Bài giảng Kinh tế vi mô (Phần 1)

pdf 62 trang ngocly 26/05/2021 1590
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Kinh tế vi mô (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfbai_giang_kinh_te_vi_mo_phan_1.pdf

Nội dung text: Bài giảng Kinh tế vi mô (Phần 1)

  1. GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ 1
  2. Chương 1. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ VI MÔ Mục tiêu: Sau khi nghiên cứu chương này, người học có thể: - Xác định những vấn đề cơ bản của mọi tổ chức kinh tế và cách thức giải quyết của nền kinh tế. - Giải thích được Kinh tế học là gì, phân biệt phạm vi phân tích kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô. - Giải thích được khái niệm doanh nghiệp, phân tích các yếu tố của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến doanh nghiệp. - Phân tích chi phí cơ hội, vận dụng đường giới hạn năng lực sản xuất, các qui luật chi phí cơ hội tăng dần, qui luật lợi suất giảm dần,vấn đề hiệu quả kinh tế đến sự lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp. 1. NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN 1.1. Ba vấn đề kinh tế cơ bản Để hiểu được sự vận hành của nền kinh tế,chúng ta phải nhận thức được những vấn đề cơ bản mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải giải quyết. Đó là: - Sản xuất cái gì? - Sản xuất như thế nào? - Sản xuất cho ai? Quyết định sản xuất cái gì? Bao gồm việc giải quyết một số vấn đề cụ thể như: sản xuất hàng hóa, dịch vụ nào, số lượng bao nhiêu và thời gian cụ thể nào. Để giải quyết tốt vấn đề này, các doanh nghiệp phải làm tốt công tác điều tra nhu cầu của thị trường. Từ nhu cầu vô cùng phong phú và đa dạng, các doanh nghiệp phải xác định được các nhu cầu có khả năng thanh toán để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Sự tương tác của cung và cầu, cạnh tranh trên thị trường sẽ hình thành nên giá của hàng hóa và dịch vụ, là tín hiệu tốt cho việc phân bố các nguồn lực xã hội. Quyết định sản xuất như thế nào? Bao gồm các vấn đề: - Lựa chọn công nghệ sản xuất nào. - Lựa chọn các yếu tố đầu vào nào. - Lựa chọn phương pháp sản xuất nào. Các doanh nghiệp phải luôn quan tâm để sản xuất ra hàng hóa nhanh, có chi phí thấp để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường. Các biện pháp cơ bản các doanh nghiệp áp dụng là thường xuyên đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nâng cao trình độ công nhân và lao động quản lý nhằm tăng hàm lượng chất xám trong hàng hóa và dịch vụ. Quyết định sản xuất cho ai? Bao gồm việc xác định rõ ai sẽ được hưởng và được lợi từ những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra. Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập và giá cả xác định ai sẽ nhận hàng hóa và dịch vụ cung cấp. Điều này được xác định thông qua tương tác giữa người mua và bán trên thị trường sản phẩm và thị trường nguồn lực. Thu nhập chính là nguồn tạo ra năng lực mua bán của các cá nhân và phân phối thu nhập được xác định thông qua tiền lương,tiền lãi, tiền cho thuế và lợi nhuận trên thị trường nguồn lực sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường, những ai có nguồn tài nguyên, lao động, 2
  3. vốn và kỹ năng quản lý cao hơn sẽ nhận thu nhập cao hơn. Với thu nhập này, các cá nhân đưa ra quyết định loại và số lượng sản phẩm sẽ mua trên thị trường sản phẩm và giá cả định hướng cách thức phân bổ nguồn lực cho những ai mong muốn trả với mức giá thị trường. 1.2. Nền kinh tế Trong nền kinh tế thực, thị trường không thể quyết định tất cả các vấn đề này. Trong hầu hết các xã hội, chính phủ tác động đến cái gì sẽ được sản xuất, sản xuất bằng cách nào và ai sẽ nhận được sản phẩm và dịch vụ. Chi tiêu của chính phủ, các qui định về an toàn sức khỏe, qui định về mức lương tối thiểu, luật lao động trẻ em, các qui định về môi trường, hệ thống thuế và các chương trình phúc lợi có ảnh hưởng quan trọng đến cách thức giải quyết các vấn đề cơ bản trong bất kỳ xã hội nào. 1.2.1. Các thành phần của nền kinh tế Để hiểu được nền kinh tế vận hành như thế nào, chúng ta hãy xem xét các thành phần của nền kinh tế và sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần này. Trong nền kinh tế giản đơn, các thành phần của nền kinh tế bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ. - Hộ gia đình: bao gồm một nhóm người chung sống với nhau như một đơn vị ra quyết định. Một hộ gia đình có thể gồm một người, nhiều gia đình, hoặc nhóm người không có quan hệ nhưng chung sống với nhau. Hộ gia đình là nguồn cung cấp lao động, tài nguyên, vốn và quản lý để nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền lãi và lợi nhuận. Hộ gia đình cũng đồng thời là người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ. - Doanh nghiệp: là tổ chức kinh doanh, sở hữu và điều hành các đơn vị kinh doanh của nó. Đơn vị kinh doanh là một cơ sở trực thuộc dưới hình thức nhà máy, nông trại, nhà bán buôn, bán lẻ hay nhà kho mà nó thực hiện một hoặc nhiều chức năng trong việc sản xuất, phân phối sản phẩm hay dịch vụ. Một doanh nghiệp có thể chỉ có một đơn vị kinh doanh, hoặc cũng có thể có nhiều đơn vị kinh doanh. Trong khi đó một ngành gồm một nhóm các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm giống hoặc tương tự nhau. Để tạo ra sản phẩm và dịch vụ, các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực như: nhà máy, thiết bị văn phòng, phương tiện vận tải, mặt bằng kinh doanh và các nguồn lực khác. Các nhà kinh tế phân chia nguồn lực thành các nhóm: + Tài nguyên: là nguồn lực thiên nhiên như: đất trồng trọt, tài nguyên rừng, quặng mỏ, nước + Vốn (còn gọi là đầu tư), nhằm hỗ trợ cho quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm. Bao gồm : công cụ máy móc, thiết bị, phân xưởng, nhà kho, phương tiện vận tải + Lao động: bao gồm năng lực trí tuệ và thể lực tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ. + Quản lý: là khả năng điều hành doanh nghiệp.Người quản lý thực hiện các cải tiến trong việc kết hợp các nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động để tạo ra hàng hóa và dịch vụ ; đưa ra các quyết định về chính sách kinh doanh; đổi mới sản phẩm, kỹ thuật; cải cách quản lý. - Chính phủ: là một tổ chức gồm nhiều cấp, ban hành các luật, qui định và vận hành nền kinh tế theo một cơ chế dựa trên luật. Chính phủ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công cộng như: an ninh quốc phòng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giao thông, giáo dụ. Bằng cách thay đổi và điều chỉnh luật, qui định, thuế, chính phủ có thể tác động đến sự lựa chọn của các hộ gia đình và doanh nghiệp. 3
  4. 1.2.2. Dòng luân chuyển trong nền kinh tế Thị trường sản phẩm P S Hàng hóa Hàng hóa D – dịch vụ – dịch vụ Doanh thu Q bán hàng Chi tiêu Chi tiêu Hàng hóa- hàng hóa – hàng hóa- dịch vụ dịch vụ dịch vụ Thuế Hàng hóa- dịch vụ Doanh nghiệp Chính phủ Hộ gia đình Hàng hóa – Thuế dịch vụ Nguồn lực Chi phí sử Chi phí sử Chi phí sử sản xuất dụng nguồn dụng nguồn dụng nguồn lực lực lực Thị trường nguồn lực P Nguồn lực S sản xuất Nguồn lực sản xuất D Q Hình 1.1. Sơ đồ chu chuyển nền kinh tế Dòng tiền tệ đi kèm với dòng dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ và nguồn tài nguyên. Hộ gia đình sử dụng thu nhập (từ việc cung cấp nguồn lực) để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Các doanh nghiệp chỉ có thể trả tiền lương, tiền lãi, tiền thuê và lợi nhuận từ doanh thu do bán hàng hóa và dịch vụ cho các hộ gia đình. Chính phủ thu thuế từ hộ gia đình và doanh nghiệp, và cung cấp các dịch vụ công cộng trở lại. Để tạo ra các dịch vụ công cộng, chính phủ mua các nguồn lực từ các hộ gia đình và doanh nghiệp. Đồng thời chính phủ cũng thanh toán cho các hộ gia đình và cho các doanh nghiệp. Biểu đồ trên mô tả mối quan hệ giữa các thành phần trong nền kinh tế thông qua các tương tác trên thị trường sản phẩm và thị trường các nguồn lực. Thực tế, không phải tất cả thu nhập của hộ gia đình đều chi tiêu hết vào hàng hóa và dịch vụ, một số thu nhập dành để tiết kiệm dưới hình thức đầu tư. Khi đó các trung gian tài chính đóng vai trò trung gian trong việc dịch chuyển nguồn vốn cho các nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế toàn cầu, thương mại phải được xem xét trong các nền kinh tế. Nhập khẩu làm dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ từ thị trường nước ngoài vào thị trường nội địa. Trong khi đó, xuất khẩu dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ từ thị trường nội địa ra thị trường thế giới. Xuất khẩu ròng là phần chênh lệch giá trị hàng hóa và dịch vụ giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Khi đó, xuất hiện dòng tiền ròng chảy vào trong nước nếu như xuất khẩu ròng dương và ngược lại. 4
  5. 1.2.3. Các mô hình của nền kinh tế Xã hội có thể vận dụng nhiều cách thức và cơ chế phối hợp để giải quyết các vấn đề kinh tế. Các mô hình của nền kinh tế phân loại dựa trên hai tiêu thức sau: - Quan hệ sở hữu về nguồn lực sản xuất - Cơ chế phối hợp và định hướng các hoạt động của nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường Đặc trưng: - Quan hệ sở hữu tư nhân về nguồn lực sản xuất. - Sử dụng hệ thống thị trường và giá cả để phối hợp và định hướng các hoạt động kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, các thành phần của nền kinh tế vì lợi ích cá nhân sẽ ra các quyết định nhằm tối đa thu nhập. Thị trường là một cơ chế mà ở đó các quyết định và sở thích cá nhân được truyền thông và phối hợp với nhau. Thực tế, các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra và các nguồn lực được cung cấp dưới điều kiện cạnh tranh thị trường thông qua hành động độc lập của người mua và người bán trên thị trường. Nền kinh tế thị trường thúc đẩy sử dụng nguồn lực hiệu quả, gia tăng sản lượng, ổn định việc làm và tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, vai trò của chính phủ là rất hạn chế, chủ yếu là nhằm: - Bảo về quyền sở hữu tư nhân về nguồn lực sản xuất. - Thiết lập hành lang pháp lý phù hợp với kinh tế thị trường. Nền kinh tế kế hoạch Đặc trưng: - Quyền sở hữu công cộng đối với mọi nguồn lực - Quyền đưa ra các quyết định kinh tế bởi chính phủ thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Chính phủ quyết định cơ cấu các ngành, đơn vị sản xuất và phân bổ sản lượng và các nguồn lực sử dụng để tổ chức quá trình sản xuất. Các doanh nghiệp sở hữu bởi chính phủ và sản xuất theo định hướng của Chính phủ giao kế hoạch sản xuất và định mức chi tiêu cho các doanh nghiệp và hoạch định phân bổ nguồn lực cụ thể cho các doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu sản xuất. Nền kinh tế hỗn hợp: nằm giữa hai thái cực của hai mô hình trên. Hầu hết các quốc gia hiện nay đều vận dụng mô hình kinh tế hỗn hợp. Nền kinh tế hỗn hợp phát huy ưu điểm của nền kinh tế thị trường, đồng thời tăng cường vai trò của chính phủ trong việc điều chỉnh các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường. Vai trò của chính phủ đối với nền kinh tế: - Cung cấp một nền tảng pháp lý. - Duy trì năng lực cạnh tranh. - Phân phối thu nhập. - Điều chỉnh phân bổ các nguồn lực xã hội. - Ổn định nền kinh tế 5
  6. ốc Qu ụy Điển ỹ ồng Kong Cu ba Trung Hungary Th Anh M H Kinh tế kế hoạch Kinh tế thị trường hóa tập trung tự do hoàn toàn Hình 1.2. Mức độ tự do hóa thị trường ở một số quốc gia (Nguồn: Begg,1994) 2. KINH TẾ HỌC 2.1. Định nghĩa kinh tế học Kinh tế học là một môn khoa học về kinh tế, nó đi vào nghiên cứu cách thức xã hội và cá nhân sử dụng các nguồn lực khan hiếm để thỏa mãn nhu cầu vô hạn của con người. Mọi hoạt động của nền kinh tế đều nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người. Để thỏa mãn nhu cầu, xã hội cần phải có các nguồn lực, đó chính là các yếu tố sản xuất được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ mà con người cần. Phần lớn nguồn lực của nền kinh tế có tính khan hiếm. Tính khan hiếm thể hiện số lượng hiện có của chúng ít hơn so với nhu cầu của con người cần có chúng để sản xuất ra các sản phẩm mà họ mong muốn. Để dung hòa mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn của con người và khả năng đáp ứng nhu cầu có giới hạn của xã hội, mỗi quốc gia phải có những quyết sách cơ bản để giải quyết 3 vấn đề kinh tế cơ bản trên. Sự khan hiếm nguồn lực đòi hỏi cá nhân và xã hội phải đưa ra quyết định lựa chọn. Các nhà kinh tế cho rằng: “Kinh tế học là khoa học của sự lựa chọn”. Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý các nguồn lực hạn chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của con người. Đặc biệt, kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trong thế giới nguồn lực hạn chế. Dựa vào hành vi kinh tế, các nhà kinh tế phân kinh tế học theo hai mức độ phân tích khác nhau: kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô. 2.2. Kinh tế học vĩ mô. Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế quốc dân và kinh tế toàn cầu, xem xét xu hướng phát triển và phân tích biến động một cách tổng thể, toàn diện về cấu trúc của nền kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô nhằm giải thích giá cả bình quân, tổng việc làm, tổng thu nhập, tổng sản lượng sản xuất. Kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu các tác động của chính phủ như thuế, chi tiêu, thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và thu nhập. Chẳng hạn, kinh tế học vĩ mô nghiên cứu chi phí cuộc sống bình quân của dân cư, tổng giá trị sản xuất, chi tiêu ngân sách của một quốc gia. 2.3. Kinh tế học vi mô Kinh tế học vi mô nghiên cứu các quyết định của các cá nhân và doanh nghiệp và các tương tác giữa các quyết định này trên thị trường. Kinh tế học vi mô giải quyết các đơn vị kinh tế cụ thể của nền kinh tế và xem xét một cách chi tiết cách thức vận hành của các đơn vị kinh tế hay các phân đoạn của nền kinh tế. Mục tiêu của kinh tế học vi mô nhằm giải thích giá và lượng của một hàng hóa cụ thể. Kinh tế học vi mô còn nghiên cứu các qui định, thuế của chính phủ tác động đến giá và lượng hàng hóa và dịch vụ cụ thể. Chẳng hạn, kinh tế học vi mô nghiên cứu các yếu tố nhằm xác định giá và lượng xe ô tô, đồng thời nghiên cứu các qui định và thuế của chính phủ tác động đến giá và lượng sản xuất xe ô tô trên thị trường. 6
