Bài giảng Quản trị doanh nghiệp công nghiệp - Chương 9: Quản trị chính sách tài chính doanh nghiệp

pdf 33 trang ngocly 24/05/2021 1750
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Quản trị doanh nghiệp công nghiệp - Chương 9: Quản trị chính sách tài chính doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfbai_giang_quan_tri_doanh_nghiep_cong_nghiep_chuong_9_quan_tr.pdf

Nội dung text: Bài giảng Quản trị doanh nghiệp công nghiệp - Chương 9: Quản trị chính sách tài chính doanh nghiệp

  1. Bài giảng quản trị doanh nghiệp công nghiệp
  2. Chương 9. Quản trị chính sách tài chính doanh nghiệp * Mục tiêu: Nắm được bản chất của các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, phân tích được các hoạt động tài chính để có thể đưa ra các chính sách tạo vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả. * Kế hoạch: 6 tiết 9.1. Tổng quan về quản trị tài chính doanh nghiệp 9.1.1. Khái niệm và các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp * Khái niệm tài chính doanh nghiệp: Trong các sách viết về quản trị tài chính, người ta đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau về tài chính doanh nghiệp. Các tác giả đã tìm kiếm khái niệm tài chính trên các vấn đề có tính chất nguyên lý khác nhau của họ, trong đó tập trung vào 5 vấn đề chủ yếu sau: - Cơ cấu của nguồn vốn (giữa vốn có và vốn lạ). - Sự đảm bảo lợi ích cho những người bỏ vốn dưới các hình thức khác nhau. - Khía cạnh thời gian của các loại vốn. - Sự diễn giải các khái niệm về vốn như là tổng giá trị của các loại tài sản dưới hai dạng: “vốn trừu tượng” và “vốn cụ thể”. - Chỉ ra quá trình thay đổi của vốn trong các trường hợp tăng, giảm và thay đổi cấu trúc của nó. Trên cơ sở các vấn đề nguyên lý nêu trên, có thể hiểu: “Tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong các quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của vốn dưới các hình thức có liên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. * Quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị tài chính là việc nghiên cứu, phân tích để đưa ra các quyết định điều chỉnh các mối quan hệ tài chính nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất. ở đây, cần phân biệt giữa 2 khái niệm: Quản trị tài chính và quản trị đầu tư. Mặc dù tài chính và đầu tư đều nghiên cứu các quan hệ kinh
  3. tế liên quan đến vốn sản xuất, song do tính chất, phạm vi và quá trình thực hiện chúng khác nhau nên người ta vẫn có thể phân biệt: - Quản trị tài chính xem xét, quyết định quá trình tạo lập các nguồn vốn (bao gồm tạo lập ban đầu và các tạo lập trong suốt quá trình kinh doanh) và thực trạng tài chính tại các thời điểm nhất định để đảm bảo tốt khả năng thanh toán, hiệu suất vốn kinh doanh và sự ổn định của cơ cấu tài chính tổng thể. - Đầu tư là việc sử dụng nguồn vốn tạo lập được dưới khía cạnh hoạt động kinh tế - kỹ thuật cụ thể để đảm bảo sự hợp lý, tính kinh tế trong cơ cấu tổng thể của doanh nghiệp. Trong quản trị tài chính doanh nghiệp, người ta phân biệt sự tạo lập các nguồn vốn từ bên trong và tạo lập từ bên ngoài, phù hợp với thực trạng tài chính tại các thời điểm và hoàn cảnh nhất định của doanh nghiệp. * Các quan hệ tài chính chủ yếu của doanh nghiệp - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước. - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường vốn, tiền tệ, thể hiện trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn và ngắn hạn cho nhu cầu kinh doanh. + Trên thị trường vốn, doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạn bằng cách phát hành các loại chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu), cũng như việc trả các khoản lãi, hoặc doanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào ngân hàng, hay mua chứng khoán của các doanh nghiệp khác. + Trên thị trường tiền tệ, doanh nghiệp quan hệ với các ngân hàng, vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc khi đến hạn. - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác. Thể hiện quan hệ của doanh nghiệp trong việc huy động các yếu tố đầu vào (như thị trường hàng hoá, dịch vụ, lao động ) và các quan hệ để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầu ra (với các đại lý, cơ quan xuất nhập khẩu, thương mại). - Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp.
  4. Thể hiện mối quan hệ trong suốt quá trình huy động, quản lý và sử dụng các nguồn vốn, cụ thể là thông qua các chính sách tài chính. 9.1.2. Vai trò và các nội dung chính của quản trị tài chính doanh nghiệp * Vai trò - Quản trị tài chính giữ vai trò quyết định trong việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp trên cơ sở các hoạt động phân tích, hoạch định và kiểm soát trong suốt quá trình kinh doanh. - Quản trị tài chính là cơ sở cho việc phân phối và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nền kinh tế vì tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành nên tổng thể nền tài chính quốc gia. * Các nội dung chính của quản trị tài chính doanh nghiệp Trên bình diện tổng thể, quản trị tài chính có các nội dung sau: - Phân tích tài chính doanh nghiệp. - Hoạch định và kiểm soát tài chính doanh nghiệp. - Quản trị các nguồn tài trợ. - Chính sách phân phối. - Quản trị hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ của các lý thuyết đầu tư nên nó nhanh chóng trở thành một ngành nghiên cứu riêng. Bởi vậy, khi nghiên cứu quản trị tài chính doanh nghiệp, người ta tập trung vào các nội dung trên và đầu tư được coi như một nội dung song hành. Xuất phát từ mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, chương này đề cập tới một số nội dung chủ yếu sau: + Báo cáo tài chính và các chỉ số tài chính căn bản. + Chính sách nguồn vốn. + Chính sách mắc nợ của doanh nghiệp. + Chính sách thay thế tín dụng. + Chính sách khấu hao. + Chính sách quản trị dự trữ. + Chính sách bán chịu.
