.11. Một số loại bệnh hại cây rừng phố biến khác 93 2.11.1. Bệnh hại rừng tràm 93 2.11.2. Bệnh bồ hóng 94 CHƯƠNG 6: QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI RỪNG 95 1. Quy trình lâm sinh trong phòng trừ sâu, bệnh và lập báo cáo 95 2. Các biện pháp và cơ chế quản lý sâu, bệnh hại rừng trồng 96 2.1. Các biện pháp quản lý sâu bệnh hại rừng 96 2.2. Xu hướng và nhu cầu quản lý sâu bệnh hại rừng hiện nay 96 2.3. Một số hoạt động ưu tiên trong quản lý sâu bệnh hại rừng hiện nay 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC 103 Phụ lục 1. Các văn bản pháp quy liên quan đến phòng trừ sâu, bệnh hại rừng 103 Phụ lục 2. Danh mục các loại sâu bệnh hại rừng trồng 107 iv
  7. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thế giới tự nhiên các loài động thực vật và vi sinh vật chung sống với nhau trong mối quan hệ cân bằng động, xâu chuỗi và gắn kết với nhau trong sự tồn tại chung. Những tác động tiêu cực hay tích cực vào một thành phần hay yếu tố nào đó có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng tới cả hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Con người với những tác động vào rừng như chặt phá rừng bừa bãi; dùng thuốc trừ sâu không những gây ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường mà còn ảnh hưởng lớn đến khả năng xuất hiện và phát dịch của sâu bệnh hại. Trong các hệ sinh thái, hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính ổn định cao, không có sinh vật gây hại nghiêm trọng và nó có thể tự điều chỉnh để cân bằng. Tuy nhiên, cũng có nơi xuất hiện sâu bệnh hại rừng tự nhiên thuần loài và cũng có trường hợp phải can thiệp để giảm thiểu ảnh hưởng của sâu bệnh hại. Mặc dù vậy, việc diệt trừ sâu bệnh hại rừng ở đây là ít có ý nghĩa. Đối với hệ sinh thái rừng trồng tính bền vững và ổn định kém, vì vậy rất dễ bị tổn thương khi bị các tác động bất lợi, do đó việc phòng trừ sâu bệnh hại rừng là cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sinh trưởng cũng như tồn tại của cây rừng. Hàng năm, dịch sâu bệnh hại rừng trồng đã gây nên những tổn thất lớn không những làm giảm chất lượng rừng, làm chết cây ước tính thiệt hại nhiều tỷ đồng mà còn làm suy thoái môi trường. Theo Nghị quyết của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ hai ngày 5/12/1997, vấn đề sâu bệnh hại rừng là vấn đề sinh học. Rừng càng được trồng trên quy mô lớn là những điều kiện thuận lợi về thức ăn cho sâu bệnh phát sinh và phát triển, tần suất dịch sẽ cao, hậu quả khó có thể lường trước được. Chính vì vậy, việc xây dựng hướng dẫn quản lý sâu bệnh hại rừng có một vai trò quan trọng, nó giúp các nhà hoạch định chính sách, người quản lý nắm bắt tình hình sâu bệnh hại để đề ra kế hoạch, chương trình trong công tác trồng rừng và quản lý sâu bệnh hiệu quả; người sản xuất bố trí cây trồng và có các biện pháp phòng trừ tổng hợp mang lại lợi ích từ rừng; ngoài ra cuốn sách còn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy cho sinh viên và mọi người trong và ngoài ngành quan tâm đến lĩnh vực này. 1
  8. CHƯƠNG 1: SÂU BỆNH HẠI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SÂU, BỆNH HẠI 1. Khái niệm 1.1. Khái niệm về sâu hại Sâu hại là những loài côn trùng (Insecta) gây hại hoặc gây khó chịu cho các hoạt động, ảnh hưởng xấu và thiệt hại đến lợi ích của con người. Sâu hại cùng với nhện hại, cỏ dại, bệnh hại (nấm, vi khuẩn, virus, tuyến trùng), gặm nhấm Tạo thành sinh vật gây hại hoặc vật gây hại. Khái niệm này chỉ mang tính tương đối vì nó phụ thuộc vào không gian và thời gian bởi vì “ảnh huởng xấu” chỉ xảy ra khi sâu hại dưới một điều kiện môi trường nào đó phát triển với số lượng lớn. Sâu hại nói riêng hay côn trùng nói chung có đặc điểm: thân thể có một lớp vỏ cứng (bộ xương ngoài), thân thể gồm nhiều đốt và chia làm ba phần rõ ràng: Đầu, ngực và bụng. Trên đầu có râu đầu, mắt (mắt kép, mắt đơn) và miệng. Ngực chia làm 3 đốt, có 3 đôi chân, chân chia nhiều đốt và có từ 1 đến 2 đôi cánh, cuối bụng có bộ máy sinh dục và lông đuôi. Hiện nay người ta biết có khoảng hơn 3.000.000 loài sinh vật sống trên trái đất, trong đó có trên 1.200.000 loài là động vật, nhưng riêng lớp côn trùng đã chiếm hơn 1.000.000 loài vào khoảng 1/3 tổng số loài sinh vật của hành tinh. Nhiều loài trong lớp côn trùng gây hại cho người như phá hại cây cối; hoa màu (sâu ăn lá; sâu đục thân; sâu hại hoa, quả, củ, rễ ), sâu phá hoại nông sản, đồ đạc, nhà cửa, công trình xây dựng (mối, mọt, xén tóc ), là trung gian truyền bệnh cho người và gia súc (ruồi, muỗi, chấy, rận ) nhưng không phải loài nào cũng có hại, có nhiều loài côn trùng có lợi như bọ ngựa, kiến, ong ký sinh ăn thịt các loại sâu hại khác, ong mật, cánh kiến đỏ, các loài ong bướm giúp hoa thụ phấn làm cho mùa màng sai hoa trĩu quả. Vì vậy, theo quan điểm chung, quan niệm lợi hay hại chỉ là tương đối. Sâu bọ phát triển theo chu kỳ, mỗi chu kỳ được gọi là một vòng đời. Vòng đời (hay lứa hoặc thế hệ) của sâu là chu kỳ phát triển cá thể từ lúc đẻ trứng đến khi sâu trưởng thành sinh sản lứa sau. Phát triển cá thể của sâu có biến thái hoàn toàn trải qua 4 giai đoạn (pha) bao gồm: trứng, sâu non, nhộng và sâu trưởng thành. Sâu non khác với sâu trưởng thành về hình thái, cơ cấu bên trong và tập tính sống. Đối với biến thái không hoàn toàn chỉ có 3 giai đoạn: trứng, sâu non và sâu trưởng thành, loại biến thái này được chia ra: - Biến thái dần: Sâu non giống với sâu trưởng thành về hình thái, tập tính, môi trường sống và thức ăn như châu chấu, bọ xít, dế mèn, v.v. - Biến thái quá độ: Sâu non chuyển qua giai đoạn nhộng không ăn, không hoạt động như rận phấn, rệp sáp, v.v. 3
  9. Biến thái hoàn toàn S©u non Trøng Nhéng S©u tr−ëng thµnh Biến thái không hoàn toàn S©u non Trøng S©u tr−ëng thµnh Lịch phát sinh năm là một năm có bao nhiêu lứa sâu. Thời gian phát sinh một lứa sâu khác nhau tùy theo loài, có loài mỗi năm 1 lứa, có loài mỗi năm mấy lứa hoặc mấy chục lứa. Khái niệm lứa sâu hay thế hệ sâu để chỉ thời gian tồn tại của tất cả các cá thể sâu do cùng một con mẹ đẻ ra. Để theo dõi các lứa sâu của một loài nào đó người ta phải lập lịch phát sinh sâu. Lịch phát sinh sâu rất quan trọng vì nó cho biết thời điểm và khoảng thời gian xuất hiện của các pha trong vòng đời của sâu từ đó giúp dự tính, dự báo và đưa ra các biện pháp phòng trừ hữu hiệu. 1.2. Khái niệm bệnh cây rừng Bệnh cây rừng là một loại tác hại của tự nhiên, nó tác động và gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển không bình thường của cây rừng, thậm chí làm cho cây bị chết và gây ra những tổn thất về kinh tế và sinh thái. Chúng ta gọi hiện tượng không bình thường đó là bệnh cây (Phytopathology). Khái niệm về bệnh cây rừng bao hàm cả 2 mặt, một là về mặt sinh thái, nghĩa là sự sinh trưởng, phát triển và sự sống bình thường của bản thân cây rừng bị uy hiếp. Mặt khác về mặt kinh tế, nghĩa là lợi ích kinh tế của con người bị tổn thất. Từ khái niệm trên chúng ta có thể hiểu bệnh cây rừng phải có một quá trình thay đổi, về mặt sinh lý, giải phẫu và hình thái khác với sự sinh trưởng phát triển bình thường. Quá trình thay đổi đó có quan hệ với điều kiện môi trường sinh vật, phi sinh vật và có thể làm cho cây chết. Nguyên nhân gây bệnh cây rừng thường bao gồm hai loại: nguyên nhân gây bệnh do sinh vật là chỉ những sinh vật ký sinh lấy cây rừng làm đối tượng hút thức ăn gọi là vật gây bệnh. Những bệnh do sinh vật gây ra đều có thể lây lan truyền nhiễm, nên thường gọi là bệnh truyền nhiễm hay bệnh xâm nhiễm như nấm, vi khuẩn, virus, phytoplasma, tuyến trùng (giun tròn), cây ký sinh, tảo, v.v. và nguyên nhân gây bệnh do phi sinh vật là một loạt các nhân tố không thích nghi đối với đời sống bình thường của cây làm cho cây bị còi cọc, thiếu chất chúng không có khả năng lây lan gọi là bệnh không truyền nhiễm hay còn gọi là bệnh sinh lý. 4
  10. 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sâu, bệnh hại 2.1. Các nhân tố phi sinh vật Các nhân tố phi sinh vật ảnh hưởng đến sâu, bệnh và cây chủ là các yếu tố khí tượng thủy văn và đất đai. Các nhân tố khí tượng gồm nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió mưa trong đó nhiệt độ, độ ẩm là những yếu tố chủ yếu. - Nhiệt độ là đơn vị nhiệt lượng thay đổi theo ngày đêm, các ngày trong tháng và các ngày trong năm. Nhiệt độ làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của côn trùng (sâu hại) và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển cũng như khả năng hoạt động của vật gây bệnh, không chỉ trên cây mà ngay cả trong đất. Tùy từng loại khác nhau chúng có phạm vi tối thấp, tối thích và tối cao. Nhiệt độ tối thích hay nhiệt độ cực thuận là nhiệt độ mà ở đó sâu, bệnh có khả năng sinh trưởng mạnh nhất, phát dục nhanh nhất, tuổi thọ sâu cao nhất, sức sinh sản mạnh nhất, sự tiêu hao năng lượng ít nhất. Do nhiệt độ cơ thể côn trùng (sâu hại) không cố định, cho nên khi nhiệt độ bên ngoài thay đổi thì nhiệt độ cơ thể côn trùng cũng thay đổi theo. Cơ thể côn trùng có sự cảm ứng thuận với sự tăng hay giảm nhiệt độ môi trường. Nhưng sự tăng giảm đó bao giờ cũng trên nhiệt độ thấp và dưới nhiệt độ cao của phạm vi tối thích. Đối với vật gây bệnh, tùy từng giai đoạn sinh trưởng phát triển, tùy từng loại bệnh, ở nhiệt độ khác nhau thì thời gian phát bệnh cũng khác nhau. Bệnh phấn trắng ở nhiệt độ 200C sẽ phát sau 10 ngày nhưng khi nhiệt độ 250C bệnh chỉ phát sau 4 - 5 ngày. Ở nhiệt độ trên 300C thì do bào tử nấm mất khả năng nảy mầm mà bệnh ngừng phát triển. - Độ ẩm không khí và lượng mưa ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sâu, bệnh. Hầu hết các loài vật gây bệnh cây yêu cầu độ ẩm tương đối của không khí cao, thường trên 80%. Ở nước ta độ ẩm cao thường vào mùa xuân hè thuận lợi cho bệnh phát sinh phát triển. Lượng mưa trong năm hoặc trong tháng có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu quy luật sinh trưởng và phát triển của bệnh cây. Trong những tháng mưa nhiều, các loại nấm bệnh trong đất thường gây ra bệnh thối cổ rễ. Nhiều loại bệnh đốm lá thường phát triển lây lan trong mùa mưa. Sương mù có ý nghĩa sinh thái quan trọng đối với vật gây bệnh. Nhiều trường hợp bệnh phát triển rất mạnh trong thời kỳ có sương, chính sương đọng trên lá cây cùng với chất tiết ra của lá tạo điều kiện cho bào tử nấm nảy mầm, cho vi khuẩn di chuyển vào các mô của lá, trời có sương mù, ban đêm lạnh, trời quang hoặc mùa xuân, mùa thu ấm áp nấm bệnh phấn trắng, một số bệnh hại lá kiêm ký sinh phát triển nhiều. Trong cơ thể côn trùng có chứa một lượng nước rất lớn và nước cần cho tất cả các quá trình trao đổi dinh dưỡng, hô hấp, bài tiết theo N.S. Andrianon thì cơ thể côn trùng có chứa từ 45 - 92% nước so với khối lượng của nó. Sự chênh lệch này thường phụ thuộc vào cấu tạo của lớp da, nếu côn trùng có lớp da dày và cứng lượng nước nhiều hơn. Đối với côn trùng việc duy trì sự cân bằng nước trong cơ thể là rất quan trọng mà lượng nước cần duy trì chủ yếu lại nhờ vào độ ẩm không khí và mưa. Khi gặp những trận mưa có cường độ lớn côn trùng có thể chết hàng loạt do va đập hoặc do ngập chìm. Ví dụ: năm 1968 một trận mưa lớn kéo dài 6 ngày đã gây cho sâu thông ở Yên Lập giảm sút từ 1/2 - 2/3 số lượng. - Gió ảnh hưởng đến sự phân bố và hoạt động của sâu, bệnh. Gió giúp cho sự di chuyển của côn trùng đi xa hơn; làm cho sâu trưởng thành không hoạt động được; sâu non rơi 5
