Tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới tại Việt Nam - Phần II: Góc học tập - Góc thư viện - Góc cộng đồng
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới tại Việt Nam - Phần II: Góc học tập - Góc thư viện - Góc cộng đồng", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
to_chuc_lop_hoc_theo_mo_hinh_truong_hoc_moi_tai_viet_nam_pha.pdf
Nội dung text: Tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới tại Việt Nam - Phần II: Góc học tập - Góc thư viện - Góc cộng đồng
- PHẦN II GÓC HỌC TẬP - GÓC THƯ VIỆN - GÓC CỘNG ĐỒNG 4 GÓC HỌC TẬP Từ góc học tập, chúng tôi có thể tiếp cận được dễ dàng với các đồ dùng dạy học và các tài liệu khác nhau. 1. Chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm tổ chức cho học sinh xây dựng góc học tập trong lớp học sau đó trao đổi về vai trò của góc học tập trong quá trình dạy học. – 49 –
- 2. Chúng tôi đọc kĩ thông tin sau đây: Góc học tập và tầm quan trọng của góc học tập Ngay từ đầu năm học, GV tổ chức tìm những tài liệu phù hợp để đưa vào góc học tập với sự giúp đỡ của HS và cộng đồng. Các tài liệu không phải là thứ duy nhất có trong các góc học tập. Chúng ta xem xét các tác phẩm hay nhất, liên quan đến nội dung bài học để trưng bày trong các góc học tập. Chúng ta nên phát triển, bổ sung các tài liệu này để trợ giúp cho HS khi học ở trên lớp, phát huy được hết giá trị học thuật và sư phạm của các tài liệu đó. • Trong các góc học tập, chúng ta nên có những loại tài liệu và đồ dùng học tập sau đây: – Vật dụng phục vụ cuộc sống: là những đồ dùng thiết thực, trong sinh hoạt hàng ngày. Ví dụ: cái bát, cái thìa, cái giỏ đựng cua – Dụng cụ thực hành: Đó là các công cụ mà HS có thể sử dụng để học trong các giờ thực hành, thí nghiệm. Ví dụ: dụng cụ đo lường, mô hình trái đất, nhiệt kế, mô hình quả cầu thế giới, bộ não người, cân – Tài liệu in ấn: Sách tham khảo, tờ rơi, tranh ảnh minh họa, bản đồ, giúp HS tăng sự hiểu biết và mở rộng thêm kiến thức. – Tài liệu sáng tạo nghệ thuật: Đó là các vật dụng có thể chỉ dùng một lần mà HS dùng để học, tìm hiểu hoặc kết hợp để tạo ra một vật dụng có giá trị nghệ thuật. Ví dụ: thú nhồi bông, con rối, máy bay giấy – Đồ dùng do HS tự làm: Các tác phẩm, bài văn, bài kiểm tra đạt điểm tốt, các bài vẽ, các sản phẩm cắt dán, đồ dùng dễ kiếm trong thiên nhiên • Góc học tập không thể thiếu trong quá trình học tập vì: – Giúp HS thu nhận, tổng hợp kiến thức bằng cách thực hành, thao tác, quan sát và sử dụng các đồ vật ở góc học tập, HS được phát triển kiến thức của chính bản thân. – HS tự nghiên cứu và sử dụng thời gian rỗi của mình vào những chủ đề mà các em yêu thích nhất ở góc học tập, tạo nên thói quen học tập và khả năng nghiên cứu tự nhiên và xã hội ngay từ nhỏ. – 50 –
- – HS có thể làm việc theo nhóm nhỏ hoặc làm việc độc lập ở góc học tập, do đó khuyến khích tinh thần trách nhiệm và học tập đặc thù của cá nhân. – GV có thể khám phá những xu hướng và mối quan tâm mang tính nghề nghiệp của từng HS qua cách mà các em làm việc tại góc học tập và những kết quả tích cực mà các em thu được có thể chỉ ra định hướng nghề nghiệp của HS. – Góc học tập mang lại sự hài lòng, hứng thú và động cơ khi các em quan sát công việc của chính mình hoặc của các bạn làm việc trong góc học tập. – Ở góc học tập cần có tài liệu Hướng dẫn học các môn, những hướng dẫn sử dụng tài liệu, đặc biệt là hướng dẫn sử dụng tài liệu tham khảo liên quan đến các môn học. GV cần quan sát xem HS thích gì, quan tâm đến lĩnh vực nào khi các em học và nghiên cứu môn học nào đó trong các góc học tập, lưu ý xem kết quả học tập của các em ở góc học tập nào tốt hơn, hiệu quả hơn để đáp ứng kịp thời sở thích của trẻ vì nó sẽ giúp HS yêu thích công việc và có thể định hướng nghề. HS có thể tự kiểm tra những gì đã nghiên cứu, tự học theo từng lĩnh vực để xác định các em muốn quan tâm, phát huy cái gì. 3. Chúng tôi lập danh mục các tài liệu, các đồ dùng học tập cho môn Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội cần sử dụng khi chuẩn bị cho các bài học thuộc từng lĩnh vực, từng chủ đề thuộc chương trình học theo khối lớp nhất định để trang bị cho góc học tập. 4. Tôi đọc kĩ câu chuyện dưới đây: Xây dựng Góc học tập lớp 2A HS của lớp 2A rất vui vì các em có thể giúp cô giáo xây dựng các góc học tập. Bạn An, một bạn có năng khiếu nghệ thuật, đã thiết kế một số kí hiệu rất hay để phân biệt và xác định góc các môn học: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội. Các bạn đã cộng thêm điểm cho An để tham gia vào Cuộc thi nhà thiết kế của lớp. – 51 –
- Các em yêu thích thiên nhiên đã mang đến những cây rau, cây cỏ có sẵn ở xung quanh nhà các em và dán lên báo với tiêu đề “Cây sống trên cạn”, “Cây sống dưới nước” rồi treo lên tường của góc môn Tự nhiên và Xã hội. Ngoài ra, các em còn mang sách báo, tạp chí và tranh ảnh có khu vực mình sống rồi tập hợp để ở các góc môn Tiếng Việt, góc môn Tự nhiên và Xã hội theo các chủ đề. Một "nhà văn" nhỏ đã đưa sáng kiến xin cô giáo một quyển vở rồi ghi vào đó "Chúng em viết truyện". Tất cả những câu chuyện trong cuốn vở đó là sản phẩm của các bạn trong lớp giúp các em hiểu rộng hơn về ngôn ngữ. Các em yêu thích môn Toán cũng rất háo hức với góc của mình. Các em vui thích khi được chiêm ngưỡng những que tính, những viên sỏi, ống hút nước được xếp thành các phép tính, các dãy số. Cuối ngày, cô giáo rất hài lòng về việc đăng kí các lĩnh vực của HS trong cuốn sổ Tham gia hoạt động của lớp. Trong khi các HS làm việc đó, cô giáo đã nghĩ: “HS của mình đã thực sự tham gia các hoạt động của chính các em. Khác với trước đây mình phải nói trước lớp, thu thập và phân loại các tài liệu cũng như đồ dùng học tập cho quá trình dạy học. Niềm say mê của HS trong việc tổ chức, sắp xếp các góc môn học giúp các em khám phá, phát huy sự đam mê làm việc và học tập”. – 52 –
- 5. Chúng tôi phân tích câu chuyện trên và trả lời các câu hỏi sau: a) Bạn nghĩ gì về cách các em HS lớp 2A tổ chức xây dựng góc học tập? b) Việc tổ chức sắp xếp các góc học tập môn học với sự tham gia tích cực của HS có những thuận lợi gì? 6. Chúng tôi trao đổi về cách sử dụng tài liệu và đồ dùng ở góc học tập. 7. Chúng tôi cùng đọc tình huống sau: Sử dụng Góc học tập Tôi cảm thấy góc học tập trong lớp học của tôi rất bổ ích. Tôi yêu HS của tôi hơn khi nhìn thấy các em say mê bổ sung tài liệu vào góc học tập. Những góc học tập này thúc đẩy quá trình ghi nhớ và học tập hoàn diện của HS. Tại góc học tập, HS học thông qua quan sát, nghiên cứu, thử nghiệm và tương tác với các tài liệu để lĩnh hội kiến thức và rèn luyện các kĩ năng. Tại góc Tự nhiên và Xã hội, không biết một HS đang làm gì? Tôi đến gần quan sát, cậu học trò đọc rồi ghi chép, đôi lúc còn vẽ nữa. Kết quả mang lại cho tôi là một bài tập về môi trường sống của loài cá. Tôi trở lại xem HS đó đã làm gì, thì ra cậu ta đọc, nghiên cứu cuốn tài liệu Hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội. Sau đó tôi đến bên cạnh cậu học trò đáng yêu đó, cậu ta đang đọc đến phần hoạt động ứng dụng và vẽ ngay một con cá, tôi hỏi tên của con cá thì cậu bé trả lời "em không biết tên của nó, em chỉ biết là nó hay bơi dưới kênh trước nhà em thôi!". Công việc này đã làm giàu thêm góc Tự nhiên và Xã hội, sau đó những HS khác sẽ về nhà hỏi thêm cha, mẹ, người thân về tên của con cá đó và như vậy các em đã tra cứu từ kho tàng dân gian những kiến thức mà các em chưa biết để bổ sung kiến thức cho bản thân. Tôi kết luận rằng góc học tập tạo điều kiện thuận lợi cho công việc nghiên cứu của HS và thỏa mãn nhu cầu của các nhóm, các cá nhân khác. Góc học tập tạo nên nguồn thông tin đầy sáng tạo. – 53 –
