Dạy học trong kỷ nguyên số (Phần 2)

pdf 292 trang ngocly 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dạy học trong kỷ nguyên số (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfday_hoc_trong_ky_nguyen_so_phan_2.pdf

Nội dung text: Dạy học trong kỷ nguyên số (Phần 2)

  1. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Chương 8: Việc chọn và sử dụng các phương tiện trong giáo dục: Mô hình SECTIONS Mục đích của chương này Mục đích chính của chương này là để cung cấp một khung công việc cho việc ra các quyết định có hiệu quả về sự lựa chọn và sử dụng các phương tiện cho việc dạy và học. Khung công việc được sử dụng là mô hình SECTIONS, viết tắt các ký tự đầu tiếng Anh của: • S tudents - sinh viên • E ase of use - Dễ sử dụng • C osts - Chi phí • T eaching functions - Các chức năng dạy học • I nteraction - Tương tác • O rganisational issues - Các vấn đề về tổ chức • N etworking - Kết nối mạng • S ecurity and privacy - An toàn và tính riêng tư Khi kết thúc chương này, bạn sẽ có khả năng chọn các phương tiện và công nghệ đúng thích hợp cho bất kỳ chủ đề nào bạn có thể sẽ dạy, và có khả năng chứng minh cho quyết định của bạn. Điều gì được đề cập tới trong chương này • 8.1 Các mô hình lựa chọn các phương tiện • 8.2 Các sinh viên • 8.3 Dễ sử dụng • 8.4 Chi phí • 8.5 Việc dạy học và lựa chọn các phương tiện • 8.6 Sự tương tác • 8.7 Các vấn đề về tổ chức • 8.8 Việc kết nối mạng • 8.9 An toàn và tính riêng tư • 8.10 Việc quyết định Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 313/604
  2. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Hơn nữa trong chương này bạn sẽ thấy các hoạt động sau: • Hoạt động 8.1 Ra quyết định ban đầu về lựa chọn các phương tiện • Hoạt động 8.2 Hiểu biết về các sinh viên của bạn • Hoạt động 8.4 Hiệu quả về kinh tế sẽ thế nào cho quyết định của bạn về các phương tiện nào sẽ sử dụng? • Hoạt động 8.5 Các nguyên tắc thiết kế đa phương tiện • Hoạt động 8.6 Sử dụng các phương tiện để khuyến khích hoạt động của sinh viên • Hoạt động 8.10 Chọn các phương tiện và công nghệ Những điều chính rút ra được 1. Việc lựa chọn các phương tiện và công nghệ là một quy trình phức tạp, có liên quan tới một dải rộng lớn các biến tương tác. 2. Hiện không có lý thuyết hoặc quy trình đúng phù hợp để lựa chọn các phương tiện. Tuy nhiên mô hình SECTIONS đưa ra một tập hợp các tiêu chí hoặc câu hỏi mà kết quả của chúng có thể giúp thông tin cho người chỉ dẫn khi ra các quyết định về các phương tiện hoặc công nghệ nào sẽ sử dụng. 3. Vì dải rộng lớn các yếu tố có ảnh hưởng tới sự lựa chọn và sử dụng các phương tiện, một tiếp cận quy nạp và trực giác cho việc ra quyết định, nhưng được một phân tích cẩn thận tất cả các tiêu chí trong khung SECTIONS cho biết, là một cách thức thực tế để tiếp cận việc ra quyết định về các phương tiện và công nghệ cho việc dạy và học. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 314/604
  3. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 8.1 Các mô hình để lựa chọn các phương tiện Hình 8 Mô hình SECTIONS 8.1.1 Tài liệu nói cho chúng ta biết điều gì Đưa ra tầm quan trọng của chủ đề, có khá ít tài liệu về cách chọn các phương tiện hoặc công nghệ đúng phù hợp cho việc dạy học. Đã từng có một loạt các xuất bản phẩm không thật hữu dụng về chủ đề này vào những năm 1970 và 1980, nhưng khá ít kể từ đó (Baytak, không ghi ngày tháng). Quả thực, Koumi (1994) đã nêu rằng: chưa tồn tại một lý thuyết có thể thực hành được đầy đủ cho việc lựa chọn các phương tiện đúng phù hợp cho các chủ đề, các nhiệm vụ học tập và các dân số đích được đưa ra thực hành phổ biến nhất là không sử dụng một mô hình nào cả. Trong trường hợp đó, không ngạc nhiên là sự phân bổ các phương tiện từng được kiểm soát nhiều hơn bởi các yếu tố chính trị / con người và kinh tế thực hành hơn là bằng những cân nhắc sư phạm (trang 56). Mackenzie (2002) bình luận với cảm hứng tương tự: Khi tôi đang thảo luận về hiện trạng của công nghệ với các giáo viên khắp đất nước, điều trở nên rõ ràng là họ cảm thấy bị ràng buộc bởi sự truy cập của họ tới công nghệ, bất kể tình huống của họ ra sao. Nếu một giáo viên có một thiết lập máy tính - truyền hình, thì đó là những gì anh/chị ta sẽ sử dụng trong phòng học. Mặt khác, nếu có một máy chiếu LCD được móc vào một trạm trình diễn của một giáo viên trong một phòng thí nghiệm được trang bị Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 315/604
  4. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 đầy đủ, thì anh/chị ta sẽ có lựa chọn nhiều hơn để sử dụng thiết lập đó. Các giáo viên đã luôn làm tốt nhất bất kể thứ gì họ từng có trong tay, mà đó là những gì chúng ta phải làm việc. Các giáo viên hoàn thành thôi. Mackenzie (2002) đã gợi ý xây dựng sự lựa chọn công nghệ xung quanh lý thuyết nhiều sự hiểu biết của Howard Gardner (Gardner, 1983, 2006), đi theo sự tuần tự các quyết định: người học → mục đích dạy học → trí tuệ → lựa chọn phương tiện. Mackenzie sau đó phân bổ các phương tiện khác nhau để hỗ trợ cho sự phát triển từng sự hiểu biết của Gardner. Lý thuyết nhiều sự hiểu biết của Gardner từng được kiểm thử và áp dụng rộng rãi, và những phân bổ các phương tiện của Mackenzie cho những hiểu biết có ý nghĩa trực quan, nhưng tất nhiên nó phụ thuộc vào các giáo viên và những người chỉ dẫn áp dụng lý thuyết Gardner cho việc dạy học của họ. Một rà soát lại các xuất bản phẩm gần đây hơn về sự lựa chọn các phương tiện gợi ý rằng bất chấp những phát triển nhanh chóng trong các phương tiện và công nghệ trong vòng 20 năm qua, mô hình ACTIONS của tôi (Bates, 1995) là một trong những mô hình chính vẫn còn đang được áp dụng, dù với những sửa đổi bổ sung thêm (xem, ví dụ, Baytak, không đề ngày tháng; Lambert và Williams, 1999; Koumi, 2006). Quả thực, bản thân tôi đã sửa đổi mô hình ACTIONS, điều đã được phát triển cho giáo dục từ ở xa, sang mô hình SECTIONS để bao trùm sử dụng các phương tiện trong giáo dục dựa vào khu trường cũng như giáo dục từ ở xa (Bates và Poole, 2003). Patsula (2002) đã phát triển một mô hình gọi là CASCOIME bao gồm vài tiêu chí trong các mô hình của Bates, nhưng cũng thêm các tiêu chí bổ sung và có giá trị như tính bền vững chính trị - xã hội, sự thân thiện về văn hóa, và tính mở/tính mềm dẻo, để tính tới các quan điểm quốc tế. Zaied (2007) đã tiến hành một nghiên cứu theo kinh nghiệm để kiểm thử các tiêu chí nào để lựa chọn các phương tiện đã được các giáo viên, các chuyên gia CNTT và các sinh viên cho là quan trọng, và đã nhận diện được 7 tiêu chí. 4 trong số đó đã phù hợp hoặc tương tự với các tiêu chí của Bates. 3 tiêu chí khác là sự thỏa mãn của sinh viên, sự năng động của sinh viên và sự phát triển nghề nghiệp, chúng giống các điều kiện thành công hơn và không thật dễ để nhận diện trước khi ra quyết định. Koumi (2006) và Mayer (2009) đã đi tới gần nhất với việc phát triển các mô hình lựa chọn các phương tiện. Mayer đã phát triển 12 nguyên tắc thiết kế đa phương tiện dựa vào nghiên cứu rộng rãi, tạo ra những gì Mayer gọi là một lý thuyết có tính nhận thức về việc học tập đa phương tiện. (Về một ứng dụng xuất sắc của lý thuyết Mayer, xem UBC Wikis). Koumi (2005) gần đây hơn đã phát triển một mô hình cho việc quyết định về sự pha trộn và sử dụng tốt nhất video và in ấn để chỉ dẫn thiết kế các xMOOCs. Tiếp cận của Mayer là có giá trị ở mức vi mô hơn khi nó đi đến việc thiết kế các tư liệu giáo dục đa phương tiện đặc thù, như công việc của Koumi. Lý thuyết có tính nhận thức của Mayer về thiết kế đa phương tiện gợi ý sự kết hợp tốt nhất của từ ngữ và hình ảnh, và các quy tắc để tuân thủ như việc đảm bảo sự mạch lạc và tránh quá tải về tính nhận thức. Khi quyết định sử dụng một ứng dụng đa phương tiện đặc thù, nó đưa ra các chỉ dẫn rất mạnh. Dù vậy là khó khăn hơn để áp dụng ở mức vĩ Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 316/604
  5. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 mô. Vì trọng tâm của Mayer là vào việc xử lý có tính nhận thức, lý thuyết của ông không làm việc trực tiếp với sự kham được hoặc các đặc tính sư phạm duy nhất của các phương tiện khác. Cả Mayer và Koumi đều không giải quyết các vấn đề phi sư phạm trong lựa chọn các phương tiện, như chi phí hoặc truy cập. Công việc của Mayer và Koumi không cạnh tranh nhiều như sự bổ sung tới những gì tôi đang đề xuất. Tôi đang cố gắng nhận diện các phương tiện nào (hoặc các kết hợp các phương tiện) để sử dụng trước nhất. Lý thuyết của Mayer sau đó có thể chỉ dẫn cho thiết kế ứng dụng thực sự. Tôi sẽ thảo luận về 12 nguyên tắc của Mayer xa hơn trong Phần 5 của chương này, nó làm việc với các chức năng dạy học. Không ngạc nhiên rằng chưa có nhiều mô hình để lựa chọn các phương tiện. Các mô hình được phát triển trong những năm 1970 và 1980 đã chọn tiếp cận rất đơn giản hóa theo chủ nghĩa hành vi đối với sự lựa chọn các phương tiện, thường tạo ra vài trang về các cây quyết định, điều hoàn toàn là không thực tế để áp dụng, đưa ra các thực tế dạy học, và các mô hình đó vẫn còn bao gồm cả sự không thừa nhận sự kham được duy nhất của các phương tiện khác nhau. Quan trọng hơn, công nghệ tuân theo sự thay đổi nhanh, có các quan điểm cạnh tranh về các tiếp cận sư phạm đúng phù hợp cho việc dạy học, và ngữ cảnh của việc học tập biến đổi quá nhiều. Việc tìm kiếm một mô hình thực tế, có khả năng quản lý được và tìm thấy được trong nghiên cứu và kinh nghiệm có thể được áp dụng rộng rãi đã chứng minh là rất thách thức. 8.1.2 Vì sao chúng ta cần một mô hình Cùng lúc, mỗi giáo viên, người chỉ dẫn, và ngày càng gia tăng mỗi người học, cần phải ra các quyết định trong lĩnh vực này, thường trên cơ sở hàng ngày. Một mô hình lựa chọn công nghệ và ứng dụng là cần thiết vì thế nó có các đặc tính sau: • nó sẽ làm việc trong sự đa dạng rộng lớn các ngữ cảnh của việc học tập; • nó cho phép các quyết định được đưa ra cả ở các mức chiến lược, rộng khắp cơ sở, và chiến thuật, giảng dạy; • nó đưa ra sự chú ý ngang bằng nhau cho các vấn đề giáo dục và vận hành; • nó sẽ nhận diện những khác biệt then chốt giữa các phương tiện và công nghệ khác nhau, vì thế xúc tác cho một sự pha trộn đúng phù hợp sẽ được chọn cho bất kỳ ngữ cảnh nào được đưa ra; • nó là dễ hiểu, thực dụng và hiệu quả về chi phí; • nó sẽ điều tiết được các phát triển mới trong công nghệ; Vì các lý do đó, thế là, tôi sẽ tiếp tục sử dụng mô hình SECTIONS của Bates, với vài sự điều chỉnh để tính tới các phát triển gần đây trong công nghệ, nghiên cứu và lý thuyết. Mô hình SECTIONS là dựa vào nghiên cứu, đã trải qua kiểm thử của thời gian, và đã được thấy là thực tế. SECTIONS là viết tắt các chữ cái đầu của các từ tiếng Anh sau đây: • S tudents - sinh viên Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 317/604
  6. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • E ase of use - Dễ sử dụng • C osts - Chi phí • T eaching functions - Các chức năng dạy học • I nteraction - Tương tác • O rganisational issues - Các vấn đề về tổ chức • N etworking - Kết nối mạng • S ecurity and privacy - An toàn và tính riêng tư Tôi sẽ thảo luận về từng tiêu chí đó trong các phần tiếp sau, và sau đó sẽ gợi ý cách áp dụng mô hình đó. Hoạt động 8.1 Ra quyết định ban đầu về lựa chọn các phương tiện 1. Hãy chọn một khóa học bạn đang dạy hoặc có thể dạy. Hãy nhận diện các phương tiện hoặc công nghệ nào bạn có lẽ có quan tâm trong việc sử dụng. Hãy giữ lưu ý về quyết định của bạn và các lý do của bạn cho sự lựa chọn của bạn về các phương tiện / công nghệ. Khi bạn đã kết thúc đọc chương này, bạn sẽ được yêu cầu thực hiện hoạt động cuối cùng (Hoạt động 8.10) và sau đó bạn có thể so sánh các câu trả lời của bạn trong 2 hoạt động đó sau khi đọc toàn bộ chương này. Các tham chiếu • Bates, A. (1995) Teaching, Open Learning and Distance Education London/New York: Routledge • Bates, A. and Poole, G. (2003) Effective Teaching with Technology in Higher Education San Francisco: Jossey-Bass/John Wiley and Son • Baytak, A.(undated) Media selection and design: a case in distance education Academia.edu • Gardner, H. (1983) Frame of Mind: The Theory of Multiple Intelligences New York: Basic Books • Gardner, H. (2006) Multiple Intelligences: New Horizons and Theory in Practice New York: Basic Books • Koumi, J. (1994). Media comparisons and deployment: A practitioner’s view. British Journal of Educational Technology, Vol. 25, No. 1 • Koumi, J. (2006). Designing video and multimedia for open and flexible learning. London: Routledge. • Lambert, S. and Williams R. (1999) A model for selecting educational technologies to Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 318/604