  11. xuống khi tốc độ gió lớn. Gió đưa bào tử nấm đi xa để lây lan. Hơn nữa, gió còn ảnh hưởng đến cân bằng nhiệt, nước trong cơ thể và cũng ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của nấm bệnh. Gió mạnh làm yếu cây hoặc gãy đổ cây tạo điều kiện cho nấm mục phá hoại. - Ánh sáng, đa số các loại bệnh cây rừng thích hợp với ánh sáng tán xạ. Một số loại nấm, bào tử chỉ nẩy mầm trong điều kiện ánh sáng tán xạ. Đối với côn trùng ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu về sự tăng giảm nhiệt độ môi trường và từ đó tác động đến sinh hoạt của chúng. - Đất đai là một hoàn cảnh sinh thái đặc biệt của côn trùng. Nhiều loại côn trùng sống trong đất như dế, sâu non bọ hung, sâu non sâu xám, trứng châu chấu. Một số sâu hoá nhộng trong đất như ong ăn lá, ngài trời, ngài sâu đo. Các loài trong đất cũng chọn loại đất khác nhau như châu chấu tre thích ở đất sâu, cứng vừa khai hoang, sâu non bọ hung thích ở nơi đất tơi xốp, sâu xám lại thích nơi đất thịt. Độ pH đất cũng ảnh hưởng đến phân bố của sâu như bọ hung thích nơi đất chua (pH = 4 - 5,2). Mỗi loài côn trùng lại thích nghi với độ ẩm của đất khác nhau. Bọ hung yêu cầu hàm lượng nước trong đất ở 15 – 20%. Chính vì sự thích nghi với độ ẩm đất khác nhau nên phản ứng của côn trùng sống trong đất là di chuyển từ nơi khô đến nơi ẩm. Côn trùng cũng biết di chuyển xuống lớp đất có nhiệt độ thích hợp để tránh nóng hoặc lạnh. Đất còn là nơi tồn tại của các loại nấm thối cổ rễ. Các loại bào tử nấm, hạch nấm, bào tử vách dày qua đông trong đất. Điều kiện đất ẩm và khô thì thời gian sống của chúng kéo dài. Các loại tuyến trùng, vi khuẩn qua đông trên xác cây bệnh rơi rụng trên mặt đất và trong đất. Đất cung cấp dinh dưỡng cho cây có thể thừa hoặc thiếu yếu tố dinh dưỡng nào đó lại có tác dụng thúc đẩy hay ức chế một loại bệnh nào đó. Ví dụ: Đất thừa đạm, thiếu kali cây bị bệnh phấn trắng thường bị nặng. Bệnh đốm lá bạch đàn dễ xảy ra nặng nếu đất khô hạn, nghèo chất dinh dưỡng. 2.2. Các nhân tố sinh vật Thực vật là thức ăn của côn trùng (sâu hại), thành phần thực vật quyết định thành phần và sự phân bố sâu hại. Thức ăn thích hợp thì sự phát triển của côn trùng nhanh, lượng chết ít, pha trưởng thành phát dục tốt và sức sinh sản mạnh. Ví dụ loại sâu xám (Agrotis segetum Schiff) ăn cây rau muối (Chenopodium album L.) là cây thích hợp thì thời gian phát dục từ 40 - 43 ngày. Nếu ăn cây khác thì phải kéo dài tới 90 ngày. Hoặc như loài sâu khoang hại bồ đề ở Yên Bái, nếu thức ăn tốt khối lượng một con nhộng nặng bình quân 0,708 gr ± 0,03. Khi thức ăn kém khối lượng nhộng trung bình chỉ còn 0,65 gr. Ở rừng hỗn giao khác tuổi thì số loài sâu nhiều, nhưng số lượng cá thể trong từng loài lại ít. Ngược lại, trong rừng thuần loại, số loài sâu ít nhưng số cá thể trong loài lại nhiều và dịch sâu thường xảy ra. Những khu rừng sau khi bị cháy xuất hiện nhiều loài sâu đục thân như sâu đinh, xén tóc, mọt Thực vật còn là cây chủ quyết định khả năng xâm nhiễm của vật gây bệnh. Tuổi cây, loài cây, các bộ phận của cây đều có tính kháng bệnh hoặc nhiễm bệnh vì vậy chúng có tác dụng làm thay đổi quá trình xâm nhiễm của bệnh. Các loài ký sinh yêu cầu dinh dưỡng cao thì khả năng chọn lọc cây chủ rõ rệt và các nhân tố của cây chủ rất quan trọng. Có loài chỉ gây 6
  12. bệnh cây này mà không gây bệnh cây khác. Có loài chỉ gây bệnh ở lá mà không gây bệnh ở các bộ phận khác. Nhưng cũng có loài gây bệnh lá, cành non lẫn quả. Động vật là thiên địch của nhiều loài sâu hại. Thiên địch của sâu hại bao gồm các nhóm: - Côn trùng ký sinh: Có hàng chục ngàn loài thiên địch sinh sống trên cơ thể loài côn trùng có hại ở nhiều pha trong quá trình biến thái. Sâu róm thông ở ta có khoảng 30 loài ký sinh. - Côn trùng ăn thịt như bọ ngựa ăn sâu non của nhiều loài sâu hại lá; chuồn chuồn, các loài trong họ hành trùng ăn sâu non của các loài trong bộ cánh vẩy. Mòng ăn sâu, mòng ăn rệp, bọ xít ăn sâu, kiến, bọ ngựa - Các động vật khác ăn sâu hại rừng như chim sâu, chim gõ kiến, cóc, chuột chũi, chồn, lợn rừng Một số loài giun tròn, nấm, vi khuẩn, vi rút ký sinh gây bệnh làm cho côn trùng suy yếu rồi chết. Những côn trùng và các động vật khác lại là nguồn gây bệnh quan trọng cho cây rừng: - Có loại mang trên thân hàng chục loại bào tử nấm. Nhiều vi khuẩn qua đông trong cơ thể côn trùng, tuyến trùng và các động vật đất làm môi giới truyền bệnh khô héo, thối nhũn, sùi gốc. Trong 300 loài virus gây bệnh có 90 loài truyền bệnh bằng côn trùng. Các loại rệp ống có thể truyền 50 loài virus khác nhau. Các loài rận có thể truyền các bệnh virus gây quăn lá. Một số loài tuyến trùng có thể truyền bệnh virus trong đất. - Nhiều loài động vật có xương sống như chim có thể làm lây lan bệnh tầm gửi, động vật rừng làm cho cây gỗ bị thối ruỗng tạo điều kiện cho nấm mục phát triển. - Con người ảnh hưởng đến sự phân bố, lây lan của sâu bệnh từ vùng này sang vùng khác do di chuyển sản phẩm thương mại hoặc do nhập giống không được kiểm tra. Bằng các biện pháp tích cực con người có thể cải thiện môi trường ức chế phát triển của sâu, bệnh. Trong các hoạt động phòng trừ sâu bệnh con người có thể bằng mọi cách khống chế hoạt động của sâu bệnh. Tóm lại, trong tất cả các nhân tố, môi trường phi sinh vật và sinh vật, mỗi một yếu tố không tác động riêng lẻ và đến từng cá thể sâu, từng loại bệnh. Mà các yếu tố sinh thái hợp thành tổng thể, chi phối lẫn nhau, liên quan chặt chẽ với nhau cùng tác động đến quần thể sâu bệnh. Tuy nhiên, trong một thời điểm nhất định một hoàn cảnh nhất định và một địa điểm nhất định sẽ có nhân tố đóng vai trò chủ đạo. 2.3. Sự hình thành dịch sâu Các yếu tố sinh thái thuận lợi, đặc biệt là thức ăn, nhiệt và ẩm độ nơi loài sâu hại sinh sống sẽ làm cho chúng sinh trưởng phát triển rất nhanh. Trên thực tế các trận dịch xảy ra là do sự phát sinh hàng loạt của loài. Tuy nhiên diễn biến của các trận dịch lại không xảy ra một cách đột ngột. Sự phát sinh hàng loạt chính là sự tăng số lượng loài sâu. Nguyên nhân của nó, ngoài các yếu tố ngoại cảnh còn có nguyên nhân bên trong, chủ yếu là quá trình phát triển lịch sử của loài như khả năng sinh sản lớn, vòng đời ngắn, sức sinh trưởng nhanh Khi các 7
  13. nguyên nhân bên trong và điều kiện bên ngoài hoàn toàn thuận lợi, loài sâu hại bắt đầu một quá trình phát triển đến đỉnh cao. Nhưng rồi các yếu tố bất lợi lại xảy ra và trận dịch bị suy giảm. Diễn biến một trận dịch thường xảy ra 4 giai đoạn: - Giai đoạn 1: giai đoạn tiềm tàng Ở giai đoạn này các điều kiện thuận lợi cho sâu hại đã xuất hiện, nhưng bản thân sâu hại chưa chuẩn bị để tiếp thu những thuận lợi đó, dần dần chúng bắt đầu tăng nhanh khả năng sinh sản, tích luỹ lại và chuẩn bị thành dịch. Trong các ổ chuẩn bị thành dịch, mật độ sâu hại thường cao hơn các vùng xung quanh. Tốc độ sinh sản nhanh, tỷ lệ trứng nở tốt. Nhưng ở giai đoạn này tỷ lệ sâu đực so với sâu cái thấp hơn các vùng. Các loài thiên địch của sâu chưa xuất hiện. - Giai đoạn 2: giai đoạn tăng số lượng cá thể trong một số thế hệ Các thế hệ cứ tiếp nhau tăng số lượng cá thể của mình. Đặc điểm của giai đoạn này là cơ thể sâu có nhiều chất dinh dưỡng, nhiều mỡ. Sâu cái đẻ trứng nhiều, thời gian đẻ kéo dài, tỷ lệ trứng nở cao, tỷ lệ sâu non chết thấp. Tỷ lệ sâu cái cao trong quần thể. Cây trồng trong giai đoạn này đang là nguồn thức ăn thuận lợi cho loài phát triển dịch. Một số điểm xuất hiện mật độ sâu cao và gây tác hại nghiêm trọng. Các loài thiên địch thấy có thức ăn (loài sâu hại) tốt đã bắt đầu xuất hiện và hoạt động nhưng mật độ còn thấp. - Giai đoạn 3: giai đoạn cao nhất của trận dịch Ở giai đoạn này, mật độ tương đối của sâu đều ở mức tối đa. Số lượng sâu tăng một cách nhảy vọt, một số yếu tố sinh thái trở nên cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển về số lượng sâu. Hoạt động của từng cá thể cũng tăng lên. Chúng phàm ăn hơn do vậy thiệt hại gây ra cực kỳ lớn, rừng bị hại nghiêm trọng và rất dễ phát dịch, lượng thức ăn giảm sút nhanh. Phần lớn các loài sâu có số con đực ít hơn số con cái nên chúng vẫn có thể sống sót được. Ngược lại số sâu cái, do phải chuẩn bị năng lượng cho sự sinh sản trong khi thiếu thức ăn mà giảm sút và làm cho tỷ lệ sâu đực của thế hệ sau tăng cao. Các loài thiên địch ngược lại có nhiều thức ăn nên tăng lên cả về số lượng lẫn chủng loại. Chúng hoạt động mạnh lên, các diễn biến nói trên làm cho sâu hại bị chết hàng loạt và trận dịch bắt đầu giảm dần. - Giai đoạn 4: giai đoạn suy thoái Do hết thức ăn, do bị thiên địch, sâu hại chết hàng loạt. Số lượng các cá thể giảm đột ngột, sâu cái mất khả năng sinh sản, hoạt động của sâu đực trở nên uể oải, chậm chạp và chết. Kèm theo đó có hiện tượng cạnh tranh thức ăn, đồng thời các loài thiên địch phát triển tới đỉnh cao tiêu diệt loài sâu hại. Sau khi sâu hại giảm xuống, cây cối lại đâm chồi nảy lộc (tất nhiên có một số bị chết hẳn sau 2 - 3 lần bị ăn trụi) và rừng lại phục hồi. Khi dịch phát triển, ngoài việc dùng các biện pháp phòng trừ ở nơi phát sinh dịch, một công việc còn quan trọng hơn là làm sao cho dịch không lan rộng bằng các biện pháp cách ly và phòng ngừa. 8
  14. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SÂU, BỆNH HẠI RỪNG TRỒNG VÀ TÁC HẠI CỦA CHÚNG 1. Sự phân bố và phát sinh, phát triển của một số loài sâu, bệnh hại rừng chủ yếu ở Việt Nam Theo tài liệu trước đây có ghi nhận từ năm 1937 sâu róm thông đã phá hoại mạnh trên nhiều ngọn đồi trồng thông thuộc dẫy núi Nham Biền (Yên Dũng - Bắc Giang). Năm 1940, vùng Tây Bắc bị dịch châu chấu, cào cào tàn phá mọi cánh đồng lúa làm cho người dân phải đi nơi khác kiếm ăn. Tháng 8/1958 sâu thông phá hại nghiêm trọng ở Phú Nham, Phú Điền, Sơn Viện thuộc tỉnh Thanh Hoá, ăn trụi lá thông khoảng gần 100 ha. Năm 1958 và 1959 ở Bắc Giang, sâu róm thông đã hại 160 ha rừng thông đuôi ngựa tại dãy núi Neo, khu vực bến Đám thuộc huyện Yên Dũng, sâu còn ăn cả cây con mới đem trồng được 2 năm, làm thiệt hại khá nhiều cho công tác trồng rừng nơi đây. Từ năm 1959 - 1960 ở Nghệ An đã phát sinh nạn dịch sâu róm thông rất lớn làm trụi 515 ha rừng thông lớn. Những năm gần đây các trận dịch sâu xanh ăn lá bồ đề, ong ăn lá mỡ, sâu đo ăn lá lim, sâu ăn lá muồng đen thường xảy ra, ăn trụi hàng nghìn ha rừng. Nước ta cũng đã từng xảy ra các loại bệnh dịch nguy hiểm như bệnh khô cành bạch đàn ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, ở Thừa Thiên Huế 500 ha, ở Quảng Trị trên 50 ha. Bệnh khô xám thông, bệnh rơm lá thông, bệnh khô ngọn thông, bệnh thối cổ rễ thông, bệnh vàng lá sa mộc, bệnh khô cành cây phi lao, bệnh khô héo trẩu, bệnh chổi sể tre luồng, bệnh tua mực quế, bệnh sọc tím tre luồng đã uy hiếp nghiêm trọng hàng ngàn ha rừng và ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp ở nước ta. 2. Tình hình và sự rối loạn về sâu, bệnh hại rừng Cũng như các nước trên Thế giới, việc phòng trừ sâu bệnh, nhất là chống dịch tại Việt Nam đã sử dụng nhiều loại thuốc hoá học, với liều lượng và nồng độ không kiểm soát được trong sản xuất nông, lâm nghiệp. Trước mắt đã đáp ứng yêu cầu về phòng trừ sâu, bệnh. Nhưng nó cũng bộc lộ thiếu sót là gây nên sự rối loạn về sâu, bệnh hại rừng và ảnh hưởng tiêu cực đến những khía cạnh của đời sống kinh tế, xã hội như: - Hình thành các chủng sâu, bệnh nhờn thuốc, chống thuốc do tăng thêm nồng độ thuốc cho đến một lúc nào đó sâu hại trở nên không còn mẫn cảm với loại thuốc đó nữa. Đôi khi còn thấy có hiện tượng sâu, bệnh hại đã chống với một loại thuốc nào đó thì nhanh chóng trở nên chống với tất cả các thuốc trong cùng nhóm. Đến năm 1986 đã biết có tới 447 loài côn trùng và nhện chống thuốc. Nguy hiểm hơn là hiện tượng sâu chống nhiều loại thuốc (Multiple resitance). Ở Việt Nam đã có hiện tượng chống thuốc của sâu tơ (Plutella xylostella). Quần thể sâu tơ ở Đà Lạt và ở Tây Tựu (Hà Nội) hầu như đã chống với tất cả các loại thuốc hoá học được sử dụng trong sản xuất hiện nay. Sâu xanh ở các vùng trồng bông Thuận Hải cũng đã chống với hầu hết các loại thuốc được sử dụng trong sản xuất. Sâu khoang hại rau muống ở các vùng trồng rau ngoại thành Hà Nội cũng có hiện tượng tương tự. Nhiều loài nấm gây bệnh, cỏ dại, tuyến trùng và chuột cũng có tính chống thuốc: Theo tài liệu của hãng Bayer (1986) đã biết tới hơn 9