  5. 9.2. Báo cáo tài chính và các chỉ số tài chính căn bản 9.2.1. Báo cáo tài chính Để đưa ra các chính sách tài chính của doanh nghiệp, người ta thường căn cứ vào các báo cáo tài chính. Các báo cáo này thường được sắp xếp, phản ánh theo các chuẩn mực nhất định (theo các quy định của hệ thống kế toán - tài chính quốc gia), thông thường bao gồm: * Bảng cân đối kế toán - Khái niệm: Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính được lập vào một thời điểm nhất định theo cách phân loại vốn và nguồn hình thành vốn, được cấu tạo dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán. - Kết cấu của bảng cân đối kế toán: Bên trái là tài sản: Tức là giá trị toàn bộ tài sản hiện có cho đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Có thể hợp nhất các loại tài sản thành 3 loại sau đây: Tài sản cố định (TSCĐ) Tài sản lưu động (TSLĐ) Tài sản thanh toán (TSTT) Trong mỗi bộ phận lại được chia nhỏ thành các khoản mục chi tiết theo quy định của hệ thống kế toán và yêu cầu quản lý. Bên phải là nguồn vốn: Là giá trị các nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo. ở đây, cơ cấu nguồn vốn được thể hiện và phản ánh tính tự chủ tài chính và chịu trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các bên góp vốn. Có thể hợp nhất các nguồn vốn thành: Nguồn vốn chủ sở hữu (vốn của doanh nghiệp có) Nguồn vốn vay (vốn lạ): Vay dài hạn Vay ngắn hạn Giá trị của hai bên Tài sản và Nguồn vốn của bảng cân đối tài chính bằng nhau đúng theo số liệu đầu kỳ, cuối kỳ. Ngoài ra còn có các loại tài liệu bổ xung với các phần chính của bảng tổng kết như:
  6. - Các loại tài sản, vốn hiện có do doanh nghiệp quản lý, sử dụng nhưng không thuộc sở hữu của doanh nghiệp và cần phải theo dõi, gồm: Tài sản cố định thuê ngoài, giá trị vật tư, hàng hoá giữ hộ, nhận gia công, tài sản khách hàng ký gửi. - Tài liệu bổ xung giải thích một số khoản trong bảng tổng kết tài sản như: nguồn vốn liên doanh, ngoại tệ quy đổi * Bảng báo cáo kết quả kinh doanh - Khái niệm: Nếu như bảng tổng kết tài sản được coi như một sự phản ánh thực trạng tài chính, thì bảng báo cáo Thu - Chi là một báo cáo kinh doanh trong một thời kỳ tương ứng. Nó thể hiện tập hợp các khoản thu, chi và kết quả kinh doanh. Đây là số liệu mà các nhà đầu tư rất quan tâm vì nó phản ánh sinh động toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Tuỳ theo từng hệ thống kế toán mà cấu tạo của bảng báo cáo kinh doanh có thể khác nhau, nhưng nhìn chung nó phản ánh sự chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ với các khoản chi phí, các khoản thuế và cho kết quả về lợi nhuận ròng và phần tái tích luỹ. Thí dụ về doanh nghiệp có bảng báo cáo kết quả kinh doanh như sau: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh Đơn vị tính: Triệu đồng N-1 N Doanh thu thuần Giá vốn hàng bán Lợi nhuận gộp Chi phí bán hàng Chi phí quản lý doanh nghiệp Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Thu nhập từ hoạt động tài chính Chi phí hoạt động tài chính
  7. Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính Tổng lợi nhuận trước thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Lợi nhuận sau thuế Ngoài hai bảng báo cáo tài chính trên, còn có thể sử dụng đến các báo cáo khác như: báo cáo luân chuyển tiền tệ, số dư các quý, các khoản nộp và các báo cáo giải trình, thuyết minh khác. 9.2.2. Các chỉ số tài chính cơ bản Khi xây dựng các chính sách tài chính, doanh nghiệp thường sử dụng tới một hệ thống các chỉ số tài chính để làm căn cứ. Các chỉ số đó mô tả thực trạng bức tranh tài chính doanh nghiệp của một thời kỳ kinh doanh. Chúng được rút ra từ các báo cáo tài chính, phản ánh quan hệ giữa các giá trị tài sản, các tỷ lệ nguồn vốn, quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn cũng như các quan hệ với kết quả kinh doanh. Có thể tổng hợp các chỉ số tài chính theo 4 nhóm sau: - Nhóm 1: Các chỉ số về khả năng thanh toán * Khả năng thanh toán chung = Tæng tµi s¶ n l­u ® éng Tuỳ thuộc vào từng ngành kinh doanhTæng nîvà ng¾ntừng h¹n thời kỳ kinh doanh, song chủ nợ ngắn hạn sẽ tin tưởng hơn nếu chỉ số này lớn hơn 2. * Khả năng thanh toán nhanh = Tæng tµi s¶ n l­u ® éng - Tån kho Tæng nî ng¾n h¹n Nếu chỉ số này 1 có nghĩa là doanh nghiệp không có nguy cơ bị rơi vào tình trạng vỡ nợ. Nhóm 2: Các chỉ số mắc nợ * Chỉ số mắc nợ chung = Tæng sè nî Tæng sè vèn (Tæng tµi s¶ n cã) Về lý thuyết, chỉ số này nằm trong khoảng 0 1 nhưng thông thường nó dao động quanh giá trị 0,5. * Hệ số nợ (k) = Vèn vay Vèn chñ
  8. * Khả năng thanh toán lãi vay = Lîi nhuËn tr­íc thuÕ + L·i vay L·i vay Nhóm 3: Các chỉ số hoạt động * Số vòng quay tồn kho = Doanh thu tiª u thô Gi¸ trÞ tån kho * Kỳ thu tiền bình quân = C¸c kho¶ n ph¶ i thu x 360 ngày Doanh thu tiª u thô * Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn cố định = Doanh thu tiª u thô Vèn cè ® Þnh * Số vòng quay toàn bộ vốn = Doanh thu tiª u thô Tæng sè vèn Nhóm 4: Các chỉ tiêu về doanh lợi: * Chỉ số doanh lợi tiêu thụ = Lîi nhuËn rßng x 100 Doanh thu tiª u thô * Chỉ số doanh lợi vốn = Lîi nhuËn rßng + (L·i vay) * Chỉ số doanh lợi vốn chủ = LîiTæng nhuËn sè rßngvèn Vèn chñ Ghi chú: Các thuật ngữ sử dụng trong các chỉ số trên đây đều được rút gọn với ý nghĩa là các giá trị và không thể hiện đơn vị tính. 9.3. Một số chính sách tài chính quan trọng của doanh nghiệp 9.3.1. Chính sách nguồn vốn * Các loại nguồn tài chính của doanh nghiệp Nền kinh tế thị trường phát triển song hành với một nền tài chính đa dạng và phức tạp. Quá trình tích luỹ và tập trung tư bản là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự hội nhập của tư bản tài chính và tư bản công nghiệp càng làm cho bức tranh tài chính tổng thể phức tạp hơn. Một mặt, tư bản tài chính tham gia vào giới công nghệ bằng việc góp vốn, rồi dẫn đến tự kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác. Mặt khác, các tập đoàn công nghiệp lớn cũng tự mình tổ chức ra các công ty tài chính để ổn định nguồn tài chính cho mình và tiến đến kinh doanh cả trên lĩnh
  9. vực tài chính. Tuy nhiên, không vì thế mà không thể mô tả một cách khá mạch lạc các nguồn tài chính của một doanh nghiệp. Nếu như trong nền kinh tế chỉ huy, nguồn tài chính được hình thành duy nhất từ quỹ tài chính tập trung là ngân sách thì ở cơ chế thị trường nguồn tài chính này càng mất dần ý nghĩa đối với các doanh nghiệp và chỉ đóng vai trò là “nguồn tài chính bao cấp”. Tổng hợp các loại nguồn tài chính có thể được mô tả trong sơ đồ 9.1. sau: Loại nguồn TC của DN TC từ bên ngoài (I) TC từ bên trong (II) I1 I2 I3 II1 II2 I1.1 I1.2 I3.1 I3.2 I3.3 II1.1 II1.2 II1.3 I3.1.1 I3.1.2 I3.1.3 I3.2.1 I3.2.2 I3.2.3 I3.3.1 I3.3.2 Sơ đồ 9.1. Trong đó, tài chính từ bên ngoài (I) gồm các nguồn: I1: Là các nguồn tài trợ từ bên ngoài thông qua sự tham gia trên thị trường tài chính.
