Giáo trình Pháp luật đại cương (Phần 1)

pdf 53 trang ngocly 310
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Pháp luật đại cương (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_phap_luat_dai_cuong_phan_1.pdf

Nội dung text: Giáo trình Pháp luật đại cương (Phần 1)

  1. LỜI NÓI ĐẦU Để đáp ứng việc giảng dạy môn học pháp luật trong nhà trường, chúng tôi biên soạn giáo trình này với những nội dung đúng với chương trình giảng dạy pháp luật do Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội quy định phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên nghề. Mục tiêu, yêu cầu của môn học 1. Mục tiêu Môn học pháp luật nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, rèn luyện thói quen và xây dựng nếp sống, hành vi ứng xử theo pháp luật cho người học nghề, thể hiện nghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, có ý thức chấp hành pháp luật, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tham gia xây dựng và bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội, tự giác chấp hành pháp luật. Môn học nhằm cung cấp cho người học nghề một số kiến thức cơ bản về Nhà nước và pháp luật và một số lĩnh vực pháp luật thiết yếu phù hợp với từng trình độ. 2. Yêu cầu Người học nghề sau khi học xong môn học này phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau: - Hiểu một cách có hệ thống kiến thức cơ bản về Nhà nước và pháp luật, hiểu được kiến thức pháp luật chuyên ngành liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động; - Xây dựng tình cảm, niềm tin, thái độ, ý thức công dân đối với pháp luật; - Hình thành ý thức, thói quen ứng xử phù hợp và theo chuẩn mực của pháp luật; - Tự giác thực hiện pháp luật và nghĩa vụ công dân, tham gia đấu tranh phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp luật; - Tự tìm hiểu pháp luật. Giáo trình này được biên soạn dựa vào rất nhiều tài liệu của các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giảng viên các trường đại học, học viện trong nước, các Bộ Luật hiện hành của Nhà nước. Chúng tôi đã cố gắng lựa chọn những vấn đề, những nội dung phù hợp giảng dạy cho học sinh, sinh viên nghề. Tuy nhiên, lý luận về Nhà nước và pháp luật trong giai đoạn này liên tục có sự điều chỉnh và bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, nên việc biên soạn giáo trình là một nhu cầu cấp thiết nhưng khó khăn, không tránh khỏi những thiếu sót cả về hình thức lẫn nội dung. Rất mong bạn đọc đóng góp ý kiến để chúng tôi từng bước chỉnh lý, bổ sung đáp ứng tốt hơn yêu cầu của giáo viên và học sinh, sinh viên ./. 1
  2. MỤC LỤC NỘI DUNG Trang Lời nói đầu . 1 Phân phối thời gian . 10 Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 11 I. Nguồn gốc, bản chất, chức năng của Nhà nước 11 1. Nguồn gốc của Nhà nước . 11 1.1. Một số quan điểm phi Mác – Xít về Nhà nước . 11 1.2. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin về Nhà nước . . 12 2. Bản chất của Nhà nước . 12 2.1. Khái niệm Nhà nước . 12 2.2. Bản chất của Nhà nước . . 12 3. Chức năng của Nhà nước . 13 3.1. Khái niệm chức năng của Nhà nước . . 13 3.2. Các chức năng của Nhà nước 13 II. Nguồn gốc, bản chất và vai trò của pháp luật XHCN 13 1. Khái niệm pháp luật . . . 13 2. Nguồn gốc của pháp luật . 14 3. Bản chất của pháp luật . 15 4. Vai trò của pháp luật XHCN 16 III. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam . 19 1. Bản chất, chức năng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam . 19 1.1. Bản chất của Nhà nước . . 19 1.2. Chức năng của Nhà nước . . . 20 2. Bộ máy nhà nước . . 21 2.1. Khái niệm . . . 21 2.2. Đặc điểm của Nhà nước 21 2.3. Hệ thống cơ quan nhà nước . 22 3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước 23 3.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước 24 3.2. Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý nhà nước . . 25 3.3. Nguyên tắc tập trung dân chủ 25 3.4. Nguyên tắc Pháp chế Xã hội chủ nghĩa . 25 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I . 26 2
  3. Chương II HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 27 I. Hệ thống pháp luật . 27 1. Khái niệm . . 27 2. Quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật . 27 2.1. Quy phạm pháp luật . 27 2.2. Chế định pháp luật . 30 2.3. Ngành luật . 30 3. Hệ thống các ngành luật của nước ta hiện nay . 31 3.1. Luật Nhà nước (Hiến pháp) 31 3.2. Luật Hành chính 31 3.3. Luật Dân sự . 31 3.4. Luật Tố tụng dân sự 31 3.5. Luật Hình sự 31 3.6. Luật Tố tụng Hình sự 31 3.7. Luật Kinh tế 32 3.8. Luật Tài chính . 32 3.9. Luật Đất đai . 32 3.10. Luật Lao động . 32 3.11. Luật Hôn nhân và Gia đình . 32 3.12. Luật Hợp tác xã . 32 II. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật . 33 1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật . 33 2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nay 33 2.1. Văn bản luật 33 2.2. Văn bản dưới luật 34 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG II 36 Chương III MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT DẠY NGHỀ 37 I. Khái niệm, các nguyên tắc cơ bản của Luật dạy nghề . 37 1. Khái niệm . 37 2. Nguyên tắc cơ bản của Luật dạy nghề . . 37 II. Nhiệm vụ, quyền hạn của người học nghề . 37 1. Nhiệm vụ của người học nghề . 37 2. Quyền của người học nghề . 37 3
  4. III. Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở dạy nghề . . 38 1. Nhiệm vụ của cơ sở dạy nghề 38 2. Quyền hạn của cơ sở dạy nghề . 38 IV. Quản lý nhà nước về dạy nghề . 39 1. Nội dung quản lý nhà nước về dạy nghề . . 39 2. Cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề . . . 39 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG III . 39 Chương IV LUẬT DU LỊCH I. Khái niệm Luật Du lịch . 40 II. Một số nội dung cơ bản của Luật Du lịch 40 1. Những quy định chung 40 1.1. Đối tượng áp dụng . 40 1.2. Áp dụng pháp luật về du lịch . 40 1.3. Bảo vệ môi trường du lịch . 40 1.4. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch 41 1.5. Trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch 41 1.6. Các hành vi bị nghiêm cấm . 42 2. Tài nguyên du lịch 42 2.1. Các loại tài nguyên du lịch 42 2.2. Nguyên tắc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch . 43 2.3. Trách nhiệm quản lý, bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch. 43 3. Quy hoạch phát triển du lịch 43 3.1. Các loại quy hoạch phát triển du lịch 43 3.2. Nguyên tắc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch . 43 3.3. Nội dung quy hoạch phát triển du lịch 44 4. Quản lý khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch . 44 4.1. Quản lý khu du lịch . 45 4.2. Quản lý điểm du lịch . 45 4.3. Quản lý tuyến du lịch 45 5. Khách du lịch 45 5.1. Quyền của khách du lịch 46 5.2. Nghĩa vụ của khách du lịch 46 5.3. Bảo đảm an toàn cho khách du lịch 46 6. Kinh doanh du lịch . 47 6.1. Ngành, nghề kinh doanh du lịch . 47 6.2. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch . 47 7. Kinh doanh lữ hành 47 4
  5. 7.1. Điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa . 47 7.2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa . 48 7.3. Điều kiện kinh doanh lữ hành quốc tế 48 7.4. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế . . 48 7.5. Hợp đồng lữ hành 49 7.6. Điều kiện kinh doanh đại lý lữ hành 49 8. Kinh doanh lưu trú du lịch . 49 8.1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch 49 8.2. Các loại cơ sở lưu trú du lịch . . 50 8.3. Điều kiện kinh doanh lưu trú du lịch 50 8.4. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch 50 9. Hướng dẫn du lịch . 51 9.1. Hướng dẫn viên du lịch, thẻ hướng dẫn viên du lịch 51 9.2. Điều kiện hành nghề, tiêu chuẩn cấp thẻ hướng dẫn viên . 51 9.3. Quyền và nghĩa vụ của hướng dẫn viên 52 9.4. Những điều hướng dẫn viên du lịch không được làm . 52 10. Thanh tra du lịch, giải quyết yêu cầu, kiến nghị của khách du lịch 52 10.1. Thanh tra du lịch . . 52 10.2. Giải quyết yêu cầu, kiến nghị của khách du lịch . 53 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG IV 53 Chương V PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG 54 I. Khái niệm và nguyên tắc của Luật Lao động . 54 1. Khái niệm Luật Lao động . 54 2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Lao động 54 II. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người lao động và người sử dụng lao động 55 1. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người lao động . 55 2. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người sử dụng lao động 55 III. Vai trò, quyền hạn của tổ chức công đoàn trong quan hệ với người lao động và người sử dụng lao động . 55 1. Công đoàn Việt Nam 55 2. Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn . . 56 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG V . 58 5
  6. Chương VI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 59 I. Hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể 59 1. Hợp đồng lao động . 59 1.1. Khái niệm 59 1.2. Các loại hợp đồng lao động 59 1.3. Yêu cầu khi ký hợp đồng lao động . 59 1.4. Quyền của người sử dụng lao động 60 1.5. Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng 61 1.6. Hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp sau . . 61 2. Thoả ước lao động tập thể . 64 2.1. Đại diện ký kết thoả ước lao động tập thể 64 2.2. Nội dung của thảo ước lao động tập thể . 65 2.3. Thoả ước lao động tập thể vô hiệu . 65 2.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện thoả ước lao động tập thể 66 2.5. Thời hạn ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể . 66 II. Tiền lương và bảo hiểm xã hội . 67 1. Tiền lương 67 1.1. Cách chi trả tiền lương 67 1.2. Tiền lương làm thêm giờ 68 1.3. Trả lương trong trường hợp ngừng việc 68 2. Bảo hiểm xã hội 68 2.1. Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội . 69 2.2. Chế độ hưu trí hàng tháng . 70 2.3. Các chế độ trợ cấp khác . 70 2.4. Quỹ bảo hiểm xã hội 71 III. Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi; kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất; an toàn lao động và vệ sinh lao động . 71 1. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi . 71 1.1. Thời giờ làm việc . . 71 1.2. Thời giờ nghỉ ngơi . 71 1.3. Các quy định khác . 72 2. Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất . 73 2.1. Quy định về nội quy lao động . 73 2.2. Nội dung của nội quy lao động . 73 2.3. Hình thức xử lý kỷ luật . 73 2.4. Thời hiệu xử lý kỷ luật . . 74 6
  7. 2.5. Trách nhiệm vật chất . 74 3. An toàn lao động và vệ sinh lao động . . 74 IV. Thanh tra nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật về lao động; giải quyết tranh chấp lao động 76 1. Thanh tra nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật về lao động 76 2. Tranh chấp lao động 77 2.1. Giải quyết tranh chấp lao động . 77 2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể . . 79 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG VI . 81 Chương VII LUẬT NHÀ NƯỚC (LUẬT HIẾN PHÁP) 82 I. Luật Nhà nước trong hệ thống pháp luật Việt Nam 82 1. Khái niệm Luật Nhà nước 82 2. Vị trí của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam 82 II. Một số nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992 . 82 1. Chế độ chính trị và chế độ kinh tế . 82 1.1. Chế độ chính trị . 82 1.2. Chế độ kinh tế . 83 2. Chế sách văn hoá – xã hội . . . 84 2.1. Chính sách phát triển văn hoá . 84 2.2. Chính sách giáo dục 84 2.3. Chính sách khoa học và công nghệ . 85 2.4. Chính sách phát triển văn hoá, nghệ thuật . . 85 2.5. Chính sách chăm sóc sức khoẻ của nhân dân . 85 3. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân . 85 3.1. Các quyền về chính trị 86 3.2. Các quyền về kinh tế, văn hoá, xã hội 86 3.3. Các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân . 86 3.4. Các nghĩa vụ của công dân . 86 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG VII . 87 Chương VIII PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 88 I. Pháp luật dân sự 88 1. Khái niệm Luật Dân sự, quan hệ pháp luật dân sự . 88 7