  15. 100 loài nấm bệnh, 48 loài cỏ dại, 2 loài tuyến trùng và 5 loài chuột có tính chống thuốc. - Xuất hiện những loài sâu mới: ở những nơi đã sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phổ biến, người ra thấy xuất hiện một số những sâu hại mới. Trên cây bông, trước đây ở mỗi vùng thường chỉ có vài ba loài sâu hại quan trọng cần tiến hành phòng trừ, thì nay con số này đã lên tới 10 - 15 loài. Ở các vùng nhiệt đới, trên cây chè và ca cao là những cây trồng quan trọng, nhiều loài sâu hại trước đây không ai để ý thì nay đã trở thành những sâu hại quan trọng hàng đầu trên các cây trồng này. - Gây ra hiện tượng tái phát sâu hại: Trong những năm đầu, do tác dụng của thuốc hoá học, mật độ sâu hại có giảm đi. Nhưng trong những năm tiếp theo, mặc dù lượng thuốc sử dụng nhiều lên, nhưng mật độ sâu không những không giảm đi mà còn tăng hơn trước do dùng thuốc nhiều đã làm mất cần bằng sinh học, các loài thiên dịch của sâu, bệnh đã bị tiêu diệt một lượng lớn. Ví dụ: Theo Phạm Văn Lầm (1993) khi điều tra các loại bọ rùa trên bông sau khi phun thuốc giảm từ 12 - 32 con trên 100 cây xuống chỉ còn 0 - 1 con. Nhiều ghi nhận xảy ra tương tự trên chè, cam, quýt, đậu tương, rau Khi phun thuốc, những cá thể sâu hại còn sống sót (thường là do không bị nhiễm độc với liều lượng đủ gây chết) đã bị kích thích của thuốc làm cho chúng sinh sản nhiều hơn, có sức sống cao hơn. - Gây ngộ độc cho người, gia súc và các động vật có ích khác: Thuốc hoá học có thể gây ngộ độc, đau mắt, viêm họng, khó thở thậm chí làm chết người. Thuốc còn gây độc phổ biến là bệnh mãn tính như đau dạ dày, suy nhược cơ thể, thần kinh Theo tổ chức quốc tế liên hiệp người tiêu dùng năm 1986 có khoảng 375.000 trường hợp ngộ độc cho người xảy ra ở các nước đang phát triển, trong đó có 10.000 người đã bị chết. Trong báo cáo điều tra của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1987 cho thấy tỷ lệ người sử dụng thuốc trừ sâu ở các nước Đông Nam Á bị ngộ độc do thuốc trừ sâu lên tới 11,9 - 19,4%. Nhiều gia cầm đã bị chết khi trúng độc trên đồng ruộng, trâu bò ăn phải rơm rạ thu hoạch từ những ruộng lúa đã phun thuốc cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ. Các loại động vật nhuyễn thể, giáp xác, lưỡng thê, thuỷ sản, các loài chim cũng giảm số lượng. Thuốc trừ sâu bệnh còn giết cả vi sinh vật sống trong đất. Đó là mặt trái của thuốc trừ sâu đối với môi trường. - Nhiễm độc môi trường, nguy hại cho động vật hoang dã. Bởi vì phun thuốc lên cây, các động vật sử dụng cây cỏ làm thức ăn đã bị nhiễm độc. Sau đó những động vật này lại là con mồi cho các động vật khác cứ như vậy chất độc được chuyền đi trong “Chuỗi thức ăn” và được “cô đặc” thêm một mức trong mỗi mắt xích của sợi dây chuyền. Nhiều loài động vật hoang dã đã có nguy cơ diệt vong một phần bởi nguyên nhân này. - Tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong các sản phẩm thu hoạch, đặc biệt là rau mầu, hoa quả nhiều khi vượt quá mức tối đa cho phép của tổ chức lương thực thế giới (FAO) và tổ chức y tế thế giới (WHO). 10
  16. Từ lý do trên, ngày 12/3/2002 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định số 16/2002/QĐ-BNN về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam và hàng năm được bổ sung cập nhật. 3. Tác hại của sâu, bệnh đối với cây rừng Sâu, bệnh cây rừng là một thành viên của hệ sinh thái rừng, có tác dụng quan trọng trong việc làm thịnh suy cây rừng; sâu bệnh đóng vai trò của một vật tiêu thụ và phân giải. Song sâu bệnh cũng là đối tượng làm ảnh hưởng đến đời sống của cây, giảm khả năng sinh trưởng của cây, giảm năng suất rừng, thậm chí đã có những trận dịch làm chết hàng loạt cây con ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất lâm nghiệp. Theo thống kê đến nay đã có rất nhiều nơi và nhiều diện tích rừng thông bị sâu róm thông ăn hại, nhiều trận dịch xảy ra làm trụi cả rừng thông. Mới đây sâu róm thông đã phát dịch ở các tỉnh Thanh Hoá (huyện Tĩnh Gia, Hà Trung), Nghệ An (huyện Nghi Lộc), Hà Tĩnh vào năm 2003. Qua điều tra đã ghi nhận được 45 loài côn trùng gây hại, bao gồm các loài như sâu róm thông; ong ăn lá; sâu ăn lá; sâu đục thân; sâu đục cành và sâu đục ngọn thông Về mặt kinh tế rừng, nếu bị nạn sâu hại thông phá thì việc trích nhựa thông phải ngừng lại trong vài năm. Đồng thời sản lượng rừng, lượng sinh trưởng hàng năm của rừng bị tổn hại rất nhiều. Bệnh hại thông cũng đã xảy ra, một số bệnh hại điển hình ảnh hưởng đến sinh trưởng của rừng trồng, sản lượng cây con ở vườn ươm đã được điều tra là bệnh rơm lá thông, bệnh đốm đỏ lá thông, bệnh khô xám lá thông, bệnh tuyến trùng hại thông ba lá, bệnh khô héo ngọn thông. Các loại rừng khác cũng bị thiệt hại lớn do sâu bệnh hại như: bệnh khô cành bạch đàn; bệnh chổi sể tre luồng; bệnh khô xanh cây phi lao; bệnh khô héo trẩu; bệnh loét thân cành keo; bệnh tua mực quế Sâu xanh ăn lá bồ đề, sâu đo ăn lá lim, bọ nẹt hại trẩu, ong ăn lá mỡ, châu chấu hại tre, vòi voi hại tre . 4. Những nghiên cứu về sâu, bệnh hại ở Việt Nam Các nghiên cứu về sâu, bệnh hại ở nước ta đã thừa kế nhiều thành tựu của ngành khoa học sinh thái học côn trùng, bệnh cây của thế giới. Từ những năm 1960, Hoàng Thị My khi điều tra cây rừng khu vực phía Nam cũng đã đề cập đến một số loại nấm hại lá. Nguyễn Sỹ Giao năm 1966 đã phát hiện bệnh khô lá thông hại cây con vườn ươm. Tác giả cũng nghiên cứu về đặc điểm sinh học và áp dụng một số thuốc hoá học để phòng chống bệnh hại này, chủ yếu dùng nước Boóc đô. Đến năm 1969, Nguyễn Sỹ Giao đề nghị gọi bệnh này là rơm lá thông và phát hiện nguyên nhân gây bệnh là do nấm Cerospora pini-densflorae Hori et Nambu. Những nghiên cứu về sinh thái học côn trùng của Vũ Quang Côn, Phạm Bình Quyền, Phạm Ngọc Anh Năm 1971, Trần Văn Mão đã công bố nhiều tài liệu về nấm bệnh trên các loài cây rừng như trẩu, quế, hồi, sở điều kiện phát bệnh và biện pháp phòng trừ, hàng trăm công trình nghiên cứu về bệnh cây rừng đã được đề cập. Năm 1975, Uhlig cùng các nhà khoa học của Viện nghiên cứu lâm nghiệp và Trường đại học Lâm nghiệp, nghiên cứu và thử 11
  17. nghiệm một số loại thuốc hoá học để phòng chống bệnh rơm lá thông ở Quảng Ninh. Năm 1991, Phạm Văn Mạch đã nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh và đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh thối nhũn cây thông ở vườn ươm. Năm 2000 và 2002 Phạm Quang Thu đã nghiên cứu về bệnh tuyến trùng hại thông ba lá ở Lâm Đồng, bệnh khô lá bạch đàn. Mặc dù chưa có nhiều tài liệu nói về bệnh cây trong vườn ươm và rừng trồng được xuất bản tại Việt Nam, nhưng đã có nhiều thông tin về một số loại sâu bệnh có ảnh hưởng tới một số loài cây trồng tại Việt Nam. Sâu róm thông đuôi ngựa phát sinh từ những năm 1959 - 1960 và cho đến nay đã có nhiều lần phát dịch tại Nghệ An, Yên Dũng (Bắc Giang), Đảo Ngọc Vừng (Quảng Ninh), Lương Sơn, Kỳ Sơn (Hoà Bình) làm thiệt hại nhiều diện tích rừng thông và ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và sản lượng nhựa của vài năm tiếp theo. Rồi ong ăn lá thông và cả một số bệnh hại trên cây thông như khô rơm lá thông, khô xám lá thông, rụng lá thông, đốm đỏ lá thông do các loại nấm, bệnh chảy nhựa do vi khuẩn. Ngài độc hại thông ở Gia Lai, Kom Tum năm 2002 - 2003, sâu non của ngài độc này dạng sâu róm với mật độ dày đặc tràn ra đường, vào nhà ở, trường học gây ảnh hưởng và khó khăn không nhỏ cho sinh hoạt và đời sống của con người. Từ năm 1990 Giáo sư Hodges đã đánh giá bệnh cây tại vườn ươm và rừng trồng cây bồ đề, keo, mỡ, thông và bạch đàn trong vùng nguyên liệu của nhà máy giấy và bột giấy Vĩnh Phú. Trong vườn ươm, ông đã quan sát được một loại bệnh nghiêm trọng làm tổn thương lá và thân cây con của bạch đàn Eucalyptus camaldulensis và E. urophylla gây nên bởi nấm Botrytis cinerea. Trong rừng trồng bạch đàn, phát hiện được 2 căn bệnh: Thối mục thân cây do nấm Cryphonectria cubensis trên cây bạch đàn liễu E.excerta lâu năm và bệnh đốm lá Cylnidrocladium trong vườn ươm và rừng trồng, dễ trở thành vấn đề nghiêm trọng trong một tương lại gần. Năm 1990 một đoàn đánh giá hỗn hợp của FAO/UNDP và chính phủ Việt Nam đã thực hiện đánh giá cá dự án VIE/86/026, VIE/86/027 và VIE/86/028 và đã chính thức báo cáo về đe doạ nghiêm trọng của nấm bệnh tại Đồng Nai và Sông Bé và chuẩn bị một dự án kỹ thuật tổng hợp để trình lên chính phủ, FAO và UNDP. Đầu những năm 1990, Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng Đông Nam bộ đã nghiên cứu đánh giá thiệt hại do nấm bệnh bạch đàn gây ra trong các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Sông Bé và khu vực phía Nam của tỉnh Thuận Hải nằm giữa vĩ tuyến 10043’ và 12016’. Kết quả là trên những ô định vị được lựa chọn trong vòng 3 năm liên tiếp kể từ năm 1988, nấm bệnh đã xuất hiện vào đầu tháng 7 trên toàn bộ tán lá, cành và thân cây. Bệnh phát triển mạnh nhất từ tháng 12 đến hết mùa mưa. Sang mùa khô, những cây nhiễm bệnh lại phục hồi được lớp chồi lá mới. Điều quan tâm là mức độ thiệt hại do nấm bệnh gây ra không có sự khác nhau đáng kể trong rừng trồng của các địa phương khác nhau. Ngoài ra, mức độ nghiêm trọng và tỷ lệ nhiễm bệnh tại vùng đất feralít là cao hơn so với vùng đất Bazan và bồi tụ. Do được chăm sóc tốt hơn nên rừng của tư nhân bị thiệt hại ít hơn so với rừng của các đơn vị quốc doanh. Những xuất xứ bạch đàn khác nhau có mức độ dễ bị nhiễm bệnh khác nhau. Bạch đàn Camaldulensis katherime (13801) có sức sinh trưởng tốt nhất. Bạch đàn Camaldulensis Emu Cr. Petford (0522) và Teriticornis Morehead R có khả năng kháng bệnh cao nhất. Ngược lại, bạch đàn Camaldulensis Gillert R (0395) và Camaldulensis Normam R 12
  18. (0499) là những giống dễ bị nhiễm bệnh nhất. Có 3 loại nấm: Cylindroladium, Macrophoma và Cercospora được cho là tác nhân gây nên những loại bệnh trên lá bạch đàn. Năm 1993, một nghiên cứu khác về nấm bệnh đã được thực hiện trong vườn ươm và rừng trồng của 13 tỉnh thuộc dự án WFP4304. Những loài cây nghiên cứu bao gồm: thông (Pinus massoniana, P. merkusii, P.khasya, P.caribeaea, P.teraserium), keo (Acacia mangium) và phi lao (Casuarina equisettifolia). Trong các vườn ươm người ra đã quan sát thấy tỷ lệ cây con bị thối cổ rễ của bạch đàn, keo, phi lao là 70 – 80%. Những nấm bệnh có liên quan đến sự chết yểu của cây con trong vườn ươm là Fusarium, Pestalotiopsis, Bororytis. Đối với bệnh của cây giống bạch đàn tại Thừa Thiên Huế và Quảng Trị, loại nấm có liên quan là Cylindrocladium, nấm Phaeoseptoria eucalyptic được cho là gây nên bệnh đốm lá cây con của bạch đàn E. Camaldulensis, E. teriticornis,E. urophylla tỷ lệ chế yếu của cây con bạch đàn tới 60 – 100% trong các vườn ươm ở những vùng có lượng nước cao của tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế do nấm bạch đàn Cylindrocladium gây ra “bệnh chết ngược” Cylindrocladium cũng được phát hiện trên rừng trồng bạch đàn, đặc biệt trong tháng 11 và 12. Chúng làm cho cây bị rụng lá, cành ngọn bị khô và còn làm cho những cây 1 – 2 năm tuổi bị chết trong mùa mưa. Một loại bệnh thối mục thân cây, Cryphonectria do Hodges phát hiện được trước kia (1990) lại được báo cáo là đã ảnh hưởng đến khoảng 20 - 30% số cây trong rừng trồng bạch đàn E.Teriticornis. Tỷ lệ nhiễm bệnh của bạch đàn E.Camaldulensis là thấp. Năm 1994, Trần Văn Mão nghiên cứu về bệnh lụi cây con và “chết ngược” của bạch đàn tại Quảng Trị, Thừa Thiên Huế cho biết tỷ lệ cây con chết 46,7% (trong tổng số 1.161.000 cây con) trong vườn ươm. Ngoài rừng trồng căn bệnh này (chết ngược cành) đã ảnh hưởng tới 37 ha ở Quảng Trị, 2132 ha ở Thừa Thiên Huế, tỷ lệ mắc bệnh là 34,96%. Bệnh đã làm cho sức tăng trưởng của rừng trồng 2 tuổi bị giảm 15 – 20%. Loại nấm gây bệnh này được xác định là Cylindrocladium. Bạch đàn Camaldulensis xuất xứ Petford được đánh giá là có khả năng nhiễm bệnh cao hơn bạch đàn cùng loài xuất xứ Nghĩa Bình. Năm 1994 Phạm Văn Mạch đã điều tra thiệt hại do nấm bệnh gây ra cho bạch đàn tại miền Nam trong thời gian 1992 - 1993 đã phát hiện: - Có 3 tổ chức nấm bao gồm: Phyllosticta spp, Bottryodiplodia theobromae và Bispora được coi là có liên quan đến căn bệnh “chết ngược” tuy nhiên nguyên nhân chính xác gây nên bệnh này thì chưa xác định rõ ràng. - Bạch đàn E. camaldulensis xuất xứ Petford có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao trong khi đó bạch đàn cũng loài xuất xứ Katherine là loại ít bị nhiễm bệnh nhất. Thiệt hại đối với bạch đàn E. tereticornis là không đáng kể. - Không có sự khác nhau đáng kể về độ nghiêm trọng hoặc tỷ lệ mắc bệnh trên những lập địa khác nhau. Tuy nhiên, dường như trên lập địa bằng phẳng và kém thoát nước thì bệnh gây ảnh hưởng nhiều hơn. - Việc chủng bệnh nhân tạo đã không thành công - Việc phun thuốc chống nấm trên rừng trồng cũng không có hiệu quả. 13
