Giáo trình Luật thi hành án hình sự (Phần 1)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật thi hành án hình sự (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_luat_thi_hanh_an_hinh_su_phan_1.pdf
Nội dung text: Giáo trình Luật thi hành án hình sự (Phần 1)
- TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA Chủ biên Phan Nữ Hiền Oanh GIÁO TRÌNH LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1
- Vinh - 2011 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA Chủ biên Phan Nữ Hiền Oanh GIÁO TRÌNH LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ (Giáo trình đào tạo từ xa) 2
- Vinh - 2011 Phân công biên soạn: - Chủ biên: Phan Nữ Hiền Oanh - Các tác giả: Phan Nữ Hiền Oanh: Chương I đến Chương IV Nguyễn Thị Mai Trang: Chương V đến Chương XII 3
- MỤC LỤC CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1 2. NHIỆM VỤ CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ .5 3. NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 6 CHƯƠNG 2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ .8 2. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH .9 CHƯƠNG 3 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN 1. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN ĐƯỢC MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH S 16 2. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN NHƯNG ĐƯỢC MIỄN HÌNH PHẠT 18 3. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN BỊ ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT KHÁC NHAU 18 CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 30 2. NHIỆM VỤ CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 30 CHƯƠNG 5 KIỂM TRA, GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA CÁC CƠ QUAN DÂN CỬ . 36 2. KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA TOÀ ÁN 38 3. KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA VIỆN KIỂM SÁT 39 4. KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ CÔNG DÂN 42 CHƯƠNG 6 LỊCH SỬ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 1. ĐẶC ĐIỂM THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ PHONG KIẾN VÀ PHÁP THUỘC . 43 2. THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ THỜI KỲ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945 ĐẾN NAY 43 CHƯƠNG 7 THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH VÀ HÌNH PHẠT TÙ 1. BẢN CHẤT, NỘI DUNG CỦA HÌNH PHẠT TỬ HÌNH VÀ HÌNH PHẠT TÙ 45 2. THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH VÀ HÌNH PHẠT TÙ 46 5
- CHƯƠNG 8 THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 1. BẢN CHẤT, NỘI DUNG CỦA HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ. 52 2. THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ .53 3. CƠ QUAN THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ . 53 CHƯƠNG 9 THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH LÀ CẢNH CÁO, PHẠT TIỀN, TRỤC XUẤT VÀ ÁN TREO 1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA VIỆC THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH LÀ CẢNH CÁO, PHẠT TIỀN, TRỤC XUẤT VÀ ÁN TREO 56 2. THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢNH CÁO 56 3. THI HÀNH HÌNH PHẠT TIỀN 57 4. THI HÀNH HÌNH PHẠT TRỤC XUẤT 58 5. THI HÀNH ÁN TREO 59 CHƯƠNG 10 THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT BỔ SUNG 1. CẤM ĐẢM NHIỆM CHỨC VỤ, CẤM HÀNH NGHỀ HOẶC LÀM CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH . 64 2. CẤM CƯ TRÚ 66 3. QUẢN CHẾ 68 4. TƯỚC MỘT SỐ QUYỀN CÔNG DÂN 70 5. TỊCH THU TÀI SẢN 72 6. PHẠT TIỀN 73 CHƯƠNG 11 THI HÀNH CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP HÌNH SỰ 1. BẢN CHẤT, NỘI DUNG CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP HÌNH SỰ 75 2. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THI HÀNH CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP HÌNH SỰ 75 3. TỊCH THU VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM 76 4. TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI; BUỘC CÔNG KHAI XIN LỖI .77 4. BẮT BUỘC CHỮA BỆNH 77 5. GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 79 6. ĐƯA VÀO TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG 81 CHƯƠNG 12 THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VÀ VẤN ĐỀ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG 1. ĐẶC TRƯNG PHÁP LÝ CỦA TÀI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG 87 2. CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẤP HÀNH XONG HÌNH PHẠT TÙ 87 6
- CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1.1. Khái niệm pháp luật thi hành án hình sự Bên cạnh Luật hình sự là ngành luật nội dung quy định về tội phạm và hình phạt, hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau bàn về Luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự - đây là hai ngành luật độc lập hay chỉ là một ngành luật - ngành luật tố tụng hình sự, phải chăng các quy định của thi hành án đều nằm gọn trong quy trình tố tụng hình sự và là một bộ phận của luật tố tụng hình sự? Vấn đề này đã gây tranh cãi và tốn khá nhiều giấy mực của những nhà nghiên cứu pháp luật. Cuốn sách này không nhằm đưa ra một quan điểm mới mà chỉ với mục đích thể hiện sự đồng tình với quan điểm của những nhà nghiên cứu pháp luật cho rằng: Luật thi hành án hình sự là một ngành luật độc lập. Đối với các trường hợp phạm tội, Tòa án nhân danh Nhà nước, nhân danh công lý ra các phán quyết để phán xét một người nào đó thực hiện tội danh nào trong Bộ luật hình sự, hành vi phạm tội rơi vào điều khoản nào, và xác định luôn trách nhiệm hình sự cụ thể đối với người phạm tội. Thi hành án hình sự chính là thực hiện các phán quyết đó và hay nói cách khác là quá trình hiện thực hóa bản án, quyết định của Tòa án trong thực tế. Đảm bảo thi hành các phán quyết của Tòa án trong thực tế là yêu cầu sống còn của Nhà nước, của xã hội, nó làm tăng tính nghiêm minh của cả hệ thống pháp luật, hiệu lực, uy tín của Nhà nước. Yêu cầu các bản án, quyết định của Tòa án phải được cả xã hội tôn trọng, các cá nhân, tổ chức hữu quan phải chấp hành nghiêm chỉnh trở thành nguyên tắc có tính hiến định. Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của thi hành án hình sự và từ đó có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất của pháp luật thi hành án hình sự. Có ý kiến cho rằng, thi hành án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng và do vậy, được điều chỉnh bằng các quy phạm của Luậ tố tụng hình sự. Song cũng có ý kiến cho rằng, thi hành án hình sự là một hoạt động hành chính - tư pháp hình sự, có những nét đặc thù riêng khác với hoạt động tố tụng hình sự. Một số khác thì coi thi hành án hình sự như là luật hình sự kéo dài. Việc xác định thi hành án hình sự là một giai đoạn tố tụng, luật hình sự kéo dài hay là hoạt động hành chính-tư pháp có ý ngĩa quan trọng để làm sáng tỏ bản chất thi hành án hình sự, từ đó có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện, đặc biệt nó là cơ sở lý luận cho việc tạo ra cơ chế quản lý, mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án phù hợp nhằm năng cao hiệu quả của thi hành án hình sự. * Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tố tụng hình sự là việc giải quyết vụ án hình sự; một vụ án chỉ có thể được coi là được giải quyết xong khi phán quyết của Tòa án được thi hành xong trong thực tế. Như vậy, thi hành án hình sự phải là một giai đoạn của tố tụng hình sự. Ở đây, thi hành án hình sự, như nhiều tác giả khẳng định là “nốt nhạc cuối cùng” trong quá trình tố tụng. Những người theo quan điểm này dựa trên một số lập luận như sau: - Bản án, quyết định của Tòa án là cơ sở, là căn cứ để tiến hành hoạt động thi hành án hình sự. - Thi hành án hình sự là sự tiếp tục của giai đoạn xét xử và chịu sự chi phối của cơ quan tố tụng, đặc biệt là Tòa án thông qua các công việc cụ thể như: Chánh án Tòa 7
- án ra Quyết định thi hành hình phạt, xóa án; thủ tục các khâu quan trọng trong thi hành án hình sự đều do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện - Việc thi hành án các hình phạt đều được tiến hành dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng và được quy định trong pháp luật tố tụng. * Quan điểm thứ hai cho rằng: Luật thi hành án hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng. Những người bảo vệ quan điểm này đã chỉ ra được những điểm khác biệt của pháp luật thi hành án hình sự so với pháp luật tố tụng hình sự, cụ thể như sau: Pháp luật thi hành án hình sự Pháp luật tố tụng hình sự - Mục đích: thi hành phán quyết của Tòa - Mục đích: đưa ra phán quyết về chân lý án (thể hiện trong bản án, quyết định của của sự việc. Quá trình này luôn luôn được Tòa án) trên thực tế. Có những trường thực hiện và kết thúc khi có bản án, quyết hợp có nhiều bản án không phải thi hành định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, (người phạm tội được miễn trách nhiệm không phụ thuộc vào việc bản án, quyết hình sự, miễn hình phạt, ). định đó có được thi hành trên thực tế hay Mọi hoạt động được triển khai bắt đầu từ không. một phán quyết của Tòa án có hiệu lực thi Mọi hoạt động tố tụng hình sự đều dừng hành. lại ở phán quyết của Tòa án. - Quy định về một quy trình (hoạt động) - Quy định về trình tự, thủ tục tố tụng chặt mang tính điều hành – chấp hành trong chẽ nhằm đưa ra phán quyết cuối cùng hoạt động tư pháp Không tuân theo của Tòa án. trình tự, thủ tục trước Tòa án. - Là sự kết hợp giữa luật hình thức và luật - Là luật hình thức. nội dung (được thực hiện với những hoạt động, biện pháp, cách thức không mang tính tố tụng) . - Bên cạnh việc sử dụng phương pháp - Luật tố tụng hình sự Việt Nam sử dụng mệnh lệnh hành chính còn áp dụng cả kết hợp hai phương pháp: phương pháp phương pháp giáo dục, thuyết phục đối quyền uy và phương pháp phối hợp – chế với người phạm tội. ước. - Việc thi hành hình phạt cải tạo không - Tất cả quy trình đều do cơ quan tư pháp giam giữ; người bị phạt tù nhưng cho (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) hưởng án treo được giao cho cơ quan, tổ thực hiện theo thủ tục tố tụng. chức, chính quyền địa phương thực hiện theo thủ tục quản lý hành chính. - Việc thực hiện hình phạt tiền, trục xuất và các hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp hình sự cũng được thực hiện theo thủ tục hành chính. - Mang tính xã hội hóa cao hơn. - Mang tính quyền lực Nhà nước chặt chẽ. Từ đó, những người theo quan điểm thứ hai cho rằng: Bản chất của hoạt động thi hành án hình sự thực chất là hoạt động quản lý hành chính tư pháp hình sự. Đây là một quan điểm hết sức xác đáng, và từ khi Luật thi hành án hình sự 2010 ra đời, độc lập và có giá trị pháp lý ngang bằng với Bộ luật tố tụng hình sự một lần nữa lại càng khẳng định sự đúng đắn của quan điểm trên. 8