  7. Mối quan hệ giữa vi mô và vĩ mô Ranh giới giữa kinh tế học vi mô và kinh tế vĩ mô không thực sự rõ nét vì để hiểu rõ các hoạt động kinh tế ở phạm vi tổng thể ta cần phải nắm vững thái độ của các doanh nghiệp, người tiêu dùng, của công nhân, các nhà đầu tư, v.v. Điều này cho thấy rằng kết quả của hoạt động kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào các hành vi kinh tế vi mô như hoạt động của các doanh nghiệp, người tiêu dùng, v.v. Ngược lại, hành vi của doanh nghiệp, của người tiêu dùng, v.v. bị chi phối bởi các chính sách kinh tế vĩ mô. Do vậy, chúng ta cần nắm vững cả hai ngành trong mối liên hệ tương tác với nhau để có thể nghiên cứu một cách thấu đáo các hiện tượng kinh tế. 3. DOANH NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Kinh tế vi mô tập trung xem xét hành vi sản xuất, trao đổi và tiêu dùng của các đơn vị kinh tế. Để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực như : lao động, vốn, tài nguyên và quản lý. Với những yếu tố này, doanh nghiệp có thể hoạch định và kiểm soát để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Ngoài ra, mỗi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường và chịu sự tác động của môi trường kinh doanh. 3.1. Khái niệm về doanh nghiệp và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. 3.1.1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế - xá hội cao nhất. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp: - Doanh nghiệp sản xuất: + Nghiên cứu nhu cầu thị trường + Chuẩn bị đồng bộ các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất + Tổ chức tốt quá trình kết hợp chặt chẽ, khéo léo giữa các yếu tố cơ bản của đầu vào để tạo ra hàng hoá và dịch vụ, trong đó lao động là yếu tố quyết định. + Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, bán hàng hoá thu tiền về. - Đối với doanh nghiệp thương mại – dịch vụ: + Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ để lựa chọn và quyết định lượng hàng hoá cần mua để bán cho khác hàng theo nhu cầu thị trường. + Tổ chức việc mua các hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị trường. + Tổ chức việc bao gói hoặc chế biến, bảo quản, chuẩn bị bán hàng hoá, dịch vụ. + Tổ chức việc bán hàng hoá và thu tiền về cho doanh nghiệp và chuẩn bị quá trình kinh doanh tiếp theo. 3.1.2. Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả của kinh doanh là rút ngắn chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Chu kỳ kinh doanh là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu khảo sát nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá, dịch vụ đến lúc bán xong hàng hoá và thu tiền về. Bao gồm: - Thời gian nghiên cứu nhu cầu thị trường và quyết định sản xuất. - Thời gian chuẩn bị các đầu vào cho sản xuất - Thời gian tổ chức quá trình sản xuất hoặc bao gói chế biến và mua bán hoặc thời gian bán mua. Muốn rút ngắn chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần áp dụng nhiều biện pháp để đẩy nhanh quá trình kinh doanh, trong đó phải hết sức coi trọng các biện pháp về kinh tế, tổ chức kỹ thuật công nghệ và quản lý. Việc rút ngắn chu kỳ kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đến việc tăng hiệu quả kinh doanh và giảm các chi phí kinh doanh. 7
  8. Điều quan trọng ở đây là các doanh nghiệp muốn đề ra các biện pháp để đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh, tồn tại và phát triển được trong cạnh tranh, cần phải giải quyết tốt được những vấn đề kinh tế cơ bản, những hoạt động có tính quy luật và xu hướng vận động của các hoạt động kinh tế vi mô trong doanh nghiệp của mình. 3.2. Môi trường kinh doanh 3.2.1. Khái niệm Môi trường kinh doanh bao gồm các lực lượng bên ngoài ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào phạm vi và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, các nhà kinh tế phân chia các yếu tố môi trường kinh doanh thành hai nhóm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô. 3.2.2. Môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô bao gồm các tác nhân biên ngoài doanh nghiệp, ảnh hưởng đến doanh nghiệp một cách gián tiếp. Thông thường, phạm vi ảnh hưởng đến hoạt động chung của ngành. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô bao gồm: kinh tế,chính trị -pháp luật, văn hóa – xã hội, công nghệ và tự nhiên. Chẳng hạn, qui định đóng cửa rừng của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khai thác gỗ hoặc doanh nghiệp sản xuất hàng gỗ gia dụng. Tuy nhiên, đây là cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu tổng hợp, có thể thay thế cho gỗ trong việc sản xuất các mặt hàng gia dụng hay văn phòng. 3.2.3. Môi trường vi mô Môi trường vi mô bao gồm các lực lượng bên ngoài,ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thậm chí với cùng một ngành, các doanh nghiệp khác nhau cũng sẽ có các lực lượng bên ngoài khác nhau như: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, trung gian, nhà cung cấp Chẳng hạn, các doanh nghiệp gia công hàng may mặc chịu ảnh hưởng khi chính phủ qui định hạn ngạch xuất khẩu. Đây là ảnh hưởng thuộc môi trường vĩ mô vì ảnh hưởng chung cho tất cả các ngành. Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể có các nhà cung cấp nguyên vật liệu riêng và thị trường cho sản phẩm may mặc có thể ở Châu Âu, Mỹ, hoặc thị trường nội địa. Đây là những lực lượng ảnh hưởng đến từng doanh nghiệp cụ thể. Các lực lượng môi trường có thể được xem như là “không thể kiểm soát được”. Mặc dù, doanh nghiệp không thể kiểm soát được các lực lượng bên ngoài, nhưng họ có thể tác động đến chúng theo nhiều cách thức khác nhau. Chẳng hạn, các doanh nghiệp phát triển công nghệ vật liệu có thể ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp khác sử dụng nguyên liệu đầu vào. Sản phẩm và quảng cáo của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến nhận thức và quan điểm về giá trị của cá nhân và xã hội. Môi trường kinh doanh có thể tác động đến các doanh nghiệp theo chiều hướng khác nhau, cũng có thể là cơ hội hoặc là đe dọa. Chỉ những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mới chớp lấy cơ hội trong một khoảng thời gian nhất định. Một chiến lược phù hợp được thiết lập và thực hiện để không bỏ lỡ cơ hội và hạn chế ảnh hưởng đe dọa. Điều quan trọng đối với doanh nghiệp là dự báo các thay đổi về điều kiện môi trường, hoạch định thích hợp và thực hiện phản hồi chính xác. 4. SỰ LỰA CHỌN KINH TẾ TỐI ƯU CỦA DOANH NGHIỆP Sự khan hiếm nguồn lực đòi hỏi xã hội, cá nhân phải đưa ra sự lựa chọn. Quyết định lựa chọn phải được cân nhắc trên cơ sở xét chi phí cơ hội. Bởi lẽ mỗi cá nhân trong xã hội sở hữu những nguồn lực nhất định (để có thể sản xuất hay tiêu dùng một số hàng hóa nhất định) cho dù cá nhân có nguồn lực dồi dào đi chăng nữa thì sự giới hạn về thời gian và nhân lực chỉ cho phép họ sản xuất và tiêu dùng một số hàng hóa nhất định. 8
  9. 4.1. Chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn. Đây là một ý tưởng đơn giản nhưng được sử dụng hết sức rộng rãi trong cuộc sống. Nếu chúng ta hiểu rõ khái niệm này, thì nó trở thành một công cụ hữu ích nhất giúp chúng ta đưa ra các quyết định lựa chọn có hiệu quả khi đứng trước hàng loạt các tình huống khác nhau xảy ra trong hoạt động kinh tế. Chi phí cơ hội là giá trị lớn nhất trong các giá trị của các cơ hội bị bỏ qua khi đưa ra một quyết định lựa chọn để nhận được một giá trị từ quyết định đó. Ví dụ: một sinh viên trong quá trình học đã học tập rất chuyên cần, chăm chỉ, có phương pháp học tập tốt và đã thể hiện được khả năng tự nghiên cứu và trình độ của mình qua kết quả cao trong học tập. Sau khi tốt nghiệp đã có nhiều doanh nghiệp mời anh ta về làm việc. Có 4 doanh nghiệp đến chào mời anh ta với các mức lương được đề xuất như sau: doanh nghiệp A: 5 triệu, B: 4,8 triệu, C: 6 triệu, D: 7 triệu (các điều kiện khác để làm việc tại 4 doanh nghiệp này là như nhau). Như vậy, anh ta có 4 cơ hội để lựa chọn và tất nhiên anh ta sẽ chọn doanh nghiệp D. Vậy chi phí cơ hội của quyết định này là bao nhiêu ? Quyết định này đúng hay sai ? Chi phí cơ hội của quyết định này là 6 triệu. Đây là quyết định đúng vì với quyết định này, anh ta đã nhận được một giá trị (7 triệu) lớn hơn chi phí cơ hội. Vì vậy, người ta lý giải hành vi kinh tế bằng cách luận chứng rằng, các tác nhân kinh tế sẽ lựa chọn một cách hành động bằng cách cân nhắc, so sánh những lợi ích do sự lựa chọn đó đem lại và chi phí tính theo những cơ hội đó đã bị bỏ qua. Chẳng hạn, khi quyết định sử dụng thời gian của mình trong ngày hôm nay, tối đã chọn việc nghe chuyên gia giảng chuyên đề, vì những lợi ích đạt được sẽ lớn hơn là chi phí cơ hội trong trường hợp sử dụng thời gian hiện có để đọc sách. Khi các nhà kinh tế đề cập đến chi phí và lợi ích liên quan đến lựa chọn. Các tranh luận thường tập trung vào lợi ích biên và chi phí biên. Lợi ích biên của một hoạt động là lợi ích tăng thêm liên quan đến việc gia tăng thêm một đơn vị hoạt động. Chi phí biên được xác định bằng chi phí tăng thêm liên quan đến việc gia tăng thêm một đơn vị hoạt động. Các nhà kinh tế giả định rằng các cá nhân cố gắng tối đa hóa lợi ích ròng liên quan đến mỗi hoạt động. Nếu lợi ích biên vượt quá chi phí biên, lợi ích ròng sẽ tăng lên nếu mức hoạt động tăng lên. Vì vậy, các cá nhân sẽ tăng mức hoạt động khi mà lợi ích biên còn lớn hơn chi phí biên. Nói cách khác nếu chi phí biên vượt quá lợi ích biên,lợi ích ròng sẽ tăng lên nếu mức hoạt động giảm xuống. Không có lý do gì phải thay đổi mức hoạt động (lợi ích ròng đạt được cực đại) tại mức hoạt động mà ở đó lợi ích biên bằng với chi phí biên. 4.2. Đường giới hạn năng lực sản xuất Sự khan hiếm tài nguyên làm cho việc sản xuất bị hạn chế về mặt sản lượng. Đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết các kết hợp khác nhau của hai (hay nhiều loại hàng hóa) có thể được sản xuất từ một số lượng nhất định của nguồn tài nguyên (khan hiếm). Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sự khan hiếm của nguồn tài nguyên. Thí dụ, giả sử một nền kinh tế có bốn đơn vị lao động tham gia vào sản xuất thực phẩm và vải. Số liệu về khả năng sản xuất của nền kinh tế này được trình bày trong bảng 1.1 dưới đây. 9
  10. Bảng 1.1. Khả năng sản xuất Phương án Thực phẩm Vải sản xuất Số đơn vị lao động Sản lượng Số đơn vị lao động Sản lượng A 4 25 0 0 B 3 22 1 9 C 2 17 2 17 D 1 10 3 24 E 0 0 4 30 Dựa vào số liệu trong bảng 1.1, ta có thể vẽ nên một đường cong được gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất như trong hình 1.2 dưới đây. Thực phẩm (số lượng) A Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) 25 B 22 C 17 D 10 E 9 17 24 30 Vải (số lượng) Hình 1.3. Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) Tổng quát, đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết sản lượng tối đa của hai (hay nhiều) sản phẩm có thể sản xuất được với một số lượng tài nguyên nhất định. Nếu số công nhân phân định cho mỗi ngành càng nhiều thì sẽ càng tạo ra nhiều sản phẩm, nhưng năng suất của mỗi công nhân về sau càng giảm. Hiện tượng này được mô tả bởi quy luật kết quả biên giảm dần. Quy luật kết quả biên giảm dần cho biết là sẽ trở nên khó hơn khi thực hiện một hoạt động nào đó ở mức độ cao hơn. Thí dụ, khi ta lái xe thật chậm, ta có thể dễ dàng tăng tốc độ lên, chẳng hạn, 10 km/giờ, nhưng khi ta đã lái xe thật nhanh thì việc tăng tốc độ lên thêm 10km/giờ sẽ rất khó đạt được. Quy luật này có thể được quan sát thấy ở rất nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực kinh tế, ta có thể cụ thể hóa nó như sau: việc mở rộng sản xuất bất kỳ một hàng hóa nào đó thì sẽ càng lúc càng khó hơn và ta phải sử dung nguồn tài nguyên càng lúc càng nhiều để tạo ra thêm một sản phẩm. Việc tăng mức độ thỏa mãn của ta đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ càng lúc càng khó khăn hơn khi chúng ta tiêu dùng nó càng nhiều. Nếu ta di chuyển dọc theo đường giới hạn khả năng sản xuất, chẳng hạn từ điểm A đến điểm B của hình 1.2, ta sẽ thấy việc sản xuất thêm vải sẽ làm cho số lương thực giảm đi. Từ nhận xét này, các nhà kinh tế giới thiệu khái niệm chi phí cơ hội của việc sản xuất thêm một loại hàng hóa nào đó. Chi phí cơ hội (để sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm X) là số đơn vị sản phẩm Y phải sản xuất bớt đi để sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm X. Như vậy, nghịch dấu với độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất tại một điểm chính là chi phí cơ hội tại điểm đó. Do đó, trên sơ đồ trên ta có thể thấy chi phí cơ hội khác nhau giữa hai điểm A và B của đường giới hạn khả năng sản xuất. Công thức tính chi phí cơ hội như sau: dY Chi phí cơ hội = - = - Độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất dX 10