  19. Hiện nay, các rừng trồng Luồng ở Thanh Hoá đang bị một bệnh mới ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và khả năng sinh măng của luồng đó là bệnh sọc tím đang được các nhà nghiên cứu bệnh cây nghiên cứu. 14
  20. CHƯƠNG 3: ĐIỀU TRA, PHÂN LOẠI VÀ DỰ BÁO SÂU BỆNH HẠI RỪNG TRỒNG 1. Điều tra và xác định tỷ lệ sâu bệnh hại Điều tra sâu bệnh hại rừng trồng nhằm mục đích nắm chắc thành phần, mật độ và mức độ hại của từng loài sâu bệnh nhằm xác định những loài sâu bệnh hại nguy hiểm, tương đối nguy hiểm và ít nguy hiểm trên những loài cây trồng chính, từ đó đề xuất những giải pháp phòng trừ phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Điều tra còn giúp cho việc phát hiện những loài côn trùng mới, bệnh mới xâm nhập vào khu vực để nhanh chóng nghiên cứu các giải pháp phòng trừ . Việc điều tra phải tiến hành đơn giản, nhanh chóng nhưng đảm bảo tính khách quan, khoa học và chính xác. Điều tra có chính xác thì dự báo sâu bệnh hại mới có kết quả và làm cơ sở cho việc phòng trừ hiệu quả. 1.1. Chọn tuyến và ô tiêu chuẩn Việc chọn tuyến và ô tiêu chuẩn phải đại diện cho lâm phần. Người điều tra phải có bản đồ địa hình khu vực và hiện trạng rừng, nếu có thêm bản đồ theo dõi sâu bệnh hại những năm trước mà trên đó có những thông tin về tình hình diễn biến của sâu bệnh hại, những khu sinh thái mà sâu bệnh ưa thích để tham khảo thì chọn tuyến và đặt ô tiêu chuẩn sẽ chính xác hơn. 1.1.1. Tuyến điều tra Có độ dài tùy thuộc vào yêu cầu của việc điều tra và quy mô diện tích rừng trong khu vực điều tra. Vạch trước trên bản đồ đường đi qua những khu quan trọng. Nếu địa hình là núi đồi thì tuyến điều tra phải qua các điểm đại diện: chân đồi, thung lũng, sườn và đỉnh đồi. Chú ý quan sát những khu vực đã có dịch hoặc đã bị sâu bệnh phá hại trước đây. Tuyến điều tra có thể theo đường chéo góc hay hình chữ chi, hoặc song song. 1.1.2. Ô tiêu chuẩn Ô tiêu chuẩn là một diện tích rừng được chọn ra để thu thập thông tin đại diện cho khu vực điều tra. Ô tiêu chuẩn đại diện cho khu vực điều tra về các nhân tố địa hình, hướng dốc, độ dốc, loài cây, tuổi cây, mật độ cây, độ tàn che, thực bì tầng dưới, tình hình đất đai và tác động của con người. Ô tiêu chuẩn có thể là hình vuông hay hình chữ nhật. Diện tích ô tiêu chuẩn tuỳ theo từng đối tượng và diện tích rừng trồng mà xác định. Trong điều tra sâu bệnh hại, ô tiêu chuẩn thường được thiết kế có diện tích 1.000m2 - 2.500m2. Ranh giới được xác định bằng cọc mốc; cây điều tra trong ô được đánh dấu bằng sơn hay đeo số. Khi điều tra số lượng và diện tích ô tiêu chuẩn căn cứ vào diện tích rừng trồng tập trung, tuỳ theo tình hình sâu bệnh hại và yêu cầu độ chính xác mà xác định và thường được tính theo phần trăm tổng diện tích điều tra, biến động từ 1 - 2% diện tích khu vực cần điều tra. ở mỗi ô, số cây được điều tra đảm bảo trên 10% tổng số cây trong ô. 15
  21. 1.1.3. Điều tra trong ô tiêu chuẩn Sau khi xác định số lượng ô tiêu chuẩn và vị trí của từng ô, tiến hành triển khai thực hiện các công việc sau: - Lập hồ sơ và kế hoạch điều tra. - Đánh dấu các ô tiêu chuẩn trên bản đồ. - Chuẩn bị các dụng cụ điều tra như: địa bàn, thước dây, cọc mốc, sơn, phấn hay giấy, thước đo chiều cao, đường kính, dao hay kéo cắt cành, dụng cụ đào tìm sâu dưới đất, dụng cụ chứa mẫu sâu hại và các bảng biểu. - Nội dung điều tra trong ô tiêu chuẩn bao gồm: + Mô tả đặc điểm ô tiêu chuẩn, + Điều tra sâu bệnh hại lá, + Điều tra sâu bệnh hại thân, cành ngọn, + Điều tra sâu bệnh hại rễ, + Điều tra mức độ gây hại của các loài sâu, bệnh. Chú ý: phải cập nhật các thông tin về đặc điểm của các ô tiêu chuẩn bao gồm: địa điểm, ngày điều tra, người điều tra; đặc điểm về lâm phần như loài cây, phương thức trồng, tuổi rừng, nguồn giống, mật độ trồng, số cây của ô, đường kính, chiều cao, tàn che, thực bì; đặc điểm về địa hình như độ cao, độ dốc, hướng phơi; đặc điểm đất đai. 1.1.4. Điều tra trên các cây tiêu chuẩn Có thể chọn cây tiêu chuẩn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, phương pháp bốc thăm hay phương pháp 5 điểm. Các công việc chủ yếu được thực hiện bao gồm: - Tiến hành đánh dấu cây tiêu chuẩn bằng băng giấy nến hay bằng sơn, - Đo các chỉ tiêu sinh trưởng của cây như D1,3, Hvn , - Thực hiện các nội dung theo thứ tự điều tra sâu bệnh hại lá; điều tra sâu bệnh hại thân cành ngọn; điều tra mức độ gây hại và điều tra sâu bệnh hại rễ. 1.2. Xác định tỷ lệ cây bị sâu bệnh và mức độ bị hại 1.2.1. Xác định tỷ lệ cây bị sâu bệnh: Tỉ lệ cây bị sâu hại là số cây bị sâu bệnh hại trên tổng số cây điều tra được xác định theo công thức sau: P% = n.100/N Trong đó : n là số cây bị sâu bệnh; N là tổng số cây điều tra 1.2.2. Xác định mức độ bị hại: Việc xác định mức độ bị hại do sâu bệnh gây ra được phân thành các cấp bị hại theo từng phần trên cây rừng được xác định như sau: (1) Đối với sâu bệnh hại lá 16
  22. Cấp I: Hại không đáng kể 1 - 25% tán lá bị trụi Cấp II: Hại nhẹ 26 - 50% tán lá bị trụi Cấp III: Hại trung bình 51 - 75% tán lá bị trụi Cấp IV: Hại nặng 76 - 100% tán lá bị trụi. (2) Đối với sâu bệnh hại cành ngọn Cấp I: Hại không đáng kể. Số cành ngọn bị hại chiếm 1/5 tổng số cành ngọn Cấp II: Hại nhẹ. Số cành ngọn bị hại chiếm 1/5 - 1/2 - 3/4 tổng số cành ngọn Cấp IV. Hại nặng. Số cành ngọn bị hại chiếm > 3/4 tổng số cành ngọn. (3) Đối với sâu bệnh hại quả Cấp I: Hại không đáng kể. Tỷ lệ quả bị hại 1/5 - 2/5 tổng số quả Cấp IV: Hại nặng. Tỷ lệ quả bị hại >2/5 tổng số quả. (4) Xác định mức độ bị hại bình quân Mức độ sâu hại bình quân trong khu vực điều tra tính theo công thức: R% = ∑ni . vi . 100/N.V Trong đó: ni: là số mẫu (cành, ngọn, cây, diện tích) bị hại ở mỗi cấp hại i vi: là trị số của cấp hại I; N: là tổng số cây điều tra V: là số cấp cao nhất, trong trường hợp này V = 4. 1.2.3. Phân cấp mức độ hại Dựa vào mức độ phá hại trên cây, diện tích bị hại và khả năng lan truyền, mà phân hạng theo mức độ hại nguy hiểm, tương đối nguy hiểm và ít nguy hiểm. Mục đích của việc phân hạng này là làm rõ những đối tượng sâu bệnh cần thiết phải quan tâm theo dõi trong quản lý và bảo vệ rừng cũng như định hướng và lập kế hoạch phòng trừ sâu hại hiện tại và trong tương lai. Về phân cấp sâu bệnh hại chia thành 3 mức độ theo các tiêu chuẩn sau: - Nguy hiểm (nặng): Mức độ hại được ký hiệu +++: Từ cấp III đến cấp IV, ảnh hưởng đến sinh trưởng hoặc làm chết cây, diện tích bị hại lớn (> 60 ha). Đã gây thành dịch. Cần ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu phòng trừ hoặc lên kế hoạch phòng trừ. 17
  23. - Tương đối nguy hiểm (trung bình): Được ký hiệu ++: Mức độ hại từ cấp II đến cấp III hoặc ít có khả năng làm chết cây, diện tích bị hại không lớn (30 - 60ha), có khả năng gây thành dịch. Cần chú ý điều tra diễn biến tình hình gây hại của chúng và đưa vào diện ưu tiên nghiên cứu phòng trừ. - Ít nguy hiểm (nhẹ): Thường thấy xuất hiện, mức độ gây hại từ cấp I đến cấp II, ảnh hưởng ít đến sinh trưởng của cây, diện tích bị hại nhỏ và rải rác (< 30ha). Cần theo dõi diễn biến tình hình gây hại của chúng. 2. Phân loại sâu, bệnh và chẩn đoán bệnh 2.1. Phương pháp phân loại sâu, bệnh hại Trong phân loại sâu hại thường sử dụng đến hệ mạch cánh, màu sắc, cách sắp xếp các hình dạng trên cánh và các đặc điểm khác. Trong trường hợp các dấu hiệu trên chưa đủ độ tin cậy phải sử dụng đến kỹ năng xác định bộ máy sinh dục ngoài. Về bệnh cây, xác định bào tử qua kính hiển vi, đặc trưng giải phẫu, gây cấy nhân tạo để xác định nấm bệnh. 2.1.1. Phân loại sâu Trong phân loại sâu, loài là đơn vị phân loại côn trùng. Loài là một tập hợp các cá thể giống nhau có cấu trúc và chức năng giống nhau, trong tự nhiên chỉ có thể lai giữa chúng với nhau và có cùng nguồn gốc. Trên loài là giống, họ, bộ, lớp. Ví dụ: Bọ rầy nâu nhỏ thuộc giống bọ rầy, họ bọ hung, bộ cánh cứng lớp côn trùng. Dưới đây là tóm tắt những đặc điểm chủ yếu của một số bộ chính có liên quan đến lâm nghiệp thuộc lớp phụ có cánh. ™ Kiểu biến thái không hoàn toàn a) Bộ Bọ ngựa (Mantodea): Là bộ côn trùng có thân thể dài, đầu hình tam giác cử động được; râu đầu hình sợi chỉ, miệng gặm nhai, đôi chân trước dạng bắt mồi. Cánh trước và cánh sau khi đứng yên xếp hình mái nhà trên lưng. Bọ ngựa đẻ trứng thành khối bên ngoài được bọc lớp bọt xốp. Sâu non và trưởng thành đều ăn thịt các loài côn trùng khác. Nó là loài có ích trong lâm nghiệp Hình 2.1.1: Bọ ngựa 18
  24. b) Bộ cánh bằng (Isoptera): Bộ này gồm các loài mối. Trên thế giới đã phát hiện được 2.700 loài mối. Nhìn chung các loài trong bộ này thân thể nhỏ bé, râu đầu hình chuỗi hạt, miệng gặm nhai. Mối giống có 2 đôi cánh hình dạng kích thước giống nhau. Khi không bay cánh được xếp bằng dọc trên lưng. Mối sống có tính chất xã hội, trong tổ mối có các dạng: mối chúa, mối vua, mối giống, mối thợ và mối lính. Mối phá hoại cả cây sống lẫn cây chết ở trong rừng và các dụng cụ, công trình bằng tre, gỗ. a. Mèi chóa b. Mèi vua c. Mèi thî d. Mèi lÝnh e. Mèi gièng cã c¸nh Hình 2.1.2: Các loại mối c) Bộ cánh thẳng (Orthoptera): Kích thước cơ thể các loài trong bộ này từ trung bình đến lớn. Râu đầu hình sợi chỉ. Hình lông cứng, hình kiếm. Chân sau thường là chân nhảy. Khi không bay cánh xếp thành hình mái nhà trên dọc lưng. Nhiều loài có ống đẻ trứng và lông đuôi. Trong bộ này có 4 họ liên quan đến lâm nghiệp - Họ sát sành: Tettigonidae - Họ châu chấu: Acrididae - Họ dế mèn: Gryllidae - Họ dế dũi: Gryllotalpidae Chúng là các loài đa thực phá hoại nhiều loại cây nông, lâm nghiệp. 19
  25. a. Ch©u chÊu b. S¸t sµnh Hình 2.1.3: Một số loài trong bộ cánh thẳng d) Bộ cánh đều (Homoptera): Kích thước cơ thể các loài khác nhau. Miệng chích hút, vòi có phân đốt. Hai đôi cánh màng kích thước không giống nhau. Một số không có cánh, khi không bay thường xếp theo mái nhà trên thân. Sâu non và sâu trưởng thành sống ở trên cây, chích hút nhựa cây, trừ sâu non họ ve sầu sống trong đất. Tác hại của chúng là làm cho cây sinh trưởng kém, có khi bị chết. Bộ có 3 họ chủ yếu: - Họ ve sầu: Cicadidae - Họ rệp ống: Aphididae - Họ rệp sáp: Coccidae a b c Hình 2.1.4: Ve sầu (a), Rệp ống (b), Rệp sáp (c) 20
  26. e) Bộ cánh không đều (Hemiptera): Có cơ thể kích thước khác nhau, phần lớn mình dẹp, râu đầu hình sợi chỉ. Miệng chích hút, có vòi phân đốt và cụp xuống dưới thân. Cánh trước là cánh không đều. Khi không bay cánh đặt úp trên lưng. Đa số các loài có tuyến hôi và sống ở trên cạn. Các loài trong bộ này thường chích hút nhựa cây hoặc hút máu côn trùng khác đáng chú ý là các loài thuộc họ: - Họ bọ xít vải: Pentatomidae - Họ bọ xít mai rùa: Scutelleriadae - Họ bọ xít ăn sâu: Reduviidae Hình 2.1.5: a. Bọ xít vải b. Bọ xít mai rùa c. Bọ xít ăn sâu ™ Kiểu biến thái hoàn toàn a) Bộ cánh cứng (Coleoptera): Bộ này có nhiều loài nhất, khoảng 270.000 loài, trong đó có trên 2.000 loài hại rừng nghiêm trọng. Đầu phát triển thường rụt vào đốt ngực trước hay kéo dài thành ống đầu như họ vòi voi. Râu đầu hình lá lợp, hình sợi chỉ, hình răng cưa, hình răng lược. Miệng gặm nhai. Cánh trước là cánh cứng. Khi không bay cánh sau được gập lại nằm dưới cánh trước. Sâu non có 3 đôi chân ngực phát triển hoặc thoái hoá. Nhộng là nhộng trần. Trong lâm nghiệp thường gặp các họ như: - Họ hổ trùng: Cicindelidae - Họ hành trùng: Carabidae - Họ mặt quỷ: Histeriadae - Họ bọ rùa: Coccinellidae - Họ gạc nai: Lucanidae - Họ bổ củi: Elateriadae - Họ bọ lá: Chrysomelidae - Họ sâu đinh: Buprestidae - Họ bổ củi giả: Tenebrionidae - Họ ban miêu: Meloidae 21