- Khẳng định pháp luật thi hành án hình sự là một ngành luật độc lập không có nghĩa là phủ nhận mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tố tụng hình sự và thi hành án hình sự: tố tụng là tiền đề, khởi đầu của thi hành án; ngược lại, thi hành án là thực hiện kết quả tố tụng trong thực tế; không có tố tụng thì không có thi hành án, nhưng không có thi hành án thì tố tụng trở nên vô nghĩa. Như vậy, Luật Thi hành án hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thi hành các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhằm đảm bảo thi hành trong thực tế các bản án, quyết định đó. 1.2. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam 1.2.1. Khái niệm Theo Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật thì đối tượng điều chỉnh của một ngành luật chính là các quan hệ xã hội mà ngành luật đó hướng tới, tác động đến trên cơ sở ý chí của Nhà nước. Đối tượng điều chỉnh của Luật Thi hành án hình sự là những quan hệ xã hội cụ thể nảy sinh trong quá trình thi hành án hình sự Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả những quan hệ xã hội cụ thể trong quá trình đó được luật điều chỉnh. Pháp luật thi hành án hình sự chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cụ thể cơ bản, quan trọng nhất, còn những quan hệ khác có thể do các văn bản dưới luật cụ thể hóa, với điều kiện là các văn bản dưới luật cùng phải được tiến hành xây dựng trên cơ sở pháp luật và không trái với luật. Những quan hệ xã hội cụ thể đó bao gồm: - Những quan hệ phát sinh ngay sau khi bản án hình sự có hiệu lực pháp luật như: nghĩa vụ thi hành bản án của các cơ quan chức năng, nghĩa vụ chấp hành bản án của người bị kết án, việc nhập trại, phân loại trại, phân chế độ giam giữ, cải tạo, v.v - Những quan hệ phát sinh trong quá trình giáo dục, cải tạo thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ của những người bị kết án nói chung và ở những trại và chế độ trại nhất định; quyền và nghĩa vụ của cơ quan thi hành án phạt tù - Những quan hệ phát sinh trên cơ sở những sự kiện pháp lý xảy ra trong quá trình giáo dục, cải tạo; khám bệnh, chữa bệnh, kiểm tra, thanh tra, gặp gỡ - Những quan hệ của các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội vào quá trình giáo dục, cải tạo những người bị kết án tù; hình thức tham gia, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức đó - Những quan hệ phát sinh từ thủ tục thi hành và áp dụng các loại hình phạt cũng làm phát sinh nhiều mối quan hệ như: thi hành hình phạt tử hình, thực hiện quản lý và giáo dục các phạm nhân chấp hành hình phạt tù, thi hành hình phạt cảnh cáo, trục xuất, phạt tiền, thực hiện hình phạt cải tạo không giam giữ, quản lý giáo dục người được hưởng án treo, cấm đi khỏi nơi cư trú, thực hiện thủ tục xóa án tích. - Những quan hệ phát sinh trên cơ sở các sự kiện pháp lý khác như: việc hoãn thi hành án, trả lại đơn xin thi hành án, thủ tục miễn giảm hình phạt, tha trước thời hạn, giảm thời hạn thử thách trong trường hợp được hưởng án treo Tóm lại, các mối quan hệ này phản ánh nội dung thi hành án hình sự, xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc thi hành và chấp hành phần quyết định trong các bản án, quyết định của Tòa án. - Và cuối cùng là mối quan hệ phát sinh liên quan đến thủ tục kiếu nại tố cáo của các chủ thể trong quá trình thi hành án hình sự. 1.2.2. Phân loại quan hệ pháp luật thi hành án hình sự 9
- * Xét từ nội dung của các quan hệ xã hội mà luật thi hành án điều chỉnh, có thể chia các quan hệ này thành ba nhóm cơ bản sau: - Các quan hệ mang tính chất nội dung (quy phạm nội dung): là những quan hệ phản ánh nội dung việc thi hành án và chấp hành các bản án quyết định của Tòa án, xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Các quan hệ này phát sinh ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trong thi hành án hình sự, các quan hệ mang tính chất nội dung chủ yếu là quan hệ giữa Nhà nước thông qua các cơ quan thi hành án được ủy quyền người bị kết án và với các chủ thể khác. - Các quan hệ mang tính chất tổ chức và quản lý (quy phạm về tổ chức): là những quan hệ phát sinh trong quá trình hình thành tổ chức, hoạt động và cơ chế quản lý các cơ quan thi hành án hình sự (gồm hệ thống các cơ quan thi hành án hình sự; các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm thi hành án ). Các quan hệ này liên quan đến việc hình thành cơ cấu tổ chức; quy định thẩm quyền và quy chế hoạt động của cơ quan thi hành án hình sự. Những mối quan hệ này được thể hiện cụ thể trong thực tiễn như: mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với cơ quan thi hành án hình sự; cơ cấu tổ chức, hoạt động trong hệ thống các cơ quan thi hành án hình sự; giữa cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan thi hành án dân sự; giữa cơ quan thi hành án cấp trên và cơ quan thi hành án cấp dưới về mặt tổ chức - Các quan hệ mang tính chất thủ tục (quy phạm hình thức): là các quan hệ xác định trình tự, thủ tục, cách thức thực hiện nội dung được quyết định trong bản án, quyết định của Tòa án. Thủ tục thi hành án hình sự một phần chịu sự chi phối của thủ tục tố tụng, chẳng hạn đưa bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật ra thi hành, nhưng chủ yếu ở đây là thủ tục thi hành chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án hình sự. Chính vì vậy, trình tự, thủ tục thì hành án hình sự có thể làm xuất hiện nhiều mối quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình thi hành án hình sự. * Căn cứ vào tính chất, có thể chia các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình và về việc thi hành án hình sự thành những nhóm cơ bản sau: - Những quan hệ phát sinh ngay sau khi bản án hình sự có hiệu lực pháp luật, nghĩa vụ thi hành án của các cơ quan chức năng, nghĩa vụ chấp hành bản án của nười bị kết án, việc nhập trại, phân loại trại,phân chế độ giam giữ, cải tạo, v.v - Những quan hệ phát sinh trong quá trinh giáo dục, cải tạo thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ của những người bị kết án nói chung và ở những trại và chế độ trại nhất định; quyền và nghĩa vụ của cơ quan thi hành án phạt tù - Những quan hệ phát sinh trên cơ sở những sự kiện pháp lý xáy ra trong quá trình giáo dục, cải tạo, khám bệnh, chữa bệnh, kiểm tra, thanh tra, gặp gỡ - Những quan hệ của các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội vào quá trình giáo dục, cải tạo những người bị kết án tù; hình thức tham gia, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức đó 1.3. Phương pháp điều chỉnh của pháp luật thi hành án hình sự Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là tổng hợp các cách thức tác động của ngành luật đó lên các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó. Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật phụ thuộc trước hết vào tính chất, nội dung của quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh. Về cơ bản, pháp luật thi hành án hình sự sử dụng những phương pháp điều chỉnh sau: * Phương pháp quyền uy 10
- Phương pháp này là một dạng biểu hiện của phương pháp mệnh lệnh – phục tùng. Đặc trưng của phương pháp này là sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ đó và khả năng cưỡng chế thực hiện tối đa. Phương pháp này được sử dụng để điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước (thông qua các cơ quan đại diện) với người phải chấp hành án hình sự. Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc người chấp hành án thực hiện các nội dung được quy định trong bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí của người phải chấp hành án hay của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. * Phương pháp mệnh lệnh hành chính Trong quá trình thi hành án hình sự, thường xuyên phát sinh các quan hệ điều hành và chấp hành giữa nhiều loại chủ thể khác nhau trong việc tổ chức thực hiện và thực hiện các nội dung của bản án hình sự. Trong trường hợp này, phương pháp điều chỉnh là mệnh lệnh – phục tùng nhưng không phải là phương pháp quyền uy, mà là phương pháp mệnh lệnh hành chính. * Phương pháp phối, kết hợp Nội dung của phương pháp này là các cơ quan có trách nhiệm phối hợp với nhau để thi hành trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm thực hiện nhiệm vụ chung. Đây là phương pháp được sử dụng rỗng rãi trong các quan hệ gữa các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong quá trình thi hành án hình sự. Ví dụ: sự phối hợp giữa cơ quan Kiểm sát với cơ quan quản lý trại giam để đảm bảo hiệu quả thi hành án phạt tù. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa một cách khái quát pháp luật thi hành án hình sự như sau: Pháp luật thi hành án hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thi hành các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. 2. NHIỆM VỤ CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Pháp luật thi hành án hình sự bên cạnh những nhiệm vụ của pháp luật nói chung, của tư pháp hình sự nói riêng, nó còn mang những nhiệm vụ cụ thể đặc thù. Những nhiệm vụ này được xem là sự cụ thể hóa hình thức thể hiện việc thực hiện nhiệm vụ chung. Một cách khái quát, nhiệm vụ của pháp luật thi hành án hình sự gồm: Thứ nhất, bảm đảm bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thực hiện đúng đắn trong thực tế. Đây là nhiệm vụ trọng tâm nhất của thi hành án hình sự. Nếu bản án hoặc quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, thì chẳng những các nhiệm vụ của Luật Hình sự không được thực hiện, mà ngay cả các kết quả tố tụng dù tuân thủ chặt chẽ quy trình tố tụng theo Luật tố tụng hình sự đến mấy cũng không có ý nghĩa. Thứ hai, cải tạo, giáo dục người bị kết án để họ không phạm tội mới và trở thành người có ích cho xã hội, tạo các điều kiện cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng và bằng cách đó thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm. Nhiệm vụ cải tạo, giáo dục người bị kết án không chỉ là nhiệm vụ của pháp luật hình sự mà còn là nhiệm vụ của pháp luật thi hành án hình sự, hay nói cách khác, đây là quá trình hiện thực hóa mục đích giáo dục người phạm tội mà luật hình sự đặt ra. Bên cạnh nhiệm vụ cải tạo, giáo dục người phạm tội, pháp luật thi hành án hình sự còn có nhiệm vụ tạo các điều kiện cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng như: tạo thói quen lao động cho người phạm tội, giúp họ nhận thức trách nhiệm của mình không chỉ trong thời gian chấp hành hình phạt mà ngay cả sau thời gian chấp hành 11
- hình phạt. Khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt thì phải thông báo cho gia đình và chính quyền địa phương người phạm tội biết Thứ ba, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm nói chung, động viên, khuyến khích sự tham gia của xã hội và công dân vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Các nhiệm vụ của Luật Thi hành án hình sự có mối quan hệ khăng khít, bổ trợ cho nhau và cùng hòa vào việc thực hiện nhiệm vụ chung của tư pháp hình sự. 3. NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Nguồn của pháp luật được hiểu là các hình thức pháp lý chứa đựng các quy phạm pháp luật. Chúng ta tạm chia các giai đoạn phát triển của pháp luật thi hành án hình sự thành hai giai đoạn: * Trước khi Luật thi hành án hình sự ra đời, pháp luật thi hành án hình sự ở nước ta, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vẫn chưa được pháp điển hóa thành một hệ thống thống nhất. Các quy phạm pháp luật thi hành án hình sự ở nước ta lúc đó được quy định ở nhiều loại văn bản pháp luật khác nhau, từ những văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất như Hiến pháp, cho đến các văn bản luật và những văn bản pháp quy như Nghị định của Chính phủ, Quy chế ban hành kèm theo Nghị định Ở giai đoạn này, nguồn của pháp luật thi hành án hình sự bao gồm: Thứ nhât, các quy phạm được quy định trong Hiến pháp. Chẳng hạn, điều 136 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nươc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”; Thứ hai, các quy định trong Bộ luật và Luật. Chẳng hạn, Phần thứ năm - Thi hành bản án và quyết định của Tòa án trong Bộ luật tố tụng hình sự; các quy định có liên quan đến việc thi hành án được quy định tại các Luật về tổ chức, như Luật tổ chức Tòa án nhân dân (Điều 12, 14, 15, LTCTAND), Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (Chương V, VI, LTCVKSND); Thứ ba, các quy định trong các Pháp lệnh, như Pháp lệnh về thi hành án phạt tù ngày 8/3/1993, Thứ tư, các quy định pháp quy như Quy chế trại giam được ban hành kèm theo Nghị định số 60/CP ngày 16/9/1993 của Chính phủ và các nghị định của Chính phủ quy định về việc thi hành biện pháp giá dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên pham tội; thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ; thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, * Luật thi hành án hình sự số 53/2010/QH12 do Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 29/6/2010, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 ra đời là một bước tiến dài trong tiến trình phát triển pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam. Đây là một văn bản có giá trị pháp lý cao, thể hiện nỗ lực pháp điển hóa của những nhà lập pháp nước ta trong lĩnh vực pháp luật này, thay thế cho hàng loạt quy định về thi hành án hình sự nằm rải rác trong các văn bản có giá trị pháp lý khác nhau như: Pháp lệnh thi hành án phạt tù ngày 08/3/1993; Pháp lệnh số 01/2007/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù; các quy định về việc thi hành án hình sự trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự. Hiện tại, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 15/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch triển khai Luật thi hành án hình sự. Đây sẽ là tiền đề cho việc cụ thể 12