  11. Đường giới hạn khả năng sản xuất cho chúng ta thấy 3 vấn đề lớn như sau : - Sự khan hiếm: được biểu thị bằng sự tồn tại của các kết hợp không thể đạt được. - Sự lựa chọn: được biểu thị bằng sự cần thiết phải lựa chọn giữa các kết hợp có thể đạt được (nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất). - Chi phí cơ hội: được biểu thị qua dạng nghịch biến của đường giới hạn khả năng sản xuất. Nó cho thấy để có thêm được một sản phẩm này thì ta phải từ bỏ một hay nhiều sản phẩm khác. Sự lựa chọn kinh tế tối ưu trước hết phải nằm trên đường giới hạn năng lực sản xuất hiện có, nhưng trên đường năng lực cho phép đó, chúng ta sẽ chọn tại điểm nào thì tối ưu nhất cho mong muốn của chúng ta. Điểm có hiệu quả nhất trước hết là điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất và điểm đó thỏa mãn tối đa các nhu cầu của xã hội và con người mong muốn. 4.3. Ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dân, chi phí cơ hội ngày càng tăng và hiệu quả đến việc lựa chọn tối ưu. 4.3.1. Tác dụng của quy luật khan hiếm Nhu cầu của con người không ngừng tăng lên và ngày càng đa dạng, phong phú, đòi hỏi hàng hóa và chất lượng dịch vụ ngày càng cao, tiện ích mang lại ngày càng nhiều. Tuy nhiên tài nguyên để thỏa mãn những nhu cầu trên ngày càng khan kiếm và cạn kiệt (đất đai, khoáng sản, lâm sản, hải sản ). Quy luật khan hiếm tài nguyên so với nhu cầu của con người ảnh hưởng gây gắt đến sự lựa chọn kinh tế tối ưu trong hoạt động kinh tế vi mô. Đối với vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu đặt ra ngày càng thực hiện rất khó khăn. Đòi hỏi doanh nghiệp phải lựa chọn những vấn đề kinh tế cơ bản của mình trong giới hạn cho phép của khả năng sản xuất và sức cạnh tranh ngày càng gia tăng. 4.3.2. Tác dụng của quy luật lợi suất giảm dần Quy luật lợi suất giảm dần cho biết khối lượng đầu ra có thêm ngày càng giảm khi ta liên tiếp bỏ thêm những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi (đầu vào khác giữ nguyên). Quy luật lợi suất giảm dần đòi hỏi trong lựa chọn tối ưu doanh nghiệp phải phối hợp đầu vào sản xuất với một tỷ lệ tối ưu 4.3.3. Tác động của quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng Chi phí cơ hội: là chi phí để sản xuất ra một mặt hàng được tính bằng số lượng mặt hàng khác bị bỏ đi để sản xuất thêm một đơn vị mặt hàng đó. Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng cho biết: khi muốn tăng dần từng đơn vị mặt hàng này, xã hội phải bỏ đi ngày càng nhiều số lượng mặt hàng khác: quy luật đòi hỏi sử dụng tài nguyên vào sản xuất các mặt hàng khác nhau một cách hiệu quả . 4.3.4. Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm duy nhất của kinh tế học nói chung, kinh tế vi mô nói riêng. Hiệu quả, nói khái quát nghĩa là không lãng phí, nhưng nó quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng năng lực sản xuất hiện có. Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả khi nó không thể sản xuất một mặt hàng với số lượng nhiều hơn, mà không sản xuất một mặt hàng khác với số lượng ít hơn, khi nó nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Mức sản xuất có hiệu quả nằm trên đường năng lực sản xuất, nhưng điểm có hiệu nhất là điểm cho phép vừa sản xuất tối đa các loại hàng hóa theo nhu cầu thị trường và sử dụng đầy đủ năng lực sản xuất. Dưới đường năng lực sản xuất là không có hiệu quả vì sử dụng không đầy đủ năng lực sản xuất. Ngoài đường năng lực sản xuất là không khả thi. 11
  12. Như vậy, ta có thể nhấn mạnh mấy vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh tế theo quan điểm kinh tế học vi mô: - Tất cả những quyết định sản xuất cái gì trên đường giới hạn năng lực sản xuất là có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực. - Số lượng hàng háo đạt trên đường giới hạn của năng lực sản xuất càng lớn càng có hiệu quả cao. - Sự thỏa mãn tối đa về mặt hàng, chất lượng, số lượng hàng hóa theo nhu cầu thị trường trong giới hạn cảu đường năng lực sản xuất cho ta đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. - Kết quả trên một đơn vị chi phí càng lớn hoặc chi phí trên một đơn vị kết quả càng nhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao. Sự đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất cho ta khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và tích lũy lớn. Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. 4.3.5. Ảnh hưởng của mô hình kinh tế Mô hình kinh tế chỉ huy Doanh nghiệp hoạt động theo những kế hoạch kinh tế của chính phủ , dựa trên quan hệ cấp phát, giao nộp sản phẩm hầu như doanh nghiệp không có cơ hội lựa chọn , những vấn đề kinh tế cơ bản đều được giải quyết từ kế hoạch hóa tập trung của chính phủ . Doanh nghiệp chỉ là người thực hiện , chỉ lựa chọn những phương hướng , những giải pháp để thực hiện tốt nhất kế hoạch chính phủ trên cơ sở những quy định của chính phủ. Mô hình kinh tế thị trường Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập tự chủ kinh doanh , phải lựa chọn , xác định tối ưu những vấn đề kinh tế cơ bản. Nó không gặp phải những sức ép hay sự hỗ trợ nào đó từ chính phủ , tuy nhiên cạnh tranh gay gắt , biến động khó lường. Doanh nghiệp phải năng động nhạy bén tìm mọi biện pháp để phân phối sử dụng nguồn lực có hiệu quả nhất. Có thể nói ở đây sự lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp đã đạt đến đỉnh cao của tự do lựa chọn . Mô hình kinh tế hỗn hợp Mô hình kinh tế này phát huy được tính năng động , tích cực của doanh nghiệp trong tự chủ kinh doanh tạo ra động lực phát triển khoa học , kỹ thuật và kinh tế . Đồng thời phát huy được vai trò quản lý điều tiết kinh tế vĩ mô của chính phủ là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp lựa chọn kinh tế tối ưu một cách có hiệu quả. CÂU HỎI THẢO LUẬN 1. Những nhận định nào dưới đây thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vi mô và những nhận định nào thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô? a. Đánh thuế cao vào mặt hàng rượu bia sẽ hạn chế số lượng bia được sản xuất. b. Thất nghiệp trong lực lượng lao động đã tăng nhanh vào thập niên 2000. c. Thu nhập của người tiêu dùng tăng sẽ làm cho người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn. d. Người công nhân nhận được lương cao hơn sẽ mua nhiều hàng xa xỉ hơn. e. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế năm nay cao hơn năm qua. f. Các doanh nghiệp sẽ đầu tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. 2. Bạn có giải quyết ba vấn đề cơ bản của kinh tế trong cuộc sống hàng ngày không? Cho ví dụ minh họa. 3. Những nhận định nào dưới đây không đúng đối với nền kinh tế kế hoạch tập trung? a. Các doanh nghiệp tự do lựa chọn thuê mướn nhân công. b. Chính phủ kiểm soát phân phối thu nhập. c. Chính phủ quyết định cái gì nên sản xuất. 12
  13. d. Giá cả hàng hoá do cung - cầu trên thị trường quyết định. 4. Câu nói sau đây đúng hay sai? "Một nền kinh tế có thất nghiệp không sản xuất ở mức sản lượng nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)." 5. Tại sao đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) có thể minh họa cho sự khan hiếm tài nguyên? 6. Kinh tế học đề cập đến ba vấn đề cơ bản của xã hội: sản xuất ra cái gì, như thế nào và cho ai. Những sự kiện sau đây liên quan đến vấn đề nào trong ba vấn đề trên? a. Các nhà khai khoáng mới phát hiện ra mỏ dầu có trữ lượng lớn. b. Chính phủ điều chỉnh thuế thu nhập sao cho người nghèo được phân phối nhiều hơn từ người giàu. c. Chính phủ cho phép tư nhân hóa một số ngành chủ yếu. d. Phát minh ra máy vi tính. BÀI TẬP 1. Một bộ lạc sống trên một hòn đảo nhiệt đới gồm có 5 người. Thời gian của họ dành để thu hoạch dừa và nhặt trứng rùa. Một người có thể thu được 20 quả dừa hay là 10 quả trứng một ngày. Năng suất của mỗi người không phụ thuộc vào số lượng người làm việc trong ngành. a. Hãy vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất đối với dừa và trứng. b. Giả sử có một sáng chế ra một kỹ thuật trèo cây mới giúp công việc hái dừa dễ dàng hơn nên mỗi người có thể hái được 28 quả một ngày. Hãy vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất mới. c. Hãy giải thích tại sao hình dạng của đường giới hạn khả năng sản xuất trong bài tập này khác với trong bài tập 1. 13
  14. Chương 2. CUNG CẦU HÀNG HÓA Mục tiêu: Sau khi học xong chương này, người học có thể: - Giải thích được khái niệm cầu, lượng cầu, cầu cá nhân, cầu thị trường, luật cầu, cung, lượng cung, cung cá nhân, cung thị trường. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu, cung hàng hóa trên thị trường. - Giải thích trạng thái cần bằng thị trường, cơ chế hình thành giá cả của hàng hóa trên thị trường; sự thay đổi của cung cầu ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng. - Tính độ co giãn của cung, cầu. - Giải thích được sự can thiệp của Chính phủ đến giá cả của hàng hóa trên thị trường, qua đó ảnh hưởng đến lợi ích của người sản xuất, người tiêu dung khi mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. 1. THỊ TRƯỜNG Trong phần này, chúng tôi giới thiệu một định nghĩa hẹp về thị trường. Thị trường là tập hợp các thỏa thuận thông qua đó người bán và người mua tiếp cận nhau để mua bán hàng hóa và dịch vụ. Theo định nghĩa này, thị trường không phải là một địa điểm cụ thể và bị giới hạn trong một không gian cụ thể mà chính là những thỏa thuận giữa người mua và người bán. Nơi nào có sự thỏa thuận giữa người mua và người bán để mua bán hàng hóa, dịch vụ thì nơi đó có là thị trường. Do đó, thị trường có thể là một quán cà phê, một chợ, một cuộc ký kết hợp đồng mua bán Tại một số thị trường, người mua và người bán gặp gỡ trực tiếp với nhau như chợ trái cây, tiệm ăn Một số thị trường lại được vận hành thông qua các trung gian hay người môi giới như thị trường chứng khoán; những người môi giới ở thị trường chứng khoán giao dịch thay cho các thân chủ của mình. Ở những thị trường thông thường, người bán và người mua có thể thỏa thuận về giá cả và số lượng. Thí dụ, tại chợ Cần Thơ người mua và người bán có thể trực tiếp thương lượng giá. Như vậy, thị trường rất đa dạng và xuất hiện ở bất cứ nơi nào có sự trao đổi mua bán. Hình thức của thị trường khác nhau nhưng các thị trường có cùng một chức năng kinh tế: thị trường xác lập mức giá và số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà tại đó người mua muốn mua và người bán muốn bán. Giá cả và số lượng hàng hóa hay dịch vụ được mua bán trên thị trường thường song hành với nhau. Ứng với một mức giá nhất định, một số lượng hàng hoá nhất định sẽ được mua bán. Vì thế, thị trường sẽ giúp giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản nêu trên của kinh tế học. Để hiểu rõ hơn cơ chế vận hành của thị trường, ta sẽ tìm hiểu hành vi của người mua (biểu hiện qua cầu) và người bán (biểu hiện qua cung) trên thị trường. 2. CẦU 2.1. Khái niệm cầu và lượng cầu 2.1.1. Khái niệm cầu Cầu (của người mua) đối với một loại hàng hóa nào đó là số lượng của loại hàng hóa đó mà người mua muốn mua tại mỗi mức giá chấp nhận được trong một thời gian nhất định nào đó tại một địa điểm nhất định. Khái niệm nêu trên cho thấy cầu không phải là một số lượng cụ thể mà là một sự mô tả toàn diện về số lượng hàng hóa mà người mua muốn mua ở mỗi mức giá cụ thể. 14