  27. - Họ xén tóc: Cerambycidae - Họ vòi voi: Curculionidae - Các họ mọt: Ipidae, Platypodidae Hình 2.1.6: Một số loài thuộc bộ cánh cứng 22
  28. b) Bộ cánh màng (Hymenoptera): Các loài trong bộ này kích thước rất khác nhau. Đầu đều hướng xuống dưới. Râu đầu có nhiều dạng khác nhau. Hình đầu gối, hình răng lược, hình sợi chỉ, hình lông chim Miệng gặm nhai, hoặc gặm hút. Có 2 đôi cánh màng, 1 vài loài có cánh ngắn hoặc không có. Riêng họ ong mật có đôi chân sau là chân lấy phấn, còn lại là chân đi. Sâu non có đầu phát triển, không có chân hoặc có 3 đôi chân ngực từ 6 - 8 đôi chân bụng. Nhộng trần năm trong kén tơ hoặc buồng nhộng. Trong lâm nghiệp ta thường gặp các loài thuộc các họ: - Họ ong ăn lá: Tenthredinedae, Diprionidae - Các họ ký sinh: Ichneumonidae, Baraconidae, Chalcididae - Họ ong mật: Apidae - Họ kiến: Formicidae a a. Ong ¨n l¸ c. Ong cù phong b. Ong ®ôc th©n d. Ong kÐn Hình 2.1.7: Một số loài thuộc bộ cánh màng c) Bộ hai cánh (Diptera): Bao gồm các loài ruồi, muỗi, hiện đã biết trên 85.000 loài. Miệng kiểu châm, chích, liếm, hút, vòi không phân đốt. Râu đầu hình sợi chỉ, hình cầu lông hoặc ngắn có lông cứng. Có 1 đôi cánh, cánh sau thoái hóa hoặc có dạng chùy, ở một vài loài có ống đẻ trứng giả. 23
  29. Sâu non không có chân, đầu biến thành móc như ruồi hoặc rất phát triển như muỗi. Nhộng trần hoặc nằm trong kén giả. Trong lâm nghiệp thường gặp các loài thuộc các họ: - Họ râu dài: Cecidomylidae - Họ mòng ăn rệp: Syrphidae - Họ mòng ăn sâu: Asilidae - Họ ruồi ký sinh: Tachinidae, Larvioridae Hình 2.1.8: Mòng ăn rệp (a); Mòng ăn sâu (b); Ruồi ký sinh (c) d) Bộ cánh vảy (Lepidoptera): Đó là các loài bướm hoặc ngài, là bộ có số loài khá lớn trong lớp côn trùng được chia ra 16 tổng họ và gần 90 họ. Kích thước thân thể, màu sắc rất khác nhau. Râu dài hình sợi chỉ, răng lược, lông chim, dùi đục Miệng hút hoặc thoái hoá. Có hai đôi cánh vảy được phủ bởi nhiều vẩy, ở 1 vài loài cánh thoái hóa hoặc không có. Sâu non có 3 đôi chân ngực và có từ 2 - 5 đôi chân bụng. Thân thể sâu non nhẵn mịn hoặc có nhiều lông hoặc bướu lông. Nhộng màng có 1 số loài nhộng nằm trong kén tơ. Trong lâm nghiệp thường thấy các loài trong các họ: - Họ ngài đục thân: Cossidae - Họ ngài đêm: Noctuidae - Họ ngài cuốn lá: Tortricidae - Họ bướm cải: Pieridae - Họ ngài trời: Sphingidae - Họ bướm phượng: Papilionidae - Họ ngài kén: Lasiocampidae 24
  30. b a d e g h Hình 2.1.9: Một số loài thuộc bộ cánh vảy 2.1.2. Phân loại bệnh cây ™ Triệu chứng bệnh cây Triệu chứng và đặc trưng bên ngoài của cây bệnh không hoàn toàn là sự thay đổi của bản thân cây chủ mà còn bao gồm cả cơ quan sinh sản hoặc thể dinh dưỡng của vật gây bệnh. Cơ quan sinh sản của vật gây bệnh còn gọi là dấu hiệu bệnh. Có 3 loại triệu chứng tiêu biểu: - Triệu chứng tăng sinh trưởng: phần bị bệnh biểu hiện tăng thêm số lượng và thể tích tế bào, loại này thường có các loại bệnh bướu và chổi sể; - Triệu chứng giảm sinh trưởng: Bệnh biểu hiện giảm nhỏ thể tích và số lượng tế bào phát triển không đầy đủ. Loại này thường có các bệnh nhỏ lá, lùn cây, vàng lá. - Triệu chứng chết thối: Mô và tế bào cây bị bệnh chết. Chúng thường có các bệnh đốm và loét thân cành. 25
  31. ™ Phân loại bệnh cây Phân loại bệnh cây thường dựa vào các đặc trưng triệu chứng để phân loại và đặt tên bệnh cây. Có thể căn cứ vào triệu chứng mà chia ra các loại hình khác nhau của bệnh cây rừng. a) Loại bệnh phấn trắng (Powdery mildew): a. Sîi phô b. Cuèng bµo tö c. Bµo tö Hình 2.1.2: Bệnh phấn trắng Bệnh này do nấm phấn trắng gây ra bao gồm các bệnh: Phấn trắng keo, phấn trắng giẻ, phấn trắng cao su, phấn trắng thừng mực Phần lớn bệnh phát sinh trên lá, có lúc trên quả và cành non. Đốm bệnh thường phủ một lớp bột trắng hình tròn rồi lan dần ra cả lá. b) Loại bệnh gỉ sắt (Rust): a c b a. L¸ bÖnh b. Bµo tö h¹ c. Bµo tö ®«ng d. §èng bµo tö ®«ng e e. Bµo tö ®«ng n¶y mÇm thµnh ®¶m d Hình 2.2.2: Bệnh gỉ sắt Bệnh gỉ sắt do nấm gỉ sắt gây ra, có các bệnh: Gỉ sắt tếch, tre, thông, keo, cà phê, sắn dây, lúa Bệnh thường phát sinh trên lá, mầm non, trên cành, quả. Trên phần bị bệnh có các điểm hoặc phủ một lớp bột màu vàng hoặc dạng sợi hoặc dạng bột, dạng bướu. 26
  32. c) Loại bệnh bồ hóng (Black mildew) a d c b a. L¸ c©y bÖnh Hình 2.2.3 Bệnh bồ hóng b. Vá tói kÝn hä nÊm Meliolaceae c. Xoang bµo tö vµ bµo tö d. Bµo tö ph©n sinh nÊm Capnodium Bệnh này do nấm bồ hóng gây ra, thường phát sinh trên lá, quả và cành non, có các bệnh như: Bồ hóng lá kim, sở, mỡ, nhội, tre, keo, chè Phần bị bệnh hình thành một lớp bột màu đen, lớp bột đen này có thể xóa mất được. Chúng chỉ ảnh hưởng đến tác dụng quang hợp của lá, nhưng ít ảnh hưởng đến các mô tế bào. d) Loại bệnh mốc quả hạt (Mould) Trên quả và hạt thường có các lớp dạng mốc màu xanh lục, màu đen, màu hồng, màu xám, màu đỏ Mốc thường làm cho mô biến chất. Các loại nấm mốc thường có hiện tượng này. e) Loại bệnh đốm (Spots) Bệnh thường gây ra trên lá và quả. Bộ phận bị bệnh thường có các đốm nâu, gần tròn, nhiều cành, có lúc có các vân vòng. Có thể chia ra các bệnh đốm góc, đốm tròn, đốm nâu, đốm đen, đốm vân Trên đốm bệnh thường có các bột mốc, chấm nhỏ đen hoặc dịch nhầy. Nấm, vi khuẩn, virus thường gây nên bệnh này. 27
  33. a a. L¸ c©y bÖnh b. Vá bµo tö b Hình 2.2.4: Bệnh đốm f) Loại bệnh đốm than (Antheracnose) Triệu chứng giống như bệnh đốm nhưng do nấm than gây ra, gồm có các bệnh như: Đốm than sở, đốm than sa mộc. Trên đốm bệnh có lúc xuất hiện dạng dịch nhờn màu hồng. g) Loại bệnh loét (Canker) b a. Th©n loÐt b. Xoang bµo tö vµ bµo tö a Hình 2.2.5: Bệnh loét Bệnh thường xuất hiện ở vỏ cây, do vi khuẩn và nấm xâm nhiễm làm cho vỏ cây nứt ra, lồi lên, có các bệnh: Loét thân cây bạch đàn, bệnh loét thân cây keo. Trên vết loét xuất hiện các chấm nhỏ màu đen. h) Loại bệnh thối (Rots) Bệnh này có thể thấy ở tất cả các bộ phận của cây. Sau khi nấm và vi khuẩn xâm nhiễm làm cho tế bào bị chết, các mô bị phân giải, có thể chia ra thối khô hay thối ướt. Mô thối có thể có mùi khác nhau. Triệu chứng bệnh thối cũng giống như bệnh loét, nhưng phạm vi đốm bệnh rộng hơn, viền nối không rõ. Các bệnh: Thối quả, thối gốc cây, thối cổ rễ. 28
  34. i) Loại bệnh mục gỗ (Decay) Loại bệnh này phát sinh khi chất xellulog hoặc chất lignin bị phân giải, tính chất cơ lý của gỗ bị giảm xuống. Căn cứ vào màu sắc, hình dạng của gỗ mục người ta chia ra mục nâu, mục trắng, mục phiến, mục tổ ong chúng thường do nấm mục sinh ra. Đặc điểm trên gỗ mục sau đó sẽ hình thành thể quả rất lớn gọi là nấm lớn. a b a. Bµo tö cña nÊm b. NÊm mäc trªn th©n c©y Hình 2.2.6: Bệnh mục gỗ k) Loại bệnh chảy nhựa (Resin fluse, gum) Ảnh huởng đến cả cây lá kim và cây lá rộng, các cây thường bị như: Lim, xoan, đào, mận, cam, quýt l) Loại bệnh khảm (Mosaic) Các bệnh khảm là do virus, phytoplasma gây ra bệnh toàn thân, ban đầu lá bị bệnh cục bộ, không xuất hiện dấu hiệu bệnh. Màu sắc lá bệnh không đồng đều, chỗ đậm, chỗ nhạt xen khẽ nhau. Có khi trên lá xuất hiện màu tím, màu đỏ. m) Loại bệnh bướu (Gall) Vị trí bị bệnh cả thân, cành, rễ, thể tích tăng lên, có nhiều hình dạng, kích thước từ vài milimét đến 1 mét. Các bệnh do vi khuẩn, nấm và tuyến trùng có thể gây ra bệnh bướu rễ. 29
  35. a. Vi khuÈn g©y bÖnh b. TriÖu chøng cµnh bÖnh a b Hình 2.2.7: Bệnh bướu n) Loại bệnh mọc chùm (Witches broom) Do nấm, phytoplasma và các nhân tố khác, đỉnh mầm bị ức chế, mầm bất định bị kích thích phát triển thành các cành nhánh nhỏ. Đỉnh mầm cành nhánh nhỏ lại bị kích thích và lại mọc ra nhiều cành phụ khác. Cứ như vậy thành dạng chổi sể hay mọc chùm. Lá của nhánh bệnh thường rất nhỏ. Các loại bệnh phổ biến bao gồm: Chổi sể sau sau, tre, luồng o) Loại bệnh khô héo (Wilt) Do khô hạn, thối rễ, mô mạch dẫn bị tắc đều có thể làm cho cây mất nước mà bị khô héo, sức căng tế bào giảm, lá bị héo, bệnh phát sinh toàn thân. Loại bệnh: Khô héo giẻ, khô xanh phi lao, khô héo trẩu p) Loại bệnh biến dạng (Fasciations) Do nấm, virus và các nhân tố môi trường có thể làm cho cây sinh trưởng khác thường như lá cây nhỏ lại, cành dài ra, quả nhăn nheo Ngoài 15 loại bệnh có triệu chứng đã nêu trên đây, trong thực tế còn gặp các loại bệnh như: - Bệnh thảm lông (Felt) do nhện gây ra - Bệnh cây ký sinh do tầm gửi (Mistletoe), dây tơ hồng (Dodder) - Bệnh đốm do tảo (Algae) gây ra Tuy nhiên triệu chứng bệnh thường thay đổi theo quá trình phát triển của bệnh cây. Triệu chứng loang dần, giữa và cuối thường không như nhau. Những biểu hiện của triệu chứng thường thay đổi theo điều kiện môi trường, nhưng mỗi một loại triệu chứng bệnh trong quá trình biến đổi đều có tính ổn định tương đối, nghĩa là trong một điều kiện nhất định bệnh thường biểu hiện triệu chứng nhất định. Vì vậy cần nắm vững các quy luật biến đổi của triệu chứng mới có thể nhận biết chúng. 30
  36. 2.2. Chẩn đoán bệnh cây Chẩn đoán bệnh cây rừng là sự phân tích và xác định nguyên nhân gây bệnh làm cơ sở cho việc phòng trừ có hiệu quả. Chẩn đoán có nhiều cách tiến hành như sau: 2.2.1. Chẩn đoán theo triệu chứng bệnh Triệu chứng là 1 căn cứ quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh cây. Qua quan sát vị trí bị bệnh, hình dạng, kích thước, màu sắc vết bệnh. Ví dụ như bệnh phấn trắng thường có bột trắng, bệnh bồ hóng lá thường có bột đen, v.v. Tuy nhiên, cùng một vật gây bệnh trên các cây chủ khác nhau hay trên các cơ quan khác nhau của cùng một cây chủ hoặc tùy giai đoạn sinh trưởng của cây chủ mà có triệu chứng khác nhau. Ví dụ: Bệnh thối cổ rễ cây thông có 5 triệu chứng: Thối hạt, thối mầm, khô ngọn lá, đổ non, chết đứng. Có khi vật gây bệnh khác nhau lại cho cùng 1 triệu chứng, ví dụ: Bệnh bướu cây do nấm túi, nấm đảm hay vi khuẩn gây ra. 2.2.2. Chẩn đoán theo vật gây bệnh Phương pháp này là xem vật gây bệnh tồn tại trên mô bệnh làm căn cứ để chẩn đoán bệnh cây. Có thể xác định như sau: - Bệnh do nấm gây ra thường xuất hiện cơ quan sinh sản trên mô bệnh ở giai đoạn sau (có thể quan sát bằng mắt thường, kính lúp hay kính hiển vi); - Những bệnh do vi khuẩn gây ra thường trên mô bệnh có rất nhiều vi khuẩn; - Bệnh do tuyến trùng gây ra thường có tuyến trùng trên nốt sần rễ; - Bệnh do virus, phytoplasma gây ra phải dùng kính hiển vi điện tử mới quan sát được nên chẩn đoán chúng khá phức tạp và khó khăn. 2.2.3. Chẩn đoán bằng thí nghiệm lây bệnh nhân tạo Đây là phương pháp chẩn đoán bệnh cây có tính khoa học nhất để chứng minh tính gây bệnh và tính lây bệnh. Các bước thực hiện bao gồm: - Phân lập vi sinh vật thường xuất hiện trên mô bệnh và đem nuôi chúng trong điều kiện môi trường sinh dưỡng nhân tạo; - Thuần chủng vật gây bệnh để thu được chủng nấm thuần khiết; - Gây cấy chủng nấm thuần khiết lên cây chủ khoẻ mạnh và tạo điều kiện cho chúng phát triển để chúng phát bệnh. Sau đó quan sát những biểu hiện triệu chứng, so sánh với triệu chứng bệnh cũ. Đối với bệnh do virus, phytoplasma chỉ có bằng phương pháp tiếp ghép để chứng minh 2.2.4. Chẩn đoán bằng phương pháp điều trị bệnh − Các bệnh sinh lý do thiếu chất dinh dưỡng thì có thể bón các loại phân hoặc nguyên tố vi lượng, từ kết quả thu được có thể nhận biết được các loại bệnh này. 31