- 8. Chúng tôi thảo luận về chủ đề này và trả lời những câu hỏi sau: a) Vì sao góc học tập giúp HS tránh được việc học chay? b) Làm cách nào để góc học tập hỗ trợ cho việc nghiên cứu của HS và giải quyết nhu cầu của cá nhân và các nhóm. 9. Chúng tôi trao đổi về những cách quản lí sử dụng và duy trì phát triển tài liệu tại góc học tập. 10. Chúng tôi cùng đọc tình huống sau: Quản lí và phát triển Góc học tập Tôi rất vui vì thấy các em sử dụng các tài liệu hoặc đồ dùng trong góc học tập một cách tự giác và hứng thú. Thỉnh thoảng có một em lấy chiếc thước ở góc học tập quật bạn một cái hoặc lấy một mảnh bìa hình tứ giác chọc bạn một cái làm bạn đau, kêu ré lên. Tôi lại bắt đầu suy nghĩ về hướng dẫn Hội đồng tự quản giao cho Ban nào giám sát việc sử dụng các tài liệu và đồ dùng trong góc học tập, Ban nào phụ trách việc duy trì, bổ sung tài liệu và đồ dùng mỗi khi chuyển chủ đề học tập trong mỗi môn học, để các em tích cực bổ sung tài liệu, đồ dùng vào góc học tập. Để chuẩn bị tài liệu và đồ dùng dạy học cho một số bài hoặc một chủ đề nào đó, trong sinh hoạt chuyên môn hàng tuần tại trường hoặc cụm trường, tôi và các đồng nghiệp trong cùng tổ khối chuyên môn đã trao đổi rất sôi nổi về mục tiểu cụ thể của từng bài học, cách thức tổ chức hoạt động đối với các nội dung bài học, từ đó đưa ra danh mục tài liệu và các đồ dùng cần thiết phục vụ cho HS hoạt động trải nghiệm để tự hình thành hay ôn luyện kiến thức, cách sưu tầm, cách làm, số lượng với mỗi nhóm Ngoài các đồ dùng, thiết bị tối thiểu, một số hình ảnh đã được HS sưu tầm, GV Mĩ thuật giúp đỡ vẽ một số tranh, tôi cùng HS cắt một số hình, chữ số bằng bìa rồi bôi màu, phụ huynh HS mang đến một số cây giống làm mẫu đã giúp cho góc học tập luôn được bổ sung, thay đổi mỗi khi chuyển sang học một chủ đề mới, bài học mới. – 54 –
- Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ 1. Tôi liệt kê 5 tài liệu hoặc đồ dùng học tập có trong các góc: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội. 2. Tôi suy nghĩ và ghi lại một kế hoạch lôi cuốn HS tham gia vào thiết kế và xây dựng góc học tập. 3. Tôi suy nghĩ và trả lời những câu hỏi sau: a) HS có thể làm gì ở góc học tập trong thời gian rỗi? b) Những hoạt động nào có thể giúp tôi phát hiện ra định hướng nghề tương lai của HS? c) Các cách để khuyến khích HS sử dụng góc học tập là gì? d) Cần làm gì để cộng đồng bổ sung tài liệu, đồ dùng dạy học cho lớp của mình? 4. Chúng tôi thảo luận về phương án trả lời cho những câu hỏi trên. 5. Chúng tôi thảo luận và trình bày kế hoạch tổ chức xây dựng, duy trì, bổ sung góc học tập ở lớp của mình một cách khả thi nhất. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 55 –
- 1. Tôi chuẩn bị một số tài liệu tham khảo cho các góc: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội của lớp 2. 2. Tôi sưu tập 10 tài liệu, đồ dùng học tập từ cộng đồng và mang đến trưng bày ở góc học tập. 3. Tôi trình bày cách làm một số đồ dùng học tập (cho góc Toán, góc Tiếng Việt, góc Tự nhiên và Xã hội) từ vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền ở địa phương cho một số chủ đề sẽ học của lớp 2 và nêu cách sử dụng chúng trong nhóm. 4. Chúng tôi xây dựng góc học tập: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội. 5. Chúng tôi suy nghĩ về hướng dẫn HS sử dụng góc học tập. 6. Chúng tôi suy nghĩ và ghi lại những ý tưởng có thể về cách duy trì, bổ sung làm phong phú thêm góc học tập từ các thành viên trong nhóm. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 56 –
- 5 GÓC MÔN TIẾNG VIỆT CHỦ ĐIỂM NHÀ TRƯỜNG 1. Tôi suy nghĩ về những thứ có thể trưng bày ở góc Tiếng Việt. – 57 –
- 2. Tôi đọc kĩ thông tin dưới đây: Xây dựng góc Tiếng Việt Những bài viết đúng chính tả, viết đẹp của HS được trưng bày trong góc Tiếng Việt bao gồm: bài chính tả, bài tập làm văn, những bài viết có nhiều âm, vần, mẫu câu mà HS được học trong Chủ điểm. Chúng tôi còn có thêm những tài liệu nói về tình bạn (có thể là những truyện cổ tích, những bài báo, những câu chuyện ). Chúng tôi sẽ treo danh sách HS của lớp mình vào góc Tiếng Việt. GV luôn quan sát xem HS thường đọc ở góc môn học nào và các em quan tâm đến cái gì trong khi các em đọc, và chú ý xem kết quả học tập của các em thiên về lĩnh vực nào của Chủ điểm. Ví dụ: Tình bạn qua các câu chuyện, tìm tòi các từ có âm, vần, dấu thanh cần học (ng/ngh, ch/tr, dấu hỏi/dấu ngã) hay phân tích các câu trong khi đọc GV nên khuyến khích sự yêu thích công việc mà HS đang thực hiện. HS có thể viết riêng danh sách của tổ mình hoặc sắp xếp những câu văn trong các bài văn ở góc môn Tiếng Việt theo ý thích. GV nên kiểm tra, xác định xem các em mong muốn, quan tâm, phát huy cái gì. Cần giúp HS: – Phân biệt: ng với ngh, tr với ch, dấu hỏi với dấu ngã. – Nêu được những từ chỉ sự vật. – Lập được danh sách các tổ trong lớp học. – Phân tích kiểu câu Ai là gì? Viết chữ hoa: chữ H. Trong góc môn Tiếng Việt với chủ điểm Bạn bè, chúng tôi đã tìm những loại tài liệu sau: – Tài liệu in ấn: sách, tờ rơi, áp phích, tranh ảnh minh họa về bạn bè, tình bạn giúp HS tăng hiểu biết và mở rộng kiến thức. – Các sản phẩm do HS, GV làm ra: các tác phẩm, truyện, bài văn, hình vẽ các sản phẩm cắt dán hay sản phẩm thực hành. Ví dụ: thẻ từ, thẻ câu, thẻ dấu thanh, mẫu chữ viết hoa (chữ H), – Các đồ dùng được cấp: bộ chữ cái Tiếng Việt lớp 2, bảng con, phấn viết, bút chì Những tài liệu này làm phong phú nội dung góc Tiếng Việt, giúp HS hứng thú học tập hơn. – 58 –
- 3. Tôi chọn và phân loại các tài liệu, đồ dùng học tập được đề cập ở hoạt động trên theo phân môn và trưng bày trong góc môn Tiếng Việt. 4. Tôi đọc câu chuyện dưới đây: Góc Tiếng Việt của em Để chuẩn bị cho Hội giao lưu Tiếng Việt với trường Quang Trung vào cuối tháng, HS lớp 2D rất vui khi được tổ chức xây dựng và bổ sung góc Tiếng Việt của em. Sùng, một họa sĩ nhí đã vẽ đôi bạn đang trò chuyện bằng tiếng Việt để phân biệt chúng em là HS dân tộc thiểu số học Tiếng Việt. Sùng đã được cộng thêm điểm để tham gia Hội giao lưu. HS lớp 2D say mê tìm hiểu ngôn ngữ bằng cách mang đến góc Tiếng Việt những quyển truyện tranh nói về tình bạn, những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết được các em sưu tầm và ghi chép lại rất đẹp và những bức ảnh bạn bè với dòng chữ "Tình bạn thân thiết". Các em còn cùng nhau chuẩn bị những đồ dùng, tự làm trang phục bằng giấy để tham gia Hội giao lưu đặt vào góc Tiếng Việt. Cô giáo rất hài lòng về việc đăng kí các lĩnh vực của từng HS trong cuốn sổ Tham gia Hội giao lưu Tiếng Việt. Cô giáo đã nghĩ "HS của mình đã thật sự tham gia và hòa mình cùng với các hoạt động tập thể. Điều này khác nhiều so với trước đây khi chỉ có mình phân loại và thu thập các tài liệu dạy học. Niềm say mê của HS trong việc tổ chức và sắp xếp góc học tập môn học đã cuốn hút, kích thích lòng say mê công việc và học Tiếng Việt". – 59 –