  15. Số lượng của một loại hàng hóa nào đó mà người mua muốn mua ứng với một mức giá nhất định được gọi là lượng cầu của hàng hóa đó tại mức giá đó. Như thế, lượng cầu chỉ có ý nghĩa khi gắn với một mức giá cụ thể. Thí dụ: Cầu đối với áo quần được trình bày trong bảng 2.1. Chúng ta nhận thấy một đặc điểm của hành vi của người tiêu dùng là: khi giá càng cao, lượng cầu của người tiêu dùng giảm đi. Chẳng hạn, ở mức giá là không, người mua được cho không áo quần. Vì thế, lượng cầu ở mức giá này sẽ rất cao và có thể không thống kê được. Khi giá tăng lên 40.000 đồng/bộ, một số người tiêu dùng không còn khả năng thanh toán hay người tiêu dùng mua ít đi do cảm thấy giá đắt hơn nên từ bỏ ý định mua. Do vậy, lượng cầu lúc này giảm xuống còn 160.000 bộ/tuần. Tương tự, khi giá càng cao, số lượng hàng hóa mà người mua muốn mua tiếp tục giảm. Nếu giá là 200.000 đồng/bộ, người mua có lẽ không chấp nhận mức giá này nên không mua một hàng hóa nào hay lượng cầu lúc này bằng không. Bảng 2.1. Cầu và cung đối với áo quần Giá (1.000 đồng/ bộ) Cầu (1.000 bộ/ tuần) Cung (1.000 bộ/ tuần) 0 - 0 40 160 0 80 120 40 120 80 80 160 40 120 200 0 160 2.1.2. Hàm cầu và đường cầu Từ thí dụ trên ta thấy rằng cầu của người tiêu dùng đối với một loại hàng hóa nào đó phụ thuộc vào giá của mặt hàng đó, nếu như các yếu tố khác là không đổi. Khi giá tăng thì lượng cầu giảm đi và ngược lại. Vì vậy, với giả định là các yếu tố khác là không đổi, ta có thể biểu diễn lượng cầu đối với một hàng hóa nào đó như là một hàm số của giá của chính hàng hóa đó như sau: QD = f(P) (2.1) Hàm số biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu của một mặt hàng và giá của nó, như hàm số (2.1), được gọi là hàm cầu. Để tiện lợi cho việc lý giải các vấn đề cơ bản của kinh tế học vi mô, người ta thường dùng hàm số bậc nhất (hay còn gọi là hàm số tuyến tính) để biểu diễn hàm cầu. Vì vậy, hàm cầu thường có dạng: QD a bP hay P QD (2.2) Trong đó: QD là số lượng cầu (hay còn gọi là số cầu); P là giá cả và a, b, và  là các hằng số. Vì lượng cầu và giá có mối quan hệ nghịch biến với nhau nên hệ số b có giá trị không dương (b 0); tương tự,  0. Với dạng hàm số như (2.2), đồ thị của hàm cầu (hay còn gọi là đường cầu) có thể được vẽ như một đường thẳng (Hình 2.1). Các điểm nằm trên đường cầu sẽ cho biết lượng cầu của người mua ở các mức giá nhất định. Thí dụ, điểm A nằm trên đường cầu D trong hình 2.1 cho biết lượng cầu ở mức giá 120.000 đồng/bộ là 80.000 bộ. Khi giá tăng từ 120.000 đồng/bộ đến 160.000 đồng/bộ, lượng cầu giảm xuống còn 40.000 bộ (điểm B). 15
  16. P (1000đ/ bộ) B 160 A 120 Đường cầu (D) 40 80 QD (1000bộ/ tuần) Hình 2.1. Đường cầu Do giá tăng từ 120.000 đồng/bộ đến 160.000 đồng/bộ, điểm A di chuyển đến điểm B trên đường cầu D. Sự di chuyển này gọi là sự di chuyển dọc theo đường cầu. Sự di chuyển này bắt nguồn từ sự thay đổi của giá của chính hàng hóa đó. Khi xem xét hình dạng của đường cầu, ta cần lưu ý các điểm sau: Đường cầu thường có hướng dốc xuống từ trái sang phải vì khi giá cả tăng lên lượng cầu giảm đi. Đường cầu không nhất thiết là một đường thẳng. Trong hình 2.1, ta vẽ đường cầu có dạng đường thẳng, điều này chỉ nhằm làm đơn giản hóa việc khảo sát của chúng ta về cầu. Trong nhiều trường hợp, đường cầu có thể có dạng đường cong. 2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu đối với hàng hóa Trong các phần trước, khi nghiên cứu đường cầu của một loại hàng hóa chúng ta giả định là các yếu tố khác với giá của hàng hóa đó là không đổi. Bây giờ, chúng ta sẽ lần lượt xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố khác với giá đến lượng cầu đối với hàng hóa. Nhận xét tổng quát là: các yếu tố khác với giá thay đổi có thể làm dịch chuyển đường cầu. Cũng cần lưu ý rằng chúng ta chỉ có thể nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu tố một đến cầu, mà không xem xét ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố như một tổng thể. Điều này có nghĩa là khi nghiên cứu ảnh hưởng của một yếu tố này thì ta giả định các yếu tố khác không đổi. Có như thế ta mới nhận thấy rõ tác động của yếu tố mà ta cần xem xét. Phương pháp nghiên cứu như vậy gọi là phương pháp phân tích so sánh tĩnh. Sự ảnh hưởng của các yếu tố khác với giá đến cầu đối với hàng hóa được mô tả như dưới đây. 2.2.1. Thu nhập của người tiêu dùng Khi thu nhập tăng, cầu đối với hầu hết các hàng hóa đều gia tăng vì với thu nhập cao hơn người tiêu dùng thường có xu hướng mua hàng hóa nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ, tùy thuộc vào tính chất của hàng hóa, như được trình bày dưới đây. Cầu đối với loại hàng hóa thông thường sẽ tăng khi thu nhập của người tiêu dùng tăng. Thí dụ, người tiêu dùng sẽ mua quần áo, sẽ mua ti-vi màu, sử dụng các dịch vụ giải trí, v.v. nhiều hơn khi thu nhập của họ tăng lên. Những hàng hóa này là những hàng hóa thông thường. Ngược lại, cầu đối với hàng hóa thứ cấp (hay còn gọi là cấp thấp) sẽ giảm khi thu nhập của người tiêu dùng tăng. Hàng cấp thấp thường là những mặt hàng rẻ tiền, chất lượng kém như ti-vi trắng đen, xe đạp, v.v. mà mọi người sẽ không thích mua khi thu nhập của họ cao hơn. Nói chung, khi thu nhập thay đổi, người tiêu dùng sẽ thay đổi nhu cầu đối với các loại hàng hóa. Điều này sẽ tạo nên sự dịch chuyển của đường cầu. Hình 2.2 trình bày sự dịch chuyển của đường cầu do ảnh hưởng của thu nhập có tính đến tính chất của hàng hóa. Đường cầu đối với hàng hóa thông thường sẽ dịch chuyển về phía phải khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên; ngược lại, đường cầu đối với hàng hóa cấp thấp sẽ dịch chuyển về phía trái khi khi thu nhập của người tiêu dùng tang lên. 16
  17. Một loại hàng hóa có thể vừa là hàng hóa thông thường và vừa là hàng hóa cấp thấp. Chẳng hạn, người tiêu dùng sẽ mua quần áo nhiều hơn ứng với một mức giá nhất định khi thu nhập tăng. Người tiêu dùng có lẽ sẽ chi tiền nhiều hơn cho các loại quần áo thời trang, cao cấp, đẹp nhưng sẽ chi ít hơn cho các loại quần áo rẻ tiền, kém chất lượng. Như vậy, quần áo có thể vừa là hàng hoá bình thường và vừa là hàng hoá cấp thấp. Cùng với sự gia tăng của thu nhập của người tiêu dùng theo thời gian, một hàng hóa, dịch vụ là hàng bình thường hôm nay có thể trở thành một hàng thứ cấp trong tương lai. Thí dụ, ở Việt Nam, xe đạp là hàng hóa bình thường vào đầu những năm 1990 nhưng lại là hàng thứ cấp vào cuối những năm 1990 do thu nhập của người tiêu dùng vào cuối những năm 1990 cao hơn thu nhập vào đầu những năm 1990. P P A1 A2 A2 A1 120 120 (D ) (D1) 2 (D1) (D2) 80 80 100 QD 60 QD a) Sự thay đổi cầu của b) Sự thay đổi cầu của hàng hóa thông thường hàng hóa thứ cấp Hình 2.2. Ảnh hưởng của sự gia tăng thu nhập đến cầu của hàng hóa thông thường và thứ cấp Khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên, nếu quần áo là hàng hóa thông thường, (a) tại mức giá 120, lượng cầu tăng từ 80 lên 100, làm cho đường cầu dịch chuyển sang phải từ D1 đến D2. Nếu quần áo là hàng hóa thứ cấp, người tiêu dùng giảm lượng mua xuống còn 60, đường cầu dịch chuyển sang trái (b) Bảng 2.2 cho thấy mối liên hệ giữa thu nhập và số lượng tiêu thụ của một số loại hàng tiêu dùng tính bình quân trên một hộ gia đình của nước ta trong giai đoạn 1997-1998. Trong các mặt hàng lương thực - thực phẩm, gạo và muối có thể được xem như là hàng cấp thấp vì các hộ gia đình có thu nhập càng cao có xu hướng tiêu dùng gạo và muối càng ít đi. Đó là do khi thu nhập tăng lên, tâm lý tiêu dùng của người dân có thể thay đổi. Khi thu nhập tăng lên, người tiêu dùng nghĩ đến việc thưởng thức bữa ăn ngon hơn là ăn cho no. 17
  18. Bảng 2.2. Khối lượng tiêu dùng một số hàng lương thực thực phẩm phân theo nhóm chi tiêu Nhóm chi tiêu 1 2 3 4 5 Thu nhập (1000 đồng) 1239 1904 2450 3440 8646 Hàng hóa Gạo các loại (kg) 11,48 13,37 13,62 13,22 10,94 Muối (kg) 0,32 0,33 0,31 0,31 0,25 Thịt các loại (kg) 0,49 0,81 1,03 1,44 2,06 Trứng (quả) 0,73 1,52 1,95 2,94 4,60 Thủy hải sản (kg) 0,66 0,96 1,22 1,41 1,43 Sữa, sản phẩm sữa (kg) 0,00 0,01 0,05 0,03 0,17 Nước giải khát (lít) 0,01 0,04 0,05 0,12 0,28 Bia, rượu (lít) 0,32 0,37 0,40 0,51 0,66 (Nguồn: Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997 – 1998) Khác với gạo và muối, các loại thực phẩm như thịt, trứng, sữa, thủy hải sản, rượu và bia đều được tiêu dùng nhiều hơn khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên. Các loại hàng hóa này có thể được xem là hàng hóa bình thường. Đặc biệt, số lượng tiêu dùng của các mặt hàng trứng, sữa và nước giải khát tăng rất cao ở nhóm chi tiêu 5 so với nhóm 4. Bây giờ, chúng ta hãy xem xét sự thay đổi của cơ cấu tiêu dùng đối với các mặt hàng lương thực - thực phẩm khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên theo các nhóm chi tiêu để nghiên cứu sự thay đổi của cầu trong tương lai. Bảng 2.3. Cơ cấu chi tiêu một số mặt hàng phân theo nhóm chi tiêu (Đơn vị tính: %) Nhóm chi tiêu Loại hàng hóa 1 2 3 4 5 Lương thực, thực phẩm 61,65 55,81 51,07 43,98 28,75 Ăn uống ngoài gia đình 0,70 1,86 2,74 4,48 7,63 May mặc 5,79 5,71 5,38 4,76 3,34 Ở 4,00 4,62 5,29 6,44 9,81 Y tế 4,64 5,21 5,45 5,71 5,01 Giao thông, bưu điện 0,48 0,65 0,77 0,94 1,80 Giáo dục 3,22 3,95 4,52 5,53 8,28 Văn hóa thể thao và giải trí 0,08 0,10 0,17 0,37 1,12 (Nguồn: Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997 – 1998) Từ bảng 2.3, ta có thể thấy rằng các mặt hàng lương thực - thực phẩm và may mặc là những mặt hàng cấp thấp vì tỷ trọng chi tiêu cho chúng giảm dần khi mức sống của người dân tăng lên. Dịch vụ y tế đối với những người có mức chi tiêu thấp có thể là loại hàng bình thường vì khi thu nhập tăng lên thì chi tiêu cho dịch vụ y tế có xu hướng tăng lên; khi nhóm chi tiêu tăng đần tứ 1 đến 4, tỷ trọng chi tiêu cho hàng hóa này tăng dần. Tuy nhiên, đối với nhóm người thứ 5, những người có mức chi tiêu cao nhất, tỷ trọng chi tiêu cho hàng hóa này 18
  19. lại giảm đi. Dịch vụ y tế có thể lại trở thành hàng thứ cấp. Giao thông, bưu điện, giáo dục và giải trí là những hàng hóa bình thường và có phần xa xỉ. Những người thuộc các nhóm có thu nhập thấp chi rất ít cho những hàng hóa này. Mức chi tiêu cho chúng sẽ gia tăng khi thu nhập tăng. Những người thuộc nhóm thứ 5 có mức chi tiêu cho hoạt giải trí rất cao so với nhóm 4. Điều này chứng tỏ người dân sẽ chú trọng nhiều hơn đến vui chơi giả trí khi mức sống được nâng cao. Việc nghiên cứu sự thay đổi của nhu cầu khi thu nhập của người tiêu dùng thay đổi có ý nghĩa trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất và phân bổ tài nguyên của một nền kinh tế. Tập quán tiêu dùng sẽ thay đổi khi thu nhập thay đổi. Do vậy, cơ cấu hàng hóa sản xuất ra cũng phải thay đổi theo để phù hợp với nhu cầu mới. Có như vậy, sự phân bổ tài nguyên trong xã hội mới có hiệu quả và tránh được lãng phí. 2.2.2. Giá cả của hàng hóa có liên quan Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng giá xe gắn máy hay giá xăng tăng lên có thể làm tăng nhu cầu sử dụng xe buýt tại mỗi mức giá nhất định, nếu giá vé xe buýt không đổi. Các nhà kinh tế cho rằng xe gắn máy là những phương tiện thay thế cho xe buýt. Nói chung, nhu cầu đối với một loại hàng hóa nào đó chịu ảnh hưởng bởi giá cả của hàng hóa có liên quan. Có hai loại hàng hóa có liên quan mà các nhà kinh tế thường đề cập đến là: hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung. Hàng hóa thay thế. Hàng hóa thay thế là những loại hàng hóa cùng thỏa mãn một nhu cầu (nhưng có thể mức độ thỏa mãn là khác nhau). Thông thường, hàng hóa thay thế là những loại hàng hóa cùng công dụng và cùng chức năng nên người tiêu dùng có thể chuyển từ mặt hàng này sang mặt hàng khác khi giá của các mặt hàng này thay đổi. Thí dụ, người tiêu dùng có thể thay thế thịt bằng cá khi giá thịt tăng lên và giá cá không đổi; khách du lịch có thể lựa chọn giữa Vũng Tàu, Đà Lạt hay Nha Trang. Quan sát trên cho phép ta đưa ra nhận xét quan trọng sau: cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) đi khi giá của (các) mặt hàng hóa thay thế của nó giảm (tăng), nếu các yếu tố khác là không đổi. Hàng hóa bổ sung. Hàng hóa bổ sung là những hàng hóa được sử dụng song hành với nhau để bổ sung cho nhau nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó. Trong thực tế có rất nhiều hàng hóa bổ sung. Thí dụ, xăng là hàng hóa bổ sung cho xe gắn máy vì chúng ta không thể sử dụng xe gắn máy mà không có xăng. Giá xăng tăng có thể dẫn đến lượng cầu đối với xe gắn máy giảm xuống. Gas và bếp gas, máy hát CD và đĩa CD là những hàng hóa bổ sung cho nhau. Từ những thí dụ trên, ta cũng có thể dưa ra một nhận xét quan trọng sau: cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) khi giá của (các) hàng hóa bổ sung của nó tăng (giảm), nếu các yếu tố khác không đổi. 2.2.3. Giá cả của chính loại hàng hóa đó trong tương lai Cầu đối với một hàng hóa, dịch vụ còn có thể phụ thuộc vào sự dự đoán của người tiêu dùng về giá của hàng hóa, dịch vụ đó trong tương lai. Việc người dân đổ xô mua đất đai trong thời gian gần đây là do họ dự đoán giá đất đai sẽ gia tăng trong thời gian tới khi nhu cầu về đất để sinh sống và đô thị hóa gia tăng. Thông thường, người tiêu dùng sẽ mua nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn khi họ dự đoán giá trong tương lai của hàng hóa, dịch vụ đó tăng và ngược lại. 2.2.4. Thị hiếu của người tiêu dùng Trong các phần trước, có một một yếu tố nữa được giữ cố định khi phân tích đường cầu. Đó là thị hiếu hay sở thích của người tiêu dùng. Sở thích của người tiêu dùng có thể chịu ảnh hưởng của phong tục, tập quán, môi trường văn hóa - xã hội, thói quen tiêu dùng, v.v. của người tiêu dùng. Khi những yếu tố này thay đổi, nhu cầu đối với một số loại hàng hóa cũng đổi theo. Thí dụ, khi phim Hàn Quốc được trình chiếu phổ biến ở nước ta, thị hiếu về nhuộm tóc và quần áo thời trang Hàn Quốc trong thanh niên gia tăng. Điều này dẫn đến nhu cầu đối với thời trang Hàn Quốc cũng gia tăng. 19