  37. − Các bệnh do virus, phytoplasma, xạ khuẩn gây ra thường có những triệu chứng giống nhau nhưng: + Bệnh do phytoplasma nhạy cảm với Streptomycin + Bệnh do xạ khuẩn rất nhạy cảm với Penicillin + Bệnh do virus không nhạy cảm với 2 loại kháng sinh trên Dùng 2 loại kháng sinh trên xử lý bằng cách tiêm vào cây hay tưới xuống rễ, quan sát hiệu quả điều trị để phân biệt được 3 loại bệnh trên. 2.3. Phương pháp thu thập và làm mẫu sâu bệnh Trong quá trình điều tra, phân loại cần thu thập mẫu sâu bệnh để phân loại và nghiên cứu. Sau mỗi ngày điều tra cần ghi chép và xử lý mẫu vật gây hại. Phương pháp chính được sử dụng xử lý mẫu là ngâm và làm mẫu khô. Nhìn chung, tất cả các loài sâu đều có thể bảo quản bằng cách ngâm Formaldehyde (Foóc môn) pha loãng 4 - 5%, trừ sâu trưởng thành bộ cánh vẩy (bộ cánh phấn, các loài bướm và ngài). Sâu trưởng thành bộ cánh vẩy được xử lý theo phương pháp căng ép bướm. Mẫu bệnh cây được xử lý giống như tiêu bản thực vật: ép phẳng - phơi khô hoặc xử lý hóa chất - ép - phơi. Dụng cụ chứa mẫu ngâm sử dụng các loại lọ thủy tinh nút mài hay là các loại lọ nhựa. Khi tiến hành điều tra thu thập sâu bệnh ngoài rừng, ngâm riêng các pha phát triển của sâu để tránh làm hư hại mẫu vật. Mẫu sâu bệnh sau khi ngâm Foóc môn đủ ngấm (5 - 7 ngày) có thể xử lý thành mẫu khô. Dùng kẹp đưa mẫu ra khỏi đồ chứa, chọn những cá thể còn nguyên vẹn và có tư thế (chân, cánh) tương đối tự nhiên rồi cố định, sửa lại tư thế chân, cánh, râu, đầu trên các giá thể như miếng xốp dày 4 - 5cm giống phương pháp căng ép bướm. Mẫu vòng đời bao gồm đầy đủ các pha của sâu và bộ phận bị hại. Các pha trứng, sâu non, nhộng có thể ngâm hay làm khô rồi để trong ống nghiệm nhỏ, miệng gắn paraphin. 3. Dự báo sâu bệnh hại 3.1. Dự tính về số lượng sâu hại Để dự tính được số lượng sâu hại, cần xác định được các chỉ số sau: - Mật độ tuyệt đối của sâu hại (số sâu/cây, số nhộng/cây/m2; số trứng/cây) - Tỷ lệ cái, đực hay còn gọi là chỉ số sinh dục (điều tra ở giai đoạn nhộng). - Sức sinh sản của sâu hại là khả năng phát triển số lượng cá thể của loài ở lứa sau, thường biểu hiện bằng số lượng trứng đẻ ra của một con cái. - Tỷ lệ tử vong (tỷ lệ chết) của các giai đoạn. Tỷ lệ chết trung bình của côn trùng (trứng, sâu non, nhộng) được tính theo công thức: M = 1 - (1 - t) × (1 - s) × (1 - n) M: Tỷ lệ chết của 1 vòng đời (%) t: Tỷ lệ chết của trứng (%) 32
  38. s: Tỷ lệ chết của sâu non (%) n: Tỷ lệ chết của nhộng (%). Xác định M: chọn một vài cây trong lâm phần đã xác định được rõ số lượng trứng mới đẻ. Theo dõi cho đến khi sâu vũ hóa hết. Sức sinh sản là số lượng trứng đẻ ra ở thế hệ sau, để xác định số lượng trứng có thể sử dụng biện pháp: + Giải phẫu nhộng + Đếm các ổ trứng. ¾ Để tính được sức sinh sản của côn trùng ở các thế hệ khác nhau sử dụng công thức (Bramer, 1929). (a× f)c Ac = (mf+ ) Trong đó: Ac: Sức sinh sản a: Số lượng trứng trung bình của 1 con cái f: Số lượng con cái m: Số lượng con đực c: Số vòng đời cần tính. ¾ Chỉ số sinh dục (tỷ lệ cái đực) của quần thể : f b= (mf+ ) Vậy sức sinh sản Ac = (a × b)c Đây là sức sinh sản tính theo lý thuyết. Trong thực tiễn trứng, sâu non, nhộng còn bị chết do ký sinh và chết do các nguyên nhân khác. ¾ Muốn biết số lượng của lứa kế tiếp, áp dụng công thức sau: F = P × ab (1 - M) F: Số sâu hại ở thế hệ sau P: Mật độ tuyệt đối của nhộng, điều tra ở thế hệ hiện tại a: Lượng trứng đẻ trung bình của 1 con cái b. Chỉ số sinh dục M: Tổng tỷ lệ chết của thế hệ. Ví dụ: Đầu tháng 3, điều tra có trung bình 10 nhộng/cây, lượng trứng đẻ trung bình của 1 con cái là 300 trứng, tỷ lệ cái đực là 1:1, tỷ lệ chết của trứng là 20%, của sâu non 40% và của nhộng 10%. Vậy số lượng sâu của thế hệ sau là: F = 10 x 0,5 x 300(1-0,2)= số trứng 33
  39. = 5 × 300 x 0,8 = 1200 trứng = 1200(1 - 0,4) =720 số nhộng = 720 (1- 0,1) = 648 con/cây 3.2. Dự tính, dự báo khả năng phát dịch của sâu hại 3.2.1. Dự tính, dự báo bằng khí hậu đồ Biểu khí hậu đồ là phương pháp sử dụng hệ toạ độ để biểu diễn nhiệt độ và độ ẩm trung bình của các tháng trong năm. Ứng với mỗi tháng có một điểm trên toạ độ. Nối các điểm của từng tháng theo thứ tự ta được một đa giác mô tả đặc điểm khí hậu một năm của một vùng nào đó. Phương pháp biểu đồ khí hậu dựa trên giả thiết khí hậu có ảnh hưởng quyết định tới khả năng phát dịch của sâu hại và có thể dự báo được trên cơ sở phân tích biểu đồ khí hậu của năm trước, nếu có thể so sánh số liệu của nhiều năm và với điều kiện khí hậu của nhiều nơi. Về mặt lý thuyết khi khí hậu của năm trước năm đã phát dịch tương tự với năm hiện tại thì khí hậu của năm sau rất có thể tương tự năm đã phát dịch tức sâu hại rất có thể sẽ lại phát dịch tại thời điểm đó. Tuy nhiên, việc lặp lại của việc phát dịch chỉ mang tính tương đối, sẽ không có sự trùng lặp 100% dữ liệu, vì vậy cần xác định tỉ lệ thích hợp nhất. Phương pháp biểu đồ khí hậu chỉ thích hợp với những khu vực mà điều kiện sinh học cho sự phát dịch của sâu hại đã khá rõ ràng như khu vực có diện tích rừng thuần loài tập trung lớn và có độ tuổi phù hợp với nhu cầu thức ăn của sâu. 3.2.2. Dự tính, dự báo bằng các hệ số chất lượng Mật độ tuyệt đối lứa sâu hiện tại Hệ số sinh sản (HSSS) = Mật độ tuyệt đối lứa sâu trước Nếu hệ số sinh sản > 1, tức số lượng sâu hại tăng hơn trước Nếu hệ số sinh sản 1 tức là diện tích sâu hại tăng lên Nếu hệ số phân bố < 1 tức là diện tích sâu hại thu hẹp Khả năng phát triển sâu hiện tại Hệ số phát dịch = Khả năng phát triển sâu lần dịch trước Khả năng phát triển = Hệ số sinh sản × Hệ số phân bố. 34
  40. Hệ số này là số liệu quan trọng nhất để dự báo khả năng phát dịch của sâu hại. Nếu hệ số phát dịch tăng lên cao tức là sâu hại đang phát triển mạnh và đang lan tràn trong lâm phần, cần có biện pháp ngăn ngừa. 3.2. Dự báo diện tích và phạm vi gây hại của sâu Diện tích bị hại có liên quan trực tiếp đến mật độ sâu hại. Mật độ càng lớn diện tích bị hại càng nhiều. Căn cứ để tính diện tích sâu gây hại là mật độ tuyệt đối (con/cây), mật độ tương đối (tỉ lệ cây có sâu) và nguồn thức ăn của sâu. Phạm vi gây hại của sâu phụ thuộc vào hướng lan tràn và đặc điểm của lâm phần. Phân bố của nguồn thức ăn, hướng gió, cự ly di chuyển là những yếu tố tác động tới phạm vi gây hại của sâu. Để xác định phạm vi lan tràn của sâu hại, có thể sử dụng phương pháp đánh dấu. 35
  41. CHƯƠNG IV. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU, BỆNH HẠI RỪNG 1. Các biện pháp phòng trừ sâu 1.1. Biện pháp canh tác Trong trồng trọt nói chung và sản xuất lâm nghiệp nói riêng, gieo trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, vừa có tác dụng hạn chế, tiêu diệt sâu hại có hiệu quả tốt. Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật tạo ra những điều kiện sinh thái có lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây khoẻ mạnh sẽ chống chịu được sâu hại hoặc hồi phục nhanh sau khi bị sâu phá hại. Ví dụ: Gieo, trồng đúng vụ, chọn cây trồng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, chăm sóc kịp thời hạn chế cỏ dại Ưu nhược điểm: Phương pháp này rẻ tiền, ít tốn công, đơn giản, không ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường. 1.2. Biện pháp sinh học Là lợi dụng các sinh vật có ích, các chất kháng sinh do chúng tiết ra để hạn chế, tiêu diệt sâu hại, các sinh vật này được gọi là thiên địch của sâu hại như: - Các động vật bò sát, lưỡng cư. - Chim sâu, chim gõ kiến, động vật hoang dã. - Côn trùng có ích như côn trùng có tính bắt mồi, côn trùng có tính ký sinh: Ong ký sinh, ruồi ký sinh, bọ ngựa, bọ rùa. - Các loại nấm, vi khuẩn ký sinh lên sâu, trứng sâu, nhộng gây hại để tiêu diệt sâu. Ví dụ: Sâu non của sâu róm thông hay bị nấm bạch cương, vi khuẩn gây bệnh chết nhũn. Ưu nhược điểm: Bảo đảm cân bằng sinh thái, không gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả cao. Song áp dụng phương pháp này cần phải nghiên cứu kỹ quy luật phát sinh phát triển của sâu hại để có biện pháp tác động đúng lúc. 1.3. Biện pháp vật lý cơ giới - Bắt giết: Ngắt bỏ trứng sâu, cây và cành lá bị sâu hại. - Đánh bả độc, mồi nhử ( cám rang + rau xanh băm nhỏ 40 phần, thuốc sâu 1 phần) đánh bả dế, sâu xám. - Ngăn chặn: Vòng nhựa dính sâu ( dầu thông 10g, tùng hương 1,25g, hắc ín 2g, Vadơlin 1,5g thêm một ít dầu gai) Đào rãnh ngăn sâu quanh vườn ươm. - Dùng nhiệt độ cao và tia phóng xạ. - Dùng ánh sáng bẫy đèn 1.4. Biện pháp hoá học Là dùng những chế phẩm hoá học gây ngộ độc cho sâu, hại để hạn chế và tiêu diệt chúng. Sử dụng đúng kỹ thuật rất tốt. - Ưu điểm: Tiêu diệt nhanh chóng, có khả năng chặn đứng sự lan tràn của dịch hại, mang lại hiệu quả cao. - Nhược điểm: Dễ gây ô nhiễm môi trường, ngộ độc cho người và gia súc, gây hiện tượng quen thuốc cho một số loại sâu hại, phá vỡ cân bằng sinh thái trong tự nhiên. 37
  42. 1.5. Biện pháp kiểm dịch thực vật Nhằm ngăn chặn sâu hại di chuyển từ vùng này sang vùng khác. Ví dụ như chọn cây khoẻ đi trồng rừng, phun thuốc sâu, hại trước khi xuất đi trồng. 1.6. Biện pháp phòng trừ tổng hợp Là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được nhằm duy trì mật độ của loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế. Mỗi phương pháp trên đều có những ưu, nhược điểm nhất định, nên phải áp dụng tổng hợp các biện pháp, tính toán cân nhắc vận dụng khi cần thiết theo nguyên tắc: - Trong hệ thống phòng trừ tổng hợp tất cả các kỹ thuật tham gia cần phải xem xét đến sự hài hoà với các yếu tố môi trường, đặc biệt là cần phải khai thác tối đa những nhân tố gây chết tự nhiên của sâu hại. Mặt khác, tác động của tất cả các kỹ thuật được sử dụng củng phải xem xét đánh giá về mặt này. - Không thể hy vọng và suy nghĩ nông cạn rằng có thể tiêu diệt hết các cơ thể gây hại mà cần hiểu rằng chỉ có thể duy trì mật độ của chúng dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế. - Không thể quan niệm phòng trừ tổng hợp như là một “Quy trình in sẵn” để áp dụng trong mọi trường hợp, ở mọi nơi, mọi lúc, mà cần phải coi đó như là một nguyên tắc cần phải tuân theo để cho phép lựa chọn trong mọi tình huống cụ thể, một giải pháp tối ưu. - Những biện pháp có thể áp dụng được trong phòng trừ tổng hợp thì rất đa dạng và phong phú. Đồng thời, những thành tựu mới trong nghiên cứu khoa học bảo vệ thực vật ngày càng được đưa ra sử dụng trong sản xuất nhiều hơn và rộng rãi hơn, không dừng lại ở một chỗ. 2. Các biện pháp phòng trừ bệnh hại 2.1. Biện pháp kiểm dịch thực vật Kiểm dịch thực vật là một trong những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan bệnh hại nguy hiểm từ nơi này đến nơi khác. Nội dung của kiểm dịch thực vật bao gồm: - Cấm mang các cây hoặc các sản phẩm có bệnh nguy hiểm từ vùng này đến vùng khác, từ nước này đến nước khác. - Khoanh vùng bệnh nguy hiểm phát sinh ở một khu vực nhỏ không cho chúng lây lan rộng và tích cực áp dụng các biện pháp tiêu diệt ngay. - Khi bệnh lây lan đến khu vực mới thì cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp để tiêu diệt. 2.2. Biện pháp kỹ thuật lâm nghiệp Là áp dụng các biện pháp kinh doanh rừng chính xác và phù hợp nhằm làm cho môi trường thích nghi với sinh trưởng của cây con hoặc cây rừng mà bất lợi cho sự phát sinh, phát triển bệnh hại. 38
  43. Phương pháp này tác động toàn diện vào cả 3 nhân tố: vật gây bệnh - cây chủ - môi trường. Nó không những làm giảm chi phí phòng trừ mà còn cải thiện được hệ sinh thái, bảo vệ rừng (không phải sử dụng biện pháp hoá học) một việc làm mang lại nhiều lợi ích. Đối với cây con cần chú ý: - Không làm vườn ươm ở nơi đất ẩm thấp, bí chặt. Nên dùng đất cát pha, thịt nhẹ dễ thoát nước, làm vườn ươm phải lập xa nơi rừng trồng cây cùng loài. - Luân canh cây trồng để tránh sự tích luỹ vật gây bệnh. - Diệt nguồn xâm nhiễm: Thu dọn xác cây bệnh đốt đi. Ví dụ: luân canh phòng trừ được bệnh sùi gốc, thối cổ rễ do tuyến trùng. - Khử trùng đất trước khi gieo ươm nếu phải liên canh. 2.3. Biện pháp phòng bệnh trong kỹ thuật trồng rừng Là chọn đất trồng cây phù hợp để nâng cao tính chống chịu bệnh của cây rừng và chọn loại hình trồng rừng hỗn giao hợp lý. ¾ Phòng bệnh trong chăm sóc rừng: - Phải phát hiện kịp thời, tiêu diệt bệnh ký sinh trước khi chúng gây bệnh, diệt nguồn xâm nhiễm. - Nghiêm cấm việc chăn thả gia súc, tăng cường kiểm tra việc sử dụng lửa trong rừng, việc chặt phá rừng bừa bãi dẫn đến các vết thương cho cây, chính nó là cửa xâm nhập của vật gây bệnh vào cây. ¾ Chọn và chăm sóc giống cây chống chịu bệnh: - Chọn giống có đặc tính chống chịu bệnh cao, có nhiều đặc tính sinh vật học tốt và hiệu ích kinh tế. - Lai hữu tính có định hướng giữa các loài hoặc giữa các giống, các dòng cây (chọn lựa các cặp lai). - Chọn lọc từ những cá thể chống bệnh trong sản xuất và trên nguồn bệnh thực tế (tiến hành xác định khả năng chống chịu bệnh bằng phun hoặc cấy VGB cho cây khoẻ và so với cây dễ nhiễm bệnh). - Gây đột biến - chọn lọc - Công nghệ gen 2.4. Biện pháp phòng trừ sinh vật học Là lợi dụng các sinh vật để phòng trừ bệnh cây bao gồm: - Lợi dụng tác dụng ký sinh bậc II để phòng trừ, ví dụ như sử dụng nấm ký sinh lên dây tơ hồng; sử dụng vi khuẩn hòa tan nấm gây bệnh thối cổ rễ. - Sử dụng nấm không gây độc hoặc ít độc để lấn át những nấm có độ độc cao, ví dụ như nấm gây bệnh loét thân cây sồi có độ độc rất mạnh. Người ta lấy nấm Endothia parasitica ít gây độc tiêm vào thân cây bị loét dẫn đến hạn chế được bệnh loét thân cây sồi. 39