  8. 1.1. Khái niệm Luật Dân sự 88 1.2. Quan hệ pháp luật dân sự . 88 2. Một số chế định cơ bản của Luật Dân sự 88 2.1. Quyền sở hữu . 88 2.2. Quyền thừa kế . . 90 2.3. Các quyền thân nhân . . 92 2.4. Nghĩa vụ và hợp đồng dân sự 92 2.5. Trách nhiệm dân sự . . 92 3. Trình tự, thủ tục xét xử và giải quyết các vụ kiện dân sự 93 3.1. Toà án thụ lý vụ án 93 3.2. Giai đoạn điều tra và hoà giải 93 3.3. Giai đoạn xét xử sơ thẩm 93 3.4. Xét xử sơ thẩm 93 3.5. Giám đốc thẩm, tái thẩm . 94 3.6. Thi hành án dân sự 94 II. Pháp luật về hôn nhân và gia đình 94 1. Khái niệm . 94 2. Những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình 94 3. Một số nội dung cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình . 95 3.1. Quan hệ vợ chồng 95 3.2. Chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn . . . 95 3.3. Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con cái . . 95 3.4. Những quy định về nuôi con nuôi . 96 3.5. Chế độ đỡ đầu trẻ vị thành niên 96 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG VIII . 97 Chương IX PHÁP LUẬT KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH 98 I. Khái niệm pháp luật kinh tế và pháp luật kinh doanh . 98 1. Pháp luật kinh tế 98 2. Pháp luật kinh doanh . 98 II. Những nội dung chủ yếu của pháp luật về hợp đồng kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp . . 98 1. Một số nội dung chủ yếu của pháp luật về hợp đồng kinh tế . 98 1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng kinh tế . 99 1.2. Nội dung của hợp đồng kinh tế 99 1.3. Các hình thức trách nhiệm tài sản . 100 2. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về các loại hình doanh nghiệp . 100 8
  9. 2.1. Khái niệm doanh nghiệp, phân loại doanh nghiệp 100 2.2. Khái niệm và đặc điểm của một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu 101 2.3. Những quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp 102 3. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phá sản doanh nghiệp . 103 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯNG IX . 104 Chương X PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH 105 I. Pháp luật hình sự 105 1. Khái niệm và vai trò của Luật Hình sự 105 1.1. Khái niệm 105 1.2. Vai trò . 105 2. Tội phạm và hình phạt . 105 2.1. Tội phạm . . 105 2.2. Hình phạt 105 3. Trình tự thủ tục khởi tố, điều tra, xét xử và thi hành bản án hình sự 106 3.1. Khởi tố - điều tra 106 3.2. Truy tố bị can ra trước Toà án 106 3.3. Xét xử 107 3.4. Thi hành bản án hình sự 107 II. Pháp luật hành chính . . . 108 1. Khái niệm . . 108 1.1. Luật Hành chính . 108 1.2. Cơ quan hành chính nhà nước . 108 1.3. Hệ thống Luật Hành chính 109 2. Trách nhiệm hành chính, vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính 109 2.1. Trách nhiệm hành chính . 109 2.2. Vi phạm hành chính . 100 2.3. Xử lý vi phạm hành chính . 100 3. Công chức, viên chức nhà nước; quyền hạn và trách nhiệm, khen thưởng và kỷ luật đối với công chức, viên chức nhà nước . 112 3.1. Viên chức nhà nước . 112 3.2. Công chức nhà nước 112 3.3. Quyền và nghĩa vụ trách nhiệm, khen thưởng và kỷ luật công chức, viên chức nhà nước . . 113 3.4. Khen thưởng và kỷ luật . 113 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG X 114 Tài liệu tham khảo 115 9
  10. Phần thứ I PHÂN PHỐI THỜI GIAN I. CHƯƠNG TRÌNH HỆ TRUNG CẤP NGHỀ Thời gian: 15 tiết Tt Tên chương Lý Thảo Kiểm Tổng thuyết luận tra số tiết 1 Chương I Một số vấn đề 2 2 cơ bản về Nhà nước và Pháp luật 2 Chương II Hệ thống pháp luật Việt Nam 2 1 3 3 Chương III. Một số nội dung 2 2 cơ bản của Luật dạy nghề 4 Chương IV Luật Du lịch 2 1 3 5 Chương V Pháp luật về lao động 3 1 4 6 Kiểm tra 1 1 Tổng cộng 11 3 1 15 II. CHƯƠNG TRÌNH HỆ CAO ĐẲNG NGHỀ Thời gian: 30 tiết Tt Tên chương Lý Thảo Kiểm Tổng thuyết luận tra số tiết 1 Chương I Một số vấn đề 2 2 cơ bản về Nhà nước và pháp luật 2 Chương II Hệ thống pháp luật Việt Nam 2 2 3 Chương III Một số nội dung 2 2 cơ bản của Luật dạy nghề 4 Chương IV Luật Du lịch 4 1 5 5 Chương V Pháp luật về lao động 3 1 4 6 Chương VI Bộ luật Lao động 4 1 5 7 Chương VII Luật Nhà nước (Hiến pháp) 2 2 8 Chương VIII Pháp luật Dân sự 2 2 và pháp luật Hôn nhân và Gia đình 9 Chương IX Pháp luật kinh tế 2 2 và pháp luật kinh doanh 10 Chương X Pháp luật hình sự 2 2 và pháp luật hành chính 11 Kiểm tra 2 2 Tổng cộng 25 3 2 30 10
  11. Phần thứ II NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội có liên quan chặt chẽ đến lợi ích của các giai cấp, các từng lớp và các dân tộc trong xã hội. Để hiểu Nhà nước và pháp luật cần lý giải được những vấn đề cơ bản sau: - Sự ra đời của Nhà nước và pháp luật như thế nào ? - Bản chất của Nhà nước và bản chất của pháp luật là gì ? - Nhà nước và pháp luật có vai trò như thế nào trong xã hội có giai cấp ? I. NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC 1. Nguồn gốc của Nhà nước 1.1. Một số quan điểm phi Mác – Xít về Nhà nước Từ thời kỳ cổ đại, trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng tiếp cận và đưa ra những khái niệm khác nhau về nguồn gốc Nhà nước. Điển hình có một số quan điểm sau: Các nhà tư tưởng theo thuyết Thần học cho rằng: “Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, Nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung. Nhà nước là lực lượng siêu nhiên, quyền lực nhà nước là vĩnh cữu và sự phục tùng quyền lực là cần thiết và tất yếu”. Các nhà tư tưởng theo thuyết Gia trưởng cho rằng: “Nhà nước là kết quả phát triển gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người. Vì vậy, Nhà nước có trong mọi xã hội và quyền lực nhà nước về bản chất cũng giống như quyền gia trưởng của người đứng đầu gia đình”. Các nhà tư tưởng theo thuyết Tư sản: Khoảng đầu thế kỷ 16,17,18 xuất hiện hàng loạt quan niệm mới về nguồn gốc nhà nước, nhằm chống lại sự chuyên quyền độc đoán của Nhà nước Phong kiến, đòi sự bình đẳng cho giai cấp tư sản trong việc tham gia nắm giữ quyền lực nhà nước, đa số học giả Tư sản cho rằng: “Sự ra đời của của Nhà nước là sản phẩm của một khế ước (hợp đồng), được ký kết trước hết giữa những người sống trong trạng thái tự nhiên không có Nhà nước”. Vì vậy, Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ. Hạn chế của học thuyết Tư sản: giải thích nguồn gốc Nhà nước trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy tâm, coi Nhà nước được lập ra do ý muốn, nguyện vọng chủ quan của các bên tham gia khế ước, không giải thích được cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của Nhà nước. Tóm lại: Do nhiều nguyên nhân khác nhau, những học thuyết và quan niệm trên chưa giải thích được đúng nguồn gốc của Nhà nước. 11
  12. 1.2. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin về Nhà nước Với quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Chủ nghĩa Mác – Lê Nin đã chứng minh một cách khoa học rằng: “Nhà nước không phải là những hiện tượng xã hội vĩnh cữu và bất biến, Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, chúng luôn luôn vận động, phát triển và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của chúng không còn nữa”. “Nhà nước không phải là sản phẩm của tự nhiên và gắn liền với toàn bộ lịch sử xã hội, Nhà nước không tồn tại vĩnh viễn, nó là một hiện tượng lịch sử xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định”. Theo quan điển của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì Nhà nước được xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thuỷ. Nhà nước xuất hiện từ khi xã hội Cộng sản nguyên thuỷ có sự phân công lao động xã hội (trải qua 3 lần phân công lao động), sự phân công lao động làm nẩy sinh mâu thuẫn xã hội, nguyên nhân sâu xa nhất bắt nguồn từ lợi ích kinh tế. Xã hội Cộng sản nguyên thuỷ vào cuối thời kỳ đã phân hoá thành kẻ giàu và người nghèo (xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp), vai trò của Hội đồng thị tộc không thể quản lý xã hội được nữa. Để thiết lập trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của mình, những người nắm quyền về kinh tế đã thiết lập nên một tổ chức nhằm quản lý xã hội, quản lý kinh tế, tổ chức đó cùng với thời gian đã dần dần hình thành lên Nhà nước sau này. Như vậy, Nhà nước là một hiện tượng lịch sử xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp. 2. Bản chất của Nhà nước 2.1. Khái niệm Nhà nước Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội. 2.2. Bản chất của Nhà nước Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp, do đó Nhà nước bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Bản chất đó thể hiện trước hết ở chỗ Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của giai cấp thống trị. Bằng quyền lực chính trị này giai cấp thống trị buộc các giai cấp khác phục tùng ý chí của mình. Như vậy, xét về mặt bản chất, Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị, có tính giai cấp, thực hiện chức năng giai cấp. Thông qua Nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị được hợp pháp hoá thành ý chí nhà nước, giai cấp (liên minh giai cấp) thực hiện sự thống trị xã hội trên các mặt: kinh tế, chính trị, tư tưởng. Bản chất giai cấp của Nhà nước cũng được thể hiện thông qua các quan hệ đối ngoại. 12
  13. Ngoài tính giai cấp, Nhà nước còn mang tính xã hội. Với tư cách là tổ chức công quyền, Nhà nước đại diện cho xã hội thực hiện chức năng quản lý các quá trình xã hội. Tính xã hội của Nhà nước thể hiện ở chỗ cùng với việc bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, Nhà nước còn đồng thời phải đảm đương các công việc công ích, vì lợi ích chung của toàn xã hội như đắp đê điều, chống ô nhiễm, dịch bệnh, bảo vệ trật tự công cộng. Như vậy, Nhà nước là bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp, đồng thời còn là bộ máy duy trì trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. 3. Chức năng của Nhà nước 3.1. Khái niệm chức năng Nhà nước Chức năng của Nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước, thể hiện bản chất và vai trò của Nhà nước. 3.2. Các chức năng của Nhà nước Căn cứ vào phạm vi hoạt động của Nhà nước, các chức năng được phân biệt thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại. Chức năng đối nội tập trung chủ yếu vào việc thực hiện quyền lực chính trị trong nước, đây là mặt hoạt động cơ bản của Nhà nước trong nội bộ đất nước, thường được giới hạn trong lãnh thổ quốc gia. Chức năng đối nội có hai nội dung chủ yếu trấn áp các giai cấp đối kháng và tổ chức, duy trì trật tự trong nội bộ đất nước, quản lý kinh tế, văn hoá, giáo dục . Chức năng đối ngoại thể hiện vị trí, vai trò và quan điểm của Nhà nước trong quan hệ với các nước khác và các tổ chức quốc tế. Chức năng đối ngoại có hai nội dung chủ yếu bảo vệ đất nước trước khả năng tấn công xâm lược của kẻ thù bên ngoài và thực hiện hợp tác với các quốc gia khác trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Mỗi chức năng của Nhà nước có đối tượng tác động khác nhau nhưng chúng đều có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất thể hiện bản chất của Nhà nước. II. NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT XHCN 1. Khái niệm pháp luật Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật do Nhà nước ban hành cho nên pháp luật có phạm vi tác động lớn nhất, ảnh hưởng đến tất cả mọi người và tổ chức trong xã hội. Pháp luật được Nhà 13