- hóa các quy phạm được quy định trong Luật thi hành án hình sự, là cơ sở cho việc hiểu và áp dụng thống nhất các quy định của văn bản này. CÂU HỎI ÔN TẬP: 1. Tại sao nói Luật thi hành án hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam? 2. Trình bày nguồn của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 3. Phân tích các nhiệm vụ của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1.PGS.TS. Võ Khánh Vinh, NXB Tư pháp 2006, – Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn; 2. Luật thi hành án hình sự Việt Nam 2010; 3. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 15/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch triển khai Luật thi hành án hình sự; 13
- CHƯƠNG 2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo có tính chất nền tảng, định hướng, xuyên suốt quá trình xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật của Nhà nước và nhân dân. Nguyên tắc thường được thể hiện dưới hình thức các luận điểm, các nguyên lý có tính chất xuất phát điểm, định hướng và nhất thiết phải được tôn trọng, quán triệt trong một loạt việc làm. Nguyên tắc vừa mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan. Nguyên tắc, trước hết là sự phản ánh khách quan, tức là phản ánh thực tế vận động và tồn tại của toàn xã hội, phản ánh bản chất của chế độ, của cơ sở kinh tế - xã hội, của trình độ, điều kiện phát triển của lịch sử của đất nước, của xã hội. Đồng thời, nguyên tắc mang đạm dấu ấn chủ quan, vì thực tế khách quan phản ánh qua nhận thức của con người mà được nâng lên thành quan điểm, thông qua các hoạt động tư duy, thông qua khả năng, trình độ, năng lực nhận thức nhu cầu khách quan của đời sống xã hội. Trong từng lĩnh vực cụ thể, các nguyên tắc có thể có sự tiếp thu, kế thừa và vì vậy hình thành những nét giống nhau giữa các nước có chế độ chính trị- xã hội- kinh tế khác nhau hoặc giữa các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhưng các nguyên tắc lại cũng có những nét rất khác nhau ở các nước và các giai đoạn khác nhau. Trên cơ sở các quy định chung đó, có thể đưa ra khái niệm: Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam là những tư tưởng chỉ đạo có tính chất nền tảng, định hướng, xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật thi hành án hình sự, được vận dụng vào tổ chức, hoạt động thi hành án hình sự Việt Nam. Qua khái niệm nêu trên, có thể thấy rằng hệ thống các nguyên tắc tổ chức hoạt động thi hành án hình sự ở nước ta hiện nay vừa phải thể hiện bản chất của hoạt động thi hành án hình sự ở nước ta, vừa phải tính đến hướng phát triển xã hội ta trong những năm tới dưới tác động của cải cách tư pháp và cải cách hành chính, vừa phải phán ánh tính đặc thù của thi hành án hình sự trong những điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội ở giai đoạn hiện nay. Theo khoa học luật thi hành án hình sự, hệ thống các nguyên tắc và hoạt động thi hành án hình sự phải bao gồm các nguyên tắc dưới đây: - Nguyên tắc pháp chế; - Nguyên tắc dân chủ; - Nguyên tắc nhân dân; - Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước cơ quan thi hành án; - Nguyên tắc kết hợp thuyết phục và cưỡng chế; - Nguyên tắc phân hóa và cá thế hóa người phải thi hành án, động viên, khích lệ chấp hành quyết định bản án cả Tòa án; - Nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của công dân, con người; - Nguyên tắc bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án với các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong hoạt động thi hành án. Hiện nay, theo Luật thi hành án hình sự 2010, các nguyên tắc thi hành án hình sự được quy định tại Điều 4, cụ thể bao gồm các nguyên tắc: 14
- "1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 2. Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh. 3. Bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án. 4. Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất và mức độ phạm tội, độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án. 5. Thi hành án đối với người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội. 6. Khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt hại. 7. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật trong hoạt động thi hành án hình sự. 8. Bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình vào việc giáo dục cải tạo người chấp hành án." 2. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 2.1. Nguyên tắc pháp chế Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phản ánh bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi: Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, vì pháp luật, bảo đảm trật tự pháp luật, mà pháp luật xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân nên pháp luật XHCN là pháp luật của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, pháp luật XHCN thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân. Nhà nước phải tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật vì pháp luật là theo ý chí của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Nguyên tắc pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta hiện nay nói chung và trong tổ chức và hoạt động thi hành án nói riêng. Đảm bảo nguyên tắc pháp chế là yêu cầu hàng đầu trong tổ chức và hoạt động thi hành án. Tuy nhiên, khi vận dụng nguyên tắc này vào hoạt động thi hành án hình sự - một lĩnh vực đặc thù với những thuộc tính riêng - đòi hỏi một mặt, phải xuất phát từ những luận điểm chung về pháp chế, mặt khác phái tính đến một cách đầy đủ các luận điểm riêng của lĩnh vực này. Theo đó, trong tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự, nguyên tắc pháp chế thể hiện ở các yêu cầu sau: - Các văn bản pháp luật phải là cơ sở cho việc trật tự hóa và bảo đảm ổn định các quan hệ tổ chức và hoạt động thi hành án, là cơ sở của việc xây dựng và giải quyết các mối quan hệ nảy sinh giữa các chủ thể tham gia các quan hệ thi hành án, là cơ sở đảm bảo mục đích và hiệu quả của hoạt động thi hành án hình sự. - Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự phải tương đối đầy đủ và phù hợp. Các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, thể hiện đầy đủ các đặc thù riêng biệtcuar các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích 15
- hớp pháp của cộng đồng cũng như từng cá nhân có liên quan, đủ khả năng điều chỉnh có hiệu quả tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự. - Các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự phải được tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh, nhất quán. Yêu cầu đó, trước hết, phải được quán triệt trong toàn bộ công tác tổ chức thi hành án. Các cơ quan thi hành án có trách nhiệm tổ chức thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, loại bỏ sự tùy tiện, vô tổ chức, thiếu kỷ luật trong lĩnh vực thi hành án và phải xử lý nghiêm minh mọi biểu hiện vi phạm pháp luật từ phía những người có nghĩa vụ chấp hành án và những người có trách nhiệm tổ chức việc thi hành án. 2.2. Nguyên tắc dân chủ Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam nguyên tắc dân chủ thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật. Các văn bản pháp luật được ban hành cần phải thể hiện ý chí của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân. Nhân dân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở nguyên tắc này, Điều 3, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định: 1) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; 2) Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án, cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến và tiếp thu ý kiến đóng góp để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Việc thực thi pháp luật phải dựa trên cơ sở nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Dân chủ hóa xã hội vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc xuyên suốt quá trình đổi mới ở nước ta, nhất là trong điều kiện vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được nêu thành một nguyên tắc hiến định. Nội dung của nguyên tắc dân chủ rất phong phú và được biểu hiện đa dạng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống nhà nước và xã hội. Trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự nguyên tắc dân chủ thể hiện ở các yêu cầu sau: - Các quy phạm pháp luật, các thiết chế bảo đảm thi hành án hình sự phải thể hiện tính dân chủ sâu sắc trong toàn bộ các nguyên tắc, phương pháp, phương thức, biện pháp được quy định sử dụng trong thi hành án hình sự. - Xác lập cơ sở pháp lý và cơ chế thực hiện thi hành án hình sự theo hướng bảo đảm cho các tổ chức xã hội, tập thể lao động và mọi công dân tham gia vào quá trình thi hành án và thực hiện quyền kiểm tra, giám sát xã hội đối với toàn bộ hoạt động thi hành án. - Thiết lập những hình thức tổ chức dân chủ phù hợp với việc thi hành từng loại án cụ thể. Những hình thức đó cần được thiết lập cụ thể trong quá trình thi hành từng loại án nhằm khuyến khích, động viên những người có nghĩa vụ chấp hành án, thực hiện tốt nghĩa vụ của mình. Chẳng hạn, trong việc thi hành án phạt tù, các hình thức tự quản của phạm nhân được tổ chức nhằm phát huy tích cực, tính tự giác của phạm nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án của các cơ quan chức năng. - Bảo đảm tinh công khai, minh bạch, rõ ràng trong thi hành án hình sự. Trật tự, quy trình, thủ tục thi hành án phải được quy định rõ ràng và được thực thi nghiêm chỉnh nhằm bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ thi hành án. Có những hình thức hữu hiệu để những người có liên quan đến việc thi hành án được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi sự xâm hại trái phép của cơ quan thi hành án, trong đó quyền khiếu nại, tố cáo hành vi trái pháp 16