  20. 2.2.5. Quy mô thị trường Số người tiêu dùng trên thị trường đối với một hàng hóa, dịch vụ cụ thể nào đó có ảnh hưởng quan trọng đến cầu đối với hàng hóa, dịch vụ đó. Có những mặt hàng được tiêu dùng bởi hầu hết người dân như nước giải khát, bột giặt, lúa gạo, v.v. Vì vậy, số lượng người mua trên thị trường những mặt hàng này rất lớn nên cầu đối với những mặt hàng này rất lớn. Ngược lại, có những mặt hàng chỉ phục vụ cho một số ít khách hàng như rượu ngoại, nữ trang cao cấp, kính cận thị, v.v. Do số lượng người tiêu dùng đối với những mặt hàng này tương đối ít nên cầu đối với những mặt hàng này cũng thấp. Dân số nơi tồn tại của thị trường là yếu tố quan trọng quyết định quy mô thị trường. Cùng với sự gia tăng dân số, cầu đối với hầu hết các loại hàng hóa đều có thể gia tăng. 2.2.6. Các yếu tố khác Sự thay đổi của cầu đối với hàng hóa, dịch vụ còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác. Đó có thể là các yếu tố thuộc về tự nhiên như thời tiết, khí hậu hay những yếu tố mà chúng ta không thể dự đoán trước được. Thí dụ, cầu đối với dịch vụ đi lại bằng máy bay đột ngột suy giảm sau khi xảy ra sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại New York (Mỹ) hay cầu về thịt bò giảm mạnh khi xảy ra dịch bệnh “bò điên” ở Anh và các nước châu Âu khác. Nói chung, đường cầu đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó sẽ dịch chuyển khi các yếu tố khác với giá ảnh hưởng đến cầu đối với loại hàng hóa, dịch vụ đó thay đổi. Lượng cầu của người tiêu dùng tại mỗi mức giá sẽ thay đổi khi các yếu tố này thay đổi. 3. CUNG 3.1. Khái niệm cung và lượng cung Cung của một loại hàng hóa nào đó chính là số lượng của loại hàng hóa đó mà người bán muốn bán ra thị trường trong một khoảng thời gian nhất định ứng với mỗi mức giá tại một địa điểm nhất định nào đó. Tương tự với cầu và lượng cầu, ta cũng có khái niệm cung và lượng cung. Cột thứ 3 trong bảng 2.1 mô tả lượng cung của quần áo trên thị trường tại mỗi mức giá. Từ bảng này ta có thể thấy rằng, người bán càng muốn bán nhiều hơn ở những mức giá cao hơn. Tại mức giá bằng không, sẽ không có ai sản xuất và bán loại hàng hóa này vì không ai sản xuất ra để chẳng thu lợi được gì cả. Thậm chí, tại mức giá 40.000 đồng/bộ vẫn chưa có ai bán ra. Tại mức giá này có thể chưa có nhà sản xuất nào có thể thu được lợi nhuận hay họ có thể bị lỗ nên lượng cung vẫn bằng không. Khi giá là 80.000 đồng/bộ, có thể một số nhà sản xuất đã bắt đầu thu được lợi nhuận nên sẵn sàng bán ra thị trường một lượng là 40.000 bộ/tuần. Tại những mức giá cao hơn, khả năng thu được lợi nhuận từ việc cung ứng quần áo sẽ cao hơn nên các nhà sản xuất sẽ muốn bán ra nhiều hơn. Bên cạnh đó, giá cao cũng có thể là động lực để các nhà sản xuất khác gia nhập vào ngành làm số lượng doanh nghiệp trong ngành tăng lên, dẫn đến lượng cung cũng tăng lên. Vậy, giá càng cao lượng cung sẽ càng lớn và ngược lại giá càng thấp lượng cung sẽ càng giảm. Quy luật phổ biến này sẽ được chứng minh ở Chương 4. 3.2. Hàm cung và đường cung Rõ ràng, số lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá của hàng hóa dịch vụ đó. Lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó cũng phụ thuộc vào một số các nhân tố khác. Giả sử ta xem các nhân tố này là không đổi thì lượng cung cũng là một hàm số của giá, nhưng khác với cầu, lượng cung đồng biến với giá. Ta có thể thiết lập được hàm cung như sau: QS f (P) (2.3) QS được gọi là hàm cung. Giống như đối với trường hợp cầu, các nhà kinh tế học thường dùng hàm số tuyến tính để biểu diễn hàm cung nên hàm cung thường có dạng: QS a bP hay P QS (2.4) Trong đó: QS là lượng cung; P là giá; a, b, và  là các hằng số dương. 20
  21. Đường cung cũng có thể được vẽ là một đường thẳng nhưng có độ dốc đi lên. Như vậy, độ dốc của đường biểu diễn cung và cầu ngược chiều nhau. Các điểm nằm trên đường cung biểu diễn lượng cung của người bán ở các mức giá nhất định. Thí dụ, điểm A nằm trên đường cung (S) cho biết lượng cung của quần áo ở mức giá 120.000 đồng/bộ là 80.000 bộ/tuần. Khi giá tăng từ 120.000 đồng/bộ lên 160.000 đồng/bộ, lượng cung tăng lên thành 120.000 bộ/tuần. Điều này được biểu diễn bởi điểm B trên đường cung. Đó là sự di chuyển dọc theo đường cung. Sự di chuyển này xảy ra khi giá của quần áo thay đổi. Khi xem xét hình dạng của đường cung, ta cần lưu ý các điểm sau: - Đường cung thường có hướng dốc lên từ trái sang phải; và - Đường cung không nhất thiết là một đường thẳng. P (1000đ/ bộ) Đường cung (S) 160 B 120 A 80 120 QS (1000 bộ/ tuần) Hình 2.3. Đường cung 3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cung Như chúng ta đã biết, cung của một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá cả của chính hàng hóa, dịch vụ đó. Ngoài ra, cung còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác. Sự thay đổi của các yếu tố này sẽ dẫn đến sự dịch chuyển của đường cung. Bây giờ, chúng ta sẽ xem xét chi tiết hơn về các yếu tố này. 3.3.1. Trình độ công nghệ được sử dụng Đường cung được vẽ trong hình 2.3 ứng với một trình độ công nghệ nhất định. Khi công nghệ sản xuất được cải tiến, khả năng của nhà sản xuất được mở rộng hơn. Nhà sản xuất sử dụng ít đầu vào hơn nhưng có thể sản xuất ra sản lượng nhiều hơn trước. Do vậy, nhà sản xuất sẽ cung ứng nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn tại mỗi mức giá. Khi đó, đường cung dịch chuyển sang phía phải. Sự dịch chuyển của đường cung sang phải cho thấy rằng tại mỗi mức giá cho trước, lượng cung cao hơn so với ban đầu. Thí dụ, sự cải tiến trong công nghệ dệt vải, giúp các nhà sản xuất chuyển từ công nghệ khung cửi sang dệt kim, đã sản xuất ra một khối lượng vải khổng lồ trong xã hội hiện nay. Mỗi một sự cải tiến công nghệ mở rộng khả năng cung ứng của các nhà sản xuất. Công nghệ càng tiến bộ giúp các doanh nghiệp sử dụng yếu tố đầu vào ít hơn nhưng lại có thể tạo ra nhiều sản phẩm hơn. 21
  22. P (S) (S’) P0 Q1 Q2 Q Hình 2.4. Sự cải tiến trong cng nghệ dệt vải Đường cung dịch chuyển sang phải cho thấy các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa ra nhiều hơn ở mỗi mức giá nhất định. 3.3.2. Giá cả của các yếu tố đầu vào Để tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp cần mua các yếu tố đầu vào trên thị trường các yếu tố sản xuất như lao động, xăng dầu, điện, nước, v.v. Giá cả của các yếu tố đầu vào quyết định chi phí sản xuất của các doanh nghiệp. Giá cả của các yếu tố đầu vào giảm xuống (thí dụ như tiền lương công nhân, giá nguyên liệu, v.v. trở nên rẻ hơn, chẳng hạn) sẽ khiến cho các nhà sản xuất có thể sản xuất nhiều sản phẩm tại mỗi mức giá nhất định. Khi đó, đường cung sẽ dịch chuyển sang phải. Giá cả các yếu tố đầu vào cao hơn sẽ làm chi phí sản xuất gia tăng. Khi đó, các nhà sản xuất sẽ cảm thấy kém hấp dẫn hơn khi sản xuất vì có thể lợi nhuận sẽ thấp hơn và do vậy sẽ cắt giảm sản lượng. Chẳng hạn, khi giá bột mì tăng lên, các nhà sản xuất bánh mì sẽ cung ít bánh mì hơn ở mỗi mức giá. Sự tác động của việc tăng lên của giá cả các yếu tố đầu vào đối với sự dịch chuyển của đường cầu được minh họa trong hình 2.5. P (S’) (S) P0 Q2 Q1 Q Hình 2.5. Sự dịch chuyển của đường cung Giá xăng dầu tăng làm cho chi phí sản xuất tăng. Đường cung dịch chuyển sang trái: các doanh nghiệp cung ít đi ở mỗi mức giá. 3.3.3. Giá cả của mặt hàng đó trong tương lai (dự báo) Tương tự như người tiêu dùng, các nhà sản xuất cũng dựa vào sự dự báo giá trong tương lai để ra các quyết định về cung ứng hàng hóa. Thông thường, các nhà sản xuất sẽ cung ứng nhiều hơn nếu dự báo giá hàng hóa trong tương lai sẽ giảm xuống và ngược lại sẽ cung ít đi nếu giá tăng, giả sử các yếu tố khác không đổi. Khi giá trong tương lai tăng lên, các doanh nghiệp có lẽ sẽ dự trữ lại hàng hóa và trì hoãn việc bán trong hiện tại để có thể kiếm được lợi nhuận cao trong tương lai khi giá tăng. 3.3.4. Chính sách thuế và các quy định của chính phủ Chính sách thuế của chính phủ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cung của các nhà sản xuất. Khi chính phủ tăng thuế đối với một ngành sản xuất nào đó, các doanh nghiệp 22
  23. trong ngành sẽ bị gánh nặng thêm chi phí trong sản xuất và ngành này sẽ trở nên kém hấp dẫn. Do đó, các doanh nghiệp sẽ cung ứng ít hơn và một số doanh nghiệp có thể rời khỏi ngành. Ngoài thuế, các quy định, chính sách khác của chính phủ cũng có ảnh hưởng lớn đến cung. Chính sách chống ô nhiễm để bảo vệ môi trường sẽ làm giá tăng chi phí của một số ngành công nghiệp như sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, v.v. và làm giảm lợi nhuận của các ngành này. Những chính sách như vậy có thể làm giảm sản lượng của ngành sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, v.v. Ngược lại, chính sách hỗ trợ ngành mía đường trong thời gian qua ở nước ta, chẳng hạn, đã làm tăng cung của ngành này. 3.3.5. Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khách quan khác Việc sản xuất của các doanh nghiệp có thể gắn liền với các điều kiện tự nhiên như đất, nước, thời tiết, khí hậu, v.v. Sự thay đổi của các điều kiện này có thể tác động đến lượng cung của một số loại hàng hóa nào đó trên thị trường. Thí dụ, điều kiện tự nhiên có thể là một yếu tố kìm hãm hay thúc đẩy việc sản xuất của các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi. Đó là những cơ thể sống nên rất dễ bị tác động bởi điều kiện tự nhiên. Các nghiên cứu về sản xuất lúa của nông dân nước ta cho thấy năng suất lúa đạt được một phần do điều kiện tự nhiên quyết định. Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ tạo ra năng suất cao và ngược lại sẽ làm giảm năng suất. Một nền sản xuất nông nghiệp càng lạc hậu thì càng dễ bị tự nhiên chi phối và ngược lại. Các yếu tố khách quan cũng có thể làm thay đổi mức cung của các doanh nghiệp. Một thống kê vào năm 2000 cho thấy sau khi khánh thành cầu Mỹ Thuận, lượng rau quả cung ứng ở chợ Cầu Muối (thành phố Hồ Chí Minh) tăng lên. Ngược lại, thiên tai (như lũ lụt chẳng hạn) có thể làm đình trệ một số ngành sản xuất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và làm giảm cung của các mặt hàng như lúa gạo, cây ăn trái, thịt, v.v Sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến cung sẽ làm dịch chuyển đường cung. Người bán sẽ thay đổi lượng cung ở mỗi mức giá khi các yếu tố này thay đổi. 4. TRẠNG THÁI CÂN BẰNG CỦA THỊ TRƯỜNG Sau khi tìm hiểu khía cạnh cung và cầu của thị trường, chúng tôi giới thiệu cơ chế hình thành sự cân bằng của thị trường. Giá cả và số lượng hàng hóa được mua bán trên thị trường được hình thành qua sự tác động qua lại giữa cung và cầu. Trên hình 2.6, đường cầu và đường cung cắt nhau tại điểm E. Điểm E được gọi là điểm cân bằng của thị trường; tương ứng với điểm cân bằng E, ta có giá cả cân bằng PE và số lượng cân bằng QE. Giá cân bằng là mức giá mà tại đó lượng cầu bằng lượng cung. Thị trường có xu hướng tồn tại ở điểm cân bằng E. Nếu do một lý do nào đó, giá cả trên thị trường P2 cao hơn giá cân bằng PE, số lượng hàng hóa cung ra trên thị trường sẽ lớn hơn lượng cầu đối với hàng hóa đó. Khi đó, trên thị trường xuất hiện tình trạng dư cung hay thừa hàng hóa (cung lớn hơn cầu). Vì thế, để bán được hàng các nhà cung ứng sẽ có xu hướng giảm giá. Giá cả giảm làm cho lượng cung cũng giảm theo và lượng cầu tăng lên. Kết quả là giá cả hàng hóa sẽ giảm dần đến giá cân bằng PE và số lượng bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển về QE. P (S) Thừa P2 PE E P1 Thiếu (D) QE Q Hình 2.6. Trạng thái cân bằng của thị trường 23