  10. I1.1: Các nguồn thông qua hoạt động trên thì trường chứng khoán, chủ yếu dưới hình thức cổ phần. I1.2: Các nguồn không thông qua thị trường chứng khoán. Ví dụ: Những đóng góp vốn không tham gia kiểm soát công ty, nguồn tài chính từ thị trường “đen”, phần thừa kế cho doanh nghiệp, các khoản vay hữu hảo. I2: Nguồn tài chính được tài trợ từ ngân sách, chủ yếu với các doanh nghiệp dịch vụ phúc lợi, hay các doanh nghiệp đang được khuyến khích thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội của chính phủ. I3: Nguồn tài chính lạ. I3.1: Tín dụng dài hạn, trong đó phổ biến là: I3.1.1: Các nguồn vay dài hạn. I3.1.2: Các nguồn bằng phát hành trái khoán ghi nợ. I3.1.3: Các loại trái khoán khác, ví dụ: trái khoán phát hành trong các hiệp hội, các tổ chức công nghiệp, ngành. I3.2: Tín dụng ngắn hạn I3.2.1: Tín dụng ngân hàng, ví dụ như: tín dụng chiết khấu, tín dụng có thế chấp, tín chấp. I3.2.2: Tín dụng thương mại, đặc biệt là tín dụng giao hàng. I3.2.3: Các nguồn tín dụng ngắn hạn khác, ví dụ: tín dụng thanh toán công nghiệp. I3.3: Các nguồn tài chính thay thế tín dụng, chủ yếu dưới 2 loại: I3.3.1: Factoring (chủ yếu với các nguồn ngắn hạn): Tức là nhờ một tổ chức tài chính bảo lãnh nợ. I3.3.2: Leasing (chủ yếu với các nguồn dài hạn) : Là nguồn tài chính có được nhờ hình thức thuê mua. Tài chính bên trong (II) gồm các loại: II1: Nguồn tài chính có được từ quá trình bán hàng, gồm: II1.1: Tự tài trợ từ doanh thu. II1.2: Nguồn tài chính từ giá trị khấu hao. II1.3: Nguồn tài chính từ lợi nhuận tái tích luỹ.
  11. II2: Nguồn tài chính từ các biện pháp quản trị tài chính khả thi. ở đây, các quyết định tài chính trên cơ sở phân tích khoa học các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cũng được coi như một nguồn, thậm chí là một nguồn quan trọng, bởi vì các loại nguồn kể trên tồn tại một cách khách quan, còn vấn đề quyết định vẫn phụ thuộc phần lớn vào các quyết định của các quản trị gia, đặc biệt là khi doanh nghiệp ở trong tình trạng hiểm nghèo. Việc xem xét các nguồn tài chính cho phép thấy rõ hơn bức tranh tài chính tổng thể mà doanh nghiệp có thể nghiên cứu, huy động các nguồn cần thiết, phù hợp cho kinh doanh. * Sự tập hợp các loại nguồn tài chính trong bảng tổng kết tài sản doanh nghiệp Các nguồn tài chính được doanh nghiệp huy động tập hợp vào bên phải của bảng tổng kết tài sản (nguồn vốn). Loại trừ các nguồn phải đi kèm với các tài liệu bổ xung để giải thích thêm về nguồn (ví dụ với Leasing hay Factoring) hay vì lý do ngoại hối, còn lại chúng được tập trung theo nguyên tắc chung sau: Tài sản Nguồn vốn TSCĐ Vốn chủ TSLĐ dự trữ Vốn lạ dài hạn (vay dài hạn) Vốn thường xuyên Vốn lạ (dài hạn) TSLĐ Vốn lạ ngắn hạn thanh toán (vay ngắn hạn) Vốn ngắn hạn Sơ đồ 9.2
  12. Việc huy động nguồn tài chính nào đó đều ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính doanh nghiệp và qua đó ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh. - Huy động nguồn vốn chủ: Tuy có lợi trong việc tự chủ tài chính doanh nghiệp nói chung, song các hình thức tác động lại rất khác nhau. Giả sử phát hành thêm cổ phần, thường thì chi phí phát hành cao, có thể bị chia quyền kiểm soát. Phần lợi nhuận tái tích luỹ thường là hạn chế vì bị ảnh hưởng bởi chính sách phân phối, hơn nữa có thể gây tâm lý thụ động. - Huy động nguồn vốn lạ: Trước hết, nó ảnh hưởng đến tự chủ tài chính, sau nữa là gánh nặng vì phải trả lãi vay, nhất là trong điều kiện kinh doanh khó khăn. Hơn nữa, cơ cấu trong bản thân nguồn vốn lạ (giữa dài hạn và ngắn hạn) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp - một nguy cơ đe doạ khả năng phá sản do mất khả năng thanh toán. Tóm lại, việc huy động các nguồn tài chính cho doanh nghiệp luôn là một trong những quyết định căn bản của quản trị tài chính doanh nghiệp nói chung. Nó phải xuất phát từ những phân tích, tính toán xác đáng. * Chính sách tài trợ Việc thực hiện chính sách huy động phải dựa trên sự lựa chọn chính sách tài trợ. Có 3 chính sách tài trợ sau: - Chính sách tài trợ cân bằng: Tức là tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên được tài trợ bằng các nguồn vốn dài hạn. Chính sách này cho phép doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và thanh toán nhanh một cách an toàn, bởi vì các tài sản lưu động thường xuyên gắn liền với chu kỳ kinh doanh và gắn liền với các khoản thu của doanh nghiệp. - Chính sách tài trợ vững chắc: Tức là không những TSCĐ và TSLĐ thường xuyên, mà ngay cả một phần TSLĐ biến đổi cũng được tài trợ bằng các nguồn vốn dài hạn. Chính sách này không những đảm bảo chắc chắn cho khả năng thanh toán nhanh mà còn cho phép doanh
  13. nghiệp kinh doanh trên phần vốn tạm thời nhàn rỗi này bằng việc tham gia vào các phi vụ thương mại, đầu tư chứng khoán có lãi cao. Tuy nhiên, chính sách này cũng thường ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh chung, vì thông thường phí tổn vốn dài hạn cao hơn phí tổn vốn ngắn hạn. Vốn ngắn hạn TSLĐ biến đổi TSLĐ thường xuyên Vốn dài hạn = Vốn chủ + Các tín dụng dài hạn, TSCĐ trái phiếu Sơ đồ 9.3 - Chính sách tài trợ mạo hiểm: Tức là nguồn vốn ngắn hạn tham gia tài trợ cho cả các TSLĐ thường xuyên, thậm chí cho cả TSCĐ. Chính sách này rất dễ đẩy doanh nghiệp vào tình trạng mất khả năng thanh toán nhanh. Nó có thể được áp dụng đối với các doanh nghiệp được Nhà nước cung cấp cho chịu với kỳ hạn dài và số lượng lớn, nhưng cũng vì thế lại khó có thể áp dụng chính sách bán chịu, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nói chung. 9.3.2. Chính sách mắc nợ của doanh nghiệp Việc huy động các nguồn vốn dẫn đến thay đổi cơ cấu vốn và do đó làm thay đổi hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, chính sách mắc nợ được coi như chìa khoá đảm bảo cho doanh nghiệp tránh rủi ro phá sản, đồng thời đạt được hiệu quả kinh doanh thoả đáng. * Hệ số mắc nợ và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vèn vay V k = = v Vèn chñ së h ÷ u V c