- 5. Chúng tôi phân tích câu chuyện trên đây và trả lời các câu hỏi sau: a) Chúng tôi nghĩ gì về cách xây dựng góc Tiếng Việt và sự chuẩn bị tham gia Hội giao lưu Tiếng Việt của HS lớp 2D? b) Phân tích những điều cô giáo đã nghĩ về việc HS đăng kí các lĩnh vực trong sổ đăng kí Tham gia Hội giao lưu Tiếng Việt. c) Ích lợi của việc tổ chức, sắp xếp góc Tiếng Việt với sự tham gia tích cực của HS như thế nào? Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 60 –
- 1. Tôi liệt kê những đồ vật, sản phẩm sưu tầm của HS theo chủ đề, đồ dùng học tập có trong góc Tiếng Việt. 2. Tôi liệt kê 10 bài viết và đồ dùng học tập từ cộng đồng có nội dung gần gũi với cuộc sống của HS trưng bày ở góc Tiếng Việt. 3. Chúng tôi cùng lập một danh sách gồm 10 câu chuyện, bài thơ và các câu thành ngữ hay dùng có trong góc Tiếng Việt. 4. Chúng tôi suy nghĩ và thảo luận cùng nhau những cách sưu tầm tài liệu và đồ dùng học tập cho góc Tiếng Việt và cách hướng dẫn HS sưu tầm. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 61 –
- 1. Tôi chuẩn bị một số tài liệu tham khảo và tự làm một số đồ dùng cho góc Tiếng Việt với chủ đề tiếp theo của lớp 2. 2. Tôi sẽ trình bày cách làm đồ dùng dạy học của tôi và nêu cách sử dụng chúng trong nhóm. 3. Tôi suy nghĩ cách để có thể làm phong phú thêm góc Tiếng Việt. 4. Chúng tôi ghi lại những ý tưởng có thể làm phong phú thêm góc Tiếng Việt và chức năng của chúng từ các thành viên trong nhóm. 5. Chúng tôi trao đổi về tầm quan trọng của góc Tiếng Việt, cách xây dựng, bổ sung và hướng dẫn, khích lệ HS sử dụng nó. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 62 –
- 6 GÓC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CHỦ ĐỀ TỰ NHIÊN 1. Tôi liệt kê một danh mục các loài cây sống trên cạn, các loài cây sống dưới nước để chuẩn bị học chủ đề Tự nhiên thuộc chương trình lớp 2. – 63 –
- 2. Tôi đọc kĩ thông tin sau đây: Cây cối xung quanh ta Những cây con mà HS mang đến được trưng bày trong góc Tự nhiên và Xã hội bao gồm: cây rau muống, cây mướp, cây ngô, cây đu đủ, cây lúa, cây đậu nành, cây su hào, có HS mang cả cây hoa lục bình. Chúng tôi cố gắng có thêm những tài liệu nói về đời sống của các loài cây (có thể là những truyện cổ tích, những bài báo, bài viết Tự nhiên và Xã hội ). Chúng tôi sẽ chọn những tác phẩm hay, phù hợp với chủ đề Tự nhiên (phần thực vật) để trưng bày trong góc Tự nhiên và Xã hội. GV luôn quan sát xem: – HS của mình thích loại cây nào và các em quan tâm đến những khía cạnh nào của cây khi các em học và nghiên cứu chúng ở góc môn học. (Ví dụ: cây sống ở đâu? Cây này có cho quả ăn được không? Sao cây này lại sống được cả trong đất và trong nước?). – Em nào có kết quả học tập tốt hơn? GV cần khuyến khích công việc mà HS đang thực hiện. HS có thể xếp riêng các loại cây sống ở môi trường khác nhau vào từng nhóm và xác định xem các em còn mong muốn, quan tâm tìm hiểu những điều gì khác. GV cần giúp HS: – Phân biệt một số loài cây sống trên cạn (như: cây mướp, cây ngô, cây đu đủ, ) với một số loài cây sống dưới nước (như: cây lúa, cây hoa lục bình, cây hoa sen, ) và một số loại cây vừa sống trên cạn, vừa sống dưới nước (như cây dừa, rau muống, ). – Trong góc Tự nhiên và Xã hội với phần Thực vật, chúng ta nên tìm những loại tài liệu sau: Các loại cây (có đủ các bộ phận) có ở địa phương được phơi khô, trong đó có loại sống trên cạn, có loại sống dưới nước; có cây lấy gỗ, cây ăn quả ; có các loại rau Tài liệu in ấn: sách, tờ rơi, áp phích, tranh ảnh minh họa về thực vật giúp HS tăng cường hiểu biết và mở rộng kiến thức. Các sản phẩm do HS làm ra: các tác phẩm, truyện, bài văn, hình vẽ, các sản phẩm cắt dán hay sản phẩm thực hành về thực vật. Đồ dùng được cấp: mẫu vật, Những việc làm này sẽ tiếp tục làm phong phú nguồn tư liệu và nội dung góc Tự nhiên và Xã hội. – 64 –
- 3. Chúng tôi chọn và phân loại các tài liệu, sản phẩm, đồ dùng học tập được đề cập ở hoạt động trên và trưng bày trong góc Tự nhiên và Xã hội. 4. Chúng tôi đọc câu chuyện dưới đây: Cây vú sữa nhà em Ngày xưa, có một cậu bé ham chơi. Một lần, bị mẹ mắng, cậu vùng vằng bỏ đi. Cậu la cà khắp nơi, chẳng nghĩ đến mẹ ở nhà mỏi mắt chờ mong. Không biết cậu đi đã bao lâu. Một hôm, vừa đói vừa rét, lại bị lũ trẻ lớn hơn đánh, cậu mới nhớ đến mẹ, liền tìm đường về nhà. Ở nhà, cảnh vật vẫn như xưa, nhưng không thấy mẹ đâu. Cậu khản tiếng gọi mẹ, rồi ôm lấy một cây xanh trong vườn mà khóc. Kì lạ thay, cây xanh bỗng run rẩy. Từ các cành lá, những đài hoa bé tí trổ ra, nở trắng như mây. Hoa tàn, quả xuất hiện, lớn nhanh, da căng mịn, xanh óng ánh, rồi chín. Một quả rơi vào lòng cậu, môi cậu vừa chạm vào, một dòng sữa trắng trào ra, ngọt thơm như sữa mẹ. Cậu nhìn lên tán lá. Lá một mặt xanh bóng, mặt kia đỏ hoe như mắt mẹ khóc chờ con. Cậu bé òa khóc. Cây xòa cành ôm cậu, như tay mẹ âu yếm vỗ về. Trái cây thơm ngon ở vườn nhà cậu bé, ai cũng thích. Họ đem hạt gieo trồng khắp nơi và gọi đó là cây vú sữa. – 65 –
- 5. Chúng tôi phân tích câu chuyện trên đây và trả lời các câu hỏi sau: a) Bạn nghĩ gì về cách giới thiệu các bộ phận của cây? b) Câu chuyện này có thể được ghi lại và trưng bày ở góc Tự nhiên và Xã hội và góc Tiếng Việt được không? c) Ích lợi của việc tổ chức, sắp xếp góc học tập các môn học với sự tham gia tích cực của HS như thế nào? Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ 1. Tôi liệt kê 5 tài liệu về thực vật có trong góc Tự nhiên và Xã hội và góc Tiếng Việt liên quan đến chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2. 2. Tôi lập danh sách 10 hoạt động được sử dụng các tài liệu, sản phẩm thực hành trong góc Tự nhiên và Xã hội. 3. Chúng tôi liệt kê 10 sản phẩm thực hành, đồ dùng dạy học của chúng tôi, của cộng đồng về thực vật có trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2. 4. Chúng tôi liệt kê 5 sản phẩm thực hành, tài liệu mà HS có thể tự sáng tạo về thực vật cho góc Tự nhiên và Xã hội lớp 2. 5. Chia sẻ cách làm đồ dùng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, nêu cách sử dụng chúng trong nhóm. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 66 –
- 1. Tôi tự làm một số đồ dùng học tập cho góc Tự nhiên và Xã hội lớp 2. 2. Chúng tôi suy nghĩ và trao đổi về tầm quan trọng của góc Tự nhiên và Xã hội, hướng dẫn HS sử dụng, hướng dẫn HS tự sưu tầm cho góc Tự nhiên và Xã hội. 3. Chúng tôi suy nghĩ, trao đổi và ghi lại những ý tưởng có thể làm phong phú thêm góc Tự nhiên và Xã hội và ý nghĩa của chúng. 4. Chúng tôi xây dựng góc môn Tự nhiên và Xã hội cho lớp 2. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ Chúng em học “Cây sống ở đâu?” – 67 –
- 7 GÓC MÔN TOÁN PHÉP CỘNG CÓ NHỚ TRONG PHẠM VI 100 “9 cộng với một số: 9 + 6” 1. Chúng tôi suy nghĩ rồi trao đổi về những đồ vật từ cộng đồng để giúp HS học về chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” ở lớp 2. – 68 –