  24. Ngược lại, nếu như giá cả P1 thấp hơn giá cân bằng PE thì sẽ xảy ra hiện tượng cầu lớn hơn cung hay thiếu hàng hóa. Do thiếu hàng nên áp lực của cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên bởi vì người tiêu dùng có thể sẵn sàng trả giá cao hơn để mua hàng hóa. Khi giá cả tăng lên thì lượng cầu sẽ giảm dần và lượng cung tăng lên. Như thế, giá cả sẽ tăng dần đến giá cân bằng PE và số hàng hóa được bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển về QE. Thị trường có xu hướng tồn tại tại điểm cân bằng vì tại đó lượng cung bằng với lượng cầu nên không có một áp lực nào làm thay đổi giá. Các hàng hóa thường được mua bán tại giá cân bằng trên thị trường. Tuy nhiên, không phải lúc nào cung cầu cũng đạt trạng thái cân bằng, một số thị trường có thể không đạt được sự cân bằng vì các điều kiện khác có thể đột ngột thay đổi. Sự hình thành giá cả của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường như được mô tả ở trên được gọi là cơ chế thị trường. Thí dụ: Giả sử hàm cầu đối với một hàng hóa nào đó là: QD =1000 – 100P; hàm cung của hàng hóa này là: QS = 125 + 125P Thị trường cân bằng khi: QD = QS  1000 – 100P = 125 + 125P Suy ra: Giá cả cân bằng P* = 5 đơn vị tiền. Thay thế giá cả cân bằng này vào hàm cầu (hay hàm cung) ta được số lượng cân bằng Q* = 500 đơn vị sản phẩm. 5. SỰ VẬN ĐỘNG CỦA GIÁ CẢ CÂN BẰNG VÀ SỐ LƯỢNG CÂN BẰNG Như đã biết, giá cả mà các loại hàng hóa, dịch vụ được mua bán trên thị trường chính là giá cả cân bằng. Tuy nhiên, giá cả thị trường của bất kỳ một loại hàng hóa, dịch vụ nào cũng đều thay đổi liên tục. Trong phần này, chúng ta nghiên cứu nguyên nhân của sự thay đổi của giá cả thị trường. Trên nguyên tắc, giá cả và cả số lượng cân bằng thay đổi là do sự dịch chuyển của ít nhất đường cung hay đường cầu. Ở hầu hết các thị trường, đường cung và cầu thường xuyên thay đổi do các điều kiện thị trường thay đổi liên tục. Thí dụ, thu nhập của người tiêu dùng tăng khi nền kinh tế tăng trưởng, làm cho cầu thay đổi và giá thị trường thay đổi; cầu đối với một số loại hàng hóa thay đổi theo mùa, chẳng hạn như quạt máy, quần áo, nhiên liệu, v.v., làm cho giá cả của các hàng hóa này cũng thay đổi theo. Đường cầu dịch chuyển, đường cung không đổi Trong phần trước, chúng ta đã xem xét các nguyên nhân gây ra sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu. Trong phần này, giả sử chúng ta nghiên cứu tác động của thu nhập của người tiêu dùng, một trong những nguyên nhân gây ra sự dịch chuyển của đường cầu, đến sự thay đổi của giá cả thị trường. Như đã nêu ở trên, khi thu nhập của người tiêu dùng tang lên, cầu đối với quần áo cao cấp sẽ tăng lên làm đường cầu dịch chuyển qua phải. Hình 2.7 cho thấy sự dịch chuyển của đường cầu làm cho điểm cân bằng di chuyển từ điểm E đến điểm E’ (hình 2.7). Tại điểm cân bằng mới, giá quần áo cao hơn so với ban đầu và số lượng cân bằng cũng cao hơn. P (S) P2 E’ P1 E (D’) (D) Q1 Q2 Q Hình 2.7. Sự thay đổi của điểm cân bằng khi cầu tăng do thu nhập của người tiêu dùng tăng lên 24
  25. Khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên, nhu cầu đối với một loại hàng hóa nào đó cũng gia tăng. Khi đó, đường cầu có xu hướng dịch chuyển sang phải. Việc dịch chuyển sang phải của đường cầu dẫn đến giá cả của hàng hóa này tăng lên. Như vậy, khi cầu đối với một hàng hóa, dịch vụ nào đó tăng, giá và số lượng cân bằng của hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường sẽ tăng, nếu như các yếu tố khác không đổi. Chúng ta cũng có thể suy ra điều ngược lại khi cầu giảm. Đường cung dịch chuyển, đường cầu không đổi Sự dịch chuyển của đường cung cũng sẽ làm thay đổi tình trạng cân bằng trên thị trường. Thí dụ, khi công nghệ dệt vải được cải tiến, các doanh nghiệp sẽ cung nhiều hơn (trong khi các yếu tố khác không đổi) làm đường cung dịch chuyển sang phải (hình 2.8). Điểm cân bằng E di chuyển đến điểm E’ (hình 2.8). Khi đó, giá cân bằng sẽ giảm và số lượng cân bằng tăng lên. P (S) (S’) P1 E P2 E’ (D) Q1 Q2 Q Hình 2.8. Sự thay đổi của điểm cân bằng khi cung tăng Thông qua sự dịch chuyển của đường cung lúa, chúng ta cũng có thể giải thích tại sao khi trúng mùa giá lúa lại thường có xu hướng giảm (các yếu tố khác giữ nguyên) và, ngược lại, khi mất mùa giá lúa có xu hướng tăng. Đường cung và đường cầu cùng dịch chuyển Phân tích sự vận động của giá cả và sản lượng cân bằng trên thị trường sẽ phức tạp hơn khi cả cung lẫn cầu một hàng hoá thay đổi. Khi đó, giá cả và lượng cân bằng sẽ thay đổi tuỳ thuộc cung cầu thay đổi cùng chiều hay nghịch chiều, cùng mức độ hay khác mức độ. Ví dụ, khi cả cung lẫn cầu một hàng hoá tăng lên, thị trường sẽ cân bằng tại lượng cân bằng ở mức cao hơn, nhưng mức giá cao hơn, thấp hơn hay như cũ phụ thuộc vào mức tăng của cung, cầu. P (S) P (S) P (S) (S’) E (S’) P (S’) P 2 E’ 1 E P1 = P2 E’ P E’ P1 E 2 (D’) (D’) (D’) (D) (D) (D) Q Q1 Q2 Q Q1 2 Q Q1 Q2 Q Mức tăng của cung Mức tăng của cung Mức tăng của cung lớn hơn mức tăng của cầu, bằng mức tăng của cầu, nhỏ hơn mức tăng của cầu, giá cân bằng giảm. giá cân bằng không thay đổi. giá cân bằng tăng. Hình 2.9: Sự thay đổi của điểm cân bằng khi cung và cầu cùng tăng 25
  26. Việc hiểu rõ bản chất các nhân tố tác động đến sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu giúp chúng ta dự đoán được sự thay đổi của giá cả của các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường khi các các điều kiện của thị trường thay đổi. Để dự đoán chính xác xu hướng và độ lớn của những sự thay đổi, chúng ta phải định lượng được sự phụ thuộc của cung, cầu vào giá và các yếu tố khác. Tuy nhiên, trong thực tế điều này không đơn giản Thí dụ: Một nghiên cứu thống kê cho biết hàm cung của một loại hàng hóa là như sau: QS = 1800 + 240P; hàm cầu đối với loại hàng hóa này là: QD = 2580 – 150P. Câu hỏi: 1. Hãy xác định điểm cân bằng của loại hàng hóa này trên thị trường? 2. Giả sử do một nguyên nhân nào đó (không phải là do sự thay đổi của giá cả của hàng hóa này) người tiêu dùng quyết định mua thêm 195 đơn vị hàng hóa này. Hãy cho biết giá cả và số lượng cân bằng mới của hàng hóa này trên thị trường? Bài giải: 1. Giá cả cân bằng của hàng hóa này trên thị trường: QS = QD  1800 + 240P = 2580 – 150P  390P = 780 Suy ra: PE = 780/ 390 = 2 đơn vị tiền. Khi đó, số lượng cân bằng: QE = 2280 đơn vị hàng hóa. 2. Khi người tiêu dùng quyết định mua thêm 195 đơn vị hàng hóa này, hàm cầu sẽ trở thành: QD = 2580 – 150P + 195 = 2775 – 150P Khi đó, thị trường cân bằng khi: QS = QD  1800 + 240P = 2775 – 150P  390P = 975 Suy ra: PE = 975/ 390 = 2,5 đơn vị tiền. Khi đó, số lượng cân bằng: QE = 2400 đơn vị sản phẩm. Nhận xét: khi người tiêu dùng muốn mua nhiều hàng hóa hơn (cầu tăng) thì giá và sản lượng cân bằng trên thị trường tăng theo, nếu cung là không đổi. 6. SỰ CO GIÃN CỦA CẦU VÀ CUNG 6.1. Hệ số co giãn của cầu Chúng ta thấy rằng cung hay cầu đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá của loại hàng hóa đó, nếu các yếu tố khác là không đổi. Điều này có nghĩa là khi giá thay đổi sẽ dẫn đến lượng cung, cầu thay đổi. Các nhà kinh tế muốn biết rõ hơn sự thay đổi đó là bao nhiêu. Giả sử khi giá gạo tăng 10% thì lượng cầu sẽ giảm xuống bao nhiêu phần trăm và cung tăng lên bao nhiêu? Để trả lời câu hỏi như vậy, chúng ta hãy làm quen với khái niệm về sự co giãn và hệ số co giãn. Việc nghiên cứu sự co giãn của cầu là rất quan trọng vì nó giúp ta thấy sự ảnh hưởng của giá cả hay một số các nhân tố khác (như thu nhập chẳng hạn) đến lượng cầu của một loại hàng hóa nào đó. Để đo lường sự co giãn của cầu theo một nhân tố ảnh hưởng nào đó (giá cả, thu nhập, v.v.) ta dùng khái niệm hệ số co giãn của cầu. Hệ số co giãn của cầu là tỉ lệ % thay đổi lượng cầu khi một nhân tố ảnh ảnh hưởng đến cầu đang xét thay đổi 1% (các yếu tố khác không đổi) Thông thường, người ta khảo sát ba loại hệ số co giãn của cầu như sau: P - Hệ số co giãn của cầu theo giá ( ED ); I - Hệ số co giãn của cầu theo thu nhập ( ED ); và Py - Hệ số co giãn chéo của cầu ( EDx ). 26
  27. 6.1.1. Hệ số co giãn của cầu theo giá Trong phần này, chúng ta sẽ nghiên cứu một trong những hệ số quan trọng nhất trong kinh tế học vi mô. Đó là hệ số co giãn của cầu theo giá. Hệ số co giãn của cầu theo giá là tỉ lệ % thay đổi lượng cầu khi giá sản phẩm thay đổi 1% (các yếu tố khác không đổi). Công thức tính hệ số co giãn của cầu theo giá được viết như sau: Q /Q Q P dQ P P P E P  f '(P) f '(P) D P / P P Q dP Q Q f (P) Trong đó: Q =f(P) Thí dụ: Giả sử tại một điểm nhất định trên đường cầu, giá bắp tăng lên 3% làm cho lượng cầu giảm đi 6%. Hệ số co giãn của cầu đối với giá bắp tại điểm này là bao nhiêu? Hệ số co giãn của cầu đối với giá bắp tại điểm này là: Q /Q 6% E P 2 D P / P 3% Q /Q Lưu ý: Trong công thức E P , có vấn đề dễ nhầm lẫn về Q và P (các số liệu ở D P / P mẫu số). Ta có thể sử dụng các giá trị trước hay sau khi có sự thay đổi. Đôi khi, các nhà kinh tế sử dụng số trung bình. Khi đó, công thức trên có thể viết lại như sau: P Q /Q Q2 Q1 P2 P1 Q2 Q1 P1 P2 ED / P / P (Q1 Q2 ) / 2 (P1 P2 ) / 2 P2 P Q1 Q2 Ta còn gọi đây là công thức tính hệ số co giãn trên một đoạn đường cầu. Khi ta xem xét một sự thay đổi rất nhỏ của giá (P) và sản lượng (Q) thì Q1 và Q2 rất gần nhau, P1 và P2 cũng như thế. Khi đó công thức hệ số co giãn trên một đoạn sẽ có cùng ý nghĩa với hệ số co giãn điểm. P Thường thì ED < 0 vì giá và lượng cầu thay đổi ngược chiều nhau. Tuy nhiên, dấu của độ co giãn ít quan trọng đối với các nhà kinh tế hơn quy mô của nó. Do đó, trong tính toán, ta sử dụng giá trị tuyệt đối. Khi tính toán hệ số co giãn của cầu theo giá có thể xảy ra các trường hợp: P 1. ED 1, cầu co giãn nhiều: số phần trăm thay đổi của cầu lớn hơn số phần trăm thay đổi của giá. P 2. ED 1, cầu co giãn đơn vị: số phần trăm thay đổi của lượng cầu bằng đúng với tỷ lệ thay đổi của giá. P 3. ED 1, cầu co giãn ít: số phần trăm thay đổi của lượng cầu nhỏ hơn số phần trăm thay đổi của giá. P 4. ED 0 , cầu hoàn toàn không co giãn: lượng cầu hoàn toàn không thay đổi khi giá thay đổi. P 5. ED , cầu hoàn toàn co giãn: giá không thể thay đổi. 6.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số co giãn của cầu theo giá Một câu hỏi được đặt ra là các nhân tố nào có ảnh hưởng đến hệ số co giãn của cầu theo giá của một hàng hóa hay dịch vụ? Trước hết, đó có thể là sở thích của người tiêu dùng. Thí dụ, nếu xu thế phát triển của xã hội đòi hỏi mỗi gia đình cần có một cái ti-vi, vậy thì giá ti-vi cao hơn có thể chỉ ảnh hưởng ít đến lượng cầu. Nếu ti-vi được xem như một mặt hàng xa 27
  28. xỉ, hệ số co giãn của cầu sẽ có độ lớn cao hơn. Chúng ta có thể liệt kê các nhân tố ảnh hưởng đến độ co giãn như sau: Bảng 2.5. Hệ số co giãn của cầu theo giá của một số mặt hàng tại nước Anh Hàng hóa Hệ số co giãn Hàng hóa Hệ số co giãn Nhiên liệu và chất đốt -0,47 Sản phẩm từ sữa -0,05 Thực phẩm -0,52 Bánh mì và ngũ cốc -0,22 Rượu -0,83 Giải trí -1,40 Hàng lâu bền -0,89 Du lịch nước ngoài -1,63 Dịch vụ -1,02 Dịch vụ ăn uống -2,61 Nguồn: Begg (1994) Tính thay thế của hàng hóa: Một hàng hóa càng dễ bị thay thế bởi (những) hàng hóa khác sẽ có hệ số co giãn càng cao. Khi một hàng hóa có nhiều hàng hóa thay thế cho nó, giá của nó tăng sẽ khiến cho người tiêu dùng sẵn sàng thay thế hàng hóa này bằng các hàng hóa khác, làm cho lượng cầu của hàng hóa có giá tăng sẽ giảm đáng kể. Vì vậy, hệ số co giãn của hàng hóa dễ thay thế sẽ cao và ngược lại. Nếu chúng ta xem xét quần áo nói chung, khi giá của quần áo tăng lên 1%, người tiêu dùng khó lòng thay thế quần áo bằng một mặt hàng khác. Do vậy, cầu của quần áo nói chung rất kém co giãn. Nhưng nếu chúng ta xem xét sự tăng giá của một nhãn hiệu quần áo cụ thể (chẳng hạn quần áo Việt Tiến), người tiêu dùng dễ dàng chuyển sang sử dụng những nhãn hiệu quần áo khác. Thí dụ này cho thấy chúng ta càng định nghĩa cụ thể hàng hóa chừng nào, thì độ co giãn của cầu theo giá của hàng hóa đó sẽ cao chừng nấy. Mức độ thiết yếu của hàng hóa: Tùy theo tính thiết yếu, các hàng hóa, dịch vụ được phân thành hai loại: Hàng hóa thiết yếu: Hàng hóa thiết yếu là các loại hàng hóa quan trọng, cần thiết cho đời sống. Đối với các loại hàng hóa này, lượng cầu của người tiêu dùng rất ít thay đổi khi giá tăng hay giảm. Vì vậy, cầu đối với chúng rất kém co giãn. Thí dụ, gạo, xăng dầu, hàng lương thực thực phẩm, v.v. là những mặt hàng thiết yếu, vì vậy, cầu đối với những mặt hàng này thường kém co giãn. Hàng hóa xa xỉ: Hàng hóa xa xỉ là những loại hàng hóa không cần thiết lắm đối với đời sống, có nghĩa là người tiêu dùng dễ dàng từ bỏ chúng khi giá của chúng tăng hay tiêu dùng chúng nhiều hơn khi giá giảm. Lượng cầu của những mặt hàng này rất nhạy cảm đối với giá nên cầu rất co giãn. Thí dụ, mỹ phẩm, nữ trang, nước hoa, du lịch nước ngoài, v.v. thường được xem là những hàng hóa hay dịch vụ xa xỉ; những hàng hóa, dịch vụ này thường có độ co giãn cao. Mức chi tiêu cho sản phẩm này trong tổng số chi tiêu: Mặt hàng có mức chi tiêu cho nó càng nhỏ trong tổng chi tiêu sẽ càng kém co giãn. Chẳng hạn như mặt hàng kem đánh răng thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng chi tiêu của gia đình nên khi giá của nó tăng lên từ 5.000 đồng/ống lên 6.000 đồng/ống, chẳng hạn, tức là tăng 20%, thì lượng cầu đối với nó của mỗi gia đình hầu như rất ít thay đổi bởi vì sự tăng giá này hầu như ảnh hưởng không lớn đến tổng thu nhập của hộ gia đình. Ngược lại, đối với những mặt hàng có mức chi tiêu cao, một sự thay đổi nhỏ trong giá có thể tác động nhiều đến tổng thu nhập của hộ gia đình nên hộ gia đình sẽ có sự điều chỉnh lớn lượng cầu khi có sự thay đổi của giá. Vị trí của điểm tiêu thụ trên đường cầu (hệ số co giãn điểm): Theo công thức tính hệ số co giãn, hệ số co giãn của cầu theo giá là sự thay đổi của lượng cầu tương ứng với sự thay Q P Q đổi giá nhân với . Khi đi dọc theo đường cầu xuống phía dưới thì có thể P Q P không thay đổi nhưng giá và lượng cầu luôn thay đổi. Do vậy, độ co giãn của cầu theo giá 28