  44. - Sử dụng vi sinh vật này ức chế vi sinh vật khác, ví dụ như dùng nấm Da trải lấn át nấm mục trắng rễ cây thông, vì nấm mục trắng rễ cây thông ưa xâm nhập vào gỗ mới chặt sau đó mới xâm nhiễm vào tế bào sống. - Lợi dụng nấm cộng sinh rễ cây để phòng trừ các nấm bệnh mục rễ, thối cổ rễ 2.5. Biện pháp vật lý cơ giới Là dùng nhiệt, nhiệt điện và các công cụ máy móc đơn giản để tiêu diệt vật gây bệnh, các biện pháp được áp dụng như: - Dùng sức nóng để khử trùng đất: 50 - 700C trong 10 phút để tiêu diệt vật gây bệnh tồn tại trong đất nhất là virus. - Cày phơi ải đất. - Xử lý hạt bằng nước nóng. - Tiêu trừ cây bệnh, lá cây bệnh, thể quả nấm mục. - Rửa hạt bằng dòng nước mạnh áp suất lớn 2 atm các bào tử nấm Fusarium không còn bám trên vỏ hạt giống. - Nạo vết bệnh rồi quét thuốc bảo vệ lên, quét lên vết thương. 2.6. Biện pháp phòng trừ bằng hoá học Là dùng chế phẩm hoá chất để phòng trừ bệnh cây, có các dạng bao gồm thuốc trừ, thuốc bảo vệ và thuốc điều trị. Đây là biện pháp nhanh nhất, tích cực nhất để tiêu diệt nguồn bệnh, nhất là khi bệnh hại đã phát sinh có nguy cơ phát dịch, tuy nhiên phương pháp này cũng có nhiều nhược điểm như: - Gây ô nhiễm môi trường tiêu diệt cả sinh vật có ích. - Chịu ảnh hưởng của thời tiết. - Dễ gây ra tính quen thuốc đối với vật gây bệnh. - Phải có thời gian cách ly bảo đảm an toàn nhất là rau màu, cây ăn quả. - Giá thành cao: Chi phí thuốc, phương tiện, con người sử dụng phải có trình độ kỹ thuật và trình độ quản lý 2.7. Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) 2.7.1. Khái niệm về IPM trong lâm nghiệp: Là biện pháp kết hợp việc khống chế những sinh vật vô hại với lợi ích kinh tế và cân bằng sinh thái là phòng trừ tổng hợp IPM (Integrated Pest Managenment). Cụ thể là: - Phải xuất phát từ nguyên lý sinh thái học. Xem xét toàn diện cân bằng sinh thái, an toàn xã hội và lợi ích kinh tế đề xuất những biện pháp phòng trừ hợp lý nhất, hiệu quả nhất. - Không nhấn mạnh tiêu diệt triệt để vật gây hại mà phải coi trọng việc điều chỉnh số lượng không làm cho nó đạt đến ngưỡng gây hại kinh tế. - Nhấn mạnh việc điều chỉnh và phối hợp nhiều phương pháp phòng trừ trên cơ sở khống chế tự nhiên. Cố gắng ít dùng hoặc tránh dùng thuốc hoá học. 40
  45. 2.7.2. Các bước nghiên cứu IPM - Phân tích vị trí các vật gây hại trong hệ thống sinh thái và xác định ngưỡng kinh tế của một loại bệnh hại chủ yếu - Lập phương án mức độ cân bằng sinh thái của loài bệnh hại chủ yếu. - Tìm biện pháp phòng trừ ảnh hưởng ít nhất đến hệ sinh thái trong tình hình nguy cấp. Nếu phải dùng biện pháp hoá học để phòng trừ thì phải cân nhắc loại thuốc, liều lượng, nồng độ, thời gian và phạm vi sử dụng. - Lập phương án kỹ thuật giám sát, khống chế bệnh hại trong khu vực phát sinh bệnh hại. 2.7.3. Nguyên tắc kinh tế học và chỉ tiêu phòng trừ của IPM Nguyên tắc này chú ý đến việc khống chế và điều chỉnh mật độ hay mức độ bị hại nếu số lượng vật gây hại vượt quá giới hạn nhất định gây ra những tổn thất kinh tế thì mới áp dụng biện pháp phòng trừ cần thiết. Giới hạn trừ hay không trừ gọi là ngưỡng gây hại kinh tế ET (Economic Threshold) ET = CF/E.Y .D.P.S Trong đó: C: Chi phí phòng trừ F: Hệ số điều chỉnh ≥ 1 E: Hiệu quả phòng trừ P: Đơn vị sản phẩm S: Tỷ lệ sống sót hay tỷ lệ nảy mầm của bào tử sau khi phòng trừ Y: Sản lượng khi không bị bệnh D: Tỷ lệ tổn thất trên 1 đơn vị diện tích Chỉ tiêu phòng trừ IPM là mức độ bị hại khi tiến hành phòng trừ. Thực chất là ngưỡng kinh tế (tuy vậy đối với từng loại bệnh ở từng vị trí khác nhau cũng có sự khác nhau). 2.7.4. Điều kiện cơ bản của việc thực hiện IPM Trước khi tiến hành biện pháp IPM, cần thực hiện các bước: - Tìm hiểu động thái bệnh và nhân tố ảnh hưởng đến động thái đó - Tìm hiểu quy luật sinh trưởng của cây rừng và động thái tổn thất của bệnh - Tìm hiểu điều kiện kinh tế xã hội ở khu vực bị bệnh. Phải có số liệu cụ thể của 3 điều kiện trên trong thời gian ngắn nhất, thông qua phân tích thống kê, xây dựng mô hình để tổng hợp, phân tích để rút ra biện pháp phòng trừ tối ưu. IPM phải được thực hiện trên cơ sở của cân bằng sinh thái và kinh tế ứng dụng các biện pháp dự phòng được xã hội tiếp thu có tính chất ức chế hoặc điều chỉnh làm cho nhân tố sinh vật phá hoại việc kinh doanh rừng duy trì ở mức có thể chịu đựng được. Mục đích phòng trừ IPM trong lâm nghiệp cần phải đạt được 3 mục đích: - Phải làm giảm hoặc tiêu diệt số lượng vật gây bệnh hoặc cắt đứt chuỗi xâm nhiễm. 41
  46. - Tăng cường sức đề kháng của cây chủ hoặc bảo vệ cây không cho vật gây bệnh xâm nhiễm. - Cải thiện điều kiện môi trường 3. Một số loại thuốc phòng trừ bệnh cây thường dùng 3.1. Nhóm thuốc diệt nấm vô cơ 3.1.1. Nước Borđô (Bordeaux) Công thức pha chế: 1 phần CuSO4.5H2O + 1 phần vôi sống + 100 phần nước (nồng độ 1%) Cách pha: Cách 1: cho 80% nước hoà tan phèn xanh vào chậu 1; 20% nước còn lại hoà tan vôi sống vào chậu 2, đổ từ từ dung dịch phèn xanh sang dung dịch vôi vừa đổ vừa khuấy đều. Cách 2: cho 50% nước hoà tan phèn xanh vào chậu 1; 50% nước hoà tan vôi sống vào chậu 2, đổ từ từ cả 2 dung dịch vào chậu thứ 3 vừa đổ vừa khuấy đều. Yêu cầu sản phẩm: Dung dịch xanh da trời, hạt nhỏ mịn độ lắng chậm Chú ý: Không dùng dụng cụ kim loại để pha chế trừ dụng cụ bằng đồng; Không dùng nước cứng để pha thuốc; Nếu không có vôi sống phải dùng vôi tôi thì phải thêm 30% khối lượng; Boóc đô pha xong dùng ngay không được để quá 24 giờ; Nhất thiết phải pha theo một trong hai quy tắc trên; Nên phun khi trời râm mát vào buổi chiều; Nồng độ phun 0,5 - 1%; Không dùng chung, pha lẫn hoặc dùng sau hay trước với thuốc có lưu huỳnh sẽ làm mất tác dụng của hai loại thuốc. Tác dụng của thuốc với việc phòng các bệnh: Thối cổ rễ, mốc sương, đốm lá, đốm than, mốc xám, rụng lá, loét vỏ do vi khuẩn nhưng ít tác dụng với bệnh phấn trắng, gỉ sắt. Thời gian hữu hiệu 15 ngày. Ngoài ra hồ Borđô pha nồng độ đặc và thêm mỡ động vật để phòng trừ các bệnh thân cành. 3.1.2. Hợp chất lưu huỳnh - vôi (ISO). Công thức pha chế: 1 phần vôi sống + 2 phần lưu huỳnh + 10 phần nước Cách pha: Lấy một ít nước hoà tan vôi thành dạng hồ. Cho bột lưu huỳnh vào trộn đều, sau đó thêm đủ nước. Đánh dấu lượng nước của hỗn hợp ban đầu, đun thời gian sôi 50 phút, vừa đun vừa khuấy và bổ sung lượng nước bay hơi bằng nước sôi. Yêu cầu sản phẩm: Hợp chất có màu nâu đỏ sẫm thì đưa xuống, lọc lấy nước cốt đem dùng. Chú ý: Khi pha chế và bảo quản: Dung dịch tiêu chuẩn khoảng 220Bé; Khi sôi, đun lửa đều hơi nhỏ đủ để hỗn hợp sôi. Chất lượng thuốc do ngọn lửa đun quyết định. Bảo quản trong chai, trên phủ 1 lớp dầu hỏa 2 cm, nút kín để chỗ mát, thoáng; Nếu để lâu có kết tủa tạo thành CaSO4È 42
  47. Tác dụng: Bảo vệ và điều trị các bệnh phấn trắng, gỉ sắt, đốm than, loét thân cành, thảm nhung ở cây vải, rệp, nhện đỏ xoăn lá đào không phòng trừ được bệnh mốc sương. 3.2. Nhóm thuốc diệt nấm hữu cơ 3.2.1. Zineb: C4H6SZn Là thuốc bột màu trắng xám, vàng nhạt, mùi hắc. Tác dụng phòng trừ các bệnh: Khô lá sa mộc, đốm lá, đốm than trẩu, gỉ sắt, rụng lá thông, rụng lá, khô cành, xoăn lá, thối hoa, thối nhũn. Nồng độ dùng 0,4 - 0,8% 3.2.2. PCNB (Pentaclorua nitrobengen) C6Cl5NO2 Dạng bột vàng hoặc trắng xám, dùng để xử lý hạt, xử lý đất phòng trừ bệnh thối cổ rễ, thối gốc. - Xử lý hạt dùng liều lượng 0,3 - 0,5% khối lượng hạt - Bón phòng trừ thối gốc cây, cây 10 năm tuổi trở lên bón 0,5 kg/1 cây. Tác dụng diệt nấm do - NO2, - NH2 hoặc - SH trong tế bào nấm thay thế bằng nguyên tử Cl mà gây ra độc cho nấm bệnh. 3.2.3. Daconin, Chlorothalomin, TPN: C8N2Cl4 Daconin là tinh thể màu trắng, không mùi, không vị, là dạng thuốc sản phẩm công nghiệp mùi hắc, không tan trong nước, ít hoà tan trong hợp chất hữu cơ, không ổn định trong môi trường kiềm mạnh dẫn đến không dùng với ISO. Dùng phòng ngừa các bệnh hại do nấm gây ra như bệnh rụng lá, phấn trắng, đốm quả, đốm than (thán thư), thối cổ rễ, khô ngọn. 3.2.4. Formalin, CH2O Dạng dung dịch, mùi hắc, ổn định, bảo quản không thích hợp nó sẽ biến đổi có bột lắng đọng màu trắng làm giảm hiệu quả thuốc. Độc đối với động vật máu nóng, dễ bốc hơi. Tác dụng: Xử lý đất, xử lý hạt, phòng ở và dụng cụ - Xử lý đất: Pha loãng 50 lần, liều lượng mỗi m2 tưới 18 lít đậy kín 7 ngày, sau đó mở ra xới xáo phơi 3 ngày sau mới gieo hạt hay cấy cây. - Tưới gốc cây bệnh: Pha loãng 20 - 30 lần, 10 ngày tưới 1 lần - Xử lý hạt: Pha loãng 300 lần đậy kín và ủ 30 phút - Trong nhà, kho pha loãng 20 lần rồi đóng kín cửa 24 giờ có thể phòng trừ các bệnh mốc hại cam quýt trong thời kỳ cất trữ. 3.3. Thuốc diệt nấm nội hấp Khi sử dụng thuốc hoà tan trong dịch cây, truyền đến các bộ phận để phòng trừ bệnh. Có những ưu điểm như: Phun lên cây thuốc ngấm vào mô biểu bì để tránh được sự phân giải thuốc do môi trường, kéo dài thời kỳ hữu hiệu, giảm số lần phun thuốc; có thể dẫn truyền đến cả những bộ phận chưa có thuốc; có tác dụng tốt với những bệnh khó phòng trừ như thân, cành, rễ; yêu cầu về độ đồng đều và phủ kín mặt đốm bệnh không cao như các thuốc khác. Ví 43
  48. dụ: Phun vào lá có thể phòng trừ bệnh hại thân, cành, rễ. Xử lý hạt và đất có thể phòng trừ bệnh hại lá, thân cành. Các loại thuốc nội hấp thường được sử dụng bao gồm: - Kitazin, EP, C11H18O3PS hợp chất lân hữu cơ, có hai loại là nhũ dầu và Kitazin bột thấm nước. Tác dụng: Phòng trừ bệnh đạo ôn, đốm lá; - Aliette, phosethyl - Al, (C2H4O3)3Al: là thuốc bột thấm nước, không dùng lẫn với thuốc có tính kiềm. Tác dụng: Phòng trừ bệnh tảo, phun lá, xử lý đất pha 0,2 - 0,4% phun phòng trừ bệnh loét thân, thối rễ, rụng lá thông; - Benlate, Benomyl, Fuzi-one C16H20O3N4: là thuốc dạng bột màu trắng, mùi kích thích, không tan trong nước, tan trong hợp chất hữu cơ, có độ độc thấp, an toàn đối với thực vật. Tác dụng bảo vệ và điều trị. Có thể phòng trừ nhện đỏ, tác dụng phòng trừ tốt với các loại nấm túi và nấm bất toàn. Nấm đảm có tác dụng điều trị. Không thích hợp với gỉ sắt và tảo. - Bavistin, Carbendazim, C8H12O2N3: là thuốc dạng bột thấm nước 25% và 50%. Tác dụng: Bảo vệ và điều trị, phạm vi diệt nấm rộng như phòng trừ bệnh phấn trắng, đốm lá, thối cổ rễ, khô ngọn, đốm than, thối gốc, thối rễ. 3.4. Chất kháng sinh và thuốc diệt nấm bằng cây cỏ - Cycloheximide C15H15O4N ổn định trong môi tường chua bị phân giải trong môi trường kiềm. Tác dụng diệt nấm, diệt cỏ, động vật thân mềm. An toàn với cây nên ở Châu Âu, Mỹ, Nhật hay dùng. - Streptomyxin: Phòng trừ bệnh loét thân, đốm đen khoai, chổi sể, phấn trắng cây cao su. 3.5. Thuốc diệt tuyến trùng Sử dụng hạt na, hạt củ đậu, lá xoan, cọng và lá cây thuốc lào, thuốc lá chiết lấy nước phun hoặc tưới để trừ sâu xám, sâu non bọ hung ăn hại rễ cây. Vidden D. Nemagon; Vapam; Funadan; Temik; REE- 200; 4. Các biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh 4.1. Các dạng thành phẩm của thuốc trừ sâu bệnh Những dạng thành phẩm của thuốc trừ sâu thường dùng hiện nay bao gồm: - Thuốc sữa là loại thuốc có dạng lỏng, có màu sắc khác nhau, khi tan trong nước có dạng sữa (nhũ tương) - Thuốc bột thấm nước là loại thuốc có dạng bột mịn, có màu sắc khác nhau và khi tan trong nước có dạng huyền phù. - Thuốc bột là loại thuốc ở dạng bột mịn, có màu sắc khác nhau và không tan trong nước Ngoài những loại thuốc trên, còn có các loại thuốc như: thuốc viên, thuốc nhão, thuốc kết tinh, 44