- 2. Chúng tôi đọc thông tin sau đây: Xây dựng góc Toán Những chiếc lá vàng, những viên sỏi được rửa sạch, những nắp chai bia mà tôi và HS mang đến được trưng bày trong góc môn Toán sẽ giúp cho các em tự làm các phép cộng có thể là: Phép cộng có tổng bằng 10; 26+4; 36+24; 9 cộng với một số; 8 cộng với một số; 7 cộng với một số; 6 cộng với một số; bảng cộng Chúng tôi còn có thêm những tài liệu giới thiệu cách học toán, cách tính (có thể là những bài báo, bài viết trong tạp chí Toán tuổi thơ, Tạp chí Giáo dục Tiểu học ). Chúng tôi sẽ trưng bày một phép tính cộng bằng những đồ vật được mang đến lớp do một bạn HS thực hiện đúng, trình bày đẹp ở góc Toán. GV luôn quan sát xem HS của mình thích học Toán theo cách nào: đọc, nghiên cứu từ các tài liệu, hay thực hiện các phép tính từ các đồ vật được mang đến từ cộng đồng, hay làm tính từ việc trao đổi với bạn trong lớp Em nào có kết quả học tập tốt hơn? GV có thể nâng cao lòng yêu thích công việc mà HS đang thực hiện. HS có thể vừa thực hiện phép tính vừa xếp riêng các loại đồ vật vào từng nhóm rồi làm toán có lời văn. GV có thể kiểm tra xác định xem các em mong muốn, quan tâm và cần phát huy cái gì. Tài liệu và đồ dùng đưa vào góc Toán với chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” cần giúp HS về: – Phép cộng có tổng bằng 10, tổng bằng 100; – Phép cộng có nhớ; – Giải bài toán về nhiều hơn, ít hơn Trong góc Toán với chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100”, chúng tôi chú ý tìm những loại tài liệu sau để làm phong phú góc Toán: Các sản phẩm do GV, cộng đồng, HS làm ra hoặc dễ tìm ở địa phương: hình vẽ, mô hình, các sản phẩm cắt dán hay sản phẩm thực hành, sỏi, đá Tài liệu in ấn: sách, tài liệu, tờ rơi, áp phích, tranh ảnh minh họa về toán học liên quan đến phép cộng có tổng bằng 10, tổng bằng 100; phép cộng có nhớ; bài toán về nhiều hơn, ít hơn giúp HS tăng cường hiểu biết và mở rộng kiến thức. Đồ dùng được cấp phát: trong bộ thiết bị dạy học tối thiểu. – 69 –
- 3. Tôi suy nghĩ về việc hướng dẫn HS chọn và phân loại các tài liệu, sản phẩm, đồ dùng học tập chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” để trưng bày trong góc Toán. 4. Chúng tôi sưu tầm và phân loại các tài liệu, sản phẩm, đồ dùng học tập chuẩn bị cho HS học chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” và trưng bày chúng trong góc Toán. 5. Chúng tôi đọc, nghiên cứu thông tin dưới đây: Nhà toán học tương lai Để chuẩn bị cho cuộc thi "Nhà toán học tương lai", các em HS cùng nhau tìm kiếm những đồ vật như: những viên sỏi nhặt bên bờ suối, những ống hút nước giải khát, những chiếc nắp chai bia, những mẩu chuyện cắt từ những tờ báo nói về các nhà toán học nổi tiếng trên thế giới, rồi những con giống được gấp từ những mảnh giấy màu Không biết từ lúc nào, bạn Mỉ đã đến góc Toán sắp xếp những đồ vật thành phép tính cộng số có hai chữ số với số có một chữ số là 26 + 7. Một lúc lâu, Mỉ mới đến bên cạnh Páo, nhà toán học của lớp và nói: "Tớ không biết kết quả là bao nhiêu", Páo cùng Mỉ làm phép tính đó. Cô giáo đã quan sát đôi bạn và giúp các bạn xếp kết quả phép tính thành bông hoa trông thật đẹp mắt. Cả lớp đến xem, rồi trầm trồ khen Mỉ. Ở góc Tiếng Việt một số bạn dán những mẩu chuyện nói về các nhà toán học lên tường ; vừa dán, vừa đọc cho các bạn đứng gần cùng nghe ; có bạn nói to "Sao lại để câu chuyện các nhà toán học vào góc tiếng Việt là thế nào?", các bạn ríu rít tranh luận. Một số bạn khác ra sân nhặt những chiếc lá rụng vào rồi cùng nhau xếp thành những phép cộng sau khi đã đọc bài trong sách Hướng dẫn học. Nhìn HS của mình tham gia sôi nổi vào công việc xây dựng góc Toán chuẩn bị cho cuộc thi "Nhà toán học tương lai", cô giáo rất hài lòng. Cô nghĩ góc Toán sẽ giúp cho mình và HS của mình có thêm nhiều kĩ năng, không chỉ cho môn Toán mà cho cả các môn Tiếng Việt, Thủ công, Mĩ thuật. – 70 –
- Tạo sao trước đây mình không làm được như thế nhỉ? Cô nghĩ. HS của cô đã tự trải nghiệm để thu nhận được những kiến thức mà cô đã hướng dẫn và đọc từ sách giáo khoa. Cô thấy rằng góc môn Toán đã giúp cô và HS của cô thực hiện tốt mục tiêu bài học mà không hề mệt nhọc. HS của cô đã chia sẻ rằng: "Chúng em sẽ cố gắng để trở thành nhà toán học của cô, cô nhé!". Cô đã thấy rõ tầm quan trọng của góc học tập, cụ thể là góc môn Toán với chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100”. 6. Chúng tôi phân tích thông tin trên đây và trả lời các câu hỏi sau: a) Làm thế nào để phát huy tính sáng tạo của HS trong việc tổ chức xây dựng góc môn Toán? b) Câu chuyện này có thể sử dụng để khuyến khích HS không chỉ cho môn Toán mà cả môn Tiếng Việt, môn Tự nhiên và Xã hội được không? c) Ích lợi của việc tổ chức, sắp xếp góc môn học với sự tham gia tích cực của HS như thế nào? Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ 1. Tôi liệt kê 5 tài liệu về Toán có liên quan đến chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” ở lớp 2. 2. Chúng tôi trình bày cách làm đồ dùng dạy học cho góc môn Toán về chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” và thảo luận về cách sử dụng chúng. 3. Chúng tôi liệt kê 10 sản phẩm thực hành, đồ dùng dạy học của chúng tôi và cộng đồng về chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” ở lớp 2. – 71 –
- 4. Chúng tôi liệt kê 5 sản phẩm thực hành mà HS tự sáng tạo có liên quan đến chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” cho góc Toán lớp 2. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ 1. Tôi sưu tập 10 bài viết nói về cách học Toán cho trẻ em có liên quan đến chủ đề “Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100” ở lớp 2. 2. Tôi suy nghĩ về cách hướng dẫn HS tìm kiếm những đồ vật có trong gia đình, cộng đồng mang đến và trưng bày vào góc Toán. 3. Chúng tôi ghi lại những ý tưởng có thể làm phong phú thêm góc Toán và ý nghĩa của chúng từ các thành viên trong nhóm. 4. Chúng tôi xây dựng góc Toán cho lớp 2. 5. Chúng tôi hướng dẫn HS sử dụng và suy nghĩ về cách giúp các em duy trì, bổ sung góc Toán. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 72 –
- 8 TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG THƯ VIỆN LỚP HỌC “Thư viện nhà trường giúp HS có cơ hội được tiếp cận các thông tin về một chủ đề học tập, nghiên cứu, giúp HS vui chơi và phát huy khả năng” 1. Tôi nhớ lại việc HS và chính bản thân sử dụng thư viện và tìm hiểu: Việc sử dụng thư viện trong dạy học những có tác dụng gì? Sẽ có gì khác nếu có một thư viện ngay tại lớp học? – 73 –
