Dạy học trong kỷ nguyên số (Phần 1)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dạy học trong kỷ nguyên số (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
day_hoc_trong_ky_nguyen_so.pdf
Nội dung text: Dạy học trong kỷ nguyên số (Phần 1)
- Dạy học trong kỷ nguyên số Teaching in a Digital Age
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Dạy học trong kỷ nguyên số Tác giả: A. W. (Tony) Bates Dịch sang tiếng Việt: Lê Trung Nghĩa Dịch xong lần đầu: 02/09/2015 Dịch xong phiên bản cập nhật hết tháng 08/2015: 15/09/2015 Bản gốc tiếng Anh: in-a-Digital-Age-1429535678&type=pdf và Teaching in a Digital Age A.W. (Tony) Bates Dạy học trong kỷ nguyên số của Anthony William (Tony) Bates có giấy phép Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License 4.0, ngoại trừ những nơi được lưu ý khác. Teaching in a Digital Age by Anthony William (Tony) Bates is licensed under a Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License, except where otherwise noted. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 2/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Mục lục Kịch bản A: các bài nói chuyện của giáo sư đại học đang thay đổi 6 Về cuốn sách - và cách sử dụng nó 8 Về tác giả 15 Các cuốn sách khác của tác giả 17 Các cập nhật và rà soát lại 18 Chương 1: Sự thay đổi cơ bản trong giáo dục 19 1.1 Những thay đổi về cấu trúc trong nền kinh tế: sự lớn mạnh của xã hội tri thức 21 1.2 Các kỹ năng cần thiết trong kỷ nguyên số 26 1.3 Giáo dục nên được gắn trực tiếp với thị trường lao động? 30 1.4 Sự thay đổi và tính liên tục 32 1.5 Tác động của bùng nổ các phương pháp dạy học 35 1.6 Các sinh viên thay đổi, các thị trường thay đổi đối với giáo dục đại học 39 1.7 Từ ngoại vi tới trung tâm: công nghệ đang thay đổi cách chúng ta dạy học như thế nào 44 1.8 Duyệt qua những phát triển mới trong công nghệ và học tập trực tuyến 48 Chương 2: Bản chất tự nhiên của tri thức và các tác động tới việc dạy học 50 Kịch bản C: Thảo luận trước bữa ăn 52 2.1 Nghệ thuật, lý thuyết, nghiên cứu, và các thực tiễn tốt nhất trong dạy học 54 2.2 Nhận thức luận và các lý thuyết học tập 56 2.3 Chủ nghĩa khách quan và chủ nghĩa hành vi 59 2.4 Phát triển nhận thức 63 2.5 Nghệ thuật kiến tạo 67 2.6 Kết nối số 71 2.7 Bản chất tự nhiên của tri thức đang thay đổi? 74 2.8 Tóm tắt 83 Chương 3: Các phương pháp dạy học: tập trung vào khu trường 86 Kịch bản D: Thống kê giáo viên thuyết trình chống lại hệ thống 88 3.1 Năm (5) quan điểm về dạy học 90 3.2 Gốc gác của mô hình thiết kế phòng học 91 3.3 Các bài giảng có tính truyền đạt: học tập bằng việc nghe 93 3.4 Các bài giảng, hội nghị chuyên đề, và các phụ đạo: học tập bằng việc nói 101 3.5 Học nghề: học tập bằng việc làm (1) 105 3.6 Học tập dựa vào kinh nghiệm: học tập bằng việc làm (2) 111 3.7 Nuôi dưỡng và các mô hình cải cách xã hội của việc dạy học: học tập bằng cảm xúc 123 3.8 Các kết luận chính 128 Chương 4: Các phương pháp dạy học với trọng tâm trên trực tuyến 132 Kịch bản E: Phát triển tư duy lịch sử 134 4.1 Các phương pháp học và dạy trên trực tuyến 136 4.2 Bình mới rượu cũ: học tập trên trực tuyến dạng phòng học 137 4.3 Mô hình ADDIE 141 4.4 Học tập cộng tác trực tuyến 145 4.5 Học tập dựa vào năng lực 153 4.6 Các cộng đồng thực hành 160 Kịch bản F: ETEC 522: Các mạo hiểm trong học tập điện tử (e-Learning) 167 4.7 Thiết kế 'lanh lẹ': Các thiết kế mềm dẻo cho việc học tập 170 4.8 Ra các quyết định về các mô hình thiết kế 176 Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 3/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Chương 5: các MOOCs 181 5.1 Ngắn gọn về lịch sử 183 5.2 MOOC là gì? 185 5.3 Các biến thể trong các thiết kế MOOC 189 5.4 Các điểm mạnh và yếu của các MOOCs 199 5.5 Các trình điều khiển chính trị, xã hội và kinh tế của các MOOCs 217 5.6 Vì sao các MOOC chỉ là một phần của câu trả lời 222 Kịch bản G: Làm thế nào để vượt qua được sự già cỗi 227 Chương 6: Hiểu công nghệ trong giáo dục 230 6.1 Chọn các công nghệ cho việc dạy và học: một thách thức 233 6.2 Lịch sử ngắn gọn của công nghệ giáo dục 236 6.3 Phương tiện hay công nghệ? 245 6.4 Phương tiện truyền phát so với truyền thông 256 6.5 Chiều thời gian và không gian của phương tiện 261 6.6 Sự giàu có của các phương tiện 266 6.7 Hiểu nền tảng của các phương tiện giáo dục 270 Chương 7: Các khác biệt sư phạm giữa các phương tiện 272 7.1 Tư duy về khác biệt sư phạm của phương tiện 274 7.2 Văn bản 280 7.3 Âm thanh 287 7.4 Video 292 7.5 Điện toán 298 7.6 Các phương tiện xã hội 304 7.7 Khung cho việc phân tích các đặc tính sư phạm của các phương tiện giáo dục 310 Chương 8: Việc chọn và sử dụng các phương tiện trong giáo dục: Mô hình SECTIONS 313 8.1 Các mô hình để lựa chọn các phương tiện 315 8.2 Các sinh viên 320 8.3 Dễ sử dụng 329 8.4 Chi phí 335 8.5 Việc dạy học và lựa chọn các phương tiện 344 8.6 Tương tác 350 8.7 Các vấn đề về tổ chức 358 8.8 Kết nối mạng 362 8.9 An toàn và tính riêng tư 365 8.10 Quyết định 369 Chương 9. Các chế độ phân phối 374 9.1 Tính liên tục của việc học tập dựa vào công nghệ 376 9.2 So sánh các phương pháp phân phối 380 9.3 Chế độ nào? Các nhu cầu của sinh viên 386 9.4 Chọn giữa việc dạy học mặt đối mặt và trực tuyến ở khu trường 391 9.5 Tương lai của khu trường 399 Chương 10: Các xu thế trong giáo dục mở 407 Kịch bản H: quản lý đầu nguồn - Watershed 409 10.1 Việc học tập mở 412 10.2 Tài nguyên giáo dục mở (OER) 417 10.3 Sách giáo khoa mở, nghiên cứu mở và dữ liệu mở 424 10.4 Tác động của 'mở' cho thiết kế khóa học và chương trình: hướng tới dịch chuyển hệ biến Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 4/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 hóa? 429 Chương 11: Đảm bảo cho việc dạy học có chất lượng trong kỷ nguyên số 439 11.1 Chúng ta ngụ ý gì về chất lượng khi dạy học trong kỷ nguyên số? 442 11.2 Chín (9) bước cho việc dạy học có chất lượng trong kỷ nguyên số 450 11.3 Bước 1: Hãy quyết định cách bạn muốn dạy 452 11.4 Bước 2: Dạng khóa học hoặc chương trình nào 457 11.5 Bước 3: làm việc trong một đội 459 11.6 Bước 4: xây dựng trên các tài nguyên có sẵn 462 11.7 Bước 5: làm chủ công nghệ 465 11.8 Bước 6: thiết lập các mục tiêu học tập thích hợp 471 11.9 Bước 7: thiết kế cấu trúc và các hoạt động học tập của khóa học 476 11.10 Bước 8: giao tiếp, giao tiếp, giao tiếp 488 11.11 Bước 9: đánh giá và đổi mới 496 11.12 Xây dựng nền tảng mạnh thiết kế khóa học 502 Chương 12: Việc hỗ trợ các giáo viên và những người chỉ dẫn trong kỷ nguyên số 505 12.1 Bạn là siêu anh hùng? 509 12.2 Sự phát triển và việc huấn luyện các giáo viên và những người chỉ dẫn trong kỷ nguyên số 511 12.3 Hỗ trợ công nghệ học tập 518 12.4 Các điều kiện việc làm 520 12.5 Dạy học theo đội 525 12.6 Chiến lược của cơ sở cho việc dạy học trong kỷ nguyên số 527 12.7 Xây dựng tương lai 529 Kịch bản J: Dừng bệnh cúm 535 Phụ lục 1: Xây dựng môi trường học tập có hiệu quả 538 A.1 Việc tích hợp các nguyên tắc thiết kế bên trong một môi trường học tập giàu 540 Kịch bản B Quay lại trường học sau 25 năm 541 A.2 Môi trường học tập là gì? 543 A.3 Các đặc tính của người học 546 A.4 Quản lý nội dung 550 A.5 Việc phát triển các kỹ năng 556 A.6 Hỗ trợ người học 559 A.7 Các tài nguyên 563 A.8 Đánh giá việc học tập 567 A.9 Xây dựng nền tảng thiết kế tốt 573 Phản hồi về các hoạt động 577 Hoạt động 1.8 Các kết luận chính từ Chương 1 578 Hoạt động 6.1 Có bao nhiêu công nghệ bạn có thể thấy trong Hình 6.1? 579 Hoạt động 6.3 Bạn có thể phân loại thứ sau đây (hoặc phương tiện hoặc công nghệ)? 581 Hoạt động 6.4 Truyền phát hay truyền thông 582 Thư mục tham khảo 584 Phụ lục 2: Các câu hỏi chỉ dẫn lựa chọn và sử dụng các phương tiện 597 Phụ lục 3: Các tiêu chuẩn chất lượng, các tổ chức và nghiên cứu học tập trên trực tuyến 601 Phụ lục 4: Các rà soát lại độc lập được ủy quyền 604 Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 5/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Kịch bản A: các bài nói chuyện của giáo sư đại học đang thay đổi Quá quen khi nghe trong quán cà phê gần khu trường: Này, Frank, trông anh cũng không được vui. Ừ, tôi đang điên lên đây. Chủ nhiệm khoa chúng tôi đã triệu tập một cuộc họp cả khoa ngày hôm qua để thảo luận về kế hoạch nghiên cứu mới của trường đại học, và đâu là điều có ý nghĩa cho tất cả các phòng nghiên cứu trong khoa chứ. Tôi biết đã có các cuộc họp trước đó trong năm, vài trong số đó tôi có tham dự, nhưng có vẻ như vẫn là chuyện cũ y hệt về việc xây dựng một trường đại học phù hợp với một kỷ nguyên mới, và việc cách mạng hóa cách mà chúng ta dạy học. Nhưng các thảo luận đó dường như đã không ảnh hưởng tới các khóa học mà tôi đang dạy - là rõ rồi trước đó rằng đã không có mối đe dọa nào cho phòng đang đóng cửa đó. Nếu có bất kỳ điều gì, thì giống như là các lớp học của tôi có thể thậm chí sẽ ngày một lớn hơn, với các tuyên bố thường thấy về việc phải làm nhiều hơn với tài nguyên ít hơn. Nghiên cứu của tôi đang tiến triển tốt, và đã không có chuyện lần này về việc phải có tải dạy học gia tăng. Vào thời điểm đó, tôi đã chuyển rồi: tôi đã trải qua tất cả những điều này nhiều lần trước đó rồi. Nhưng ngay khi trưởng khoa bắt đầu vào ngày hôm qua, tôi đã cảm thấy lo lắng. Ông ta đã bắt đầu nói về nhu cầu đối với phòng phải 'mềm dẻo' hơn trong việc dạy học của mình. Nó có nghĩa quái quỷ gì nhì - các bài tập yoga ở đầu mỗi bài giảng chăng? Rồi thì ông ta đã nói về 'việc xác định các kết quả học tập đầu ra rõ ràng' và 'cá nhân hóa việc học tập'. Vâng, điều đó thật ngốc nghếch. Ai cũng biết rằng bạn phải quốc tế hóa những gì bạn học hoặc nó không xảy ra. Và các khóa học của tôi đang thay đổi liên tục - nếu tôi đặt ra các kết quả thậm chí ở đầu của một khóa học, thì có lẽ chúng sẽ khác vào lúc chúng ta kết thúc khóa học. Nhưng sau đó thực sự có vấn đề, khi tôi biết mọi điều đã trở nên khó khăn. 