- luật của những người và những cơ quan thi hành án với các cơ quan thẩm quyền phải được bảo đảm một cách có hiệu lực. 2.3. Nguyên tắc nhân đạo Nguyên tắc nhân đạo là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Nguyên tắc này được biểu hiện rõ nét nhất trong ngành pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, và cả trong pháp luật thi hành án hình sự. Nguyên tắc nhân đạo thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội cũng như truyền thống nhân đạo của dân tộc ta. Trong pháp luật thi hành án hình sự, nguyên tắc nhân đạo biểu hiện chủ yếu ở các mặt sau: - Trong mục đích của hoạt động thi hành án hình sự: Mục đích của hoạt động thi hành án hình sự là nhằm thực thi công lý, bảo đảm sự công bằng cần thiết cho mọi thành viên trong xã hội trước pháp luật, từ đó bảo vệ có hiệu quả các loại lợi ích trong xã hội. Do vậy, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi trước hết, hoạt động thi hành án hình sự phải bảo đảm bảo vệ có hiệu quả, hài hòa các lợi ích khác nhau, tôn trọng nhân phẩm và danh dự của cá nhân. - Trong biểu hiện cụ thể, nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở việc pháp luật nghiêm cấm các hành vi đày đọa, hành hạ về thân thể, các hành vi xâm phạm nhân phẩm, danh dự đối với những người chấp hành án phạt tù. Nguyên tắc nhân đạo cũng thể hiện ở quy chế giảm, miễn, hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, ở việc quy định rõ chế độ sinh hoạt, ăn ở học tập, lao động nghề nghiệp trong thời gian thi hành án phạt tù để một mặt, hình thành thói quen sinh hoạt cộng đồng, ý thức tôn trọng cộng đồng, ý thức tuân thủ, phục tùng pháp luật của người phải chấp hành hình phạt, mặt khác, tránh tâm lý mặc cảm, tự ti, hằn học, ác cảm, đó kỵ, thù địch, xa lánh cộng đồng của những người này sau khi hết thời hạn chấp hành hình phạt để giúp họ dễ dàng tái hòa nhập cộng đồng; ở chính sách đối với người chưa thành niên: "Thi hành án đối với người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội"; ở các chế độ với người chấp hành án phạt tù là phụ nữ có thai; khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, nguyên tắc nhân đạo trong tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự không đồng nghĩa với nương nhẹ, bỏ qua một cách vô căn cứ đối với những người không chấp hành bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án. Việc quán triệt nguyên tắc nhân đạo không được làm mất tính nghiêm minh của pháp luật cũng như không được phép vi phạm các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự. Đồng thời quá trình vận dụng nguyên tắc nhân đạo cũng cần tính đến đặc thù của việc thi hành từng loại án cụ thể. Vì vậy, nguyên tắc nhân đạo luôn được đặt cạnh nguyên tắc pháp chế trong pháp luật thi hành án hình sự. 2.4. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước cơ quan thi hành án Đây là nguyên tắc được cụ thể hóa từ nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của nước ta, được quy định tại Điều 52 Hiến pháp 1992 đã sửa đổi, bổ sung "Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật". Hiện nay, nguyên tắc này mới chỉ được thông qua một vài khía cạnh nhỏ được quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật thi hành án hình sự: "Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật trong hoạt động thi hành án hình sự" và một số quy định cụ thể khác trong luật mà chưa quy định thành một điều khoản riêng biệt trong Luật thi hành án hình sự 2010. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước cơ quan thi hành án có nghĩa là mọi cá nhân và đơn vị có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đều bình đẳng trước pháp luật và cơ quan thi hành án trong nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết 17
- định của Tòa án. Nói cách khác, đó là yêu cầu mang tính nguyên tắc về thực hiện sự bình đẳng trong chấp hành án. Trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự, nguyên tắc bình đẳng phải được quán triệt đầy đủ: không phải chỉ bình đẳng trước pháp luật nói chung mà bình đẳng cả trong các quan hệ xã hội được pháp luật về thi hành án điều chỉnh, không phân biệt giới tính, địa vị xã hội, thành phần giai cấp, dân tộc, trình độ văn hóa, . Mọi sự thiên vị, dễ dãi với người này, khó khăn, quyết liệt với người kia đều là trái với nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, trước nghĩa vụ chấp hành bản án theo tinh thần pháp quyền, dân chủ xã hội ta. Trong thực tế thi hành án hình sự, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước cơ quan thi hành án là nguyên tắc rất dễ bị vi phạm và ảnh hưởng tiêu cực của sự vi phạm cũng rất dễ phát sinh, kéo theo không chỉ bản thân những người có liên quan trong việc chấp hành nghĩa vụ thi hành án không được hưởng sự công bằng bình đẳng mà còn làm cho tính nhân đạo, tính dân chủ của hoạt động thi hành án bị sai lệch. 2.5. Nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế Nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế trong tổ chức và thi hành án hình sự xuất phát từ mục đích thi hành án hình sự và từ yêu cầu đảm bảo hiệu quả của hoạt động thi hành án hình sự. Sự tự nguyện thi hành án là một trong những yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho hoạt động thi hành án được diễn ra thuận lợi, có hiệu quả, tránh được những chi phí không cần thiết. Do vậy, pháp luật thi hành án phái có các quy định khuyến khích người có nghĩa vụ thi hành án tự nguyện thực hiện những nghĩa vụ mà bản án, quyết định của Tòa án yêu cầu và tọa ra thủ tục cần thiết để họ thực hiện sự tự nguyện đó. Tuy nhiên, trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với họ là cần thiết để hoạt động thi hành án đạt được mục đích đề ra. Biện pháp cưỡng chế, bắt buộc phải thi hành án được xem như là biện pháp cuối cùng để dảm bảo hiệu lực, tính nghiêm minh của pháp luật và của bản án được tuyên nhân danh Nhà nước, đồng thời để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người thi hành án và những người liên quan. Việc vân dụng nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế trong tổ chức và thi hành án hình sự đòi hỏi phải tạo ra sự kết hợp đúng đắn, hợp lý giữa các biện pháp giáo dục, cải tạo, và cưỡng chế thực hiện mô hình kết hợp đó trong khi định ra các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật và toàn bộ thi hành án. Mối quan hệ kết hợp đó cần phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức về mức độ, liều lượng khác nhau của sự kết hợp các biện pháp giáo dục, cải tạo, thuyết phục và các biện pháp cưỡng chế đối với việc thi hành từng loại án khác nhau cũng như đối với từng loại người bị kết án khác nhau. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, tinh thần của nguyên tắc nói trên dòi hỏi phải bảo đảm để sao cho áp dụng các biện pháp cưỡng chế ở mức và liều lượng tối thiểu thiểu còn các biện pháp giáo dục, cải tạo, thuyết phục được áp dụng đến mực và liều lượng tối đa. 2.6. Nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người và của công dân Các quyền và tự do cơ bản của công dân là một nguyên tắc Hiến định được ghi nhận taị các Hiến pháp ở nước ta. Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con gnuowif về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và Luật”. 18
- Thi hành án hình sự là lĩnh vực hoạt động có liên quan trực tiếp tới các quyền và tự do của con người, đặc biệt là các quyền và tự do cơ bản được quy định trong Hiến pháp như: quyền tự do thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự, sức khỏe, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín. Do đó nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người và của công dân cần phải được quán triệt đầy đủ trong tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự. Trong thi hành án hình sự, nội dung của nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người và của công dân được thể hiện chủ yếu ở các đòi hỏi sau: - Khi tiến hành thi hành án hình sự, cơ quan và nhân viên thi hành án phải tôn trọng và bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín của công dân. Trên thực tế, do hoạt động thi hành án là lĩnh vực hoạt động đặc thù mà nhiệm vụ thực hiện hoạt động đó lại chính là sự tước đoạt các quyền cơ bản của con người hoặc hạn chế các quyền tự do công dân của người có nghĩa vụ chấp hành án, vì vậy, trong khi thực hiện nhiệm vụ này vẫn thường có tình trạng các cơ quan, nhân viên thi hành án chưa nhận thức đúng yêu cầu của nguyên tắc nói trên, dẫn đến thái độ xem thường người có nghĩa vụ chấp hành án, không quan tâm hoắc thậm chí vi phạm các quyền con người của họ. Đây à một thực tế cần nhanh chóng khắc phục. - Thường xuyên kiểm tra, kiểm sát tính hợp lý của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, khi xuất hiện các điều kiện hủy bỏ hoặc khi thấy có vi phạm pháp luật phải kịp thời hủy bỏ các quyết định đó. Cần nhận thức rằng, việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và tự do của người phải chấp hành án chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở và trong sự tuân thủ nghiêm minh các quy định của pháp luật. Cơ quan, nhân viên thi hành án chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi có đầy đủ các căn cứ và chỉ trong giới hạn được pháp luật quy định. - Pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật phải tôn trọng sự tự nguyện thi hành, sự tự thỏa thuận thi hành của những người có nghĩa vụ thi hành, người được thi hành và các chủ thể khác có liên quan đến việc thi hành án hình sự. Ở đây, sự tự nguyện của người phải thi hành án được coi là một trong những yếu tố quan trọng giúp hoạt động thi hành án được diễn ra thuận lợi, có hiệu quả và có tể xem như một thành công, một thành quả tích cực của công tác thi hanh án, là thuước đo về năng lực, khả quan công tác của cơ quan thi hành án, không chỉ giúp tránh được những chi phí không cần thiết mà còn giúp duy trì được một quan hệ đồng thuận trong sinh hoạt xã hội. 2.7. Nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà án. Một trong những điểm đặc thù trong tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự là một bản án do một con người cụ thể riêng biệt có nghĩa vụ chấp hành. Để bảo đảm cho việc thi hành án hình sự đạt được mục đích đề ra thì nhất thiết phải tính đến đầy đủ đặc thù vừa nêu. Bản án được chấp hành bởi một con người cụ thể, có hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã rêng biệt, với nhân cách, cá tính riêng biệt và những ưu, nhược điểm cụ thể về thể chất và tinh thần- điều đó có nghĩa là việc đề cao nguyên tắc bình đẳng trong chấp hành bản án hoàn tàn không thể đồng nghĩa với việc đòi hỏi người có nghĩa vụ chấp hành án phải chấp hành một cách vô điểu kiện, đánh đồng với mọi người khác mà không tính đến những đặc điểm nhân thân riêng bệt của họ. Nói cách 19
- khác, việc phân hóa và cá thể hóa nghĩa vụ chấp hành bản án, quy định của Tòa án phải được xem là một nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự. Trong giai đoạn hiện nay, một trong những yêu cầu quan trọng của nguyên tắc này là cần tiến hành một cách công phu sự phân hóa các đối tượng, cá thể hóa họ theo những tiêu chí khoa học chặt chẽ trên cơ sở tính toán đầy đủ đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình, xã hội, những ưu, nhược điểm về thể chất và tinh thần và từ đó tiến hành xây dựng các kế hoạch, chương trình với các bước cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ thi hành án đối với các cá nhân, con người cụ thể. Bằng cách đó, việc thi hành án hình sự mới có thể đảm bảo cả yếu tố nhân văn và cả hiệu quả xã hội của tội phạm, xây dựng một xã hội đồng thuận, yên vui, hành phúc cho mọi người. 2.8. Nguyên tắc bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án với các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong hoạt động thi hành án. Thi hành án là hoạt động hành chính – tư pháp phức tạp mà hiệu quả của nó không chỉ phụ thuộc nhiều vào sự nỗ lực của các cơ quan thi hành án chuyên trách mà còn phụ thuộc vào sự tham gia của chính quyền địa phương, của các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và của mọi công dân. Do vậy bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án với các cấp chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong thi hành án phải được coi là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động thi hành án hình sự và cần phải được vận dụng thực hiện nghiêm túc trong thực tiễn. Trong hoạt động thi hành án hình sự, mối quan hệ phối hợp giữa ba cơ quan: cơ quan Thi hành án, Tòa án, Viện Kiểm sát giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Theo quy định của pháp luật, cơ quan thi hành án có nhiệm vụ tổ chức đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án ra thi hành. Nhưng hoạt động thi hành án chưa thể hiện được khởi động khi chưa có quyết định của Tòa án. Ngoài ra, Tòa án còn có quyền xử lý một số vấn đề khác liên quan đến hoạt động thi hành án như quyết định việc hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án khi có căn cứ do pháp luật quy định. Viện Kiểm sát có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thi hành án cũng như của các cơ quan , tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm cho hoạt động này được tiến hành theo đùng quy định của pháp luật, phát hiện và khắc phục kịp thời mọi biểu hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án. Sự liên quan, ràng buộc lẫn nhau giữa các cơ quan này đòi hỏi một cơ chế phối hợp đồng bộ mới có thể tạo thành hoạt động nhịp nhàng ăn khớp, đảm bảo hiệu quả của thi hành án hình sự. Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, pháp luật quy định: ngoài các cơ quan thi hành án chuyên trách đảm nhiệm thi hành án phạt tù (cơ quan công an, các tổ chức trong quân đội), hình phạt trục xuất (cơ quan công an), hình phạt tiền, tịch thu tài sản ( cơ quan thi hành án dân sự) thì chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc đảm nhiệm thi hành những hình phạt khác: quản chế, cấm cư trú, cải tạo không giam giữ, tước một số công dân, cấm đảm nhiệm mọt số chức vụ hoặc cấm làm một số nghề nhất định. Như vậy, quyền địa phương và các cơ quan tổ chức nói trên vừa có quan hệ với các cơ quan bảo vệ pháp luật (Tòa án, Viện Kiểm sát) trong tư cách là đơn vị phối hợp đảm bảo hiệu quả của việc thi hành án. Do vậy, một vấn đề đặt ra là cần xác định rõ cơ chế quan hệ này và cụ thể hóa bằng các quy định pháp luật nhằm tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc dẫm chân lên nhau trong công tác thi hành án. 20