  14. Hệ số mắc nợ này có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là hiệu quả của vốn chủ sở hữu. Để biểu diễn mối quan hệ này, có thể xây dựng công thức sau: Lnc = Lnv + k (Lnv - i) Trong đó: Ln: Lợi nhuận ròng. Vv: Vốn vay. Vc: Vốn chủ sở hữu. Lv: Lãi vay (tuyệt đối). Lnv: Chỉ số doanh lợi vốn. Lnc: Chỉ số doanh lợi vốn chủ sở hữu. i: Lãi suất vay vốn bình quân. Nhìn vào công thức này ta thấy: Suất doanh lợi vốn chủ phụ thuộc vào 3 tham số, trong đó: - Lnv là kết quả của nỗ lực kinh doanh toàn doanh nghiệp. - i được quyết định bởi rất nhiều yếu tố của nền kinh tế quốc dân, nói cách khác đây là yếu tố khách quan, nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp, thông thường do ngân hàng quyết định. - k là nhân tố nhạy cảm nhất và phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách huy động vốn của doanh nghiệp. * Chính sách mắc nợ Có thể nói, chính sách mắc nợ của doanh nghiệp thực chất là việc điều chỉnh hệ thống mắc nợ nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất cho vốn đầu tư của chủ sở hữu (vốn ngân sách, vốn sáng lập viên, vốn cổ phần nói chung ). Có 2 chính sách mắc nợ sau: - Chính sách mắc nợ linh hoạt: Là việc điều chỉnh hệ số theo diễn biến của từng thời kỳ kinh doanh cụ thể. Chẳng hạn trong thời kỳ tốt đẹp, có nghĩa là doanh lợi vốn (Lnv) cao thì nâng cao hệ số mắc nợ sẽ làm cho suất doanh lợi vốn chủ được nâng cao. Khi đó, việc huy động vốn vay là có hiệu quả. Ngược lại, nếu
  15. suất doanh lợi vốn thấp thì hệ số nợ cao sẽ là gánh nặng cho doanh nghiệp, và lúc đó việc giảm các khoản vay và huy động thêm vốn chủ sở hữu (bằng phát hành cổ phiếu chẳng hạn) sẽ là một sự điều chỉnh hữu hiệu đối với doanh nghiệp. Điều kiện thực hiện: + Doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi và phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh. + Thị trường tài chính đã phát triển. + Doanh nghiệp có thể chủ động trong việc huy động và dãn nợ khi cần thiết. - Chính sách mắc nợ ổn định: Là việc doanh nghiệp chủ trương duy trì một hệ số nợ tương đối ổn định, phù hợp với hoạt động kinh doanh, với văn hoá kinh doanh cũng như các chủ trương dài hạn của mình. + ưu điểm: Tránh được rủi ro mất khả năng thanh toán, vì hệ số nợ được đặt trong một “khung an toàn nhất định”. + Nhược điểm: Doanh nghiệp có thể bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh trong những thời kỳ nhất định khi thực hiện chính sách này. 9.3.3. Chính sách thay thế tín dụng Trong hoạt động kinh doanh, để tránh các rủi ro tín dụng do việc huy động vốn vay đem lại, doanh nghiệp có thể sử dụng các chính sách tài chính thay thế tín dụng. * Chính sách thay thế tín dụng bằng thuê mua (Leasing) Tín dụng thuê mua: Là việc doanh nghiệp tạo vốn bằng cách thuê trang bị, vật tư, công cụ và tài sản cố định khác để sử dụng cho kinh doanh. Có thể nói, đây là hình thức tạo vốn khá phổ biến cho hệ thống tài chính ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Với hình thức này, doanh nghiệp được sử dụng vốn như chính mình là người sở hữu với giá thuê định trước trong hợp đồng. Sau thời hạn hợp đồng thuê mua, doanh nghiệp có quyền trả lại tài sản đã thuê hoặc mua với giá còn lại hoặc tiếp tục thuê với giá thoả thuận mới. Các hình thức thuê mua chủ yếu gồm:
  16. + Tín dụng thuê mua truyền thống (như vừa trình bày trên). + Chuyển nhượng cho thuê: Là hình thức công ty tín dụng thuê mua cho doanh nghiệp trang thiết bị, căn cứ vào hợp đồng tín dụng thuê mua. Với hình thức này, doanh nghiệp là người thứ 3 song vẫn có quyền hạn sử dụng, giữ gìn và hoàn toàn có khả năng thanh toán trước mắt. Hình thức thuê mua mặc dù tạo điều kiện cho doanh nghiệp giải quyết tốt khó khăn về vốn song doanh nghiệp thường phải chịu giá thuê cao, gây khó khăn cho cạnh tranh về giá. Mặt khác, tổ chức hình thức này rất phức tạp và khi có sự cố vi phạm hợp đồng, doanh nghiệp có thể phá sản rất nhanh do bên tín dụng đòi lại tài sản. Các tổ chức kinh doanh tín dụng thuê mua thường có lợi nhờ tín dụng cho thuê cao. Do đó, cần lưu ý một số vấn đề trong hợp đồng như sau: + Giá thuê mua: Để có căn cứ xây dựng giá cả thuê mua, doanh nghiệp phải xác định được giá trị của tài sản thuê mua, doanh thu dự kiến, chi phí trên một đơn vị sản phẩm có sự tham gia của tài sản thuê mua. + Thời hạn thuê mua: Nhân tố tác động trực tiếp đến giá cả thuê mua là thời hạn thuê mua. Thông thường, thời hạn thuê mua ngắn thì giá cao và ngược lại. + Thời điểm tính giá thuê mua: Có hai thời điểm là thời điểm ký hợp đồng hoặc thời điểm thiết bị đã lắp đặt xong. + Phương thức thanh toán giá thuê mua: ở đây cần quan tâm các vấn đề như thời điểm thanh toán, phương tiện thanh toán (tiền hay sản phẩm), đồng tiền sử dụng (ngoại tệ hay nội tệ). + Chính sách khấu hao hiện tại của doanh nghiệp: Thông thường, nếu doanh nghiệp dùng chính sách khấu hao nhanh thì việc vay mua sẽ hiệu quả hơn là thuê mua. + Giá trị còn lại của thiết bị thuê mua: Là giá trị còn lại của thiết bị khi hết hợp đồng thuê mua. Trong những điều kiện nhất định, thông thường giá trị còn lại càng nhỏ thì tín dụng thuê mua càng có lợi. + Đánh giá lợi ích hình thức tín dụng thuê mua:
  17. Để đánh giá lợi ích của hình thức này, có thể so sánh với hình thức vay đầu tư trên các mặt như: Trong điều kiện thị trường vốn chưa phát triển, thuê mua là hình thức dễ thực hiện hơn, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ, khó có khả năng vay tín dụng dài hạn để đầu tư mua TSCĐ. Cuối cùng, việc thuê mua không cần có các khoản bảo lãnh như khi vay mua và nó không làm tăng hệ số nợ của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp có cơ hội tốt hơn để huy động các nguồn vốn khác khi cần thiết. Gi¸ trÞ thiÕt bÞ thuª Gi¸ trÞ cßn l¹i cña thiÕt bÞ Gi¸ thuª hµng n¨m Chi phÝ SC hµng n¨m - N Gi¸ trÞ thiÕt bÞ thuª1 N Trong đó: N  n là giá trị hiện tại khoản chi hàng năm của n1 1 (1 i) doanh  n n 1 (1 i) nghiệp do trả lãi vay; i là lãi suất vay; N là số năm vay; n là số lần chi trả. Lưu ý: Cách tính toán này là một căn cứ có thể sử dụng để đưa ra mức giá thuê mua đàm phán trong điều kiện thời hạn thuê tương đối dài (10-20 năm) và giá thuê trả đều hàng năm. Muốn so sánh chính xác hơn, cần lập bảng so sánh chi tiết giữa vay mua và thuê mua với nhiều yếu tố thay đổi tác động. Kết quả 6,14 là tra bảng hiện tại hoá. * Chính sách thay thế tín dụng bằng đáo nợ (Factoring) Thực chất của chính sách này là việc doanh nghiệp giảm thiểu các khoản phải thu, phải trả trong cân đối tài chính nhằm tạo ra một hoàn cảnh tài chính thuận lợi cho hoạt động kinh doanh thông qua một loại công ty tài chính trung gian là Factoring. Khoản phải thu, phải trả xuất hiện khi doanh nghiệp có việc mua chịu và bán chịu. Khi đó, công ty Factoring sẽ đứng trung gian thanh toán tức thời các khoản nợ này với một tỷ lệ chiết khấu thoả thuận (thông thường cao hơn lãi xuất tín dụng ngắn hạn). Ưu điểm: + Doanh nghiệp có ngay các tài khoản thanh toán phục vụ cho quá trình kinh doanh, đặt biệt là cho việc thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả.
