Đề xuất chính sách thúc đẩy tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học Việt Nam
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề xuất chính sách thúc đẩy tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
de_xuat_chinh_sach_thuc_day_tai_nguyen_giao_duc_mo_trong_gia.pdf
Nội dung text: Đề xuất chính sách thúc đẩy tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học Việt Nam
- Báo cáo khảo sát tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học Việt Nam Hà nội – 9/2016
- ĐƠN Vị THỰC HIệN Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội ĐƠN Vị TÀI TRỢ Văn phòng UNESCO Bangkok GIẤY PHÉP Bản quyền thuộc về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc – UNESCO
- NỘI DUNG Lời nói đầu 4 Phần 1: Số liệu về giáo dục đại học và một số hoạt động phát triển tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam 5 1. Số liệu về giáo dục đại học Việt Nam 5 2. Một số hoạt động phát triển TNGDM tại Việt Nam 6 Phần 2: Kết quả khảo sát tài nguyên giáo dục mở tại các trường đại học việt nam 8 1. Nhận thức và hiểu biết về Tài nguyên giáo dục mở 8 2. Sử dụng, tạo lập và chia sẻ Tài nguyên giáo dục mở và tài liệu số 9 2.1. Về sử dụng Tài nguyên giáo dục mở 9 2.2. Vấn đề sử dụng tài liệu số 11 2.3. Vấn đề tạo lập và chia sẻ Tài nguyên giáo dục mở 14 3. Vấn đề bản quyền, giấy phép 15 4. Chính sách về Tài nguyên giáo dục mở 17 5. Những rào cản phát triển Tài nguyên giáo dục mở 21 6. Thực trạng công nghệ thông tin và công nghệ mở 23 7. Vai trò của thư viện trong phát triển Tài nguyên giáo dục mở 25 8. Vai trò của lãnh đạo trong phát triển Tài nguyên giáo dục mở 27 9. Kết luận vàđánh giá chung 27
- Lời nói đầu Tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) - Open Educational Resources (OER) được xem là một nguồn tài nguyên phục vụ hữu hiệu cho việc tăng cường chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường Đại học. Các trường đại học Việt Nam đang trong quá trình đổi mới về chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp giảng dạy, trong đó lấy người học làm trung tâm, chú trọng đào tạo về năng lực và kỹ năng để tự khai phá tri thức cũng như trang bị khả năng học tập suốt đời. Để đổi mới phương pháp giảng dạy với người học tự chủ trong khai phá tri thức thì cần một nguồn học liệu đủ lớn và có chất lượng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các trường đại học Việt Nam hiện đang thiếu hụt nguồn học liệu. OER có thể coi là một giải pháp cho vấn đề này. Báo cáo khảo sát này nhằm làm rõ thực trạng OER tại các trường đại học Việt Nam, trên cơ sở đó đưa những đề xuất để phát triển OER một cách bền vững trong các trường đại học Việt Nam.Báo cáo này tập trung làm rõ những vấn đề sau: Sự hiểu biết của cộng đồng về OER Tạo lập, sử dụng và chia sẻ OER Bản quyền và giấy phép Chính sách đối với OER Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển OER tại Việt Nam Hạ tầng công nghệ cho phát triển OER Vai trò của các bên liên quan đến phát triển OER Báo cáo này được thực hiện bởi Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự tài trợ của Văn phòng UNESCO Bangkok cùng sự hỗ hợ của Văn phòng UNESCO Hà Nội. Báo cáo này sẽ được tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh sau khi có ý kiến đóng góp của các chuyên gia tại hội thảo OER lần này.
- Phần 1: Số liệu về giáo dục đại học và một số hoạt động phát triển tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam 1. Số liệu về giáo dục đại học Việt Nam Việt Nam là quốc gia có dân số lớn thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 8 trong các nước Châu Á và đứng thứ 14 trong số các quốc gia đông dân nhất trên thế giới, với số dân xấp xỉ 92 triệu người (91.7 triệu người, tính đến 01 tháng 7 năm 2016). Tỷ lệ người trong độ tuổi từ 15-19 và 20-24 chiếm xấp xỉ 18%. Với tỷ lệ này thì nhu cầu đào tạo trình độ cao đẳng và đại học tại Việt Nam là vô cùng to lớn1. Theo Tổng cục Thống kê tính đến hết năm 2014, Việt Nam có 436 trường Cao đẳng (CĐ) và Đại học (ĐH), trong đó trường công lập chiếm 80% (347 trường), các trường tư chiếm 20% (89 trường CĐ và ĐH). Tổng số sinh viên trong cả nước là 2.363.942 người, trong đó có 313.620 sinh viên ngoài công lập. Giảng viên là 91.420 người, trong đó số giáo viên ngoài công lập là 17.308. TT Các tiêu chí Số lƣợng Đơn vị tính 1. Trƣờng đại học, cao đẳng 436 Trường 2. Trường công lập 347 Trường 3. Trường ngoài công lập 89 Trường 4. Giáo viên 91.420 Người 5. Giáo viên công lập 74.112 Người 6. Giáo viên ngoài công lập 17.308 Người 7. Sinh viên 2.363.942 Người 8. Sinh viên công lập 2.050.322 Người 9. Sinh viên ngoài công lập 313.620 Người Bảng 1. Thống kê số lượng các trường đại học, cao đẳng, giáo viên, sinh viên của Việt Nam năm 20142 Để tạo hànhlang pháp lý cho nền giáo Việt Nam nói chung, giáo dục ĐH nói riêng hoạt động. Với phương châm giáo dục là quốc sách hàng đầu, những năm qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật như: Luật Giáo dục ĐH số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua 18/06/2012; Nghị định 73/2012/NĐ-CP quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục ban hành 26/09/2012; Nghị quyết số 29-NQ/TW ban hành ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quyết định ban hành Điều lệ trường ĐH số 70/2014/QĐ-TT ngày 10/12/2014; Nghị định số 1Theo Thông tấn xã Việt Nam trích nguồn từ Tổng cục thống kê năm 2016 2 Theo sốliệu của Trung tâm Tư liệu & dịch vụ thống kê-Tổng cục thống kê năm 2014
- 43/2006/NĐ-CP ban hành ngày 25/04/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư liên tịch 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ban hành ngày 15/04/2009 hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục & đào tạo; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP bước đầu trao nhiều quyền tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường ĐH Nhìn chung những chính sách này này đều hướng tới hai điểm quan trọng đó là đổi mới giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường đại học trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế; và tăng cường tính tự chủ của các trường đại học. Bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giớicủa QS năm 2016 thì Việt Nam không có trường đại học nào lọt vào top 1000, còn trong bảng xếp hạng 350 trường đại học Châu Á, Việt Nam có trường đại học xếp hạng cao nhất là Đại học Quốc gia Hà Nội (vị trí 139)3. Có thể thấy có khoảng cách khá xa giữa các trường đại học Việt Nam với với các trường đại học trong khu vực và thế giới. Về hệ thống thư viện hỗ trợ học tập có thể thấy các thư viện đại học chưa đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo và nghiên cứu của các trường đại học.Khảo sát cho thấy 36% bạn đọc phản hồi thư viện đáp ứng rất ít hoặc hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, 44% chỉ đáp ứng 1/3 nhu cầu, và chỉ có 19% bạn đọc khẳng định thư viện cung cấp gần nhu đầy đủ nhu cầu tài liệu của họ. Bình quân mỗi người dùng (giảng viên và sinh viên) có 03 cuốn sách. Giáo dục ĐH Việt Nam hiện đang cần tìm lời giải cho mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo và nhu cầu thực tiễn về nghề nghiệp của xã hội. Hay nói cách khác giáo dục ĐH Việt Nam phải giải quyết triệt để mối quan hệ giữa cung và cầu nếu muốn theo kịp với sự phát triển và hoà nhập được với giáo dục ĐH trên thế giới. Giáo dục đại học phải chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao và gắn với nhu cầu thị trường lao động”4. Trong bối cảnh hội nhập, nguồn nhân lực Việt Nam cũng cần phải có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế và cạnh tranh với chính nguồn nhân lực của khu vực ngay trên đất nước mình. Bên cạnh đó học cần trang bị cho năng lực tự học tập suốt đời để luôn cập nhật tri thức mới và thích ứng với sự thay đổi của khoa học công nghệ cũng như kinh tế, xã hội. 2. Một số hoạt động phát triển TNGDM tại Việt Nam Tại Việt Nam đã có những hoạt động về TNGDM như sau: - Chương trìnhTài nguyên giáo dục mở Việt Nam được hỗ trợ bởi Vietnam Foundation. Tiền thân của chương trình này là VOCW năm 2005, do Bộ giáo dục đào tạo phối hợp với VEF và VAFC, đến năm 2008 đổi thành VOER. Hiện tại VOER đã xây dựng được 22.171 tài liệu, 518 tuyển tập từ 8.372 tác giả. 3Bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới của QS năm 2016. rankings/world-university-rankings/2016 4 Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dục
- - Năm 2012Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì Xây dựng cuốn tài liệu hướng dẫn phát triển TNGDM cho các trường đại học Việt Nam. Tuy nhiên đến nay tài liệu này chưa được chính thức xuất bản. - Chường trình OER@University Roadshow 2016 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở (RDOT) - Bộ Khoa học và Công nghệ, Khoa Thông tin – Thư viện (FLIS) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chương trình học liệu mở Viet Nam cùng với liên chi hội các trường đại học phía Bắc (NALA) và phía Nam (VILASAL) phối hợp tổ chức giảng dạy cho cán bộ thư viện và giảng viên của các trường đại học trong cả nước. - Hội thảo khoa học về TNGDM. Khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với RDOT, NALA VFOSSA và UNESCO tổ 2 hội thảo quốc tế về TNGDM.
- Phần 2: Kết quả khảo sát tài nguyên giáo dục mở tại các trƣờng đại học việt nam 1. Nhận thức và hiểu biết về Tài nguyên giáo dục mở Khảo sát giảng viên, cán bộ thư viện và sinh viên cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong nhận thức và sự hiểu biết về TNGDM. Trong khi cán bộ giảng dạy và cán bộ thư viện có mức độ quan tâm khá lớn tới TNGDM thì số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ sinh viên đã có tìm hiểu và nhận thức về TNGDM chưa cao. Cụ thể, có gần68% giảng viên và trên 50% cán bộ thư viện cho rằng đã biết về sự tồn tại của TNGDM trước khi có cuộc điều tra, trong khi con số này của sinh viên là 34% (đồng ý và rất đồng ý với mệnh đề được hỏi). Đáng chú ý, tuy có tới gần 60% giảng viên và trên 36% cán bộ thư viện đã có hiểu biết về vấn đề này nhưng tỷ lệ người hiểu được vấn đề giấy phép sử dụng TNGDM lại chưa cao (40% giảng viên và 35,4% cán bộ thư viện tán thành và rất tán thành đã hiểu khái niệm giấy phép sử dụng mở trước khi tham gia cuộc điều tra). Điều này lý giải cho thực tế phát triển TNGDM ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, dù nhu cầu và nhận thức của các bên liên quan là rất đáng kể (xem Bảng 1, 2 và 3) Ở khía cạnh trải nghiệm thực tế về TNGDM, có mộttỷ lệ không cao giảng viên và cán bộ thư viện (sau khi nắm được khái niệm về TNGDM của UNESCO cung cấp tại bảng hỏi) cho rằng đã tham gia vào một số dự án liên quan đến TNGDM. Trong số 178 giảng viên trả lời, có 19,2% tán thành và 3% tán thành câu hỏi cho rằng “Tôi đã tham gia vào một số dự án có liên quan đến TNGDM”, con số tương tự đối với cán bộ thư viện lần lượt là 12,1% và 2,8% (trong tổng số 215 người trả lời). Điều này cho thấy sự sẵn sàng tham gia và kinh nghiệm sẵn có của 2 đối tượng chính tạo ra TNGDM là còn khá hạn chế, đòi hỏi các kế hoạch truyền thông hiệu quả, các khóa bồi dưỡng nâng cao nhận thức có tính hệ thống và tạo cơ hội trải nghiệm thực tế cho các bên liên quan. Bảng 1. Nhận thức của của giảng viên về TNGDM Rất Không Không Tán Rất tán không tán ý kiến thành thành Các khía cạnh nhận thức tán thành thành Tôi đã biết về sự tồn tại của OERs/OCW trước 10.7% 8.4% 12.9% 40.4% 27.5% khi tham gia cuộc điều tra này Tôi đã hiểu về khái niệm của OERs/OCW trước 13.5% 9.6% 20.2% 40.4% 16.3% khi tham gia cuộc điều tra này Tôi đã hiểu khái niệm về giấy phép sử dụng 18.9% 14.9% 25.1% 34.3% 6.9% mở( ví dụ Creative Commons) Tôi đã tham gia vào một số dự án có liên quan 35.9% 19.8% 22.2% 19.2% 3.0% đến OERs Theo tôi, chất lượng khoa học của học liệu mở 4.0% 5.7% 38.6% 40.3% 11.4% là đáng tin cậy Tất cả những tài liệu truy cập mở (open access) 7.4% 13.1% 30.7% 37.5% 11.4% và miễn phí được coi là OERs Bảng 2. Nhận thức của cán bộ thư viện về TNGDM
- Rất Không Không Tán Rất tán không tán ý kiến thành thành Các khía cạnh nhận thức tán thành thành Tôi đã biết về sự tồn tại của OERs/OCW trước 8.8% 16.3% 25.6% 40.5% 8.8% khi tham gia cuộc điều tra này Tôi đã hiểu về khái niệm của OERs/OCW trước 9.3% 22.0% 32.6% 29.5% 6.6% khi tham gia cuộc điều tra này Tôi đã hiểu khái niệm về giấy phép sử dụng 10.8% 22.9% 30.9% 32.3% 3.1% mở( ví dụ Creative Commons) Tôi đã tham gia vào một số dự án có liên quan 30.2% 31.2% 23.7% 12.1% 2.8% đến OERs Theo tôi, chất lượng khoa học của học liệu mở 1.8% 10.0% 39.7% 35.2% 13.2% là đáng tin cậy Tất cả những tài liệu truy cập mở (open access) 10.1% 23.0% 30.4% 28.1% 8.3% và miễn phí được coi là OERs Đối với sinh viên, do chưa có nhiều cơ hội trải nghiệm sử dụng TNGDM (dù có nhu cầu và sự hiểu biết nhất định), nên cách hiểu về nội hàm TNGDM của nhóm này cũng chưa nhất quán. Có gần 45% ý kiến (trên tổng số 190 người trả lời) rất đồng ý và đồng ý với ý kiến cho rằng tất cả những tài liệu truy cập mở (open access) và miễn phí được coi là OERs, gần 30% không có ý kiến đối với mệnh đề này, số còn lại (trên 1/3 tổng số câu trả lời) phản đối với cách hiểu nêu trên (xem Bảng 3). Như vậy, đây rõ ràng là đối tượng cần được nâng cao nhận thức về TNGDM và những vấn đề liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên quan trọng này. Bảng 3. Nhận thức của của sinh viên về TNGDM Rất Không Không Tán Rất tán không tán ý kiến thành thành Các khía cạnh nhận thức tán thành thành Tôi đã biết về sự tồn tại của OERs/OCW trước 24.1% 22.5% 19.4% 23.6% 10.5% khi tham gia cuộc điều tra này Tôi đã hiểu về khái niệm của OERs/OCW 23.8% 31.2% 20.1% 19.6% 5.3% trước khi tham gia cuộc điều tra này Tôi đã hiểu khái niệm về giấy phép sử dụng 23.4% 32.4% 26.1% 14.9% 3.2% mở( ví dụ Creative Commons) Tất cả những tài liệu truy cập mở (open 14.8% 13.8% 29.1% 29.1% 13.2% access) và miễn phí được coi là OERs 2. Sử dụng, tạo lậpvà chia sẻ Tài nguyên giáo dục mở và tài liệu số 2.1. Về sử dụng Tài nguyên giáo dục mở Về tổng thể, mức độ tích cực của việc sử dụng TNGDM cho mục đích đào tạo và học tập là khá cao. Giảng viên, sinh viên đã khai thác TTGDM như một trong những nguồn học liệu quan trọng. Đối với giảng viên, việc dùng TNGDM cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng là trên 48% (tuy con số tán đồng với điều này có tổng là 23,3%,
- gần 30% không có ý kiến). Tuy coi trọng TNGDM nhưng tỷ lệ giảng viên có khai thác học liệu từ các dự án quốc tế như OpenCourseWare; Commonwealth of Learning, hay các dự án của Việt Nam như Vietnam Open Education resources còn khá khiêm tốn, với tổng lần lượt là 29% và 21%. Có lẽ do chưa áp dụng thường xuyên TNGDM và chưa thấy hết được giá trị của nguồn học liệu quan trọng này nên tỷ lệ giảng viên thường xuyên giới thiệu TNGDM cho sinh viên sử dụng là khá thấp, chỉ 24,6% (xem Bảng 4) Bảng 4. Việc sử dụng TNGDM của giảng viên Không Tán Rất Không ý Rất tán tán thành không tán kiến thành Sử dụng tài nguyên giáo dục mở thành thành Tôi thường sử dụng OERs cho việc biên 12.8% 10.5% 28.5% 38.4% 9.9% soạn giáo trình, bài giảng Tôi luôn khuyến khích sinh viên khai thác 7.5% 8.1% 22.0% 41.6% 20.8% OERs phục vụ học tập của họ Tôi thường xuyên khai thác OERs từ một 16.6% 17.8% 36.7% 23.7% 5.3% số dự án OERs quốc tế như: OpenCourseWare; Commonwealth of Learning (COL) Tôi thường xuyên khai thác OERs từ 19.8% 23.4% 35.9% 15.0% 6.0% những dự án Vietnam Open Education resources (VOER, địa chỉ trang website tại Tôi đã giới thiệu /chia sẻ một số nguồn 12.3% 12.3% 26.3% 38.6% 10.5% OERs cho đồng nghiệp hoặc sinh viên Tôi chưa bao giờ sử dụng OER cho việc 29.3% 21.3% 22.0% 18.3% 9.1% giảng dạy của tôi Với sinh viên, tỷ lệ người quan tâm sử dụng TNGDM cho mục đích học tập tương đối khả quan, đặc biệt tỷ lệ sinh viên đã từng khai thác TNGDM là khá ấn tượng, chiếm 49,8% tổng số sinh viên (dùtỷ lệ thường xuyên truy cập tới website của dự án VOER không cao (13,8%) (xem bảng 5). Tuy có tới trên 33% sinh viên không quan tâm nhiều đến việc sử dụng loại hình học liệu này, nhưng trong bối cảnh TNGDM còn đang manh nha phát triển ở Việt Nam, tín hiệu trên vẫn hết sức tích cực, do xuất phát từ khối người dùng năng động (sinh viên). Đây là điều rất đáng quan tâm và có thể tạo tiền đề cho phát triển TNGDM nói chung tại Việt Nam.