- Công dân có trách nhiệm tạo điều kiện cho các cơ quan thi hành án thực hiện được nhiệm vụ của mình. Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp luật của các cơ quan thi hành án. Cac cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và giải quyết nhanh chóng các khiếu nại và tố cáo và có biện pháp khắc phục. Như vậy, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước khác, của các tổ chức xã hội và công dân với các cơ quan thi hành án là một trong những điêu kiện đảm bảo cho hoạt động thi hành án có hiệu quả. Chất lượng, hiệu quả của cơ quan hoạt động thi hành án phụ thuộc nhiều vào mức độ phối kết hợp giữa các cơ quan thi hành án với nhau và với các cơ quan, tổ chức khác. CÂU HỎI ÔN TẬP: 1. Khái niệm chung về các nguyên tắc của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 2. Phân tích nguyên tắc pháp chế trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 3. Phân tích nguyên tắc dân chủ trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 4. Phân tích nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 5. Phân tích nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước cơ quan thi hành án trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 6. Phân tích nguyên tắc pháp kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 7. Phân tích nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người và của công dân trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 8. Phân tích nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam? 9. Phân tích nguyên tắc bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án với các cấp chính quyền địa phương, cơ quan Nhà nước khác, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong hoạt động thi hành án. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1.PGS.TS. Võ Khánh Vinh, NXB Tư pháp 2006, – Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn; 2. Luật thi hành án hình sự Việt Nam 2010; 3. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 15/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch triển khai Luật thi hành án hình sự. 21
- CHƯƠNG 3 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN Trong tố tụng hình sự, xuất phát từ nguyên tắc suy đoán vô tội, một người chỉ bị coi là có tội khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Các bản án đó là những bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; những quyết định của Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (khoản 2 Điều 255 BLTTHS 2003). Trong thực tế có hai loại bản án: Bản án buộc tội và bản án tuyên bị cáo không phạm tội. Như vậy, một người đã là bị cáo trong quá trình tố tụng chỉ trở thành người bị kết án khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án của một trong các cấp xét xử nêu trên. Bản án kết tội bao gồm: Bản án tuyên bố bị cáo phạm tội cụ thể nào đó và kèm theo các hình phạt (hình phạt chính và một hoặc nhiều hình phạt bổ sung); bản án tuyên bố bị cáo phạm tội nhưng kèm theo quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt. Từ sự phân tích trên, có thể chia người bị kết án thành hai loại: 1) Những người bị kết án kèm theo hình phạt; 2) Những ngượi bị kết án được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Khi nghiên cứu địa vị pháp lí của người bị kết án, chúng tôi cũng xuất phát từ sự phân loại trên đây. 1. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN ĐƯỢC MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1.1. Quyền của người bị kết án được miễn TNHS Điều 25 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. 2. Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế mức thấp nhất hậu quả của tọi phạm thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá ”. Theo nội dung của quy định trên đây thì miễn trách nhiệm hình sự có thể do Tòa án hoặc Viện Kiểm sát, cơ quan Điều tra áp dụng với người phạm tội. Tuy nhiên, những người được miễn trách nhiệm hình sự trên cơ sở quyết định của cơ quan Điều tra hoặc Viện Kiểm sát thì không được coi là người đã bị kết án. Người được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự bởi quyết định của Tòa án trong bản án được coi là người bị kết án. Sau khi đã có bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, người được miễn trách nhiệm hình sự có quyền nhận trích lục bản sao bản án hoặc quyết định đó. Người bị kết án – người được miễn trách nhiệm hình sự có quyền khiếu nại đối với quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi không đồng ý với những nội dung nêu trong quyết định, bản án đó. Một người được miễn trách nhiệm hình sự vẫn được coi là người có tội bởi hành vi mà họ đã thực hiện trước đây vẫn bị coi là hành vi phạm tội. Chính vì vậy, khi một người được miễn trách nhiệm hình sự khiếu nại quyết định này của Tòa án, nếu có căn cứ pháp luật thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để ra kháng nghị hoặc xét xử lại theo hướng tuyên bố người đó không phạm tội. Người bị kết án được miễn trách nhiệm hình sự nếu bị tạm giam trước thời điểm có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì được trả tự do 22
- ngay sau khi tuyên án. Trong trường hợp này, mặc dù đã bị tạm giam và được trả tự do sau đó nhưng người bị kết áncuxng không được quyền kiệndoif bồi thường vì đã bị tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành và các quy định trong Nghị quyết về bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp bị oan sai do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Cho tới nay, các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác chưa có một văn bản nào hướng dẫn về thủ tục phục hồi lại các quyền và lợi ích hợp pháp của người được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp các quyền và lọi ích hợp pháp đó bị hạn chế hoặc bị tước bỏ trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Thí dụ, khi một người bị khởi tố về hình sự thì người đó bị tạm đình chỉ sinh hoạt Đảng, tạm đình chỉ chức vụ mà họ đang giữ. Lẽ đương nhiên, nếu người này bị tuyên là có tội và bị áp dụng là hình phạt thì các quyết định trên đây trở thành chính thức là khai trừ Đảng, miễn nhiệm. Thế nhưng, đối với người được miễn trách nhiệm hình sự, sau khi có bản án. Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, một số quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước đây đã bị tước bỏ hoặc hạn chế nay cần được phục hồi như phục hồi lại Đảng tịch, phục hồi lại chức vụ, hủy bỏ lệnh kê biên tài ản Để bảo đảm quyền và lợi ích của người được miễn trách nhiệm hình sự bởi ccs quyết định của Tòa án cũng như của cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sat, các cơ quan này cần có các thông tư liên ngành hướng dẫn cụ thể các thủ tục, trình tự khôi phục lại các quyền và lợi ích của người đó đã bị tước bỏ hoặc bị hạn chế trong các giai đoạn tố tụng trước đây. 1.2. Nghĩa vụ của người bị kết án nhưng được miễn TNHS Người được miễn trách nhiệm hình sự bởi quyết định của Tòa án không có nghĩa là người đó vô tội vì có những điều kiện do pháp luật quy định nên người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự trừ các trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật. Hành vi phạm tội của người này vẫn bị coi là một hành vi phạm pháp luật, vì vậy, họ vẫn phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật, thí dụ, bị khiển trách, cảnh cáo, chuyển sang công tác khác. Trong trường hợp nếu người đó là một thành viên của một tổ chức xã hội thì người đó có thể chịu các hình thức kỷ luật khác nhau theo Điều lệ hoặc quy chế hoạt động của tổ chức đó. Nếu hành vi phạm tội gây ra những thiệt hại vật chất hoặc tinh thần cho người khác thì người được miễn trách nhiệm hinh sự vẫn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo các quy định của Bộ luật dân sự trên cơ sở các thiệt hại thực tế đã được xác định. Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại đối với người được miễn trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi có yêu cầu của người bị thiệt hại. Trong trường hợp nếu hai bên không thỏa thuận được bằng thủ tục hòa giải, người được miễn trách nhiệm hình sự bị kiện ra Tòa án dân sự thì họ pải có nghĩa vụ thi hành bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực ohasp luật. Người được miễn trách nhiệm hình sự cũng có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp Tư pháp do Tòa án hoặc cơ quan tiến hành tố tụng khác áp dụng với họ như tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan tới tội phạm (Điều 41 Bộ luật hình sự 1999); trả tài sản , sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi (Điều 42 Bộ luật hình sự 1999); bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 Bộ luật hình sự 1999). Những hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành biện pháp tư pháp: Tổ chức trốn hoặc trốn khỏi trường giáo dưỡng; tổ chức trốn hoặc trốn khi đang bị dẫn giải thi hành biện pháp tư pháp; đánh tháo người bị dẫn giải thi hành biện pháp tư pháp. Không chấp hành quyết định áp dụng biện pháp tư pháp; cản trở hoặc chống lại việc thực hiện nội quy, quy chế về thi hành biện pháp tư pháp hoặc quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành biện pháp tư pháp. Kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về thi hành biện pháp tư 23
- pháp; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người có trách nhiệm thi hành biện pháp tư pháp. Đưa, nhận, môi giới hối lộ, sách nhiễu trong thi hành biện pháp tư pháp; xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành biện pháp tư pháp. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để đề nghị hoặc không đề nghị miễn, giảm thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp, hoãn, đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp trái quy định của pháp luật. Cấp hoặc từ chối cấp quyết định, giấy chứng nhận, xác nhận hoặc giấy tờ khác về thi hành biện pháp tư pháp trái quy định của pháp luật. Làm sai lệch hồ sơ, sổ sách về thi hành biện pháp tư pháp. 2. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN NHƯNG ĐƯỢC MIỄN HÌNH PHẠT Điều 54 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến được miễn trách nhiệm hình sự”. Như vậy, trong trường hợp người được miễn hình phạt do trong vụ án có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng trách nhiệm hình sự của họ vẫn được đặt ra. So sánh giữa người được miễn trách nhiệm hình sự với người được miễn hành phạt thì hành vi của người được miễn hành phạt có phần nặng hơn so với hành vi phạm tội của người được miễn trách nhiệm hình sự. Qua việc quyết định của Tòa án thì thấy người bị tuyên bố là có tội nhưng được miễn hình phạt bị xã hội lên án mạnh hơn so với người bị tuyên bố là có tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự. Vì vậy, về nguyên tắc, trách nhiệm pháp lý cũng như trách nhiệm xã hội của người được miễn hình phạt phải nặng hơn so với người được miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, hiện nay, kể cả pháp luật cũng như trong thực tiễn giữa người được miễn trách nhiệm hình sự và người được miễn hình phạt chưa có sự khác biệt lớn. Quyền và nghĩa vụ của người được miễn hình phạt về cơ bản cũng giống quyền và nghĩa vụ của người được miễn trách nhiệm hình sự. Chính điều này đã không phân hóa được tội phạm và người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án cũng như không có biện pháp tác động xã hội khác nhau để giáo dục, cải tạo họ sau khi đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố họ phạm tội và áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt đối với họ. Qua nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, thực tiễn áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt đồng thời thể chế hóa địa vị pháp lý của người được miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt nhằm hướng tới phân biệt rõ quyền và nghĩa vụ của hai loại người này. Có thể đối với người được miễn trách nhiệm hình sự không nên đặt ra hậu quả pháp lý là các án tích, còn đối với người được miễn hình phạt vấn đề án tích vẫn có đặt ra như những người phạm tội bị áp dụng các hình phạt là cảnh cáo hoặc phạt tiền. 3. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN BỊ ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT KHÁC NHAU Điều 28 Bộ luật hình sự 1999 quy định các hình phạt chính và hình phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với người phạm tội. Hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư tú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính. 24