  7. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 improve student learning Melbourne, Australia: HERDSA Annual International Conference, July • Mackenzie, W. (2002) Multiple Intelligences and Instructional Technology: A Manual for Every Mind. Eugene, Oregon: ISTE • Mayer, R. E. (2009). Multimedia Learning (2nd ed). New York: Cambridge University Press. • Nel, C., Dreyer, C. and Carstens (2001) Educational Technologies: A Classification and Evaluation Journal for Language Teaching Vol. 35, No. 4 • Patsula, P. (2002) Practical guidelines for selecting media: An international perspective The Useableword Monitor, February 1 • UBC Wikis (2014) Documentation: Design Principles for Multimedia Vancouver BC: University of British Columbia • Zaied, A. (2007) A Framework for Evaluating and Selecting Learning Technologies The International Arab Journal of Information Technology, Vol. 4, No. 2 Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 319/604
  8. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 8.2 Các sinh viên Hình 8.2 Bộ Giáo dục Malaysia đã công bố trong năm 2012 rằng nó sẽ tạo thuận lợi cho các sinh viên mang điện thoại cầm tay tới các trường học theo những chỉ dẫn khắt khe Hình ảnh: © NewStraightsTimes, 2012 Các tiêu chí đầu tiên trong mô hình SECTIONS là các sinh viên. Ít nhất 3 vấn đề có liên quan tới các sinh viên cần phải được xem xét khi chọn các phương tiện và công nghệ: • nhân khẩu học của sinh viên; • sự truy cập; và • những khác biệt trong cách các sinh viên học tập. 8.2.1 Nhân khẩu học của sinh viên Một trong những thách thức có lý do từ giáo dục đại học đại chúng là các giáo viên trong các trường đại học và cao đẳng bây giờ phải dạy ngày càng nhiều sinh viên với dải rất đa dạng. Việc gia tăng sự đa dạng các sinh viên này đưa ra các thách thức chính cho tất cả các giáo viên, không chỉ cho các giáo viên sau trung học. Tuy nhiên, điều đó là ít phổ biến hơn đối với những người chỉ dẫn ở mức sau trung học biến động tiếp cận của họ trong một khóa học duy nhất nào đó để dàn xếp những khác biệt của người học, mà việc gia tăng sự đa dạng của các sinh viên bây giờ đòi hỏi rằng tất cả các khóa học nên được phát triển với một sự đa dạng rộng lớn các tiếp cận và cách thức để học nếu tất Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 320/604
  9. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 cả các sinh viên trong khóa học sẽ được dạy tốt. Đặc biệt, là quan trọng để làm rõ về các nhu cầu của nhóm đích. Các sinh viên năm thứ 1 và 2 từ trường trung học có khả năng sẽ đòi hỏi nhiều sự hỗ trợ và giúp học tập hơn ở mức đại học hoặc cao đẳng. Họ có khả năng ít phụ thuộc hơn như những người học, và vì thế có thể là một sai lầm để kỳ vọng họ có khả năng nghiên cứu hoàn toàn qua sử dụng công nghệ. Tuy nhiên, công nghệ có thể là hữu dụng như một sự hỗ trợ cho việc dạy học trong phòng học, đặc biệt nếu nó đưa ra một tiếp cận lựa chọn thay thế cho việc học tập từ việc dạy học mặt đối mặt, và dần dần được giới thiệu, chuẩn bị cho họ vì sự nghiên cứu độc lập hơn sau này trong một chương trình. Mặt khác, đối với các sinh viên đã từng qua giáo dục đại học rồi như một sinh viên trong khu trường, nhưng bây giờ đang đi làm, thì một chương trình được phân phối hoàn toàn bằng công nghệ từ ở xa có khả năng là rất hấp dẫn. Những sinh viên như vậy sẽ phát triển rồi các kỹ năng nghiên cứu thành công, sẽ có cộng đồng và cuộc sống gia đình của riêng họ, và sẽ chào đón tính mềm dẻo của việc nghiên cứu theo cách này. Các sinh viên chưa tốt nghiệp đang học các năm thứ 3 và 4 có thể đánh giá cao sự pha trộn của nghiên cứu trực tuyến và dựa vào phòng học hoặc thậm chí 1 hoặc 2 khóa học trực tuyến hoàn toàn, đặc biệt nếu vài lớp học mặt đối mặt của họ sẽ là đóng đối với sự tuyển sinh tiếp, hoặc nếu các sinh viên đang làm việc bán thời gian để giúp bù được vài trong số các chi phí học tập ở cao đẳng. Cuối cùng, trong bất kỳ lớp học hoặc nhóm những người học tập duy nhất nào, sẽ có một dải rộng lớn các khác biệt theo tri thức có từ trước đó, các kỹ năng ngôn ngữ, các kiểu nghiên cứu được ưu tiên. Sử dụng sự thông minh các phương tiện và công nghệ có thể giúp giải quyết các khó khăn đó. Vì thế, một lần nữa, là quan trọng để hiểu các sinh viên của bạn, và để giữ điều này trong đầu khi ra các quyết định về các phương tiện hoặc công nghệ nào sử dụng. Điều này sẽ được thảo luận tiếp trong Chương 9. 8.2.2 Truy cập Trong tất cả các tiêu chí xác định sự lựa chọn công nghệ, điều này có lẽ là phân biệt đối xử nhất. Bất kể một phương tiện hoặc công nghệ đặc biệt có thể mạnh tới đâu chăng nữa theo các khái niệm về giáo dục, nếu các sinh viên không thể truy cập được nó theo một cách thức thuận tiện và kham được thì họ không thể học được từ nó. Vì thế dòng video liên tục (video streaming) có thể được xem là một cách tốt để làm cho các bài giảng cho các sinh viên ra khỏi khu trường, nhưng nếu họ không có truy cập Internet ở nhà, hoặc nếu phải mất 4 giờ đồng hồ hoặc tiền lương của 1 ngày để tải về, thì hãy quên nó đi. Khó khăn trong truy cập là một sự hạn chế đặc biệt trong việc sử dụng các xMOOCs ở các nước đang phát triển. Thậm chí nếu những người học tiềm năng có sự truy cập Internet hoặc điện thoại di động, điều mà 5 tỷ người vẫn chưa có được, thì nó thường lấy đi tiền lương của 1 ngày để tải về chỉ một video duy nhất từ YouTube - xem Marron, Missen and Greenberg, 2014. Bất kỳ giáo viên nào hoặc người chỉ dẫn nào có ý định sử dụng các máy tính, các máy tính bảng Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 321/604
  10. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 hoặc điện thoại di động cho các mục đích dạy học cần trả lời một số câu hỏi: • chính sách của cơ sở là gì với lưu ý về sự truy cập của sinh viên tới máy tính, máy tính bảng hoặc điện thoại di động? • liệu các sinh viên có thể sử dụng bất kỳ thiết bị nào hay liệu có một danh sách có giới hạn các thiết bị mà cơ sở sẽ hỗ trợ? • liệu phương tiện hoặc phần mềm được chọn cho việc dạy học có tương thích với tất cả sự tạo ra các thiết bị mà các sinh viên có thể sử dụng? • liệu mạng có là đúng phù hợp để hỗ trợ cho các sinh viên dôi dư bất kỳ mà sáng kiến này sẽ bổ sung thêm? • ai nữa trong cơ sở cần phải biết bạn đang yêu cầu các sinh viên sử dụng các thiết bị đặc biệt? Nếu các sinh viên được kỳ vọng đưa ra các thiết bị của riêng họ (điều ngày càng có ý nghĩa): • dạng thiết bị nào họ cần: một thiết bị ở nhà với sự truy cập Internet hay một thiết bị khả chuyển mà họ có thể mang vào khu trường - hay một thiết bị có thể được sử dụng cả ở nhà và trong khu trường? • dạng ứng dụng nào họ sẽ cần để chạy trên (các) thiết bị của họ vì các mục đích nghiên cứu? • liệu sẽ có khả năng hay không để sử dụng (các) thiết bị y hệt khắp tất cả các khóa học, hoặc liệu họ có cần các phần mềm/ứng dụng và thiết bị khác cho các khóa học khác nhau hay không? • các kỹ năng nào các sinh viên sẽ cần trong việc vận hành các thiết bị và ứng dụng mà sẽ được chạy trên chúng? • nếu các sinh viên không có các kỹ năng, liệu có còn là đáng để chúng học không, và liệu sẽ có thời gian được dành trong khóa học cho họ để học các kỹ năng đó hay không? Các sinh viên (cũng như người chỉ dẫn) cần biết các câu trả lời cho 3 câu hỏi đó trước khi họ tuyển mộ vào một khóa học hoặc chương trình. Để trả lời cho các câu hỏi đó, bạn và phòng của bạn phải biết các sinh viên nào sẽ sử dụng các thiết bị của họ. Không có điểm nào trong việc yêu cầu các sinh viên bỏ tiền ra mua một máy tính xách tay nếu công việc họ được yêu cầu phải làm trên máy tính là tầm thường hoặc tùy ý lựa chọn. Điều này ngụ ý vài việc lên kế hoạch trước ở phần của bạn: • đâu là những ưu điểm giáo dục bạn thấy khi sinh viên sử dụng một thiết bị đặc biệt? • các sinh viên sẽ cần phải làm điều gì trên thiết bị trong khóa học của bạn? • liệu có là cơ bản đối với họ để sử dụng một thiết bị theo các cách thức đó, hay có thể học dễ dàng quản lý được mà không cần có thiết bị? Đặc biệt, đánh giá sẽ được liên kết thế nào tới việc sử dụng thiết bị? Nó sẽ thực sự giúp được nếu cơ sở của bạn có được các chính sách tốt tại chỗ cho sự truy cập công nghệ của sinh viên (xem Phần 8.7). Nếu cơ sở không có các chính sách rõ ràng hoặc hạ tầng cho việc hỗ trợ các công nghệ bạn muốn sử dụng, thì công việc của bạn sẽ rất nặng nề. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 322/604
  11. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Câu trả lời cho câu hỏi về truy cập và lựa chọn công nghệ cũng sẽ hơi phụ thuộc vào mệnh lệnh của cơ sở và các mục tiêu giáo dục của cá nhân bạn. Ví dụ, các trường đại học được lựa chọn cao có thể đòi hỏi các sinh viên sử dụng các thiết bị đặc thù, và có thể giúp khá ít các sinh viên có các khó khăn kinh tế trong việc mua và sử dụng các thiết bị đặc thù. Nếu dù mệnh lệnh của cơ sở là để với tới được những người học đã từ chối truy cập tới các cơ sở truyền thống, các nhóm cổ đông, những người không có công ăn việc làm, người lao động nghèo, hoặc người lao động cần nâng cấp hoặc giáo dục và huấn luyện tiên tiến hơn, thì nó trở thành then chốt để tìm ra công nghệ gì họ có sự truy cập tới hoặc có thiện chí sử dụng. Nếu chính sách của một cơ sở là truy cập mở tới bất kỳ ai muốn tham gia các khóa học của mình, thì tính sẵn sàng của trang thiết bị sẵn rồi ở nhà (thường được mua vì các mục đích giải trí) trở thành hết sức quan trọng. Một yếu tố quan trọng khác phải cân nhắc là sự truy cập cho sinh viên khuyết tật. Điều này có thể ngụ ý việc cung cấp các lựa chọn văn bản hoặc âm thanh cho các sinh viên khiếm thính và khiếm thị một cách tương ứng. May thay bây giờ có các thực tế và tiêu chuẩn được thiết lập tốt dưới sự dẫn dắt chung của các Tiêu chuẩn Thiết kế Vạn năng (Universal Design Standards). Thiết kế vạn năng được xác định như sau: Thiết kế vạn năng cho học tập - UDL (Universal Design for Learning) tham chiếu tới thiết kế chỉ dẫn bắt buộc để đáp ứng các nhu cầu của một sự pha trộn đa dạng những người học. Các khóa học được thiết kế vạn năng cố gắng đáp ứng tất cả các nhu cầu của những người học bằng việc kết hợp nhiều biện pháp phổ biến thông tin và các phương pháp mềm dẻo trong việc truy cập việc học tập. UDL cũng bao gồm nhiều phương tiện tham gia hoặc gắn vào các lợi ích của những người học. Các khóa học được thiết kế vạn năng không được thiết kế với bất kỳ nhóm sinh viên đặc thù nào với một khuyết tật trong đầu, mà thay vào đó được thiết kế để giải quyết các nhu cầu học tập của một nhóm trải rộng. Brokop, F. (2008) Hầu hết các cơ sở với trung tâm hỗ trợ việc dạy và học đều sẽ có khả năng để cung cấp sự hỗ trợ cho giáo viên để đảm bảo khóa học đáp ứng được các tiêu chuẩn thiết kế vạn năng. BCcampus có một chỉ dẫn rất hữu dụng cho việc chuẩn bị các tư liệu dựa trên web đáp ứng được các tiêu chuẩn về khả năng truy cập. Trường Cao đẳng Norquest và eCampus Alberta đã xuất bản một chỉ dẫn chi tiết hơn cho việc đảm bảo các tư liệu trực tuyến truy cập được cho những người khuyết tật. 8.2.3 Những khác biệt của sinh viên với lưu ý về việc học tập với các công nghệ Có lẽ là rõ là các sinh viên khác nhau sẽ có các ưu tiên khác nhau cho các dạng công nghệ hoặc phương tiện khác nhau. Thiết kế việc dạy học có thể cung cấp được cho những khác biệt đó. Vì thế nếu các sinh viên là những người học 'nhìn bằng mắt', thì họ có thể được cung cấp với các sơ đồ hoặc hình minh họa. Nếu họ là những người học nghe bằng tai, thì họ sẽ thích các bài giảng và các podcast hơn. Sau đó có thể là việc nhận diện các kiểu học tập trội hơn nên cung cấp các tiêu chí Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 323/604