- Bảng 5. Việc sử dụng TNGDM của sinh viên Rất Không Không Tán Rất tán không tán ý kiến thành thành Sử dụng tài nguyên giáo dục mở tán thành thành Tôi đã từng sử dụng OERs cho việc học tập 13.0% 21.2% 16.1% 30.1% 19.7% của tôi Tôi thường xuyên khai thác OERs từ những 28.6% 34.4% 23.3% 10.6% 3.2% dự án Vietnam Open Education resources (VOER, dịa chỉ trang website tại 2.2. Vấn đề sử dụng tài liệu số Tài liệu số là một dạng thức tài liệu dễ phân bổ, chia sẻ và quản lý. Một phần lớn TNGDM là dưới dạng số. Văn hóa và cách thức sử dụng tài liệu số sẽ có tác động không nhỏ đến cách thức sử dụng TNGDM. Kết quả điều tra cho thấy tính chủ động của việc sử dụng tài liệu số trong hoạt động giảng dạy của giảng viên là khá cao. Có tới46,3% và 24% số giảng viên lần lượt rất đồng thuận và đồng thuận với nội dung “Tôi thường giới thiệu các tài liệu trực tuyến/gửitài liệu tham khảo dạng điện tử cho sinh viên” (xem Bảng 6). Về phương thức tương tác điện tử, trực tuyến với sinh viên, có tổng số 40,9% số giảng viên được hỏi thường xuyên giao tiếp với sinh viên qua website môn học và các môi trường trực tuyến. Số giảng viên dùng các máy tìm tin trực tuyến để phục vụ tìm tài liệu số cũng rất ấn tượng (77,8%). Những con số trên cho thấy tài liệu số đang dần thực sự trở thành ưu tiên sử dụng của giảng viên trong bối cảnh hiện nay. Đây là điều hết sức thuận lợi trong việc phát triển TNGDM tại Việt Nam. Bảng 6. Tình hình sử dụng tài liệu số của giảng viên Rất Không Không Tán Rất tán không tán ý kiến thành thành Sử dụng tài liệu số tán thành thành Tôi thường giới thiệu các tài liệu trực 3.4% 4.6% 21.7% 46.3% 24.0% tuyến/gửitài liệu tham khảo dạng điện tử cho sinh viên Tôi chủ yếu giao tiếp với sinh viên thông 9.5% 17.2% 32.5% 30.8% 10.1% qua website môn học, môi trường trực tuyến Tôi gặp khó khăn trong việc sử dụng tài liệu 20.4% 22.2% 37.1% 13.8% 6.6% số (không biết tổ chức như thế nào trên máy tính cá nhân, thiếu phần mềm chuyên dụng, internet chậm, ) Tôi thường dùng các máy tìm kiếm (ví dụ 2.3% 4.1% 15.8% 42.7% 35.1% như google) để tìm các tài liệu số Tôi thường sử dụng tài liệu số trong thư 6.5% 14.1% 26.5% 34.1% 18.8% viện/được thư viện giới thiệu
- Đối với sinh viên, các nguồn tài liệu số bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu thông tin. Các tài liệu số do giáo viên cung cấp, thư viện cung cấp, có sẵn trên Internet hay các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về cơ bản đã thỏa mãn được nhiều nhu cầu người dùng. Tỷ lệ sinh viên hài lòng với chất lượng và khả năng đáp ứng của các nguồn tin này lần lượt là 50,3%, 45,2%, 65,6 và 54,4% (xem Bảng 7). Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là trung bình trên dưới 30% sinh viên cảm thấy thỏa mãn ở mức độ bình thường, và khoảng 10-15% cảm thấy không thỏa mãn. Có thể thấy, tuy đã có nhiều tác động tích cực đối với hoạt động học tập của sinh viên, nhưng nguồn tài liệu số cần được tiếp cận hiệu quả hơn, đáp ứng cao hơn nhu cầu của sinh viên. Bảng 7. Mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin của các loại nguồn tài liệu điện tử Mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin Rất Chưa Bình Thỏa Rất thỏa không thỏa mãn thường mãn mãn thỏa mãn Nguồn tài liệu do giáo viên cung cấp 5.2% 9.3% 35.2% 34.2% 16.1% Nguồn tài liệu từ thư viện 5.9% 10.6% 38.3% 35.1% 10.1% Nguồn tài liệu từ internet 2.1% 7.9% 24.3% 44.4% 21.2% Nguồn tài liệu từ các cơ sở dữ liệu 2.6% 7.9% 35.1% 40.3% 14.1% chuyên ngành Tính chủ động của sinh viên khi tiếp cận các nguồn tin điện tử nhìn chung khá cao, mức độ thường xuyên sử dụng máy tìm tin, OPAC của thư viện, cơ sở dữ liệu chuyên ngành cho việc khai thác thông tin là còn rất đáng kể (xem Bảng 8). Sinh viên ưu tiên nhất là sử dụng các máy tìm tin trên Internet (trên 89%). Tuy nhiên, số sinh viên gặp nhiều khó khăn khi tìm tài liệu phục vụ học tập là khá lớn (42,6% tổng số sinh viên), vàgần 40% không biết các tiêu chí đánh giá thông tin sau khi tìm được qua Internet (xem bảng 9). Đây là những lợi thế, nhưng cũng là thách thức đáng kể trong việc triển khai các dự án TNGDM bằng phương pháp số hóa. Bảng 8. Các phương tiện tìm kiếm thông tin của sinh viên Không Tán Rất Không ý Rất tán tán thành thành Các phương tiện tìm kiếm thông tin không kiến thành tán thành Tôi thường xuyên tìm kiếm trên 1.0% 1.0% 6.8% 35.9% 55.2% internet ( thông qua Google, Yahoo, Bing, ) Tôi thường xuyên tìm kiếm trong thư 4.8% 14.4% 33.0% 36.7% 11.2% viện Tôi thường xuyênhỏi mượn/ tư vấn từ 2.7% 10.1% 36.2% 38.8% 12.2% thầy cô, bạn bè về tài liệu mà tôi cần Tôi thường xuyên tìm ở các nhà sách 5.3% 15.5% 32.6% 36.9% 9.6% và thường mua tài liệu học tập Tôi thường tìm kiếm ở các cơ sở dữ 3.3% 13.1% 35.5% 37.7% 10.4% liệu chuyên ngành Tôi thường gặp khó khăn khi tìm tài 6.4% 19.7% 31.4% 27.7% 14.9% liệu mình cần cho việc học tập
- Với cách tiếp cận chủ động như vậy, sinh viên cũng tỏ ra chủ động trong khai thác và sử dụng thông tin số phục vụ học tập của sinh viên (xem Bảng 9), dù họ chưa được trang bị kỹ năng và chưa có ý thức cao trong thẩm định và đánh giá chất lượng nguồn thông tin số mà họ tiếp cận. Tổng số 60,6% sinh viên thừa nhận phần lớn tài liệu dùng cho học tập là lấy về từ Internet Tuy nhiên, những tài liệu thu thập được từ Internet không được đa số sinh viên quan tâm đến việc thẩm định, đánh giá trước khi sử dụng. Cụ thể, có 30,7% và 9,5% sinh viên lần lượt rất đồng ý và đồng ý với với việc “không quan tâm lắm đến nguồn, tác giả của tài liệu tìm được trên internet, miễn là phù hợp với nôi dung mà tôi cần sử dụng”. Tương tự, như trên đã nói, trên 40% không biết các tiêu chí đánh giá chất lượng và độ tin cậy của thông tin và chỉ khoảng 40% sinh viên quan tâm nhiều đến việc sử dụng tài liệu từ các thư viện. Bảng 9. Việc sử dụng học liệu số phục vụ học tập của sinh viên Rất Không Không ý Tán Rất tán Mức độ sử dụng học liệu số không tán thành kiến thành thành tán thành Phần lớn tài liệu tôi sử dụng cho việc 0.5% 7.8% 31.1% 37.3% 23.3% học tập của tôi là từ trên internet Phần lớn tài liệu tôi sử dụng cho việc 5.9% 18.7% 36.4% 29.4% 9.6% học tập của tôi là từ thư viện Tôi thường không quan tâm lắm đến 9.5% 22.2% 28.0% 30.7% 9.5% nguồn, tác giả của tài liệu tìm được trên internet, miễn là phù hợp với nôi dung mà tôi cần sử dụng Tôi không biết cách/tiêu chí đánh giá 7.0% 24.1% 28.9% 27.3% 12.8% chất lượng và độ tin cậy của một tài liệu trên internet Tôi chỉ tìm kiếm và đọc tài liệu khi ôn 9.5% 22.2% 29.6% 30.7% 7.9% tập chuẩn bị cho kỳ thi Tôi thích dùng tài liệu số/tài liệu trực 10.2% 22.6% 39.2% 21.0% 7.0% tuyến hơn là tài liệu in trên giấy Thường thì tôi chỉ sử dụng bài giảng 5.4% 16.1% 26.3% 38.7% 13.4% của thầy/cô trên lớp để ôn tập và làm các bài kiểm tra Sinh viên cũng không thực sự chủ động trong tiếp cận và tìm kiếm thông tin. Gần 40% tổng số sinh viên chỉ tìm và đọc tài liệu khi ôn tập chuẩn bị thi và 52,1% sinh viên coi việc dùng bài giảng của thầy để ôn tập và làm bài kiểm tra là đủ. Những con số trên cho thấy cần có những giải pháp về mặt phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá để nâng cao hơn tính chủ động của người học trong tiếp cận và xử lý thông tin. Đây cũng là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch cho phát triển TNGDM tại Việt Nam.