'Chúng tôi muốn có ít nhất 50% tất cả các lớp được dạy theo một cách thức pha trộn hoặc lai trong vòng 5 năm tới'. OK, tôi đoán tôi có thể xử lý được - tôi từng sử dụng rồi hệ thống quản lý học tập - LMS (Learing Management System) để sao lưu các bài giảng của tôi, nhưng khi ông ta nói rằng các phương tiện chào nội dung y hệt khắp các khóa khác, và bỏ đi hầu hết các bài giảng, thì tôi đã bắt đầu thực sự lo lắng. Ông ta đã bắt đầu dông dài về sự cần thiết phục vụ tất cả các dạng người học từ các học sinh trung học phổ thông (high school) cho tới những người học tập suốt đời, và đối với chúng tôi thì tất cả phải dạy theo các tổ - đội, với thành viên lâu năm của khoa như là một nhà tư vấn dạy học. Bây giờ nếu ông ta nghĩ tôi sẽ để vài kẻ ngu ngốc khác trong phòng quyết định những gì tôi sẽ dạy, thì ông ta nghĩ nhầm rồi. Phần đáng sợ là tôi nghĩ chủ nhiệm khoa thực sự tin tưởng tất cả điều này là cốt để lòe. Nhưng khi tôi thực sự bắt đầu hoang mang là khi ông ta nói chúng tôi tất cả có thể phải bắt đầu sử dụng các khóa học về dạy thế nào. Hiện tôi đang có sự đánh giá khá tốt của các sinh viên về các bài giảng của tôi - họ đúng là thích sự pha trò của tôi - và tôi KHÔNG có bất kỳ ai nói cho tôi cách Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 6/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 phải dạy môn của tôi. Tôi là một trong những cao thủ trong lĩnh vực nghiên cứu của tôi ở đất nước này, và bộ máy hành chính thì biết gì về dạy thế nào chứ? Và khi nào tôi sẽ tìm ra thời gian, bằng mọi cách, để sử dụng các khóa học chứ? Tôi đã và đang làm việc hết sức rồi. Vì sao họ chỉ để mặc chúng tôi một mình, và tin chúng tôi sẽ tiếp tục với công việc mà chúng tôi được trả tiền để làm? Nếu bất kỳ thứ gì trong những thứ đó làm bạn lo lắng, thì cuốn sách này là cho bạn. Về các bình luận của tôi đối với kịch bản đó, hãy nháy vào đường liên kết tới podcasts bên dưới. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 7/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Về cuốn sách - và cách sử dụng nó I. Vì sao có cuốn sách này? Các giáo viên, các trợ giáo và khoa đang đối mặt với sự thay đổi chưa từng có, thường với các lớp học lớn hơn, các sinh viên đa dạng hơn, các nhu cầu từ chính phủ và các ông chủ muốn có được nhiều hơn trách nhiệm giải trình và sự phát triển của các sinh viên tốt nghiệp, những người là lực lượng lao động, và trên tất cả, chúng ta tất cả đều phải vượt qua được sự thay đổi của công nghệ. Để xử trí với sự thay đổi có tính tự nhiên này, các giáo viên và những người chỉ dẫn cần một cơ sở lý thuyết và tri thức sẽ cung cấp nền tảng vững chắc cho việc dạy học của họ, bất kể những thay đổi và áp lực nào họ phải đối mặt. Dù cuốn sách có nhiều ví dụ thực tiễn, nó là hơn với một cuốn cẩm nang chỉ dẫn cách để dạy học. Nó đề cập tới các câu hỏi sau: • liệu bản chất tự nhiên của tri thức có đang thay đổi, và các quan điểm khác nhau về bản chất tự nhiên đó của tri thức tạo ra các tiếp cận khác nhau về việc dạy học như thế nào? • nghiên cứu và khoa học nào có thể giúp tôi tốt nhất trong việc dạy học của tôi? • làm thế nào tôi quyết định được liệu các khóa học của tôi nên là mặt đối mặt, pha trộn hay hoàn toàn trên trực tuyến? • các chiến lược nào là tốt nhất khi dạy học trong một môi trường giàu công nghệ? • các phương pháp dạy học nào là có hiệu quả nhất cho các lớp học pha trộn và trực tuyến? • làm thế nào tôi chọn được trong số tất cả các các phương tiện có sẵn, như văn bản, âm thanh, video, điện toán, hay phương tiện xã hội, để làm lợi cho các sinh viên của tôi và bản thân chủ đề của tôi? • làm thế nào tôi duy trì được chất lượng cao trong việc dạy học của tôi trong một môi trường học tập đang thay đổi nhanh chóng, trong khi vẫn quản lý được tải công việc của tôi? • đâu là các trách nhiệm thực tế cho việc dạy và học bằng việc sử dụng các khóa học trực tuyến mở đại chúng - MOOC (Massive Open Online Course), tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Education Course), các sách giáo khoa mở (OpenTextbook)? Tóm lại, cuốn sách xem xét các nguyên tắc nằm bên dưới chỉ dẫn cho việc dạy học có hiệu quả trong kỷ nguyên khi mà mỗi người, và đặc biệt là các sinh viên mà chúng ta đang dạy, đang sử dụng công nghệ. Một khung công việc và một tập hợp các chỉ dẫn được gợi ý để đưa ra các quyết định về việc dạy học của bạn, trong khi phải hiểu rằng mỗi chủ đề là khác nhau, và mỗi giáo viên và người chỉ dẫn có thứ gì đó độc nhất và đặc biệt để mang tới cho việc dạy học của họ. Cuối cùng, cuốn sách không thực sự là về các giáo viên và người chỉ dẫn, dù bạn là nhóm đích. Nó là về việc bạn giúp cho các sinh viên của bạn phát triển tri thức và các kỹ năng họ sẽ cần trong kỷ nguyên số: không có nhiều các kỹ năng số, nhưng tư duy và tri thức mà sẽ mang họ tới thành công. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 8/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Dù để điều đó xảy ra, các sinh viên của bạn vẫn cần bạn đứng trên đỉnh cuộc chơi của bạn. Cuốn sách này là huấn luyện viên của bạn. II. Khán thính phòng của cuốn sách Khán thính phòng mà tôi đang với tới trước hết là những người chỉ dẫn của các trường cao đẳng và đại học, đang lo cải thiện việc dạy học của họ hoặc đang đối mặt với các thách thức chính trong phòng học, như số lượng quá lớn các sinh viên hoặc việc thay đổi nhanh chóng chương trình giảng dạy, và cả nhiều giáo viên các trường phổ thông, đặc biệt trong trung học cơ sở (secondary school) hoặc trung học phổ thông (high school) đang lo đảm bảo cho các sinh viên của họ sẵn sàng hoặc cho giáo dục sau trung học hoặc cho một thị trường công ăn việc làm đang thay đổi và không chắc chắn cao độ. Đặc biệt cuốn sách nhằm tới các giáo viên và người chỉ dẫn đang lo sử dụng tốt nhất công nghệ để dạy học. Tôi đưa ra nhiều ví dụ của mình từ giáo dục sau trung học, nhưng nhiều nguyên tắc cũng sẽ áp dụng được cho các giáo viên trong các trường phổ thông hoặc hệ thống phổ thông 12 lớp (K-12), dù, như một cựu giáo viên phổ thông cơ sở/cấp 1, tôi nhận thức tốt rằng các trường học đó có ít tài nguyên hơn nhiều và ít sự hỗ trợ công nghệ hơn so với các trường cao đẳng hoặc đại học. Thông qua cuốn sách này, tôi đã vật lộn với khái niệm 'người chỉ dẫn' (instructor), vì tôi viện lý rằng chúng ta cần chuyển từ mô hình giáo dục truyền đạt ('chỉ dẫn' [instruction]) sang tạo thuận lợi cho việc học ('việc dạy'), thậm chí hoặc đặc biệt trong giáo dục sau trung học. Tuy nhiên, khái niệm 'người chỉ dẫn' thường được sử dụng để phân biệt giữa sau trung học và các hệ thống 12 lớp, với 'các giáo viên' đang được sử dụng cho trường hợp sau, vì thế xuyên khắp cuốn sách, tôi đã có ý sử dụng cả 2 khái niệm hầu như trao đổi lẫn được cho nhau. Tuy nhiên, hy vọng của tôi là chúng ta cuối cùng tất cả sẽ trở thành các giáo viên thay vì là những người chỉ dẫn. Cuối cùng, dù công nghệ là trọng tâm cốt lõi của cuốn sách này, thì tôi không phải là người bênh vực cho việc bỏ hệ thống giáo dục dựa vào con người hiện nay và thay thế nó bằng một mô hình dạy học được máy tính hóa cao độ. Tôi tin tưởng rằng dù có một nhu cầu lớn cho cải cách đáng kể, thì vẫn có nhiều chất lượng dài lâu đối với một hệ thống giáo dục được cấp vốn tốt và được hỗ trợ công khai, dựa vào các giáo viên được huấn luyện tốt và có chất lượng cao mà sẽ là khó nếu không nói là không thể để thay thế bằng công nghệ. Trọng tâm ở đây là trong việc làm cho công nghệ làm việc được cho cả những người dạy và những người học. III. Vì sao lại là sách giáo khoa 'mở'? Dù tôi giữ bản quyền qua một giấy phép Creative Commons CC BY, thì cuốn sách này là 'mở' theo tất cả 5 cách thức được mô tả trong Chương 10: • sử dụng lại được: bạn được phép sử dụng tất cả hoặc một phần tác phẩm cho các mục đích của riêng bạn (ví dụ, bạn có thể tải về bất kỳ phần nào hoặc toàn bộ cuốn sách, và sử dụng Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 9/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 nó trong việc dạy học hoặc nghiên cứu của riêng bạn, không cần phải xin phép hoặc trả bất kỳ khoản tiền nào); • phân phối lại được: bạn có thể chia sẻ tác phẩm với những người khác (ví dụ, bạn có thể gửi thư điện tử một phần cuốn sách cho một đồng nghiệp hoặc bạn sinh viên); • làm lại được: bạn có thể lấy bất kỳ phần nào của cuốn sách, và thay đổi nó cho các mục đích của riêng bạn, hoặc dịch một phần hoặc toàn bộ cuốn sách sang ngôn ngữ khác, một lần nữa, không cần phải xin phép; • pha trộn: bạn có thể lấy các phần của cuốn sách này và kết hợp chúng với các tư liệu hoặc các tài nguyên 'nguồn mở' khác để tạo ra một tài nguyên mới (ví dụ, lấy vài podcasts từ cuốn sách này và kết hợp chúng với văn bản từ cuốn sách giáo khoa mở khác để tạo ra một tác phẩm mới); • giữ lại được, có nghĩa là không có các hạn chế quản lý các quyền số - DRM (Digital Rights Management) nào, nội dung là tùy bạn để giữ, bất kể bạn là giáo viên hay sinh viên. Chỉ có một hạn chế trong tất cả 5 hoặc động trên, và đó là bạn thừa nhận tôi là nguồn (trừ phi tôi trích dẫn của ai đó, hoặc sử dụng tư liệu của ai đó khác, tất nhiên). Sự ghi công đầy đủ là đặc biệt quan trọng như một ví dụ cho các sinh viên của bạn, những người cần thừa nhận các nguồn của họ! Hơn nữa, nếu bạn thấy tư liệu trong cuốn sách này là hữu dụng, thì tôi có lẽ đánh giá cao nếu bạn gửi cho tôi một thư điện tử tới [email protected] với bất kỳ phản hồi nào về cách mà bạn đang sử dụng nội dung đó, và cách mà cuốn sách có thể được cải thiện, nhưng điều này chỉ là một yêu cầu, sao cho tôi có thể cải thiện được cuốn sách và theo dõi được cách mà nó đang được sử dụng. Cuốn sách này đã được xuất bản như tôi đã viết ra nó, mỗi chương một lúc. Tôi đã xuất bản bản thảo đầu tiên của hầu hết các phần trên blog của tôi, Các tài nguyên Giáo dục Từ xa và Học tập Trực tuyến (Online Learning and Distance Education Resources), để có được sự phản hồi. Cuốn sách này được xuất bản như một cuốn sách giáo khoa mở vì nhiều lý do, nhưng lý do chính là tôi thấy việc xuất bản mở như là tương lai của giáo dục. Một đằng, nó là sự chứng minh khái niệm. Tôi có thể đã không làm điều này mà không có sự hỗ trợ tuyệt vời từ trường đại học BC, trong thời gian viết đang dẫn dắt một dự án sách giáo khoa mở cho chính quyền tỉnh British Columbia ở Canada, và không có sự hỗ trợ từ Contact North, Ontario. IV. Các rà soát độc lập cuốn sách Ngay sau khi xuất bản bản thảo đầy đủ đầu tiên của cuốn sách, tôi đã đề nghị 3 chuyên gia độc lập trong lĩnh vực này rà soát lại cuốn sách. Quy trình đã được tiến hành, và các rà soát lại đầy đủ, còn chưa được biên soạn lại, có thể thấy trong Phụ lục 4. V. Các cách khác để sử dụng cuốn sách Nếu bạn thấy cách của bạn đối với website của cuốn sách này, bạn có thể đọc nó dần trên màn hình Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 10/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 bất kỳ khi nào và bất kỳ ở đâu. Hãy đánh dấu trang chủ ( rồi nháy vào bất kỳ đầu đề chương hoặc phần nào trong mục lục nội dung của nó. Cuốn sách sẽ được tải về theo các phiên bản epub, PDF, và cho di động, nên bạn có thể in ra hoặc tải về toàn bộ cuốn