- 2. Tôi đọc, phân tích và suy ngẫm thông tin dưới đây: Khám phá thư viện Thư viện là một nơi quan trọng, tạo cơ hội cho HS học tập một cách tích cực, chủ động, đồng thời cung cấp các nguồn tài liệu khác nhau để HS học tập và nghiên cứu. Thư viện đóng vai trò hỗ trợ nguồn tài liệu phong phú cho mỗi môn học, mỗi chủ đề. Mặc dù tài liệu Hướng dẫn học đã cung cấp cho HS những nội dung cơ bản cần thiết, nhưng vẫn có lúc HS vướng mắc và không hiểu rõ về một quan niệm, khái niệm nào đó. Trong trường hợp này, GV nên hướng dẫn và đưa HS đến thư viện để tìm cách giảng giải, chú thích khác phù hợp hơn với trình độ và khả năng nhận thức của HS. Sau khi đọc về một chủ đề tương tự trong thư viện, HS có thể tiếp tục học và làm việc với tài liệu Hướng dẫn học. Mạng internet có thể được sử dụng cho mục đích đó nếu thư viện có sẵn dịch vụ này. Thư viện là nơi rất hữu ích để HS tiến hành các dự án nghiên cứu nhỏ. Nhiều khi tài liệu Hướng dẫn học không cung cấp đủ nội dung để hoàn thành mục tiêu như đã đề xuất. Vì vậy, việc tìm kiếm các thông tin tham khảo ở thư viện là rất cần thiết. GV cũng có thể tận dụng điều kiện và nguồn thông tin ở thư viện và mạng internet để giải đáp rõ hơn những nội dung có trong tài liệu Hướng dẫn học hoặc làm giàu thêm vốn kiến thức của mình cũng như HS. Trong Mô hình trường học mới, các GV đều biết rằng bản thân họ không phải là nguồn thông tin duy nhất cho HS. Vì vậy, GV cần hướng dẫn HS tham khảo các nguồn thông tin khác từ thư viện để phục vụ cho bài học. Thư viện là một nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích cho việc học cá nhân của từng HS hoặc nhóm HS. HS rất tò mò muốn tìm hiểu về thế giới xung quanh mình, do đó thư viện sẽ giúp HS thỏa mãn sự tò mò đó bằng cách cho các em đọc và tìm hiểu về các chủ đề mà các em thấy thích và hứng thú nhất. Mô hình trường học mới tăng cường khả năng tự học của HS. Vì vậy, nguồn thông tin trong thư viện là một công cụ đắc lực hỗ trợ các em trong việc tự học. Thư viện đồng thời cũng được sử dụng để giúp HS giải trí và phát triển óc sáng tạo. Sách là nguồn giải trí rất lớn đối trẻ em cũng như người lớn. Qua việc đọc, chúng ta có thể giáo dục chính mình, tích lũy và tăng khả năng tưởng tượng, trải nghiệm một cách gián tiếp. Ví dụ như thưởng thức một chuyến đi lên mặt trăng hay thám hiểm một địa bàn khảo cổ; hoặc có thể sáng tác những bức tranh dựa trên các câu chuyện đã đọc; đóng vai thể hiện lại các nhân vật, sự kiện trong các câu chuyện v.v Ngoài việc cung cấp thông tin cho HS, thư viện còn góp phần hình thành, phát triển thói quen đọc sách và tìm hiểu cho các em từ những năm học đầu tiên bước chân tới trường. – 74 –
- 3. Chúng tôi phân tích và trả lời các câu hỏi sau: a) Thư viện trong Mô hình trường học mới dùng để làm gì? b) Thư viện có thể hỗ trợ thêm nguồn tài liệu cho các tài liệu Hướng dẫn học như thế nào? c) Thư viện có thể đóng góp thế nào đối với sự tiến bộ của HS, công việc của GV và các thành viên trong cộng đồng? d) Vì sao nói Mô hình trường học mới có thể coi là không hoàn thiện nếu thiếu đi nguồn tài liệu hỗ trợ từ thư viện? 4. Tôi suy nghĩ về việc HS, cha mẹ HS và cộng đồng có thể làm gì để xây dựng thư viện lớp học? 5. Tôi đọc kĩ câu chuyện sau đây: Thư viện lớp 2A Năm học này, cô giáo Minh và học sinh lớp 2A vô cùng phấn khởi vì không phải lên thư viện trường mượn sách tham khảo cho mỗi buổi học nữa vì lớp cô đã xây dựng được một thư viện của lớp với sự đóng góp của cha mẹ HS và cộng đồng. Thư viện lớp 2A chỉ đơn giản là một giá sách nhằm tạo điều kiện cho tất cả HS trong lớp tiếp cận được với sách mọi nơi, mọi lúc. Giá sách được treo ở cuối lớp học, không quá cao, quá thấp, phù hợp tầm với của mọi HS. Nguồn sách tham khảo một phần do nhà trường hỗ trợ, phần còn lại do cô giáo Minh sưu tầm và do cha mẹ học sinh, cộng đồng đóng góp. Những loại sách giải trí, cô huy động học sinh mang đến lớp để dùng chung. Vì vậy, các em sẽ được luân phiên đọc nhiều cuốn sách thay vì chỉ có một cuốn của mình. Giá sách được trang trí đẹp mắt, hấp dẫn. Ngăn ở giữa để các loại sách tham khảo môn Toán. Ngăn bên phải để các loại sách môn Tự nhiên và Xã hội. Ngăn bên trái để các loại sách môn Tiếng Việt. Còn ngăn phía dưới để các loại các loại sách tham khảo của các môn còn lại và để truyện giải trí của HS. Để dễ dàng phân biệt, cô giáo Minh đã dán mã màu cho mỗi loại sách như sau: Sách Toán – nhãn đỏ; sách Tiếng Việt – – 75 –
- nhãn xanh; sách Tự nhiên và Xã hội – nhãn tím; và phía trên mỗi ngăn, cô lại viết tên loại sách và trang trí theo mã màu đã quy định. Làm như thế này rất tiện cho việc sử dụng ; khi lấy sách không phải tìm lâu và khi dùng xong trả sách lại theo đúng vị trí quy định. Hơn nữa, cô giáo Minh rất hiểu tâm lí HS của mình, các em rất thích trang trí màu sắc. Vì vậy, việc dán nhãn sách theo mã màu sẽ hấp dẫn các em hơn. Vào buổi sinh hoạt lớp đầu năm, cô giáo Minh hỏi các em: – Các em có nhận thấy lớp mình có điều gì khác so với năm trước không? HS vui vẻ trả lời: – Thưa cô, lớp mình năm nay đẹp hơn ạ! – Thưa cô, lớp mình năm nay có thêm giá sách ạ! – À, đúng rồi. Năm nay lớp mình có thêm thư viện lớp học. Thư viện này giúp cho cô trò mình không còn phải mất thời gian lên thư viện trường để mượn sách cho mỗi buổi học nữa – Cô giáo Minh nói. 6. Chúng tôi liệt kê các loại sách giải trí, sách tham khảo dùng cho môn Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội lớp 2. 7. Chúng tôi chuẩn bị các nội dung để trình bày với đồng nghiệp về cách sắp xếp, quản lí thư viện lớp học ; lên một kế hoạch chi tiết cho việc quảng bá, sưu tầm, trưng bày, sử dụng và quản lí thư viện lớp học của mình. 8. Chúng tôi đọc kĩ câu chuyện sau đây: Sách và trẻ em Cô giáo Hoa bắt đầu một năm học mới đầy lạc quan, kể từ khi cô được tham gia vào một khóa tập huấn về thư viện thân thiện và một vài hội thảo triển khai sau đó. Trong suốt thời gian diễn ra các hội thảo này, cô đã được làm việc trong một thư viện nhỏ. Nhờ vậy, cô đã có thể mang lại cho HS của mình những bài giảng tích cực hơn. – 76 –
- Một vài ngày sau đó, các học sinh của cô cũng đã bắt đầu sử dụng tài liệu Hướng dẫn học với sự trợ giúp của thư viện lớp học. Cô Hoa đã tổ chức cuộc trò chuyện với HS để cùng trao đổi về những lợi ích mà thư viện lớp học mang lại. “Nào, các em thân mến. Các em có nhớ năm ngoái chúng ta không có thư viện, nhưng năm nay thì đã khác. Cô muốn các em nói cho cô nghe về những thay đổi các em thấy được trong các bài học được không? Cô Hoa nói. Dũng giơ tay và phát biểu ý kiến: “Thưa cô, bây giờ chúng em có thể nghiên cứu bài học, và nếu chúng em muốn biết thêm thông tin về một chủ đề nào đó, chúng em biết có thể tìm được ở đâu. Còn trước đây, chúng em không thể làm được việc đó”. “Nói một cách khác, đến bây giờ chúng ta có thể mở rộng thêm kiến thức và vốn hiểu biết của mình. Các em có thể cho cô biết từ bây giờ chúng ta có thể khắc phục được những hạn chế trước đây như thế nào?” – Cô giáo Hoa hỏi. Lan giơ tay và phát biểu: “Thưa cô, bây giờ chúng em có thể tự học cũng như học theo nhóm ở thư viện. Em cảm thấy rất thích vì có thể tìm hiểu thêm các kiến thức khác nữa trong thư viện”. “Đúng rồi, thư viện cho chúng ta thêm đam mê mong muốn khám phá”, cô Hoa trả lời. “Vâng, thưa cô, đồng thời thư viện cũng rất hữu ích đối với chúng em và cả cô nữa vì chúng em và cô luôn được đọc thêm sách”, Lan và Dũng cùng nói. Cô Hoa nói luôn: “Đúng rồi, thư viện giúp cô rất nhiều. Nguồn tài liệu trong thư viện giúp cô tìm hiểu và học được nhiều thứ, bởi vì là GV không có nghĩa là cô biết mọi thứ. Ngoài ra, các em có thể thấy là cô không cần nói nhiều khi giảng bài trên lớp nữa vì các em cũng chính là những người có thể tìm được các thông tin của bài học trong các quyển sách đó”. Mai, lớp phó phụ trách học tập nói: “Vâng, thưa cô, với sự chỉ dẫn của cô, chúng em có thể tự tìm thấy những nội dung bổ ích trong các cuốn sách của thư viện, cô không nói nhiều nhưng chúng em vẫn tìm được nhiều kiến thức hay, đẹp trong sách”. – 77 –