  14. nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nghiêm ngặt, với hệ thống tổ chức và những cơ sở vật chất đầy hiệu lực, bắt buộc mọi chủ thể phải thực hiện. 2. Nguồn gốc của pháp luật 2.1. Trong xã hội Cộng sản nguyên thuỷ chưa có pháp luật, nhưng tồn tại quy tắc xử sự chung thống nhất Khi xã hội chưa phân chia thành giai cấp, chưa có sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn người, thì có những quy tắc xử sự chung hình thành một cách tự phát, xuất pháp từ lợi ích chung của toàn xã hội và cũng là lợi ích riêng của mỗi thành viên trong xã hội. Các quy tắc xử sự đó tồn tại dưới hình thức như phong tục, tập quán, các lễ nghi tôn giáo và được đảm bảo thực hiện bằng sự tự giác của mỗi người và bằng uy tín của các thủ lĩnh cộng đồng. Đặc điểm của quy tắc xử sự theo tập quán là hình thành một cách tự giác qua quá trình con người sống và làm việc cùng nhau, các quy tắc này được xã hội chấp nhận và trở thành quy tắc xử sự chung, thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội, mọi người tự giác tuân theo, nếu không tuân theo sẽ bị xã hội lên án, dư luận xã hội buộc phải tuân theo. Mặc dù chưa có pháp luật, nhưng trong xã hội Cộng sản nguyên thuỷ trật tự xã hội luôn được duy trì. 2.2. Pháp luật xuất hiện khi quy tắc xử sự tập quán không còn phù hợp Khi xã hội Cộng sản nguyên thuỷ tan rã, xã hội có giai cấp xuất hiện, thì sự đấu tranh giữa các tập đoàn người có sự đối lập về lợi ích kinh tế ngày càng trở nên gay gắt. Để giữ cho xã hội trong vòng trật tự, giai cấp nắm trong tay những tư liệu sản xuất và những của cải chủ yếu của xã hội đã tổ chức nên một thiết chế đặc biệt là Nhà nước với những công cụ đặc biệt, khi đó giai cấp đó đã trở thành giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị thông qua Nhà nước đặt ra những quy tắc xử sự mới để bảo vệ lợi ích của mình và dùng sức mạnh của Nhà nước bắt buộc mọi người trong xã hội phải tuân theo, đó chính là pháp luật. Như vậy, pháp luật ra đời cùng với Nhà nước, không tách rời Nhà nước và đều là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Pháp luật và Nhà nước, hai thành tố của thượng tầng chính trị - pháp lý, luôn có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau. Cả hai hiện tượng pháp luật và Nhà nước đều có chung nguồn gốc cùng phát sinh và phát triển. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát huy hiệu lực trên cơ sở của pháp luật. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm và đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước và bảo đảm cho quyền lực đó được triển khai nhanh, rộng trên quy mô toàn xã hội. Với ý nghĩa đó, Nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực nếu thiếu pháp luật; ngược lại pháp luật 14
  15. chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước. 3. Bản chất của pháp luật 3.1. Pháp luật mang tính giai cấp sâu sắc, thể hiện ở những điểm sau: Pháp luật là những quy tắc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Do nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung thống nhất, thành ý chí của Nhà nước, bằng cách ban hành các văn bản pháp luật. Tính giai cấp của pháp luật được thể hiện qua mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội của giai cấp thống trị. Trong xã hội có giai cấp, sự điều chỉnh của pháp luật trước hết nhằm mục đích định hướng cho các quan hệ xã hội phát triển theo một mục tiêu, một trật tự phù hợp với ý muốn của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị. Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp. 3.2. Bản chất của pháp luật Xã hội chủ nghĩa 3.2.1. Khái niệm Pháp luật Xã hội chủ nghĩa là hệ thống các qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, do Nhà nước Xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục. 3.2.2. Bản chất pháp luật Xã hội chủ nghĩa thể hiện các nội dung cơ bản sau: Pháp luật Xã hội chủ nghĩa mang tính nhân đạo sâu sắc lấy việc hướng dẫn, giáo dục, thuyết phục mọi người tự giác tuân theo làm phương châm chủ đạo, pháp luật nào cũng có tính cưỡng chế nhưng nó chỉ bắt buộc đối với những người không tự giác, có hành động chống đối sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội, ngay những người phạm pháp có biểu hiện hối cải cũng được pháp luật Xã hội chủ nghĩa cho hưởng những mức độ khoan hồng nhất định. Trong chế tài của pháp luật Xã hội chủ nghĩa bao giờ cũng hướng đến mục tiêu giáo dục cải tạo là chính, không xúc phạm nhân phẩm, danh dự con người, luôn tạo điều kiện cho người phạm pháp trở thành người công dân lương thiện. Pháp luật Xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lấy mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, nhân đạo làm nguyên tắc xây dựng pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích của nhân dân lao động. Pháp luật Xã hội chủ nghĩa bảo vệ những quyền lợi chung của các dân tộc, các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động. Pháp luật Xã hội chủ nghĩa bao giờ cũng do Nhà nước Xã hội chủ nghĩa ban hành, thể hiện ý chí của nhà nước, hình thành bằng con đường nhà nước, có giá trị hướng dẫn hành vi con người nhưng luôn bảo đảm tính cưỡng chế của quyền lực 15
  16. nhà nước, nhưng pháp luật Xã hội chủ nghĩa do thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và tầng lớp nhân dân lao động nên luôn được đa số quần chúng tự giác chấp hành. Pháp luật Xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với cương lĩnh và đường lối chính sách của Đảng cộng sản. Pháp luật là sự thể chế hoá, cụ thể hoá mọi chủ trương, chính sách của Đảng cộng sản thành các quy phạm của Nhà nước để tổ chức thực hiện thống nhất trong cả nước. Pháp luật Xã hội chủ nghĩa có nội dung phù hợp với nền đạo đức xã hội và các qui phạm của các tổ chức, đoàn thể xã hội hình thành trong xã hội Xã hội chủ nghĩa. Đạo đức là những quan niệm về cái thiện, cái ác, nhâm phẩm, danh dự, trách nhiệm của con người; về sự công bằng và lẽ phải, trái Tất cả những yêu cầu đó của nền đạo đức xã hội Xã hội chủ nghĩa luôn luôn phù hợp với các yêu cầu của pháp luật Xã hội chủ nghĩa. Các nội qui, điều lệ của các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng hình thành trong Chủ nghĩa xã hội đều phải có tôn chỉ mục đích phù hợp với pháp luật nhà nước và các mục tiêu của cách mạng xã hội, các thành viên của tổ chức, đoàn thể nào vi phạm pháp luật đều là sự vi phạm nội qui, điều lệ của tổ chức đó. Pháp luật Xã hội chủ nghĩa là một hệ thống các qui tắc xử sự có tính thống nhất cao, các mối quan hệ bên trong của hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa luôn luôn chặt chẽ và có thống nhất về yêu cầu và nội dung. Lấy Hiến pháp làm luật cơ bản, làm cơ sở cho việc xây dựng và ban hành pháp luật ở các ngành, các cấp, các lĩnh vực hoạt động cụ thể của xã hội. Có được tính thống nhất nội tại cao là do pháp luật Xã hội chủ nghĩa quán triệt chặt chẽ nguyên tắc pháp chế và tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật. 4. Vai trò của pháp luật Xã hội chủ nghĩa Pháp luật được đặt ra nhằm thực hiện những mục đích đã được xác định. Những mục đích đó luôn xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa và nhu cầu cấp thiết phải có sự điều chỉnh pháp luật, các quan hệ xã hội trong thời kỳ quá độ cũng như trong mỗi giai đoạn cụ thể. Trong mối quan hệ này vai trò của pháp luật thể hiện ở những mặt cơ bản sau: 4.1. Pháp luật là cơ sở để thiết lập, cũng cố và tăng cường quyền lực Nhà nước. Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật và pháp luật không thể phát huy hiệu lực của mình nếu không có sức mạnh của bộ máy nhà nước. Bộ máy nhà nước là một thiết chế phức tạp bao gồm nhiều bộ phận (nhiều loại cơ quan nhà nước). Để bộ máy đó hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi loại cơ quan; phải xác lập mối quan hệ đúng đắn giữa chúng; phải có những phương pháp tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo ra 16
  17. một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực thi quyền lực nhà nước. Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật. Chức năng, thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước chỉ có thể được xác định bằng một văn bản pháp luật của cấp trên có thẩm quyền, theo đó còn có các chế tài bảo đảm cho các quy định đó có hiệu lực pháp lý. Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi loại cán bộ, mỗi cán bộ làm việc trong từng cơ quan cụ thể của bộ máy nhà nước. 4.2. Pháp luật là công cụ thực hiện đường lối chính sách của Đảng Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi của cách mạng nước ta. Đảng lãnh đạo trước hết và chủ yếu bằng chủ trương, chính sách. Đường lối chính sách của Đảng phải được cụ thể hoá, biến thành pháp luật nhà nước. Với ý nghĩa đó, pháp luật là biểu hiện dưới hình thức nhà nước các đường lối, chính sách của Đảng, là công cụ chủ yếu để tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng thành hiện thực trong cuộc sống. Mặt khác, việc thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật, thành những quyết định quản lý mang tính quyền lực nhà nước; trở thành các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân tổ chức, được thực hiện một cách trực tiếp chính xác, thống nhất trong cả nước, trong từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị cơ sở. 4.3. Pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội Đất nước muốn giàu mạnh, xã hội văn minh, tiến bộ thì đất nước phải có kỷ cương, kỷ luật và ổn định để phát triển. Do vậy, Nhà nước phải tiến hành quản lý mọi mặt khác nhau của đời sống xã hội. Để tiến hành quản lý, Nhà nước phải sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có phương tiện pháp luật. Quản lý xã hội bằng pháp luật đó là việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tổ chức, điều hoà, phối hợp hành vi của những người tham gia các quan hệ theo mục đích do Nhà nước định ra, phù hợp với lợi ích của cá nhân mỗi người và của nhà nước nói chung. Quản lý nhà nước bằng pháp luật đóng vai trò chủ yếu trong các phương tiện quản lý mà Nhà nước sử dụng. Bởi vì, pháp luật là các quy tắc xử sự, khuôn mẫu có tính bắt buộc chung, nó đảm bảo tính dân chủ (phù hợp với ý chí và mong muốn của đại đa số nhân dân lao động), tính thống nhất trong cả nước và tính hiệu lực thực thi trong quá trình quản lý. Để tiến hành quản lý nhà nước bằng pháp luật, Nhà nước phải hoàn thiện và đổi mới hệ thống pháp luật cho phù hợp với từng thời kỳ. Đồng thời phải tiến hành hoạt động phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật” ở mọi từng lớp nhân dân. 17