sách nếu muốn, để đọc ngay được. Nói chung, là tốt nhất để đọc sách trực tuyến, nếu bạn có thể, vì khi nó xuất sang các phiên bản khác, đôi khi các minh họa dịch chuyển đâu đó để vừa với trang hoặc trình bày của màn hình. Nó cũng có thể được tải về ở dạng xHTML, Pressbooks XML, hoặc WordPress XML từ trang chủ, nên bạn có thể sửa hoặc tùy biến cuốn sách hoặc các phần của nó để sử dụng cho riêng bạn. Cuốn sách được viết với giả thiết (dựa vào nghiên cứu) rằng hầu hết việc đọc sẽ được thực hiện trong các khoảng hơn kém một giờ đồng hồ, nên từng phần của một chương có thể được hoàn chỉnh trong tối đa 1 giờ đồng hồ (vài phần sẽ còn ngắn hơn nhiều). Nhiều phần sẽ có các hoạt động được gợi ý, chúng chủ yếu yêu cầu bạn phản ánh cách bạn đã đọc những gì có liên quan tới công việc hoặc ngữ cảnh của riêng bạn. Các hoạt động đó thường sẽ mất hơn 30 phút cho mỗi hoạt động. Nếu bạn muốn chia sẻ các suy nghĩ của bạn với những người khác đọc cuốn sách này, hãy sử dụng hộp bình luận ở cuối của từng phần. Điều này cũng sẽ cho tôi và các độc giả khác các phản hồi khi đang tiến hành các hoạt động như cách mà bạn đã tiếp cận nó. Việc chia sẻ các câu trả lời của bạn cho hoạt động trong hộp bình luận cũng sẽ cho tôi cơ hội trả lời các bình luận của bạn. Từng chương bắt đầu với một tập hợp các mục tiêu học tập cho chương đó, các chủ đề được đề cập tới, một danh sách các hoạt động cho chương đó, và những điều chính rút ra được (key takeaways) hoặc các điểm chính được thực hiện. Để truy cập điều này, hãy nháy vào đầu đề chương (như Chương 1: Sự thay đổi cơ bản trong Giáo dục). [Lưu ý rằng văn bản màu đỏ chỉ một đường liên kết/URL động - hãy nháy vào nó để kích hoạt nó. Điều này không luôn chỉ ra rõ ràng trên màn hình theo các điều kiện nhất định nên hãy rê con trỏ của bạn - hoặc trỏ vào các thiết bị di động - hơ qua văn bản đó để thấy các đường liên kết là ở đâu]. Các mũi tên ở từng phía của trang sẽ dẫn bạn hoặc tới trang trước, hoặc tới trang sau. Cuốn sách này có thể có nhiều cách khác nhau để sử dụng. Đây là vài gợi ý: • đọc qua luôn (qua vài ngày) vì lý do sử dụng cá nhân: điều này có lẽ là ít có khả năng nhất, nhưng có một sự tuần tự logic và một lý lẽ liên tục, mạch lạc được xây dựng qua cuốn sách; • đọc một chương hoặc một phần cụ thể mà nó là hữu dụng cho bạn, và quay lại sau tới các phần hoặc chương khác khi bạn cần chúng (hãy sử dụng lời nói đầu này và/hoặc mục lục các nội dung trên trang chủ như một chỉ dẫn); • tiến hành các hoạt động đi theo hầu hết các phần; • hãy sử dụng cuốn sách như là nòng cốt cho việc đọc trong một khóa học (hoặc một phần của một khóa học) về cách dạy học trong kỷ nguyên số. Bạn có thể sử dụng các hoạt động tôi đã gợi ý, hoặc, nếu bạn sử dụng một trong những định dạng soạn sửa (xHTML, Pressbooks XML hoặc WordPress XML), thì bạn có thể thay thế các hoạt động đó bằng của riêng bạn. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 11/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • ở giai đoạn này là KHÔNG có khả năng để đưa ra chỉ các phần nào đó của cuốn sách mà không thực hiện các sắp đặt đặc biệt. Cuốn sách này - quả thực như là các cuốn sách giáo khoa mở nói chung - là một tác phẩm đang tiến hóa, nên hãy luôn kiểm tra ngược để thấy các tính năng mới nào đang được bổ sung thêm vào qua thời gian. Khi các phát triển mới xảy ra, tôi sẽ cố gắng đảm bảo rằng chúng được kết hợp vào sao cho cuốn sách luôn được cập nhật (bạn cũng có thể đi theo blog của tôi tại tonybates.ca). Tôi có ý định thêm các podcasts trao sự xoay vòng cá nhân tôi trong từng chương, một sự đánh chỉ số đầy đủ sẽ được phát triển để bổ sung tiện ích tìm kiếm, và tôi sẽ xem xét thực hiện các thay đổi dựa vào các phản hồi từ các độc giả. VI. Tổng quan về nội dung Chương 1 Sự thay đổi cơ bản trong Giáo dục Chương này thiết lập giai đoạn cho phần còn lại của cuốn sách. Chương 1 xem xét những thay đổi chính đang ép các giáo viên và những người chỉ dẫn xem xét lại các mục tiêu và các phương pháp dạy học của họ, đặc biệt nó xác định tri thức và các kỹ năng chính mà các sinh viên cần trong kỷ nguyên số, và cách mà công nghệ đang thay đổi mọi điều, gồm cả ngữ cảnh ở đó chúng ta dạy học. Các chương 2-5: Nhận thức luận và các phương pháp dạy học Các chương đó đề cập tới các khía cạnh có tính lý thuyết và phương pháp luận của việc dạy và học trong kỷ nguyên số. Chương 2 đề cập tới các quan điểm khác nhau về bản chất tự nhiên của tri thức và cách mà những hiểu biết đó của tri thức ảnh hưởng tới các lý thuyết của việc học tập và các phương pháp dạy học. Các chương 3 và 4 phân tích những điểm mạnh và yếu của các phương pháp dạy học khác nhau, trải từ chỉ dựa vào khu trường học cho tới được pha trộn tới hoàn toàn trên trực tuyến. Chương 5 xem xét các điểm mạnh và yếu của các khóa học trực tuyến mở đại chúng - MOOC. Các chương đó tạo thành nền tảng lý thuyết cho những gì tiếp sau. Các chương 6-8: Phương tiện và công nghệ Trọng tâm 3 chương đó là về cách chọn và sử dụng các phương tiện và công nghệ khác nhau trong việc dạy học, với trọng tâm đặc biệt vào các đặc tính sư phạm độc nhất của các phương tiện khác nhau. Chương 8 kết thúc với một tập hợp các tiêu chí và một mô hình ra các quyết định về các phương tiện và công nghệ khác nhau cho việc dạy học. Chương 9-10: Các chế độ phân phối và giáo dục mở Chương 9 đề cập tới câu hỏi về cách xác định chế độ phân phối nào sẽ được sử dụng: dựa vào khu trường; pha trộn hay hoàn toàn trực tuyến. Chương 10 xem xét các tác động có tính đột phá tiềm tàng của các diễn biến gần đây trong nội dung mở, xuất bản mở, dữ liệu mở và nghiên cứu mở. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 12/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Chương này, trên hết tất cả, là một sứ giả của những thay đổi tận gốc rễ sẽ tới với giáo dục. Chương 11 và Phụ lục 1: Đảm bảo chất lượng trong dạy học trong kỷ nguyên số Chúng đi với 2 tiếp cận khác nhau nhưng bổ sung cho vấn đề đảm bảo dạy học chất lượng cao trong kỷ nguyên số. Chương 11 gợi ý 9 bước thực dụng cho việc thiết kế và phân phối dạy học có chất lượng trong ngữ cảnh dạy học số cao độ. Phụ lục 1 xem xét tất cả các thành phần cần thiết của một môi trường học tập chất lượng cao. Chương 12: Hỗ trợ của cơ sở Chương này xem xét rất ngắn gọn chính sách và sự hỗ trợ vận hành cần thiết từ các trường học, các trường cao đẳng và đại học để đảm bảo cho việc dạy học có chất lượng cao và thích đáng trong kỷ nguyên số. Các kịch bản Có 10 kịch bản 'điều gì xảy ra nếu' nằm rải rác khắp cuốn sách. Chúng một nửa là tưởng tượng, một nửa, như trong hầu hết từng trường hợp, kịch bản dựa vào một ví dụ thực tế. Tuy nhiên, đôi khi tôi đã kết hợp một hoặc nhiều trường hợp, hoặc đã mở rộng hoặc trải rộng trường hợp gốc ban đầu. Mục đích của các kịch bản là để khuyến khích sự tưởng tượng và suy nghĩ về cả 'các chướng ngại vật' hoặc các rào cản hiện hành của chúng ta đối với sự thay đổi, và các khả năng thực tế và lý thú của việc dạy học trong tương lai. Các đặc tính khác Từng chương kết thúc với một tập hợp 'những điều chính rút ra được' từ chương đó, và một tập hợp hoàn chỉnh các tham chiếu. Cũng có một thư mục toàn diện thu thập cùng tất cả các tham chiếu từ các chương. Hầu hết các phần của chương kết thúc bằng một hoạt động. Cũng có vài phụ lục cung cấp thông tin chi tiết hơn để hỗ trợ cho từng chương, và vài câu trả lời ví dụ cho các câu hỏi được đặt ra trong các hoạt động. VII. Thừa nhận và cảm ơn Cuốn sách này có thể đã không được làm xong nếu không có sự hỗ trợ khổng lồ từ một số người và cơ quan. Trước hết, tôi chân thành cảm ơn khu trường BC. Khu trường BC tổ chức site và đã cho phép tôi sử dụng phiên bản Pressbooks của riêng họ. Đặc biệt Clint Lanlonde, được Brad Payne trợ giúp, và với sự hỗ trợ của Mary Burgess, đã cung cấp sự trợ giúp và hỗ trợ tuyệt với. Tôi từng hoàn toàn không quen với công nghệ xuất bản mở, nhưng Clint và Brad đã dẫn dắt tôi qua tất cả các vật lộn của tôi. Tôi có thể đã không hoàn thành điều này nếu không có họ. Các cuốn sách giáo khoa mở có thể là tự do cho những người sử dụng đầu cuối nhưng chúng không Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 13/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 trở thành thực tế nếu không có sự hỗ trợ kỹ thuật chuyên nghiệp. Như một phần của sự ủy nhiệm của nó để hỗ trợ cho đổi mới trong giáo dục và học tập, Contact North | Contact Nord, Ontario’s Distance Education & Training Network (Mạng Giáo dục & Huấn luyện từ xa của Ontario, Contact Nord), đã cung cấp sự hỗ trợ cơ bản và giúp thiết kế/soạn thảo chỉ dẫn, các hình ảnh, làm sạch về bản quyền và đang hỗ trợ việc tiếp thị và quảng bá. Contact North | Contact Nord cũng đã làm cho có khả năng để cuốn sách sẵn sàng bằng tiếng Pháp. Tôi cũng đã nhận được sự trợ giúp không mong đợi nhưng rất ân cần từ Leonora Zefi và đội thiết kế chỉ dẫn của bà trong Digital Education Strategies (Các chiến lược Giáo dục Số), Trường Giáo dục Liên tục mang tên G. Raymond chang, (G. Raymond Chang School of Continuing Education), Đại học Ryerson, Toronto, những người đã tự nguyện đọc các bản thảo và từng chương và đã đưa ra các phản hồi có giá trị không thể tin nổi. Katherine McManus đã đưa ra thiết kế chỉ dẫn và sao chép tư vấn soạn thảo, và Elise Gowen đã làm tất cả các công việc bẩn thỉu trong việc kiểm tra bản quyền và có được sự cho phép. Tôi cũng muốn thừa nhận ảnh hưởng khổng lồ của các đồng nghiệp của tôi từ Đại học Mở (Open University), Cơ quan Học tập Mở (Open Learning Agency), và Đại học British Columbia, những người đã thực hiện nhiều nghiên cứu và đổi mới từ đó tôi đã cố gắng. Qua khắp sự nghiệp của mình, tôi đã và đang nhận được sự ủng hộ to lớn từ 2 cộng đồng thực hành: các nhà giáo dục từ ở xa; và các nhà công nghệ giáo dục / các nhà thiết kế chỉ dẫn. Đây thực sự là cuốn sách của họ; Tôi chỉ là người phát ngôn cho tất cả các ý tưởng và công việc của họ. Tôi chỉ hy vọng tôi đã đại diện được cho tri thức của họ một cách rõ ràng và chính xác. Cuối cùng, đã có tất cả sự phản hồi có giá trị mà tôi đã nhận được từ các độc giả blog của tôi. Tôi đã xuất bản bản thảo đầu tiên của hầu hết các phần cuốn sách trên blog của mình khi tôi đã viết chúng. Thay vì một đội rà soát lại ngang hàng với 2 hoặc 3 người, tôi đã có một đội rà soát lại hàng trăm người - quả thực là hàng ngàn người - các độc giả blog của tôi. Sự tư vấn tôi đã nhận được từ từng người thực sự là hữu ích và được đánh giá cao rất nhiều. Tuy nhiên, tôi đã không luôn đi theo tất cả các khuyến cáo mà tôi đã có, và tôi nhận toàn bộ trách nhiệm về bất kỳ sai sót hoặc phán xét không đúng nào mà bạn có thể đã đi qua. VIII. Truyền tới bạn Điều lớn lao về một cuốn sách giáo khoa mở là công việc đó là một dự án động, sống động. Những thay đổi có thể được thực hiện ngay lập tức. Tôi có thể thực sự thích nghe từ bạn, dù bằng thư điện tử tới [email protected], hay trong các hộp bình luận sau từng phần. Các bình luận và phản hồi có tính xây dựng sẽ rất được chào đón, và tôi hy vọng có khả năng trả lời cho bất kỳ bình luận nào bạn có thể đưa ra khi bạn đọc cuốn sách này. Trên hết tất cả, tôi hy vọng bạn thấy cuốn sách này thú vị và hữu ích và nó truyền cảm hứng cho bạn và/hoặc các đồng nghiệp của bạn để phát triển tri thức và các kỹ năng mà các sinh viên của bạn cần trong kỷ nguyên đầy thách thức này. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 14/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Về tác giả Tôi đã tốt nghiệp Đại học Sheffield, Vương quốc Anh, với bằng cử nhân B.A. (Hons.) về tâm lý học vào năm 1962, đã giành được chứng chỉ sau đại học về giáo dục từ Cao đẳng Goldsmiths, Đại học Luân Đôn, và bằng Tiến sỹ về quản lý giáo dục từ Viện Giáo dục, Đại học Luân Đôn. Khi rời đại học, tôi đã từng dạy một lớp 42 đứa trẻ độ tuổi từ 8-11 trong một trường học nhỏ vùng hẻo lánh, sau đó đã tiếp tục dạy các sinh viên với các nhu cầu đặc biệt trong một trường phổ thông trung học ở thành phố lớn ở nước Anh. Sau đó tôi đã được tuyển mộ để làm việc trong một dự án nghiên cứu của chính phủ, xem xét việc cai quản các trường phổ thông trung học rất lớn. Khi hợp đồng này kết thúc vào năm 1969, tôi đã được bổ nhiệm là thành viên thứ 20 của Đại học Mở - OU (Open University) mới được thành lập ở Vương quốc Anh, nơi tôi đã làm việc 20 năm, kết thúc như một Giáo sư Nghiên cứu Phương tiện Giáo dục, chủ yếu đánh giá trước hết tính hiệu quả của việc học các chương trình truyền hình và radio được thực hiện cho OU của BBC, rồi sau đó các phương tiện mới khác khi chúng được OU áp dụng. Trong giai đoạn đó, tôi cũng từng là một tác giả / người chỉ dẫn khóa học trong vài khóa học về khoa học xã hội và công nghệ. Vào cuối năm 1989, tôi đã di trú sang Canada, nơi tôi đã làm việc 5 năm như là Giám đốc Điều hành lập Kế hoạch Chiến lược ở Cơ quan Học tập Mở (Open Learning Agency) ở British Columbia. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 15/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Tôi đã từng là Giám đốc về Giáo dục và Công nghệ Từ xa (Director of Distance Education) ở Đại học British Columbia - UBC (University of British Columbia), nơi tôi đã thiết kế, phát triển và dạy các khóa học trực tuyến đầu tiên của chúng và sau đó đã giúp khởi xướng các chương trình học tập có cấp bằng đầy đủ trên trực tuyến lần đầu tiên ở UBC. Vào năm 2003, tôi đã nghỉ hưu theo lệnh từ UBC và đã thành lập công ty tư vấn của riêng mình chuyên trong việc tư vấn cho các trường đại học, các đồng nghiệp và và các cơ quan chính phủ về các chiến lược học tập trực tuyến và pha trộn. Tôi đã làm việc với hơn 50 trường đại học và cao đẳng, và vài cơ quan chính phủ, ở Canada, Mỹ, và châu Âu, và đã thực hiện các hợp đồng khác trên thế giới với Ngân hàng Thế giới (World Bank), UNESCO và OECD. Tôi đã quyết định nghỉ hưu khỏi các công việc được trả tiền vào năm 2014 để viết cuốn sách này. Tôi cũng là tác giả của 11 cuốn sách khác về công nghệ giáo dục, học tập trực tuyến và từ ở xa, vài trong số đó đã được dịch sang tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ả rập và Serbo- Croat. Tôi cũng đã được trao các học vị danh dự của Đại học Mở của Bồ Đào Nha, Đại học Mở Catalonia, Đại học Mở Hong Kong, Đại học Athabasca, và Đại học Laurentian. Tôi có một giấy phép phi công tư nhân, và đã từng bay khắp Canada và ngược lại trong chiếc máy bay Cessna 172, và tôi chơi golf tồi nhưng thường xuyên. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 16/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Các cuốn sách khác của tác giả • Bates, T. and Robinson, J. (eds.) (1977) Evaluating Educational Television and Radio Milton Keynes UK: The Open University Press • Bates, A.W. (ed.) (1984) The Role of Technology in Distance Education London: Croom Helm (reprinted in 2015 by Routledge) • Bates, A. (1984) Broadcasting in Education: An Evaluation London: Constable • Bates, A.W. (ed.) (1990) Media and Technology in European Distance Education Heerlen, Netherlands: The European Association of Distance Teaching Universities • Bates, A.W. (1995) Technology, Open Learning and Distance Education London: Routledge • Bates, A.W. (2000) Managing Technological Change: Strategies for College and University Teachers San Francisco: Jossey Bass • Epper, R. and Bates, A.W. (2001) Teaching Faculty How to Use Technology: Best Practices from Leading Institutions Westport CT: American Council on Education • Bates, A.W. (2002) National Strategies for E-Learning Paris: International Institute for Educational Planning • Bates, A.W. and Poole, G. (2003) Effective Teaching with Technology in Higher Education San Francisco: Jossey Bass • Bates, A.W. (2005) Technology, e-Learning and Distance Education New York: Routledge • Bates, A.W. and Sangrà, A. (2011) Managing Technology in Higher Education: Strategies for Transforming Teaching and Learning San Francisco: Jossey-Bass Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 17/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Các cập nhật và rà soát lại Sách giáo khoa mở là một dự án động. Những phát triển mới, như các xuất bản phẩm mới thích hợp, có thể được bổ sung, các URL này có thể mất và các URL khác có thể được thấy, và phản hồi của các độc giả ở dạng các bình luận cho các phần của cuốn sách sẽ được bổ sung thêm hầu như trên cơ sở hàng ngày. Ở đây tôi sẽ bám sát những thay đổi, từ 15/04/2015, khi cuốn sách lần đầu tiên được làm cho sẵn sàng ở dạng 'cuối cùng' của nó, như là cơ sở ban đầu. 1. Ngày 19/04/2015: Podcast cho Kịch bản A được bổ sung thêm 2. Ngày 03/05/2015: Podcasts về cấu trúc cuốn sách và phát triển các kỹ năng được bổ sung thêm, và trật tự của các Phần 3 và 4 Chương 1 được rà soát lại, sau khi có phản hồi của các độc giả. 3. Ngày 16/08/2015: Podcasts đã được bổ sung vào Chương 2 giải thích vì sao chương này là quan trọng và về mối quan hệ giữa nhận thức luận, các lý thuyết học tập và các phương pháp dạy học được bổ sung thêm. 4. Ngày 17/08/2015: Podcast được bổ sung vào Chương 3 giải thích vì sao chương về các phương pháp dạy học dựa vào khu trường là cần thiết. 5. Ngày 23/08/2015: Podcasts đã được bổ sung vào Chương 4, về mối quan hệ giữa chất lượng, các chế độ phân phối, các phương pháp dạy học và thiết kế và về vài vấn đề được nêu lên trong chương này. Cũng có vài sự sửa đổi văn bản để làm rõ sự khác biệt giữa các phương pháp dạy học và các mô hình thiết kế. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 18/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Chương 1: Sự thay đổi cơ bản trong giáo dục Mục đích của chương này Khi bạn đã đọc chương này thì bạn sẽ có khả năng để: • mô tả và thảo luận vài thay đổi cấu trúc kinh tế và xã hội đang ảnh hưởng tới giáo dục trong kỷ nguyên số • mô tả và thảo luận vài kỹ năng chính mà chúng là cần thiết trong kỷ nguyên số • nhận diện và thảo luận vài cách thức công nghệ đang dẫn dắt tới những thay đổi trong việc dạy và học • thảo luận về sự mở rộng theo đó những phát triển đương thời đòi hỏi những thay đổi trong cách mà chúng ta dạy và cách các sinh viên học Điều gì được đề cập tới trong chương này Trong chương này, tôi sẽ thảo luận về các sức ép thay đổi đang gia tăng lên các cơ sở giáo dục sau trung học cơ sở, đặc biệt về cách thức họ phân phối một trong những hoạt động cốt lõi của chúng, việc dạy học. Tôi sẽ chứng tỏ rằng dù các cơ sở của chúng ta sẽ cần thay đổi nếu họ muốn sống sót, thì điều quan trọng là phải duy trì và tăng cường các giá trị cốt lõi của họ. Vì vậy đây không phải là câu hỏi về việc ném ra mọi điều và bắt đầu lại từ đầu, mà là việc quản lý sự thay đổi đó theo một cách thức sao cho các giá trị cốt lõi được bảo vệ. Đặc biệt, chương này đề cập tới các chủ đề sau: • 1.1 Những thay đổi về cấu trúc trong nền kinh tế: sự lớn mạnh của xã hội tri thức • 1.2 Các kỹ năng cần thiết trong kỷ nguyên số • 1.3 Sự thay đổi và tính liên tục • 1.4 Liệu giáo dục có nên bị trói chặt trực tiếp vào thị trường lao động hay không? • 1.5 Ảnh hưởng của sự mở rộng các phương pháp dạy học • 1.6 Các sinh viên thay đổi, các thị trường thay đổi đối với giáo dục đại học • 1.7 Từ ngoại vi tới trung tâm: công nghệ đang thay đổi cách chúng ta dạy học thế nào • 1.8 Hướng các phát triển mới trong công nghệ và học tập trực tuyến Cũng trong chương này bạn sẽ thấy các hoạt động sau: • Hoạt động 1.1 Suy nghĩ về các kỹ năng • Hoạt động 1.2 Các kỹ năng nào bạn đang phát triển trong các sinh viên của bạn? • Hoạt động 1.3 Sự thay đổi và tính liên tục Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 19/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • Hoạt động 1.6 Làm việc với sự đa dạng • Hoạt động 1.8 Các kết luận chính từ Chương 1. Những điều chính rút ra được từ Chương này • Các phương pháp dạy học cần phải được sử dụng để giúp phát triển và truyền các kỹ năng đặc biệt phục vụ cả cho các mục đích phát triển lẫn phổ biến tri thức, trong khi cùng lúc chuẩn bị cho các sinh viên tốt nghiệp làm việc trong một xã hội dựa vào tri thức • Khi số lượng các sinh viên đã gia tăng, thì việc dạy học đã thụt lùi vì các lý do khác nhau tới sự tập trung lớn hơn vào sự truyền tải thông tin và ít tập trung hơn vào việc đưa ra các câu hỏi, khai thác các ý tưởng, trình bày các quan điểm khác nhau, và phát triển tư duy phê bình hoặc gốc. Vâng đúng là có những kỹ năng mà các sinh viên rất cần trong một xã hội dựa vào tri thức. • Sự đa dạng rộng lớn các sinh viên là một thách thức lớn cho các cơ sở. Điều này đòi hỏi sự tập trung nhiều hơn nữa vào các phương pháp dạy học mà cung cấp sự trợ giúp cho những người học, sự cá tính hóa nhiều hơn nữa việc học tập, và sự phân phối mềm dẻo hơn. • Học tập trực tuyến là một thể liên tục; mỗi người chỉ dẫn và mỗi cơ sở bây giờ cần phải quyết định: ở đâu trong thể liên tục này của việc dạy học một khóa học hay chương trình đặc biệt sẽ nên có? • Khi mà nhiều nội dung hàn lâm hơn trở thành sẵn sàng một cách tự do và mở, thì các sinh viên sẽ ngày càng trông chờ vào các cơ sở địa phương của họ để tìm kiếm sự hỗ trợ cho việc học tập của họ, thay vì sự phân phối nội dung. Điều này đặt trọng tâm nhiều hơn vào việc dạy các kỹ năng và ít hơn vào các chuyên đề. • Giảng viên và những người chỉ dẫn cần một khung công việc mạnh cho việc đánh giá giá trị các công nghệ khác nhau, mới hoặc đang tồn tại, và cho việc quyết định làm thế nào hoặc khi nào các công nghệ đó có ý nghĩa cho họ (và/hoặc cho các sinh viên của họ) để sử dụng. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 20/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 1.1 Những thay đổi về cấu trúc trong nền kinh tế: sự lớn mạnh của xã hội tri thức Hình 1.1.1 Học tập trong kỷ nguyên số Hình ảnh: © CC Duncan Campbell, 2012 1.1.1 Kỷ nguyên số Trong kỷ nguyên số, chúng ta được bao vây, quả thực, được nhúng trong công nghệ. Hơn nữa, tốc độ thay đổi công nghệ không chỉ ra dấu hiệu nào là sẽ chậm lại. Công nghệ đang dẫn dắt tới những thay đổi ồ ạt trong nền kinh tế, theo cách mà chúng ta giao tiếp và có liên quan tới nhau, và ngày càng tác động tới cách mà chúng ta học tập. Vâng các cơ sở giáo dục của chúng ta đã được xây dựng phần lớn cho một kỷ nguyên khác, dựa vào nền công nghiệp hơn là kỷ nguyên số. Vì thế các giáo viên và những người chỉ dẫn đang đối mặt với thách thức to lớn phải thay đổi. Chúng ta làm thế nào có thể đảm bảo rằng chúng ta đang phát triển dạng các sinh viên tốt nghiệp từ các khóa học và các chương trình của chúng ta mà là phù hợp cho một tương lai dễ biến động, không chắc chắn, phức tạp và mơ hồ được? Chúng ta nên tiếp tục bảo vệ điều gì trong các phương pháp dạy học của chúng ta (và các cơ sở), và điều gì là cần thiết phải thay đổi? Để trả lời cho các câu hỏi đó, cuốn sách này: • thảo luận về các thách thức chính đang dẫn dắt tới một sự kiểm tra lại việc dạy và học Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 21/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • nhận diện những hiểu biết tri thức khác và các phương pháp dạy học khác có liên quan tới những hiểu biết đó. • phân tích các đặc tính công nghệ chủ chốt có liên quan tới việc dạy và học • khuyến cáo các chính sách cho việc lựa chọn giữa các công nghệ phương tiện (media) • khuyến cáo các chiến lược cho việc dạy học chất lượng cao trong kỷ nguyên số. Trong chương này tôi đưa ra vài sự phát triển chính đang thúc ép sự xem xét lại cách mà chúng ta nên dạy học. 1.1.2 Bản chất công việc đang thay đổi Trong số nhiều thách thức mà các cơ sở đang đối mặt, một thách thức là cơ bản, và đó là sự đòi hỏi đã gia tăng, đặc biệt đối với giáo dục sau trung học cơ sở. Hình 1.1.2 bên dưới minh họa mức độ ở đó tri thức đã trở thành một yếu tố ngày càng quan trọng của sự phát triển kinh tế, và trên hết tất cả, việc tạo ra công ăn việc làm. Hình 1.1.2: Thành phần tri thức trong lực lượng lao động Số liệu có tính biểu tượng hơn là thực tế. Các đường tròn màu xanh da trời nhạt minh họa toàn bộ lực lượng lao động trong từng khu vực công việc có thể lớn hơn hay nhỏ hơn, phụ thuộc vào quốc gia, cũng như sẽ là tỷ lệ nhân công có tri thức trong nền công nghiệp đó, mà ít nhất là trong các quốc gia đã phát triển và cũng ngày một gia tăng trong các quốc gia có các nền kinh tế mới nổi lên, thành phần tri thức đang gia tăng nhanh chóng: nhiều não bộ hơn và ít cơ bắp hơn được yêu cầu (xem OECD, 2013a). Về kinh tế, ưu thế cạnh tranh tăng dần cho các công ty và các nền công nghiệp nào có thể tận dụng được các thành tựu về tri thức (OECD, 2013b). Quả thực, các nhân công có tri thức thường tạo ra các công ăn việc làm của riêng họ, khởi nghiệp các công ty để cung cấp các dịch vụ hoặc sản phẩm mới còn chưa tồn tại trước khi họ tốt nghiệp. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 22/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Từ quan điểm dạy học, tác động lớn nhất có khả năng là lên những người chỉ dẫn kỹ thuật và dạy nghề, nơi mà thành phần tri thức của các kỹ năng chủ yếu bằng tay trước đó đang mở rộng nhanh chóng. Đặc biệt trong các lĩnh vực thương mại, thợ ống nước, thợ hàn, thợ điện, cơ khí ô tô và các công nhân các lĩnh vực khác có liên quan tới thương mại đang cần trở thành những người giải quyết các vấn đề, các chuyên gia CNTT và các doanh nhân tự thuê ngày một gia tăng, cũng như có các kỹ năng chỉ dẫn có liên quan tới nghề nghiệp của họ. Hệ quả khác của sự tăng trưởng công việc dựa vào tri thức là nhu cầu có nhiều người hơn với các mức giáo dục cao hơn so với trước, tạo ra nhu cầu nhân công có trình độ cao hơn ở mức độ đại học. Tuy nhiên, thậm chí ở mức độ đại học thì dạng tri thức và các kỹ năng được yêu cầu của các sinh viên tốt nghiệp cũng đang thay đổi. 1.1.3 Các nhân viên dựa vào tri thức Có các đặc tính chung nhất định đối với các nhân công dựa vào tri thức trong kỷ nguyên số: • họ thường làm việc trong các công ty nhỏ (ít hơn 10 người); • họ đôi khi sở hữu việc kinh doanh của riêng mình, hoặc là ông chủ của chính họ; đôi khi họ đã tạo ra công ăn việc làm của riêng họ, điều đã không tồn tại cho tới khi họ đã làm việc với cường độ cao và đã có một nhu cầu và họ có thể đáp ứng được nhu cầu đó; • họ thường làm việc theo hợp đồng hoặc tự làm chủ, nên họ chuyển quanh từ công việc này sang công việc khác khá thường xuyên; • bản chất tự nhiên công việc của họ có xu thế thay đổi theo thời gian, để đáp ứng với thị trường và các phát triển của công nghệ và vì thế kho tri thức công việc của họ có xu hướng thay đổi nhanh chóng; • họ khôn ngoan về kỹ năng số hoặc ít nhất có năng lực về kỹ năng số; công nghệ số thường là thành phần chính trong công việc của họ; • vì họ thường làm việc cho bản thân họ hoặc trong các công ty nhỏ, họ đóng nhiều vai trò: nhân viên tiếp thị, nhà thiết kế, nhân viên bán hàng, quản lý doanh nghiệp/nhân viên kế toán, hỗ trợ kỹ thuật, ví dụ thế; • họ phụ thuộc nhiều vào các mạng xã hội thông tin để mang vào việc kinh doanh và giữ được cập nhật với các xu thế hiện hành trong lĩnh vực công việc của họ; • họ cần giữ cho việc học tập luôn nằm trên đỉnh công việc của họ, và họ cần quản lý việc học tập đó cho bản thân họ; • trên hết tất cả, họ cần là mềm dẻo, để thích nghi được với các điều kiện thay đổi nhanh xung quanh họ. Có thể thấy sau đó rằng khó để dự đoán trước với bất kỳ độ chính xác nào những gì nhiều sinh viên tốt nghiệp thực sự sẽ làm khoảng 10 năm sau khi tốt nghiệp, ngoại trừ trong các khái niệm rất rộng. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 23/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Thậm chí trong các lĩnh vực nơi có các theo dõi chuyên nghiệp rõ ràng, như y tế, điều dưỡng hoặc kỹ thuật, kho tri thức và thậm chí các điều kiện làm việc có khả năng trải qua sự thay đổi và biến đổi nhanh chóng qua giai đoạn thời gian đó. Tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy trong Phần 1.2 rằng là có khả năng để dự đoán trước nhiều trong số các kỹ năng họ sẽ cần để sống sót và phát đạt trong một môi trường như vậy. Đây là tin tốt lành cho toàn bộ khu vực giáo dục đại học khi mà tri thức và các mức kỹ năng cần thiết trong lực lượng lao động gia tăng. Nó gây ra một sự bùng nổ chính giáo dục đại học để đáp ứng các đòi hỏi cho công việc dựa vào tri thức và các mức độ kỹ năng cao hơn. Tỉnh Ontario ở Canada, ví dụ, có rồi một tỷ lệ tham gia gần 60% các học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học tiếp tục theo vài dạng giáo dục sau trung học, và chính quyền tỉnh muốn gia tăng tỷ lệ tham gia lên 70%, một phần bù vào sự mất mát các công ăn việc làm sản xuất truyền thống hơn trong tỉnh (Ontario, 2012). Điều này có nghĩa là nhiều sinh viên hơn cho các trường đại học và cao đẳng. Hình 1.1.3 Một nhà làm phim hoạt hình: một nhân viên điển hình có tri thức. Ảnh chụp: Elaine Thompson/Associated Press, 2007. Hoạt động 1.1: Suy nghĩ về các kỹ năng 1. Dạng công việc nào các sinh viên tốt nghiệp theo chuyên ngành của bạn có khả năng có được? Bạn có thể mô tả dạng các kỹ năng họ có khả năng cần trong công việc như vậy? Ở mức độ nào thành phần tri thức và các kỹ năng của công việc như vậy đã thay đổi trong vòng 20 năm qua? 2. Hãy xem xét các thành viên gia đình và các bạn bè bên ngoài lĩnh vực hàn lâm hoặc giáo dục. Dạng tri thức và các kỹ năng nào họ cần bây giờ mà họ đã không cần khi họ từng ở trong trường phổ thông hoặc cao đẳng - hoặc thậm chí 20 năm trước trong cùng lĩnh vực công việc y hệt? (Bạn có thể cần phải hỏi họ điều này!) Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 24/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Các tham chiếu • OECD (2013a) OECD Skills Outlook: First Results from the Survey of Adult Skills Paris: OECD • OECD (2013b) Competition Policy and Knowledge-Based Capital Paris: OECD • Ontario (2012) Strengthening Ontario’s Centres of Creativity, Innovation and Knowledge Toronto ON: Ministry of Training, Colleges and Universities Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 25/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 1.2 Các kỹ năng cần thiết trong kỷ nguyên số Hình 1.2.1 Sử dụng các phương tiện xã hội để giao tiếp là một kỹ năng cơ bản trong kỷ nguyên số Tri thức có liên quan tới 2 thành phần có quan hệ mạnh với nhau nhưng khác nhau: nội dung và các kỹ năng. Nội dung bao gồm các sự việc, ý tưởng, nguyên tắc, bằng chứng, và các mô tả các quy trình hoặc thủ tục. Hầu hết những người chỉ dẫn, ít nhất trong các trường đại học, được huấn luyện tốt về nội dung và có sự hiểu biết sâu sắc về các lĩnh vực chủ đề theo đó họ đang dạy học. Sự tinh thông trong phát triển các kỹ năng lại là một vấn đề khác. Vấn đề ở đây là không nhiều những người chỉ dẫn không giúp các sinh viên phát triển các kỹ năng - họ làm - nhưng liệu các kỹ năng trí tuệ đó có phù hợp với các nhu cầu của các nhân viên dựa vào tri thức hay không, và liệu sự nhấn mạnh đó có đủ đưa ra cho sự phát triển các kỹ năng bên trong chương trình giảng dạy hay không. Các kỹ năng được yêu cầu trong xã hội tri thức bao gồm những điều sau (được thích nghi từ Ban tổ chức Hội nghị Canada, 2014): Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 26/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 • các kỹ năng giao tiếp: cũng như các kỹ năng giao tiếp truyền thống về đọc, nói và viết một cách mạch lạc và rõ ràng, chúng ta cần bổ sung thêm các kỹ năng giao tiếp bằng phương tiện xã hội. Chúng có thể bao gồm khả năng tạo ra video ngắn trên YouTube và nắm bắt sự thể hiện một quy trình hoặc tạo ra một quầy bán hàng, khả