- 2.3. Vấn đề tạo lập và chia sẻ Tài nguyên giáo dục mở Tạo lập và chia sẻ TNGDM là một vấn đề cần có sự tham gia của nhiều bên liên quan, đặc biệt là giảng viên và cán bộ thư viện. Kết quả khảo sát cho thấy đã có những tín hiệu tích cực về sự tham gia của các bên liên quan, mức độ sẵn sàng nói chung của cộng đồng là khá ấn tượng (xem Bảng 10). Có thể xem đây là những tín hiệu tích cực cho việc phát triển TNGDM tại Việt Nam. Đối với giảng viên, sự tham gia ở mức độ chia sẻ và khuyến khích sinh viên sử dụng TNGDM là rất cao. Có tới 86,4% số giảng viên khẳng định sẵn sàng chia sẻ và khuyến khích cộng đồng sử dụng học liệu mà mình khai thác được. Sự sẵn sàng tái sử dụng tài liệu hoặc tùy biến đề sử dụng các tài liệu này cũng rất cao (73%) và ý thức về việc tạo ra một phiên bản mới trên cơ sở các bản đang có là đáng kể (gần 50%). Tuy nhiên, liên quan đến sở hữu trí tuệ cá nhân, mức độ sẵn sàng chia sẻ có phần giảm xuống. Có đến 48,1% giảng viên chưa sẵn sàng chia sẻ tài nguyên do mình tạo ra, trên 30% không có ý kiến gì về việc này. Đa phần giảng viên chỉ đồng ý chia sẻ một phần học liệu của mình (77,2%). Với giả thuyết đưa ra là đã có hệ thống pháp luật đủ mạnh để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tỷ lệ giảng viên nhất trí tham gia vào việc tạo dựng nền tảng TNGDM là rất đáng kể (74,7%), trong khi số phản đổi chỉ chiếm trên 4%. Như vậy, có thể thấy, nếu vấn đề sở hữu trí tuệ được làm rõ và được đảm bảo, việc khuyến khích giảng viên tham gia tạo dựng TNGDM là khả thi và nhận được sự đồng thuận cao. Bảng 10. Mức độ sẵn sàng tham gia tạo lập và chia sẻ TNGDM của giảng viên Rất Không Không ý Tán Rất tán Mức độ sẵn sằng tham gia tạo lập và chia không tán kiến thành thành sẻ TNGDM tán thành thành Tôi sẽ chia sẻ và khuyến khích sinh viên/đồng nghiệp độc tài liệu đó 1.1% 3.4% 9.1% 55.1% 31.3% Tôi sẽ tái sử dụng hoặc tuỳ biến tài liệu đó để thích hợp nó vào giáo trình của tôi 2.9% 5.2% 19.0% 49.4% 23.6% Tôi sẽ tuỳ biến, bổ sung và xuất bản một phiên bản mới 6.9% 11.0% 32.9% 32.9% 16.2% Tôi chưa sẵn sàng để chia sẻ những học liệu và giáo trình của tôi 9.8% 16.8% 30.1% 32.9% 10.4% Tôi sẵn sàng chia sẻ một phần một số học liệu của tôi 1.8% 4.1% 17.0% 59.1% 18.1% Tôi sẵn sàng chia sẻ toàn bộ học liệu của mình với cộng đồng 3.5% 7.6% 25.7% 47.4% 15.8% Tôi sẵn sàng chia sẻ những học liệu của tôi nếu cơ quan chủ quản yêu cầu 2.4% 2.9% 24.1% 50.6% 20.0% Tôi sẵn sàng chia sẻ học liệu nếu hệ 1.2% 2.9% 21.2% 45.9% 28.8%
- thống pháp luật có chế tài đủ mạnh để đảm bảo quyền lợi của tôi/tác giả Đối với cán bộ thư viện, mức độ sẵn sàng cũng rất cao (xem Bảng 11). Tỷ lệ đồng thuận tham gia vào quá trình chia sẻ và khuyến khích sử dụng TNGDM là khá ấn tượng. Có tới 80% số cán bộ thư viện nhất trí cao đối với việc chia sẻ. Việc tạo dựng học liệu mở cũng được 57,5% tổng số cán bộ thư viện được hỏi bày tỏ quan điểm sẵn sàng tham gia (số phản đốilà 11,6% và số không có ý kiến là 30,8%). Bảng 11. Mức độ sẵn sàng tham gia tạo lập và chia sẻ TNGDM của cán bộ thư viện Rất Không Không ý Tán Rất tán Mức độ sẵn sằng tham gia tạo lập và không tán thành kiến thành thành chia sẻ TNGDM tán thành Chắc chắn tôi sẽ chia sẻ và khuyến 0.9% 3.6% 15.5% 47.3% 32.7% khích bạn đọc sử dụng tài liệu đó Tôi sẽ tuỳ biến, bổ sung và xuất bản 2.3% 9.3% 30.8% 44.9% 12.6% một phiên bản mới Tuy sự sẵn sàng trực tiếp tham gia tạo dựng TNGDM cao, tỷ lệ cán bộ thư viện chủ động chia sẻ, giới thiệu TNGDM tới bạn đọc thư viện chưa thực sự cao. Tỷ lệ trung bình dưới 30% cán bộ thư viện đã tham gia vào các quy trình khác nhau của việc tạo lập nền tảng TNGDM tại Việt Nam (xem bảng 12) cho thấy kinh nghiệm của đội ngũ này trong hoạt động phát triển TNGDM tại Việt Nam là chưa cao. Đặc biện, tỷ lệ hưởng ứng phối hợp với giảng viên trong thu thập và xây dựng nền tảng TNGDM cho trường đại học là khá thấp (dưới 20%), dẫn tới những khó khăn không nhỏ phía trước đối với hoạt động đòi hỏi tính tương tác và sự phối hợp cao như phát triển TNGDM. Bảng 12. Sự tham gia chia sẻ và tạo dựng TNGDM của cán bộ thư viện Rất Không Không ý Tán Rất tán Sự tham gia chia sẻ và tạo dựng không tán kiến thành thành TNGDM tán thành thành 17.2% 22.6% 27.6% 25.3% 7.2% Tôi đã từng chia sẻ/ giới thiệu OERs với bạn đọc thư viện 17.5% 28.3% 38.7% 12.3% 3.3% Tôi thường xuyên khai thác OERs từ một số dự án OERs quốc tế như: OpenCourseWare; Commonwealth of Learning (COL) 16.1% 21.1% 31.2% 25.2% 6.4% Tôi chưa tùng thu thập và chia sẻ/ giới thiệu OER tới bạn đọc 19.1% 33.0% 28.4% 14.9% 4.7% Tôi đã từng phối hợp với giảng viên để thu thập và xây dựng OERs 3. Vấn đề bản quyền, giấy phép Đây là một trong những vấn đề lớn nhất, có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới cả việc tạo lập, chia sẻ và sử dụng TNGDM. Với vốn hiểu biết về TNGDM còn nhiều hạn chế (như trình bày phía trên), các nhóm giảng viên, sinh viên và cán bộ thư viện cũng nhận thức và trải nghiệm vấn đề bản quyền, cấp phép TNGDM ở một mức độ sơ khởi và nhiều thách thức.x
- Về vấn đề giấy phép sử dụng, cần giải quyết một số vấn đề quan trọng về mặt nhận thức. Cụ thể, mặc dù có 19,5% và 33,9% ý kiến của giảng viên là rất đồng ý và đồng ý với mệnh đề “Tôi luôn quan tâm đến giấy phép sử dụng đối với bất kỳ tài liệu nào tôi sử dụng”, nhưng số người không quan tâm (32,8%) và phản đối vấn đề này cũng không phải là nhỏ. Điều này cũng lý giải cho tỷ lệ gần 20% giảng viên “không tin tưởng hệ thống giấy phép như Creative Commons”, chỉ gần 25% giảng viên sử dụng giấy phép Creative Commons khi chia sẻhọc liệu, và tới hơn 40% giảng viên chỉ quan tâm đến vấn đề bản quyền khi chia sẻ tài liệu với người khác(xem Bảng 13). Về phía cán bộ thư viện, ý thức về giấy phép sử dụng TNGDM cũng còn nhiều hạn chế, có tới trên20% tổng số người được hỏi thể hiện sự quan tâm cao đến vấn đề giấy phép và vấn đề bản quyền khi chia sẻ học liệu (xem bảng 14). Bảng 13. Sự quan tâm của giảng viên đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng TNGDM Không Tán Sự quan tâm của giảng viên đối với Rất Không ý Rất tán tán thành thành vấn đề bản quyền và giấy phép sử không kiến thành dụng TNGDM tán thành Tôi luôn quan tâm đến giấy phép sử 5.7% 8.0% 32.8% 33.9% 19.5% dụng đối với bất kỳ tài liệu nào tôi sử dụng Tôi trích dẫn đầy đủ khi sử dụng OERs 4.7% 2.9% 20.5% 42.7% 29.2% cũng như các tài liệu khác Tôi luôn nhắc nhở sinh viên về vấn đề 2.9% 3.5% 19.7% 40.5% 33.5% đạo văn trong các hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học Tôi đã từng chia sẻ học liệu của tôi 18.3% 14.8% 42.0% 16.6% 8.3% kèm theo giấy phép Creative Commons Tôi chỉ quan tâm đến vấn đề bản quyền 7.1% 14.3% 38.1% 30.4% 10.1% khi chia sẻ tài liệu với người khác Tôi không tin tưởng hệ thống giấy 15.0% 21.6% 43.7% 18.0% 1.8% phép như Creative Commons Tôi sẽ tìm hiểu giấy phép và gắn giấy 4.7% 9.9% 33.3% 38.6% 13.5% phép vào tài liệu của tôi khi tôi chia sẻ Về vấn đề đạo đức sử dụng và bản quyền trong tiếp cận TNGDM, các nhóm người dùng liên quan đã có sự hiểu biết và trải nghiệm tương đối phù hợp. Mặc dù có 70% giảng viên luôn lưu ý sinh viên về vấn đề đạo văn trong học tập và nghiên cứu khoa học (xem Bảng 13), nhưng có tới 31,6 % sinh viên ủng hộ ý kiến cho rằng không cần trích dẫn khi sử dụng tài liệu miễn phí, có 55,3% sinh viên đồng ý cho rằng không để ý lắm đến vấn đề bản quyền, giấy phép khi sử dụng tài liệu trên mạngvà 45,7% sinh viên cho rằng chưa chú ý lắm đến các vấn đề đạo văn và trích dẫn trong quá trình học tập (xem Bảng 15). Có thể thấy nhận thức và hiểu biết về bản quyền, giấy phép liên quan đến sử dụng TNGDM đang là vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Hai đối tượng sử dụng chính (giảng viên và sinh viên) chưa nhận thức và trải nghiệm một cách đầy đủ theo đúng bản chất
- và các yêu cầu về pháp luật của việc sử dụng TNGDM phục vụ cho các hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Bảng 14. Sự quan tâm của cán bộ thư viện đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng TNGDM Không Tán Rất Không Rất tán thành Sự quan tâm của cán bộ thư viện tán thành không ý kiến đối với vấn đề bản quyền và giấy thành tán phép sử dụng TNGDM thành Tôi luôn quan tâm đến giấy phép khi 4.1% 5.0% 24.8% 45.5% 20.7% thu thập và chia sẻ các nguồn học liệu Tôi đã từng chia sẻ học liệu của tôi 19.0% 25.5% 37.5% 13.9% 4.2% kèm theo giấy phép Creative Commons Tôi không tin tưởng hệ thống giấy 13.7% 27.4% 38.7% 17.9% 2.4% phép như Creative Commons Tôi luôn quan tâm đến bản quyền khi 4.5% 4.5% 21.4% 45.9% 23.6% chia sẻ các học liệu Bảng 15. Sự quan tâm của sinh viên đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng TNGDM Sự quan tâm của sinh viên đối với vấn Rất Không Không ý Tán Rất tán đề bản quyền và giấy phép sử dụng không tán thành kiến thành thành TNGDM tán thành Tôi không để ý lắm đến vấn đề bản 6.8% 11.1% 26.8% 37.9% 17.4% quyền, giấy phép khi sử dụng tài liệu trên mạng Khi chia sẻ, in ấn, photo tài liệu tôi thực 3.7% 11.6% 26.8% 39.5% 18.4% sự chưa quan tâm đến vấn đề bản quyền Tôi chưa chú ý lắm đến các vấn đề đạo 8.1% 19.4% 26.9% 36.6% 9.1% văn và trích dẫn trong quá trình học tập Theo tôi sử dụng các nguồn thông 22.2% 27.6% 27.6% 14.1% 8.6% tin/tài liệu miễn phí thì không cần trích dẫn Theo tôi đã là tài liệu miễn phí và truy 21.1% 23.2% 24.2% 20.0% 11.6% cập mở thì không cần quan tâm đến bản quyền/giấy phép nữa 4. Chính sách vềTài nguyên giáo dục mở Khảo sát cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách về phát triển tài nguyên giáo dục mở từ nhiều cấp: cấp Bộ, cấp trường và tại chính các thư viện.Tuy nhiên thực trạng xây dựng và triển khai các chính sách về TNGDM nói chung còn hạn chế, chưa chủ động và đồng bộ. Một điểm đáng chú ý khác là vai trò của giảng viên và các nhà nghiên cứu trong việc chia sẻ loại tài nguyên này dường như đang bị đánh giá thấp.
- Bảng 16. Sự cần thiết phải có chính sách cần có dành cho TNGDM theo đánh giá của giảng viên và nhà nghiên cứu Rất Không Không Tán Rất tán không tán ý kiến thành thành Tầm quan trọng của các chính sách tán thành thành Nhà trường cần tham gia vào các dự án phát 2.3% 2.9% 17.2% 37.4% 40.2% triển OERs của cộng đồng Nhà trường cần có kế hoạch truyền thông đối 1.2% 1.7% 17.3% 43.9% 35.8% với việc sử dụng OERs Nhà trường cần có bộ phận chuyên trách hỗ 1.2% 3.5% 18.6% 40.1% 36.6% trợ giảng viên chia sẻ OERs Việc chia sẻ OERs nên đưa thành một phần 3.5% 5.8% 36.3% 33.9% 20.5% nhiệm vụ của giảng viên Cần có một chương trình quốc gia về OERs 1.8% 3% 23.1% 47.9% 24.3% Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng chính 1.2% 2.9% 22.9% 44.1% 28.8% sách và chỉ đạo các trường phát triển nội dung OERs Bộ Khoa học và Công nghệ cần tham gia phát 1.2% 3.6% 17.8% 45.6% 32% triển và hỗ trợ các trường về hạ tầng và giải pháp công nghệ cho OERs Kết quả khảo sát cho thấy các giảng viên, nhà nghiên cứu trong trường đại học nhìn chung đều đề cao các chính sách cần có cho tài nguyên giáo dục mở. Đặc biệt, có tới 40.2% số người được hỏi đồng tình ở mức cao nhất (rất tán thành) với việc các trường đại học cần tham gia vào các dự án phát triển tài nguyên giáo dục mở cùng cộng đồng. Các chính sách về truyền thông, bộ phận chuyên trách, chương trình quốc gia, yêu cầu đối với vai trò của Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ đềuđược phần lớn nhà nghiên cứu ủng hộ (hơn 40% tán thành và khoảng 30% rất tán thành). Tuy nhiên, khi bàn đến vai trò của chính các giảng viên trong vấn đề về chính sách, chỉ có lần lượt 20.5% (rất tán thành) và 33.9% (tán thành) cho rằng việc chia sẻ tài nguyên giáo dục mở cần trở thành một phần nhiệm vụ của họ, trong khi đó, có tới 36.3% lưỡng lự giữa việc đồng tình và phản đối và 5.8% không đồng tình với ý kiến này. Phân tích số liệu từ các giảng viên và nhà nghiên cứu còn cho thấy một phát hiện thú vị: trong số 51 phiếu trả lời khôngcoi việc chia sẻ TNGDM là một nhiệm vụ của giảng viên(bao gồm cả mức rất không tán thành, không tán thành và không có ý kiến), có tới 39 phiếu cho rằng việc giảng viên chưa quan tâm tới chia sẻ nội dung TNGDM là một rào cản đối với các trường đại học trong phát triển tài nguyên này. Các nhà nghiên cứu và giảng viên ở các trường đại học dường như đang tự đặt mình ngoài cuộc? Bảng 17. Mức độ tán thành của cán bộ thư viện về chính sách cần có cho TNGDM Rất Không Không ý Tán Rất tán không tán kiến thành thành Tầm quan trọng của các chính sách tán thành thành
- Nhà trường cần tham gia vào các dự án phát triển OERs của cộng đồng 0.5% 1.8% 16.7% 48.6% 32.4% Nhà trường cần có kế hoạch truyền thông đối với việc sử dụng OERs 0.5% 4.5% 16.4% 43.2% 35.5% Nhà trường cần có bộ phận chuyên trách hỗ trợ giảng viên chia sẻ OERs 0.5% 3.7% 23.4% 50% 22.5% Việc chia sẻ OERs nên đưa thành một phần nhiệm vụ của giảng viên 0.5% 2.8% 26.4% 38% 32.4% Cần có một chương trình quốc gia về OERs 0.9% 3.2% 18.2% 42.7% 35% Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng chính sách và chỉ đạo các trường phát triển nội dung OERs 0.5% 4.1% 19.7% 39.4% 36.2% Bộ Khoa học và Công nghệ cần tham gia phát triển và hỗ trợ các trường về hạ tầng và giải pháp công nghệ cho OERs 0.9% 4.1% 20.5% 46.1% 28.3% Việc thu thập và chia sẻ OERs cần được đưa thành một nhiệm vụ của cán bộ thư viện 0.5% 1.8% 16.7% 48.6% 32.4% Kết quả tương tự cũng được thể hiện khi các câu hỏi này được đặt ra cho các cán bộ thư viện, khi các chính sách được nêu ra đều nhận được sự đồng tình với tỉ lệ cao (trên 70%). Các cán bộ thư viện cũng nhận thức khá rõ mối liên hệ giữa TNGDM với công việc của chính mình khi có tới 48.6% phiếu tán thành và 32.4% phiếu rất tán thành việc coi thu thập và chia sẻ tài nguyên giáo dục mở là nhiệm vụ của cán bộ thư viện. Tuy nhiên, số người lưỡng lự trong việc khẳng định nhiệm vụ của giảng viên trong chia sẻ nguồn tài nguyên này vẫn lớn nhất trong số các chính sách được liệt kê (26.4%). Bảng 18. Đánh giá của các nhà nghiên cứu về chính sách TNGDM Chính sánh về OER đang triển khai tại trường đại học Có Không Trường có chính sách về chia sẻ và nhập khẩu OERs 46.2% 53.8% Trường hiện có chính sách khuyến khích hoặc thúc đẩy phát triển và sử dụng OERs như là các tài nguyên học tập và nghiên cứu 50% 50% Trường có cơ sở vật chất để đào tạo và phát triển OERs 48.5% 51.5% Khi được hỏi về chính sách tài nguyên giáo dục mở tại chính cơ quan mình công tác, các giảng viên và nhà nghiên cứu cho ý kiến khác nhau rõ rệt. Các chính sách về chia sẻ và nhập khẩu tài nguyên giáo dục mở, khuyến khích phát triển và sử dụng tài nguyên giáo dục mở để học tập và nghiên cứu cũng như phát triển cơ sở vật chất phục vụ tài nguyên giáo dục mở đều được ghi nhận là có xuất hiện tại các trường đại học, nhưng cũng có rất nhiều (hơn 50%) giảng viên, nhà nghiên cứu cho rằng cơ quan mình chưa thực hiện các chính sách này.