  12. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 mạnh cho sự lựa chọn các phương tiện và công nghệ. Tuy nhiên, điều đó không đơn giản như thế. McLoughlin (1999), trong một rà soát lại sâu sắc các tác động của tư liệu nghiên cứu về các dạng học tập cho thiết kế tư liệu chỉ dẫn, đã kết luận rằng chỉ dẫn có thể được thiết kế để điều chỉnh các khác biệt trong cả các kiểu học tập theo nhận thức - giác quan và chu kỳ học tập theo kinh nghiệm của Kolb (1984). Trong một nghiên cứu về đợt tuyển sinh mới được tiến hành qua vài năm ở Đại học Missouri-Columbia, sử dụng sự kiểm kê của Myers-Briggs, Schroeder (1993) đã thấy rằng các sinh viên mới nghĩ cụ thể, và không thoải mái với các ý tưởng trừu tượng và mù mờ. Tuy nhiên, chức năng chính của giáo dục đại học là để phát triển các kỹ năng tư duy trừu tượng, và để giúp các sinh viên làm việc với sự phức tạp và không chắc chắn. Perry (1984) đã thấy rằng việc học tập trong giáo dục đại học là một quá trình phát triển. Không ngạc nhiên là nhiều sinh viên vào trường cao đẳng hoặc đại học không có các kỹ năng 'hàn lâm' như vậy. Quả thực, có các vấn đề chính trong việc cố gắng áp dụng các kiểu học tập và các phương pháp khác phân loại những khác biệt của người học về lựa chọn và sử dụng các phương tiện và công nghệ. Laurillard (2001) đưa ra một điểm rằng nhìn vào các kiểu học tập trong sự trừu tượng là không hữu dụng. Việc học tập phải được xem xét theo ngữ cảnh. Các kỹ năng tư duy trong lĩnh vực chủ đề này không nhất thiết truyền được tốt sang lĩnh vực chủ đề khác. Có các cách thức tư duy là đặc thù cho các lĩnh vực chủ đề khác nhau. Vì thế những người nghĩ hợp lý theo logic trong khoa học không nhất thiết trở thành các ông chồng chín chắn, hoặc các nhà bình luận văn học tốt. Một phần của giáo dục đại học là để hiểu và có khả năng thách thức các chế độ trội hơn hẳn về tư duy trong một lĩnh vực chủ đề. Trong khi việc dạy học hướng vào người học là quan trọng, thì các sinh viên cần hiểu logic các tiêu chuẩn và giá trị vốn có của một lĩnh vực chủ đề. Họ cũng cần phải được thách thức, và được khuyến khích nghĩ vượt ra xa hơn. Điều này có thể xung đột với kiểu học được ưu tiên của họ. Quả thực, nghiên cứu về tính hiệu quả của việc khớp nối phương pháp chỉ dẫn với các kiểu học tập là lập lờ nước đôi rõ nhất. Ví dụ, Dziuban et al. (2000), Đại học Trung tâm Florida, đã áp dụng phân tích hành vi phản ứng của Long đối với các kiểu học cho các sinh viên ở cả các lớp học mặt đối mặt và các lớp học trực tuyến dựa trên web. Họ đã thấy rằng kiểu học dường như không là một nhà tiên tri về việc ai rút lui khỏi các khóa học trực tuyến, cũng không phải là những người học độc lập có khả năng làm tốt hơn trên trực tuyến so với các dạng người học khác. Giới hạn của các kiểu học như một chỉ dẫn cho việc thiết kế các khóa học không ngụ ý chúng ta nên bỏ qua những khác biệt của sinh viên, và chúng ta nên nhất định bắt đầu từ nơi mà có các sinh viên. Đặc biệt, ở mức đại học chúng ta cần các chiến lược để dần dần chuyển các sinh viên từ việc học tập cụ thể dựa vào kinh nghiệm cá nhân sang trừu tượng, học tập có suy nghĩ rằng có thể sau đó áp dụng được cho các ngữ cảnh và tình huống mới. Công nghệ có thể là đặc biệt hữu dụng cho điều đó, như được thấy trong Chương 7. Vì thế khi thiết kế các khóa học, là quan trọng để đưa ra một dãy các lựa chọn cho việc học tập của sinh viên trong cùng khóa học y hệt. Một cách để làm điều này là chắc chắn rằng khóa học có cấu trúc tốt, với thông tin 'cốt lõi' thích hợp sẵn sàng dễ dàng cho tất cả các sinh viên, nhưng cũng phải chắc chắn rằng có các cơ hội cho các sinh viên tìm ra các nội dung mới hoặc khác. Nội dung này Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 324/604
  13. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 nên là sẵn sàng trong sự đa dạng các phương tiện như văn bản, các sơ đồ, và video, với các ví dụ cụ thể, có liên quan rõ ràng tới các nguyên tắc nằm bên dưới. Chúng ta sẽ thấy trong Chương 10 rằng sự sẵn sàng ngày càng gia tăng về các tài nguyên giáo dục mở làm cho sự cung ứng 'tính giàu có' này của nội dung có khả năng bền vững hơn nhiều. Tương tự, công nghệ xúc tác cho một dải các hoạt động của người học sẽ được làm cho sẵn sàng, như việc tìm kiếm lại các ghi chép trên Web, các diễn đàn thảo luận trực tuyến, các trình diễn đồng bộ, đánh giá qua các hồ sơ điện tử, và công việc nhóm trên trực tuyến. Dải các hoạt động làm gia tăng khả năng một sự đa dạng các ưu tiên của người học sẽ được đáp ứng, và cũng khuyến khích những người học bản thân họ tham gia vào trong các hoạt động và các tiếp cận học tập ở những nơi họ ban đầu có thể cảm thấy ít thuận tiện. Những tiếp cận như vậy về thiết kế có khả năng nhiều hơn sẽ là không thực tế trong hầu hết các trường hợp. Vì thế hãy tránh cố làm trùng khớp các phương tiện khác nhau cho các dạng học tập khác nhau mà thay vào đó hãy đảm bảo rằng các sinh viên có được một dải rộng lớn các phương tiện (văn bản, âm thanh, video, điện toán) bên trong một khóa học hoặc chương trình. Cuối cùng, nên cẩn thận trong các giả thiết được làm về các ưu tiên của sinh viên cho việc học tập thông qua các công nghệ số. Một mặt, 'những người khuếch trương' công nghệ như Mark Prensky và Don Tapscott tranh luận rằng 'bẩm sinh số' ngày nay là khác với các thế hệ các sinh viên trước. Họ tranh luận rằng các sinh viên ngày nay sống trong một vũ trụ số được kết nối mạng và vì thế kỳ vọng việc học tập của họ cũng tất cả được kết nối mạng số. Điều đó cũng đúng rằng các giáo sư, đặc biệt, có xu hướng hiểu sự truy cập của các sinh viên tới các công nghệ tiên tiến (các giáo sư thường là những người áp dụng công nghệ mới muộn), vì thế bạn nên luôn cố gắng tìm thông tin cập nhật về các thiết bị và công nghệ nào các sinh viên hiện đang sử dụng, nếu bạn có thể. Mặt khác, cũng là nguy hiểm để giả thiết rằng tất cả các sinh viên 'biết đọc biết viết số' cao độ và đang đòi hỏi rằng các công nghệ mới sẽ được sử dụng trong việc dạy học. Jones và Shao (2011) đã tiến hành một rà soát lại tỉ mỉ các tư liệu về 'bẩm sinh số', với hơn 200 tham chiếu thích hợp, bao gồm cả các khảo sát của các xuất bản phẩm thích hợp từ các nước ở châu Âu, Á, Bắc Mỹ, Úc và Nam Phi. Họ đã kết luận rằng: • các sinh viên khác nhau rộng rãi trong sử dụng và hiểu biết của họ về các phương tiện số; • khoảng cách giữa các sinh viên và các giáo viên của họ với lưu ý về biết đọc biết viết số là không cố định, cũng không phải là hố sâu quá lớn không thể lấp được; • có ít bằng chứng rằng các sinh viên vào trường đại học với các nhu cầu về các công nghệ mới mà các giáo viên và các trường đại học không thể đáp ứng; • các sinh viên sẽ ứng phó tích cực với những thay đổi trong các chiến lược dạy và học mà bao gồm sử dụng các công nghệ mới được thai ngén tốt, được giải thích tốt và được nhúng đúng phù hợp vào trong các khóa học và các chương trình có cấp bằng. Tuy nhiên không có bằng chứng về một nhu cầu bị dồn nén trong các sinh viên vì những thay đổi trong sư phạm hoặc về nhu cầu cộng tác lớn hơn; Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 325/604
  14. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • sự phát triển của hạ tầng, các chính sách công nghệ và các mục đích dạy học trong trường đại học sẽ là những lựa chọn các dạng cung cấp mà đại học đó muốn tiến hành và không phải là câu trả lời cho các tuyên bố chung về thế hệ mới các sinh viên đang đòi hỏi gì; • bằng chứng đó chỉ ra rằng các sinh viên trẻ tuổi không tạo thành nhóm thế hệ và họ không thể hiện các nhu cầu nhất quán hoặc được tổ chức theo thế hệ. Các sinh viên tốt nghiệp đã từng được phỏng vấn về các công nghệ học tập ở Đại học British Columbia đã làm rõ rằng họ sẽ hạnh phúc để sử dụng công nghệ cho việc học tập miễn là nó đóng góp cho sự thành công của họ (nói theo cách của một sinh viên, 'nếu nó sẽ cho tôi các điểm số tốt hơn') nhưng các sinh viên cũng làm rõ rằng chính là trách nhiệm của người chỉ dẫn để quyết định công nghệ nào là tốt nhất cho nghiên cứu của họ. Cũng là quan trọng để lưu ý với những gì Jones và Shao đang chưa nói. Họ đang chưa nói rằng các phương tiện xã hội, các môi trường học tập cá nhân, hoặc học tập cộng tác là không thích hợp, cũng không nói rằng các nhu cầu của sinh viên và lực lượng lao động là không có biến đổi hoặc không quan trọng, mà sử dụng các công cụ hoặc tiếp cận đó nên được dẫn dắt bằng một cái nhìn chính thể luận vào các nhu cầu của tất cả các sinh viên, các nhu cầu của lĩnh vực chủ đề đó, và các mục tiêu học tập thích hợp cho kỷ nguyên số, chứ không phải bằng quan điểm sai lầm về những gì một thế hệ đặc biệt các sinh viên đang đòi hỏi. Tóm tắt lại, một ưu điểm lớn của ứng dụng thông minh công nghệ cho việc dạy học là nó cung cấp các cơ hội cho các sinh viên để học trong các cách thức đa dạng, vì thế thích nghi được việc dạy học dễ dàng hơn cho những khác biệt của sinh viên. Vì thế, bước đầu trong lựa chọn các phương tiện là phải hiểu các sinh viên của bạn, những sự tương đồng và những khác biệt của họ, các công nghệ nào họ có sự truy cập tới rồi, và các kỹ năng số nào họ sở hữu rồi hoặc còn thiếu mà có thể là thích hợp cho các khóa học của bạn. Điều này có khả năng đòi hỏi sử dụng một dải rộng lớn các phương tiện trong việc dạy học. 8.2.4 Thông tin bạn cần về các sinh viên của bạn Là then chốt để hiểu các sinh viên của bạn. Đặc biệt, bạn cần các thông tin sau đây để cung cấp một ngữ cảnh cho các quyết định về các phương tiện và công nghệ: 1. Mệnh lệnh hoặc chính sách của cơ sở, phòng hoặc chương trình của bạn là gì với lưu ý về sự truy cập? Các sinh viên không có sự truy cập tới một công nghệ được lựa chọn sẽ làm thế nào để được hỗ trợ? 2. Nhân khẩu học của các sinh viên bạn sẽ dạy học có khả năng là gì? Công nghệ mà bạn đang nghĩ sẽ sử dụng cho các sinh viên đó thích hợp như thế nào? 3. Nếu các sinh viên của bạn sẽ được dạy ít nhất một phần ngoài khu trường, các công nghệ nào họ có khả năng có sự truy cập thuận tiện và thường xuyên ở nhà hoặc trong công việc? 4. Nếu các sinh viên sẽ được dạy ít nhất một phần trong khu trường, thì chính sách của phòng Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 326/604
  15. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 bạn - hoặc sẽ là - với lưu ý về sự truy cập tới các thiết bị của sinh viên trong lớp học là gì? 5. Các kỹ năng số nào bạn kỳ vọng các sinh viên của bạn có trước khi họ bắt đầu chương trình? 6. Nếu các sinh viên được kỳ vọng cung cấp sự truy cập tới công nghệ của riêng họ, liệu bạn sẽ có khả năng cung cấp các kinh nghiệm dạy học độc nhất mà sẽ chứng minh được sự mua hoặc sử dụng công nghệ như vậy? 7. Các tiếp cận nào trước đó về việc học các sinh viên có khả năng mang tới chương trình của bạn? Các tiếp cận trước đó như vậy phù hợp như thế nào cho việc học tập có khả năng sẽ là cách mà bạn cần để dạy cho khóa học? Công nghệ có thể được sử dụng như thế nào để cung cấp cho những khác biệt của các sinh viên trong việc học tập? Có nhiều cách thức khác nhau để có được thông tin cần thiết để trả lời cho các câu hỏi đó. Trong nhiều trường hợp, bạn sẽ vẫn phải ra các quyết định về bằng chứng không đủ, nhưng thông tin càng chính xác bao nhiêu bạn có về các sinh viên tiềm năng của bạn, càng tốt bấy nhiêu có khả năng sự lựa chọn của bạn các phương tiện và công nghệ. Hầu như chắc chắn, dù, bạn sẽ có một sự đa dạng và muôn màu muôn vẻ các sinh viên, nên thiết kế việc dạy học của bạn sẽ cần phải điều tiết được điều này. Hoạt động 8.2: Hiểu các sinh viên của bạn Có bao nhiều câu hỏi bạn có thể trả lời vượt trên đỉnh đầu của bạn? Thông tin bổ sung thêm nào bạn cần, và bạn có thể tìm kiếm nó ở đâu? Các tham chiếu • BCcampus and CAPER-BC (2015) B.C. Open Textbook Accessibility Toolkit Victoria BC: BCcampus. • Brokop, F. (2008) Accessibility to E-Learning for Persons With Disabilities: Strategies, Guidelines, and Standards Edmonton AB: NorQuest College/eCampus Alberta • Dziuban, C. et al. (2000) Reactive behavior patterns go online The Journal of Staff, Program and Organizational Development, Vol. 17, No.3 • Jones, C. and Shao, B. (2011) The Net Generation and Digital Natives: Implications for Higher Education Milton Keynes: Open University/Higher Education Academy • Kolb. D. (1984) Experiential Learning: Experience as the source of learning and development Englewood Cliffs NJ: Prentice Hall • Laurillard, D. (2001) Rethinking University Teaching: A Conversational Framework for the Effective Use of Learning Technologies New York/London: Routledge • Marron, D. Missen, C. and Greenberg, J. (2014) “Lo-Fi to Hi-Fi”: A New Way of Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 327/604