- Cô giáo Hoa nói tiếp : “Ồ, cô rất vui vì chỉ trong một thời gian ngắn các em đã nhận ra những lợi ích của thư viện. Ngoài ra, chúng ta sẽ cùng xem thư viện có thể giúp gì cho bố mẹ các em và cả cộng đồng nói chung nữa nhé. Bây giờ cô mong các em sẽ chịu khó tìm hiểu và quan tâm đến việc học ở thư viện. Các em đừng quên sách chính là người bạn tốt nhất của chúng ta, bởi vì sách giúp chúng ta biết nhiều hơn về thế giới xung quanh”. Cô Hoa hỏi tiếp: "Vậy, chúng ta sử dụng và quản lí thư viện này như thế nào?" Quân, Chủ tịch Hội đồng tự quản lớp học phát biểu: "Thưa cô, khi lấy sách đọc xong phải để lại vào đúng vị trí đã quy định ạ!" "Em nói đúng đấy. Với mỗi Hướng dẫn học, cô sẽ hướng dẫn các em tìm thêm thông tin trong tài liệu tham khảo để các em tự hoàn thành bài học. Ngoài ra, các em còn có thể mượn sách đem về nhà đọc thêm nữa. Cô đã làm một cuốn Sổ mượn sách, mỗi em đã có một trang trong cuốn sổ đó, khi mượn sách các em tự ghi tên sách, ngày mượn và kí tên vào sổ. Khi nào đọc xong các em đem trả sách theo đúng vị trí trên ngăn và ghi ngày trả, kí tên vào sổ. Bây giờ cô trò mình cùng nhau xây dựng nội quy thư viện nhé." Cô Hoa cùng cả lớp xây dựng nội quy thư viện. Với thư viện lớp học, các em được tăng cường tính tự quản và như vậy cô giáo cũng đỡ vất vả hơn trong việc quản lí lớp học nói chung và quản lí thư viện nói riêng. 9. Tôi nhớ lại cách tôi đã sắp xếp và sử dụng thư viện lớp học như thế nào trong quá trình dạy học của mình. 10. Tôi đọc và suy ngẫm thông tin dưới đây: Thư viện lớp học Các loại sách trong thư viện lớp học cần được sắp xếp, phân loại theo từng lĩnh vực để tiện cho việc học sinh sử dụng và quản lí sách. Tủ sách hoặc giá sách, thùng đựng sách cần được bài trí đẹp mắt, có dán nhãn, ghi tên các loại sách có trong ngăn, giá hoặc thùng. – 78 –
- Chữ trên nhãn cần ghi to, rõ ràng, dễ đọc (có thể dùng hình ảnh, hình vẽ minh họa về chủ đề sách hoặc loại sách). Có thể phân loại chủ đề sách theo màu sắc để HS dễ nhận biết bằng cách dán mã màu trên ngăn, giá hoặc thùng và gáy sách. Ví dụ, các loại sách, tài liệu tham khảo môn Toán – dán nhãn màu đỏ; sách, tài liệu tham khảo môn Tiếng Việt – dán nhãn màu xanh; sách, tài liệu tham khảo môn Tự nhiên và Xã hội – dán nhãn màu tím; sách, tài liệu tham khảo môn xã hội – dãn nhãn màu vàng; các loại truyện giải trí – dán nhãn màu hồng; v.v GV không đọc sách thay cho HS mà là người hướng dẫn, gợi mở, đặt vấn đề, giao việc cho HS tìm hướng giải quyết từ trong sách và khen ngợi, động viên HS biết đọc sách. Chính vì thế mà người GV phải đọc sách để mở rộng, nâng cao, cập nhật kiến thức, tạo điều kiện làm tốt chức năng dạy học của mình. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã từng là nhà giáo và đã nói "Người GV giỏi là người không chỉ dạy cho HS điều hay mà quan trọng hơn là phải biết hướng dẫn cho HS đọc những quyển sách tốt". Thư viện là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV và HS trong dạy học. Với mỗi chủ đề hay bài học, GV cần tham khảo thêm tư liệu về chủ đề hay bài học đó trong thư viện để bổ sung, làm giàu thêm kiến thức cho mình và cung cấp cho HS tên, trang, mục tài liệu cần tham khảo để hoàn thành bài học. Thư viện có thể hỗ trợ cho từng đối tượng HS trong quá trình học tập khác nhau. Với HS trung bình, các em có thể tìm thông tin để giải thích rõ hơn cho các khái niệm trong tài liệu Hướng dẫn học. Với các HS khá, giỏi, các em có thể tìm hiểu sâu hơn, mở rộng hơn nội dung bài học qua những tài liệu có trong thư viện. Ở trên lớp, sau khi dùng xong, HS trả sách về ngăn, giá hoặc thùng theo đúng quy định, tránh làm rách, hỏng, thất lạc sách. Thư viện lớp học không chỉ phục vụ HS đọc ở trên lớp mà các em còn có thể mượn sách mang về nhà để đọc. Vì vậy, GV cần lập một cuốn sổ mượn sách, mỗi HS sẽ có một trang riêng theo mẫu sau: Họ và tên HS: STT Tên sách Ngày mượn Kí tên Ngày trả Kí tên – 79 –
- Mỗi khi mượn sách, HS tự ghi STT, tên sách, ngày mượn và kí tên (theo mẫu trên). Khi trả sách, HS tự ghi ngày trả, kí tên và để sách vào đúng ngăn, giá hoặc thùng theo quy định. Để tăng cường sự tham gia của HS, GV nên để cho các em tự quản lí thư viện thông qua Hội đồng tự quản HS. HS tự xây dựng nội quy của thư viện, tự quản lí việc mượn và trả sách. Việc bổ sung sách cho thư viện là việc cần làm thường xuyên. Cha mẹ HS và cộng đồng có thể hỗ trợ nhà trường trong việc xây dựng thư viện lớp học, ví dụ như: đóng góp tủ sách, giá sách, cung cấp sách, tư liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, cho thư viện lớp học. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ 1. Tôi phân tích và dự kiến câu trả lời cho các câu hỏi sau: a) Thư viện giúp ích cho HS thế nào trong học tập và nghiên cứu? b) Chúng ta có thể sử dụng thư viện như thế nào để hoàn thành các yêu cầu trong tài liệu Hướng dẫn học? c) HS có thể sử dụng thư viện như thế nào khi tiến hành một dự án nghiên cứu nhỏ của môn Tự nhiên và Xã hội, Tiếng Việt hoặc Toán? d) Cần sắp xếp thư viện như thế nào cho phù hợp với điều kiện lớp học của bạn? e) GV, HS sử dụng thư viện lớp học như thế nào trong quá trình dạy - học? g) Ai là người quản lí thư viện lớp học? Quản lí như thế nào? – 80 –
- 2. Chúng tôi trao đổi về câu trả lời cho các câu hỏi trên. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ 1. Chuẩn bị một cuộc trò chuyện với HS và cộng đồng về tầm quan trọng của thư viện và cách mọi người có thể sử dụng thư viện như thế nào. 2. Thiết kế và chuẩn bị một vài sản phẩm bằng hình ảnh (áp phích, bảng trình chiếu, ) để giải thích về tầm quan trọng của thư viện. 3. Hướng dẫn HS sử dụng sách trong thư viện để hoàn thành một yêu cầu trong Hướng dẫn học môn Toán, Tiếng Việt hoặc Tự nhiên và Xã hội lớp 2. 4. Chúng tôi cùng suy nghĩ và trao đổi với nhau về cách sưu tầm tài liệu cho thư viện của lớp mình. 5. Chúng tôi trình bày kế hoạch xây dựng thư viện lớp học của mình và cùng thảo luận, ghi lại những ý kiến hữu ích. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 81 –
- 9 BẢN ĐỒ CỘNG ĐỒNG Bản đồ cộng đồng xây dựng ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá 1. Chúng tôi nhớ xem mình đã từng thấy một Bản đồ cộng đồng ở địa phương mình chưa và trông nó như thế nào rồi cùng chia sẻ. – 82 –