- Bảng 19. Các chính sách của thư viện dành cho TNGDM Chính sách của thư viện về OER Có Không Thư viện có chính sách về chia sẻ và nhập khẩu OERs 35% 65% Thư viện hiện có chính sách khuyến khích hoặc thúc đẩy phát triển và sử dụng OERs như là các tài nguyên học tập và nghiên cứu 52.6% 47.4% Thư viện có cơ sở vật chất để đào tạo và phát triển OERs 57.3% 42.7% Tại các thư viện của các trường đại học, phần lớn cán bộ thư viện đều thừa nhận cơ quan mình hiện tại chưa có chính sách về chia sẻ và nhập khẩu tài nguyên giáo dục mở (65%). Trong khi đó, cơ sở vật chất để đào tạo và phát triển TNGDM và các chính sách thúc đẩy sử dụng OERs cho học tập và nghiên cứu đều được ghi nhận là có xuất hiện tại các thư viện đại học với tỉ lệ trên 50%. Phân tích số liệu cũng cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa các trường đại học ở miền Bắc và miền Nam trong chính sách chia sẻ, nhập khẩu và khuyến khích phát triển, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong khi điều kiện cơ sở vật chất được đánh giá khá giống nhau ở cả hai khu vực. 52.6% giảng viên và nhà nghiên cứu ở phía Bắc ghi nhận chính sách về chia sẻ và nhập khẩu TNGDM tại trường đại học của mình, nhiều hơn gấp đôi so với 23.5% tại các trường đại học phía Nam. Cũng ở phía Nam, chỉ có 25.6% cán bộ thư viện cho rằng cơ quan mình đang công tác có các chính sách về chia sẻ và nhập khẩu TNGDM, 42% cho rằng có chính sách về khuyến khích phát triển và sử dụng TNGDM trong nghiên cứu và học tập. Ở phía Bắc, số lượng cán bộ cho rằng thư viện mình có thực hiện các chính sách này lần lượt là 40.9% và 59.1%, nhiều hơn khoảng 15% so với phía Nam. Từ kết quả tham chiếu chéo này, có thể đánh giá tình hình triển khai các chính sách xoay quanh tài nguyên giáo dục mở của các trường đại học ở phía Bắc đang tỏ ra đầy đủ và hiệu quả hơn các trường đại học ở phía Nam. Bảng 20. Chính sách ảnh hưởng đến TNGDM Không Rất Không Tán Rất tán tán không ý kiến thành thành Các chính sách thành tán thành Các trường chưa nhận thấy lợi ích thực sự của OERs 1.8% 5.3% 15.2% 56.1% 21.6% Thiếu chính sách và chỉ đạo chung của Nhà nước 2.4% 4.7% 22.9% 47.1% 22.9% Thiếu chính sách của trường về phát triển OERs 1.8% 5.9% 24.5% 42.3% 25.5%
- Nghiên cứu chỉ ra hai nguyên nhân chính liên quan đến chính sách dẫn đến TNGDM chưa phát triển trong các trường đại học đó là: (1)ở cấp cơ sở, nhận thức về lợi ích của TNGDMtrong các trường đại học còn thấp và các trường chưa có chính sách cụ thể để phát triển nguồn tài nguyên này; (2) ở cấp quốc gia, thiếu sự chỉ đạo chung của Nhà nước trong việc đưa ra chính sách chung để hương dẫn và chỉ đạo các trường đại học phát triển TNGDM. Khoảng 75% người được hỏi cho rằng đây là những rào cản lớn đối với việc phát triển TNGDM trong các trường đại học Việt Nam. 5. Những rào cản phát triển Tài nguyên giáo dục mở Thống kê cho thấy nguyên nhân chủ yếu cản trở sự phát triển TNGDM ở Việt Nam xuất phát từ nhận thức thiếu sót về TNGDM, sự thiếu quan tâm và biện pháp khuyến khích chia sẻ TNGDM, kinh phí, và sự thiếu hụt về trang thiết bị phục vụ phát triển TNGDM. Trong số các nguyên nhân đưa ra, đa phần giảng viên cho rằng sự thiếu nhận thức về TNGDM là nguyên nhân chủ yếu nhất cản trở việc tạo lập và phát triển TNGDM (75,5% giảng viên). Con số tương tự (76,8%) của cán bộ thư viện thừa nhận điều này. Có thể nói, TNGDM vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam hiện nay, và việc truyền thông, đào tạo bồi dưỡng để nâng cao nhận thức về vấn đề này sẽ trở thành chìa khóa cho việc triển khai phát triển TNGDM tại Việt Nam. Bảng 21. Nhận thức của giảng viên về các rào cản đối với sự phát triển của TNGDM Rất Không Không ý Tán Rất tán Các rào cản đối với sự phát triển của không tán kiến thành thành TNGDM tán thành thành Thiếu nhận thức về OERs 2.9% 4.1% 17.4% 48.8% 26.7% Sợ vi phạm bản quyền 4.1% 5.8% 24.6% 46.2% 19.3% Nghi ngờ về tính hữu dụng/lợi ích thực sự 5.3% 8.2% 28.1% 47.4% 11.1% của OERs Có khả năng ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín 5.9% 10.0% 38.2% 38.8% 7.1% của người tạo lập OERs Thiếu sự quan tâm và biện pháp khuyến 2.0% 7.0% 20.0% 57.0% 14.0% khích chia sẻ OERs Thiếu sự hỗ trợ, cơ chế thưởng, đánh giá 4.1% 5.3% 24.9% 50.9% 14.8% và ghi nhận của Nhà trường Chính sách của trường về phát triển OERs 4.7% 6.5% 29.0% 46.2% 13.6% Bình luận/đánh giá từ người sử dụng 6.0% 8.4% 39.5% 38.9% 7.2% Thiếu các kỹ năng cần thiết về công nghệ, 3.6% 7.7% 23.8% 45.8% 19.0% kỹ thuật để xây dựng OER Thiếu thời gian 4.2% 11.3% 22.6% 45.2% 16.7% Thiếu trang thiết bị công nghệ (phần 4.2% 7.9% 21.2% 49.7% 17.0% cứng, phần mềm)
- Từ góc nhìn của cán bộ thư viện, cản trở lớn nhất trong các cản trở là vấn đề kinh phí (72,9% cán bộ thư viện thừa nhận điều này) và các rào cản pháp lý, quyền sở hữu, vấn đề bản quyền trong phát triển TNGDM (68,9%) (xem Bảng 17). Đây cũng là hai lo ngại xuất phát từ chính bản chất công việc của cán bộ thư viện, vốn dĩ cũng là hai vấn đề lớn của ngành thư viện Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Bảng 22. Nhận thức của CB thư viện về các rào cản đối với sự phát triển của TNGDM Rất Không Không ý Tán Rất tán không tán kiến thành thành Các rào cản tán thành thành Thiếu nhận thức về OERs của cộng đồng 1.8% 4.5% 25.1% 37.7% 30.9% Các rào cản pháp lý và quyền sở hữu, vấn 2.3% 4.5% 24.3% 43.7% 25.2% đề bản quyền Người sử dụng nghi ngờ về chất lượng 4.9% 5.4% 35.4% 39.9% 14.3% của OERs Giảng viên không/chưa quan tâm đến việc 1.6% 7.1% 33.1% 38.6% 19.7% chia sẻ nội dung OERs Thiếu chính sách của trường về phát triển 1.8% 5.9% 24.5% 42.3% 25.5% OERs Cán bộ thư viện thiếu các kỹ năng cần 1.8% 6.8% 29.3% 45.9% 16.2% thiết về công nghệ, kỹ thuật để xây dựng OER Thư viện thiếu trang thiết bị công nghệ( 1.8% 6.8% 25.2% 43.2% 23.0% phần cứng, phần mềm) để phát triển OERs Thiếu kinh phí 4.1% 6.0% 17.0% 39.4% 33.5% Trong số các nguyên nhân cản trở đối với khả năng tiếp cận các nguồn học liệu phục vụ học tập của sinh viên, nguyên nhân về kinh phí mua tài liệu, về sự thiếu hụt trợ giúp kỹ năng từ phía thư viện KHÔNG PHẢI là những nguyên nhân chính (lần lượt chiếm 27,8%, 28%). Trở ngại lớn nhất là vấn đề ngoại ngữ (không tốt nên rất khó khăn trong việc tìm kiếm và sử dụng tài liệu tiếng nước ngoài), chiếm 50,3% (xem Bảng 18). Trở ngại kế tiếp là thiếu kiến thức và kỹ năng về các máy tìm tin và hiểu biết về nguồn thông tin (35,8%). Trong khi vấn đề ngoại ngữ là vấn đề cần nhiều thời gian và có thể khắc phục thông qua việc gia tăng nguồn học liệu trong nước, học liệu nội sinh thì vấn đề kiến thức, kỹ năng khai thác, truy cập thông tin có thể giải quyết được khi có sự tham gia tích cực từ phía các thư viện, các cơ sở đào tạo, và đặc biệt là sự chung tay của cộng đồng trong phát triển TNGDM. Bảng 23. Các rào cản trong tiếp cận TNGDM của sinh viên Rất Không Không Tán Rất tán không tán ý kiến thành thành Các rào cản tán thành thành Ngoại ngữ của tôi không tốt nên rất khó khăn 8.4% 11.0% 30.4% 28.8% 21.5% trong việc tìm kiếm và sử dụng tài liệu tiếng nước ngoài
- Tôi tìm kiếm tài liệu không hiệu quả vì 9.5% 21.2% 33.3% 24.3% 11.6% không có kiến thức và kỹ năng về máy tìm cũng như hiểu biết nguồn thông tin Tôi không được thư viện tìm hướng dẫn và 14.0% 25.8% 32.3% 21.0% 7.0% hỗ trợ tìm kiếm tài liệu trong thư viện Tôi không có kinh phí để mua tài liệu học tập 11.8% 24.6% 35.8% 16.0% 11.8% Tôi không tìm được những tài liệu tôi cần 7.4% 22.3% 35.6% 23.9% 10.6% Tôi không biết cần tìm tài liệu ở đâu 8.6% 23.5% 32.1% 24.6% 11.2% 6. Thực trạng công nghệ thông tin và công nghệ mở Sử dụng công nghệ mở Kết quả cho thấy mặc dù các thiết bị và dịch vụ công nghệ dành cho cá nhân khá đầy đủ nhưng hạ tầng công nghệ và trang thiết bị cần thiết của các trường đại học còn yếu. Quan trọng hơn, cả 3 nhóm đối tượng tham gia khảo sát đều không tự tin về kỹ năng công nghệ của mình trong tạo lập, tìm kiếm và chia sẻ học liệu. Cộng đồng phát triển nội dung cho tài nguyên giáo dục mở cũng đang là một vấn đề nổi cộm. Bảng 24. Những khó khăn về công nghệ mà sinh viên gặp phải Không Rất Không Tán Rất tán tán không ý kiến thành thành Sử dụng CNTT khai thác tài liệu thành tán thành Tôi tìm kiếm tài liệu không hiệu quả vì không 9.5% 21.2% 33.3% 24.3% 11.6% có kiến thức và kỹ năng về máy tìm cũng như hiểu biết nguồn thông tin Tôi không có máy tính/internet để khai thác và 36.8% 33% 20.5% 5.4% 4.3% sử dụng các tài liệu số/tài liệu trực tuyến Trả lời khảo sát về các khó khăn trong việc sử dụng các nguồn tài liệu, có tới 69.8% sinh viên khẳng định mình có máy tính, internet để khai thác và sử dụng các tài liệu số, tài liệu trực tuyến (mức 4 và mức 5). Điều này chứng tỏ đa số sinh viên đều đã có sẵn thiết bị công nghệ cá nhân để phục vụ cho việc khai thác tài liệu. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng các thiết bị này chưa cao khi có tới 33.3% số sinh viên được hỏi không chắc chắn về kiến thức và kỹ năng máy tính cũng như sự hiểu biết nguồn thông tin (mức 3), 35.9% cho rằng mình không có các kiến thức và kỹ năng nói trên, chỉ có 30.7% cho rằng hiệu quả tìm kiếm tài liệu của mình không bị ảnh hưởng từ hạn chế về công nghệ. Bảng 25. Mức độ tán thành của các nhà nghiên cứu về rào cản trong việc sử dụng TNGDM Không Rất Không Tán Rất tán tán không ý kiến thành thành Rào càn về công nghệ thành tán thành Nhà nghiên cứu thiếu các kỹ năng cần thiết về công nghệ, kỹ thuật để xây dựng OER 3.6% 7.7% 23.8% 45.8% 19%
- Nhà nghiên cứu thiếu trang thiết bị công nghệ (phần cứng, phần mềm) 4.2% 7.9% 21.2% 49.7% 17% Trường đại học thiếu hạ tầng công nghệ 3% 6.6% 21.6% 45.5% 23.4% Trường đại học thiếu cộng đồng phát triển nội dung OERs 2.4% 8.3% 14.9% 45.8% 28.6% Từ phía các giảng viên và nhà nghiên cứu, thực trạng công nghệ thông tin xoay quanh việc phát triển tài nguyên giáo dục mở cũng được đánh giá là còn hạn chế ở cả 3 yếu tố: kỹ năng, trang thiết bị và cộng đồng. Trong đó, việc thiếu cộng đồng phát triển nội dung TNGDMđược cho là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất với 74.4% câu trả lời tán thành và rất tán thành. Ngoài việc các trường đại học chưa trang bị đầy đủ hạ tầng công nghệ (68.9%), các giảng viên và nhà nghiên cứu cũng thừa nhận bản thân mình còn thiếu các thiết bị, bao gồm cả phần cứng, phần mềm (66.7%) và thiếu kỹ năng cần thiết để tạo lập tài nguyên giáo dục mở (64.8%). Bảng 26. Mức độ tán thành của cán bộ thư viện về rào cản trong việc phát triển TNGDM Không Rất Không Tán Rất tán tán không ý kiến thành thành Rào cản về công nghệ thành tán thành Cán bộ thư viện thiếu các kỹ năng cần thiết về công nghệ, kỹ thuật để xây dựng OER 1.8% 6.8% 29.3% 45.9% 16.2% Thư viện thiếu trang thiết bị công nghệ (phần cứng, phần mềm) để phát triển OERs 1.8% 6.8% 25.2% 43.2% 23% Các cán bộ thư viện cũng cho rằng việc thiếu trang thiết bị công nghệ (66.2%) tại các thư viện là một trở ngại trong phát triển TNGDM và thừa nhận bản thân còn thiếu kỹ năng cần thiết (62.1%) để tạo lập loại tài nguyên này. Xu hƣớng công nghệ tại Việt Nam Xu hướng nguồn mở (open sources) đang phát triển nhanh tại Việt Nam, các trường đại học học đã bắt đầu quan tâm đến các sản phẩm công nghệ mở. Hiện tại Việt nam đã có hai tổ chức lớn liên quan đến công nghệ mở đó là: Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA)thuộc chi hội của Hội tin học Việt Nam với các hội viên là các công ty công nghệ và các tổ chức quan tâm đến công nghệ mở. Sự ra đời của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở, Bộ Khoa học và Công nghệ - RDOT đánh dấu sự khẳng định định hướng phát triển công nghệ mở trong các dịch vụ công của chính phủ. Các hai tổ chức này đang có những hoạt động thúc đẩy dứng dụng công nghệ mở cho cho cả khu vực công và tư nhân. Cộng đồng sử dụng đã có bắt sử dụng các phần mềm nguồn mở trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Một ví dụ điển hình là các thư viện đại học đã bắt đầu sử dụng phần mềm thư viện điện tử (Koha) và phần mềm thư viện số (Dspace, Greenstone) thay thế cho các phần mềm thương mại. Về phát triển công nghệ cho TNGDM hiện có rất ít công ty công nghệ hỗ trợ cho lĩnh vực. Hiện tại có Hanoi Sping phối hợp với Vietnam Foundation phát triển nền tảng