  18. + Do làm giảm các khoản phải thu, phải trả nên giá trị bảng cân đối tài chính doanh nghiệp giảm xuống, điều này dẫn đến chỉ số doanh lợi vốn có thể được cải thiện. + Nhờ giảm được các khoản phải thu mà doanh nghiệp có thể tránh được các rủi ro khi khách hàng mất khả năng thanh toán. + Giảm được các chi phí phát sinh trong quá trình thu đòi nợ. Nhược điểm: + Tỷ lệ chiết khấu thường cao, dẫn đến làm giảm lợi nhuận, giảm Lnv. + Vô hình trung, doanh nghiệp lại phải phụ thuộc thêm vào một đối tác tài chính mới. + Trong nhiều trường hợp, chính sách này làm phức tạp thêm hoạt động tài chính của công ty. Nội dung của chính sách đáo nợ: + Lựa chọn các công ty Factoring: Dựa trên sự biểu biết của doanh nghiệp về tiềm lực tài chính, uy tín và phương thức hoạt động của các công ty Factoring. + So sánh hiệu quả tổng thể mà chính sách này mang lại. Việc so sánh thông thường là tính toán giữa chi phí do các khoản phải thu gây ra với chi phí khi thực hiện hợp đồng factoring. 9.3.4. Chính sách khấu hao Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định chịu sự hao mòn cả vô hình và hữu hình. Để thu hồi giá trị đã hao mòn cho mục đích tái đầu tư, doanh nghiệp phải thực hiện việc xác định giá trị khấu hao phù hợp. Kinh doanh trong cơ chế thị trường nẩy sinh yêu cầu doanh nghiệp phải có chính sách khấu hao thoả mãn cả hai mục đích cơ bản: + Giá trị khấu hao đảm bảo tái đầu tư. + Giá trị khấu hao không làm ảnh hưởng hoạt động doanh thu và Lnv. Một số phương pháp khấu hao: - Phương pháp khấu hao đều: Căn cứ vào nguyên giá TSCĐ và thời hạn sử dụng, mức khấu hao được tính đều theo các năm.
  19. G MKH = T Trong đó, G là nguyên giá TSCĐ và T là thời hạn sử dụng. - Khấu hao theo giá trị còn lại: Phương pháp này căn cứ vào nguyên giá TSCĐ ở năm trước để tính mức khấu hao cho năm sau với cùng một tỷ lệ khấu hao cố định. Với ví dụ trên và tỷ lệ khấu hao cố định là 20%, phương pháp này được tính như sau: Thời Giá trị tính Mức khấu Giá trị còn điểm khấu hao hao lại Cuối năm 20.000.000 4.000.000 16.000.000 1 Cuối năm 16.000.000 3.200.000 12.800.000 2 Cuối năm 12.800.000 2.560.000 10.240.000 3 Phương pháp này thường được sử dụng đối với TSCĐ có thời hạn sử dụng dài nhưng vẫn đảm bảo khấu hao nhanh trong thời kỳ đầu để bù đắp các loại hao mòn dự kiến. - Khấu hao theo tổng số năm: Phương pháp này cũng căn cứ vào nguyên giá và số năm sử dụng, nhưng có tác dụng tăng thu khấu hao ở những năm đầu để tái đầu tư và có thể khấu hao hết giá trị TSCĐ mà không bị dư đọng như ở phương pháp giá trị còn lại. M = (T - t 1) G t T  t i i 1 Trong đó, Mt là mức khấu hao năm thứ t, còn T là số năm sử dụng. - Để có một chính sách khấu hao đúng đắn, cần phải phân tích và xem xét khấu hao với 5 vấn đề liên quan chặt chẽ sau:
  20. + Sự rủi ro của thiết bị. + Khả năng thanh toán của doanh nghiệp. + Sự tạo thành giá thành sản phẩm hàng hoá. + Lợi nhuận của doanh nghiệp. + Các quy định về thuế. 9.3.5. Chính sách quản trị dự trữ 9.3.5.1. Hàng dự trữ và vai trò của hàng dự trữ Hàng dự trữ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của doanh nghiệp (thông thường chiếm 40-50%). Chính vì vậy, việc quản lý, kiểm soát tốt hàng dự trữ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và có hiệu quả cao. Bản thân vấn đề quản trị hàng dự trữ có hai mặt trái ngược nhau là: Để đảm bảo sản xuất liên tục, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của người tiêu dùng trong bất kỳ tình huống nào, doanh nghiệp có ý định tăng dự trữ. Ngược lại, khi dữ trữ tăng lên, doanh nghiệp lại phải tốn thêm những chi phí có liên quan đến dự trữ (kể cả vấn đề ứ đọng vốn). Hàng dự trữ bao gồm nguyên vật liêu, bán thành phẩm, dụng cụ, phụ tùng, thành phẩm dự trữ Tuỳ theo các loại hình doanh nghiệp khác nhau mà các dạng hàng dự trữ và nội dung hoạch định, kiểm soát hàng dự trữ cũng khác nhau. Đối với lĩnh vực sản xuất, sản phẩm phải trải qua một quá trình chế biến đầu vào là nguyên liệu thành sản phẩm ở đầu ra nên hàng dự trữ bao gồm hầu hết các loại từ nguyên vật liệu đến bán thành phẩm trên dây chuyền và thành phẩm cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng. 9.3.5.2. Chi phí dự trữ Trong quản trị dự trữ thường đề cập đến các loại chi phí sau đây: Chi phí đặt hàng: Là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc thiết lập các đơn hàng. Nó bao gồm các chi phí tìm nguồn hàng, thực hiện quy trình đặt hàng (giao dịch, ký kết hợp đồng, thông báo qua lại) và các chi phí chuẩn bị và thực hiện việc chuyển hàng hoá đến kho của doanh nghiệp.