- 2. Chúng tôi đọc kĩ thông tin sau đây: Bản đồ cộng đồng và tầm quan trọng của Bản đồ cộng đồng Bản đồ cộng đồng là sự mô tả một cách đơn giản, bằng hình vẽ trên giấy khổ to hoặc trên một miếng vải về cộng đồng địa phương, trong đó bao gồm đường đi lại, đường biên, giếng nước, ao hồ, trường học, các tòa nhà công cộng, trụ sở công an, nhà văn hóa, công viên, trạm y tế và những nơi có thể nguy hiểm với HS Quan trọng nhất là Bản đồ cộng đồng có tất cả các ngôi nhà, nơi các gia đình HS trong lớp học của chúng tôi đang sinh sống. Bản đồ cộng đồng giúp cho chúng tôi: – Biết được khoảng cách mà mỗi HS phải đi học từ nhà đến trường. – Xác định được những thuận lợi và khó khăn khi HS đi học. – Biết được những địa điểm mà HS có thể gặp nguy hiểm để hướng dẫn các em phòng tránh rủi ro. – Biết được những địa điểm cần thiết để chỉ dẫn cho HS đến, khi cần sự trợ giúp hoặc vui chơi. – Biết được những địa điểm và cách đi thăm gia đình HS. – Là nguồn thông tin giới thiệu về cộng đồng với những người đến thăm và làm việc tại cộng đồng. Bản đồ cộng đồng còn giúp HS biết tìm đường đến thăm nhà bạn để hỏi bài, vui chơi, đường đến trường an toàn, thuận tiện nhất, đường đến hiệu sách, chợ, ủy ban nhân dân, đồn công an, bưu điện Bản đồ cộng đồng giúp HS ý thức được mình là một thành viên của cộng đồng, từ đó ý thức xây dựng và giữ gìn cộng đồng được nâng cao. 3. Chúng tôi chuẩn bị danh sách các thông tin cần thiết để xây dựng Bản đồ cộng đồng. – 83 –
- 4. Tôi đọc kĩ thông tin sau: Xây dựng Bản đồ cộng đồng Các thành viên trong cộng đồng bao gồm cha mẹ HS, HS và GV tham gia vào quá trình xây dựng Bản đồ cộng đồng này. Nếu chưa có Bản đồ cộng đồng thì GV cần tổ chức một cuộc họp, gặp gỡ các thành viên trong cộng đồng để cùng nhau xây dựng bản đồ. Bản đồ cộng đồng có thể vẽ trên giấy khổ to, hoặc tấm vải trắng với mầu sắc sinh động. Khi xây dựng xong, Bản đồ cộng đồng cần được treo tại nơi dễ quan sát ở lớp học. Khi cô giáo Thanh giải thích cho các thành viên cộng đồng rằng cô muốn tìm hiểu và biết rõ hơn về cộng đồng thì các cha mẹ HS đã mời cô đến thăm nhà họ. Cô thực sự muốn đi, nhưng lại không biết đường đi xung quanh khu vực này. Cô Thanh tận dụng ngay cơ hội có đầy đủ các bậc cha mẹ HS và nhờ họ cùng giúp xây dựng Bản đồ cộng đồng nơi họ sinh sống. Cô giải thích rằng nếu có bản đồ, cô có thể tìm thấy nơi sinh sống của từng gia đình và biết được khoảng cách từ nhà đến trường học của mỗi HS. Đồng thời, các bậc cha mẹ HS cũng biết được vị trí trường học so với vị trí ngôi nhà của họ như thế nào. HS đi học có thuận lợi và khó khăn gì, mất khoảng bao nhiêu thời gian để HS đến được trường học, đường đi học có an toàn không, Một vài người khéo tay đã trải tờ giấy to lên bàn và dùng bút chì để phác họa những nét cơ bản của Bản đồ cộng đồng. Cô Thanh hướng dẫn: – Trước tiên chúng ta vẽ đường biên của cộng đồng nơi bà con sinh sống. – Viết tên cộng đồng, xã giáp ranh ở phía Bắc. – Viết tên cộng đồng, xã giáp ranh ở phía Nam. – Viết tên cộng đồng, xã giáp ranh ở phía Đông. – Viết tên cộng đồng, xã giáp ranh ở phía Tây. – Vẽ trường học ở vị trí thích hợp. – Vẽ các con đường đi lại trong cộng đồng. – Vẽ các địa điểm: Trụ sở UBND, Đồn công an, Trạm y tế, Nhà văn hóa Mọi người rất hào hứng góp ý kiến vào phác họa. – Đây là dòng suối, còn đây là trạm y tế. Tôi nghĩ con đường này đi qua đây. – 84 –
- Một người đàn ông góp ý. – Đồn công an nằm gần con đường này bị khuất đi. Một cậu bé nói. – Đây là khu cuối chợ. Tôi nghĩ trường học chỉ quanh đây thôi. Một phụ nữ phát biểu. Cô giáo Thanh hỏi lại: – Chúng ta nhìn xem : Mọi vị trí đã rõ ràng, chính xác chưa? Bà con đồng ý, thế là một người lấy bút mầu tô lại, một người khác vẽ và viết tên các địa điểm vừa xác định. Cô Thanh phát cho mỗi người một miếng bìa nhỏ màu đỏ, đề nghị họ viết tên mình và tên HS. Sau đó cô yêu cầu mỗi người đặt miếng bìa vào vị trí thích hợp và dán vào Bản đồ vừa được vẽ xong. Các cha mẹ rất hài lòng, bởi vì đây là lần đầu tiên tất cả mọi người cùng tham gia trong một cuộc họp trao đổi sinh động như thế này và đây cũng là lần đầu tiên họ có một Bản đồ cộng đồng riêng của mình. 5. Chúng tôi cùng suy nghĩ về câu chuyện trên, chia sẻ với nhau về: a) Các địa điểm quan trọng trong Bản đồ cộng đồng là gì? b) Những ai đã tham gia xây dựng Bản đồ cộng đồng? c) Cách thức hướng dẫn xây dựng Bản đồ cộng đồng như thế nào? d) Ý nghĩa của sự cùng nhau tham gia xây dựng Bản đồ cộng đồng là gì? e) Tác dụng của Bản đồ cộng đồng là gì? 6. Chúng tôi cùng đọc tiếp câu chuyện sau: Bản đồ cộng đồng lớp 2A “Bây giờ cô giáo Thanh ơi, sẽ không còn khó khăn gì nữa khi cô đến thăm chúng tôi vì cô đã biết rõ địa điểm chúng tôi sinh sống. Với các thông tin trên Bản đồ cộng đồng này, chúng tôi cũng có thể làm được nhiều việc hơn nữa”, một phụ huynh HS nói. “Đúng rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người! Tôi có thể đến thăm gia đình các em HS và hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của từng em. Đồng thời tôi cũng hiểu rõ hơn về cộng đồng của chúng ta” cô giáo Thanh kết luận. – 85 –
- Hôm sau, đến lớp, cả lớp ngắm nhìn Bản đồ cộng đồng của lớp và rất thích thú vì ai cũng thấy có tên mình bên cạnh hình vẽ một ngôi nhà. Các em nhận ra ngôi trường của mình và đường đi quen thuộc tới trường. “Cô ơi, từ nhà em đến nhà bạn Hoa rồi mới đến nhà bạn Mai cô ạ”, một bạn nhận xét. Cô Thanh nói luôn: “Đấy, Bản đồ cộng đồng còn giúp các em biết tìm đường đến thăm nhà bạn để hỏi bài, vui chơi, biết đường đến trường an toàn, thuận tiện nhất, đường đến hiệu sách, chợ, ủy ban nhân dân, đồn công an, bưu điện Bản đồ cộng đồng cũng là nguồn thông tin để giới thiệu về cộng đồng với những người đến thăm lớp mình và làm việc tại địa phương mình đấy các em ạ. 7. Tôi suy nghĩ về cách sử dụng, khai thác Bản đồ cộng đồng. 8. Tôi đọc tiếp thông tin sau: Bản đồ cộng đồng được treo tại nơi dễ quan sát trong lớp học để mọi HS có thể quan sát và đọc được thông tin trên đó. Khi có khách tham quan lớp học, mỗi bạn đều có thể giới thiệu được về lớp mình, ngôi trường của mình, về địa điểm nhà các bạn trong lớp, về cộng đồng. Nếu có một bạn mới được chuyển về lớp mình thì sao? Tất nhiên là bạn ấy sẽ được giới thiệu về Bản đồ cộng đồng của lớp, bạn ấy và mọi người trong lớp sẽ xác định xem nhà bạn ấy sẽ được vẽ ở đâu trong Bản đồ cộng đồng. Và tất nhiên sẽ có tên của bạn ấy gần hình vẽ ngôi nhà trên Bản đồ cộng đồng của lớp. Bạn ấy sẽ rất vui vì sẽ biết ngay đường nào thuận tiện khi dến trường, nhà mình ở gần nhà bạn nào để cùng đi đến trường Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 86 –
- 1. Tôi nghiên cứu kĩ tầm quan trọng và cách xây dựng Bản đồ cộng đồng trong tài liệu này. Trên cơ sở đó, tôi bắt đầu đưa ra cách thiết kế Bản đồ cộng đồng ở lớp mình và kế hoạch có thể triển khai xây dựng, sử dụng bản đồ. 2. Tôi viết đề án thiết kế Bản đồ cộng đồng và các giải pháp áp dụng khi thực hiện ra giấy. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ 1. Chúng tôi chuẩn bị một bản đồ cộng đồng tại địa bàn tập huấn GV. 2. Chúng tôi tổ chức một trò chơi nhỏ "sắm vai" cho các đồng nghiệp nhằm khái quát lại quy trình giải thích và hướng dẫn cho cha mẹ HS về định nghĩa và mục đích của Bản đồ cộng đồng. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 87 –