  29. phải được tính tại một điểm cụ thể trên đường cầu và hệ số này sẽ thay đổi dọc theo đường cầu. Với phương trình đường cầu: Q = a + bP, với b < 0. dQ P P Như thế: E P b D dP Q Q P P ED P ED 1 P ED 1 P PA E 1 D P (D) ED 0 QA Q Hình 2.10. Hệ số co giãn điểm Tính thời gian. Người tiêu dùng có xu hướng điều chỉnh tiêu dùng khi có sự thay đổi của giá theo thời gian, đặc biệt là việc tìm ra những sản phẩm thay thế. Vì vậy, qua một thời gian dài hầu hết các sản phẩm sẽ có độ co giãn cao hơn. Thí dụ, cầu đối với xăng trong dài hạn co giãn hơn trong ngắn hạn. Việc giá xăng đột ngột tăng lên làm giảm lượng cầu về xăng trong ngắn hạn thông qua việc giảm lượng đi lại bằng xe gắn máy và giảm việc sử dụng máy móc, nhưng tác động lớn nhất của sự tăng giá này đối với cầu là nó khiến cho người tiêu dùng chuyển sang sử dụng các loại xe, máy móc ít tốn xăng. Nhưng việc chuyển đổi xảy ra dần dần và cần có thời gian. Tuy nhiên, một số hàng hóa thì hoàn toàn ngược lại: cầu trong ngắn hạn lại co giãn hơn trong dài hạn. Đó là loại hàng lâu bền như: ô-tô, xe gắn máy, tủ lạnh, tivi, v.v. Nếu giá tăng người tiêu dùng ban đầu trì hoãn việc mua mới, vì vậy cầu giảm mạnh. Tuy nhiên trong dài hạn, những hàng hóa này bắt đầu cũ, khấu hao dần và cần phải được thay thế, nên cầu lại tăng lên. Vì vậy, cầu trong dài hạn ít co giãn hơn trong ngắn hạn. Bảng 2.6. Hệ số co giãn của ô tô và xăng dầu tại Mỹ từ năm 1974 Độ co giãn của Giá của xăng và ô tô tính theo các năm khác nhau ở Mỹ từ 1974 cầu theo giá 1 2 3 5 10 20 Xăng -0,11 -0,22 -0,32 -0,49 -0,82 -1,17 Ô tô 3,00 2,33 1,88 1,38 1,02 1,00 Nguồn: Pindyck (1999) 6.1.3. Sự co giãn của cầu và hình dạng của đường cầu Trong phần này, chúng tôi giới thiệu mối quan hệ giữa hình dạng của đường cầu và hệ số co giãn. Hệ số co giãn của cầu đo lường mức độ thay đổi của lượng cầu khi giá thay đổi. Vì thế, hình dạng của đường cầu có liên quan chặt chẽ với hệ số co giãn. Hình 2.11 mô tả hình dạng các đường cầu ứng với hệ số co giãn của chúng. Trong Hình 2.11a, cầu kém co giãn, với một đường cầu rất dốc, một sự thay đổi lớn trong giá dẫn đến một sự thay đổi rất nhỏ trong lượng cầu. 29
  30. Trong trường hợp đặc biệt cầu hoàn toàn không co giãn, lượng cầu hoàn toàn không thay đổi khi giá thay đổi. Khi đó, đường cầu sẽ thẳng đứng (Hình 2.11b). Ngược lại, một hàng hóa, dịch vụ có cầu co giãn cao sẽ có đường cầu phẳng hơn. Một sự thay đổi nhỏ của giá sẽ dãn đến một sự thay đổi lớn trong lượng cầu (Hình 2.11c). Trường hợp cầu hoàn toàn co giãn, đường cầu có dạng nằm ngang. Hình 2.11d cho thấy người tiêu dùng chỉ chấp nhận mức giá P1. P P (D) A P1 P1 A P2 B P2 B (D) Q1 Q2 Q Q1 Q a) Cầu kém co giãn b) Cầu hoàn toàn không co giãn P P A P1 (D) B A B P2 P1 (D) Q Q Q2 1 Q2 Q 1 Q c) Cầu co giãn d) Cầu hoàn toàn co giãn Hình 2.11. Hình dạng của các đường cầu 6.1.4. Ứng dụng của hệ số co giãn của cầu theo giá - Mối quan hệ giữa doanh thu và giá Một ứng dụng quan trọng của hệ số co giãn của cầu theo giá là hệ số này giúp doanh nghiệp lập chiến lược giá phù hợp để có thể nâng cao doanh thu. Giả sử ta không xem xét đến các yếu tố khác với giá, một câu hỏi được đặt ra là muốn tăng doanh thu bán hàng thì một doanh nghiệp nào đó nên tăng hay giảm giá bán sản phẩm mình sản xuất ra (giả sử là doanh nghiệp có thể làm được điều này). Như chúng ta đã biết, khi người bán tăng giá bán đối với một loại hàng hóa nào đó thì lượng cầu đối với hàng hóa này sẽ giảm, do vậy, lượng bán ra sẽ giảm. Việc tăng giá bán sẽ làm cho doanh thu tăng nhưng đồng thời việc giảm lượng bán ra sẽ làm giảm doanh thu. Ngược lại, nếu người bán giảm giá, thì lượng bán ra có thể tăng. Khi đó, doanh thu sẽ giảm đi do giá giảm nhưng mặt khác doanh thu tăng lên do lượng bán ra tăng. Trong hai trường hợp trên, chúng ta khó xác định được chính xác liệu rằng doanh thu từ việc bán hàng có tăng hay không. Hệ số co giãn sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi này. Như ta đã biết, doanh thu (TR) đối với một sản phẩm nào đó bằng với đơn giá nhân với số lượng bán ra. Như thế: TR = P.Q Ngoài ra, ta cũng biết là cầu là hàm số của giá cả hay ta có thể viết như sau: TR = P.Q(P) Lấy đạo hàm của doanh thu theo giá (P), ta sẽ được: dTR dP.Q(P) dQ Q(P) P. dP dP dP 30
  31. dTR dQ P  Q . Q(1 E P ) dP dP Q D Từ biểu thức này, ta có các nhận xét như sau: dTR 1. Nếu E P 1 (hay là cầu co giãn nhiều) thì 0 vì Q > 0. Khi đó, doanh thu và giá D dP nghịch biến: giá bán tăng lên thì doanh thu sẽ giảm và ngược lại. dTR 2. Nếu E P 1 (hay là cầu co giãn đơn vị) thì 0 vì Q > 0. Khi đó, doanh thu không D dP thay đổi khi giá cả thay đổi. dTR 3. Nếu E P 1 (hay là cầu co giãn ít) thì 0 vì Q > 0. Khi đó, doanh thu và giá đồng D dP biến nên doanh thu tăng khi giá cả tăng. Các phân tích trên được minh họa bởi hình 2.12 dưới đây. Ở hình này, chúng tôi giả sử giá thị trường thay đổi do sự thay đổi của cung (trong khi cầu là không đổi). Như chúng ta đã biết ở các phần trước, khi cung tăng lên (nghĩa là đường cung dịch chuyển sang phải) trong khi cầu không đổi (đường cầu không thay đổi) thì giá thị trường sẽ giảm đi. Ngược lại, khi cung giảm đi và cầu không đổi thì giá thị trường sẽ tăng lên. Trong hình 2.12a, với đường cung S và đường cầu D, điểm cân bằng là E. Người bán bán ra số lượng là Q0 với giá P0, nên doanh thu là diện tích hình chữ nhật (OP0EQ0). Khi giảm cung, đường cung dịch chuyển đến S’, giá tăng lên thành P1, số lượng bán ra giảm còn Q1. Doanh thu lúc này sẽ là diện tích (OP1E’Q1). So với doanh thu ban đầu, doanh thu sau khi tăng giá bị mất đi một khoản bằng diện tích được đánh dấu trừ (-), nhưng tăng thêm phần được được đánh dấu cộng (+). Do cầu kém co giãn, doanh thu tăng lên do giá tăng sẽ lớn hơn so với doanh thu giảm đi do số lượng giảm đi. Vì thế, doanh thu tăng lên. (S’) P (S’) P (S) (S) P1 P1 E’ E’ - + P0 E P0 E - + (D) (D) O O Q Q Q1 Q0 Q 1 0 Q b) Cầu co giãn a) Cầu kém co giãn Hình 2.12. Ảnh hưởng của sự thay đổi giá đến doanh thu Ngược lại, đối với mặt hàng có cầu co giãn, việc giảm giá sẽ làm tăng doanh thu cho những người bán (hình 2.12b) bởi vì số doanh thu tăng lên do lượng cầu tăng lớn hơn số doanh thu giảm đi do giá giảm. 31
  32. Ta có bảng tóm tắt kết quả phân tích trên như sau: Hệ số co Tính chất Định nghĩa Xu hướng tác động giãn co giãn của giá đến doanh thu P Co giãn nhiều % thay đổi trong lượng cầu lớn Giá giảm làm doanh thu ED 1 hơn % thay đổi trong giá tăng và ngược lại P hay ED 1 P Co giãn đơn % thay đổi trong lượng cầu Doanh thu không đổi khi ED 1 vị bằng % thay đổi trong giá giá giảm P hay ED 1 P Co giãn ít % thay đổi trong lượng cầu nhỏ Giá giảm làm doanh thu ED 1 hơn % thay đổi trong giá giảm và ngược lại P hay ED 1 Mối quan hệ giữa doanh thu và giá cũng có thể biểu diễn trên đồ thị: P E P > 1 D P ED =1 * P E P < 1 D Q TR TR max TR(Q) Q* Q Hình 2.13. Mối quan hệ giữa doanh thu và giá 6.2. Hệ số co giãn chéo của cầu Nếu các yếu tố khác không đổi, giá cả của mặt hàng có liên quan (thay thế hay bổ sung) thay đổi sẽ làm thay đổi lượng cầu đối với hàng hóa đang xem xét. Trong phần này, chúng ta nghiên cứu hệ số co giãn của cầu đối với hàng hóa nào đó theo giá của hàng hóa có liên quan. Hệ số này được gọi là hệ số co giãn chéo. Nếu X và Y là hai mặt hàng đang xem xét. Hệ số co giãn chéo của 2 mặt hàng X và Y là mối quan hệ so sánh giữa % thay đổi của lượng cầu về hàng hoá X trước % thay đổi của giá hàng hoá Y (các yếu tố khác không đổi). Công thức tính hệ số co giãn chéo như sau: Py Qx /Qx Qx Py dQx Py EDx  Py / Py Py Qx dPy Qx 32
  33. Py - EDx 0: X và Y là hai hàng hoá thay thế. Ví dụ: Trà và cà phê là hai hàng hoá thay thế. Nếu giá cà phê tăng, người ta sẽ giảm dùng cà phê và chuyển sang dùng trà. Cầu về trà sẽ tăng. Py - EDx = 0: X và Y là hai hàng hoá độc lập (không liên quan). Ví dụ: Máy tính và cà phê là hai hàng hoá độc lập. Giá cà phê tăng hay giảm cũng không ảnh hưởng gì đến cầu máy tính. Ý nghĩa thực tế. Hệ số co giãn chéo cho thấy mức độ nhạy cảm của cầu của một loại sản phẩm đối với chiến lược giá của một doanh nghiệp có liên quan. Bảng 2.7. Hệ số co giãn chéo của cầu một số mặt hàng ở Anh năm 1974 Theo giá của các mặt hàng Hệ số co giãn của cầu của Thực phẩm Quần áo Du lịch và và giày dép thông tin liên lạc Thực phẩm -0,37 -0,03 -0,12 Quần áo và giày dép 0,19 -0,30 -0,23 Du lịch và thông tin liên lạc 0,42 -0,01 -0,61 Nguồn: Deaton (1974) 6.3. Hệ số co giãn của cầu theo thu nhập Như đã trình bày, thu nhập cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến cầu đối với hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, trong phần này, chúng tôi giới thiệu khái niệm về hệ số co giãn của cầu theo thu nhập. Độ co giãn của cầu theo thu nhập là tỉ lệ % thay đổi lượng cầu khi thu nhập thay đổi 1% (các yếu tố khác không đổi). Công thức tính hệ số co giãn của cầu theo thu nhập như sau: Q /Q Q I dQ I E I  D I / I I Q dI Q Bảng 2.8. Hệ số co giãn của cầu theo thu nhập của một số mặt hàng ở Anh năm 1974 Hàng hóa (tổng quát) Hệ số co giãn Hàng hóa (cụ thể) Hệ số co giãn Thuốc lá -0,50 Than -2,02 Nhiên liệu và chất đốt 0,30 Bánh mì và ngũ cốc -0,50 Thực phẩm 0,45 Sản phẩm từ sữa 0,53 Rượu 1,14 Rau củ 0,87 Quần áo 1,23 Du lịch nước ngoài 1,14 Hàng lâu bền 1,47 Dịch vụ giải trí 1,99 Dịch vụ 1,75 Rượu cao cấp 2,60 Nguồn: Begg (1994) Trong phần trước, chúng ta đã biết khi thu nhập thay đổi, sự thay đổi của lượng cầu đối với các mặt hàng khác nhau cũng khác nhau tuỳ theo tính chất của chúng. Ta có thể phân loại các hàng hóa này như sau: 33
  34. I - ED 0: hàng hóa thông thường. Khi thu nhập càng cao thì cầu về hàng hóa càng cao. Vì lượng cầu và thu nhập thay đổi cùng chiều nên hàng hoá thông thường có hệ số co giãn của cầu theo thu nhập dương. Trong đó: I + 0 1: hàng hóa cao cấp (hàng hoá xa xỉ). Người tiêu dùng có xu hướng tăng tiêu dùng những hàng hóa có chất lượng và giá trị cao lên rất nhiều khi thu nhập tăng. Và họ cảm thấy hoàn toàn không cần đến chúng khi thu nhập của họ quá thấp. 6.4. Hệ số co giãn của cung theo giá Về nguyên tắc, hệ số co giãn của cung giống như hệ số co giãn của cầu. Nghĩa là nó cũng nó cũng đo lường phần trăm thay đổi của lượng cung khi giá thay đổi một phần trăm (các yếu tố khác không thay đổi). Vì vậy, công thức tính hệ số co giãn của cung cũng có dạng: Q /Q Q P dQ P P E P  f '(P) S P / P P Q dP Q Q P Điểm khác biệt là hệ số co giãn của cung theo giá có giá trị không âm (ES 0). Do P vậy, để xem xét độ co giãn của cung, chúng ta so sánh hệ số này với giá trị 1. Nếu ES 1, ta P nói cung co giãn nhiều và, ngược lại, nếu ES 1, cung co giãn ít. Do ý nghĩa của độ co giãn của cung tương tự như của cầu, nên từ những đặc điểm của độ co giãn của cầu chúng ta có thể suy ra những đặc điểm của sự co giãn của cung. 7. SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VÀO THỊ TRƯỜNG Trong thực tế, hầu hết các thị trường không hoạt động hoàn toàn tự do. Hệ thống kinh tế ở hầu hết các nước không hoàn toàn là hệ thống kinh tế thị trường tự do thuần tuý mà là hệ thống kinh tế hỗn hợp. Chính Phủ thường can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào thị trường bằng một số biện pháp. Sự can thiệp này nhằm mục đích làm thay đổi giá cả và số lượng hàng hóa và dịch vụ. 7.1. Can thiệp trực tiếp của Chính Phủ: giá trần và giá sàn Đôi khi sự thay đổi trong cầu hay cung hàng hóa và dịch vụ đem đến giá cao hay thấp bất thường có thể làm cho các thành phần nào đó trong xã hội được và mất một cách không công bằng, chính phủ có thể can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào thị trường để điều chỉnh. Để tránh tình trạng giá cao bất thường, chính phủ có thể ấn định giá trần, theo luật giá cả không thể tăng trên mức giá đó. Để tránh tình trạng giá thấp bất thường, chính phủ có thể ấn định giá sàn, theo luật giá cả không thể giảm dưới mức giá đó. Cả hai trường hợp, chính phủ cố gắng đạt đến mục tiêu công bằng trong phân phối hàng hóa và dịch vụ. Sự bất lợi của giá trần và giá sàn là nó không thể ngăn ngừa các thị trường di chuyển đến điểm cân bằng. Nó có thể gây ra sự thặng dư hay khan hiếm trầm trọng và kéo dài hơn so với tình trạng thị trường tự do. Đồ thị dưới đây mô tả những ảnh hưởng của chính sách giá tối đa, P0 và Q0 là điểm cân bằng trên thị trường tự do. Nếu chính phủ qui định rằng giá không thể cao hơn giá trần cho phép là Pmax các sản xuất không thể cung ứng nhiều như trước, lượng cung giảm xuống còn Q1 và ngược lại nhưng người mua lại muốn mua một lượng lớn hơn là Q2. Kết quả là lượng cầu vượt lượng cung, thị trường thiếu hụt một lượng hàng là (Q2 – Q1). Sự khan hiếm 34