  21. Chi phí bảo quản (lưu kho): Là những chi phí phát sinh trong thực hiện hoạt động dự trữ, bao gồm: chi phí về nhà cửa và kho tàng; chi phí sử dụng thiết bị, phương tiện; chi phí về nhân lực cho hoạt động quản lý dự trữ; chi phí tài chính cho việc đầu tư vào mua hàng dự trữ, thiệt hại hàng dự trữ do mất mát, hư hỏng hoặc không sử dụng được. Thông thường, chi phí lưu kho hàng năm chiếm khoảng 40% giá trị hàng dự trữ. Chi phí mua hàng: Là chi phí được tính từ khối lượng hàng của đơn hàng và giá mua một đơn vị. Thông thường, chi phí mua hàng không ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình dự trữ, trừ mô hình khấu trừ theo lượng mua. 9.3.5.3. Mô hình quản lý dự trữ Có hai câu hỏi chính mà quản lý dự trữ phải trả lời là khi nào đặt hàng và đặt hàng bao nhiêu ? - Khi nào đặt hàng? Trả lời câu hỏi này nhằm xác định sự kiện bắt đầu thực hiện đặt hàng để tái tạo dự trữ. Có hai hệ thống chính được sử dụng: + Đặt hàng (hoặc phát lệnh sản xuất) theo chu kỳ cố định: một tuần một lần, một tháng một lần + Đặt hàng khi mức dự trữ giảm xuống dưới một mức tối thiểu gọi là dự trữ báo động đặt hàng (điểm đặt hàng). - Đặt hàng bao nhiêu? Trả lời câu hỏi này phụ thuộc vào trả lời câu hỏi trước. Thật vậy, nếu đặt hàng ở những ngày cố định với mức đặt hàng cố định sẽ khó thích ứng với sự biến động của các nhu cầu. Vậy khi đặt hàng để tái tạo dự trữ hoặc là yếu tố thời gian thay đổi, hoặc là số lượng thay đổi. Điều đó dẫn đến sự tồn tại của 2 hệ thống quản lý dự trữ là: - Đặt hàng để tái tạo dự trữ chỉ được tiến hành khi mức dự trữ cực tiểu đạt tới, người ta nhập vào một số lượng nhất định. - Đặt hàng để tái tạo dự trữ xảy ra theo những chu kỳ cố định, người ta đặt hàng với những số lượng khác nhau tuỳ theo từng đợt, bằng
  22. mức sản phẩm dự trữ đã tiêu thụ từ lần đặt hàng lần trước đến lần này để duy trì một mức gọi là mức tái tạo. Tóm lại, người ta có thể lựa chọn giữa hai hệ thống quản lý dự trữ: + Hệ thống có số lượng cố định và chu kỳ thay đổi là hệ thống điểm đặt hàng. Hệ thống này nhằm đặt hàng một số lượng xác định Q mỗi khi mức dự trữ giảm xuống một mức xác định gọi là điểm đặt hàng. + Hệ thống có chu kỳ cố định và số lượng thay đổi là hệ thống tái tạo dự trữ định kỳ. Theo hệ thống này, ở một thời điểm nhất định (cuối tháng hay cuối quý chẳng hạn), người ta đánh giá mức dự trữ còn lại và đặt hàng một số lượng xác định sao cho mức dự trữ đạt được một mức cố định gọi là mức tái tạo. Mức đặt hàng thường bằng lượng sản phẩm dự trữ đã tiêu thụ ở kỳ trước. * Hệ thống điểm đặt hàng Nguyên tắc của hệ thống này là thực hiện việc đặt hàng khi mức dự trữ giảm xuống một mức nào đó (điểm đặt hàng) hay dự trữ báo động. Mức này đảm bảo yêu cầu bán hàng hoặc yêu cầu cho sản xuất đến khi nhận được hàng từ người cung cấp. Vì vậy, mức dự trữ báo động nhỏ nhất bằng yêu cầu trong thời gian nhận hàng (từ lúc đặt hàng cho đến khi nhận hàng về kho), nếu không sẽ thiếu sản phẩm để bán hoặc thiếu sản phẩm cung cấp cho quá trình sản xuất. Hệ thống này yêu cầu người ta phải đặt hàng hoặc đưa vào sản xuất ngay sau khi đạt tới điểm đặt hàng. Điều đó dẫn đến những khó khăn trong các trường hợp sau: - Nhiều mặt hàng được mua từ một nhà cung cấp mà các mặt hàng đó đạt tới các điểm đặt hàng tại các thời điểm khác nhau, vì thế ta không thể kết hợp các đơn đặt hàng lại với nhau. Điều này làm tăng chi phí của doanh nghiệp. - Việc tổ chức sản xuất ở nhà cung cấp khi thực hiện một đơn hàng bị ảnh hưởng bởi chương trình sản xuất các sản phẩm khác. Do vậy, thời kỳ thời kỳ giao nhận thường bị kéo dài, đặc biệt đối với các quá trình sản xuất có tính chất thời vụ, khi ta đặt hàng nhà cung cấp không có hàng bán nhưng khi nhà cung cấp có hàng bán thì doanh nghiệp lại chưa
  23. có nhu cầu. Vì vậy, áp dụng mô hình điểm đặt hàng rất khó khăn, cần phải có một cơ cấu sản xuất linh hoạt hoặc là phải tồn tại một mức dự trữ lớn ở nhà cung cấp. - Việc nắm chắc mức dự trữ tại mọi thời điểm để có thông báo ngay khi mức dự trữ đạt tới điểm báo động làm cho chi phí dự trữ lớn, nhưng điều đó có thể thực hiện được nhờ hệ thống máy tính ghi lại mọi sự thay đổi mức dự trữ ở từng thời điểm và báo ngay khi mức dự trữ đạt điểm cực tiểu. Tóm lại, hệ thống điểm đặt hàng được áp dụng phù hợp nhất khi thoả mãn các điều kiện sau: + Dòng yêu cầu có mức biến động lớn. + Những sản phẩm có giá trị cao cần phải hạn chế tình trạng thiếu hụt sản phẩm dự trữ vì chúng sẽ gây ra thiệt hại lớn. + Hệ thống sản xuất linh hoạt. + Có dự trữ lớn ở nhà cung cấp. * Hệ thống tái tạo dự trữ định kỳ Hệ thống này nhằm vào việc kiểm tra mức độ tồn kho theo những khoảng thời gian đều đặn và đặt hàng bằng số lượng sản phẩm dự trữ đã tiêu thụ trong kỳ trước. Số lượng đặt hàng bằng hiệu số giữa mức tái tạo và số lượng tồn kho. Khi mức tái tạo được ấn định ở mức độ cao, mức dự trữ trung bình sẽ cao và chi phí bảo quản sẽ lớn. Ngược lại, nếu mức tái tạo thấp thì mức dự trữ trung bình thấp nhưng mức độ mạo hiểm về thiếu sản phẩm dự trữ sẽ cao. Ưu điểm của hệ thống tái tạo dự trữ định kỳ là có khả năng ghép các nhu cầu ở cùng một nhà cung cấp để làm giảm chi phí bảo quản và chi phí đặt hàng. Ngược lại, hệ thống sẽ rơi vào tình trạng “cháy kho” trong nội bộ một chu kỳ khi có sự thay đổi đột ngột của yêu cầu, làm cho hệ thống không thể thích ứng được. Để tránh điều này người ta chấp nhận mức độ dự trữ bảo hiểm lớn. Tóm lại, hệ thống tái tạo dự trữ định kỳ có hiệu quả khi có các điều kiện sau đây:
  24. + Yêu cầu và thời kỳ giao nhận ít thay đổi. + Người ta không thể yêu cầu hay đặt hàng hay đưa vào sản xuất sản phẩm dự trữ một cách thường xuyên. + Hàng hoá có giá trị thấp vì số lượng dự trữ lớn không làm tăng đáng kể chi phí dự trữ. 9.3.5.4. Xác định số lượng kinh tế và chi phí quản lý dự trữ Giả thiết là việc đặt hàng được diễn ra tức thì tức là thời gian giao nhận bằng không và mức tiêu dùng không thay đổi. Số lượng kinh tế là số lượng sản phẩm mỗi lần tái tạo (đặt hàng hoặc đưa vào sản xuất) làm cực tiểu tổng chi phí dự trữ bao gồm chi phí bảo quản (chi phí lưu kho) và chi phí đặt hàng. Số lượng kinh tế đạt được nhờ một sự thoả hiệp: - Chi phí bảo quản tăng cùng với giá trị của sản phẩm và khối lượng dự trữ. Để giảm nó doanh nghiệp cần phải nhập sản phẩm nhiều lần (thực hiện nhiều lần đặt hàng trong một năm) với số lượng nhỏ. - Chi phí đặt hàng hoặc đưa vào sản xuất tăng lên tỷ lệ với số lần đặt hàng, vì vậy cần phải nhập ít lần với số lượng lớn ở mỗi lần nhập. Nếu gọi CVT(Q) là tổng chi phí biến đổi của hệ thống dự trữ trong một năm bao gồm chi phí đặt hàng và chi phí bảo quản sản phẩm: Q D CVT (Q) = .I .L 2 Q Trong đó: D: Nhu cầu sản phẩm trong một năm. Q: Số lượng đặt hàng. L: Chi phí cố định một lần đặt hàng hay đưa vào sản xuất, không phụ thuộc vào số lượng đặt hàng. I: Chi phí bảo quản toàn bộ một sản phẩm trong năm. Chi phí này có thể được chia ra thành 2 phần: Chi phí bảo quản và chi phí tài chính, trong đó chi phí tài chính được tính theo chi phí cơ hội. Thật vậy, việc doanh nghiệp bỏ tiền ra mua hàng dự trữ nhập kho đã đánh mất cơ hội gửi khoản tiền đó vào ngân hàng kiếm lời, hoặc là doanh nghiệp phải vay ngân hàng một khoản tiền để mua hàng dự trữ nhập kho và như vậy
  25. hàng năm phải trả một khoản lãi vay cho ngân hàng. Chính vì vậy, chi phí tài chính dự trữ một sản phẩm trong năm phải bằng giá mua sản phẩm đó nhân với lãi suất ngân hàng trên năm. Khi đó, ta có một hàm số CVT với biến số Q, còn L, I và D là các tham số đã biết. Ta phải xác định Q sao cho hàm chi phí này đạt cực tiểu * hay tìm giá trị Q làm triệt tiêu đạo hàm cấp 1 của hàm số CVT(Q): dCVT(Q) = - DL + I = 0 dQ Q2 2 Q* = 2DL I Đó là điểm tối ưu vì đường cong CVT(Q) là đường cong lõm, đạo hàm cấp 2 của nó luôn dương. 2 d CVT(Q) = 2DL > 0 với Q 0 và D, L, Q > 0 dQ2 Q3 Vậy số lượng Q* = 2DL là số lượng kinh tế I Gọi N là số lần đặt hàng trong năm, ta có N = D . Q Vậy N* = D = D.I Q* 2L Và CVT(Q*) = I. Q*/2 + L. D/Q* là toàn bộ chi phí tối ưu của hệ thống dự trữ trong một năm.