  18. Tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật. Quản lý nhà nước bằng pháp luật là quá trình tiến hành đồng thời các hoạt động xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống. 4.4. Pháp luật là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân Công dân có quyền và nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định. Trong mối quan hệ với nhà nước nói chung, cơ quan nhà nước nói riêng và với các công dân khác, mỗi người đều có quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định. Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ cho công dân trong pháp luật. Bởi vì, một mặt để Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời không để họ lợi dụng quyền gây thiệt hại cho lợi ích của người khác, cho tập thể và cho Nhà nước. Ví dụ: Công dân có quyền và nghĩa vụ về tài sản hợp pháp của mình do luật pháp quy định. Nếu tài sản bị người khác xâm hại, Nhà nước mới có các hình thức bảo vệ, đồng thời ngăn cấm không do công dân lấy tài sản của mình gây thiệt hại cho người khác và cho Nhà nước. Trong mối quan hệ với nhà nước nói chung, cơ quan nhà nước nói riêng, công dân có các quyền thì Nhà nước có các nghĩa vụ tương ứng và ngược lại. Ví dụ: Tại Điều 58 - Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất ”. Nhà nước có nghĩa vụ “Bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. Trong mối quan hệ giữa công dân với nhau, bên này có quyền thì bên kia có nghĩa vụ do pháp luật quy định và ngược lại. Ví dụ: Trong quan hệ mua bán tài sản, bên mua có quyền nhất định (nhận được tài sản mà mình mua) thì bên bán có những nghĩa vụ tương ứng (giao tài sản mua bán đúng như thoả thuận) và ngược lại. Như vậy, bằng việc quy định trong pháp luật các quyền và nghĩa vụ của công dân mà pháp luật trở thành phương tiện để công dân thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi sự xâm hại của người khác, kể cả từ phía Nhà nước và cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước. Bằng cách đó, loại bỏ các yếu tố bạo lực, cưỡng chế không đúng pháp luật đối với mỗi người, tạo lập sự yên ổn trong các quan hệ xã hội. Nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ các quyền của công dân, ngăn ngừa những biểu hiện lộng quyền, thiếu trách nhiệm đối với công dân. Đồng thời đảm bảo cho mỗi công dân thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước và các công dân khác. 18
  19. III. NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. Bản chất, chức năng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 1.1. Bản chất của Nhà nước Bản chất Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là biểu hiện cụ thể bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân và tính thời đại. Đại hội lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân ”. Điều 2 - Hiến pháp năm 1992 xác định bản chất của Nhà nước ta là: “ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Như vậy, tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân và tính thời đại là cái cơ bản, xuyên suốt, thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản chất đó được biểu hiện cụ thể: Tính giai cấp công nhân: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang tính giai cấp công nhân dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, tổ chức cho nhân dân phát huy đầy đủ quyền làm chủ trong mọi lĩnh vực cuộc sống. Nhà nước phấn đấu nhằm mục đích: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Nhà nước thực hiện quyền chuyên chính với mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. Tính đại đoàn kết dân tộc: năm mươi tư dân tộc sinh sống trên lãnh thổ đất nước Việt Nam, trãi qua quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước đã đoàn kết, kề vai sát cánh bên nhau, tạo nên dân tộc Việt Nam thống nhất, xây dựng một nước Việt Nam “độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”. Đó là quyền dân tộc cơ bản đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Nhà nước ta. Trong giai đoạn hiện nay vấn đề độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn liền với Chủ nghĩa xã hội. Tính nhân dân sâu sắc: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ở tính nhân dân sâu sắc. Bản chất giai cấp của Nhà nước ta luôn gắn liền với tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước. Trong lãnh đạo các cuộc cách mạng giành, giữ, xây dựng đất nước lợi ích của giai cấp công nhân, của nông dân, trí thức và những người lao động khác là đồng nhất. Vì vậy, sự liên minh bền chặt giữa các giai tầng trên là cơ sở thắng lợi của cuộc cánh mạng Xã hội chủ nghĩa ở 19
  20. Việt Nam. Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân. Tính thời đại: xu thế chung hiện nay trên các chính trường quốc tế là hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng nhau tiến bộ và hội nhập. Vì vậy, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng hợp tác giao lưu với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng, các bên cùng có lợi. Tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. 1.2. Chức năng của Nhà nước Khái niệm: Chức năng của Nhà nước là những phương diện, những mặt hoạt động cơ bản của Nhà nước, nhằm thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu nhất, do lực lượng cầm quyền trong xã hội đặt ra cho Nhà nước cần giải quyết. Nhà nước có các chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại. Các chức năng của Nhà nước được quy định một cách khách quan bởi cơ sở kinh tế, xã hội của Nhà nước. Chức năng của Nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện, mỗi cơ quan nhà nước tham gia thực hiện ở mức độ khác nhau. Việc thực hiện các chức năng của Nhà nước được tiến hành trong mối quan hệ tương tác, hỗ trợ lẫn nhau trong thể thống nhất với nhiều hình thức và phương pháp được áp dụng. Hình thức pháp lý: lập pháp – hành pháp – tư pháp. Phương pháp: thuyết phục – giáo dục – cưỡng chế. Chức năng đối nội của Nhà nước: Nhà nước tổ chức và quản lý kinh tế, nền kinh tế nước ta hiện nay được xác định là kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường Việt Nam tồn tại nhiều thành phần kinh tế như: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, .Nhà nước cũng thừa nhận và kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nhằm tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý để phát triển. Để đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và sự cạnh tranh lành mạnh, Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật và nhiều chính sách kinh tế. Hiện nay, trong lĩnh vực đối nội, đây là phương diện hoạt động chủ yếu của Nhà nước ta. Nhà nước tổ chức và quản lý về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và âm mưu phản cách mạng, chống lại chính quyền nhân dân. Nhà nước tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ. Nhà nước tổ chức và quản lý bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân. Chức năng đối ngoại của Nhà nước: Nhà nước thực hiện việc bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa; duy trì lực lượng quốc phòng đủ mạnh để ngăn ngừa và chặn đứng những âm mưu can thiệp, quấy phá từ bên ngoài. Để thực hiện tốt chức năng này, sự phát triển về kinh tế và ổn định xã hội trong lĩnh vực đối nội là một 20
  21. điều kiện tối quan trọng. Nhà nước thực hiện việc mở rộng và tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các nước khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệt vào công việc nội bộ của nhau. 2. Bộ máy Nhà nước 2.1. Khái niệm Bộ máy Nhà nước là hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước từ Trung ương tới địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng chung của Nhà nước. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ chức quyền lực chính trị của nhân dân Việt Nam, đại diện cho nhân dân thực hiện quản lý thống nhất mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại. Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, hệ thống các cơ quan nhà nước được lập ra. Mỗi cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, đảm nhận những chức năng, nhiệm vụ nhất định của Nhà nước, có cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, thẩm quyền tương ứng. Như vậy, bộ máy nhà nước là hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng chung của Nhà nước. 2.2. Đặc điểm của bộ máy Nhà nước Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động. “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra. Trong đó nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước tập trung nhất là thông qua hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan nhà nước khác đều ra đời từ cơ quan quyền lực nhà nước, phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước hệ thống cơ quan này. Bộ máy nhà nước ta vừa là tổ chức hành chính cưỡng chế vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá – xã hội. Các cơ quan cưỡng chế như Quân đội, Công an, Toà án, Viện kiểm sát. Các cơ quan quản lý kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như Chính phủ, các Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp. Đội ngũ công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước đại diện và bảo vệ lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Bộ máy nhà nước gồm nhiều cơ quan nhà nước hợp thành, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; thống nhất về quyền lực nhà nước, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. 21
  22. 2.3. Hệ thống các cơ quan nhà nước Bộ máy nhà nước ta hiện nay theo Hiến pháp 1992 gồm các hệ thống cơ quan nhà nước sau: 2.3.1. Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước bao gồm: Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan này ngoài Hiến pháp, còn do Luật tổ chức Quốc hội và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp quy định. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhân danh nhân dân để thể hiện và thực thi một cách thống nhất quyền lực, phải chịu trách nhiệm và phải báo cáo trước nhân dân về mọi hoạt động của mình. Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập Pháp; quyết định những vấn đề trọng đại nhất của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước. 2.3.2. Chủ tịch nước: Điều 101 - Hiến pháp năm 1992 xác định: “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại”. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Chủ tịch nước được trao nhiều quyền hạn rộng lớn trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, là người giữ quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Trong tổ chức nhân sự của bộ máy nhà nước, Chủ tịch nước có quyền: đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Chính phủ. Khi thực hiện quyền hạn, Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định. Tuy nhiên, Chủ tịch nước không thuộc hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan quản lý nhà nước. Chủ tịch nước xét trên nhiều phương diện là cơ quan có vị trí đặc biệt và giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự phối hợp thống nhất giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước. 2.3.3. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước (là hệ thống cơ quan chấp hành, điều hành hoặc cơ quan hành chính nhà nước) bao gồm: Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp và các Sở, 22
  23. phòng, ban thuộc Uỷ ban. Các cơ quan này gọi là các cơ quan quản lý nhà nước vì chức năng của nó là quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan này do Hiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp và các Nghị định thành lập các Bộ, các cơ quan ngang bộ quy định. Chính phủ là cơ quan cao nhất trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, là cơ quan có thẩm quyền chung. Điều 109 – Hiến pháp năm 1992 xác định: “Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trung ương xuống cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. 2.3.4. Hệ thống cơ quan xét xử bao gồm: Toà án nhân dân tối cao; Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Toà án quân sự các cấp. Chức năng của hệ thống các cơ quan này xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân – gia đình và các việc khác do luật quy định. Xuất phát từ bản chất của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, nhằm mục đích phát huy dân chủ, tạo điều kiện cho công dân tham gia vào công việc của Nhà nước, Toà án nhân dân của nước ta có Hội thẩm nhân dân, Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân. Khi xét xử hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán. Trong hoạt động xét xử, Toà án phải dựa trên nguyên tắc cơ bản là: Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định; xét xử tập thể và quyết định theo đa số; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo; bảo đảm cho công dân thuộc các dân tộc được dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; bảo đảm quyền giám sát của cơ quan quyền lực đối với hoạt động xét xử. 2.3.5. Hệ thống cơ quan kiểm sát bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện;Viện kiểm sát quân sự các cấp. Chức năng của hệ thống các cơ quan này là kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định. Tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan kiểm sát do Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định. 3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt của bộ máy nhà nước Để bộ máy nhà nước có hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý xã hội thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải bảo đảm cho nó có một cơ cấu tổ chức hợp lý, một cơ chế hoạt động đồng bộ và một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực thực hiện 23