  16. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Conceptualizing Metadata in Underserved Areas with the eGranary Digital Library Austin TX: International Conference on Dublin Core and Metadata Applications • McCoughlin, C. (1999) The implictions of the research literature on learning styles for the design of instructional material Australian Journal of Educational Technology, Vol. 15, No. 3 • NorQuest College (2008) Accessibility to E-Learning for Persons With Disabilities: Strategies, Guidelines, and Standards Edmonton AB: ECampusAlberta • Perry, W. (1970) Forms of intellectual development and ethical development in the college years: a scheme New York: Holt, Rinehart and Winston • Prensky, M. (2001) ‘Digital natives, Digital Immigrants’ On the Horizon Vol. 9, No. 5 • Schroeder, C. (1993) New students – new learning styles, Change, Sept.-Oct Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 328/604
  17. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 8.3 Dễ sử dụng Hình 8.3 Sự tin cậy là quan trọng! Hình ảnh: © pixgood.com Trong hầu hết các trường hợp, sử dụng công nghệ trong việc dạy học là một phương tiện, không phải là sự kết thúc. Vì thế là quan trọng để các sinh viên và giáo viên không phải bỏ ra quá nhiều thời gian vào việc học tập cách sử dụng các công nghệ giáo dục, hoặc vào việc làm công việc của công nghệ. Ngoại lệ tất nhiên ở những nơi mà công nghệ là lĩnh vực nghiên cứu, như khoa học máy tính hoặc nghề kỹ sư, hoặc nơi mà việc học sử dụng các công cụ phần mềm là then chốt cho một số khía cạnh của chương trình giảng dạy, ví dụ thiết kế có sự trợ giúp của máy tính trong kiến trúc, bảng tính trong các nghiên cứu của doanh nghiệp, và các hệ thống thông tin địa lý trong địa chất học. Trong hầu hết các trường hợp, dù, mục tiêu của nghiên cứu không phải là để học cách sử dụng một mẩu công nghệ giáo dục đặc biệt nào đó, mà nghiên cứu lịch sử, toán học, hoặc sinh vật học. Một ưu điểm của việc dạy học mặt đối mặt là nó cần khá ít thời gian chuẩn bị trước so với, ví dụ, việc phát triển một khóa học hoàn toàn trên trực tuyến. Các phương tiện và công nghệ biến đổi trong khả năng của chúng để tăng nhanh tốc độ triển khai và tính mềm dẻo trong việc cập nhật. Ví dụ, các blog là nhanh hơn và dễ hơn nhiều để phát triển và phân phối hơn là video. Các giáo viên và những người chỉ dẫn sau đó có nhiều khả năng hơn để sử dụng công nghệ mà là nhanh và dễ để sử dụng, và các sinh viên cũng vậy sẽ mong đợi các tính năng như vậy trong công nghệ mà họ sẽ sử dụng cho việc nghiên cứu. Tuy nhiên, những gì là 'dễ' cho những người chỉ dẫn và các sinh viên để sử dụng sẽ phụ thuộc vào sự biết đọc biết viết số của họ. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 329/604
  18. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 8.3.1 Sự biết đọc biết viết về máy tính và thông tin Nếu nhiều thời gian được bỏ ra của các sinh viên và các giáo viên trong việc học tập cách sử dụng, ví dụ, các phần mềm cho sự phát triển hoặc phân phối các tư liệu khóa học, thì điều này làm trệch hướng khỏi việc học và dạy. Tất nhiên, có một tập hợp cơ bản các kỹ năng biết đọc biết viết sẽ được yêu cầu, như khả năng đọc và viết, để sử dụng bàn phím, để sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản, để dịch chuyển trên Internet và sử dụng các phần mềm Internet, và ngày càng nhiều để sử dụng các thiết bị di động. Vì thế, các kỹ năng chung đó có thể được xem là những điều kiện tiên quyết không thể thiếu. Nếu các sinh viên đã không phát triển được đúng phù hợp các kỹ năng đó ở trường, thì cơ sở có thể cung cấp các khóa học dự bị cho các sinh viên về các chủ đề đó. Nó sẽ làm cho cuộc sống dễ hơn nhiều cho cả các giáo viên và sinh viên nếu cơ sở có các chiến lược cho việc hỗ trợ các sinh viên sử dụng các phương tiện số. Ví dụ, ở Đại học British Columbia, dự án Digital Tattoo chuẩn bị cho các sinh viên học trực tuyến theo một số cách thức: • giới thiệu cho các sinh viên một dãy các công nghệ có thể được sử dụng cho việc học tập của họ, như các hệ thống quản lý học tập, các tài nguyên giáo dục mở, các MOOCs và các hồ sơ điện tử; • giải thích những gì có liên quan trong việc nghiên cứu trực tuyến hoặc từ ở xa; • đưa ra các cơ hội và các rủi ro của các phương tiện xã hội; • khuyến cáo về cách bảo vệ tính riêng tư của họ; • cách làm hầu hết việc liên kết, kết nối mạng và tìm kiếm trực tuyến; • cách ngăn chặn kẻ xấu trên không gian mạng; • việc duy trì sự hiện diện chuyên nghiệp trên trực tuyến Nếu cơ sở của bạn không có thứ gì đó tương tự, thì bạn có thể hướng các sinh viên của bạn tới site Digital Tattoo, nó là hoàn toàn mở. Vì thế, không chỉ các sinh viên có thể cần sự chuẩn bị trước. Công nghệ có thể là quá cám dỗ. Bạn có thể bắt đầu sử dụng nó mà hoàn toàn không hiểu cấu trúc của nó hoặc cách mà nó làm việc. Thậm chí một giai đoạn huấn luyện ngắn - một giờ hoặc ít hơn - về cách sử dụng các công nghệ phổ biến như một hệ thống quản lý học tập hoặc chụp bài giảng có thể tiết kiệm cho bạn nhiều thời gian và quan trọng hơn, cho phép bạn thấy giá trị tiềm tàng của tất cả các tính năng chứ không chỉ các tính năng mà bạn đang chật vật với chúng. 8.3.2 Định hướng Một tiêu chuẩn hoặc tiêu chí hữu dụng để lựa chọn các phương tiện hoặc phần mềm của khóa học là các sinh viên 'còn mới' (các sinh viên trước đó chưa từng sử dụng các phần mềm) nên nghiên cứu trong vòng 20 phút việc đăng nhập. 20 phút này có thể cần thiết để vượt qua vài chức năng chính của phần mềm có thể còn chưa quen, hoặc để vượt qua cách thức một khóa học trên website được tổ Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 330/604
  19. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 chức và hướng dẫn. Điều này còn hơn cả một giai đoạn định hướng học tập các kỹ năng điện toán mới. Nếu có nhu cầu giới thiệu các phần mềm mới có thể mất ít thời gian để học, ví dụ, một tiện ích 'chat', hoặc dòng video, thì nó nên được giới thiệu vào thời điểm nó là cần thiết. Điều quan trọng là bố trí thời gian trong khóa học cho các sinh viên để học cách làm điều này. 8.3.4 Thiết kế giao diện Yếu tố then chốt trong việc làm cho công nghệ trong suốt là thiết kế giao diện giữa người sử dụng và máy. Vì thế một chương trình giáo dục hoặc quả thật bất kỳ website nào cũng nên có cấu trúc tốt, trực quan cho người sử dụng để sử dụng và dễ dàng lái. Thiết kế giao diện là một nghề có kỹ năng cao, và dựa vào sự kết hợp của nghiên cứu khoa học trong cách mà con người học tập, một sự hiểu biết cách các phần mềm vận hành làm việc, và việc huấn luyện tốt trong thiết kế đồ họa. Đây là một lý do vì sao thường là khôn ngoan để sử dụng các phần mềm hoặc các công cụ đã được thiết lập tốt rồi trong giáo dục, vì chúng đã được kiểm thử và được thấy làm việc tốt rồi. Giao diện chung truyền thống của các máy tính - một bàn phím, con chuột, và giao diện các cửa sổ của người sử dụng và các thực đơn kéo xuống và các chỉ dẫn pop-up - vẫn còn cực kỳ là thô, và không đẳng cấu với hầu hết các ưu tiên của mọi người cho việc xử lý thông tin. Nó đặt rất nặng điểm nhấn vào các kỹ năng biết đọc biết viết và sự ưu tiên cho việc học tập trực quan. Điều này có thể gây ra những khó khăn chính cho các sinh viên có các khuyết tật nhất định, như những người khiếm thị. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các giao diện đã bắt đầu trở nên thân thiện hơn với người sử dụng, với các màn hình cảm ứng và các giao diện có tiếng nói được kích hoạt. Dù vậy nhiều nỗ lực hơn nữa để tùy biến thích nghi các giao diện đang tồn tại của máy tính và các thiết bị di động để làm cho chúng dễ sử dụng trong ngữ cảnh giáo dục. Web phần nhiều chỉ như một tù nhân của giao diện máy tính chung như bất kỳ môi trường phần mềm nào khác, và tiềm năng giáo dục của bất kỳ website nào cũng có giới hạn vì cấu trúc dạng cây hoặc thuật toán của nó. Ví dụ, nó không luôn phù hợp với cấu trúc có tôn ti trật tự của vài lĩnh vực chủ đề, hoặc cách được ưu tiên của việc học tập của một số sinh viên. Có vài hệ quả của những hạn chế giao diện đó cho các giáo viên trong giáo dục đại học: • thực sự là quan trọng để chọn các phần mềm dạy học hoặc các công nghệ khác trực quan và dễ sử dụng, cả 2, đặc biệt đối với các sinh viên, nhưng cũng còn cho cả các giáo viên trong việc tạo ra các tư liệu và tương tác với các sinh viên; • khi tạo các tư liệu cho việc học tập, giáo viên cần nhận thức được về các vấn đề có liên quan tới sự lái các tư liệu và hình thức màn hình và các hình đồ họa. Trong khi là có khả năng để thêm các tính năng kích thích như âm thanh và các hình đồ họa hoạt hình, thì điều này lại làm tốn băng thông. Các tính năng như vậy nên chỉ được bổ sung ở những nơi chúng phục vụ cho một chức năng giáo dục hữu dụng, vì làm chậm sự phân phối các tư liệu là cực kỳ phản cảm đối với những người học, những người sẽ thường có sự truy cập Internet chậm Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 331/604
  20. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 hơn việc tạo ra các tư liệu của các giáo viên. Hơn nữa, hình thức dựa vào web trên các máy tính để bàn và xách tay không tự động truyền sang các chiều hoặc cấu hình y hệt trên các thiết bị di động, và các thiết bị di động có một dải rộng các tiêu chuẩn, phụ thuộc vào thiết bị đó. Biết rằng thiết kế các tư liệu dựa vào web đòi hỏi mức độ cao kỹ năng thiết kế giao diện chuyên dụng, là ưu tiên hơn để tìm kiếm sự trợ giúp của các chuyên gia, đặc biệt nếu bạn muốn sử dụng các phần mềm hoặc phương tiện mà không phải là các công cụ được hỗ trợ theo các tiêu chuẩn của cơ sở. Điều này là đặc biệt quan trọng khi suy nghĩ về việc sử dụng các ứng dụng di động mới, ví dụ thế; • thứ 3, chúng ta có thể kỳ vọng trong ít năm sắp tới vài sự thay đổi đáng kể trong giao diện máy tính nói chung với sự phát triển của công nghệ nhận dạng tiếng nói, các câu trả lời có tính thích nghi dựa vào trí tuệ nhân tạo, và sử dụng haptics (như, di chuyển tay [hand - movement]) để kiểm soát các thiết bị. Các thay đổi trong thiết kế cơ bản giao diện máy tính có thể có ảnh hưởng sâu sắc lên sử dụng công nghệ trong việc dạy như Internet có. 8.3.4 Trách nhiệm Trách nhiệm và sự tráng kiện của công nghệ cũng là then chốt. Hầu hết chúng ta sẽ khó chịu vì mất việc khi phần mềm soạn thảo văn bản của chúng ta hỏng hoặc làm việc 'trên mây' và đang bị khóa ở giữa chừng một mẩu ghi chép. Điều cuối cùng bạn muốn, như một giáo viên hoặc người chỉ dẫn, là nhiều cuộc gọi từ các sinh viên nói họ không thể truy cập trực tuyến, hoặc máy tính của họ tiếp tục bị hỏng. (Nếu phần mềm khóa lại một máy, nó sẽ có thể khóa tất cả các máy khác!). Hỗ trợ kỹ thuật có thể có chi phí khổng lồ, không chỉ trong việc trả tiền cho các nhân viên kỹ thuật để làm với các cuộc gọi dịch vụ, mà còn trong thời gian bị mất của các sinh viên và giáo viên. 'Đổi mới trong việc dạy học' nhất định sẽ mang lại các phần thưởng những ngày đó khi các cơ sở chen nhau giành vị trí như các cơ sở có tính đổi mới. Thường dễ hơn để được cấp tiền cho những sử dụng mới công nghệ hơn là cấp tiền để duy trì các công nghệ cũ hơn nhưng thành công. Dù podcast được kết hợp với một hệ thống quản lý học tập có thể có chi phí rất thấp nhưng là phương tiện dạy học hiệu quả cao nếu thiết kế tốt được sử dụng, thì chúng lại không gợi cảm. Thường sẽ là dễ dàng hơn để có được sự hỗ trợ cho các công nghệ đẹp mắt và tốn phí hơn nhiều như các xMOOCs hoặc thực tế ảo. Mặt khác, có nhiều rủi ro trong việc là quá sớm trong một công nghệ mới. Phần mềm có thể chưa được kiểm thử đầy đủ và chưa đáng tin cậy, hoặc công ty hỗ trợ công nghệ mới có thể đã phá sản. Các sinh viên không phải là các con lợn đồng, và dịch vụ tin cậy và bền vững là quan trọng hơn với họ so với vẻ hào nhoáng giả tạo và sức mê hoặc của công nghệ không được kiểm thử. Là tốt nhất để chờ đợi ít nhất 1 năm cho các ứng dụng hoặc phần mềm mới được kiểm thử đầy đủ trong các ứng dụng chung trước khi thích nghi chúng cho việc dạy học. Là khôn ngoan không vội vã mua các bản cập nhật phần mềm mới nhất hoặc sản phẩm mới - hãy chờ cho các lỗi bị bỏ qua biến mất hết đã. Hơn nữa nếu bạn có kế hoạch sử dụng một ứng dụng hoặc công nghệ mới còn chưa được cơ sở hỗ Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 332/604