- công nghệ cho TNGDM ( Vai trò của các công ty công nghệ là rất quan trọng trong việc tư vấn và phát triển nền tảng công nghệ và các chuẩn mở cho việc tạo lập, lưu trữ, đánh giá, khai thác và chia sẻ TNGDM. Một trong những khuyến nghị quan trọng của những người tham gia khảo sát đưa ra đó là: cần chỉ ra được lợi ích bền vững để các công ty phát triển công nghệ mở tham gia vào phát triển công nghệ cho TNGDM. 7. Vai trò của thƣ viện trong phát triển Tài nguyên giáo dục mở Khảo sát chủ yếu tiến hành trên đối tượng là cán bộ thư viện của các trường đại học cho thấy bản thân các thư viện có nhận thức khá rõ ràng về vai trò trung tâm của mình trong phát triển tài nguyên giáo dục mở, đặc biệt là theo hướng phục vụ nhà trường và sinh viên. Tuy nhiên, khi nhìn ra cộng đồng các thư viện đại học, các cán bộ thư viện tỏ ra thận trọng trong việc chia sẻ nguồn học liệu. Rõ ràng, cần có một hành lang pháp lý đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên khi tham gia phát triển nguồn tài nguyên này, cần tạo ra tâm lý an toàn cho các thư viện khi tham gia chia sẻ. Mặt khác, việc tập trung vào vai trò của các thư viện có thể làm cho vai trò của người sử dụng, tái tạo và chia sẻ TNGDM (sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu) bị đánh giá thấp. Bảng 27. Mức độ tán thành của sinh viên với vai trò của thư viện trong phát triển TNGDM Không Rất Không Tán Rất tán tán không ý kiến thành thành thành tán thành Thư viện nhà trường/giảng viên nên tích cực thu thập và giới thiệu các nguồn học liệu miễn phí và trực tuyến cho sinh viên 1.1% 2.1% 6.4% 33% 57.4% Sinh viên, với tư cách là người thụ hưởng trực tiếp lợi ích từ việc phát triển tài nguyên giáo dục mở, là đối tượng ủng hộ gần như tuyệt đối (90.4%) việc thư viện nhà trường cần tích cực thu thập và giới thiệu các nguồn học liệu miễn phi và trực tuyến. Bảng 28. Mức độ tán thành của cán bộ thư viện về vai trò của thư viện trong phát triển TNGDM Không Rất Không Tán Rất tán tán không ý kiến thành thành Vai trò của thư viện thành tán thành Thư viện phải đóng vai trò là nơi thu thập, tạo lập và chia sẻ OERs của một trường đại học 0.9% 0.9% 14.2% 48.7% 35.4% Thư viện cần đóng vai trò là đơn vị thúc đẩy, khuyến khích sử dụng OERs trong trường đại học 0.9% 4.5% 13.8% 45.5% 35.3% Công việc tìm kiếm, thu thập, tạo lập và chia sẻ giới thiệu OERs là nhiệm vụ của giảng viên 3.2% 6.4% 35.9% 38.2% 16.4%
- Thư viện nên sử dụng các phần mềm tự do nguồn mở trong việc tạo lập và quản lý nguồn học liệu của mình 2.7% 5.4% 18.6% 46.2% 27.1% Các cán bộ thư viện cũng hoàn toàn đồng tình với yêu cầu này khi có lần lượt 84.1% và 80.8% số câu trả lời tán thành và rất tán thành việc thư viện phải đóng vai trò là nơi thu thập, tạo lập, chia sẻ và thúc đẩy, khuyến khích sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong trường đại học. Số liệu tương tự cho thấy các cán bộ thư viện đề cao việc sử dụng các phần mềm tự do nguồn mở trong tạo lập và quản lý nguồn học liệu của mình (73.3%), đây là một tín hiệu đáng mừng bởi việc sử dụng các ứng dụng nguồn mở này là nền tảng quan trọng để thúc đẩy việc tạo lập và chia sẻ TNGDM. Tuy vậy, vẫn chỉ có 54.5% cán bộ thư viện cho rằng công việc này là một nhiệm vụ của giảng viên trong các trường đại học, trong khi có tới 35.9% không chắc chắn về câu trả lời của mình. Bảng 29. Mức độ sẵn sàng của các thư viện trong chia sẻ học liệu Không Rất Không Tán Rất tán thành tán không ý kiến thành Sự sẵn sàng chia sẻ của thư viện thành tán thành Chúng tôi chưa sẵn sàng để chia sẻ những học liệu có trong thư viện 11.5% 16.1% 40.4% 28.4% 3.7% Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ một phần một số học liệu của thư viện 3.1% 5.4% 27.8% 48.4% 15.2% Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ toàn bộ học liệu của mình với cộng đồng 3.2% 15.3% 34.7% 31.9% 14.8% Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ những học liệu của tôi nếu cơ quan chủ quản yêu cầu 3.2% 5.1% 26.7% 43.8% 21.2% Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ học liệu nếu hệ thống pháp luật có chế tài đủ mạnh để đảm bảo quyền lợi của tôi/tác giả 2.8% 4.6% 19.7% 46.3% 26.6% Mặc dù sẵn lòng đóng vai trò trung tâm để phát triển tài nguyên giáo dục mở tại trường đại học của mình, nhưng khi xét trên phương diện một cộng đồng cần sự liên kết và phối hợp với nhau, các thư viện lại tỏ ra chưa thực sự sẵn sàng tham gia vào việc chia sẻ nguồn tài nguyên. 32.1% khẳng định thư viện mình đang công tác chưa muốn chia sẻ những học liệu hiện có, 40.4% không chắc chắn về câu trả lời của mình, chỉ có 27.6% cho rằng thư viện của mình đã sẵn sàng. Chỉ có 46.7% cán bộ thư viện cho rằng cơ quan mình sẵn sàng chia sẻ toàn bộ học liệu của mình với cộng đồng (trong đó chỉ có 14.8% rất tán thành). Các hình thức chia sẻ khác như chia sẻ một phần, chia sẻ theo yêu cầu của trường đại học nhận được sự tán thành cao hơn (hơn 60%).
- 72.9% cán bộ thư viện thống nhất rằng nếu có chế tài đủ mạnh để đảm bảo quyền lợi của thư viện và tác giả của học liệu thì việc chia sẻ học liệu có thể được thực hiện hiệu quả hơn. 8. Vai trò của lãnh đạo trong phát triển Tài nguyên giáo dục mở Đối với cán bộ lãnh đạo là quản lý các trường đại học, kết quả phỏng vấn chỉ ra rằng họ đều cho rằng mình hiểu thế nào làTNGDM. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có 1/3 lãnh đạo hiểu rõ TNGDM.Họ cho rằng TNGDM là nguồn tài liệu dành cho học tập, được xuất bản dưới dạng điện tử vàđược chia sẻ trên mạng cho người dùng sử dụng. Họ thường đồng nghĩa nguồn TNGDM hay học liệu mở với cơ sở dữ liệu toàn văn của các công ty mà thư viện trường mua lại, hoặc do thư viện xây dựngđể cho người dùng tin trong trường được sử dụng miễn phí.Họ cũng cho rằng khi phổ biến các tài liệu này cũng cần phải chúýđến vấn đề bản quyền. Tuy nhiên cũng có người chưa biết đến các thuật ngữ về giấy phép sử dụng của TNGDM. Một điểm quan trọng đó là các nhà quản lý khẳng định là TNGDM cần triển khai trong các trường đại học và là một xu thế chung của giáo dục đại học hiện nay. Do chưa thực sự hiểu rõ về TNGMD nên phần lớn các lãnh đạo mới chỉ dừng lại việc ủng hộ phát triển các tài liệu số, chia sẻ và sử dụng các tài liệu này một cách thông thường. Chỉ có rất ít lãnh đạo ủng hộ việc xây dựng và phát triển TNGDM. Tuy nhiên trên thực tế họ cũng chưa có kế hoạch cụ thể để xây dựng và phát triển TNGDM do còn rất nhiều việc khác phải làm. Vai trò của lãnh đạo – mà cụ thể là ban giám hiệu các trường đại học được khẳng định là rất quan trọng trong việc ra những chính sách để triển khai TNGDM. 67.8% người được hỏi khẳng định rằng chính sách cho TGNDM trong trường đại học là rất quan trọng để tạo động lực cho việc tạo lập và sử dụng TNGDM. Chính sách này chỉ có thể được quyết định bởi lãnh đạo nhà trường khi họ nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của TNGDM đối với các hoạt động đào tạo và nghiên cứu của nhà trường. 9. Kết luận và đánh giá chung Một số kết luận và đánh giá dựa trên kết quả khảo sát: - Việc sử dụng TNGDM ở các trường đại học chưa phổ biến. Phân lớn chỉ khai thác các nguồn thông tin miễn phí trên mạng, rất ít các trường đại học triển khai TNGDM trong đơn vị mình, hầu hết giảng viên cũng chỉ dừng lại việc giới thiệu các nguồn học liệu miễn phí, chưa ý thức được việc tạo lập và chia sẻ TNGDM. - Các trường đại học đã có những nhận thức và hiểu biết cơ bản TNGDM. Tuy nhiên cần có sự thúc đẩy hơn nữa trong việc quảng bá trong cộng đồng đại học về nguồn tài nguyên ngày. Sự hiêu biết và nhận thức của cộng đồng là rất quan trọng trong việc tạo lập, sử dụng và chia sẻ TNGDM. - Xu thế sử dụng tài liệu số đang gia tăng. Giảng viên và sinh viên đã coi các nguồn học liệu số là kênh khai thác thông tin thuận tiện và hữu hiệu. Có thể coi đây là “văn hóa số” – đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển TNGDM. - Cần có sự hiểu biết về bản quyền và giấy phép mở trong cộng đồng các trường đại học. Có thể thấy việc thực thi bản quyền tại các trường đại học chưa được coi trọng, thư viện đặt kế hoạch số hóa nhưng chưa quan tâm nhiều đến vấn đề
- bản quyền. Bên cạnh đó hiểu biết của họ về giấy phép mở (creative commons) chưa thực sự tốt. - Vẫn còn tồn tại sự chưa tin tưởng về lợi ích và giá trị mà TNGDM mang lại. Do TNGDM là một nguồn học liệu mới, chưa phổ biến và có cách tiến cận hoàn toàn khác - truy cập miễn phí với việc phải bỏ tiền mua các tài liệu do các nhà xuất bản phát hành. Liệu chất lượng TNGDM có thực sự tốt và nguồn tài nguyên này có làm thay đổi cách chúng ta tiếp cận tri thức cũng như hỗ trợ nâng cao chất lượng đào tạo. - Thư viện có thể đóng trò của thư viện quan trọng như là một tác nhân để phát triển tài nguyên giáo dục mở. Thư viện là nơi thu thập, đánh giá,lựa chọn, lưu trữ và cung cấp TNGDM cho giảng viên và sinh viên. Thư viện có thể đóng vai trò là đơn vị hướng dẫn giảng viên tích cực phát triển các TNGDM trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu của mình. Thư viện giới thiệu cho sinh viên các nguồn TNGDM có chất lượng. - Việc phát triển phát triển TNGDM trong các trường đại học Việt Nam cần chú ý đến các yếu tố quan trọng sau: nhận thức của cộng đồng, vấn đề bản quyền và giấy phép, cơ chế hỗ trợ/chính sách của các nhà nước và các trường đại học, hạ tầng công nghệ, sự sẵn sàng của các giảng viên và trường đại học trong việc tạo lập và sử dụng TNGDM, vấn đề bản địa hóa, và vấn đề hài hòa lợi ích của các bên liên quan. Trên cơ sở số liệu của báo cáo này, kết hợp với thực tiễn triển khai TNGDM, nhóm nghiên cứu đưa một bản khuyến nghị và hướng dẫn về việc triển khai TNGDM trong các trường đại Việt Nam.
- Đề xuất chính sách và tổ chức thực hiệnviệc phát triển tài nguyên giáo dục mởcho giáo dục đại học Việt Nam Hà nội – 9/2016
- CÁC ĐƠN Vị PHốI HợP THựC HIệN Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc – UNESCO Liên chi hội thư viện các trường đại học phía Bắc - NALA Liên chi hội thư viện các trường đại học phía Nam - VILASAL Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở - Bộ Khoa học (RDOT) Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đại học Thăng Long Quỹ Việt Nam foundation Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội GIấY PHÉP Bản quyền thuộc về nhóm các đơn vị đề xuất chính sách TNGDM Việt Nam.