- Trong Luật thi hành án hình sự 2010, địa vị pháp lý của người bị kết án có hình phạt kèm theo không nằm trong một điều luật riêng biệt mà nằm rải rác trong rất nhiều điều luật từ chương III đến chương X. 3.1. Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành hình phạt tù 3.1.1. Quyền của người chấp hành hình phạt tù Theo Luật thi hành án hình sự 2010, người bị kết án hình phạt tù có rất nhiều quyền khác nhau, cụ thể: - Khi có đủ những điều kiện được quy định trong Bộ luật hình sự, người bị kết án được hoãn, được tạm đình chỉ, xét giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt tù. Luật quy định cụ thể trình tự tiến hành các thủ tục nói trên, đồng thời xác định rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan có liên quan. Khi đã mãn hạn tù, người bị kết án được tạo những điều kiện cần thiết làm tiền đề cho việc tái hòa nhập cộng đồng "Hai tháng trước khi phạm nhân hết hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành xong án phạt tù về cư trú, làm việc, cơ quan nhận phạm nhân trích xuất. Nội dung thông báo gồm kết quả chấp hành án phạt tù, hình phạt bổ sung mà phạm nhân còn phải chấp hành và thông tin cần thiết khác có liên quan để xem xét, sắp xếp, tạo lập cuộc sống bình thường cho người đó". Đây là những quy định bảo đảm quyền của người bị kết án. - Người bị kết án hình phạt tù có quyền được học tập, học nghề, được cung cấp thông tin về thời sự, chính trị, xã hội, pháp luật của Nhà nước; được bảo đảm các quyền thiết thân khác như ăn, mặc, thể dục thể thao và sinh hoạt văn hóa văn nghệ, gặp người thân, nhận quà, được quyền liên lạc với người thân trong giới hạn nhất định, được chăm sóc y tế khi xảy ra ốm đau Cụ thể: Phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hoá, học nghề. Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hoá để xoá mù chữ. Phạm nhân là người nước ngoài được khuyến khích học tiếng Việt. Phạm nhân được bố trí ngày thứ bảy để học tập, học nghề và được nghỉ ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật. Căn cứ yêu cầu quản lý, giáo dục phạm nhân và thời hạn chấp hành án, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức dạy học cho phạm nhân theo chương trình, nội dung do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định. Phạm nhân được cung cấp thông tin về thời sự, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về gạo, rau xanh, thịt, cá, đường, muối, nước mắm, bột ngọt, chất đốt. Đối với phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định của pháp luật, thì định lượng ăn được tăng thêm. Ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật, phạm nhân được ăn thêm nhưng mức ăn không quá năm lần tiêu chuẩn ăn ngày thường. Căn cứ yêu cầu bảo đảm sức khỏe của phạm nhân trong quá trình giam giữ, lao động, học tập tại nơi chấp hành án, Chính phủ quy định cụ thể định mức ăn phù hợp với điều kiện kinh tế, ngân sách và biến động giá cả thị trường. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể quyết định hoán đổi định lượng ăn cho phù hợp với thực tế để bảo đảm cho phạm nhân ăn hết tiêu chuẩn. 25
- Ngoài tiêu chuẩn ăn quy định tại khoản 1 Điều này, phạm nhân được sử dụng quà, tiền của mình để ăn thêm nhưng không được quá ba lần định lượng trong 01 tháng cho mỗi phạm nhân. Phạm nhân được bảo đảm ăn, uống vệ sinh. Việc nấu ăn cho phạm nhân do phạm nhân đảm nhiệm dưới sự giám sát, kiểm tra của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Bếp ăn cho phạm nhân được cấp các dụng cụ cần thiết cho việc nấu ăn, đun nước uống và chia đồ ăn cho phạm nhân theo khẩu phần tiêu chuẩn. Phạm nhân được ở theo buồng giam tập thể, trừ phạm nhân đang bị giam riêng theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 27 của Luật này. Chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 mét vuông (m2). Đối với phạm nhân có con nhỏ ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 mét vuông (m2). Phạm nhân được cấp quần áo theo mẫu thống nhất, khăn mặt, chăn, chiếu, màn, dép, mũ hoặc nón, xà phòng; phạm nhân nữ được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh của phụ nữ. Phạm nhân tham gia lao động được cấp quần áo bảo hộ lao động và căn cứ vào điều kiện công việc cụ thể được cấp thêm dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết. Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án. Mỗi phân trại của trại giam được thành lập thư viện, khu vui chơi, sân thể thao, được trang bị một hệ thống truyền thanh, mỗi buồng giam tập thể được trang bị một máy vô tuyến truyền hình màu. Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ, trường hợp đặc biệt thì được kéo dài thời gian nhưng không quá 03 giờ. Phạm nhân được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm một lần trong 01 tháng. Phạm nhân chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế trại giam hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ. Trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết. Phạm nhân được gửi mỗi tháng hai lá thư; trường hợp cấp bách thì được gửi điện tín. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải kiểm tra, kiểm duyệt thư, điện tín mà phạm nhân gửi và nhận. Phạm nhân được liên lạc điện thoại trong nước với thân nhân mỗi tháng một lần, mỗi lần không quá 05 phút. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc bằng điện thoại và tổ chức kiểm soát việc liên lạc này. Phạm nhân được hưởng chế độ phòng, chống dịch bệnh. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phối hợp với trung tâm y tế cấp huyện hoặc bệnh viện quân đội nơi trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đóng tổ chức khám sức khoẻ cho phạm nhân. Phạm nhân bị ốm, bị thương thì được khám và điều trị tại cơ sở y tế của trại giam, trại tạm giam hoặc tại cơ sở chữa bệnh cấp huyện. Trường hợp phạm nhân bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị của các cơ sở chữa bệnh đó thì được chuyển đến cơ sở chữa bệnh cấp tỉnh, bệnh viện quân đội hoặc bệnh viện trung 26
- ương để điều trị; trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thông báo cho thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của người đó biết để phối hợp chăm sóc, điều trị. Chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng do cơ sở chữa bệnh chỉ định. Trại giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với cơ sở chữa bệnh cấp tỉnh, bệnh viện quân đội xây dựng hoặc bố trí một số buồng riêng trong cơ sở chữa bệnh để điều trị cho phạm nhân. Đối với phạm nhân nghi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự quân khu nơi phạm nhân chấp hành án phạt tù trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Khi có kết luận giám định là người đó mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình thì Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Toà án quân sự quân khu nơi phạm nhân chấp hành án ra quyết định đưa người đó vào cơ sở chuyên khoa y tế để bắt buộc chữa bệnh. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được tính vào thời hạn chấp hành án phạt tù. Phạm nhân nghiện ma tuý được trại giam tổ chức cai nghiện. Kinh phí khám, chữa bệnh, tổ chức cai nghiện ma tuý và kinh phí xây dựng, bố trí các buồng chữa bệnh dành cho phạm nhân tại các cơ sở chữa bệnh do Nhà nước cấp. - Trường hợp phạm nhân cải tạo tốt, chấp hành tốt nội quy, quy chế trại giam, có thành tích trong lao động hoặc lập công thì được khen thưởng theo một hoặc nhiều hình thức sau: biểu dương; thưởng tiền hoặc hiện vật; tăng số lần được liên lạc bằng điện thoại, số lần gặp thân nhân, số lần và số lượng quà được nhận. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định khen thưởng phạm nhân. Việc khen thưởng phải bằng văn bản, được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân được khen thưởng thì được ưu tiên đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và đề nghị xét đặc xá theo quy định của pháp luật. - Đối với phạm nhân là phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi còn có thêm một số quyền như quy định tại Điều 45 Luật thi hành án hình sự 2010: Phạm nhân nữ có thai nếu không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc y tế trong trường hợp cần thiết; được giảm thời gian lao động, được hưởng chế độ ăn, uống bảo đảm sức khoẻ. Phạm nhân nữ có thai được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của Bộ luật lao động. Trong thời gian nghỉ sinh con, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp phát thực phẩm, đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh. Phạm nhân nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bố trí thời gian phù hợp để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh cho con của phạm nhân. Ủy ban 27
- nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chấp hành án có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh. Phạm nhân nữ có con từ 36 tháng tuổi trở lên phải gửi con về cho thân nhân nuôi dưỡng. Trường hợp con của phạm nhân không có thân nhân nhận nuôi dưỡng, thì trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, phải đề nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi phạm nhân chấp hành án chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phải chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm tiếp nhận, nuôi dưỡng. Người chấp hành xong án phạt tù được nhận lại con đang được cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng. Trại giam phải tổ chức nhà trẻ ngoài khu giam giữ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của phạm nhân dưới 36 tháng tuổi và con của phạm nhân từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội. - Ngoài ra, đối với trường hợp phạm nhân là người chưa thành niên còn có những quyền khác được quy định tại Mục 3 Chương III Luật thi hành án hình sự. 3.1.2. Nghĩa vụ của người chấp hành hình phạt tù Bên cạnh những quyền như được phân tích ở trên, người chấp hành hình phạt tù còn có những nghĩa vụ nhất định như thực hiện việc lao động cải tạo theo quy định; trong trường hợp họ có vi phạm các nội quy, quy chế trại giam hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì bị kỷ luật bằng một trong những hình thức như khiển trách; cảnh cáo; giam tại buồng kỷ luật đến 10 ngày; trong thời gian bị giam tại buồng kỷ luật, phạm nhân không được gặp thân nhân và có thể bị cùm chân. Không áp dụng cùm chân đối với phạm nhân nữ, phạm nhân là người chưa thành niên, phạm nhân là người già yếu. Cụ thể: Phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và đáp ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập cộng đồng; được nghỉ lao động các ngày thứ bảy, ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật. Thời gian phạm nhân lao động và học tập, học nghề không quá 08 giờ trong 01 ngày. Trường hợp đột xuất hoặc thời vụ, Giám thị trại giam có thể yêu cầu phạm nhân làm thêm giờ nhưng không được quá 02 giờ trong 01 ngày. Trường hợp phạm nhân lao động thêm giờ hoặc lao động trong ngày thứ bảy, chủ nhật thì được nghỉ bù hoặc bồi dưỡng bằng tiền, hiện vật. Phạm nhân nữ được bố trí làm những công việc phù hợp với giới tính, sức khoẻ và độ tuổi; không làm công việc nặng nhọc, độc hại thuộc danh mục cấm sử dụng lao động nữ. Phạm nhân mắc bệnh hoặc có nhược điểm về thể chất, tinh thần thì tuỳ mức độ, tính chất của bệnh tật và trên cơ sở chỉ định của y tế trại giam, trại tạm giam được miễn hoặc giảm thời gian lao động." Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân vi phạm nội quy, quy chế trại giam hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì bị kỷ luật bằng một trong những hình thức sau: Khiển trách; Cảnh cáo; Giam tại buồng kỷ luật đến 10 ngày. Trong thời gian bị giam tại buồng kỷ luật, phạm nhân không được gặp thân nhân và có thể bị cùm chân. Không áp dụng cùm chân đối với phạm nhân nữ, phạm nhân là người chưa thành niên, phạm nhân là người già yếu. Phạm nhân làm hư hỏng, làm mất hoặc huỷ hoại tài sản nơi chấp hành án thì phải bồi thường. 28