  21. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 trợ phổ biến, trước hết hãy kiểm tra các dịch vụ CNTT để đảm bảo không có các vấn đề về an toàn, tính riêng tư hoặc băng thông rộng của cơ sở. Vì thế là tốt hơn nằm ở mép, ngay đằng sau cơn sóng đổi mới đầu tiên, hơn là ở cạnh chảy máu. Một tính năng của việc học tập trực tuyến là sử dụng lúc cao điểm có xu hướng nằm bên ngoài giờ hành chính. Vì thế thực sự là quan trọng rằng các tư liệu khóa học của bạn nằm trong một máy chủ tin cậy với sự truy cập tốc độ cao dạng 24/7 sẵn sàng trong tuần, với sao lưu tự động lên một máy chủ riêng rẽ, độc lập, nằm trong một tòa nhà khác. Lý tưởng, các máy chủ nên ở trong một khu vực an toàn (ví dụ, với cung ứng điện khẩn cấp) với sự hỗ trợ kỹ thuật 24 giờ trong ngày, điều có lẽ ngụ ý việc định vị các máy chủ của bạn với một dịch vụ CNTT tập trung hoặc 'trên mây', điều ngụ ý tất cả nó là quan trọng hơn để đảm bảo rằng các tư liệu được sao lưu an toàn và độc lập. Tuy nhiên, tin tốt lành là hầu hết các sản phẩm phần mềm giáo dục như các hệ thống quản lý học tập và chụp bài giảng, cũng như các máy chủ, là rất đáng tin cậy. Các phần mềm nguồn mở cũng thường là đáng tin cậy nhưng có lẽ hơi nhiều rủi ro hơn về hỏng kỹ thuật hoặc các lỗ hổng về an toàn. Nếu bạn có sự hỗ trợ CNTT tốt, bạn sẽ nhận được rất ít các cuộc gọi từ các sinh viên về các vấn đề kỹ thuật. Vấn đề kỹ thuật chính mà giáo viên đối mặt những ngày đó dường như là để nâng cấp các phần mềm cho các hệ thống quản lý học tập. Điều này thường ngụ ý việc chuyển các tư liệu khóa học từ phiên bản này của phần mềm sang một phiên bản mới. Điều này có thể là đắt giá và mất thời gian, đặc biệt nếu phiên bản mới là khác đáng kể với phiên bản trước đó. Tổng thể, dù, trách nhiệm sẽ không phải là một vấn đề. Để tóm tắt, dễ sử dụng đòi hỏi các phần mềm khóa học được thiết kế chuyên nghiệp thương mại hoặc nguồn mở, trợ giúp chuyên nghiệp trong các hình đồ họa, lái - di chuyển và thiết kế màn hình cho các tư liệu khóa học của bạn, và sự hỗ trợ kỹ thuật mạnh cho máy chủ và quản lý và duy trì phần mềm. Chắc chắn ở Bắc Mỹ, hầu hết các cơ sở bây giờ cung cấp CNTT và các dịch vụ khác được đặc biệt tập trung vào việc hỗ trợ cho việc dạy học dựa vào công nghệ. Tuy nhiên, không có sự hỗ trợ chuyên nghiệp như vậy, nhiều thời gian của bạn như một giáo viên sẽ bị bỏ vào các vấn đề kỹ thuật, và sẽ bị cùn, nếu bạn không truy cập dễ dàng và thuận tiện tới sự hỗ trợ như vậy, bạn có thể là khôn ngoan không cam kết nặng với việc dạy học dựa vào công nghệ cho tới khi sự hỗ trợ đó là sẵn sàng. 8.3.5 Các câu hỏi để cân nhắc Dễ sử dụng là một yếu tố then chốt khác trong sử dụng thành công công nghệ cho việc dạy học. Vài câu hỏi mà bạn cần cân nhắc là: 1. Làm thế nào dễ dàng trực quan để sử dụng, cả cho các sinh viên và bản thân bạn, là công nghệ bạn đang cân nhắc? 2. Công nghệ đó tin cậy như thế nào? 3. Công nghệ đó dễ dàng duy trì và nâng cấp như thế nào? 4. Công ty đang cung cấp phần cứng hoặc phần mềm then chốt mà bạn đang sử dụng: nó là Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 333/604
  22. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 một công ty ổn định, không có khả năng thôi kinh doanh trong vòng 1 hoặc 2 năm tới chứ, hay đó là một công ty mới khởi nghiệp? Các chiến lược nào hiện có để đảm bảo an toàn cho bất kỳ tư liệu số cho dạy học nào bạn tạo ra nếu tổ chức đang cung cấp phần mềm hoặc dịch vụ dừng tồn tại? 5. Liệu bạn có sự hỗ trợ kỹ thuật và chuyên nghiệp đúng phù hợp, cả về công nghệ và với lưu ý về thiết kế các tư liệu hay không? 6. Lĩnh vực chủ đề này đang phát triển nhanh như thế nào? Việc thường xuyên thay đổi các tư liệu dạy học quan trọng như thế nào? Công nghệ nào hỗ trợ tốt nhất cho điều này? 7. Ở mức độ nào các thay đổi có thể được bàn giao cho ai đó khác để làm, và/hoặc nó là cơ bản ra sao đối với bạn để tự làm chúng cho bản thân bạn? 8. Những phần thưởng nào tôi có thể nhận được cho việc sử dụng công nghệ mới trong việc dạy học của tôi? Sử dụng một công nghệ mới sẽ chỉ là sự đổi mới, hay tôi cũng có thể thay đổi cách dạy học của tôi với công nghệ này để có được các kết quả tốt hơn chăng? 9. Các rủi ro trong việc sử dụng công nghệ này là gì? Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 334/604
  23. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 8.4 Chi phí Hình 8.4.1 Tổng chi phí của một khóa học thạc sỹ đầy đủ trên trực tuyến qua 7 năm (từ Bates và Sangrà, 2011) 8.4.1 Cách mạng trong các phương tiện Cho tới gần đây khoảng 10 năm trước, chi phí từng là yếu tố phân biệt chính ảnh hưởng tới sự lựa chọn công nghệ (Hülsmann, 2000, 2003; Rumble, 2001; Bates, 2005). Ví dụ, vì các mục đích giáo dục, âm thanh (các bài giảng, radio, cassette ghi âm) đã rẻ hơn nhiều so với in ấn, điều lần lượt là rẻ hơn nhiều so với hầu hết các dạng học tập dựa vào máy tính, điều lần lượt là rẻ hơn nhiều so với các video (truyền hình, các băng cassette hoặc hội nghị qua video). Tất cả các phương tiện đó đã thường được coi như hoặc là các chi phí bổ sung thêm vào việc dạy học thường xuyên, hoặc quá đắt đỏ để sử dụng thay thế cho việc dạy học mặt đối mặt, ngoại trừ cho giáo dục thuần túy từ ở xa trong một phạm vi khá rộng. Tuy nhiên, đã có sự suy giảm đột ngột về chi phí phát triển và phân phối tất cả các dạng phương tiện (ngoại trừ việc dạy học mặt đối mặt) trong 10 năm qua, vì vài yếu tố: • các phát triển nhanh trong các công nghệ tiêu dùng như các điện thoại thông minh xúc tác cho văn bản, âm thanh và video cả được tạo ra và được truyền bởi những người sử dụng đầu cuối với chi phí thấp; • sự nén các phương tiện số, cho phép thậm chí video hoặc truyền hình băng thông rộng triển khai được qua công nghệ không dây, các đường điện thoại mặt đất và Internet với chi phí kinh tế (ít nhất ở các nước có nền kinh tế tiên tiến); Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 335/604
  24. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • các cải tiến trong các phần mềm phương tiện, làm cho nó khá dễ dàng cho những người sử dụng không chuyên nghiệp để tạo ra và phân phối tất cả các dạng phương tiện; • việc gia tăng lượng các tài nguyên giáo dục mở dựa vào các phương tiện, là các tư liệu học tập được phát triển rồi và là tự do cho các giáo viên và sinh viên để sử dụng như nhau. Tin tốt lành là nói chung, và về nguyên tắc, chi phí sẽ không còn là một yếu tố phân biện một cách tự động trong lựa chọn các phương tiện nữa. Nếu bạn hạnh phúc để chấp nhận tuyên bố này theo mệnh giá, thì bạn có thể bỏ qua phần còn lại của chương này. Hãy chọn sự pha trộn các phương tiện đáp ứng tốt nhất cho các nhu cầu dạy học của bạn, và đừng lo về phương tiện nào có khả năng mất nhiều chi phí hơn. Quả thực, một trường hợp tốt có thể được làm mà bây giờ nó có thể là rẻ hơn để thay thế việc dạy học mặt đối mặt với thuần túy dạy học trên trực tuyến, nếu chi phí từng là sự cân nhắc duy nhất. Tuy nhiên trong thực tế các chi phí có thể biến đổi lớn cả giữa và trong các phương tiện, một lần nữa phụ thuộc vào ngữ cảnh và thiết kế. Vì chi phí chính từ quan điểm của một giáo viên là thời gian của họ, nên điều quan trọng phải biết 'các trình điều khiển' chi phí là gì, đó là, các yếu tố nào có liên quan tới việc gia tăng các chi phí, phụ thuộc vào ngữ cảnh và phương tiện đang được sử dụng. Các yếu tố đó là ít bị các phát triển công nghệ mới gây ảnh hưởng, và vì thế có thể được xem như là các nguyên tắc 'nền tảng' khi cân nhắc chi phí của các phương tiện giáo dục. Không may có nhiều yếu tố khác có thể gây ảnh hưởng tới chi phí thực của việc sử dụng các phương tiện trong giáo dục, điều làm cho một quyết định chi tiết về chi phí rất phức tạp (để có thêm chi tiết về cách xử lý, xem Bates và Sangrà, 2011). Kết quả là, tôi sẽ cố gắng nhận diện các trình điều khiển chính của chi phí, rồi cung cấp một bảng đưa ra chỉ dẫn được đơn giản hóa về cách mà các yếu tố đó ảnh hưởng tới chi phí của các phương tiện khác nhau, bao gồm cả việc dạy học mặt đối mặt. Chỉ dẫn này một lẫn nữa nên được cân nhắc như là một thiết bị khám phá. Vì thế hãy xem phần này như là các Chi phí Phương tiện 101. 8.4.2 Các chủng loại chi phí Các chủng loại chi phí chính được cân nhắc trong việc sử dụng các phương tiện và công nghệ giáo dục, và đặc biệt được trộn hoặc học tập trực tuyến, như sau: 8.4.2.1 Sự phát triển Chúng là các chi phí cần thiết để kéo theo hoặc tạo ra các tư liệu học tập có sử dụng các phương tiện hoặc công nghệ đặc biệt. Có vì chủng loại con các chi phí phát triển: • các chi phí sản xuất: làm một video hoặc xây dựng một phần khóa học trong một hệ thống quản lý học tập. Được đưa vào trong các chi phí đó sẽ là thời gian của nhân viên chuyên nghiệp, như các nhà thiết kế web hoặc các chuyên gia nghe - nhìn, cũng như bất kỳ chi phí nào trong thiết kế web hoặc sản xuất video; Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 336/604
  25. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • thời gian của bạn như một người chỉ dẫn: công việc bạn phải làm như một phần của việc phát triển hoặc sản xuất các tư liệu. Điều này sẽ bao gồm thiết kế kế hoạch/khóa học cũng như phát triển. Thời gian của bạn là tiền, và có lẽ là chi phí duy nhất lớn nhất trong việc sử dụng các công nghệ giáo dục, mà quan trọng hơn, nếu bạn đang phát triển các tư liệu học tập thì bạn đang không làm các công việc khác, như nghiên cứu hoặc tương tác với các sinh viên, nên có một chi phí thực tế, thậm chí nếu nó không được thể hiện bằng các mục tiền; • làm sạch bản quyền nếu bạn đang sử dụng các tư liệu của bên thứ 3 như các ảnh chụp hoặc video clip. Một lần nữa, điều này có khả năng hơn sẽ được nghĩ như là về thời gian hơn là về tiền; • có lẽ chi phí của một nhà thiết kế chỉ dẫn với lưu ý về thời gian của họ; Các chi phí phát triển thường là cố định hoặc 'chỉ một lần' và phụ thuộc vào số lượng các sinh viên. Một khi các phương tiện được phát triển, chúng thường là thay đổi được về mức độ phạm vi, theo đó từng được sản xuất, chúng có thể được sử dụng với bất kỳ số lượng nào những người học mà không làm gia tăng các chi phí phát triển. Việc sử dụng các tài nguyên giáo dục mở có thể giảm rất lớn các chi phí phát triển các phương tiện. 8.4.2.2 Phân phối Điều này bao gồm chi phí các hoạt động giáo dục cần thiết trong quá trình chào khóa học và có thể bao gồm thời gian chỉ dẫn được bỏ ra trong việc tương tác với các sinh viên, thời gian chỉ dẫn được bỏ vào việc chấm điểm các bài tập, và có thể bao gồm thời gian của các nhân viên khác hỗ trợ cho sự phân phối, như các trợ lý dạy học, phụ cho các phần bổ sung thêm và những người thiết kế chỉ dẫn và các nhân viên hỗ trợ kỹ thuật. Vì chi phí về các yếu tố con người như thời gian chỉ dẫn và hỗ trợ kỹ thuật cần thiết trong việc dạy học dựa vào các phương tiện, các chi phí phân phối có xu hướng gia tăng khi số lượng sinh viên gia tăng, và cũng phải được lặp lại từng lần mỗi khi khóa học được chào. Nói cách khác, chúng là lặp lại định kỳ. Tuy nhiên, gia tăng với phân phối dựa vào Internet, thường có chi phí công nghệ trực tiếp bằng không (0) trong phân phối. 8.4.2.3 Các chi phí duy trì Một khi các tư liệu cho một khóa học được tạo ra, chúng cần phải được duy trì. Các URL chết, các ghi chép có thể không còn được in hoặc hết thời hạn, và quan trọng hơn các phát triển mới trong lĩnh vực chủ đề đó có thể cần phải được thích nghi. Vì thế một khi khóa học được chào, thì có các chi phí duy trì liên tục. Các nhà thiết kế chỉ dẫn và/hoặc các chuyên gia phương tiện có thể quản lý vài sự duy trì, nhưng dù vậy các giáo viên hoặc những người chỉ dẫn sẽ cần phải được tham gia vào với các quyết định về sự thay thế hoặc cập nhật nội dung. Sự duy trì thường không mất thời gian cho một khóa học duy nhất, Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 337/604
  26. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 mà nếu một người chỉ dẫn có liên quan trong thiết kế và sản xuất vài khóa học trực tuyến, thì thời gian duy trì có thể là một lượng đáng kể. Các chi phí duy trì thường không phụ thuộc vào số lượng các sinh viên, mà phụ thuộc vào các khóa học mà một người chỉ dẫn chịu trách nhiệm, và là lặp lại định kỳ mỗi năm. 8.4.2.4 Tổng chi phí Chúng bao gồm các chi phí hạ tầng hoặc tổng chi phí, như chi phí cấp phép cho một hệ thống quản lý học tập, công nghệ và các máy chủ chụp bài giảng cho dòng video liên tục. Chúng là các chi phí thực tế mà không chi phí nào có thể được phân bổ cho một khóa học duy nhất nào, mà sẽ được chia sẻ khắp các số lượng các khóa học. Tổng chi phí thường được cân nhắc sẽ là các chi phí của cơ sở và, dù quan trọng, có lẽ sẽ không ảnh hưởng tới quyết định của giáo viên về các phương tiện nào để sử dụng, miễn là các dịch vụ đó là sẵn sàng tại chỗ và cơ sở không lấy tiền trực tiếp đối với các dịch vụ như vậy. 8.4.3 Các trình điều khiển chi phí Hình 8.4.3 Các trình điều khiển chi phí cho các phương tiện giáo dục Các yếu tố ban đầu dẫn dắt các chi phí là • sự phát triển/sản xuất các tư liệu; • sự phân phối các tư liệu; • số lượng sinh viên/khả năng mở rộng phạm vi mức độ; • kinh nghiệm của một người chỉ dẫn làm việc với phương tiện đó; Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 338/604