- NỘI DUNG 1. Cơ sở xây dựng bản đề xuất 32 2. Mục tiêu 33 3. Vai trò của tài nguyên giáo dục mởđối với giáo dục đại học 34 3.1. Đặt vấn đề 34 3.2. Khái niệm và lợi ích của tài nguyên giáo dục mở 35 2.2. Thực trạng học liệu của các trường đại học Việt Nam và sự cần thiết phải xây dựng tài nguyên giáo dục mở 37 3. Kiến nghị phát triển tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam 38 3.1. Kiến nghị chung 38 3.2. Đề xuất các công việc cụ thể 38 4. Hướng dẫn tổ chức thực hiện 40 4.1. Chính phủ 40 4.2. Các trường đại học 41 4.3. Giảng viên 41 4.4. Sinh viên 42 4.5. Thư viện 43 4.6. Các tổ chức kiểm định 44 4.7. Các công ty công nghệ 44 5. Lộ trình và triển khai thực hiện 46 5.1. Lộ trình triển khai 46 5.2. Triển khai thực hiện và các yếu tốđảm bảo thành công của dựán 46
- 1. Cơ sở xây dựng bản đề xuất Bản đề xuất dựa trên những cơ sở chính sách, khoa học và thực tiễn sau: Về các văn bản chính sách Luật giáo dục đại học ban hành ngày 18/06/2012 số 08/12/QH13 Nghị quyết số 44/NQ-CP của Chính phủ : Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Cơ sở Khoa học và thực tiễn Kết quả khảo sát thực trạng TNGDM tại các trường đại học Việt Nam do Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU-USSH) thực hiện dưới sự tài trợ của UNESCO. Kết quả hội thảo khoa học về TNGDM lần 1 và lần 2 tại Việt Nam Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN phối hợp với UNESCO, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở - Bộ Khoa học (RDOT), Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) Thực tiễn triển khai TNGDM tại Việt nam thông qua chương trình tập huấn TNGDM cho các trường đại học Việt Nam do RDOT, Khoa Thông tin - Thư viện, Quỹ Vietnam foundation, Liên chi hội thư viện các trường đại học phía Bắc (NALA) và phía Nam (VILASA) cùng phối hợp thực hiện; dự án xây dựng TNGDM do quỹ Vietnam foundation thực hiện. Bản ký kết hợp tác phát triển TNGDM giữa 10 đơn vị trong đó có: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở, Bộ Khoa học và Công nghệ ( RDOT), Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực phía Bắc (NALA), Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực phía Nam (VILASAL), Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA), các Trung tâm thông tin thư viện lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Thương Mại, Đại học Sư phạm Hà Nội, và Đại học Thăng Long. Bản khuyến nghị và hướng dẫn của UNESCO về phát triển tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) cho giáo dục đại học năm 2015
- 2. Mục tiêu Với mong muốnnâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại học và cao đẳng (sau đây gọi chung là trường đại học) Việt Nam thông qua việc xây dựng nguồn TNGDM, bản đề xuất chính sách này nhằm các mục tiêu cơ bản sau: Chỉ ra được vấn đề thiếu hụt về học liệu phục đào tạo và nghiên cứu trong trường đại học, qua đó đề xuất phát triển TNGDM như một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này. Những đề xuất này là cơ sở cho chính phủ tham khảo để xây dựng chính sách phát triển TNGDM trong các trường đại học Việt Nam. Hướng dẫn các trường đại học và các bên có liên quan tạo lập, sử dụng và phân phối TNGDM trong môi trường giáo dục Đại học.
- 3. Vai trò của tài nguyên giáo dục mở đối với giáo dục đại học 3.1. Đặt vấn đề Trong bản kế hoạch hành động quốc gia của Mỹ về chính phủ mở có nêuTNGDM là một sự đầu tư cho phát triển con người một cách bền vững. TNGDM giúp tăng cường khả năng tiếp cận đến giáo dục chất lượng cao và làm giảm giá thành của giáo dục trên toàn thế giới5. TNGDM - open educational resources (OER) đang được xem là một nguồn tài nguyên thông tin khoa học hữu hiệu để hỗ trợ cho việc phổ cập giáo dục. TNGDM tạo ra sự bình đẳng cho người học và người dạy trong việc tiếp cận nguồn học liệu giáo dục chất lượng cao và miễn phí với giấy phép mở. Ở mức cao hơn, TNGDM góp phần tạo ra sự bình đẳng trong giáo dục. Bất kỳ ai ở bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng có thể chia sẻ, sử dụng và tái sử dụng tri thức. TNGDM tạo cơ hội để các nước đang phát triển tiếp cận đến nguồn tài liệu khoa học chất lượng cao. Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học và các cá nhân đang tham gia tích cực vào phát triển TNGDM. Ví dụ như Học viện công nghệ Massachusetts cung cấp các tài liệu học tập miễn phí cho các giảng viên, sinh viên và những nhà nghiên cứu trên khắp toàn cầu, trong đó có Việt Nam. UNESCO cũng là tổ chức chủ trì và cổ vũ cho việc phát triển TNGDM trên phạmvi toàn cầu, đặc biệt là các nước đang phát triển.Ngân hàng thế giớiWorld Bank cũng là tổ chức có những hoạt động tích cực thúc đẩy truy cập mở đến các nguồn tài nguyên tri thứcdo mình xuất bản6. Có thể thấy TNGDM đang là xu thế mới của giáo dục và đào tạo trong việc tạo lập và chia sẻ tri thức.Với sự phát triển của Internet, công nghệ nội dung số và công nghệ lưu trữ và sự thay đổi trong cách tiếp cận giáo dục của cá nhân đang tạo ra môi trường thuận lợi để TNGDM phát triển. Việt Nam đang trong quá trình đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện, trong đó giáo dục đại học chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao và gắn với nhu cầu thị trường lao động”7. Với xu hướng quốc tế hóa hiện nay, nguồn nhân lực cần phải năng lực làm việc trong môi trường quốc tế và đặc biệt phải có năng lực tự học suốt đời. Để đổi mới nội dung đào tạo và phương pháp giảng dạy, thì cần có một yếu tố quan trọng đó là nguồn học liệu chất lượng.Khảo sát chỉ ra rằng các thư viện đại học Việt Nam chưa đáp ứng tốt nhu cầu về học liệu của giảng viên, sinh viên và nhà nghiên cứu. Việc thiếu hụt các tài nguyên học tập đã ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng đào tạo và nghiên cứu của đại học Việt Nam. Có một nghịch lý là các trường đại học đang tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường tính tự học, tự tìm tòi khám phát tri thức, trong khi đó lại thiếu hụt học liệu có chất lượng – yếu tố quan trọng nhất của việc thúc đẩy tính tự học của sinh viên. Không có học liệu để học tập và nghiên cứu, sinh viên tự học bằng gì? Trong điều kiện kinh phí hạn hẹp để mua các nguồn học liệu cần thiết, bên cạnh đó nguồn TNGDM và miễn phí trên thế giới còn hạn chế, cũng như việc bản địa hóa nguồn học liệu này không thực sự dễ dàng, thì việc các trường đại học Việt 5The US Government (2015). The open government partnership – The third open government national action plan for the Unitated States of America. 6World Bank. Open Knowledge Repository - 7 Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dục
- Nam cùng hợp tác xây dựng TNGDM nội sinh có thể coi là một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này. Mỗi một trường đại học, cao đẳng tham gia hệ thống học liệu mở sẽ như một đơn vị sản xuất nội dung (học liệu) và cùng chia sẻ nguồn tài nguyên này. Như vậy số lượng học liệu sẽ tăng lên cấp số nhân, tránh được việc biên soạn nội dung trùng lặp, giảm chi phí biên soạn bài giảng và giáo trình, chất lượng được nâng cao khi có sự phản biện độc lập,và quan trọng hơn nguồn TNGDM này sẽ mở rộng cho tất cả những ai có nhu cầu sử dụng cho mục đích học tập, giảng dạy, nghiên cứu và làm việc của mình.TNGDMsẽ giúp đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đại học, giúp các trường đại học Việt Nam hội nhập và phát triển cùng các trường đại học trong khu vực và quốc tế. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, để phát triển TNGDM cần có sự tham gia của các cơ quan quản lý và sự đầu tư ban đầu của chính phủ. Để phát triển và phát huy được lợi ích của TNGDM cho trường đại học Việt Nam, cần phải có chính sách từ chính phủ, cụ thể là từ Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện phát triển TNGDM cho các trường đại học và cao đẳng. Bên cạnh đó là xây dựng chương trình hoặc dự án quốc gia để tạo nền tảng cho sự phát triển của TNGDM trong các trường đại học. 3.2. Khái niệm và lợi ích của tài nguyên giáo dục mở * Khái niệm Theo UNESCO,TNGDM có thể được coi là bất cứ tài liệu giáo dục nào nằm trong phạm vi/miền công cộng hoặc được phát hành theo một giấy phép mở, bất cứ ai cũng có thể sao chép, sử dụng, sửa đổi và chia sẻ một cách hơp pháp các tài liệu này. TNGDM có thể là giáo trình, khung chương trình đào tạo, đề cương môn học, bài giảng, bài luận, các bài kiếm tra, các kết dự án, video và hình ảnh động. TNGDM bao gồm 3 thành phần cơ bản: (1) nội dung học tập: đó là các khóa học, tài liệu học tập, mục tiêu học tập, bộ sưu tập, hay tạp chí; (2) các công cụ/phần mềm để phát triển, sử dụng, tái sử dụng và phân phối nội dung học tập, cũng như việc tìm kiếm và tổ chức nội dung, hệ thống quản trị học tập, công cụ phát triển nội dung, các cộng đồng học tập trực truyến; và (3) nguồn lực để thực hiện: đó là các giấy phép về quyền sở hữu trí tuệ để thúc đẩy xuất bản các tài liệu mở, đó là những nguyên tắc để triển khai cũng như bản địa hóa nội dung.TNGDM sẽ tuyên bố một hoặc tất cả năm quyền sau là: giữ lại (Retain), tái sử dụng (Reuse), sửa đổi (Revise), trộn lẫn (Remix) và phân phối lại (Redistribute). Các quyền này đi kèm sẽ giúp cho tài nguyên hoàn toàn miễn phí và tự do trong việc sử dụng. Trong bản đề xuất này, chúng tôi tiếp cận TNGDM bao gồm tất cả những tài liệu giảng dạy, học tập và nghiên cứu được lưu giữ ở bất kỳ phương tiện nào, dưới định dạng số hoặc in ấn, nằm trong phạm vi công cộng hoặc được phát hành theo một giấy phép mở để bất cứ ai cũng có thể sử dụng, sao chép, sửa đổi, chia sẻ và phân phối lại một cách hợp pháp và không bị tính phí hoặc không bị cản trở bởi một giới hạn hoặc hạn chế nào ngoài việc phải công nhận nguồn gốc. Giấy phép mở được xây dựng trên khuôn khổ của quyền sở hữu trí tuệ được xác định bởi các công ước quốc tế có liên quan và Luật sở hữu trí tuệ với những quy định về việc tôn trọng quyền tác giả của tác
- phẩm.TNGDM phải đảm bảo 3 yếu tố: chất lượng được kiểm soát, miễn phí và giấy phép mở. * Lợi ích Với những đặc trưng và ưu điểm của mình, TNGDM có những lợi ích cơ bản sau: Mở ra cơ hội học tập cho tất cả mọi người.TNGDM tạo ra cơ hội để tất cả người học và người dạy tiếp cận đến nguồn học liệu chất lượng cao. Thông qua đó tạo ra sự bình đẳng trong tiếp cận tri thức và giáo dục. Tăng cường chất lượng đào tạo và nghiên cứu của các trường đại học.Chất lượng đào tạo và nghiên cứu của các trường đại học sẽ được nâng cao khi có nhiều nguồn thông tin chất lượng miễn phí và dễ truy cập. TNGDM thúc đẩy các trường đại học mạnh dạn đổi mới nội dungchương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy. Giảm giá thành phát triển học liệu của các trường đại học. Về tổng thể TNGDM sẽ giảm giá thành xây dựng và phát triển học liệu của các trường đại học và tăng tính hiệu quả trong sử dụng kinh phí đầu tư. Nếu các trường đại học cùng hợp tác xây dựng TNGDM thì mỗi một trường đại học chỉ phải đầu tư cho một phần học liệu của mình, họ sẽ chia sẻ và sử dụng chung các phần học liệu của các trường đại học khác. Giảm giá thành giáo dục.Ở cấp độ quốc gia có thể giảm giá thành đào tạo do người dùng có thể tự học tập, các tổ chức đào tạo và các trường đại học không phải bỏ một khoản ngân sách lớn của Chính phủ để phát triển học liệu. Tri thức luôn được cập nhật và phát triển. Với tính mở của mình, một tài liệu như giáo trình, bài giảng hay sách tham khảo luôn được tái sử dụng và được phép sửa đổi kịp thời cho phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ cũng như sự thay đổi của kinh tế xã hội. Cung cấp nguồn học liệu có chất lượng.Với tính mở của mình, chất lượng các tài liệu được kiểm soát và đánh giá bởi cộng đồng và chuyên gia. Khi thực hiện việc xuất bản mở, tác giả sẽ nhận được những phải hồi, đánh giá của cồng đồng các chuyên gia, những phản biện này sẽ giúp nâng cao chất lượng của tài liệu đó. Thúc đẩy sự minh bạch trong học thuật. Các kết quả nghiên cứu (đề tài, luận văn, luận án ), các bài giảng, giáo trình hay tài liệu tham khảo được công khai, được cộng đồng sử dụng và đánh giá và ghi nhận. Bất cứ sự gian lận trong kết quả nghiên cứu, sự sao chép đều dễ dàng bị phát hiện. Cơ sở dữ liệu của tài nguyên giáo dục mở sẽ sử dụng làm công cụ phòng chống đạo văn trong các trường đại học. Giải quyết được vấn đề bản quyền trong quá trình sử dụng và chia sẻ học liệu. Áp dụng hệ thống giấy phép cho các tài liệu được tạo mới cũng như phái sinh sẽ giúp TNGDM loại bỏ việc vi phạm bản quyền, đồng thời qua đó thúc đẩy việc chia sẻ tri thức trong cộng đồng. Tạo nền tảng cơ sở phát triển bền vững và tự chủ cho các trường đại học.TNGDM tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững của các trường đại học Việt Nam. Sử dụng công nghệ mở và cung cấp các dịch vụ trên nền
- tảng mở là xu hướng chủ đạo của các trường đại học trên thế giới. Trong xu thế tự chủ của các trường đại học, hợp tác cùng phát triển để giảm giá thành đầu tư và mang lại hiệu tốt nhất sẽ là lựa chọn của các trường đại học. 2.2. Thực trạng học liệu của các trƣờng đại học Việt Nam và sự cần thiết phải xây dựng tài nguyên giáo dục mở - Các thư viện đại học không đáp ứng đủ nhu cầu bạn đọc. Khảo sát cho thấy 36% bạn đọc phản hồi thư viện đáp ứng rất ít hoặc hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, 44% chỉ đáp ứng 1/3 nhu cầu, và chỉ có 19% bạn đọc khẳng định thư viện cung cấp gần nhu đầy đủ nhu cầu tài liệu của họ. Bình quân mỗi người dùng (giảng viên và sinh viên) có 03 cuốn sách. - Kinh phí bổ sung tài liệu cho và thư viện đại học rất hạn hẹp. Các thư viện đại học điều khẳng định kinh phí hàng năm rất hạn chế. Họ đứng trước sức ép về nhu cầu bạn đọc ngày càng tăng và đa dạng với nguồn kinh phí cấp luôn ở mức độ khiêm tốn. - Phát triển bài giảng, giáo trình và tài liệu tham khảo cũng như xuất bản các kết quả nghiên cứu tại các trường đại học còn hạn chế. Kinh phí hàng năm cho hoạt động này không nhỏ, tuy nhiên tình trạng thiếu tài liệu nội sinh cho học tập và giảng dạy vậy còn tồn tại, các kết quả nghiên cứu ít được sử dụng vào đào tạo. - Tình trạng học dạy chay và học chay vẫn tồn tại. Mặc dù các trường đại học đã tích cực đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, phát huy tính sáng tạo và tự học của sinh viên. Tuy nhiên vấn đề tồn tại là sinh viên không có các nguồn học liệu phong phú để tự tìm tòi, tự nghiên cứu. Do vậy sự đổi mới trong nhà trường chưa triệt để và không thực sự có biến đột biến. - Năng lực ngoại ngữ của sinh viên và giảng viên còn rất hạn chế. Quy định của Bộ giáo Dục và Đào tạo sinh viên tốt nghiệp phải đạt trình độ B1 về tiếng Anh. Trừ sinh viên các trường chuyên về ngoại ngữ, còn lại sinh viên đều rất khó khăn để đạt trình độ này. Thực tế thì cho dù đạt trình độ B1 cũng không thể dùng cho việc sử dụng tài liệu ngoại ngữ vào học tập. Đối với giảng viên, việc sử dụng thành tạo ngoại ngữ trong đọc tài liệu, nghiên cứu cũng còn hạn chế. Khắc phục hạn chế về ngoại ngữ của giảng viên và sinh viên là một công việc dài hạn, không thể giải quyết trong thời gian ngắn. - Sử dụng các cơ sở sử liệu bằng tiếng nước ngoài chưa hiệu quả. Mua cơ sở dữ liệu nước ngoài là rất cần thiết với các trường đại học trong giai đoạn hội nhập quốc tế, tuy nhiên sử dụng thế nào cho hiệu quả đang là vấn đề đặt ra. Hạn chế về ngoại ngữ của giảng viên va sinh viên dẫn đến đầu tư này chưa thực sự hiệu. Chưa có đánh giá - Vấn đề bản quyền và thực thi tác quyền vẫn chưa có giải pháp tốt. Có thể thấy nhiều thư viện đang trong quá trình số hóa tài liệu và cung cấp tài liệu trực tuyến. Có hai xu thế hiện nay: một là không quan tâm đến bản quyền, cứ số hóa và cung cấp, thậm chí là bán các dữ liệu này; ở một chiều hướng khác, các thư viện không rõ về thực thi tác quyền nên không cho phép truy cập các tài liệu mình đã số hóa và chờ đợi các hướng dẫn.