- 10 GÓC CỘNG ĐỒNG 1. Tôi nhớ lại xem cộng đồng đã hỗ trợ cho nhà trường ở địa phương mình chưa và cụ thể là hỗ trợ những gì. 2. Chúng tôi cùng chia sẻ nội dung trên. 3. Chúng tôi đọc thật kĩ thông tin sau đây: Tầm quan trọng của Góc cộng đồng Góc cộng đồng là một bảng mô tả một cách đơn giản về mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng địa phương, trong đó bao gồm các thông tin về mùa vụ, nghề thủ công đặc trưng, phong tục tập quán, văn hóa lễ hội, trang phục đặc sắc, khí hậu thời tiết , và một số sản vật đặc trưng của địa phương. Và quan trọng nhất là cách thức đưa những nội dung thông tin đó vào các hoạt động dạy học trong lớp học một cách hữu ích nhất. Các thành viên trong cộng đồng bao gồm cha mẹ HS, HS và GV tham gia vào quá trình xây dựng "Góc cộng đồng" này. Nếu chưa có Góc cộng đồng thì GV cần tổ chức một cuộc họp, gặp gỡ các thành viên trong cộng đồng để cùng nhau xây dựng Góc cộng đồng. Có thể vẽ trên giấy khổ to, hoặc trên tấm vải trắng để mô tả thông tin về mùa vụ, nghề thủ công của địa phương, lễ hội, khí hậu thời tiết với các màu sắc sinh động. Mọi người có thể đóng góp hoặc sưu tầm một số sản phẩm đặc trưng của địa phương để trưng bày tại Góc cộng đồng. Góc cộng đồng cần được sắp xếp tại một góc ở lớp học, bên cạnh Bản đồ cộng đồng. Góc cộng đồng giúp cho chúng tôi: – Biết rõ môi trường vật chất và tinh thần của cộng đồng địa phương. – 88 –
- – Sử dụng các yếu tố tích cực của môi trường vật chất và tinh thần đó vào trong các hoạt động dạy học tại lớp. – Giúp HS áp dụng kiến thức học ở lớp vào thực tiễn cuộc sống ở gia đình và cộng đồng. – Tìm ra những nguồn lực sẵn có trong cộng đồng để hỗ trợ nhà trường trong giáo dục HS, đặc biệt là những người có ảnh hưởng lớn ở cộng đồng như trưởng bản, già làng, trưởng dòng họ, Hội trưởng các hội: phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh, cựu giáo chức và nguồn lực tình nguyện khác. – Là nguồn thông tin giới thiệu về cộng đồng với những người đến thăm và làm việc tại cộng đồng. 4. Chúng tôi liệt kê các thông tin cần đưa vào Góc cộng đồng. 5. Chúng tôi đọc câu chuyện sau: Xây dựng Góc cộng đồng Khi cô giáo Thanh giải thích cho các thành viên cộng đồng rằng cô muốn tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng thì các bậc cha mẹ HS chưa hiểu cô muốn làm gì, bởi vì họ đã giúp nhà trường tu sửa lớp học, hàng rào và họ rất tự hào về điều này. Cô Thanh tận dụng ngay cơ hội có đầy đủ các bậc cha mẹ HS và nhờ họ cùng giúp xây dựng một Góc cộng đồng nơi họ sinh sống. Cô giải thích rằng nếu có Góc cộng đồng, cô có thể biết được những sản phẩm đặc trưng của địa phương, nghề thủ công gia truyền, lễ hội văn hóa ở cộng đồng để đưa vào bài học; mặt khác những kiến thức HS được học ở trên lớp cũng có thể được áp dụng vào cuộc sống gia đình và cộng đồng. Cô Thanh đã chuẩn bị sẵn một tờ giấy to, có kẻ ô các tháng trong năm (từ tháng 1 đến tháng 12). Cô hướng dẫn: – HS đi học vào những tháng nào? – Một cô bé trả lời và viết vào ô của tháng tương ứng. – Thời tiết của từng tháng như thế nào? Trẻ em hay bị ốm vào tháng nào? Vì sao? – Một cô là y tá trả lời và viết vào ô của tháng tương ứng. – Bà con bận rộn với mùa vụ vào những tháng nào? – Ông trưởng bản trả lời và viết vào ô của tháng tương ứng. – 89 –
- – Chúng tôi có những lễ hội gì? Vào thời gian nào? Ai là người hướng dẫn, tổ chức? – Bà con tranh luận rất sôi nổi. – HS thường nghỉ học vào tháng nào? Vì sao? Làm thế nào để HS không nghỉ học? Ai giúp việc này? – Già làng trả lời. – Sản phẩm chính của bà con là gì? – Vài người nói vui vẻ. – Nghề thủ công của cộng đồng mình là gì? Ai giỏi nhất? – Một người là bộ đội xuất ngũ trả lời. Cô giáo Thanh viết các thông tin vào tờ giấy rồi hỏi lại bà con: – Chúng ta nhìn xem các thông tin đã rõ ràng, chính xác chưa? – Bà con đồng ý. Các bậc cha mẹ rất hài lòng, bởi vì tất cả mọi người cùng nhau tham gia và được trao đổi sống động như thế. Đây là lần đầu tiên họ có một "Góc cộng đồng" riêng của mình. 6. Tôi nhận xét về cách xây dựng Góc cộng đồng và suy nghĩ về cách sử dụng Góc cộng đồng sao cho hiệu quả. 7. Tôi đọc tiếp câu chuyện: Sử dụng Góc cộng đồng Cô Thanh nói tiếp: "Như vậy tôi đã hiểu rõ hơn về cộng đồng. Những thông tin này cần dạy cho HS để các em gắn bó hơn với cộng đồng. Không có gì tốt bằng chính bà con cùng với tôi hướng dẫn cho HS những truyền thống tốt đẹp, và trưng bày những sản phẩm, những trang phục đặc sắc của địa phương tại lớp học". "Bây giờ cô giáo Thanh ơi, sẽ không còn khó khăn gì nữa khi cô muốn đưa các nội dung địa phương vào bài dạy. Chúng tôi cũng sẽ đóng góp các sản phẩm tiêu biểu của cộng đồng để trưng bày ở lớp học. Với các thông tin trên Góc cộng đồng này, chúng tôi cũng có thể hiểu và giúp các con làm được nhiều việc hơn." Một người nhận xét. "Đúng rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người! Tôi đã hiểu rõ hơn về cộng đồng của chúng ta. Tôi sẽ mời một số bà con đến lớp để trò chuyện và chỉ bảo những điều tốt đẹp cho HS". Cô giáo Thanh kết luận cuộc họp. – 90 –
- 8. Chúng tôi cùng suy nghĩ, trao đổi về các vấn đề : a) Những nội dung nào ở địa phương cần đưa vào Góc cộng đồng để giáo dục HS? b) Ai sẽ là người tham gia xây dựng Góc cộng đồng này? c) Cách thức tổ chức hoạt động xây dựng Góc cộng đồng như thế nào? d) Ý nghĩa của việc cùng nhau tham gia xây dựng Góc cộng đồng là gì? 9. Chúng tôi suy nghĩ rồi trao đổi về cách quản lí, duy trì, bổ sung, phát triển Góc cộng đồng. 10. Chúng tôi cùng đọc thông tin sau: Quản lí Góc cộng đồng HS rất vui vì nhìn thấy một góc lớp rất sinh động với một số sản vật, trang phục đặc sắc của đia phương, của dân tộc mình, một số dụng cụ lao động hàng ngày, các em lại được biết thêm về thông tin về mùa vụ, nghề thủ công đặc trưng, phong tục tập quán, văn hóa lễ hội, khí hậu thời tiết Đặc biệt các em thấy tên mình trong Bản đồ cộng đồng, các em ý thức được mình là một thành viên của cộng đồng, từ đó nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ cộng đồng. Tôi lại bắt đầu suy nghĩ về hướng dẫn Hội đồng tự quản giao cho Ban nào phụ trách việc sử dụng, quản lí, duy trì, bổ sung các tài liệu và đồ dùng, sản vật (theo mùa vụ) trong Góc cộng đồng. Tôi đưa vấn đề này ra trong một buổi sinh hoạt lớp. “Thưa cô, Ban đối ngoại xin nhận công việc này vì việc này phải liên lạc với đại diện cha mẹ các bạn trong lớp, với cộng đồng và khi lớp mình có khách đến thăm lớp thì các bạn cũng có thể giới thiệu về cộng đồng cho khách cô ạ”. Một bạn trong Ban đối ngoại của lớp đề nghị. Cả lớp đều thấy ý kiến rất hợp lí nên thống nhất để Ban đối ngoại của lớp phụ trách các công viện liên quan đến Góc cộng đồng. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 91 –
- 1. Tôi suy nghĩ đưa ra một thiết kế Góc cộng đồng của lớp hoặc trường tôi. 2. Tôi ghi lại ý kiến của mình về cách quản lí, duy trì, bổ sung phát triển Góc cộng đồng. 3. Chúng tôi trình bày và bảo vệ cho thiết kế của mình. Chúng tôi ghi chép lại những ý kiến đóng góp của các thành viên trong nhóm. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ 1. Tôi chuẩn bị một bài thuyết trình trước phụ huynh HS và cộng đồng về Góc cộng đồng của lớp hoặc trường và lên kế hoạch thực hiện các hoạt động giáo dục cộng đồng có sự tham gia của cộng đồng địa phương. 2. Cả nhóm sắm vai cộng đồng để các cá nhân lần lượt thuyết trình hoặc trình bày kế hoạch thực hiện các hoạt động giáo dục cộng đồng. Biểu đồ tiến độ Chúng tôi báo cáo công việc với cán bộ tập huấn để đánh giá tiến độ – 92 –