  24. những nhiệm vụ được giao. Tất cả những điều đó chỉ có thể đạt được khi xác định đúng những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Xã hội chủ nghĩa là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học, phù hợp với bản chất của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, tạo thành cơ sở cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và toàn thể bộ máy nhà nước. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những tư tưởng chỉ đạo, là căn cứ và là điểm xuất phát cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước tạo thành bộ máy nhà nước. 3.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Điều 4 – Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo xã hội”. Đây là nguyên tắc bảo đảm cho bộ máy nhà nước trong tổ chức và hoạt động giữ vững được bản chất giai cấp sâu sắc và tính nhân dân rộng rãi. Đây còn là nguyên tắc bảo đảm cho các hoạt động của bộ máy nhà nước có hiệu lực, hiệu quả và căn cứ khoa học. Nội dung của nguyên tắc: Đảng đề ra đường lối chính trị, những chủ trương và định hướng lớn về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy, chỉ đạo quá trình xây dựng pháp luật, nhất là những đạo luật quan trọng nhằm thông qua Nhà nước thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, thành những quy định chung thống nhất trên quy mô toàn xã hội, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan nhà nước hoạt động theo đúng đường lối của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác cán bộ, giới thiệu những cán bộ ưu tú có đức, có tài, để Nhà nước lựa chọn giữ những cương vị trong bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi đảng viên, tổ chức đảng trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Năng lực lãnh đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc xây dựng, kiện toàn, sử dụng và phát huy vai trò của Nhà nước. Sự tin yêu của nhân dân đối với Nhà nước và sự tham gia tích cực, chủ động của nhân dân vào quản lý nhà nước là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Để có thể thực hiện tốt vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước, Đảng cũng phải thường xuyên cũng cố, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên trong bộ máy nhà nước. Phương pháp lãnh đạo của Đảng là giáo dục, thuyết phục và tuyên truyền. 24
  25. 3.2. Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý nhà nước. Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc tuân thủ theo nguyên tắc này tạo ra khả năng phát huy tính năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động tham gia vào công việc Nhà nước, là một trong những phương pháp hữu hiệu góp phần hạn chế tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền trong bộ máy nhà nước. Nhân dân lao động tham gia vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước bằng nhiều hình thức phong phú như bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, tham gia thảo luận đóng góp ý kiến vào các dự án luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tham gia vào hoạt động xét xử của Toà án. 3.3. Nguyên tắc tập trung dân chủ Đây là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp giữa tập trung và dân chủ, tức là sự kết hợp chặt chẽ giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp trên với tính năng động sáng tạo của cấp dưới trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực của Nhà nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở để phát huy tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân, của tập thể và đề cao trách nhiệm, ý thức kỷ luật của cán bộ, công chức nhà nước. Vì vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ áp dụng vào việc giải quyết mối quan hệ giữa Trung ương với địa phương, giữa cấp trên với cấp dưới, mà còn có thể áp dụng cho mỗi cấp trong cơ cấu tổ chức, cũng như trong cơ chế hoạt động cụ thể của nó. Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện trên các mặt chủ yếu: tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động và chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra và xử lý các vấn đề khen thưởng và kỷ luật. Ý nghĩa: tuân thủ nguyên tắc này đảm bảo cho bộ máy nhà nước không độc đoán, chuyên quyền hoặc hỗn loạn, vô tổ chức, vô kỷ luật; là nhân tố bảo đảm cho bộ máy nhà nước vừa giữ vững được bản chất, nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước, phát huy được tính năng động sáng tạo. Nội dung của nguyên tắc thể hiện ở chỗ cơ quan cấp dưới phục tùng cơ quan cấp trên, cơ quan địa phương phục tùng cơ quan Trung ương, cơ quan quản lý nhà nước phục tùng cơ quan quyền lực nhà nước, nhân viên phục tùng thủ trưởng. Đồng thời phát huy vai trò sáng tạo, dân chủ bàn bạc của các chủ thể chấp hành trước khi quyết định. 3.4. Nguyên tắc Pháp chế Xã hội chủ nghĩa Nội dung của nguyên tắc này là đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật trên cơ sở của pháp luật. Tất cả các công chức và viên chức trong bộ máy nhà nước đều 25
  26. phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật khi thi hành các quyền hạn và nhiệm vụ của mình. Đây là nguyên tắc có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tuân theo ý chí của nhân dân, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động đồng bộ, nhịp nhàng, phát huy được hiệu lực quản lý của Nhà nước. Điều 12 – Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “ Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật”. Việc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi Nhà nước phải ban hành pháp luật đồng bộ, kịp thời, đúng đắn. Đồng thời phải tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm./. CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I 1. Chứng minh sự ra đời của Nhà nước theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin. 2. Trình bày các chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 3. Hãy cho biết vai trò của pháp luật đối với đời sống xã hội. 4. Trình bày bản chất pháp luật Xã hội chủ nghĩa. 5. So sánh bản chất của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa với Nhà nước nói chung. 6. Hệ thống cơ quan nhà nước ta hiện nay đang thực hiện theo Hiến pháp nào, hãy trình bày các hệ thống cơ quan đó. 7. Trình bày những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 26
  27. Chương II HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM I. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 1. Khái niệm Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định. Hệ thống pháp luật là phạm trù thể hiện cấu trúc bên trong và hình thức biểu hiện bên ngoài của pháp luật. Cấu trúc bên trong chính là mối liên hệ bên trong giữa các ngành luật gọi là hệ thống các ngành luật. Hình thức biểu hiện bên ngoài đó là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. 2. Quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật 2.1. Quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện của pháp luật thành quy tắc xử sự trong các trường hợp cụ thể do Nhà nước quy định, có tính bắt buộc chung và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Đặc điểm của quy phạm pháp luật: Quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra hoặc phê chuẩn và mang tính bắt buộc chung; Quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần trong cuộc sống; Quy phạm pháp luật vừa mang tính xã hội vừa mang tính giai cấp (tính xã hội duy trì bảo vệ đời sống cộng đồng xã hội, tính giai cấp thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động); Quy phạm pháp luật là quy phạm thành văn và có hệ thống. Pháp luật được tạo thành từ rất nhiều quy phạm pháp luật, một quy phạm pháp luật là một tế bào tạo nên pháp luật, thông thường mỗi điều luật là một quy phạm pháp luật. Mỗi quy phạm pháp luật là một cách xử sự do Nhà nước nêu ra cho mọi người phải tuân theo trong những hoàn cảnh cụ thể nhất định: xử sự ấy có thể là một điều được làm, một điều bắt buộc phải làm hoặc một điều cấm không được làm. Quy phạm pháp luật cũng nêu cả hậu quả mà người xử sự không đúng phải chịu, tức là biện pháp cưỡng chế mà Nhà nước tác động vào để bảo đảm cho quy phạm pháp luật được tuân theo. 2.1.1. Các bộ phận của quy phạm pháp luật Bộ phận giả định: Là bộ phận của quy phạm pháp luật, nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện có thể xẩy ra trong cuộc sống mà con người gặp phải và cần phải xử lý theo những quy định của Nhà nước. Giả định là phần không thể thiếu được 27
  28. trong quy phạm pháp luật. Từ giả định ta sẽ biết được ai ? tổ chức nào ? khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh nào ? thì phải xử sự theo những quy định của Nhà nước. Nội dung của bộ phận giả định của quy phạm pháp luật thường đề cập đến chủ thể, phạm vi thời gian, không gian, những trường hợp, hoàn cảnh, điều kiện nhất định của đời sống xã hội. Ví dụ: “Người nào quảng cáo gian dối về hàng hoá, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.” (khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 1999). Trong quy phạm pháp luật này bộ phận giả định là: “Người nào quảng cáo gian dối về hàng hoá, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”. Bộ phận quy định: Là bộ phận của quy phạm pháp luật, trong đó nêu cách xử sự, buộc mọi người phải tuân theo, khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong phần giả định của quy phạm pháp luật. Bộ phận quy định của quy phạm pháp luật thường trả lời cho những câu hỏi như: được làm gì ? không được làm gì ? phải làm gì ? làm như thế nào ? Ví dụ: Điều 57 - Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.”, thì bộ phận quy định trong quy phạm này là: “có quyền tự do kinh doanh theo quy phạm pháp luật”. Trả lời câu hỏi: được làm gì ? Hoặc trong Điều 51 - Luật tổ chức Quốc Hội ghi: “Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội ”. Bộ phận quy định của quy phạm pháp luật này là: “không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội ”. Trả lời cho câu hỏi: không được làm gì ? Khoản 1, Điều 12 - Luật doanh nghiệp 1999 ghi: “Người thành lập doanh nghiệp phải lập và nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh”. Trong quy phạm pháp luật này, bộ phận quy định là: “phải lập và nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh”. Trả lời cho câu hỏi: phải làm gì ? Điều 14 - Bộ luật Dân sự 1995 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận, thì có thể áp dụng tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật, nhưng không được làm trái với những nguyên tắc quy định trong bộ luật này”. Bộ phận quy định trong quy phạm pháp luật này là: “thì có thể áp dụng tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật, nhưng không 28