  27. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • liệu người chỉ dẫn có phát triển các tư liệu một mình (tự phát triển) hay làm việc với những người chuyên nghiệp; Sản xuất các tư liệu dựa vào công nghệ như một chương trình video, hoặc một website, là một chi phí cố định, theo đó nó không bị ảnh hưởng bởi cách mà nhiều sinh viên chọn khóa học. Tuy nhiên, các chi phí sản xuất có thể biến động phụ thuộc vào thiết kế khóa học đó. Engle (2014) đã chỉ ra rằng phụ thuộc vào phương pháp sản xuất video, các chi phí phát triển cho một MOOC có thể biến động bởi 1 trong 6 yếu tố (phương pháp sản xuất đắt nhất - sản xuất toàn bộ trong studio - là gấp 6 lần so với việc tự ghi của một người chỉ dẫn trên máy tính xách tay của mình). Dù vậy, một khi được sản xuất, thì chi phí đó là độc lập với số lượng các sinh viên. Vì thế khóa học càng phát triển đắt giá bao nhiêu, thì nhu cầu càng lớn bấy nhiêu để gia tăng số lượng sinh viên để giảm được chi phí trung bình cho từng sinh viên (hoặc nói theo cách khác, số lượng sinh viên càng lớn, càng nhiều lý do để đảm bảo rằng sản xuất chất lượng cao được sử dụng, bất kể phương tiện gì). Trong trường hợp của các MOOCs (điều có xu hướng hầu như đắt gấp 2 lần để phát triển một khóa học trên trực tuyến có tín chỉ có sử dụng một hệ thống quản lý học tập - Đại học Ottawa, 2013) số lượng những người học là quá lớn nên chi phí trung bình cho mỗi sinh viên là rất nhỏ. Vì thế chúng là các cơ hội cho các nền kinh tế phạm vi lớn từ sự phát triển tư liệu số, miễn là việc ghi tên của các sinh viên tham gia khóa học có thể được gia tăng (điều có lẽ không phải lúc nào cũng đúng). Điều này có thể được mô tả như là tiềm năng cho sự thay đổi mức độ phạm vi của một phương tiện. Tương tự, có các chi phí trong việc dạy các khóa học một khi khóa học được phát triển. Chúng có xu hướng sẽ là các chi phí biến đổi, theo đó chúng gia tăng khi kích cỡ lớp học tăng. Nếu tương tác sinh viên - giáo viên, qua các diễn đàn thảo luận trực tuyến và chấm điểm nhiệm vụ được giao, sẽ được giữ ở mức có khả năng quản lý được, thì tỷ lệ giáo viên - sinh viên cần phải được giữ thấp tương ứng (ví dụ, giữa khoảng 1:25 tới 1:40, phụ thuộc vào lĩnh vực chủ đề và mức độ của khóa học). Càng nhiều sinh viên, càng mất thời gian một giáo viên sẽ cần bỏ ra cho sự phân phối, hoặc những người chỉ dẫn theo hợp đồng bổ sung sẽ cần phải được thuê làm. Dù là cách gì, thì số lượng sinh viên gia tăng thường sẽ dẫn tới các chi phí gia tăng. Các MOOCs là một ngoại lệ. Tỷ lệ giá trị chính của chúng là chúng không đưa ra sự hỗ trợ trực tiếp cho những người học, nên các chi phí phân phối là bằng không (0). Tuy nhiên, điều này có lẽ là lý do vì sao có tỷ lệ nhỏ như vậy những người tham gia hoàn thành thành công các MOOCs. Có thể có những lợi ích cho một giáo viên hoặc cho một cơ sở trong việc tiêu nhiều tiền hơn ban đầu cho các tư liệu học tập tương tác nếu điều này dẫn tới nhu cầu ít hơn cho sự tương tác giữa giáo viên - sinh viên. Ví dụ, một khóa học về toán học có thể có khả năng sử dụng việc kiểm tra và phản hồi tự động và các mô phỏng và các sơ đồ, và các câu trả lời được thiết kế trước cho các câu hỏi thường được hỏi, với ít hơn hoặc thậm chí không bỏ ra thời gian vào việc chấm điểm các nhiệm vụ được giao hoặc giao tiếp với giáo viên. Trong trường hợp này có khả năng phải quản lý tỷ lệ giáo viên - sinh viên có hơn 1:1200 hoặc cao hơn, để không đánh mất đáng kể chất lượng. Hơn nữa, kinh nghiệm trong việc sử dụng hoặc làm việc với một phương tiện hoặc phương pháp Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 339/604
  28. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 phân phối đặc biệt cũng là quan trọng. Lần đầu một người chỉ dẫn sử dụng một phương tiện đặc thù như là podcasting, nó mất nhiều thời gian hơn nhiều so với các sản xuất hoặc chào tiếp sau. Vài phương tiện hoặc công nghệ dù cần nhiều nỗ lực hơn để học sử dụng so với các phương tiện khác. Vì thế một trình điều khiển chi phí có liên quan là liệu người chỉ dẫn đó có làm việc một mình hay không (tự phát triển) hay làm việc với những người chuyên nghiệp về các phương tiện. Việc tự phát triển các tư liệu thường sẽ mất lâu thời gian cho một người chỉ dẫn hơn là làm việc với những người chuyên nghiệp. Có những ưu điểm trong làm việc của các giáo viên và những người chỉ dẫn với những người chuyên nghiệp về các phương tiện khi phát triển các phương tiện số. Những người chuyên nghiệp về các phương tiện sẽ đảm bảo cho sự phát triển sản phẩm chất lượng, và trên hết tất cả có thể tiết kiệm cho giáo viên hoặc người chỉ dẫn thời gian đáng kể, ví dụ qua sự lựa chọn đúng phù hợp các phần mềm, soạn sửa, và lưu trữ và tạo dòng liên tục các tư liệu số. Những người thiết kế chỉ dẫn có thể giúp trong việc gợi ý đúng phù hợp các ứng dụng các phương tiện khác nhau cho các kết quả đầu ra học tập khác nhau. Vì thế như với tất cả thiết kế giáo dục, một tiếp cận theo đội có khả năng sẽ có hiệu quả hơn, và làm việc với những người chuyên nghiệp khác sẽ giúp kiểm soát được thời gian mà các giáo viên và những người chỉ dẫn bỏ ra trong sự phát triển các phương tiện. Cuối cùng, các quyết định thiết kế là then chốt. Các chi phí được các quyết định thiết kế dẫn dắt bên trong một phương tiện. Ví dụ, các trình điều khiển chi phí là khác nhau giữa các bài giảng và các hội nghị chuyên đề (hoặc các lớp học trong các phòng thí nghiệm) trong việc dạy học mặt đối mặt. Tương tự, video có thể chỉ được sử dụng để ghi lại các đầu nói chuyện, như trong chụp bài giảng, hoặc có thể được sử dụng để khai thác sự kham được của phương tiện đó (xem Chương 7), như việc trình bày các quy trình hoặc việc chụp các vị trí. Điện toán có một dải rộng lớn và ngày càng gia tăng các thiết kế có khả năng, bao gồm cả việc học tập cộng tác trực tuyến - OCL (Online Collaborative Learning), việc học tập dựa vào máy tính, hoạt hình, mô phỏng hoặc thế giới ảo. Các phương tiện xã hội là một nhóm khác các phương tiện cũng cần phải được cân nhắc. Hình 8.4.3 cố gắng chụp lấy tính phức tạp của các yếu tố chi phí, chủ yếu tập trung vào quan điểm của việc ra các quyết định của giáo viên hoặc người chỉ dẫn. Một lần nữa, điều này nên được xem như một thiết bị để khai thác, một cách tư duy về vấn đề đó. Các yếu tố khác có thể được bổ sung (như các phương tiện xã hội, hoặc sự duy trì các tư liệu). Tôi đã đưa ra những xếp hạng đánh giá cá nhân của mình cho từng ô, dựa vào kinh nghiệm của tôi. Tôi đã tiến hành việc dạy học theo truyền thống như một phương tiện hoặc chi phí 'trung bình', rồi đã xếp hạng các ô như đối với việc liệu có một yếu tố chi phí cao hơn hoặc thấp hơn hay không cho một phương tiện đặc biệt. Những độc giả khác có thể đánh giá tốt các ô một cách khác biệt. Dù thời gian nó chiếm để phát triển và phân phối học tập có sử dụng các công nghệ khác nhau có khả năng ảnh hưởng tới quyết định của một người chỉ dẫn về công nghệ nào để sử dụng, thì nó không phải là một phương trình đơn giản. Ví dụ, việc phát triển một khóa học trực tuyến chất lượng tốt bằng việc sử dụng một sự pha trộn các tư liệu video và văn bản có thể lấy đi nhiều thời gian hơn của người chỉ dẫn để chuẩn bị hơn là nếu khóa học từng được chào qua việc dạy học trong phòng Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 340/604
  29. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 học. Tuy nhiên, khóa học trực tuyến có thể mất ít thời gian hơn trong phân phối qua vài năm, vì các sinh viên có thể bỏ ra nhiều thời gian hơn trong nhiệm vụ trên trực tuyến, và ít thời gian hơn trong tương tác trực tiếp với người chỉ dẫn. Một lần nữa, chúng ta thấy là thiết kế là một yếu tố then chốt trong cách các chi phí được đánh giá. Ngắn gọn, từ quan điểm của một người chỉ dẫn, thời gian là yếu tố chi phí then chốt. Các công nghệ mất nhiều thời gian sử dụng ít có khả năng hơn sẽ được sử dụng so với các công nghệ dễ dàng sử dụng và vì thế tiết kiệm được thời gian. Nhưng một lần nữa các quyết định thiết kế có thể ảnh hưởng lớn tới việc các giáo viên hoặc những người chỉ dẫn cần bao nhiêu thời gian để bỏ vào bất kỳ phương tiện nào, và khả năng của các giáo viên và sinh viên tạo ra các phương tiện giáo dục của riêng họ đang trở thành một yếu tố ngày càng quan trọng. 8.4.4 Các vấn đề cần xem xét Trong những năm gần đây, giáo viên đại học thường hướng về chụp bài giảng để phân phối khóa học trên trực tuyến, đặc biệt trong các cơ sở nơi mà việc học tập trên trực tuyến và từ ở xa là khá mới, vì điều đó là 'đơn giản hơn' để làm so với thiết kế lại và tạo ra các tư liệu dựa chủ yếu vào văn bản trong các hệ thống quản lý học tập. Chụp bài giảng cũng tương tự gần giống hơn với phương pháp trong các phòng học truyền thống. Dù về mặt sư phạm (phụ thuộc vào lĩnh vực chủ đề) nó có thể là ít hiệu quả hơn so với khóa học trên trực tuyến có sử dụng việc học tập cộng tác và các diễn đàn thảo luận trực tuyến. Hơn nữa, từ quan điểm của cơ sở thì chụp bài giảng có chi phí công nghệ cao hơn nhiều so với một hệ thống quản lý học tập. Hơn nữa, bản thân các sinh viên bây giờ có thể sử dụng các thiết bị của riêng họ để tạo ra các tư liệu đa phương tiện để làm dự án hoặc vì các mục đích đánh giá ở dạng các hồ sơ điện tử. Các phương tiện cho phép những người chỉ dẫn, nếu họ muốn, chuyển nhiều công việc nặng nhọc trong việc dạy và học từ bản thân họ cho các sinh viên. Các phương tiện cho phép các sinh viên bỏ ra nhiều thời gian hơn vào nhiệm vụ, và chi phí thấp, các phương tiện người tiêu dùng như các điện thoại di động hoặc các máy tính bảng cho phép bản thân các sinh viên tạo ra các chế tác phương tiện, cho phép họ trình bày việc học tập của họ theo các cách thức cụ thể. Điều này không ngụ ý rằng 'sự hiện diện' của người chỉ dẫn không còn cần thiết khi các sinh viên đang nghiên cứu trực tuyến, mà nó là cho phép một sự dịch chuyển ở những nơi và cách mà một giáo viên hoặc người chỉ dẫn có thể bỏ thời gian của họ vào việc hỗ trợ học tập. Hoạt động 8.4 Chi phí ảnh hưởng thế nào tới quyết định về các phương tiện nào sẽ sử dụng? 1. Liệu có những lo ngại về chi phí/các nhu cầu có khả năng về thời gian của bạn có ảnh hưởng tới các quyết định của bạn về các phương tiện nào để sử dụng hay không? Nếu có thì theo các cách thức nào? Liệu phần về các chi phí này có thay đổi được suy nghĩ của bạn không? Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 341/604
  30. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 2. Bạn bỏ ra bao nhiêu thời gian chuẩn bị các bài giảng? Liệu thời gian đó có là tốt hơn bỏ ra chuẩn bị các tư liệu học tập, rồi sử dụng thời gian tiết kiệm được từ việc phân phối các bài giảng vào tương tác với các sinh viên (trực tuyến và/hoặc mặt đối mặt)? 3. Dạng trợ giúp nào bạn có thể có trong cơ quan của bạn từ những người thiết kế chỉ dẫn và những người chuyên nghiệp về các phương tiện để thiết kế và phát triển các phương tiện? Các quyết định về phương tiện nào sẽ là gợi ý của câu trả lời cho câu hỏi này cho bạn? Ví dụ, nếu bạn là trong một trường phổ thông 12 lớp với ít hoặc không có cơ hội có được sự hỗ trợ chuyên nghiệp, dạng phương tiện nào và các quyết định thiết kế nào bạn có khả năng sẽ đưa ra? 4. Nếu bạn đã điền vào các ô theo Hình 8.4.2, những khác biệt nào có thể có với các đầu vào của tôi? Vì sao? 5. Trong Hình 8.4.2, bổ sung thêm các phương tiện sau: các hồ sơ điện tử (trong điện toán) và bổ sung thêm một phần khác dưới điện toán: các phương tiện xã hội. Hãy bổ sung thêm các blog, wiki, và các cMOOCs. Bạn có thể điền vào các ô đó thế nào cho từng trong số đó để phát triển, phân phối, ? Liệu có các phương tiện khác bạn cũng muốn thêm vào không? 6. Bạn có đồng ý với tuyên bố: bây giờ có thể là rẻ hơn để thay thế việc dạy học mặt đối mặt bằng việc học tập thuần túy trên trực tuyến, nếu chi phí là cân nhắc duy nhất hay không? Đâu là những ảnh hưởng đối với việc dạy học của bạn nếu điều này thực sự là đúng? Những cân nhắc nào có thể vẫn chứng minh việc dạy học mặt đối mặt là đúng? Xin hãy chia sẻ các câu trả lời của bạn trong hộp bình luận bên dưới. Các tham chiếu • Bates, A. (2005) Technology, e-Learning and Distance Education London/New York: Routledge • Bates, A. and Sangrà, A. (2011) Managing Technology in Higher Education San Francisco: Jossey-Bass/John Wiley and Co • Engle, W. (2104) UBC MOOC Pilot: Design and Delivery Vancouver BC: University of British Columbia • Hülsmann, T. (2000) The Costs of Open Learning: A Handbook Oldenburg: Bibliotheks- und Informationssytem der Universität Oldenburg • Hülsmann, T. (2003) Costs without camouflage: a cost analysis of Oldenburg University’s two graduate certificate programs offered as part of the online Master of Distance Education (MDE): a case study, in Bernath, U. and Rubin, E., (eds.) Reflections on Teaching in an Online Program: A Case Study Oldenburg, Germany: Bibliothecks-und Informationssystem der Carl von Ossietsky Universität Oldenburg • Rumble, G. (2001) The Cost and Costing of Networked Learning Journal of Asynchronous Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 342/604