  26. Chi phí CVT I.Q/2 L.D/Q 0 Q* Số lượng Hình 9.4. Mô hình Wilson cơ bản Mô hình kinh tế này có 2 ưu điểm là: + Các tham số được sử dụng trong mô hình ít, đơn giản. + Mô hình có thể khái quát hoá dễ dàng cho nhiều loại sản phẩm và nhiều loại chi phí dự trữ phù hợp với từng loại hình hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ: Một doanh nghiệp chuyên cung cấp rơle điện. Giá mua vào của một chiếc rơle điện là 0,1 USD. Nhu cầu rơle trung bình trong một ngày là 1.000 chiếc và 250 ngày làm việc một năm. Chi phí cho một lần đặt hàng đi mua rơle là 100 USD. Chi phí bảo quản là 0,01 USD cho 1 sản phẩm trong một năm. Lãi suất ngân hàng là 10% trong năm. Giả sử mức yêu cầu đều đặn và không có hiện tượng thiếu sản phẩm dự trữ. Yêu cầu: Xác định số lượng kinh tế và chi phí quản lý dự trữ tối ưu? Giải: Nhu cầu sản phẩm trong năm: D = 250 x 1.000 = 250.000 (sản phẩm) Chi phí tài chính cho 1 sản phẩm trong năm: 0,1 x 10% = 0,01 (USD) Chi phí bảo quản toàn bộ cho 1 sản phẩm trong năm: 0,01 + 0,01 = 0,02 (USD/sản phẩm)
  27. CVT(Q) = I. Q/2 + L. D/Q Theo công thức, ta có số lượng kinh tế là: Q* = 2DL = 2 x 250.000 x 100 = 50.000 (sản phẩm) I 0,02 Số lần đặt hàng trong năm là: N* = D = 250.000 = 5 (lần) Q* 50.000 Chi phí quản lý dự trữ tối ưu là: CVT(Q*) = I. Q*/2 + L. D/Q* = 0,02 x 50.000/2 + 100 x 250.000/50.000 = 500 + 500 = 1.000 (USD) Vậy, doanh nghiệp đạt chi phí dự trữ tối ưu là 1.000 USD trong 1 năm với mức đặt hàng tối ưu là 50.000 sản phẩm với 5 lần đặt hàng trong năm. 9.3.5.5. Một số ứng dụng của mô hình Wilson Bây giờ chúng ta sẽ mở rộng mô hình Wilson cơ bản trong 3 tình huống thường gặp sau: - Thay vì nhập toàn bộ số lượng đặt hàng một lần, dự trữ được cung cấp (tái tạo) một cách liên tục bởi một quá trình sản xuất. - Các nhà cung cấp sẽ giảm giá bán nếu doanh nghiệp đặt hàng với một số lượng lớn hơn một ngưỡng quy định trước. - Nhiều mặt hàng được đặt ở cùng một nhà cung cấp hoặc cùng đưa vào sản xuất đồng thời trên cùng một loại thiết bị sản xuất. * Tái tạo dự trữ liên tục (xác định số lượng tối ưu đưa vào sản xuất ) Trong mô hình cơ bản, chúng ta đã coi việc tái tạo một khối lượng Q* sản phẩm được thực hiện tức thì một lần. Bây giờ chúng ta xét trường hợp lượng sản phẩm dự trữ được cung cấp bởi một dây chuyền sản xuất, quá trình tái tạo dự trữ được đảm bảo bằng nhịp sản xuất của dây chuyền hoặc tuỳ theo khả năng của phương tiện vận chuyển. Điều hiển nhiên là
  28. nhịp sản xuất phải lớn hơn nhịp yêu cầu về sản phẩm dự trữ, nếu không thì sẽ thiếu sản phẩm dự trữ để cung cấp. Ký hiệu p là nhịp sản xuất (số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian). Như vậy, Q sản phẩm sẽ được sản xuất trong khoảng Q/p đơn vị thời gian. Trong khoảng thời gian đó, nếu quá trình xuất kho (bán hàng) thực hiện với nhịp d (số lượng sản phẩm tiêu thụ trong một đơn vị thời gian) thì một số lượng sản phẩm bằng d.Q/p đã được bán rồi, như minh hoạ ở hình sau: Sản Đường cung cấp (pt) phẩm Mức dự trữ lớn nhất = Q(1-d/p) Mức dự trữ trung bình = Q(1- d/p)/2 0 t Thời gian (t) T Đường tiêu thụ (- dt) Hình 9.5. Tái tạo dự trữ liên tục t: Thời gian cung cấp = Q/p T: Chu kỳ cung cấp = D/Q Mức dự trữ không đạt được mức Q mà chỉ là Q(1-d/p) và số lượng dự trữ trung bình trong kho không phải là Q/2 mà là Q(1-d/p)/2.