- - Đối với người thi hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, người đó còn phải thực hiện các nghĩa vụ và có các quyền quy định tại Mục 1 Chương V Luật thi hành án hình sự 2010Nghĩa vụ của người được hưởng án treo, cụ thể đó là các nghĩa vụ: Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng; ba tháng một lần trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực tiếp giám sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 03 tháng đến 06 tháng, thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó. Việc lao động, học tập của người được hưởng án treo: Người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà mình đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật; trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được Uỷ ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện để người đó tìm việc làm; người được hưởng án treo được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó; người được hưởng án treo thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì vẫn được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật. 3.2. Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành hình phạt tử hình - Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, trong thời hạn bảy ngày, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm tới Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hồ sơ vụ án có hình phạt tử hình phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để những người này xem xét quyết định kháng nghị hay quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viển kiểm sat nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hay quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong thời gian chờ đợi quyết định của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Chủ tịch nước, người bị kết án tử hình có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của trại tạm giam hoặc trại giam. Nếu người bị kết án nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định của trại tạm giam hoặc trại giam thì được Ban giám thị quyết định tăng số lần gửi và nhận thư, nhận quà, gặp gỡ gia định nhiều lần hơn với thời gian lâu hơn. Ngược lại, nếu ngưoif bị kết án vi phạm thì có thể bị thi hành kỷ luật như tạm đình chỉ việc gửi và nhận thư, nhận quà và gặp gỡ thân nhân - Chế độ quản lý giam giữ, ăn, ở, mặc, sinh hoạt, gửi và nhận thư, nhận đồ vật, tiền mặt, gặp thân nhân, chăm sóc y tế đối với người bị kết án tử hình trong thời gian chờ thi hành án thực hiện theo quy định của pháp luật về tạm giam. 29
- - Trước khi bị đưa ra thi hành án tử hình, người chấp hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại thân nhân. - Phạm nhân có nghĩa vụ chấp hành trình tự thi hành án tử hình: Căn cứ quyết định thi hành án tử hình và yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc Cảnh vệ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình; Thực hiện yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn thuộc Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành lăn tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan; chụp ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm tra và lập biên bản; báo cáo Hội đồng thi hành án tử hình về kết quả kiểm tra; Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình. Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng thi hành án công bố các quyết định, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc Cảnh vệ tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án để người đó tự đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt hoặc không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tử hình chỉ định người đọc hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe. Quá trình công bố và đọc các quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ; Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn do cơ quan thi hành án hình sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành án và báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng; Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sỹ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng; Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản thi hành án; báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan quản lý thi hành án hình sự. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục khai tử tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm bảo quản tử thi, tổ chức mai táng, vẽ sơ đồ mộ người đã bị thi hành án. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người đã bị thi hành án; Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho thân nhân của người đã bị thi hành án biết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật này. Việc quy định thi hành hình phạt tử hình đối với người phạm tội bằng cách cho tử tù uống thuốc độc là một điểm mới căn bản của Luật thi hành án hình sự 2010 so 30
- với các văn bản cũ quy định về thi hành hình phạt tử hình trước đây (trước đây, việc thi hành hình phạt tử hình được tiến hành bằng phương thức xử bắn). 3.3. Quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng hình phạt chính không phải là tù và tử hình. 3.3.1. Quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất với tính cách là hình phạt chính. Người bị kết án với một trong những hình phạt nêu trên cũng có quyền khiếu nại quyết định, bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, đề nghị xem xét lại bản án, quyết định đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Cảnh cáo với tính cách là hình phạt có nội dung khác so với cảnh cáo với tính chất là một biện pháp hành chính. Khi bị Tòa án tuyên phạt cảnh cáo, người bị kết án không phải cháp hành hình phạt đó bởi cảnh cáo là một biện phái khiển trách công khai của Tòa án nhân danh Nhà nước đối với những người phạm tội bằng một bản án, nó làm phát sinh án tích của người phạm tội. Tuy nhiên, vì nó là một hình phạt chính nên có thể được áp dụng kèm theo với một hay nhiều hình phạt bổ sung khác. Trong trường hợp Tòa án áp dụng áo dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung khác với hình phạt cảnh cáo thì người bị kết án có nghĩa vụ chấp hành các hình phạt bổ sung đó. Phạt tiền và trục xuất là hai hình phạt vừa có thể được áp dụng với tính cách là hình phạt chính vừa có thể áp dụng với tính cách là hình phạt bổ sung. Nếu phạt tiền được áp dụng hình phạt chính thì ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án có nghĩa vụ nộp một khoản tiền vào công quỹ nhà nước trong một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định trong bản án. Cơ quan thi hành án dân sự các cấp có thẩm quyền ra quyết định thi hành hình phạt tiền được quyết định trong các bản án hình sự. Người bị áp dụng hình phạt tiền nếu không có khả năng thi hành có thể làm đơn đề nghị Tòa án giảm mức hình phạt tiền hoặc miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại theo quy định tại khoản 2 ĐIều 58 và khoản 3 Điều 76 Bộ luật hình sự 1999. Nếu phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổsung thì người bị kết án hoặc gia đình bị kết án có nghĩa vụ chấp hành trong hoặc sau khi người bị kết án chấp hành hình phạt chính. Trục xuất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung áp dụng đối với người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch VIệt Nam phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Trục xuất với tính cách là hình phạt chính hoặc hìnhh phạt bổ sung khác với trục xuất với tính cách là một biện pháp hành chính. Quyền và nghĩa vụ của người bị trục xuất được quy định tại Nghị định của chính phủ số 54/2001/ND-CP ngày 23/8/2001 hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất. Hình phạt trục xuất nếu được áp dụng với tính cách là hình phạt chính thì người bị kết án phải chấp hành theo quyết định thi hành án của Tòa án đã xét xử sơ thẩm và cơ quan công an được giao nhiệm vụ trục xuất ( cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an). Trước khi chấp hành hình phạt trục xuất, người bị kết án phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật Việt Nam, chịu sự quản ý, giám sat của cơ quan quản lý xuát nhập cảnh; không được tự ý rời khỏi nơi quản lý, giám sat cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh chỉ định bằng văn bản; nộp các giấy tở cần thiết để thi hành án theo yêu cầu của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh; nhanh chóng chấp hành các nghĩa vụ khác ( nếu có) và hoàn thành các tủ tục cần thiết để rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đúng thời hạn; tự chịu chi phí về phương tiện xuất cảnh. Người bị kết án trục xuất có nghĩa vụ phải rời khỏi kãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn nêu trong quyết định thi hành án của Tòa án và thông báo của cơ quan công an có thẩm quyền. Người bị trục xuất có thể bị kéo dài thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam nếu đnag ốm nặng, đnag phải cáp cứu hoặc vì lý do sức khỏe khác 31
- mà không thể đi lại được và được cơ quan y tế hoặc bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên chứng nhận; đnag phải cháp hành các hình phạt khác hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam; có lý do chính đáng khác cản trở việc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam được thủ trưởng quản lý cơ quan quản lý xuát nhập cảnh xác nhận. Việc kéo dài thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với ngưoif bị trục xuất chỉ được thực hiện khi có quyết định của Tòa án đã được quyết định thi hành án. Trong trường hợp người bị kết án không tự nguyện chấp hành thì họ có thể bị cưỡng chế thi hành án bởi cơ quan công an có thẩm quyền. Nếu hình phạt trục xuất được áp dụng với tính cách là hình phạt bổ sung ( thường được áp dụng với hình phạt có thời hạn ) thì sau khi chấp hành xong hình phạt tù, người bị kết án cũng buộc rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn do cơ quan thi hành án quyết định. Trong trường hợp người bị kết án không tự nguyện chấ hành, họ cũng có thể bị cưỡng chế thi hành án trục xuất bởi quyết định của cơ quan công an có thẩm quyền. Khi rời khỏi lãnh thổ Việt Nam, người bị trục xuất được mang theo tài sản hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. 3.3.2. Quyền và nghĩa vụ của người bị kết án có hình phạt bị cải tạo không giam giữ Điều 31 Bộ luật hình sự 1999 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 6 tháng đến 3 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trong hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Người bị kết án cải tạo không giam giữ được quyền khiếu nại đối với bản án có hiệu lực pháp luật đề nghị xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Theo Luật thi hành án hình sự, người bị kết án cải tạo không giam giữ có nghĩa vụ: Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu trừ theo bản án của Tòa án. Phải có mặt theo yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã nơi được giao giám sát, giáo dục. Trường hợp người chấp hành án đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng. Ba tháng một lần phải nộp bản tự nhận xét về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành án cho người trực tiếp giám sát, giáo dục về việc chấp hành pháp luật; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 03 tháng đến 06 tháng, thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó. Người bị kết án cải tạo không giam giữ có những quyền sau đây: Người chấp hành án là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu, mục đích giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà mình đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật. Người chấp hành án được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó. Người chấp hành án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó chấp hành án tạo điều kiện tìm việc làm. Người chấp hành án thuộc đối tượng quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách 32