  31. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Learning Networks, Volume 5, Issue 2 • University of Ottawa (2013) Report of the e-Learning Working Group Ottawa ON: The University of Ottawa Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 343/604
  32. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 8.5 Việc dạy học và lựa chọn các phương tiện Hình 8.5.1 Mọi người không nhất thiết học tốt hơn khi hình ảnh của diễn giả được bổ sung thêm vào màn hình (Mayer, 2009) 8.5.1 Tầm quan trọng của thiết kế trong việc dạy học đa phương tiện Chương 7 đã thảo luận một loạt các khác biệt sư phạm giữa các phương tiện. Việc nhận diện những sử dụng đúng phù hợp của các phương tiện vừa là một yêu cầu quan trọng ngày một gia tăng của các giáo viên và những người chỉ dẫn trong kỷ nguyên số, vừa là một thách thức rất phức tạp. Đây là một lý do để làm việc sát sao với những người thiết kế chỉ dẫn và những người chuyên nghiệp về phương tiện bất kỳ khi nào có thể. Các giáo viên làm việc với các nhà thiết kế chỉ dẫn sẽ cần phải quyết định các phương tiện nào họ định sử dụng trong các nền tảng sư phạm cũng như vận hành, điều từng là mục đích của Chương 7. Tuy nhiên, một khi sự lựa chọn các phương tiện đã được thực hiện, bằng việc tập trung vào các vấn đề thiết kế chúng ta có thể cung cấp các chỉ dẫn tiếp theo cho việc sử dụng các phương tiện đúng hợp lý. Đặc biệt, đã đi qua quy trình được gợi ý trong Chương 7 về việc nhận diện các vai trò có Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 344/604
  33. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 khả năng của việc dạy học hoặc các chức năng cho các phương tiện khác nhau, chúng ta có thể sau đó vẽ ra trong công việc của Mayer (2009) và Koumi (2006, 2015) để đảm bảo rằng bất kỳ sự lựa chọn hoặc sự pha trộn nào các phương tiện chúng ta đã quyết định, thì thiết kế đó cũng sẽ dẫn tới việc dạy học có hiệu quả. Nghiên cứu của Mayer đã tập trung nhiều vào sự quá tải có tính nhận thức trong việc dạy học giàu, đa phương tiện. Từ tất cả nghiên cứu của ông qua nhiều năm, Mayer đã nhận diện 12 nguyên tắc thiết kế đa phương tiện, dựa vào cách mà những người học xử lý đa phương tiện theo nhận thức: 8.5.2.1 Mạch lạc Mọi người học tốt hơn khi các từ, các bức ảnh và âm thanh không liên quan được loại bỏ hơn là được đưa vào. Về cơ bản, hãy giữ cho nó đơn giản theo khái niệm các phương tiện. 8.5.2.2 Đánh tín hiệu Mọi người học tốt hơn khi những dấu hiệu làm nổi bật tổ chức của tư liệu cần thiết được đưa vào. Điều này nhân bản sớm những phát hiện của Bates và Gallagher (1977). Các sinh viên cần phải biết những gì tìm kiếm trong các tư liệu đa phương tiện. 8.5.2.3 [Tránh] dư thừa Mọi người học tốt hơn khi các từ và các hình ảnh tương ứng được trình bày gần hơn là xa với nhau trên một trang hoặc màn hình. 8.5.2.4 Sự liên tưởng về không gian Mọi người học tập tốt hơn khi các từ ngữ và hình ảnh tương ứng được trình bày gần hơn là xa với nhau trên trang giấy hoặc màn hình. 8.5.2.5 Sự liên tưởng tạm thời Mọi người học tốt hơn khi các từ và hình ảnh được trình bày cùng một lúc hơn là kế tục nhau. 8.5.2.6 Phân đoạn Mọi người học tốt hơn khi một bài học đa phương tiện được trình bày trong các phân đoạn theo nhịp độ của người sử dụng hơn là như một bài học liên tục. Vì thế vài video dài của 'YouTube' có nhiều khả năng làm việc tốt hơn là một video dài 50 phút. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 345/604
  34. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 8.5.2.7 Huấn luyện trước Mọi người học tốt hơn từ nhiều bài học khi họ biết các tên và đặc tính của các khái niệm chính. Điều này gợi ý một tính năng thiết kế cho các phòng học đảo ngược chức năng (flipped classrooms), ví dụ thế. Có thể là tốt hơn để sử dụng một bài giảng hoặc các ghi chép đưa ra được một tóm tắt các khái niệm và nguyên tắc chính trước khi chỉ ra nhiều ví dụ hoặc ứng dụng chi tiết hơn của các nguyên tắc như vậy trong 1 video. 8.5.2.8 Phương thức Mọi người học tốt hơn từ các hình đồ họa và câu chuyện kể hơn từ hoạt hình và văn bản trên màn hình. Điều này phản ánh tầm quan trọng của những người học có khả năng kết hợp cả việc nghe và nhìn cùng một lúc để tăng cường cho nhau theo các cách thức đặc thù. 8.5.2.9 Đa phương tiện Mọi người học tốt hơn từ các từ và hình ảnh hơn từ chỉ mỗi các từ. Điều này cũng tăng cường cho những gì tôi đã viết trong năm 1995: Hãy làm cho tất cả 4 phương tiện sẵn sàng cho các giáo viên và những người học (Bates, 1995, trang 13). 8.5.2.10 Cá nhân hóa Mọi người học tốt hơn từ các bài học đa phương tiện khi các từ là ở dạng hội thoại hơn là dạng chính quy. Tôi thậm chí có thể đi xa hơn so với Mayer ở đây. Đa phương tiện có thể xúc tác cho những người học (đặc biệt những người học từ ở xa) gắn với người chỉ dẫn, như được nghiên cứu của Durbridge gợi ý (1983, 1984), vào âm thanh được kết hợp với văn bản. Việc cung cấp một 'tiếng nói và bộ mặt con người' cho việc dạy học giúp thúc đẩy những người học, nếu một dạng hội thoại được áp dụng. 8.5.2.11 Tiếng nói Mọi người học tốt hơn khi câu chuyện trong các bài học đa phương tiện được nói trong một tiếng nói con người thân thiện hơn là tiếng nói của cái máy. 8.5.2.12 [Không] hình ảnh Mọi người không nhất thiết học tốt hơn từ một bài học đa phương tiện khi hình ảnh của diễn giả được đưa vào màn hình. Khi đọc lại tác phẩm của Mayer, tôi ngạc nhiên với những điều tương tự trong các phát hiện, có sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, các công nghệ đa phương tiện khác nhau, và các ngữ cảnh khác nhau, cho nghiên cứu từ Nhóm Nghiên cứu các Phương tiện Nghe - Nhìn (Audio-Visual Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 346/604
  35. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Media Research Group) ở Đại học Mở của Anh vào những năm 1970 và 1980 (Bates, 1985). Gần đây hơn, Đại học British Columbia đã hoàn thành một công việc xuất sắc trong việc gợi ý cách các nguyên lý thiết kế của Mayer có thể được vận hành. Các nhân viên ở Đại học British Columbia đã kết hợp các phát hiện của Mayer với kinh nghiệm của Robert Talbert từ việc phát triển một loạt các screencasts (ghi lại đầu ra màn hình máy tính, thường bao gồm cả âm thanh) thành công về toán học, trong một tập hợp các chỉ dẫn thiết kế thực tế để sản xuất đa phương tiện. Các nguyên tắc thiết kế chính của Talbert là: • Giữ cho nó Đơn giản: tập trung vào một ý tưởng tại một thời điểm. • Giữ cho nó Ngắn: giữ cho các video có độ dài tối đa 5-6 phút cho sự chú ý tối đa. • Giữ cho nó Thực tế: mô hình ra quyết định và vấn đề giải quyết các quy trình của những người học là các chuyên gia. • Giữ cho nó Tốt: có ý định về việc lên kế hoạch cho video. Phấn đấu sản xuất video và âm thanh chất lượng tốt nhất có thể. 8.5.3 Dạy học như bộ phân biệt yếu trong lựa chọn các phương tiện Hầu hết các giáo viên và những người chỉ dẫn có lẽ đặc tính hiệu quả của một phương tiện cho việc dạy và học như là tiêu chí đầu tiên. Nếu công nghệ là không hiệu quả về giáo dục, thì vì sao bạn sử dụng nó chứ? Tuy nhiên, nếu một sinh viên không thể truy cập hoặc sử dụng công nghệ, thì sẽ không có việc học tập từ công nghệ đó, bất kể nó được thiết kế như thế nào. Hơn nữa, các giáo viên có động lực sẽ vượt qua được những điểm yếu trong một công nghệ cụ thể, hoặc ngược lại các giáo viên không có kinh nghiệm trong việc sử dụng các phương tiện thường sẽ không khai thác hết được tiềm năng của một công nghệ. Vì thế các quyết định thiết kế là then chốt trong việc gây ảnh hưởng tới tính hiệu quả của một công nghệ đặc thù. Các bài giảng được thiết kế tốt sẽ dạy tốt hơn so với một khóa học trực tuyến được thiết kế tồi, và ngược lại. Tương tự, các sinh viên sẽ ứng xử khác nhau với các công nghệ khác nhau vì các kiểu học tập được ưu tiên hoặc những khác biệt về động lực. Các sinh viên làm việc cật lực có thể vượt qua được sự sử dụng tồi các công nghệ học tập. Là không ngạc nhiên rằng với quá nhiều biến có liên quan, việc dạy và học là một bộ phân biệt khó khăn cho việc lựa chọn và sử dụng các công nghệ. Sự truy cập (và dễ sử dụng) là những bộ phân biệt mạnh hơn so với tính hiệu quả của việc dạy học trong việc lựa chọn các phương tiện. 8.5.4 Các câu hỏi để cân nhắc Vì thế, là không đủ để tập trung chỉ vào thiết kế các tư liệu đa phương tiện, cũng quan trọng như thiết kế, thậm chí việc cân nhắc chỉ ngữ cảnh sư phạm. Sự lựa chọn và sử dụng các phương tiện cần phải được gắn với các yếu tố khác (những gì Mayer gọi là 'các điều kiện biên'), như các khác biệt riêng rẽ giữa những người học, sự phức tạp của nội dung, và các kết quả đầu ra học tập mong muốn. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 347/604
  36. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Vì thế khi cân nhắc các phương tiện từ một quan điểm dạy học khắt khe, các câu hỏi sau đây cần phải được cân nhắc: 1. Ai là các sinh viên của tôi? 2. Nội dung nào cần phải được đề cập tới? 3. Những kết quả đầu ra mong muốn nào từ việc dạy với lưu ý về phát triển các kỹ năng? 4. Các chiến lược và tiếp cận chỉ dẫn nào cho việc học tập tôi có kế hoạch sử dụng? 5. Các đặc tính sư phạm duy nhất của các phương tiện khác nhau là gì? Làm thế nào các phương tiện khác nhau có thể giúp trình bày nội dung và phát triển các kỹ năng của sinh viên trong khóa học này? 6. Đâu là cách thức tốt nhất để trình bày nội dung sẽ được đề cập tới trong khóa học này? Các phương tiện có thể giúp như thế nào với trình bày nội dung? Các phương tiện nào cho nội dung nào? 7. Các kỹ năng nào tôi đang cố gắng phát triển trong khóa học này? Làm thế nào các phương tiện có thể giúp cho các sinh viên với sự phát triển các kỹ năng cần thiết cho khóa học này? Các phương tiện nào cho các kỹ năng nào? 8. Các nguyên tắc nào tôi cần sử dụng khi thiết kế các tư liệu đa phương tiện để sử dụng chúng có hiệu quả nhất? Làm việc qua các câu hỏi đó có khả năng sẽ là một sự lặp đi lặp lại hơn là một quy trình tuần tự. Phụ thuộc vào cách bạn ưu tiên hơn để nghĩ về và ra các quyết định, nó có thể giúp để viết ra các câu trả lời cho từng câu hỏi, nhưng việc đi qua quy trình suy nghĩ về các câu hỏi đó có thể là quan trọng hơn, để lại cho bạn với sự tự do lựa chọn trên cơ sở trực quan hơn, trước hết lấy tất cả các yếu tố đó - và các yếu tố khác - những yếu tố cân nhắc. Hoạt động 8.5 Các nguyên tắc thiết kế đa phương tiện Bạn nghĩ các nguyên tắc thiết kế của Meyer tốt thế nào, có thể áp dụng cho việc học tập trong các phòng học không? • Các nguyên lý nào cũng có thể làm việc được trong ngữ cảnh một phòng học và và các nguyên lý nào thì không? • Dưới các điều kiện nào các nguyên lý của Meyer có thể làm việc được trong ngữ cảnh của một phòng học? • Xin hãy chia sẻ các câu trả lời của bạn trong hộp bình luận bên dưới. Các tham chiếu • Bates, A. (1985) Broadcasting in Education: An Evaluation London: Constables Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 348/604
  37. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • Bates, A. (1995) Teaching, Open Learning and Distance Education London/New York: Routledge • Bates, A. and Gallagher, M. (1977) Improving the Effectiveness of Open University Television Case-Studies and Documentaries Milton Keynes: The Open University (I.E.T. Papers on Broadcasting, No. 77) • Durbridge, N. (1983) Design implications of audio and video cassettes Milton Keynes: Open University Institute of Educational Technology • Durbridge, N. (1984) Audio cassettes, in: Bates, A. (ed.) The Role of Technology in Distance Education London: Routledge (re-published in 2014) • Koumi, J. (2006). Designing video and multimedia for open and flexible learning. London: Routledge • Koumi, J. (2015) Learning outcomes afforded by self-assessed, segmented video-print combinations Academia.edu (unpublished) • Mayer, R. E. (2009). Multimedia learning (2nd ed). New York: Cambridge University Press • UBC Wikis (2014) Documentation: Design Principles for Multimedia Vancouver BC: University of British Columbia Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 349/604