  35. đôi khi thể hiện qua hình thức xếp hàng hoặc hình thức định lượng, tem phiếu. Giá trần (hay giá tối đa – Pmax) Hình 2.14. Giá trần (hay giá tối đa – Pmax) Một số người được lợi và một số bị thiệt từ biện pháp can thiệp này. Người sản xuất chịu thiệt, nhận được mức giá thấp hơn trước và một số phải ngừng sản xuất. Một số người dùng được lợi vì được mua hàng với giá thấp, số khác không mua được hàng với giá thấp, số khác không mua được hàng sẽ thiệt thòi vì phải mua hàng ở một thị trường không hợp pháp – thị trường chợ đen – với mức giá P1 cao hơn mức giá P0 trong điều kiện thị trường tự do. Giá sàn (hay giá tối thiểu – Pmin) Hình 2.15. Giá sàn (hay giá tối thiểu – Pmax) Trên đồ trên, P0 và Q0 là điểm cân bằng trên thị trường tự do, nếu chính phủ qui định rằng giá không thể giảm thấp hơn giá sàn cho phép là Pmin. Ở mức giá cao, lượng cung ứng Q1 nhiều hơn trước và ngược lại những người mua chỉ muốn mua một lượng ít hơn là Q2. Kết quả là lượng cung vượt cầu, thị trường thừa một lượng hàng là (Q1 – Q2), rõ ràng là người tiêu dùng bị thiệt từ biện pháp can thiệp này vì phải mua hàng với giá Pmin cao hơn mức giá P điều kiện thị trường tự do. Người sản xuất nhận được mức giá cao hơn trước nhưng giảm số lượng bán từ Q0 xuống Q2, chính phủ không có biện pháp hỗ trợ bằng cách mua hết lượng sản phẩm thì họ sẽ không có thu nhập để bù đắp chi phí để sản xuất (Q1 + Q2). Các ví dụ cho chính sách giá sàn là giá lúa tối thiểu, tiền lương tối thiểu. Như vậy, việc can thiệp của Chính phủ vào giá cả thường làm giảm tính hiệu quả của thị trường. Hiệu quả của thị trường được biểu hiện bằng lợi ích ròng của xã hội (NSB – Net Social Benefit). Lợi ích xã hội bao gồm hai bộ phận: thặng dư tiêu dùng (CS – Consumer surplus) và thặng dư sản xuất (PS – Producer surplus). 7.2. Can thiệp gián tiếp của chính phủ: thuế và trợ cấp Đánh thuế Trong thực tế, đôi khi chính phủ xem việc đánh một mức thuế trên một đơn vị hàng 35
  36. hóa như là một hình thức phân phối tăng thu nhập hay hạn chế việc sản xuất hay tiêu dùng một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Qua đường cung và đường cầu ta có thể xem động của một khoản thuế. Hình 2.16: Tác động của một sắc thuế Giả sử chính phủ đánh thuế t đồng trên một đơn vị hàng hóa được bán ra phản ứng của người bán là họ muốn được trả một mức giá thị trường cao hơn trước t đồng tại mọi số lượng được bán ra. Điều đó có nghĩa là đường cung sẽ dịch chuyển song song lên trên một đoạn bằng đúng khoản thuế t như hình trên. Đường cầu của người tiêu thụ không có lý do gì để thay đổi. Trên đồ thị giá cân bằng tăng từ P1 lên P2 và lượng cân bằng giảm từ Q1 xuống Q2. Giá cân bằng cao hơn có nghĩa là người sản xuất đã chuyển được phần nào gánh nặng thuế sang cho người tiêu dùng, cụ thể là khoản E2A trên đồ thị. Nhưng mức thuế mà người tiêu dùng gánh chịu qua giá mua nhỏ hơn mức thuế mà người sản xuất phải nộp (E2A < 1), do đó người sản xuất cũng gánh chịu một phần thuế là AB = t – E2A. Như vậy ai gánh chịu nhiều hơn từ một sắc thuế của chính phủ? Xét hai trường hợp đặc biệt sau: - Đường cầu hoàn toàn co giãn theo giá người sản xuất phải gánh chịu toàn bộ khoản thuế. - Đường cầu hoàn toàn không co giãn theo giá thì người tiêu dùng phải gánh chịu toàn bộ khoản thuế. Hình 2.17. Các trường hợp đặc biệt khi Chính phủ đánh thuế Như vậy tác động của một khoản thuế là nói đến gánh nặng kinh tế cuối cùng của nó. Việc người mua hay người bán cuối cùng phải chịu khoản thuế đó phụ thuộc vào độ co giãn tương đối của cung và cầu. Nói chung, người sản xuất sẽ gánh chịu phần lớn khoản thuế nếu cầu co giãn nhiều so với cung ( |ED| / ES lớn ). Ngược lại người tiêu dùng sẽ gánh chịu phần lớn khoản thuế nếu cầu ít co giãn so với cung ( |ED| / ES nhỏ). Cụ thể, phần thuế chuyển vào giá có thể tính theo công thức sau: t x ES/ (|ED|/ ES) 36
  37. Trợ cấp Trợ cấp có thể xem như một khoản thuế âm. Do đó, ngược lại đối với trường hợp đánh thuế, chính phủ xem việc trợ cấp một khoản tiền nào đó trên một đơn vị hàng hóa như một hình thức hỗ trợ cho sản xuất hay tiêu dùng. Tương tự như phân tích tác động của một khoản thuế, qua đường cung và đường cầu ta có thể xem xét tác động của một khoản trợ cấp. Giả sử chính phủ trợ cấp s đồng trên một đơn vị hàng hóa đối với người sản xuất, họ có thể cung ứng mức sản lượng cao hơn trước ở tất cả mức giá có thể có trên thị trường. Điều đó có nghĩa là đường cung sẽ dịch chuyển sang phải hay dịch chuyển xuống dưới một khoản bằng đúng khoản trợ cấp s như hình trên. Hình 2.18. Tác động của trợ cấp đến giá cả thị trường Đường cầu của người tiêu thụ không có lý do gì để thay đổi. Trên đồ thị giá cân bằng giảm từ P1 xuống P2 và lượng cân bằng tăng từ Q1 lên Q2. Giá cân bằng thấp hơn có nghĩa là người tiêu dùng cũng hưởng lợi từ chính sách trợ cấp, cụ thể là họ mua sản phẩm với mức giá thấp hơn một khoản E1C trên đồ thị, do đó người sản xuất chỉ hưởng một phần trợ cấp là đoạn CD = s – E1C. Như vậy ai có lợi nhiều hơn từ chính sách trợ cấp của chính phủ? Xét hai trường hợp đặc biệt sau: - Đường cầu hoàn toàn co giãn theo giá thì sản xuất hưởng toàn bộ khoản trợ cấp. - Đường cầu hoàn toàn không co giãn theo giá thì người tiêu dùng hưởng toàn bộ khoản trợ cấp. Hình 2.19. Các trường hợp khi Chính phủ trợ cấp Như vậy việc cuối cùng người mua hay người bán thường hưởng lợi từ chính sách trợ cấp của chính phủ phụ thuộc vào độ co giãn tương đối của cung và cầu. Nói chung, người sản xuất sẽ hưởng phần lớn các khoản trợ cấp cầu nếu co giãn nhiều so với cung. 37
  38. Tóm lại: Chính phủ chỉ nên can thiệp vào thị trường bằng cách qui định mức giá, khung giá và giới hạn giá trong từng trường hợp hạn hữu bắt buộc và trong một thời gian ngắn. Ngoài ra bất kỳ sự can thiệp nào cũng dẫn tới mất cân đối cung cầu, hình thành chênh lệch giá là cơ sở cho một tình trạng rối loạn thị trường do tác dụng của thị trường chợ đen. Muốn bảo hộ bất kỳ một đối tượng nào của thị trường (người sản xuất hoặc người tiêu dùng) chính phủ cần có một phần nguồn lực kinh tế. Ví dụ để nâng giá nông sản, bảo hộ người sản xuất, chính phủ phải có đủ tiền để mua hết lượng nông sản thừa tại mức giá ấn định. Hoặc muốn giảm giá thuê nhà để bảo vệ người tiêu dùng chính phủ cần có đủ vốn để xây dựng một lượng nhà còn thiếu để cho thuê tại mức giá qui định. CÂU HỎI THẢO LUẬN 1. Những nhân tố nào có thể làm tăng cầu đối với lúa gạo, xăng dầu, quần áo, áo quần Việt Tiến, xe gắn máy, xe Dream. 2. Giả sử các yếu tố khác là không đổi, ta có bốn qui luật của cung - cầu như sau: a. Sự gia tăng của cầu làm tăng giá và tăng lượng cầu. b. Sự gia giảm của cầu làm ___ giá và ___ lượng cầu. c. Sự gia tăng của cung làm giảm giá và tăng lượng cầu. d. Sự gia giảm trong cung làm ___ giá và ___ lượng cầu. 3. Hãy dùng đồ thị về cung - cầu để mô tả tác động của từng sự kiện sau đây đến giá và số lượng xe gắn máy được mua bán trên thị trường: a. Giá xăng tăng lên. b. Hệ thống xe buýt phát triển tốt hơn. c. Mức thu nhập trung bình của người dân tăng lên. d. Chính phủ tăng thuế đối với sản xuất xe gắn máy. 4. Hãy dùng đồ thị về cung - cầu để giải thích tại sao khi trúng mùa, giá lúa thường có xu hướng giảm và ngược lại khi mất mùa giá lúa có xu hướng tăng. 5. Khi bàn về mức học phí, một cán bộ quản lý của một trường đại học cho rằng cầu đối với việc nhập học hoàn toàn không co giãn theo giá. Để chứng minh, cán bộ này nhận xét rằng dù trường đại học này đã tăng gấp đôi tiền học phí (theo giá trị thực) trong 15 năm vừa qua, song số sinh viên cũng như chất lượng sinh viên nộp đơn vào học không hề giảm. Bạn có đồng ý với lập luận này không? 6. Hãy giải thích tại sao độ co giãn của cầu trong dài hạn khác với trong ngắn hạn? Hãy xem xét hai hàng hóa: khăn tay giấy và ti vi. Mô tả sự thay đổi của độ co giãn trong dài hạn của hai hàng hóa này. 7. Giả sử chính phủ ấn định mức giá trần cho thịt bò và gà dưới mức giá cân bằng. Hãy giải thích vì sao sẽ xảy ra tình trạng khan hiếm các hàng hóa này và những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến qui mô của sự khan hiếm này? Nếu thịt bò là khan hiếm thì điều gì sẽ xảy ra đối với giá thịt heo? 8. Trong những tập hợp hàng hóa sau đây, tập hợp nào là hàng thay thế và tập hợp nào là hàng bổ sung? a. Lớp toán và lớp kinh tế b. Bóng và vợt để chơi quần vợt c. Thịt bò và tôm d. Chuyến đi bằng máy bay và bằng tàu hỏa đến cùng một địa điểm. 9. Những hàng hóa dưới đây bạn cho là “hàng thứ cấp” hay “hàng bình thường”? a. Ti-vi màu b. Cà phê c. Gạo d. Ti-vi đen trắng c. Lốp xe ép lại 38
  39. 10. Sự kiện nào dưới đây có thể là nguyên nhân làm tăng giá nhà? a. Việc xây nhà giảm đi b. Các tổ chức xây dựng nhà tăng việc cho thuê nhà c. Tăng tiền lãi thế chấp d. Các cơ quan chính quyền đã sẵn sàng tăng việc bán nhà công cho những người muốn thuê. 11. Minh họa sự thay đổi giá của mặt hàng có liên quan đến việc dịch chuyển đường cầu theo tính chất liên quan (thay thế hay bổ sung) của các hàng hóa. 12. Theo bạn, trong những cặp hàng hóa dưới đây, mặt hàng nào có độ co giãn cao hơn? Tại sao? a. Nước hoa và muối b. Thuốc kháng sinh và kem ăn c. Xe gắn máy và vỏ xe gắn máy d. Sữa Vinamilk và sữa “Cô gái Hà Lan” 13. Nếu giá của một hàng hóa giảm từ 200 đơn vị tiền xuống còn 180 đơn vị tiền, lượng cầu của hàng hóa này sẽ phải tăng lên bao nhiêu phần trăm để doanh thu của người bán không đổi? 14. Nếu thời tiết thuận lợi làm dịch chuyển đường cung đối với lúa gạo một đoạn bằng 10% tại mỗi mức giá, thế thì thời tiết thuận lợi sẽ làm tăng sản lượng cân bằng về lúa thêm ít hơn 10%. Đường cung trong trường hợp này phải có hình dạng gì? Hãy giải thích tại sao đường cung dịch chuyển nhiều hơn sản lượng cân bằng. 15. Hãy dùng đồ thị về cung cầu để mô tả diễn biến của giá cả của xe gắn máy trong ngắn hạn và trong dài hạn khi thu nhập của người tiêu dùng nước ta tăng ổn định trong thời gian gần đây. BÀI TẬP 1. Giả sử có các số liệu sau về lượng cung và cầu của đậu phộng rang trên thị trường Giá (đơn vị tiền) QD (triệu hộp/năm) QS (triệu hộp/năm) 8 70 10 16 60 30 24 50 50 32 40 70 40 30 90 a. Hãy vẽ đường cầu và cung của đậu phộng rang? b. Nếu giá được định ở mức 8 đơn vị tiền (đvt) thì thừa hay thiếu là bao nhiêu? c. Nếu giá được định ở mức 32 đvt thì thừa hay thiếu là bao nhiêu? d. Hãy tìm giá và sản lượng cân bằng. e. Giả sử, sau khi thu nhập của người tiêu dùng tăng, thì cầu tăng lên 15 triệu hộp/năm. Tìm giá và sản lượng cân bằng mới. Vẽ hình. 39
  40. 2. Giả sử có các số liệu sau về cung và cầu của hàng hóa X: Giá (đơn vị tiền) Lượng cầu (đơn vị/năm) Lượng cung (đơn vị/năm) 15 50 35 16 48 38 17 46 41 18 44 44 19 42 47 20 40 50 a. Vẽ đồ thị của cung và cầu đối với hàng hóa này? b. Xác định giá và số lượng cân bằng? Giả sử chính phủ đánh thuế 5 đơn vị tiền trên mỗi đơn vị sản phẩm. c. Hãy vẽ lại đường cung sau khi đánh thuế. Tức là mối quan hệ giữa lượng cung và giá mà người tiêu dùng mua? d. Xác định giá và số lượng cân bằng mới? 3. Hàm cầu và cung của lương thực trên thị trường có dạng: QD = 120 -20P QS = -30 +40P a. Xác định giá và sản lượng cân bằng trên thị trường. Vẽ đồ thị minh họa điểm cân bằng của thị trường. Tính hệ số co giãn của cầu theo giá tại điểm cân bằng. Tại điểm cân bằng, muốn tăng doanh thu thì nhà sản xuất nên tăng hay giảm giá và tăng hay giả sản lượng? b. Giả sử chính phủ quy định mức giá là là 4 đơn vị tiền thì lượng thừa hay thiếu lương thực trên thị trường là bao nhiêu? c. Giả sử do dân số tăng nhanh làm cho cầu tăng thêm 30. Tìm giá và sản lượng cân bằng mới. 4. Hàm cầu và cung của một hàng hóa như sau: QD= 80 - 10P QS= -70 + 20P a. Xác định giá và sản lượng cân bằng trên thị trường. Nếu giá được quy định là 3 đơn vị tiền thì trên thị trường sản phẩm sẽ dư thừa hay thiếu hụt? Bao nhiêu? Tính hệ số co giản của cầu theo giá tại điểm cân bằng. Muốn tăng doanh thu thì người bán nên tăng hay giảm giá và tăng hay giảm sản lượng? b. Giả sử chính phủ đánh thuế 3 đơn vị tiền trên 1 đơn vị hàng hóa bán ra. Tính giá và sản lượng cân bằng mới. Tính số thuế mà người mua và người bán phải chịu. c. Giả sử do cải tiến công nghệ nên các nhà sản xuất cung ứng nhiều hơn. Dự đoán sự thay đổi của giá và sản lượng cân bằng. Vẽ đồ thị minh họa hiện tượng này? 5. Lượng lúa gạo sản xuất trong nước ta dùng để tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Giả sử hàm tổng cầu về lúa gạo là QD = 3.550-266P, và hàm cầu trong nước là Qd = 1.000-46P. Hàm cung trong nước QS = 1.800+240P. Giả sử cầu xuất khẩu giảm 40%. (Đơn vị tính Q là 10 tấn và P là ngàn đồng/kg) a. Các nông dân đều quan tâm đến việc giảm cầu xuất khẩu này. Điều gì sẽ xảy ra đối với giá thị trường tự do ở Việt Nam. Các nông dân có nguyên nhân để lo lắng không? b. Giả sử chính phủ đảm bảo mua hết lượng lúa thừa khi tăng giá lên 3.000 đồng/kg. Chính phủ phải mua bao nhiêu gạo và bao nhiêu tiên? c. Nếu chính phủ đánh thuế 500 đồng/kg thì giá và sản lượng cân bằng mới là gì? 40