  29. được làm trái với những nguyên tắc quy định trong bộ luật này”. Trả lời coi câu hỏi: làm như thế nào ? Quy định là bộ phận quan trọng, là yếu tố trọng tâm của quy phạm pháp luật. Quy định trực tiếp thể hiện ý chí và lợi ích của Nhà nước, xã hội và cá nhân con người trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định; bên cạnh đó còn thể hiện bản chất, chức năng của quy phạm và vai trò xã hội của nó. Cách xử sự được nêu lên trong bộ phận quy định được hiểu chính là mệnh lệnh mà Nhà nước buộc các chủ thể phải chấp hành nghiêm chỉnh. Bộ phận chế tài: Là một bộ phận của quy phạm pháp luật, nêu lên những biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng, đối với chủ thể nào không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước, đã nêu ở phần quy định của quy phạm pháp luật. Ví dụ: Khoản 1- Điều 102 - Bộ Luật hình sự 1999 quy định: “Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Bộ phận chế tài là: “thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Chế tài pháp luật chính là những hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Đây là thái độ của Nhà nước đối với các chủ thể vi phạm, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. 2.1.2. Các loại chế tài quy phạm pháp luật Chế tài hình sự: (còn gọi là hình phạt) là những biện pháp tác động trong lĩnh vực hình sự, nó là hình phạt mà Toà hình sự của Toà án quyết định cho người phạm tội. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hiện nay hình phạt bao gồm: hình phạt chính (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình) và hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền của công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền; trục xuất). Chế tài hành chính: (còn gọi phạt hành chính) là biện pháp tác động trong lĩnh vực hành chính. Là các chế tài do các cơ quan quản lý nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể (cá nhân hay tổ chức) có hành vi vi phạm pháp luật hành chính, xâm hại các qui tắc quản lý hành chính nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Chế tài hành chính bao gồm các hình thức phạt chính (cảnh cáo, phạt tiền) và các hình thức phạt bổ sung (tước quyền sử dụng trái phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính), bên cạnh đó còn có các biện pháp hành chính khác (buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan 29
  30. dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra; buộc đưa khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hành hoá, vật phẩm, phương tiện, buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hoá phẩm độc hại ). Chế tài kỷ luật: là biện pháp tác động trong lĩnh vực lao động, do người sử dụng lao động áp dụng cho người lao động thuộc quyền quản lý của mình vi phạm kỷ luật lao động. Biện pháp tác động này bao gồm: khiển trách, chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là sáu tháng, sa thải. Chế tài dân sự: là biện pháp tác động trong lĩnh vực dân sự, nhằm tác động đến tài sản hay thân nhân của một bên có hành vi vi phạm pháp luật dân sự gây thiệt hại cho một bên khác với các hình thức cụ thể như: Bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản bị xâm phạm, huỷ bỏ một xử sự không đúng, buộc công khai xin lỗi theo Bộ luật Dân sự quy định. 2.2. Chế định pháp luật Chế định pháp luật là một tập hợp gồm hai hay một số quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có tính chất chung và liên hệ mật thiết với nhau. Việc xác định đúng tính chất chung của mỗi nhóm quan hệ xã hội, từ đó đề ra những quy phạm pháp luật tương ứng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng. Đó là cơ sở để tạo ra cơ cấu nội tại hợp lý của một ngành luật. Không thể xây dựng một văn bản pháp luật tốt, cũng như một ngành luật hoàn chỉnh nếu không xác định rõ giới hạn và nội dung của các chế định pháp luật. Chế định pháp luật mang tính chất nhóm, mỗi chế định pháp luật có đặc điểm riêng nhưng chúng đều có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, chúng không tồn tại biệt lập. Mỗi chế định pháp luật dù mang trong mình những đặc điểm riêng nhưng bao giờ cũng theo quy luật vận động khách quan, chịu sự ảnh hưởng và tác động của các chế định khác trong hệ thống pháp luật. 2.3. Ngành luật Ngành luật là tổng hợp các chế định pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất. Các quy phạm pháp luật trong một ngành luật có chung một đối tượng điều chỉnh là các nhóm quan hệ xã hội có cùng một tính chất. Các quan hệ xã hội rất đa dạng, dựa vào tính chất giống nhau, gần gủi của chúng mà có thể xếp thành từng nhóm. Một số nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất hợp thành đối tượng điều chỉnh của một ngành luật. Ví dụ: Các nhóm quan hệ về kết hôn, cha mẹ và con, ly hôn Dựa vào đối tượng điều chỉnh của một ngành luật mà tiến hành hệ thống hoá các quy phạm pháp luật thành các hệ thống pháp luật theo từng ngành luật. 30
  31. 3. Hệ thống các ngành luật của nước ta hiện nay 3.1. Luật Nhà nước ( Hiến pháp) Luật Nhà nước gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước, về chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về quốc tịch Luật Nhà nước là một ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật, bởi vì nó là ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất của quốc gia và tất cả những ngành luật khác đều được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc của Luật Nhà nước. 3.2. Luật Hành chính Luật Hành chính gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành của Nhà nước trên các lĩnh vực hành chính – chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Luật Hành chính quy định những nguyên tắc, những hình thức và phương pháp quản lý nhà nước, xác định quy chế pháp lý của các chủ thể quản lý nhà nước, điều chỉnh hoạt động của công chức nhà nước, thủ tục hành chính và trách nhiệm hành chính. Luật Hành chính còn bao gồm các quy phạm quy định các vấn đề cụ thể của quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội. 3.3. Luật Dân sự Luật Dân sự gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản dưới hình thức hàng hoá – tiền tệ và một số quan hệ nhân thân phi tài sản. Những chế định cơ bản của luật dân sự như chế định quyền sở hữu, chế định hợp đồng dân sự, chế định quyền thừa kế, chế định quyền tác giả, quyền phát minh, sáng chế . 3.4. Luật Tố tụng dân sự Luật Tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tố tụng dân sự thông qua việc xác định quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng dân sự. 3.5. Luật Hình sự Lụât Hình sự điều chỉnh quan hệ nẩy sinh giữa Nhà nước và cá nhân khi người đó thực hiện một hành vi mà luật Hình sự coi là tội phạm và bị Nhà nước áp dụng một hình phạt tương ứng do luật Hình sự quy định. 3.6. Luật Tố tụng Hình sự Luật Tố tụng Hình sự được coi là ngành luật hình thức của Luật Hình sự. Việc coi một cá nhân là tội phạm dẫn đến việc tước bỏ hoặc hạn chế các quyền tự do cũng như các lợi ích thiết thân của người đó. Vì vậy việc điều tra xét xử, thi 31
  32. hành án phải được tiến hành theo những thủ tục luật định. Quan hệ giữa bị can, bị cáo với nhau và với các cơ quan điều tra, xét xử được điều chỉnh bởi các quy phạm luật Tố tụng Hình sự. 3.7. Luật Kinh tế Luật Kinh tế điều chỉnh quan hệ kinh tế phát sinh giữa các tổ chức kinh tế, các tổ chức, các cơ quan nhà nước khi họ tham gia những giao dịch với mục đích kinh doanh cũng như các quan hệ phát sinh trong quá trình các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế. 3.8. Luật Tài chính Luật Tài chính bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tài chính của Nhà nước, trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể hoạt động phân phối của cải dưới hình thức giá trị. 3.9. Luật đất đai Luật đất đai là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo vệ, quản lý và sử dụng đất, trong đó đất đai là tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và kế hoạch chung. 3.10. Luật Lao động Luật Lao động là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động với người sử dụng lao động (cá nhân, tổ chức) trong đó có quan hệ giữa công nhân viên chức với xí nghiệp, cơ quan nhà nước, những quan hệ giữa tổ chức công đoàn với ban quản lý xí nghiệp, với thủ trưởng cơ quan nhà nước liên quan đến việc sử dụng lao động của công nhân viên chức. Các chế định của luật Lao động là chế định tuyển dụng, thôi việc, tiền lương, thời gian làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, khen thưởng và kỷ luật, bảo hộ lao động. 3.11. Luật Hôn nhân và Gia đình Luật Hôn nhân và gia đình gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hôn nhân và gia đình (quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản phát sinh giữa các cá nhân từ hôn nhân). 3.12. Luật Hợp tác xã Luật Hợp tác xã điều chỉnh các quan hệ nội bộ hợp tác xã trong việc tổ chức quản lý lao động, phân phối sản phẩm trên cơ sở chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất và chế độ dân chủ hợp tác xã. 3.13. Một số luật khác. 32
  33. II. HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng nhất định” (Điều 1 - Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2002). Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật: Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật là các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Các văn bản pháp luật có tên gọi khác nhau (luật, pháp lệnh, nghị định ) do Hiến pháp quy định. Giá trị pháp lý của chúng cao thấp khác nhau, do vị trí của cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước quy định (văn bản của cơ quan quyền lực nhà nước có giá trị pháp lý cao hơn văn bản của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có giá trị pháp lý cao hơn văn bản của cơ quan cấp dưới ). Các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trong không gian (hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ), hiệu lực theo thời gian (bắt đầu có hiệu lực hay hết hiệu lực) và thực hiện theo nhóm người (có hiệu lực đối với nhóm người này mà không có hiệu lực đối với nhóm người khác). 2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nay Căn cứ vào cơ quan ban hành văn bản và giá trị pháp lý của văn bản, người ta phân biệt văn bản quy phạm pháp luật thành văn bản luật và văn bản dưới luật. 2.1. Văn bản luật: là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Văn bản luật sau khi Quốc hội thông qua sẽ do Chủ tịch nước ra Lệnh công bố. Văn bản luật bao gồm có Hiến pháp và các đạo Luật (nếu được pháp điển hoá cao thì gọi là bộ Luật). Hiến pháp: là đạo Luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất như: Chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hiến pháp do Quốc hội ban hành hoặc sửa đổi với ít nhất hai phần ba (2/3) tổng số đại biểu tán thành. Luật: là văn bản có giá trị sau Hiến pháp. Luật cụ thể hoá các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp và nhằm thực hiện Hiến pháp. Mỗi đạo Luật hoặc bộ Luật điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội quan trọng, cơ bản, tương đối ổn định. Luật do Quốc hội thông qua với quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành. Luật có thể là bộ Luật (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hàng hải, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, ) hoặc là Luật (Luật đầu tư nước ngoài, Luật khuyến khích 33