  49. 4.2. Các biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu Dựa vào tính chất của thuốc, đặc tính sinh vật học của sâu hại và điều kiện môi trường người ta có thể áp dụng một số biện pháp sử dụng sau: Phun thuốc, xông hơi và xông khói, bón thuốc vào đất, bả độc, 4.2.1. Phun thuốc: Có hai cách phun thuốc là phun lỏng và phun bột. Phun lỏng: Dựa vào yêu cầu sản xuất và phương tiện sử dụng. Phun lỏng lại chia ra thành các dạng: Phun mưa, phun sương và phun mù. - Phun mưa: Thuốc sữa và thuốc bột thấm nước pha với nước cho vào máy không có động cơ, áp suất hơi thấp (bơm 250, bơm con gà, bơm Pomosa, ) để phun. Lượng nước thuốc thường dùng từ 600 - 800 lít/ha cho cây nhỏ; 800 - 2.000 lít/ha cho cây to; - Phun sương: dùng các loại thuốc như trên pha với nước nhưng lượng nước ít hơn từ 1/6 - 2/3 lần. Khi phun sương phải dùng máy có động cơ với áp suất hơi cao như máy S100. Do đó giọt nước thuốc phun ra nhỏ hơn phun nước, đường kính giọt thuốc khoảng 50- 150 micron. - Phun mù: dùng các loại thuốc kỹ nghệ hoà tan trong một dung môi dễ bay hơi. Cho ngay vào máy có động cơ với áp suất hơi rất cao để phun. Đường kính của giọt nước phun ra ra chỉ bằng 20 - 30 micron, chỉ phun hết 5 - 10 lít/ha. Phun bột: sử dụng thuốc bột đã pha chế sẵn cho ngay vào máy phun thuốc bột để phun. Phun bột có ưu điểm không phải dùng nước nên phun nhanh hơn, nhưng nó cũng phụ thuộc vào tốc độ gió và độ bám dính kém, thường được dùng ở vườn ươm. 4.2.2. Xông hơi Biện pháp xông hơi là sử dụng các loại thuốc có khả năng bay hơi, hơi đó gây độc cho sâu hại qua đường hô hấp. Nó được sử dụng trong kho hoặc bao bì kín để diệt các loại sâu hại hạt giống hoặc các loại nông, lâm sản khác hoặc bơm xuống đất để diệt các loại sâu hại rễ và mầm non sống dưới đất. Yêu cầu khi xông hơi là hơi độc phải đi sâu vào các đối tượng được xông, không ảnh hưởng tới sức nảy mầm của hạt, không ảnh hưởng tới phẩm chất của nông, lâm sản hoặc đối tượng được xông. Hiện nay trong lâm nghiệp người ta thường dùng thuốc xông hơi Cloropicrin với lượng từ 28- 35 cc trong 1 m3 không khí để tiêu diệt các loại mọt hại hạt giống và các lâm sản khác trong kho. Để diệt các loài sâu hại vườn ươm nằm dưới đất người ta đã dùng thuốc Bromua 2 methylen (CH3Br) với lượng 4,5 gam cho 1 m đất. Biện pháp xông hơi có ưu điểm: Thuốc xông hơi rẻ không hiếm, tiến hành nhanh gọn nhất là trong kho. Song điều kiện sử dụng khả phức tạp và phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, độ ẩm của không khí và đất. 45
  50. 4.2.3. Bón thuốc vào đất Bón thuốc vào đất hay còn gọi là xử lý đất cũng là biện pháp sử dụng thuốc độc để tiêu diệt nhiều loài sâu hại sống ở dưới đất như sâu xám, bọ hung, dễ dũi Biện pháp bón thuốc vào đất có ưu điểm là đơn giản, dễ tiến hành, nếu làm đúng phương pháp có nhiều trường hợp còn kích thích một số loại vi sinh vật có ích ở trong đất phát triển làm tăng chất dinh dưỡng cho cây trồng. Ngược lại làm không đúng liều lượng hoặc thuốc không phân bố đều trong đất có thể làm cho cây chết, gây hại cho các vi sinh vật có ích. 4.2.4. Làm bả độc Là biện pháp lợi dụng đặc tính xu hoá của một số loài sâu hại để trộn thuốc độc với loại thực ăn mà chúng ưa thích nhất hấp dẫn chúng đến tiêu diệt. Bả độc gồm có: Mồi là những thứ mà sâu hại ưa thích, chất độc là các loại thuốc có tính độc cao về đường tiêu hoá (cách làm cụ thể xem biện pháp cơ giới) Làm bả độc tuy tốn ít thuốc, tác dụng lại cao song mới chỉ dùng được trong một số trường hợp nhất định vì không phải loài sâu nào cũng có đặc tính xu hóa giống nhau. 4.2.5. Những điểm chú ý khi dùng thuốc Để tiêu diệt được sâu bệnh hại, tránh gây hại cho cây trồng, gây độc cho người và các động vật khác. Khi dùng thuốc hoá học phải tuân theo nguyên tắc “4 đúng” nghĩa là: (1) Dùng đúng thuốc: Muốn trừ sâu phải dùng thuốc trừ sâu, muốn phòng trừ bệnh phải dùng thuốc bệnh. Vì thuốc hoá học có nhiều loại khác nhau. Nhưng mỗi loại thuốc lại có hiệu quả khác nhau lên các loài sâu, loại bệnh khác nhau. Do đó khi sử dụng trước hết phải chọn đúng thuốc. Ví dụ thuốc tiếp xúc chỉ tác dụng vào da côn trùng, không thể trộn với thức ăn làm bả độc được. Thuốc bị độc không thể dùng làm thuốc nội hấp để tiêu diệt sâu chích hút được. (2) Dùng đúng phương pháp: Đúng phương pháp có nghĩa là mọi loại thuốc có cách dùng riêng, có loại dùng để phun bột, có loại dùng để xông hơi, có loại dùng để bón xuống đất nên phải dùng đúng cách mới có tác dụng phòng trừ. (3) Dùng đúng liều lượng nồng độ: Nghĩa là phải pha đúng nồng độ, sử dụng đúng liều lượng. Vì nếu nồng độ, liệu lượng quá thấp thì sâu hại không chết, dễ sinh nhờn thuốc. Nếu dùng nồng độ quá cao thì làm hại cây, gây ô nhiễm môi trường và lãng phí thuốc. (4) Sử dụng đúng lúc Khi phòng trừ phải chọn các loại thuốc phù hợp với từng pha biến thái của sâu hại và thời điểm phun thích hợp. Nhiều loại thuốc chỉ có hiệu lực cao khi dùng ở giai đoạn sâu non như thuốc tiếp xúc. Có loại dùng vào ngày nắng to thì gây hại cho cây trồng, có loại phun vào lúc gió thì giảm hiệu quả. Cho nên khi dùng thuốc hoá học chúng ta phải căn cứ từng loại sâu, bệnh, đặc điểm của cây trồng và thời tiết khi sử dụng. 46
  51. CHƯƠNG 5: MỘT SỐ LOẠI SÂU, BỆNH HẠI RỪNG TRỒNG PHỔ BIẾN TẠI VIỆT NAM VÀ CÁCH PHÒNG TRỪ 1. Các loại sâu, bệnh hại phổ biến trong các vườn ươm và cách phòng trừ 1.1. Sâu hại trong vườn ươm và các biện pháp phòng trừ 1.1.1. Nhóm dế: DÕ mÌn DÕ dòi Hình 1.1.1. Nhóm dế Trong vườn ươm cây lâm nghiệp, thường gặp 3 loài trong nhóm dế là: - Dế dũi: Phá hại cây ươm từ tháng 4 đến tháng 10, mạnh nhất là vào tháng 5 và tháng 6. Ban ngày chúng ẩn nấp dưới đất, ban đêm, cả dế non và dế trưởng thành, thường cày những đường ngang dọc trên mặt luống để ăn rễ cây. - Dế mèn nâu lớn: Phá hại mạnh từ tháng 2 đến tháng 4. Ban ngày chúng ở dưới hang sâu khoảng 20 cm, ban đêm chúng bò ra cắn cây non để ăn. - Dế mèn nâu nhỏ: Phá hại mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 5. ban ngày chúng ẩn nấp dưới các đám cỏ khô, ban đêm bò ra ăn cây con. Các biện pháp phòng trừ nhóm dế thường được áp dụng: - Thường xuyên làm vệ sinh xung quanh vườn ươm. Khi làm cỏ phải đổ xa vườn ươm, không được chất đống. - Bón phân hoai, không để hố phân, hố rác gần vườn ươm. - Khi thấy dế xuất hiện, phải đào hang hoặc đổ nước để bắt dế. - Khi dế xuất hiện nhiều cần làm bả độc bẫy dế: đào hố kích thước 40x40x40cm, rồi phủ cỏ lên trên. Mỗi héc ta làm từ 5 - 6 hố bả, mỗi hố cho 1kg bả (bả gồm: rau tươi băm nhỏ + cám rang + thuốc “Dipterex/Vibasu 10H”). 47
  52. 1.1.2. Nhóm bọ hung: Bä hung n©u x¸m bông dÑt Bä hung n©u nhá Bä hung n©u lín S©u non bä hung Bä sõng ®ùc Bä c¸nh cam Bä sõng c¸i Bä võng H×nh 1.1.2. Nhãm bä hung Trong vườn ươm thường gặp những loài bọ hung sau: - Bọ hung nâu lớn: Sâu trưởng thành xuất hiện vào giữa tháng 3 và đầu tháng 4, ban ngày chui xuống đất, chập tối bay ra ăn lá. Sâu trưởng thành sống kéo dài đến 6 hoặc 7 tháng. Chúng đẻ trứng ở trong đất, nơi có cỏ hoai mục. Sâu non sống trong đất chuyên ăn rễ cây non. 48
  53. - Bọ cánh cam: Một năm xuất hiện 2 đợt. Đợt 1 từ tháng 2 đến tháng 5. Đợt 2 vào tháng 11. Sâu trưởng thành bay ra ăn lá các loài cây vào ban đêm. Sâu non sống ở trong đất ăn rễ cây con. - Bọ cánh cam: Một năm có một thế hệ. Thời gian vũ hoá kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8. Sâu trưởng thành ban ngày đậu dưới tán cây, ban đêm bay ra ăn lá. Sâu non sống ở trong đất, phá hại mạnh rễ cây vào lúc chập tối và sáng sớm. - Bọ sừng: Một năm có 1 thế hệ. Sâu trưởng thành xuất hiện từ cuối tháng 6 đến tháng 10, ban ngày đậu trên cây gặm vỏ thành các mảng lớn. Sâu non sống trong đất ăn cả rễ cây con và cây lớn. Các biện pháp phòng trừ thường được áp dụng là: - Xử lý đất trước khi gieo ươm bằng thuốc bột Vibasu 10H. - Dùng bẫy đèn bắt sâu trưởng thành - Nếu có điều kiện có thể tháo nước vào ngâm để giết sâu non và trứng - Khi xuất hiện nhiều sâu trưởng thành có nguy cơ phá hại mạnh thì dùng thuốc bột thấm nước Dipterex/Bassa phun lúc 5 hoặc 6 giờ chiều vào cây cần bảo vệ. 1.1.3. Sâu xám nhỏ Hình 1.1.3: Sâu xám nhỏ Sâu xám nhỏ một năm có 5 - 7 lứa, phá hại ở giai đoạn sâu non. Các biện pháp phòng trừ được áp dụng như sau: - Tháo nước vào ngâm cho chết sâu non, nhộng. - Thường xuyên xới xáo để diệt sâu non và nhộng ở trong đất. - Bẫy đèn bắt sâu trưởng thành. - Tìm bắt sâu non vào lúc sáng sớm ở độ sâu 5 - 10 cm quanh gốc cây bị hại. - Dùng bẫy thu hút hoặc dùng bả độc. - Có thể dùng lá dâm bụt, tỏi, thanh hao, thân và lá cây kim ngân, lá khổ sâm để diệt sâu. 49
  54. 1.2. Bệnh hại trong vườn ươm và các biện pháp phòng trừ 1.2.1. Bệnh mốc hạt Vỏ hạt mọc ra tầng mốc hoặc sợi có nhiều mầu sắc, trên hạt mọc màng dạng sáp nhầy. Có mùi mốc rất dễ nhận biết. Hạt mốc thường biến thành màu nâu, trong hạt có nước nhầy, có hạt chỉ biến màu phôi nhũ, có hạt không mấy thay đổi màu sắc. bệnh này do nhiều loài nấm gây ra như: Mốc xanh, mốc nâu, mốc đen, mốc đỏ, mốc trắng. Phòng trừ bằng cách: - Thu hái hạt kịp thời, tránh gây tổn thương hạt - Trước khi cất trữ phải phơi khô (trừ loại hạt có dầu) sao cho lượng nước trong hạt vào khoảng 10 - 15%. Vứt vỏ hạt xấu, để nơi thoáng mát, nếu được cất trong nhà lạnh có nhiệt độ từ 0 - 40C thì rất tốt. Nơi cất trữ thường xuyên được dọn vệ sinh và khử trùng. - Trước khi gieo, xử lý bằng thuốc tím 0,5% trong 30 phút. 1.2.2. Bệnh thối cổ rễ cây con Triệu chứng là thối mầm trước khi nhú khỏi mặt đất, cổ rễ và đổ gục hàng loạt khi còn là cây mầm, chết đứng khi cây con đã hóa gỗ. Bệnh do một số loài nấm sống hoại sinh trong đất gây ra. Phòng trừ bằng cách: - Đặt vườn ươm nơi có đất tơi xốp, thoát nước, không quá kiềm - Làm đất kỹ và xử lý đất bằng hun nóng, hoá chất (PCNP, Zineb 4 - 6 g/m2, Sun phát đồng 2 - 3% với liều lượng 91/m2) - Gieo đúng thời vụ, tránh gieo lúc thời tiết ẩm, mưa phùn kéo dài, không dùng phân chuồng chưa hoai, - Khi chớm xuất hiện bệnh, phun Ben lát 0,05% vào luống cây gieo ươm. Hình 1.2.2. Cây bị bệnh thối cổ rễ 50
  55. 1.2.3. Bệnh rơm lá thông Triệu trứng: Đầu lá hay giữa lá xuất hiện những chấm nhỏ màu vàng sau lan ra làm cho lá khô. Trên lá khô thấy những chấm nhỏ màu đen xếp hàng song song với nhau, tạo thành từng đám liên tục. Bệnh thường xuất hiện từ những lá gốc sau phát triển lên các lá ngọn. Bệnh do nấm gây ra. Bệnh này còn xuất hiện ở cả rừng trồng. Các biện pháp phòng trừ: - Đặt vườn ươm nơi có đất tơi xốp, thoát nước, - Chăm sóc cây con thường xuyên, chu đáo, không để cây quá dày, - Nhổ bỏ và đốt cây bệnh khi mới xuất hiện, - Phun Boóc đô 1%, 10 ngày phun 1 lần để phòng và chống khi bị nhẹ. a. Lá bệnh b. Cơ quan sinh sản của gây bệnh c. Bao tử đuôi Hình 1.2.3. Bệnh rơm lá thông 1.2.4. Bệnh khô lá thông, sa mu, sa mộc Triệu chứng: Lá vàng từ ngọn lá đến gốc lá, trên lá khô xuất hiện các chấm nhỏ màu đen. Bệnh xuất hiện từ phần ngọn đi xuống. Bệnh do nấm gây ra. Các biện pháp phòng trừ: - Che nắng khi trời quá nắng nóng - Phun Boóc đô 1% hoặc Ben lát 0,05% hoặc Tuzet 0,2% a. MÆt c¾t l¸ bÞ bÖnh b. §Üa bµo tö c. Bµo tö d. Mét ®o¹n l¸ bÖnh Hình 1.2.4. Bệnh khô lá thông, sa mu, sa mộc 51
  56. 1.2.5. Bệnh phấn trắng lá keo Triệu trứng: Hai mặt lá và cành non phủ lớp bột màu trắng, sau đó mép lá khô, quăn lại và chết. Bệnh do nấm gây ra. Các biện pháp phòng trừ: - Tăng cường bón phân tổng hợp NPK cho cây - Phun nước phân hoai vào lá - Phun các hợp chất như lưu huỳnh vôi, Zineb, Amobam, Thiosunfonat, TMTD rất có hiệu quả 1.2.6. Bệnh đốm lá cây lá rộng Triệu chứng: Trên lá xuất hiện những đốm, lúc đầu vàng, sau chuyển thành màu nâu. Khi trời ẩm trên vết bệnh xuất hiện những chấm đen hoặc bột đỏ. Bệnh do nấm gây ra. Biện pháp phòng trừ: - Tăng cường chăm sóc để thúc đẩy sinh trưởng của cây - Cắt bỏ lá bệnh hoặc nhổ cây bệnh để tiêu hủy - Phun Zineb, Tuzet, Ben lát, Kitazin, bavistin 0,05%, 10 ngày phun một lần, phun 2 - 3 lần 52