- 3. Kiến nghị phát triển tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam 3.1. Kiến nghị chung - Xây dựng một chính sách quốc gia về tài nguyên giáo dục mở. Hiện nay chúng ta chưa có một văn bản có tính pháp lý nào về phát triển tài nguyên giáo dục mở. Do vậy việc cần làm ngay là xây dựng văn bản pháp lý về TNGDM, đó sẽ là “mỏ neo” để các trường đại học, các doanh nghiệp và cá nhân cùng tham gia phát triển TNGDM. Việc xây dựng chính sách có thể do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện trên cơ sở tập hợp các chuyên gia về TNGDM tại Việt Nam cũng như tham khảo kinh nghiệm của các chuyên gia quốc tế. - Thành lập một Ủy ban quốc gia về TNGDM. Ủy ban này có trách nhiệm thúc đẩy và đưa TNGDM vào đời sống thực tế thông qua các hoạt động xây dựng chính sách, tìm kiếm nguồn tài trợ, tổ chức hội thảo và hướng dẫn triển khai TNGDM ở các cấp học khác nhau trong hệ thống giáo dục Việt Nam, trong đó có giáo dục đại học. - Thực hiện chiến dịch quảng bá rộng rãi trong cộng đồng về TNGDM. Mục tiêu là giúp các bên có liên quan như các nhà làm chính sách, lãnh đạo các trường đại học, lãnh đạo các thư viện, các giảng viên, nhà nghiên cứu, và sinh viên hiểu rõ hơn TNGDM. Đồng thời kêu gọi sự tham gia tích cực của các trường đại học và các doanh nghiệp trong việc cung cấp nội dung và phát triển công nghệ cho TNGDM. - Xây dựng mô hình hợp tác phát triển TNGDM phù hợp với điều kiện Việt Nam. Có thể kết hợp mô hình lai giữa tập trung và phân tán. Đó là có sự đầu tư cơ bản của nhà nước, của các trường đại học lớn, bên cạnh đó kêu gọi sự tình nguyện đóng góp của cộng đồng. Với điều kiện đảm bảo quyền lợi giữa các bên. Trên cơ sở này có thể thiết lập một mô hình kinh doanh để đảm bảo cho sự phát triển bền vững TNGDM. - Tạo lập một hệ sinh thái TNGDM cho các đại học Việt Nam bao gồm: cộng đồng phát triển và sử dụng, nguồn học liệu/nội dung mở, các dịch vụ và sản phẩm, và các nhà/kênh phân phối thông tin. Hệ sinh thái này là sự cộng sinh giữa các bên cung cấp nội dung (các trường đại học, giảng viên), bên cung cấp giải pháp công nghệ (các công ty công nghệ kinh doanh công nghệ mở) và người sử dụng. - Cần tạo lập môi trường hợp tác giữa cùng có lợi giữa các bên, tránh sự xung đột lợi ích giữa các bên tham gia đóng góp nội dung. Cần có chính sách dung hòa lợi ích của TNGDM và truy cập mở, đặc biệt là lợi ích của các nhà xuất bản. Nhà nước phải là cơ quan đứng đầu điều phối mối quan hệ này. 3.2. Đề xuất các công việc cụ thể - Cần xây dựng chương trình quốc gia về TNGDM với sự đầu tư ban đầu từ phía chính phủ. Chương trình sẽ giúp tạo lập nền tảng cơ bản về hạ tầng công nghệ và nguồn dữ liệu ban đầu, trên cơ sở đó các trường đại học sẽ bổ sung và phát triển TNGDM quốc gia. - Cần có một Thông tư liên tịch về việc hợp tác xây dựng TNGDM trong giáo dục đại học giữa Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Khoa học & Công nghệ. - Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng Bộ hướng dẫn phát triển và sử dụng TNGDM trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. - Cần đưa tiêu chí đóng góp cho cộng đồng (đây là một trong những tiêu chí khi tham gia đánh giá của AUN) trong việc đóng góp TNGDM của các trường đại học. Có tiêu chí đánh giá và ghi nhận giảng viên tham gia phát triển học liệu mở.
- - Có chính sách yêu cầu các nghiên cứu khoa học/các bài giảng, giáo trình, tài liệu tham khảo lấy kinh phí từ ngân sách nhà nước đều cần phải được công bố kết quả cho cộng đồng. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia chia sẻ và đóng góp vào TNGDM quốc gia. - Thành lập Câu lạc bộ TNGDM trên cơ sở kết nạp các hội viên từ nhiều lĩnh vực khác nhau: các thư viện, các trường đại học,hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức chuyên môn. Hiệp hội có vai trò kết nối, vận động các thành viên tham gia đóng góp và chia sẻ TNGDM. - Triển khai áp dụng hệ thống giấy phép của Creative Commons tại Việt Nam. Để áp dụng hệ thống giấy phép này cũng cần có sự chỉ đạo và hướng dẫn của các cơ quan quản lý. Việc áp dụng hệ thống giấy phép này cho TNGDM là bắt buộc. - Xây dựng một bản cam kết để các trường đại học tham gia ký kết về việc đóng góp và chia sẻ TNGDM cũng như đóng góp kinh phí duy trì cho hệ thống TNGDM. - Xây dựng bộ công cụ hướng dẫn tạo lập, sử dụng và chia sẻ TNGDM như cẩm nang cho tất cả các tổ chức và cá nhân muốn tham gia phát triển nguồn tài nguyên này. - Xây dựng cổng thông tin quốc gia về TNGDM bao gồm các nguồn trong nước và quốc tế.
- 4. Hƣớng dẫn tổ chức thực hiện Phần này mô cả các công việc của các bên liên quan cùng phối hợp để thực hiện việc phát triển TNGDM tại các trường Đại học Việt Nam 4.1. Chính phủ Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, chính phủ cần xây dựng chính sách phát triển cho nguồn tài nguyên giáo dục mở kết hợp với giấy phép mở trong giáo dục đại học, đồng thời cần có một kế hoạch tổng thể, bước đi thích hợp, bảo đảm tính khoa học, chính xác, minh bạch, công bằng, nghiêm túc, gắn chặt với đổi mới công tác đánh giá chất lượng giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giảm bớt chi phí cho đào tạo để cho người dân có khả năng tiếp cận các hệ thống giáo dục đại học. Nội dung ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về nguồn tài nguyên giáo dục mở phải bám sát nhu cầu thực tiễn, yêu cầu của thị trường lao động và nhu cầu học tập của xã hội trên tinh thần hội nhập và mở cửa; đảm bảo chất lượng, hiệu quả đào tạo bằng việc gắn đào tạo với sử dụng; nâng cao chất lượng đào tạo trên cơ sở tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ giảng viên, đổi mới chương trình, quy trình, nội dung và phương pháp giảng dạy, kiểm định chất lượng đào tạo. Ngoài ra chính phủ cần xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định xuất bản mở, việc sử dụng cấp phép mở theo các hình thức cấp phép đa cấp để tăng cường tính hiệu quả của đầu tư công, bằng cách tạo điều kiện cho việc khai thác và phổ cập TNGDM một cách rộng rãi và tránh việc xây dựng trùng lặp. Đối với điều kiện của Việt Nam, Chính phủcần: Ủng hộ sử dụng TNGDM thông qua vai trò hoạch định chính sách trong giáo dục đại học. Chính phủ khuyến khích và ủng hộ sử dụng TNGDM trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời xây dựng một chương trình để hỗ trợ việc xây dựng và khai thác các nguồn học liệu mở hiệu quả. Xây dựng khung cấp phép phù hợp nhằm tăng cường khả năng chia sẻ tài nguyên giáo dục đại học. Khung cấp phép có thể điều chỉnh cả bản quyền và sở hữu trí tuệ của tài liệu giáo dục được tạo lập bởi nguồn kinh phí từ ngân sách. Xem xét xây dựng các quy chuẩn mởgiúp đảm bảo truy cập và sử dụng/chia sẻ toàn diện các cơ sở dữ liệu trong lĩnh vực giáo dục đại học. Nâng cao nhận thức cộng đồng về TNGDM thông qua việc phổ biến và chia sẻ các trường hợp điển hình, những kinh nghiệm thành công trong việc xây dựng và khai thác TNGDM, các vấn đề về pháp lý và sở hữu trí tuệ tuệ trong chia sẻ các tài nguyên trực tuyến. Tăng cường các hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông/nối mạng quốc gia để bảo hạ tầng cho việc truy cập và chia sẻ nội dung trực tuyến của cán bộ, giảng viên, sinh viên và cá nhân trong các hệ thống giáo dục đại học. Hỗ trợ phát triển bền vững và chia sẻ tài liệu học tập có chất lượng. Cần khuyến khích sự tham gia xây dựng và hỗ trợ phát triển của các cơ sở giáo dục đại học, tổ
- chức, cá nhân trong và ngoài nước trong việc xây dựng học liệu mở có chất lượng và khai thác hiệu quả. 4.2. Các trƣờng đại học Các trường đại học cơ sở đào tạo đại học đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ đội ngũ giảng viên tạo lập môi trường học tập và giảng dạy hiệu quả đồng thời cung cấp cho họ cơ hội cho họ phát triển chuyên môn của mình. Xây dựng và phát triển tài nguyên học tập đều là những phần không thể thiếu của quá trình này. Các cơ sở giáo dục đại học cần tích cực tạo ra học liệu mở và sử dụng học liệu mở của các nơi khác. Thực tế cho thấy rằng khi các cơ sở giáo dục đại học có các khoá học/tài liệu có chất lượng được đăng tải trực tuyến, họ có thể thu hút sinh viên mới, mở rộng thương hiệu, danh tiếng và nâng cao vai trò dịch vụ công của mình. Các cơ sở giáo dục đại học cần: Xây dựng các chiến lược và chính sách của đơn vị cho việc tạo lập và sử dụng TNGDM. Khuyến khích, thống nhất quan điểm chung về thực hiện giáo dục mở trong đơn vị, phù hợp với tầm nhìn và sứ mệnh của đơn vị. Khuyến khích hỗ trợ đầu tư vào phát triển, tiếp thu và điều chỉnh tài liệu học tập chất lượng cao. Đầu tư cho giảng viên xuất bản bài giảng, giáo trình, tài liệu tham khảo mở, gắn kết với các hình thức khen thưởng phù hợp. Công nhận vai trò quan trọng của nguồn tài nguyên giáo dục mở trong các quy trình đảm bảo chất lượng nội bộ và định kỳ đánh giá việc thực hiện TNGDM tại cơ sở. Xem xét đưa ra các chính sách bản quyền linh hoạt.Tạo điều kiện cho giảng viênyêu cầu giữ một số quyền về bản quyền hoặc thay đổi trật tự cấp phép một cách đơn giản khi thấy cần thiết. Đảm bảo cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin để giảng viên và sinh viên có thể khai thác TNGDM thuận lợi. Xây dựng kho TNGDM trực tuyến của đơn vị. 4.3. Giảng viên Đội ngũ giảng viên là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giảng dạy và học tập cho sinh viên của các cơ sở giáo dục đại học.Giảng viên là người sẽ trực tiếp tạo ra các học liệu mở.Họ sẽ lựa chọn, hướng dẫn, đưa ra những quy định cho sinh viên về việc đọc tài liệu /giáo trình, gợi ý những tài liệu tham khảo thêm nào. Vì vậy, chất lượng của học liệu mở chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên nào giảng viên chọn để sử dụng, họ điều chỉnh chúng thế nào cho phù hợp với bối cảnh cụ thể và họ tích hợp chúng thế nào vào các hoạt động giảng dạy, đào tạo và học tập. Đội ngũ giảng viên học cần:
- Xây dựng kỹ năng đánh giá TNGDM. Giảng viên sẽ tìm kiếm các TNGDM và lựa chọn xem cái nào phù hợp cho các khoá học họ đang giảng dạy. Giảng viên có thể lấy TNGDM hiện có làm chuẩn để so sánh và cải tiến chương trình và phương pháp sư phạm của mình cũng như của người khác. Những đánh giá của giảng viên sẽ giúp TNGDM được điều chỉnh để hoàn thiện hơn. Xem xét việc công bố TNGDM do mình tạo ra. Hợp tác với đồng nghiệp (bao gồm cả việc đánh giá đồng nghiệp) để công bố công và khai các tài liệu hiện đang được soạn thảo cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Làm việc nhóm trong việc tạo lập TNGDM là một phương pháp được đánh giá là rất hiệu quả. Thu thập và điều chỉnh học liệu mở cho phù hợp với bối cảnh nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu học đa dạng của sinh viên và hỗ trợ các hình thức tiếp cận học tập khác nhau để đạt được mục đích học tập đề ra. Học tập các kiến thức và công nghệ liên quan đến TNGDM. Đó là kỹ năng và năng lực thiết kế tài liệu, bản địa hóa các tài liệu nước ngoài, nắm rõ các vấn đề về sở hữ trí tuệ, bản quyền và giấy phép. Xây dựng mạng lưới chuyên môn. Trong hệ sinh thái TNGDM, các giảng viên/nhà nghiên cứu cùng lĩnh vực cần hợp tác với nhau để xây dựng các tài liệu học thuật, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy và sử dụng TNGDM. Khuyết khích sinh viên tham gia TNGDM. Hướng dẫn sinh viên khai thác các học liệu mở trong từng bài giảng, sẵn sàng tiếp thu ý kiến phải hồi của sinh viên, khuyến khích sinh viên đóng góp vào TNGDM. Tham gia đánh giá TNGDM. Giảng viên cần cung cấp ý kiến phản hồi về các tài liệu được cấp phép mở trong lĩnh vực của mình, tham gia chỉnh sửa và sử dụng lại, cung cấp phản hồi của sinh viên về đánh giá nguồn học liệu này. 4.4. Sinh viên Trong cộng đồng người dùng của TNGDM, sinh viên sẽ là nhóm sử dụng chính, vì vậy vai trò của họ là rất quan trọng. Các trường đại học, giảng viên cần có hướng dẫn cụ thể choviệc sinh viên tham gia sử dụng, đánh giá và đóng góp cho TNGDM. Các gợi ý sau đây về việc sinh viên cần làm đối với TNGDM sẽ giúp cho giảng viên và nhà trường có chính sách cụ thể để khuyến khích sinh viên sử dụng TNGDM. Chủ động tham gia sử dụng TNGDM. Sinh viên coi TNGDM là một nguồn học liệu chính thống như thư viện cung cấp, sử dụng nguồn học liệu này vào việc nâng cao hiểu biết, làm các bài nghiên cứu cũng như hoàn thành các bài tập trong từng môn học. Biết cách đánh giá TNGDM. Sinh viên cần trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng cơ bản về việc đánh giá các các nguồn tài liệu để có thể lựa chọn cho