  38. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 8.6 Tương tác Yếu tố thứ 5 của mô hình SECTIONS cho việc lựa chọn các phương tiện là sự tương tác. Các phương tiện khác nhau xúc tác cho sự tương tác như thế nào? Sự 'kham được' của sự tương tác là quan trọng sống còn, khi bây giờ có một lượng áp đảo bằng chứng nghiên cứu để gợi ý rằng các sinh viên học tốt nhất khi họ là 'tích cực' trong việc học tập của họ. Nhưng điều đó có nghĩa gì? Và vai trò nào có thể hoặc làm cho các công nghệ mới chơi được trong việc hỗ trợ học tập tích cực? 8.6.1 Các dạng tương tác của người học Có 3 cách thức khác nhau những người học có thể tương tác khi nghiên cứu (Moore, 1989), và mỗi trong số các cách đó đòi hỏi sự pha trộn các phương tiện và công nghệ hơi khác nhau. 8.6.1.1 Tương tác với các tư liệu học tập Hình 8.6.1.1 Các máy tính xúc tác cho những người học để tương tác với các tư liệu học tập (hơn nữa tương tác 'vốn có') Đây là sự tương tác được sinh ra khi các sinh viên làm việc trong một phương tiện đặc biệt, như một cuốn sách giáo khoa được in, một hệ thống quản lý học tập, hoặc một video clip ngắn, không có sự can thiệp trực tiếp từ một người chỉ dẫn hoặc các sinh viên khác. Sự tương tác có thể là 'có suy nghĩ', không có bất kỳ hành động công khai nào, hoặc nó có thể 'quan Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 350/604
  39. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 sát thấy được', ở dạng một câu trả lời được ước tính, như một kiểm thử nhiều lựa chọn, hoặc như sự đóng góp vào một cuộc thảo luận, hoặc như các lưu ý để hỗ trợ trí nhớ và sự lĩnh hội. Công nghệ máy tính có thể tạo thuận lợi lớn cho sự tương tác của những người học với các tài nguyên học tập. Các kiểm thử trực tuyến tự quản cung cấp ý kiến phản hồi cho các sinh viên trong sự lĩnh hội hoặc đề cập về một lĩnh vực chủ đề của họ. Các kiểm thử như vậy cũng có thể cung cấp ý kiến phản hồi cho các giáo viên về lĩnh vực chủ đề nơi mà các sinh viên đang có khó khăn, và cũng có thể được sử dụng cho việc phân loại các sinh viên trong sự lĩnh hội của họ. Việc sử dụng phần mềm kiểm thử tiêu chuẩn được xây dựng trong các hệ thống quản lý học tập, các sinh viên có thể được đánh giá tự động và được phân loại về sự lĩnh hội của họ các tư liệu khóa học. Các hoạt động tiên tiến hơn có thể bao gồm việc soạn nhạc bằng sử dụng phần mềm biến đổi các ký hiệu âm nhạc sang âm thanh, việc vào dữ liệu để kiểm thử các khái niệm thông qua các mô phỏng trên trực tuyến, hoặc tham gia vào các trò chơi hoặc các kịch bản ra quyết định được máy tính kiểm soát. Vì thế sự tương tác của người học được máy tính quản lý là đặc biệt tốt cho việc phát triển sự lĩnh hội và hiểu biết các khái niệm và thủ tục, nhưng nó có những hạn chế trong việc phát triển các kỹ năng học tập có trật tự cao hơn về phân tích, tổng hợp và tư duy phản biện, không có sự can thiệp bổ sung của con người trong một số dạng. Có các cách thức khác ngoài việc học tập do máy tính quản lý để tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa những người học và tư liệu học tập. Các cuốn sách giáo khoa có thể bao gồm các hoạt động được tác giả thiết lập (như trong cuốn sách giáo khoa này), hoặc những người chỉ dẫn có thể thiết lập các hoạt động của sinh viên xung quanh các ghi chép được thiết lập. Các hoạt động khác của sinh viên có thể bao gồm việc đọc văn bản hoặc xem các video được nhúng trong một hệ thống quản lý học tập, tiến hành một tiếp cận có cấu trúc từ web để tạo ra các hồ sơ điện tử công việc. Các hoạt động đó có thể có hoặc không được đánh giá, dù bằng chứng gợi ý rằng các sinh viên, và đặc biệt các sinh viên đang nghiên cứu trực tuyến, có xu hướng tập trung nhiều hơn vào các hoạt động được đánh giá. Nói cách khác, với thiết kế tốt và các tài nguyên đúng phù hợp, sự chỉ dẫn dựa vào công nghệ có thể cung cấp các mức cao sự tương tác của sinh viên với các tư liệu học tập. Có những ưu điểm mạnh về kinh tế trong việc khai thác các khả năng tương tác của những người học với các tư liệu học tập, vì sự tương tác tăng cường của sinh viên với các tài nguyên học tập gia tăng thời gian các sinh viên bỏ ra trong việc học tập, điều có xu hướng cho việc học tập gia tăng (xem Means et al., 2010). Có lẽ quan trọng hơn, hoạt động như vậy, khi được thiết kế tốt, có thể làm giảm thời gian giáo viên cần để bỏ ra trong việc tương tác với từng sinh viên. 8.6.1.2 Tương tác giữa các sinh viên và giáo viên Tương tác sinh viên - giáo viên thường cần thiết để phát triển nhiều kết quả đầu ra của việc học tập theo trật tự cao hơn, như phân tích, tổng hợp và tư duy phản biện. Điều này đặc biệt là quan trọng cho việc phát triển học tập hàn lâm, nơi mà các sinh viên được/bị thách thức phải nghi ngờ các ý tưởng, và để có được sự hiểu biết sâu sắc. Điều này thường đòi hỏi hội thoại và đối thoại, học một - Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 351/604
  40. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 một giữa người chỉ dẫn và các sinh viên, hoặc giữa một người chỉ dẫn và một nhóm các sinh viên. Vai trò của giáo viên, ví dụ, trong hoặc các cuộc hội nghị chuyên đề mặt đối mặt hoặc học tập cộng tác trên trực tuyến vì thế là then chốt. Hình 8.6.1.2 Tương tác giữa sinh viên - giáo viên Hình ảnh: © Joseph Mehling, DartmouthLife, 2007 Vài công nghệ, như các diễn đàn thảo luận trực tuyến, xúc tác hoặc khuyến khích hội thoại hoặc nghị luận như vậy giữa các sinh viên và những người chỉ dẫn từ ở xa. Giới hạn chính của tương tác giữa sinh viên - giáo viên là nó có thể mất thời gian cho giáo viên, và vì thế không mở rộng dễ dàng được phạm vi quy mô. 8.6.1.3 Tương tác sinh viên - sinh viên Hình 8.6.1.3 Một hội nghị chuyên đề của sinh viên ở UBC Hình ảnh: © University of British Columbia, 2014 Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 352/604
  41. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Tương tác chất lượng cao giữa sinh viên với sinh viên có thể được cung cấp ngang bằng tốt cho cả trong các ngữ cảnh học tập mặt đối mặt và trực tuyến. Các diễn đàn thảo luận trực tuyến không đồng bộ được xây dựng trong các hệ thống quản lý học tập có thể xúc tác cho dạng tương tác này. Các MOOCs của những người kết nối số và các cộng đồng thực hành cũng xúc tác cho tương tác giữa sinh viên - sinh viên. Một lần nữa chất lượng phụ thuộc vào thiết kế tốt. Việc chỉ đặt các sinh viên vào cùng với nhau trong một nhóm, bất kể là trực tuyến hay mặt đối mặt, có khả năng không dẫn tới hoặc các mức cao của sự tham gia hoặc việc học tập chất lượng cao mà không có suy nghĩ cẩn thận về các mục tiêu giáo dục của thảo luận trong một khóa học, các chủ đề thảo luận và quan hệ của chúng về các kết quả đầu ra của đánh giá và học tập, và không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng của người chỉ dẫn cho các sinh viên đối với các thảo luận tự định hướng (xem Chương 4, Phần 4 để có thêm thông tin). Trong một môi trường học tập giàu công nghệ, vì thế, một quyết định chủ chốt cho một giáo viên hoặc người thiết kế khóa học là chọn sự pha trộn tốt nhất 3 dạng tương tác đó, có tính tới tiếp cận nhận thức học, lượng thời gian sẵn sàng cho cả các sinh viên và người chỉ dẫn, và các kết quả đầu ra học tập mong muốn. Công nghệ có thể xúc tác cho tất cả 3 dạng tương tác đó. 8.6.2 Đặc tính tương tác của các phương tiện và công nghệ Các công nghệ khác nhau có thể cải thiện hoặc hạn chế từng trong số 3 dạng tương tác được nêu ở trên. Điều này một lần nữa ngụ ý việc xem xét chiều tương tác khi nó áp dụng cho các phương tiện và công nghệ khác nhau. Chiều này có 3 thành phần hoặc chỉ vào chiều với lưu ý về mức độ mà một câu trả lời tích cực từ một người sử dụng được yêu cầu khi một phương tiện hoặc công nghệ được sử dụng cho việc dạy học. 8.6.2.1 Tương tác vốn có Vài phương tiện vốn dĩ là 'tích cực' trong đó chúng 'thúc đẩy' những người học phản ứng lại. Một ví dụ là việc học tập thích nghi, nơi các sinh viên không thể tiến bộ sang giai đoạn tiếp sau của việc học tập mà không tương tác qua một kiểm thử xác định liệu họ đã học đủ để tiến bộ sang giai đoạn tiếp, hay việc học tập 'để hiệu chỉnh' những gì họ vẫn còn cần phải làm. Việc học tập dựa vào máy tính của những người theo chủ nghĩa hành vi vốn dĩ là có tính tương tác, khi nó ép những người học phản ứng lại. Là không ngạc nhiên rằng các công nghệ kiểm soát cách một người học phản ứng lại thường có liên quan nhiều hơn tới tiếp cận của những người theo chủ nghĩa hành vi về dạy và học. 8.6.2.2 Tương tác được thiết kế Dù vài phương tiện hoặc công nghệ vốn dĩ không là tương tác, thì chúng có thể rõ ràng được thiết kế để khuyến khích sự tương tác với những người học. Ví dụ, dù một trang web vốn dĩ không là tương tác, nó có thể được thiết kế sẽ là tương tác, bằng việc bổ sung thêm một hộp bình luận hoặc Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 353/604
  42. Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 bằng việc yêu cầu những người sử dụng nhập vào thông tin hoặc tiến hành các lựa chọn. Đặc biệt, các giáo viên hoặc những người chỉ dẫn có thể thêm hoặc gợi ý các hoạt động trong một phương tiện đặc biệt. Một podcast có thể được thiết kế sao cho các sinh viên dừng các podcast sau mỗi vài phút để thực hiện một hoạt động dựa vào nội dung của podcast. Tiếp cận này chỉ có thể áp dụng được nhiều cho các sách giáo khoa, nơi các hoạt động có thể được đưa vào, như với các trang web. Trong nhiều trường hợp, một phương tiện sẽ đòi hỏi sự can thiệp của một giáo viên hoặc người chỉ dẫn để cả 2 cùng thiết lập các hoạt động xung quanh các tư liệu học tập và cung cấp sự phản hồi đúng phù hợp, vì thế bổ sung thêm thay vì làm giảm bớt tải công việc của những người chỉ dẫn. Vì thế ở những nơi những người chỉ dẫn phải can thiệp hoặc các hoạt động thiết kế hoặc để cung cấp phản hồi, thì những đòi hỏi về chi phí hoặc thời gian đối với người chỉ dẫn có khả năng sẽ là lớn hơn so với nếu 2 dạng khác của tương tác được sử dụng. 8.6.2.3 Tương tác do người sử dụng sinh ra Một số phương tiện có thể không có tương tác rõ ràng được xây dựng, nhưng những người sử dụng đầu cuối có thể vẫn tự nguyện tương tác với phương tiện đó, hoặc một cách có nhận thức và/hoặc qua vài sự phản hồi vật lý. Ví dụ, một số người trong một phòng trưng bày nghệ thuật có thể phản hồi lại một cách có nhận thức hoặc có cảm xúc về một bức tranh đặc biệt (trong khi những người khác có thể chỉ xem qua nó hoặc đi ngang qua nó). Các sinh viên có thể chọn làm các bức phác họa hoặc các bức vẽ từ bức tranh đó. Những người học có thể phản ứng lại theo các cách thức tương tự đối với việc đọc một cuốn tiểu thuyết hoặc bài thơ. Những người sáng tạo ra tác phẩm đó có thể thực sự cố ý thiết kế tác phẩm để khuyến khích phản biện hoặc phân tích, nhưng không theo các cách thức rõ ràng, để lại sự giải nghĩa tác phẩm cho người xem hoặc độc giả. (Điều này tất nhiên là tiếp cận của những người kiến tạo về học tập). Các phương tiện mà khuyến khích những người học trở nên tích cực một cách độc lập mà không cần sự can thiệp của giáo viên hoặc người chỉ dẫn cũng có các ưu thế về chi phí, dù chất lượng của sự tương tác sẽ là khó hơn để giám sát hoặc đánh giá. 8.6.2.4 Ai kiểm soát? Vì thế một chiều tương tác là sự kiểm soát: ở mức độ nào sự tương tác được/bị công nghệ, những người sáng tạo/những người chỉ dẫn, hoặc những người sử dụng/những người học kiểm soát hoặc xúc tác? Có thể thấy rằng đây là một chiều phức tạp, một lần nữa được/bị các quan điểm nhận thức luận, và cũng bởi các quyết định thiết kế ở phía của giáo viên, gây ảnh hưởng. Các chủng loại tương tác đó không theo cách gì là 'cố định', với các mức hoặc dạng tương tác khác nhau có khả năng bên trong cùng một phương tiện hoặc công nghệ. Cuối cùng, sự tương tác cần phải được liên kết với các kết quả đầu ra học tập mong muốn. Dạng tương tác nào sẽ dẫn dắt tốt nhất tới dạng đặc biệt kết quả đầu ra của việc học tập, và công nghệ hay phương tiện nào cung cấp tốt nhất dạng tương tác này? Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 354/604