- mạng; người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì vẫn được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật. 3.4. Quyền và nghĩa vụ của người bị kết án các hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 3.4.1.Cấm cư trú và quản chế Cấm cư trú và quản chế là hai hình phạt bổ sung được áp dụng với người bị kết án phạt tù và được thi hành sau khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt tù. Cấm cư trú là buộc nguời bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định. Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn, sinh sống và cải tạo ở một số địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm cư trú: Không được cư trú ở những nơi đã bị cấm cư trú; chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú. Quyền của người chấp hành án phạt cấm cư trú: Khi có lý do chính đáng và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cấm cư trú, thì người chấp hành án phạt cấm cư trú được đến địa phương đó; thời gian lưu trú do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đến quyết định, nhưng mỗi lần không được quá 05 ngày. Được lựa chọn nơi cư trú ngoài nơi đã bị cấm. Khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, thì được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú đề nghị miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú theo quy định của Luật này. Người chấp hành án phạt quản chế có nghĩa vụ sau đây: Chịu sự kiểm soát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã và nhân dân địa phương; không được tự ý rời khỏi nơi quản chế; Mỗi tháng một lần vào tuần đầu của tháng, trình diện và báo cáo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế việc chấp hành quy định về quản chế; Có mặt tại địa điểm quy định khi Ủy ban nhân dân cấp xã triệu tập, nếu vắng mặt phải có lý do chính đáng; Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật và quy định của chính quyền địa phương; tích cực lao động, học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội; Trường hợp được phép đi khỏi nơi quản chế, người chấp hành án phạt quản chế phải khai báo tạm vắng; trình diện, xuất trình giấy phép, làm thủ tục đăng ký tạm trú, lưu trú với Công an cấp xã nơi đến theo quy định; trở về nơi quản chế đúng thời hạn và trình diện với Ủy ban nhân dân cấp xã. Người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế mà không có giấy phép hoặc vi phạm các quy định ghi trong giấy phép nếu không có lý do chính đáng thì thời gian này không được tính vào thời hạn chấp hành án phạt quản chế. Người chấp hành án phạt quản chế cố ý không chấp hành nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Quyền của người chấp hành án phạt quản chế: Sinh sống cùng gia đình tại nơi quản chế; Lựa chọn việc làm thích hợp, trừ những ngành, nghề hoặc công việc mà người chấp hành án phạt quản chế không được làm theo quy định của pháp luật; được hưởng thành quả lao động do mình làm ra; Tự do đi lại trong phạm vi xã, phường, thị trấn nơi quản chế; Được xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại theo quy định tại Điều 95 của Luật này. 3.4.2. Tịch thu tài sản 33
- Tịch thu tài sản là hình phạt bổ sung được áo dụng với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rát nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trong các trường hợp do Bộ luật hình sự quy định Người bị kết án có thể bị tịch thu một phận hoặc toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để sung quỹ Nhà nước. Việc tịch thu tài sản được tiến hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật không phụ thuộc vào việc người bị kết án bị áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn, tù chung thân hay tử hình. 3.4.3. Tước một số quyền công dân Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật hình sự quy định thì bị tước một hoặc một số quyền công dân bao gồm: quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước, quyền làm việc trong cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân. Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo. Các quyền công dân có thể bị tước bao gồm: Tước quyền bầu cử, ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước: Trong thời gian bị tước quyền bầu cử, ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước, người chấp hành án không được tham gia bầu cử hoặc ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước. Uỷ ban nhân dân cấp xã không được đưa người bị tước quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước vào danh sách cử tri. Trường hợp đã có tên trong danh sách cử tri nhưng đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Toà án tước quyền bầu cử thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải xoá tên người đó trong danh sách cử tri, thu hồi thẻ cử tri của người đó và thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước: Trong thời gian bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước, người chấp hành án không được phép dự tuyển hoặc tiếp tục làm việc trong cơ quan nhà nước. Trường hợp người chấp hành án đang là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước mà bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước thì cơ quan nơi người đó làm việc phải ra quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định buộc thôi việc hoặc đình chỉ công tác trong thời hạn bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước đối với người đó. Tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân: Trong thời gian bị tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân, người chấp hành án không được đăng ký nghĩa vụ quân sự; dự tuyển hoặc tiếp tục làm công chức, viên chức, công nhân quốc phòng trong Quân đội nhân dân; dự tuyển hoặc tiếp tục phục vụ trong Công an nhân dân. Trường hợp người chấp hành án đang là quân nhân, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng trong Quân đội nhân dân hoặc đang phục vụ trong cơ quan, đơn vị Công an nhân dân mà bị tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân thì cơ quan, đơn vị nơi người đó làm việc phải ra quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định buộc người đó ra khỏi lực lượng vũ trang nhân dân. 3.4.4. Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng với tính cách là hình phạt bổ sung khi thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội. Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo. 34
- Người chấp hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định có các quyền sau đây: Được ứng cử, bổ nhiệm, đề bạt vào chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc không bị cấm; Có thể được tiếp tục đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đã bị cấm sau khi chấp hành xong án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định khi hết thời hạn phải chấp hành. Trong thời hạn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, người chấp hành án có các nghĩa vụ sau đây: Báo cáo về chức vụ, nghề hoặc công việc bị cấm đảm nhiệm cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; Không được tiếp tục hoặc phải từ chối đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định đã bị cấm; Không được ứng cử vào chức vụ đã bị cấm; Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền triệu tập liên quan đến việc chấp hành án của mình. CÂU HỎI ÔN TẬP: 1. Địa vị pháp lý của người bị kết án được miễn trách nhiệm hình sự? 2. Địa vị pháp lý của người bị kết án được miễn hình phạt? 3. Địa vị pháp lý của người bị kết án bị áp dụng hình phạt tử hình? 4. Địa vị pháp lý của người bị kết án bị áp dụng hình phạt tử tù chung thân và tù có thời hạn? 5. Địa vị pháp ly của người bị kết án bị áp dụng hình phạt chính không phải là hình phạt tử hình và hình phạt tù? 6. Quyền và nghĩa vụ của người bị kết án có các hình phạt bổ sung? TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1.PGS.TS. Võ Khánh Vinh, NXB Tư pháp 2006, – Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn; 2. Luật thi hành án hình sự Việt Nam 2010; 3. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 15/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch triển khai Luật thi hành án hình sự. 35
- CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1. Khái niệm Hệ thống cơ quan thi hành án hình sự là một hệ thống các cơ quan có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được phân công, phối hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ thi hành án hình sự, bao gồm cơ quan chuyên trách do Nhà nước thành lập để chuyên thi hành án hình sự, và các cơ quan khác của Nhà nước được giao nhiệm vụ thi hành án hình sự trong những trường hợp cụ thể. Trước khi Luật thi hành án hình sự 2010 ra đời, hệ thống các cơ quan thi hành án hình sự Việt Nam rất phức tạp (gồm cơ quan chuyên trách, cơ quan không chuyên trách, cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội ), được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau. Luật thi hành án hình sự ra đời đã thể hiện một bước tiến dài trong việc hệ thống hóa các cơ quan thi hành án hình sự trong một văn bản luật, đồng thời quy định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan trong hệ thống đó 1.2. Hệ thống cơ quan thi hành án hình sự Theo Điều 10 Luật thi hành án hình sự, hệ thống tổ chức thi hành án hình sự bao gồm: * Cơ quan quản lý thi hành án hình sự: gồm Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. * Cơ quan thi hành án hình sự gồm: Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu (sau đây gọi là trại giam); Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh); Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện); Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu). * Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự: Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu (sau đây gọi là trại tạm giam); Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã); Đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương (sau đây gọi là đơn vị quân đội). Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ quy định chi tiết tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự. 2. NHIỆM VỤ CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 2.1. Khái niệm, ý nghĩa và vai trò của các cơ quan thi hành án hình sự Cơ quan thi hành án hình sự là một các cơ quan chuyên trách do Nhà nước thành lập để chuyên thi hành án hình sự, hoặc là các cơ quan khác của Nhà nước được giao nhiệm vụ thi hành án hình sự trong những trường hợp cụ thể. Vai trò của các cơ quan thi hành án hình sự thể hiện ở những nét cơ bản sau: - Bảo đảm việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong thực tế theo đúng quy định của pháp luật; 36