- mình tài liệu phù hợp và tốt nhất, đồng thời có những đánh giá, phản hồi đối với các tài liệu mà học cho là chưa tốt. Trang bị những kiến thức cơ bản về sở hữu trí tuệ, bản quyền và giấy phép. Để sử dụng hiệu quả TNGDM sinh viên cần nắm được những vấn đề pháp lý có liên quan đến tài liệu mình đang sử dụng, hiểu được hệ thống giấy phép của TNGDM, vấn đề bản quyền đối với tài liệu mình sử dụng, họ cần tôn trong tri thức của người đi trước và ý thức được cần phải tránh đạo văn. 4.5. Thƣ viện Chắc chắnTNGDM phải được quản lý và cung cấp bởi các thư viện đại học. Với chức năng cơ bản của mình là cung cấp học liệu cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu, thư viện sẽ là nơi thu thập, lưu trữ, phân phối và chia sẻ nguồn tài nguyên giáo dục mở của trường đại học. Với nghiệp vụ và cơ sở hạ tầng của mình, các thư viện sẽ tổ chức nguồn học liệu, kết nối và cung cấp nguồn học liệu cho cộng đồng sử dụng chung. Các thư viện đại học cần: Chủ động thu thập các TNGDM sẵn có. Các thư viện đại học chủ động tìm kiếm, thu thập, lưu trữ và đánh chỉ mục TNGDM có chất lượng từ nhiều nguồn khác nhau Tạo lập cổng cung cấp TNGDM cho người dùng của đơn vị. Ứng dụng công nghệ thông tin, tạo laaoj cơ sở hạ tầng tốt để tại điều kiện cho người sử dụng khai thác được TNGDM một cách thuận lợi nhất. Tạo lập cộng đồng sử dụng TNGDM. Chủ động giới thiệu TNGDM đến người sử dụng thông qua làm việc với các Khoa, các giảng viên và sinh viên để giới thiệu các TNGDM mà thư viện đang có hoặc biết, hỗ trợ tối đa việc khai thác sử dụng nếu người dùng có nhu cầu. Vận động chính sách trong trường đại học, thúc đẩy sáng kiến về TNGDM. Các thư viện chủ động đề xuất với lãnh đạo nhà trường trong việc đưa ra những chính sách về tạo lập và sử dụng TNGDM. Làm việc với giảng viên và nhà nghiên cứu để phát triển TNGDM. Hỗ trợ các giảng viên nhà nghiên cứu về công nghệ và công cụ để giúp họ xây dựng nội dung, xuất bản các học liệu mở. Phối hợp với họ trong việc giới thiệu TNGDM đến người sử dụng. Hướng sinh viên vào việc sử dụng các nguồn thông tin mở và được thẩm định. Hướng dẫn sinh viên biết cách đánh giá, thẩm định thông tin, định hướng cho họ sử dụng các TNGDM có chất lượng. Giúp người dùng nhận thức tốt hơn về vấn đề bản quyền. Tình trạng vi phạm bản quyền, đạo văn đang tồn tại trong các trường đại học. Thư viện cần có những khóa
- đào tạo cơ bản cho người dùng hiểu được vấn đề bản quyền và biết cách phòng tránh đạo văn. Thư viện hướng người dùng vào việc sử dụng, chia sẻ các tài liệu đã được tuyên bố bản quyền, có giấy phép sử dụng rõ ràng. Đào tạo năng lực số cho người dùng. Thư viện hướng dẫn ngươgi dùng các kỹ năng số như: tìm kiếm, đánh giá và sử dụng nguồn thông tin, mô tả nguồn và siêu dữ liệu cũng như biết các quản trị và phân phối thông tin số. Đào tạo thủ thư học liệu mở - OER Virtual Librarians. Mỗi thư viện cần có ít nhất một thủ thư am hiểu về TNGDM để hỗ trợ chính thư viện trong việc tạo lập và chia sẻ nguồn tài nguyên này cũng như hướng dẫn người dùng sử dụng TNGDM một các hiệu quả. 4.6. Các tổ chức kiểm định Đảm bảo chất lượng trước hết thuộc về trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học. Mặc dù, các tổ chức đảm bảo chất lượng bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển việc kiểm định chất lượng thông qua các hoạt động đánh giá chương trình và rà soát cơ chế đảm bảo chất lượng của nhà trường. Khi đánh giá chất lượng giảng dạy, các tổ chức đảm bảo chất lượng thường xem xét các nguồn tài nguyên giáo dục do các cơ sở giáo dục xây dựng, chỉnh sửa và sử dụng (kể cả học liệu mở). Vì vậy, các tổ chức đảm bảo chất lượng có vai trò trong việc đảm bảo rằng nhà trường phải có các chính sách để hỗ trợ cho việc sử dụng các học liệu mở. Các tổ chức kiểm định cần: Tăng cường sự hiểu biết về học liệu mở và tác động của chúng đến việc đảm bảo chất lượng và công nhận bằng cấp. Cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền và tăng cường sự hiểu biết về phạm vi cấp phép đối với các tài nguyên giáo dục mở. Các tổ chức đảm bảo chất lượng và công nhận bằng cấp cần phải tác động đến việc hoạch định các chính sách liên quan đến học liệu mở, tập trung vào các cơ hội và thách thức mà học liệu mở tạo ra. Xem xét những tác động của TNGDM tới việc đảm bảo chất lượng và công nhận bằng cấp. Cần phải đánh giá hiệu quả của TNGDM trong việc cải thiện chất lượng dạy và học. Công nhận TNGDM như một phương thức tốt của đảm bảo chất lượng và công nhận bằng cấp. Tham gia kiểm soát chất lượng và giám sát việc sử dụng TNGDMtrong các nhà trường. 4.7. Các công ty công nghệ TNGDM ra đời và phát triển được nhờ công nghệ và phụ thuộc và công nghệ, đặc biệt là internet - công cụ làm nổi bật lợi thế và chuyển tải tốt giá trị của TNGDM đó là tri
- thức cho tất cả mọi người và dễ dàng được chia sẻ và khai thác. Công nghệ giúp tạo lập, lưu trữ và chia sẻ nội dung của OER. Tuy nhiên phải nhấn mạnh đây là công nghệ mở (open source) để cộng đồng có thể cùng đóng góp và phát triển. Một tài liệu TNGDM phải được định dạng mở để có thể sửa đổi, cập nhật để tạo ra những bản phái sinh cung như có thể sử dụng trên các nền tảng công nghệ khác nhau. Việc tạo ra các chuẩn công nghệ mở cho TNGDM là điều cần thiết thể để nguồn hoc liệu này có thể tiếp cận đến người dùng với điều kiện và công nghệ khác nhau. Các công ty công nghệ cần: Tham gia tích cực vào việc nghiên cứu và phát triển các công nghệ mở cho TNGDM. Hỗ trợ các tổ chức giáo dục trong việc lựa chọn và cải tiến công nghệ trong quá trình xây dựng và sử dụng TNGDM. Xây dựng chiến lược kinh doanh bền vững liên quan đến nguồn mở và TNGDM. Điều này đảm bảo tính phát triển bền vững và sự tham gia lâu dài của các công ty công nghệ.
- 5. Lộ trình và triển khai thực hiện 5.1. Lộ trình triển khai Giai đoạn 1: Xây dựng chính sách và phát triển cộng đồng Tập trung nghiên cứu khảo sát đánh giá thực trạng đại học Việt Nam Xây dựng chính sách và các hướng dẫn có liên quan TNGDM Xây dựng mô hình hợp tác và những quy định cụ thể cho các trường đại học tham gia đóng góp và sử dụng TNGDM. Nâng cao nhận thức của cộng đồng về TNGDM. Xây dựng đội ngũ chuyên và về TNGDM. Thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về TNGDM. Giai đoạn 2: Triển khai thử nghiệm Lựa chọn các trường đại học trọng điểm để thử nghiệm TNGDM Khuyết khích các trường tự nguyện tham gia xây dựng và sử dụng TNGDM. Triển khai thử nghiệm các chính sách và chương trình đào tạo có sử dụng TNGDM. Tiến hành đánh giá và điều chỉnh Giai đoạn 3: Triển khai diện rộng Yêu cầu sự tham gia bắt buộc của các trường đại học. Coi việc đóng góp và sử dụng TNGDM là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá và xếp hạng đại học. Áp dụng các tiêu chí đánh giá giảng viên trong việc tham gia phát triển và sử dụng TNGDM. Xây dựng trung tâm TNGDM quốc gia. 5.2. Triển khai thực hiện và các yếu tố đảm bảo thành công của dự án * Về chỉ đạo Cần có sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc đưa ra chính sách hoặc hướng dẫn cụ thể, chỉ đạo các trường đại học tham gia cùng phát triển TNGDM. Thành lập Ban chỉ đạo về phát triển TNGDM trong các trường đại học. * Phối hợp thực hiện Liên chi hội thư viện các trường Đại học phía Bắc (NALA) và phía Nam (VILASAL) đong vai trò là đơn vị kết nối và phối hợp thực hiện. Các thư viện đại học/các trường đại học tham gia trực tiếp việc đóng góp và khai thác học liệu, cung cấp nguồn nhân lực cho dự án. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở - Bộ Khoa học và Công nghệ và Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam trong việc tư vấn và cung cấp giải pháp công nghệ mở. Lựa chọn ít nhất 3 đại học vùng làm đơn vị trọng điểm của triển khai TNGDM. * Đôi ngũ chuyên gia
- Xây dựng đội ngũ chuyên gia trong và ngoài nước từ nhiều lĩnh vực khác nhau: giáo dục, công nghệ, quản trị thông tin và chính sách Xây dựng mạng lưới các giảng viên đóng góp thường xuyên cho hệ thống học liệu PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MỞ VÀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ - MỘT PHƢƠNG THỨC BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN, THỤ HƢỞNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NCS.Tạ Thị Thu Đông Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ: Việc tiếp cận, thụ hưởng giáo dục đại học là một quyền con người phải được bảo đảm sự bình đẳng, công bằng cho bất cứ ai có khả năng; Phát triển giáo dục mở, tài nguyên giáo dục mở chính là một giải pháp thiết thực, bền vững đáp ứng yêu cầu đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học cũng như mở ra nhiều triển vọng tích cực cho các cá nhân, cho nền giáo dục và sự phát triển chung của đất nước. Bên cạnh đó, bài viết còn đề cập tới trách nhiệm của mọi chủ thể có liên quan góp phần tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc phát triển hiệu quả giáo dục mở và tài nguyên giáo dục mở để chúng thực sự là một phương thức bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực giáo dục. 1. Tiếp cận, thụ hƣởng giáo dục đại học – Một quyền con ngƣời phải đƣợc bảo đảm một cách bình đẳng, công bằng cho bất cứ ai có khả năng. Quyền con người là toàn bộ những lợi ích, nhu cầu, giá trị chính đáng mà con người phải được xã hội cùng các thành viên của nó tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm trong mọi hoàn cảnh hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định. Xã hội càng phát triển, con người càng có nhu cầu và phải được quyền bảo đảm các điều kiện, cơ hội để phát triển cùng xã hội. Tiếp cận, thụ hưởng giáo dục là phương thức quan trọng nhất
- giúp mỗi cá nhân có năng lực tự thân để theo kịp sự phát triển chung của cộng đồng, dân tộc và nhân loại. Nằm trong nhóm quyền thuộc lĩnh vực văn hóa - xã hội, quyền được giáo dục chiếm vị trí vô cùng quan trọng, là quyền cơ bản, nhu cầu thiết yếu “không thể thiếu để bảo đảm nhân phẩm và tự do phát triển về nhân cách” [dẫn theo 5, tr.52] đối với mỗi cá nhân vì thế đã được khẳng định tại nhiều văn kiện pháp lý quan trọng. Điều 26 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 khẳng định rõ: “Mọi người đều có quyền được học tập” [dẫn theo 5, 53]. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 cũng cụ thể hóa tại Điều 13 và Điều 14. Nếu giáo dục tiểu học và trung học giúp các cá nhân có kiến thức, kỹ năng căn bản để tham gia vào lực lượng lao động, không bị rơi vào đói nghèo cùng cực, bị gạt ra khỏi bên lề xã hội thì giáo dục đại học lại là cơ hội giúp các cá nhân phát triển tối đa mọi tiềm năng sẵn có (tố chất, thiên hướng) cùng những năng lực, ước vọng về nghề nghiệp được bồi đắp từ nền tảng giáo dục trước đó. “Giáo dục là con đường gia công chuyển hóa sức lao động giản đơn thành sức lao động phát triển, chuyên môn Quá trình giáo dục, huấn luyện chính là quá trình kỹ thuật hóa, chuyên môn hóa sức lao động, tạo ra sức lao động trí óc hiện đại” [4, tr.14]. Xã hội càng phát triển cùng xu hướng toàn cầu hóa cả về công nghệ lẫn văn hóa thì nhân tố trí lực trong lao động càng trở thành bắt buộc. Tuy nhiên, năng lực lao động trí tuệ của người lao động thường không đồng đều trong khi yêu cầu về lao động lại không ngừng gia tăng đòi hỏi yếu tố trí tuệ, hàm lượng chất xám, khả năng tư duy cao hơn, sáng tạo hơn. Từ đó tất yếu dẫn tới sự phân hóa về trình độ, năng lực trong lực lượng lao động. Giáo dục đại học chính là phương thức thúc đẩy, là cơ sở tạo ra sự phân hóa hợp quy luật đó. Giáo dục đại học đóng vai trò phân hóa và tách ra trong lực lượng lao động bộ phận người lao động chân tay trực tiếp trở thành người lao động chuyên đảm nhiệm các công việc yêu cầu cao về lao động trí óc với những kỹ năng toàn diện [4, tr.15]. Cho nên, tiếp cận, thụ hưởng giáo dục đại học là điều kiện giúp các cá nhân có thiên hướng lao động trí óc được đào tạo trang bị tri thức, huấn luyện kỹ năng toàn diện để chủ động tham gia vào sự phân hóa trong lực lượng lao động nhằm bảo đảm “quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công