  34. đầu tư trong nước, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật giáo dục, Luật ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật khiếu nại tố cáo, Luật hôn nhân và gia đình ). Ngoài Hiến pháp và Luật, Quốc hội còn thông qua các Nghị quyết. Trong một số trường hợp, nghị quyết của Quốc hội cũng là văn bản quy phạm pháp luật và có giá trị pháp lý như luật. 2.2. Văn bản dưới luật: là những văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khác Quốc hội) ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định và có hiệu lực pháp lý thấp hơn các văn bản luật. Theo Hiến pháp 1992, nước ta có những loại văn bản dưới luật sau đây: Nghị quyết của Quốc hội dùng để thông qua các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chính sách tài chính, tiền tệ, dự toán ngân sách nhà nước và các vấn đề đối nội, đối ngoại khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội dùng để ban hành những quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền được Quốc hội giao (quy định tại điều 91, 93 của Hiến pháp 1992). Hiện nay pháp lệnh là hình thức rất phổ biến để chuẩn bị cho quá trình xây dựng các đạo luật thuộc các lĩnh đó. Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội dùng để giải trình Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, giám sát, hướng dẫn hoạt động của các cơ quan nhà nước theo nhiệm vụ, quyền hạn và quy định những vấn đề cụ thể khác theo thẩm quyền. Lệnh của Chủ tịch nước dùng để công bố Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, công bố quyết định, tuyên bố tình trạng, quyết định đại xá căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội; ra lệnh tổng động viên, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng vùng trên cơ sở Nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước; Lệnh còn là phương tiện để Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân. Quyết định của Chủ tịch nước dùng để thực hiện các nhiệm vụ được Quốc hội và pháp luật quy định. (Điều 106 - HP 1992) Nghị quyết của Chính phủ là loại văn bản pháp luật để bảo đảm thi hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước; quy định chủ trương, biện pháp, chính sách, biện pháp lớn về các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại thuộc thẩm quyền của Chính phủ. (Điều 115 - HP 1992). Nghị định của Chính phủ dùng để quy định chi tiết việc thi hành luật, pháp lệnh, quy định tổ chức và hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ trên các lĩnh vực kinh tế, ngân sách, tài chính, tiền tệ, an ninh, quốc phòng, hành chính tư pháp, văn 34
  35. hoá, giáo dục, y tế, dân tộc, tôn giáo, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, hoạt động đối ngoại. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ là văn bản quy định các biện pháp để lãnh đạo và điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, chế độ làm việc của các thành viên Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quyết định những chủ trương, chế độ, thể lệ thuộc thẩm quyền của Thủ tướng; quyết định những vấn đề khác theo thẩm quyền đã được Hiến pháp và luật Tổ chức Chính phủ quy định. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ dùng để chỉ đạo, đôn đốc kiểm tra, hướng dẫn, phối hợp hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quyết định của Chính phủ. Quyết định của Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dùng để ban hành các biện pháp, thể lệ để thực hiện luật pháp nhà nước và các chủ trương, chính sách của Chính phủ về quản lý các ngành, các lĩnh vực trong cả nước; đề ra các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kỹ thuật thuộc ngành; thành lập, giải thể, quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các cơ quan đơn vị thuộc thẩm quyền của Bộ, cơ quan ngang bộ; quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền được pháp luật quy định hoặc được Chính phủ uỷ quyền. Chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dùng để chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành hoặc lĩnh vực trong việc thực hiện các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và của Bộ, của ngành. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dùng để giải thích, hướng dẫn thực hiện các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ trướng Chính phủ, hướng dẫn thực hiện những quy định về quản lý ngành, lĩnh vực do Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phụ trách. Thông tư liên Bộ là văn bản do nhiều Bộ, ngành phối hợp ban hành dùng để giải thích một chính sách, chế độ nhà nước do nhiều Bộ, ngành có trách nhiệm tổ chức thực hiện hoặc hướng dẫn thi hành nhằm tạo sự đồng bộ trong quá trình thực hiện pháp luật nhà nước ở nhiều cấp, nhiều ngành. Nghị quyết liên tịch là văn bản do cơ quan nhà nước phối hợp với các tổ chức xã hội ban hành nhằm tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của các cơ quan nhà nước cấp trên yêu cầu mà các cơ quan nhà nước và tổ chức này có trách nhiệm phối hợp thi hành một cách thống nhất, đồng bộ. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân dùng để ban hành các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nuớc cấp trên, về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, an ninh, quốc phòng, biện pháp ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Quyết định của Uỷ ban nhân dân dùng để bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị 35
  36. quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vị địa phương. Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân dùng để chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và của Hội đồng nhân dân cùng cấp./. CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG II 1. Trình bày khái niệm và đặc điểm của quy phạm pháp luật. 2. Quy phạm pháp luật gồm mấy bộ phận, hãy nêu đặc điểm của các bộ phận đó. 3. Hãy nêu các loại chế tài quy phạm pháp luật, chế tài nào là nghiêm khắc nhất. 4. Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa như thế nào trong hệ phống pháp luật của Nhà nước ta. 5. Điều 185, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định như sau: “Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm”. Hãy cho biết: a) Nội dung trên có phải là quy phạm pháp luật không ? vì sao ? b) Nếu là quy phạm pháp luật hãy tách từng bộ phận của nó. 6. Cho biết sự khác nhau về thẩm quyền ban hành văn bản luật và văn bản dưới luật. 36
  37. Chương III MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT DẠY NGHỀ I. KHÁI NIỆM, CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT DẠY NGHỀ 1. Khái niệm: Luật dạy nghề là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ sở dạy nghề với người học nghề, trong đó quy định về tổ chức hoạt động của cơ sở dạy nghề; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dạy nghề. 2. Nguyên tắc cơ bản của Luật dạy nghề Hoạt động dạy nghề và quản lý dạy nghề phải tuân thủ quy định của luật dạy nghề và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động dạy nghề: lợi dụng hoạt động dạy nghề để trục lợi, lạm dụng sức lao động; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên của cơ sở dạy nghề và người học nghề; gian lận trong tuyển sinh, thi, kiểm tra, cấp bằng, chứng chỉ nghề. II. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA NGƯỜI HỌC NGHỀ 1. Nhiệm vụ của người học nghề Người học nghề có những nhiệm vụ sau: thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện; thực hiện nội quy, điều lệ nhà trường; chấp hành pháp luật của Nhà nước; tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khoẻ và năng lực; giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. 2. Quyền của người học nghề Người học có những quyền sau: được nhà trường, cơ sở giáo dục khác tôn trọng và đối xử bình đẳng, được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình; được học trước tuổi, học vượt lớp, học rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học ở tuổi cao hơn tuổi quy định, học kéo dài thời gian, học lưu ban; được cấp văn bằng, chứng chỉ sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo theo quy định; được tham gia hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác theo quy định của pháp luật; được sử dụng trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, văn hóa, thể dục, thể thao của nhà 37
  38. trường, cơ sở giáo dục khác; được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với nhà trường, cơ sở giáo dục khác các giải pháp góp phần xây dựng nhà trường, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người học; được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi và có đạo đức tốt. III. NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA CƠ SỞ DẠY NGHỀ 1. Nhiệm vụ của cơ sở dạy nghề Cơ sở dạy nghề có những nhiệm vụ cơ bản sau: xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực và đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh; tạo điều kiện cho người lao động của doanh nghiệp vừa làm, vừa học để nâng cao trình độ kỹ năng nghề; đào tạo lại nghề cho người lao động khi chuyển sang làm công việc khác của doanh nghiệp; chi phí đào tạo lại và tiền lương, tiền công cho người lao động trong thời gian học nghề do doanh nghiệp chi trả. 2. Quyền hạn của cơ sở dạy nghề Được thành lập trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề để đào tạo nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và cho xã hội; được tổ chức dạy nghề cho người lao động để làm việc cho doanh nghiệp; được Nhà nước hỗ trợ khi tiếp nhận người tàn tật, khuyết tật vào học nghề và làm việc cho doanh nghiệp; được liên doanh, liên kết với cơ sở dạy nghề để tổ chức dạy nghề cho người lao động; tổ chức nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng, chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; được cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề, cơ sở dạy nghề mời tham gia hội đồng thẩm định chương trình, giáo trình dạy nghề; giảng dạy, hướng dẫn thực tập nghề và đánh giá kết quả học tập của người học nghề; tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, đánh giá kỹ năng nghề quốc gia đối với những nghề liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Được trừ để tính thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật đối với các khoản chi phí sau đây: các khoản đầu tư, chi phí hợp lý của doanh nghiệp để duy trì hoạt động của cơ sở dạy nghề trực tiếp phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí dạy nghề của doanh nghiệp cho người lao động được tuyển dụng vào làm việc cho doanh nghiệp. 38
  39. IV. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DẠY NGHỀ 1. Nội dung quản lý nhà nước về dạy nghề Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển dạy nghề; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề; quy định mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình dạy nghề; tiêu chuẩn giáo viên dạy nghề; danh mục nghề đào tạo ở các cấp độ; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị; quy chế tuyển sinh và cấp bằng, chứng chỉ nghề. Tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng dạy nghề; thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động dạy nghề; tổ chức bộ máy quản lý dạy nghề; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển dạy nghề; tổ chức, chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ về dạy nghề; tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về dạy nghề; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về dạy nghề; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về dạy nghề. 2. Cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về dạy nghề. Cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở Trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề. Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề theo thẩm quyền. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề theo phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm đầu tư phát triển dạy nghề đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực của địa phương./. CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG III 1. Hãy trình bày nhiệm vụ và quyền lợi cơ bản cuả người học nghề và cơ sở dạy nghề. 2. Hãy nêu những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về dạy nghề. 3. Liên hệ thực tế bản thân về việc chấp hành nội quy, quy chế của nhà trường hiện nay. 39