  29. d Q (1 - ) p Ta có thể viết: CVT(Q) = L. D/Q + . I 2 Công thức số lượng kinh tế trở thành: Q* = 2 DL d I (1 - ) p Công thức trên được sử dụng rất rộng rãi để xác định quy mô của lô sản phẩm đưa vào sản xuất. Trong trường hợp này, L là chi phí cố định cho một lần đưa vào sản xuất, không phụ thuộc vào số lượng của lô nhiều hay ít. Chi phí này gồm: - Chi phí kiểm tra, điều chỉnh thiết bị máy móc. - Chi phí thiết lập quá trình sản xuất (chuẩn bị tài liệu, nguyên vật liệu). - Chi phí kết thúc quá trình sản xuất để chuyển sang sản xuất một lô sản phẩm khác. * Giảm giá hàng bán cho khối lượng đặt hàng lớn Để tăng mức bán hàng và giảm chi phí dự trữ, thông thường các nhà cung cấp sẽ giảm giá bán một đơn vị hàng hoá nếu khách hàng mua với số lượng lớn hơn một ngưỡng xác định. Mức giảm giá này càng nhiều khi số lượng hàng càng lớn và ngưỡng giảm giá đã được quy định và thông báo bởi nhà cung cấp. Quy định một ngưỡng giảm giá sẽ tác động tới hành vi mua hàng và dự trữ của người mua. Vấn đề là người mua phải trả lời câu hỏi: Liệu tổng chi phí mua sắm và bảo quản một khối lượng hàng hoá lớn hơn mức Q* (thường ngưỡng giảm giá lớn hơn Q*) như vậy có giảm đi hay không nếu chấp nhận yêu cầu của nhà cung cấp mua bằng ngưỡng giảm giá? Câu trả lời là 2 trường hợp sau đây:
  30. Trong thực tiễn, chi phí bảo quản một đơn vị sản phẩm trong một năm thường phụ thuộc vào giá trị của sản phẩm bảo quản theo công thức: I = C.H ( H là hệ số chi phí bảo quản và C là giá trị của sản phẩm được bảo quản). Vì vậy nếu: - Số lượng kinh tế được tính toán với mức giá thấp C2 (giá đã được giảm) theo công thức Q* = 2DL vượt qua ngưỡng giảm giá thì mức C H 2 tiết kiệm đạt được sẽ do 2 nguồn là chi phí mua sắm rẻ hơn và chi phí bảo quản (CVT) đạt cực tiểu. - Ngược lại, nếu số lượng kinh tế mới không lớn hơn ngưỡng giảm giá, khi đó ta cần phải so sánh chi phí toàn bộ khi mua một lượng hàng bằng Q* tính theo giá cao và chi phí toàn bộ tính theo giá mới có giảm khi mua một lượng bằng ngưỡng giảm giá. Ta gọi: + C1 và C2 là giá mua một đơn vị sản phẩm trong trường hợp không được giảm giá và có được giảm giá một cách tương ứng. + CVT1 và CVT2 là chi phí tổng cộng của hệ thống tương ứng với hai trường hợp. + R là ngưỡng giảm giá, nghĩa là nếu mua với khối lượng Q nhỏ hơn R ta phải mua với đơn giá là C1, nếu mua với khối lượng lớn hơn hoặc bằng R ta sẽ được mua với mức giá C2 (C2 CVT1 (Q ) ta chọn Q = Q . Tóm lại, việc giảm giá đơn vị khi mua với khối lượng lớn có 3 hệ quả sau:
  31. - Chi phí mua hàng giảm (do giá mua giảm). - Chi phí đặt hàng giảm (do Q tăng nên số lượng đặt hàng giảm). - Chi phí bảo quản sẽ thay đổi ( tăng hoặc giảm) vì Q. C thay đổi. 2 * Nhập hàng đồng thời nhiều mặt hàng từ một nhà cung cấp Rõ ràng, chúng ta có thể giảm chi phí quản lý và vận chuyển bằng cách nhóm các đơn đặt hàng của nhiều loại sản phẩm ở cùng một nhà cung cấp vào cùng một đợt mua hàng. Chúng ta sẽ tìm số lượng tối ưu các lần đặt hàng tại cùng một nhà cung cấp, nếu đặt hàng đồng thời n loại sản phẩm trong mỗi lần mua. Ký hiệu: Ci: Giá đơn vị loại sản phẩm thứ i (i=1, n). H: Hệ số chi phí bảo quản trung bình. Di: Nhu cầu loại sản phẩm thứ i. L: Chi phí đặt hàng một lần cả n loại sản phẩm. N: Số lần đặt hàng của nhóm. Khi đó, chi phí toàn bộ của hệ thống dự trữ sẽ là: H n CVT = N.L +  D C i i 2N i 1 n H  D C i i Số lần đặt hàng tối ưu là: N* = i 1 2 L D * i Số lượng đặt hàng loại sản phẩm thứ i sẽ là: Qi = N* 9.3.6. Chính sách bán chịu của doanh nghiệp Một tâm lý kinh doanh phổ biến là người ta thích được mua chịu hơn là phải bán chịu. Song nếu ai cũng thích được mua chịu mà không bán chịu thì tình hình sẽ ra sao? Vấn đề là ở chỗ bán chịu phải được xem như một chính sách kinh doanh phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp.
  32. Nội dung chính của chính sách bán chịu: - Xác định mục tiêu bán chịu: nhằm thúc đẩy tăng doanh thu, giải toả hàng tồn kho, gây uy tín về năng lực tài chính của doanh nghiệp. - Xây dựng các điều kiện bán chịu: thông thường căn cứ vào mức giá bán, lãi suất vay và thời hạn bán chịu. - Tính toán hiệu quả bán chịu: thực chất là so sánh giữa chi phí phát sinh do bán chịu với lợi nhuận mà chúng mang lại. Kinh doanh trong cơ chế thị trường, bán chịu được coi như một trong các biện pháp để đẩy nhanh tiêu thụ. Mâu thuẫn ở đây là đẩy nhanh tiêu thụ trong trường hợp này lại làm chậm chu kỳ luân chuyển vốn, giảm số vòng quay vốn lưu động. Chính vì vậy, để tính toán hiệu quả chính sách bán chịu, cần căn cứ vào chỉ tiêu lợi ích tài chính bán chịu (LBC): LBC = TNBC – CFBC TNBC = (DTBC1 –CF1) – (DT0 – CF0) Trong đó: TNBC: Chênh lệch thu nhập nhờ bán chịu. DTBC1: Doanh thu đạt được nhờ có bán chịu. CF1: Chi phí toàn bộ khi có bán chịu. CF0: Chi phí toàn bộ khi không bán chịu. DT0: Doanh thu đạt được nếu không bán chịu. CFBC: Chi phí bán chịu, gồm: CFk: Lãi phải trả cho khoản phải thu vì bán chịu. CFql: Chi phí quản lý do bán chịu như: đi lại, điện thoại, công văn, tiền lương CFth: Chi phí thu hồi khác. Như vậy: LBC = [(DTBC1 –CF1) – (DT0 – CF0)] – (CFk + CFql + CF th) Ví dụ: Doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu như sau: Khi giao hàng khách phải trả 10% giá trị lô hàng. Hết tháng thứ nhất trả 40%. Hết tháng thứ hai trả 20%.
  33. Hết tháng thứ ba trả nốt 30% còn lại. Lãi suất vay hiện tại là 1%/tháng. Nhờ bán chịu doanh thu đạt 2 tỷ đồng và chi phí là 60% trên doanh thu. Nếu không bán chịu, doanh thu đạt 1,5 tỷ đồng và vì sản lượng sản xuất ít hơn nên chi phí là 65% trên doanh thu. Chi phí quản lý do bán chịu là 60 triệu. Chi phí thu hồi nợ khác: 30 triệu. Tính lợi ích bán chịu? Giải: Theo công thức ta có: TNBC = (2 - 60 x 2 ) – (1,5 - 65 x 1,5 ) = 0,275 (tỷ) 100 100 CFk = 1,8 x 0,01 + 1 x 0,01 + 0,6 x 0,01 = 0,034 (tỷ) LBC = 0,275 - (0,034 + 0,06 + 0,03) = 0,15 (tỷ) Tuy nhiên, do bán chịu doanh nghiệp phải bỏ thêm chi phí (giả sử doanh nghiệp phải chịu vay lãi suất đơn cho khoản vốn cần thêm). Như vậy, lợi ích bán chịu thực tế chỉ còn là: LBC = 151 – [(2.000 x 60% - 1.500 x 65%) x 0,01 x 3] = 144,25 (triệu). Trên đây là cách tính toán lợi ích của một chính sách bán chịu so với không bán chịu. Trong trường hợp doanh nghiệp lựa chọn nhiều chính sách bán chịu với các điều kiện thanh toán và giá cả khác nhau thì cũng có thể sử dụng công thức tính toán trên để so sánh và lựa chọn chính sách bán chịu hiệu quả nhất.