  40. Chương IV LUẬT DU LỊCH I. KHÁI NIỆM LUẬT DU LỊCH Luật Du lịch là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động về tài nguyên du lịch và hoạt động du lịch; quyền và nghĩa vụ của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến du lịch. II. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT DU LỊCH 1. Những quy định chung 1.1. Đối tượng áp dụng Tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động du lịch trên lãnh thổ Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến du lịch. 1.2. Áp dụng pháp luật về du lịch Các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng trên thực hiện quy định của Luật Du lịch và các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Du lịch thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó. Trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định thì các bên tham gia hoạt động du lịch được thoả thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. 1.3. Bảo vệ môi trường du lịch Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn cần được bảo vệ, tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch. 40
  41. Uỷ ban nhân dân các cấp có biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình. Khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam. 1.4. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch; xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch; tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài. Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch; cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch. 1.5. Trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch. 41
  42. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. 1.6. Các hành vi bị nghiêm cấm Làm phương hại đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc; xây dựng công trình du lịch không theo quy hoạch đã được công bố; xâm hại tài nguyên du lịch, môi trường du lịch; phân biệt đối xử với khách du lịch, thu lợi bất chính từ khách du lịch. Tranh giành khách, nài ép khách mua hàng hóa, dịch vụ; kinh doanh du lịch không có giấy phép kinh doanh, không có đăng ký kinh doanh hoặc kinh doanh không đúng ngành, nghề, phạm vi kinh doanh. Sử dụng tư cách pháp nhân của tổ chức khác hoặc cho người khác sử dụng tư cách pháp nhân của mình để hoạt động kinh doanh trái pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận hối lộ, sách nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khách du lịch. 2. Tài nguyên du lịch 2.1. Các loại tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân. 42
  43. 2.2. Nguyên tắc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước, có chính sách và biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch. 2.3. Trách nhiệm quản lý, bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương, các Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý tài nguyên du lịch, phối hợp trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm bảo vệ, đầu tư, tôn tạo tài nguyên du lịch, tạo điều kiện cho khách đến tham quan, thụ hưởng giá trị của tài nguyên du lịch theo quy định của pháp luật. Khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch. Tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch cho các mục tiêu kinh tế khác, bảo đảm không làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch. 3. Quy hoạch phát triển du lịch 3.1. Các loại quy hoạch phát triển du lịch Quy hoạch phát triển du lịch là quy hoạch ngành, gồm quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và quy hoạch cụ thể phát triển du lịch. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch được lập cho phạm vi cả nước, vùng du lịch, địa bàn du lịch trọng điểm, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, khu du lịch quốc gia. Quy hoạch cụ thể phát triển du lịch được lập cho các khu chức năng trong khu du lịch quốc gia, khu du lịch địa phương, điểm du lịch quốc gia có tài nguyên du lịch tự nhiên. 3.2. Nguyên tắc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch Phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chiến lược phát triển ngành du lịch. 43
  44. Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.; bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch và môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; bảo đảm tính khả thi, cân đối giữa cung và cầu du lịch. Phát huy thế mạnh để tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù của từng vùng, từng địa phương nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên du lịch; bảo đảm công khai trong quá trình lập và công bố quy hoạch. 3.3. Nội dung quy hoạch phát triển du lịch Nội dung quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bao gồm: xác định vị trí, vai trò và lợi thế của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng và quốc gia; phân tích, đánh giá tiềm năng, hiện trạng tài nguyên du lịch, thị trường du lịch, các nguồn lực phát triển du lịch; xác định quan điểm, mục tiêu, tính chất, quy mô phát triển cho khu vực quy hoạch; dự báo các chỉ tiêu và luận chứng các phương án phát triển du lịch; tổ chức không gian du lịch; kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch; xác định danh mục các khu vực, các dự án ưu tiên đầu tư; nhu cầu sử dụng đất, vốn đầu tư, nguồn nhân lực cho du lịch; đánh giá tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường; đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, phát triển du lịch theo quy hoạch. Ngoài những nội dung quy định trên, quy hoạch cụ thể phát triển du lịch còn có các nội dung chủ yếu sau: phân khu chức năng; bố trí mặt bằng, công trình kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch; phương án sử dụng đất; xác định danh mục các dự án đầu tư và tiến độ đầu tư; phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường; đề xuất biện pháp để quản lý, thực hiện quy hoạch. 4. Quản lý khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch 4.1. Quản lý khu du lịch Nội dung quản lý khu du lịch bao gồm: quản lý công tác quy hoạch và đầu tư phát triển; quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ; bảo vệ tài nguyên du lịch; bảo đảm vệ sinh môi trường, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc tổ chức quản lý khu du lịch được quy định như sau: khu du lịch phải thành lập Ban quản lý khu du lịch; trường hợp khu du lịch được giao cho một doanh nghiệp là chủ đầu tư thì chủ đầu tư có trách nhiệm quản lý khu du lịch đó theo nội dung quy định trên; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Ban quản lý khu du lịch trong phạm vi ranh giới hành chính của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trường hợp khu du lịch thuộc ranh giới hành chính hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Ban quản 44
  45. lý khu du lịch trong phạm vi ranh giới hành chính do tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý. Ban quản lý phối hợp hoạt động theo quy chế quản lý khu du lịch do cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương ban hành và quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp khu du lịch gắn với khu vực có tài nguyên du lịch tự nhiên hoặc di tích lịch sử - văn hoá đã có Ban quản lý chuyên ngành thì trong thành phần của Ban quản lý khu du lịch phải có đại diện của Ban quản lý chuyên ngành. Khu du lịch có tài nguyên du lịch thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan khác của Nhà nước mà có Ban quản lý chuyên ngành thì Ban quản lý chuyên ngành có trách nhiệm phối hợp với Ban quản lý khu du lịch để tạo điều kiện cho việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch phục vụ khách tham quan, du lịch. 4.2. Quản lý điểm du lịch Căn cứ vào quy mô và tính chất của điểm du lịch, Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước đối với tài nguyên, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định hình thức tổ chức quản lý, bảo đảm các nội dung sau đây: bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch; bảo đảm vệ sinh môi trường; tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan; bảo đảm sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm an toàn cho khách du lịch. 4.3. Quản lý tuyến du lịch Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Bộ Giao thông vận tải quản lý tuyến du lịch địa phương và phần tuyến du lịch quốc gia thuộc địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bảo đảm các nội dung sau đây: bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cảnh quan, môi trường dọc theo tuyến du lịch; tạo thuận lợi cho việc tham gia giao thông của các phương tiện chuyên vận chuyển khách du lịch; quản lý việc đầu tư, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch dọc tuyến du lịch theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định. 5. Khách du lịch Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. 45
  46. 5.1. Quyền của khách du lịch Lựa chọn hình thức du lịch lẻ hoặc du lịch theo đoàn; lựa chọn một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch, dịch vụ du lịch của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. Yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch cung cấp thông tin cần thiết về chương trình du lịch, dịch vụ du lịch. Được tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, hải quan, lưu trú; được đi lại trên lãnh thổ Việt Nam để tham quan, du lịch, trừ những khu vực cấm. Hưởng đầy đủ các dịch vụ du lịch theo hợp đồng giữa khách du lịch và tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; được hưởng bảo hiểm du lịch và các loại bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật. Được đối xử bình đẳng, được yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản khi sử dụng dịch vụ du lịch; được cứu trợ, cứu nạn trong trường hợp khẩn cấp khi đi du lịch trên lãnh thổ Việt Nam. Được bồi thường thiệt hại do lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch gây ra theo quy định của pháp luật. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật về du lịch. 5.2. Nghĩa vụ của khách du lịch Tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tôn trọng và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, môi trường, tài nguyên du lịch, bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục nơi đến du lịch. Thực hiện nội quy, quy chế của khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch, cơ sở lưu trú du lịch. Thanh toán tiền dịch vụ theo hợp đồng và các khoản phí, lệ phí theo quy định của pháp luật. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch theo quy định của pháp luật. 5.3. Bảo đảm an toàn cho khách du lịch Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản của khách du lịch và ngăn chặn những hành vi nhằm thu lợi bất chính từ khách du lịch. Trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời có biện pháp cứu hộ, cứu nạn cần thiết để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại đối với khách du lịch. Khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch có các biện pháp phòng tránh rủi ro và tổ chức bộ phận bảo vệ, cứu hộ, cứu nạn, cấp cứu cho khách du lịch. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thông báo kịp thời cho khách du lịch về trường hợp khẩn cấp, dịch bệnh và các nguy cơ có thể gây nguy 46