năng qua Internet với tới được một cộng đồng rộng lớn mọi người với các ý tưởng của cộng đồng, thu nhận và kết hợp các phản hồi, chia sẻ thông tin một cách đúng đắn, và nhận diện được các xu thế và ý tưởng từ những nơi khác; • khả năng học tập độc lập: điều này có nghĩa là nhận trách nhiệm thực hiện những gì bạn cần biết, và chỗ để tìm tri thức đó. Đây là một quá trình liên tục trong công việc dựa vào tri thức, vì kho tri thức luôn thay đổi. Một cách ngẫu nhiên tôi không nhất thiết nói ở đây về tri thức hàn lâm, dù điều đó cũng đang thay đổi; có khả năng học các thiết bị mới, các cách thức làm việc mới, hoặc học cách nhận biết ai là người bạn cần phải biết để làm xong được công việc; • đạo đức và trách nhiệm: điều này được yêu cầu để xây dựng lòng tin (đặc biệt quan trọng trong các mạng xã hội không chính thống), nhưng cũng thường vì nó là công việc tốt trong thế giới nơi mà có nhiều các tay chơi khác nhau, và một mức độ phụ thuộc lớn hơn vào những người khác để hoàn thành các nhiệm vụ của riêng một người. • làm việc nhóm và tính mềm dẻo: dù nhiều nhân viên có tri thức làm việc độc lập hoặc trong các công ty rất nhỏ, họ phụ thuộc nhiều vào sự cộng tác và chia sẻ tri thức với những người khác trong các tổ chức có liên quan nhưng độc lập. Trong các công ty nhỏ, là cơ bản rằng tất cả các nhân viên làm việc chặt chẽ cùng nhau, chia sẻ cùng tầm nhìn vì công ty và giúp đỡ lẫn nhau. Đặc biệt, các nhân viên có tri thức cần biết cách làm việc cộng tác, trên không gian ảo và ở một khoảng cách xa, với các đồng nghiệp, khách hàng và đối tác. 'Việc lôi cuốn' tri thức một cách cộng tác, việc giải quyết và triển khai vấn đề đòi hỏi làm việc cộng tác tốt và tính mềm dẻo trong việc nhận các nhiệm vụ hoặc giải quyết các vấn đề có thể nằm ngoài định nghĩa một công việc hẹp nhưng cần thiết để thành công; • các kỹ năng tư duy (tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, tính sáng tạo, tính độc đáo, việc hoạch định chiến lược): tất cả các kỹ năng cần thiết trong xã hội dựa vào tri thức, chúng là một vài trong số các kỹ năng quan trọng nhất. Các doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào sự sáng tạo ra các sản phẩm mới, các dịch vụ mới và các quy trình mới để giữ cho các chi phí giảm xuống và làm gia tăng tính cạnh tranh. Các trường đại học, đặc biệt, luôn hãnh diện về việc dạy học các kỹ năng tri thức như vậy, nhưng sự dịch chuyển sang các lớp học lớn hơn và truyền đạt thông tin nhiều hơn, đặc biệt ở mức chưa tốt nghiệp đại học, thách thức sự thừa nhận này. Hơn nữa, không chỉ trong các quan điểm quản lý cao hơn mà các kỹ năng đó được yêu cầu. Những người buôn bán, đặc biệt, ngày càng trở thành những người giải quyết các vấn đề hơn là đi theo các quy trình tiêu chuẩn, điều có xu hướng trở thành được tự động hóa. Bất kỳ ai làm việc với công chúng cần có khả năng nhận diện các nhu cầu và tìm ra các giải pháp thích hợp; • các kỹ năng số: hầu hết các hoạt động dựa vào tri thức phụ thuộc nặng vào sử dụng công Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 27/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 nghệ. Tuy nhiên vấn đề chính là các kỹ năng đó cần phải được nhúng vào trong miền tri thức, nơi hoạt động đó diễn ra. Điều này có nghĩa là, ví dụ, các nhân viên đại lý bất động sản biết cách sử dụng các hệ thống thông tin địa lý để nhận diện các xu thế bán hàng và giá cả ở các vị trí địa lý khác nhau, còn các thợ hàn biết cách sử dụng máy tính để kiểm soát các người máy kiểm tra và sửa chữa các đường ống, các nhà radio học biết cách sử dụng các công nghệ mới, chúng 'đọc' và phân tích các màn quét MRI. Vì thế sử dụng công nghệ số cần phải được tích hợp với và được đánh giá thông qua kho tri thức của lĩnh vực chủ đề đó; • quản lý tri thức: điều này có lẽ là bao quát nhất trong tất cả các kỹ năng. Tri thức không chỉ đang nhanh chóng thay đổi với nghiên cứu mới, các phát triển mới, và sự phổ biến nhanh chóng các ý tưởng và thực tiễn qua Internet, mà còn cả các nguồn thông tin cũng đang gia tăng, với sự đa dạng lớn trong độ tin cậy hoặc giá trị của thông tin. Vì thế tri thức mà một kỹ sư học được trong trường đại học có thể nhanh chóng trở nên lỗi thời. Có nhiều thông tin bây giờ trong lĩnh vực y tế mà là không có khả năng đối với một sinh viên y khoa để làm chủ được tất cả các thuốc chữa bệnh, các thủ tục y tế và môn khoa học đang nổi lên như kỹ thuật gen, thậm chí trong chương trình 8 năm. Kỹ năng chính trong một xã hội dựa vào tri thức là quản lý tri thức: làm thế nào để tìm kiếm, đánh giá, phân tích, áp dụng và phổ biến thông tin, trong một ngữ cảnh cụ thể. Đây là kỹ năng mà các sinh viên tốt nghiệp sẽ cần để sử dụng lâu dài sau khi tốt nghiệp. Chúng ta biết nhiều từ nghiên cứu về các kỹ năng và sự phát triển các kỹ năng (xem, ví dụ, Fischer, 1980, Fallow and Steven, 2000): • sự phát triển các kỹ năng là khá đặc thù theo ngữ cảnh. Nói cách khác, các kỹ năng cần phải được nhúng vào trong một lĩnh vực tri thức. Ví dụ, việc giải quyết vấn đề trong y tế là khác với việc giải quyết vấn đề trong kinh doanh. Các quy trình và tiếp cận khác nhau sẽ được sử dụng để giải quyết các vấn đề trong các lĩnh vực đó (ví dụ, y tế có xu hướng suy diễn nhiều hơn, kinh doanh thực dụng hơn; y tế là không thích rủi ro nhiều hơn, kinh doanh có khả năng chấp nhận một giải pháp sẽ có yếu tố rủi ro hoặc không chắc chắn cao hơn); • những người học cần thực tế - thường một công việc thực hành tốt - để đạt được sự thành thạo và nhất quán trong một kỹ năng nhất định; • các kỹ năng thường được học tốt nhất theo các bước khá nhỏ, với các bước gia tăng khi sự thành thạo tiếp cận được; • những người học cần ý kiến phản hồi trên cơ sở thường xuyên để học các kỹ năng nhanh chóng và có hiệu quả; phản hồi tức thì thường là tốt hơn so với phản hồi muộn sau đó; • dù các kỹ năng có thể được học bằng sự thử và lỗi lầm mà không có sự can thiệp của một giáo viên, người hướng dẫn, hoặc công nghệ, thì sự phát triển các kỹ năng có thể được cải thiện đáng kể với sự can thiệp đúng thỏa đáng, điều có nghĩa là việc áp dụng các phương pháp và công nghệ đúng phù hợp cho sự phát triển các kỹ năng; • dù nội dung có thể được truyền có hiệu quả ngang bằng qua một dải rộng lớn các phương Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 28/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 tiện, thì sự phát triển các kỹ năng có ràng buộc hơn nhiều với các tiếp cận và công nghệ dạy học đặc thù. Các tác động phân biệt được của việc dạy học giữa nội dung và các kỹ năng sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong Chương 2. Điểm chính ở đây là nội dung và các kỹ năng có liên quan chặt chẽ với nhau và nhiều sự chú ý cần phải được đưa ra cho sự phát triển các kỹ năng như với việc có được nội dung để đảm bảo rằng những người học tốt nghiệp có tri thức và các kỹ năng cần thiết cho kỷ nguyên số. Hoạt động 1.2 Các kỹ năng nào bạn đang phát triển trong các sinh viên của bạn? 1. Hãy viết xuống một danh sách các kỹ năng bạn kỳ vọng các sinh viên phát triển như là kết quả học tập các khóa học của bạn. 2. So sánh các kỹ năng đó với các kỹ năng được liệt kê ở trên. Chúng phù hợp ra sao? 3. Bạn làm gì như một người chỉ dẫn tạo thuận lợi cho các sinh viên thực hành hoặc phát triển các kỹ năng bạn đã xác định? Các tham chiếu • The Conference Board of Canada (2014) Employability Skills 2000+ Ottawa ON: Conference Board of Canada • Fallow, S. and Stevens, C. (2000) Integrating Key Skills in Higher Education: Employability, Transferable Skills and Learning for Life London UK/Sterling VA: Kogan Page/Stylus • Fischer, K.W. (1980) A Theory of Cognitive Development: The Control and Construction of Hierarchies of Skills Psychological Review, Vol. 84, No. 6 Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 29/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 1.3 Giáo dục nên được gắn trực tiếp với thị trường lao động? Hình 1.4.1 Các nhân viên có tri thức Hình ảnh: Phil Whitehouse, 2009, từ Tuy nhiên, có một mối nguy hiểm thực sự trong việc gắn các chương trình của các trường đại học, cao đẳng và phổ thông quá chặt vào các nhu cầu của thị trường lao động. Yêu cầu của thị trường lao động có thể dịch chuyển rất nhanh, và đặc biệt, trong xã hội dựa vào tri thức, là không có khả năng để phán xét dạng công việc nào, việc kinh doanh nào hoặc thương mại nào sẽ nổi lên trong tương lai. Ví dụ, ai có thể đoán trước được 20 năm sau một trong những công ty lớn nhất thế giới về giá trị thị trường chứng khoán có thể nổi lên từ việc phát hiện ra cách xếp hạng các cô gái nóng bỏng nhất trong khu trường (đây là cách mà Facebook đã bắt đầu)? Việc đặt trọng tâm vào các kỹ năng cần thiết trong kỷ nguyên số không chỉ làm nảy sinh đặc biệt các câu hỏi về mục đích của các trường đại học, mà còn cho cả các trường phổ thông và các trường cao đẳng cộng đồng 2 năm ở vài mức độ. Liệu mục đích của họ có là cung cấp các nhân viên có kỹ năng rồi cho lực lượng lao động hay không? Chắc chắn sự bùng nổ nhanh chóng trong giáo dục đại học phần lớn được dẫn dắt bởi chính phủ, các ông chủ và các phụ huynh có mong muốn một lực lượng lao động có khả năng dùng được, có tính cạnh tranh và nếu có thể, dồi dào phong phú. Quả thực, việc chuẩn bị các nhân viên chuyên nghiệp luôn đã và đang là một vai trò cho các trường đại học, điều có một truyền thống lâu đời huấn luyện cho nhà thờ, luật và sau đó nhiều, cho hành chính nhà nước. Thứ 2, việc tập trung vào các kỹ năng được yêu cầu cho một xã hội dựa vào tri thức (thường được tham chiếu tới như là các kỹ năng của thế kỷ 21) chỉ đơn thuần là tăng cường cho dạng học tập, đặc Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 30/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 biệt sự phát triển của các kỹ năng tri thức, vì chúng mà các trường đại học đã có được niềm tự hào trong quá khứ. Quả thực trong dạng thị trường lao động này, là sống còn để phục vụ các nhu cầu học tập của cá nhân hơn là các công ty hoặc các lĩnh vực việc làm cụ thể. Để sống sót trong thị trường lao động hiện hành, những người học cần phải là mềm dẻo và có khả năng thích nghi, và nên có khả năng làm việc nhiều cho bản thân cũng như cho các tập đoàn, điều ngày càng có vòng đời vận hành hoạt động rất ngắn. Thách thức sau đó không phải là giáo dục tái mục đích, mà chắc chắn nó đáp ứng được mục đích một cách có hiệu quả hơn. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 31/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 1.4 Sự thay đổi và tính liên tục Hình 1.3 Trường Đại học Harvard Trong kỷ nguyên kết nối liên tục và các phương tiện xã hội, đã tới lúc các bức tường nguyên khối, cũ kỹ hàng ngàn năm, với sự che phủ của các dây thường xuân thực hiện sự thay đổi pha thành thứ gì đó nhẹ nhàng hơn nhiều, thẩm thấu qua được hơn nhiều, và dễ thay đổi được hơn nhiều. Anya Kamenetz, 2010 Dù cuốn sách này nhằm vào các giáo viên và những người chỉ dẫn ở các trường phổ thông và cao đẳng cũng như đại học, thì tôi muốn đặc biệt xem xét cách mà kỷ nguyên số đang tác động lên các trường đại học. Có một niềm tin được nắm giữ một cách rộng rãi - thậm chí trong số những người đã hưởng lợi từ các bằng cấp tốt trong các trường đại học đầy uy tín - rằng các trường đại học là không động vào được, rằng sự tự do hàn lâm thực sự là về việc bảo vệ các giáo sư trong một nghề nghiệp đầy đủ tiện nghi mà không yêu cầu họ thay đổi được, và rằng toàn bộ tổ chức hàn lâm là tốt hơn khi được để lại về cho quá khứ thời trung cổ của nó: nói cách khác, các trường đại học là một chế tác của quá khứ và thứ gì đó mới cần phải thay thế chúng. Dù vậy, có rất nhiều lý do tốt vì sao các trường đại học từng có lịch sử gần 800 năm, và có khả năng sẽ vẫn giữ là phù hợp tốt trong tương lai. Các trường đại học được thiết kế một cách có chủ ý để kháng cự lại sức ép từ bên ngoài. Chúng đã chứng kiến các ông vua và các giáo hoàng, các chính Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 32/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 phủ và các tập đoàn kinh doanh, đến và đi, mà không có bất kỳ sự ép buộc nào từ bên ngoài, một cách cơ bản, làm thay đổi bản chất tự nhiên của cơ sở đỏ. Các trường đại học tự hào về bản thân chúng về sự độc lập của chúng, sự tự do của chúng, và sự đóng góp cho xã hội của chúng. Vì thế hãy bắt đầu bằng việc xem xét, rất ngắn gọn, trong các giá trị cốt lõi đó, vì bất kỳ sự thay đổi nào thực sự đe dọa các giá trị cốt lõi đó có khả năng bị kháng cự lại mạnh mẽ từ các giáo sư và những người chỉ dẫn bên trong cơ sở đó. Các trường đại học là nền tảng cho sự tạo ra, đánh giá, duy trì và phổ biến tri thức. Vài trò này trong xã hội thậm chí còn quan trọng hơn ngày nay so với trong quá khứ. Cho dù, để các trường đại học thực thi được vai trò này một cách đúng đắn, thì các điều kiện nhất định là cần thiết. Trước hết họ cần một thỏa thuận tốt về quyền tự chủ. Giá trị tiềm tàng của tri thức mới đặc biệt là khó dự đoán trước. Các trường đại học cung cấp cho xã hội một cách đánh bạc an toàn trong tương lai, bằng việc khuyến khích nghiên cứu và phát triển có tính đổi mới có thể hình như không có những lợi ích ngay lập tức trong ngắn hạn, hoặc có thể dẫn tới đâu đó, không gánh chịu thua thiệt lớn về thương mại và xã hội. Vai trò phản biện khác là khả năng thách thức các thừa nhận và quan điểm của các cơ quan quyền lực bên ngoài trường đại học, như chính phủ hoặc giới công nghiệp, khi họ dường như nằm trong sự xung đột với các nguyên tắc hiển nhiên hoặc đạo đức hoặc điều tốt lành chung của xã hội. Thậm chí có lẽ quan trọng hơn, có những nguyên tắc chắc chắn rằng việc phân biệt tri thức hàn lâm với tri thức thường ngày, như các qui tắc logic và lý luận, khả năng dịch chuyển giữa sự trừu tượng và cụ thể, các ý tưởng được bằng chứng thực tế hoặc kiểm chứng từ bên ngoài hỗ trợ (xem, ví dụ, Laurillard, 2001). Chúng ta kỳ vọng các đại học của chúng ta vận hành ở mức độ tư duy cao hơn so với chúng ta như là các cá nhân hoặc các tập đoàn có thể làm trong cuộc sống thường ngày của chúng ta. Một trong những giá trị cốt lõi đã giúp duy trì các trường đại học là quyền tự do hàn lâm. Các nhà nghiên cứu khoa học đặt ra các câu hỏi bất tiện, những người thách thức hiện trạng, những người đưa ra bằng chứng xung đột với các tuyên bố của các chính phủ hoặc các tập đoàn, được bảo vệ khỏi sự gạt bỏ hoặc trừng phạt trong tổ chức vì thể hiện các quan điểm như vậy. Quyền tự do hàn lâm là điều kiện cơ bản trong một xã hội tự do. Tuy nhiên, nó cũng có nghĩa là các nhà nghiên cứu khoa học được tự do lựa chọn những gì họ nghiên cứu, và quan trọng hơn đối với cuốn sách này, cách tốt nhất để truyền đạt tri thức đó. Việc dạy học trong các trường đại học bị ràng buộc với khái niệm về quyền tự do và tự chủ hàn lâm, thậm chí dù vài điều kiện bảo vệ sự tự chủ đó, như là nhiệm kỳ làm việc hoặc công ăn việc làm để sống, đang chịu sức ép ngày một gia tăng. Tôi nhấn mạnh điểm này vì một lý do và chỉ một lý do duy nhất. Nếu các trường đại học sẽ thay đổi để đáp ứng các sức ép thay đổi từ bên ngoài, thì sự thay đổi này phải tới từ bên trong tổ chức, và đặc biệt từ bản thân các giáo sư và những người chỉ dẫn. Đây là năng lực phải thấy được nhu cầu cho sự thay đổi, và có thiện chí tự bản thân họ thực hiện những thay đổi đó. Nếu chính phủ hoặc xã hội như một tổng thể cố ép buộc những thay đổi từ bên ngoài, đặc biệt theo cách thức mà thách thức các giá trị cốt lõi của một trường đại học như quyền tự do hàn lâm, thì sẽ có một rủi ro chết người rằng điều cơ bản nhất làm cho các trường đại học là thành phần duy nhất và có giá trị xã hội sẽ bị Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 33/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 phá hủy, vì thế làm cho chúng ít có giá trị hơn chứ không phải là nhiều giá trị hơn cho xã hội như một tổng thể. Tuy nhiên, cuốn sách này sẽ cung cấp nhiều lý do giải thích vì sao đây cũng là trong những lợi ích tốt nhất của không chỉ những người học mà còn cả cho bản thân những người chỉ dẫn để tiến hành những thay đổi, lưu ý về việc quản lý tải công việc và việc lôi cuốn các tài nguyên dôi dư để hỗ trợ cho việc dạy học. Các trường phổ thông và các trường cao đẳng dạy nghề 2 năm là ở trong vị thế hơi khác. Là dễ dàng hơn (dù không dễ lắm) để áp đặt sự thay đổi từ bên trên xuống hoặc thông qua các sức ép từ bên ngoài tổ chức, như chính phủ. Tuy nhiên, như các tư liệu về quản lý thay đổi rõ ràng chỉ ra (xem, ví dụ, Weiner, 2009), sự thay đổi xảy ra liên tục hơn và sâu hơn khi những ai đang trải nghiệm sự thay đổi đang diễn ra hiểu được nhu cầu cho nó và có mong muốn thay đổi. Vì thế theo nhiều cách, các trường phổ thông, các trường cao đẳng nghề 2 năm và các trường đại học đối mặt với thách thức y hệt nhau: làm thế nào thay đổi khi mà giữ lại được tính toàn vẹn và vị thế của cơ sở. Hoạt động 1.3 Sự thay đổi và tính liên tục Bạn có thể muốn thảo luận về các câu hỏi đó với các độc giả khác hoặc so sánh câu trả lời của bạn với của những người khác. Nếu thế, hãy sử dụng hộp bình luận bên dưới để thêm vào các bình luận của bạn cho thảo luận chung. 1. Bạn có nghĩ rằng các trường đại học là không phù hợp ngày nay? Nếu không phải, thì các lựa chọn thay thế nào là có cho việc phát triển những người học với tri thức và các kỹ năng cần thiết trong kỷ nguyên số? 2. Quan điểm của bạn là gì về các giá trị cốt lõi của một trường đại học. Chúng khác như thế nào với các quan điểm khác được phác họa ở đây? 3. Bạn có nghĩ là các trường phổ thông, cao đẳng và/hoặc đại học cần phải thay đổi cách thức họ dạy học? Nếu có, thì vì sao, và theo cách nào? Làm thế nào điều này có thể được làm tốt nhất mà không có sự can thiệp vào quyền tự do hàn lâm hoặc các giá trị cốt lõi khác của các tổ chức giáo dục? Xin hãy sử dụng hộp bình luận bên dưới để chia sẻ các câu trả lời của bạn. Không có các câu trả lời đúng hoặc sai cho các câu hỏi mà bạn có thể muốn trả về cho các câu trả lời của bạn sau khi đọc toàn bộ chương này. Các tham chiếu • Kamenetz, A. (2010) DIY U: Edupunks, Edupreneurs, and the Coming Transformation of Higher Education White River Junction VT: Chelsea Green • Laurillard, D. (2001) Rethinking University Teaching: A Conversational Framework for the Effective Use of Learning Technologies New York/London: Routledge • Weiner, B. (2009) A theory of organizational readiness for change Implementation Science, Vol. 4, No. 67 Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 34/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 1.5 Tác động của bùng nổ các phương pháp dạy học Hình 1.5 Nhiều sinh viên hơn đã gây ra các lớp học nghe giảng bài lớn hơn Các chính phủ ở các tỉnh, bang và quốc gia khác nhau đã đa dạng hóa sự đáp ứng của họ cho nhu cầu vì những người được giáo dục đại học nhiều hơn. Vài nước (như ở Canada) đã gia tăng tiền trợ cấp từ nhà nước cho các cơ sở giáo dục sau trung học tới mức đáp ứng được hoặc thậm chí vượt mức gia tăng về số lượng các học sinh. Các nước khác (đặc biệt ở Mỹ, Úc và Anh và xứ Gal) đã chủ yếu dựa vào các cắt giảm mạnh việc cấp tiền trực tiếp từ nhà nước cho các ngân sách vận hành, kết hợp với sự gia tăng ồ ạt học phí. Bất kể chiến lược nào của chính phủ, trong mỗi trường đại học và cao đẳng mà tôi đã tới thăm, tôi được nói rằng những người chỉ dẫn có nhiều sinh viên hơn để dạy, kích cỡ các lớp học ngày càng lớn hơn, và kết quả là, ngày càng nhiều lớp học hơn chỉ với các bài giảng với rất ít sự tương tác. Quả thực, các số liệu thống kê ủng hộ lý lẽ này. Theo Usher (2013), tỷ lệ toàn bộ các giáo viên toàn thời gian : sinh viên toàn thời gian ở các trường đại học ở Canada đã gia tăng từ 1:18 vào năm 1995 lên 1:22 vào năm 2011, bất chấp 40% tăng trong cấp vốn theo từng sinh viên (sau lạm phát). Trong thực tế, tỷ lệ 1:22 có nghĩa là nhiều lớp học kích cỡ lớn hơn, vì trong các trường đại học giáo viên toàn thời gian chỉ bỏ ra khoảng 40% thời gian của họ vào việc dạy học, và các sinh viên có thể theo tới 10 khóa học khác nhau trong một năm. Sự thực đặc biệt là trong các lớp học các năm đầu và năm thứ 2, kích cỡ các lớp học là cực kỳ lớn. Ví dụ, một lớp Tâm lý học Giới thiệu (Introductory Psychology) trong một trường đại học cỡ vừa ở Canada có một giáo sư toàn thời gian có trách nhiệm cho hơn 3.000 sinh viên. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 35/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Học phí dù là rất rõ ràng, rất nhiều cơ sở hoặc quyền tài phán của chính phủ đã cố gắng kiểm soát sự gia tăng học phí, bất chấp các cắt giảm trong bao cấp vận hành, gây ra các tỷ lệ người chỉ dẫn toàn thời gian : sinh viên gia tăng thêm. Hơn nữa, như là kết quả của học phí cao hơn và nợ của sinh viên gia tăng để trả tiền cho giáo dục đại học và cao đẳng, các sinh viên và các phụ huynh đang trở nên ngày một đòi hỏi cao hơn, giống các khách hàng hơn là các học giả trong một cộng đồng hàn lâm. Việc dạy học tồi, đặc biệt, vừa dễ thấy hơn và ngày càng ít được chấp nhận hơn đối với các học sinh trả học phí cao. Sự kêu ca chung từ giáo viên là chính phủ hoặc hành chính của tổ chức đã không gia tăng ngân sách cho giáo viên tương xứng với sự gia tăng số lượng sinh viên. Trong thực tế, tình trạng đó là phức tạp nhiều hơn thế. Hầu hết các cơ sở đã mở rộng số lượng sinh viên đã xử trí với sự bùng nổ thông qua một số chiến lược: • thuê nhiều hơn các giảng viên có hợp đồng/mùa vụ với lương thấp hơn so với giáo viên theo nhiệm kỳ; • sử dụng nhiều hơn các trợ giảng mà bản thân họ là các sinh viên; • gia tăng kích cỡ lớp học; • gia tăng tải công việc của giáo viên. Tất cả các chiến lược đó có xu hướng có tác động tiêu cực lên chất lượng, nếu các phương pháp dạy học vẫn không được thay đổi. Những người chỉ dẫn có hợp đồng là rẻ hơn để sử dụng so với các giáo sư toàn thời gian nhưng họ không thường có các vai trò y hệt về sự lựa chọn chương trình giảng dạy và các tư liệu đọc như các giáo viên theo nhiệm kỳ, và dù thường có đủ điều kiện tốt về mặt hàn lâm, thì bản chất tự nhiên khá tạm bợ sự thuê làm của họ có nghĩa là kinh nghiệm và tri thức về các sinh viên của họ sẽ mất khi các hợp đồng của họ kết thúc. Tuy nhiên, trong số tất cả các chiến lược đó, điều này có khả năng có ảnh hưởng tiêu cực ít nhất lên chất lượng. Không may dù điều đó cũng là đắt giá nhất đối với cơ sở. Các trợ giảng có lẽ không có nhiều hơn một vài năm ở phía trước trong các nghiên cứu của họ so với các sinh viên mà họ đang dạy, họ thường được huấn luyện hoặc được giám sát tồi trong việc dạy học, và đôi khi, nếu họ là các sinh viên nước ngoài (mà thường là như vậy), thì các kỹ năng ngôn ngữ tiếng Anh của họ là tồi tệ, làm cho họ đôi khi khó hiểu. Họ có xu hướng được sử dụng để chỉ dẫn các phiên song song của cùng một khóa học, nên các sinh viên theo học khóa học y hệt có thể có được các mức độ chỉ dẫn khác nhau to lớn. Việc thuê làm và trả tiền cho các trợ giảng có thể có liên quan trực tiếp tới cách mà nghiên cứu sau khi tốt nghiệp đang được cơ quan chính phủ cấp vốn. Sự gia tăng kích cỡ lớp học đã có xu hướng mất nhiều thời gian hơn nhiều dành cho các bài giảng và ít thời gian hơn cho nhóm nhỏ làm việc. Các bài giảng trên thực tế là một cách thức rất kinh tế khi kích cỡ lớp học gia tăng (miễn là các giảng đường đủ rộng để chứa đủ số lượng sinh viên). Chi phí cận biên của việc bổ sung thêm một sinh viên dư ra cho một bài giảng là nhỏ, vì tất cả các sinh viên đang nhận được sự chỉ dẫn y như nhau. Tuy nhiên, khi số lượng gia tăng, giáo viên sẽ dùng tới các dạng đánh giá ít mềm dẻo và nhiều định lượng hơn, như các câu hỏi nhiều sự lựa chọn và đánh Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 36/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 giá được tự động hóa. Có lẽ quan trọng hơn, sự tương tác của sinh viên với giáo viên sẽ giảm nhanh chóng khi số lượng gia tăng, và bản chất tự nhiên của sự tương tác có xu hướng xảy ra giữa người chỉ dẫn và một cá nhân sinh viên hơn là giữa các sinh viên tương tác như một nhóm. Nghiên cứu (Bligh, 2000) đã chỉ ra rằng trong các bài giảng với 100 sinh viên hoặc nhiều hơn, thì ít hơn 10 sinh viên sẽ hỏi các câu hỏi hoặc đưa ra các bình luận về khóa học trong một học kỳ. Kết quả là các bài giảng có xu hướng tập trung nặng hơn vào sự truyền đạt hoặc thông tin khi kích cỡ lớp học gia tăng, hơn là về sự khai thác, làm sáng tỏ hoặc thảo luận (xem Chương 4, Phần 2 để có thêm chi tiết phân tích về tính hiệu quả của các bài giảng). Việc gia tăng tải dạy học của giáo viên (nhiều khóa học hơn sẽ được dạy) là ít phổ biến nhất trong 4 chiến lược ở trên, một phần vì sự phản đối của giáo viên, đôi khi bản thân nó được thể hiện trong các cuộc thương lượng thỏa thuận tập thể. Ở những nơi mà tải dạy học của giáo viên gia tăng xảy ra, thì chất lượng một lần nữa có khả năng chịu thiệt, khi giáo viên đặt vào ít thời gian chuẩn bị hơn cho một lớp và ít thời gian hơn cho các giờ làm việc văn phòng, và dùng tới các phương pháp đánh giá nhanh hơn và dễ dàng hơn. Điều này không tránh khỏi sẽ làm cho các lớp học lớn hơn nếu giáo viên toàn thời gian đang dạy ít hơn nhưng làm nghiên cứu nhiều hơn. Tuy nhiên, việc cấp tiền nghiên cứu gia tăng tạo ra các sinh viên sau tốt nghiệp nhiều hơn, những người có thể bổ sung thu nhập của họ như là các trợ giảng. Kết quả là đã có một sự bùng nổ chính trong sử dụng các trợ giảng cho việc phân phối các bài giảng. Tuy nhiên, trong nhiều trường đại học ở Canada, tải dạy học của giáo viên toàn thời gian đã và đang giảm (Usher, 2013), dẫn tới thậm chí kích cỡ các lớp học còn lớn hơn theo từng người chỉ dẫn toàn thời gian. Trong các lĩnh vực làm công khác, nhu cầu gia tăng không nhất thiết gây ra chi phí gia tăng nếu lĩnh vực đó có thể có hiệu suất hơn. Vì thế chính phủ ngày càng tìm kiếm các cách thức làm cho các cơ sở giáo dục đại học có hiệu suất hơn: các sinh viên nhiều hơn và tốt hơn cho cùng hoặc ít chi phí hơn (xem Ontario, 2012). Cho tới nay, sức ép này đã được các cơ sở đáp ứng qua một khoảng thời gian khá dài bằng việc tăng dần kích cỡ lớp học, và sử dụng lao động chi giá thấp hơn, như các trợ giảng, nhưng điều đó sẽ trở thành một điểm khá nhanh nơi mà chất lượng chịu thiệt hại trừ phi các thay đổi được thực hiện với các quy trình nằm bên dưới, theo đó tôi ngụ ý cách mà việc dạy học được thiết kế và được phân phối. Một hiệu ứng phụ khác của sự tăng dần này kích cỡ lớp học mà không có những thay đổi trong các phương pháp dạy học là giáo viên và những người chỉ dẫn sẽ chấm dứt phải làm việc cật lực hơn. Về cơ bản họ đã xử lý nhiều sinh viên hơn, và không có việc thay đổi các cách thức họ tiến hành, điều không thể tránh khỏi dẫn tới công việc nhiều hơn. Giáo viên thường phản ứng tiêu cực với khái niệm về hiệu suất, coi nó như là việc công nghiệp hóa quy trình giáo dục, nhưng trước khi từ chối khái niệm đó thì đáng để xem xét ý tưởng có được các kết quả tốt hơn mà không phải làm việc cật lực mà là khôn ngoan hơn. Liệu chúng ta có thể thay đổi việc dạy học để làm cho nó có hiệu suất hơn sao cho cả các sinh viên và những người chỉ dẫn đều có lợi? Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 37/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Các tham chiếu • Bligh, D. (2000) What’s the Use of Lectures? San Francisco: Jossey-Bass • Ontario (2012) Strengthening Ontario’s Centres of Creativity, Innovation and Knowledge Toronto ON: Provincial Government of Ontario • Usher, A. (2013) Financing Canadian Universities: A Self-Inflicted Wound (Part 5) Higher Education Strategy Associates, September 13 Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 38/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 1.6 Các sinh viên thay đổi, các thị trường thay đổi đối với giáo dục đại học Hình 1.6.1 Các sinh viên đa dạng hơn Hình ảnh: © greatinternational students.blogspot.com, 2013. 1.6.1 Sự đa dạng lớn hơn các sinh viên Có lẽ không điều gì đã thay đổi nhiều hơn trong giáo dục đại học trong vòng 50 năm qua hơn là bản thân các sinh viên. Trong 'những ngày xưa tốt lành', khi ít hơn 1/3 số sinh viên từ các trường trung học phổ thông đã đi tiếp tới giáo dục đại học, hầu hết tới từ các gia đình mà bản thân họ đã từng học đại học hoặc cao đẳng. Họ thường tới từ các gia đình giàu có hoặc ít nhất là có đảm bảo về tài chính. Các trường đại học, đặc biệt, có thể có sự lựa chọn cao, lấy các sinh viên với các hồ sơ học Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 39/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 tập tốt nhất, và vì thế họ có khả năng nhiều nhất để thành công. Các kích cỡ lớp học từng nhỏ hơn và giáo viên đã có nhiều thời gian hơn để dạy và ít sức ép hơn để tiến hành nghiên cứu. Sự tinh thông trong dạy học, dù là quan trọng, từng không phải là cơ bản so với bây giờ; các sinh viên tốt từng ở trong môi trường nơi mà họ có khả năng thành công, thậm chí nếu giáo sư từng không phải là giảng viên tốt nhất trên thế giới. Mô hình 'truyền thống' này vẫn còn là đúng đối với các trường đại học tư ưu tú nhất như Havard, MIT, Stanford, Oxford và Cambridge, và đối với một số các trường cao đẳng nghệ thuật tự do nhỏ hơn. Nhưng đối với đa số các trường đại học và các trường cao đẳng 2 năm được cấp ngân sách từ nhà nước trong hầu hết các nước phát triển, thì điều này không còn đúng nữa (nếu nó bao giờ đó đã từng). Ở Canada, với 28% các sinh viên tốt nghiệp các trường trung học phổ thông đi tiếp vào đại học và 20% khác đi vào các trường cao đẳng cộng đồng 2 năm, lượng các sinh viên đó đã trở nên đa dạng hơn nhiều (AUCC, 2011). Khi các quyền tài phán nhà nước thúc giục các cơ sở tới các tỷ lệ tham gia khoảng 70% đi tới vài dạng giáo dục sau trung học (Ontario, 2011), thì các cơ sở phải vươn ra tới các nhóm trước đó còn chưa được phục vụ, như các dân tộc thiểu số (đặc biệt là những người Mỹ gốc Phi và gốc Latin ở Mỹ), những người mới nhập cư (trong hầu hết các nước phát triển), các sinh viên thổ dân ở Canada, và các sinh viên với tiếng Anh như là ngôn ngữ thứ 2. Các chính phủ cũng đang thúc giục các trường đại học lấy nhiều sinh viên quốc tế hơn, những người có thể trả toàn bộ tiền học phí hoặc nhiều hơn, đổi lại bổ sung thêm cho sự pha trộn văn hóa và ngôn ngữ. Nói cách khác, các cơ sở sau trung học được kỳ vọng đại diện cho dạng y hệt sự đa dạng về văn hóa và kinh tế - xã hội như trong một xã hội rộng lớn hơn, thay vì là các cơ sở dành cho một thiểu số ưu tú. Chúng ta cũng sẽ thấy rằng ở nhiều nước phát triển, các sinh viên đại học và cao đẳng là già hơn bình thường và không còn là các sinh viên toàn thời gian, chuyên tâm chỉ cho nhiều nghiên cứu học tập và vài điều vui vẻ (hoặc ngược lại). Sự gia tăng các khoản học phí và đời sống đắt đỏ ép buộc nhiều sinh viên bây giờ làm việc bán thời gian, điều không thể tránh khỏi xung đột với các thời gian biểu các lớp học thông thường, thậm chí nếu các sinh viên đó được chính thức phân loại như là các sinh viên toàn thời gian. Kết quả là các sinh viên đang mất thời gian dài hơn để tốt nghiệp. Ở nước Mỹ, thời gian hoàn thành trung bình cho bằng cử nhân 4 năm bây giờ là 7 năm (Lumina Foundation, 2014). 1.6.2 Thị trường học tập suốt đời Hội đồng các trường đại học ở Ontaria (2012) đã lưu ý rằng các sinh viên KHÔNG trực tiếp tới từ các trường trung học phổ thông bây giờ chiếm tới 24% tổng số tiếp nhận mới vào học, và sự tuyển mộ từ khu vực này đang gia tăng nhanh hơn so với số tiếp nhận mới vào học từ các học sinh trực tiếp tới từ các trường trung học phổ thông. Có lẽ đáng kể hơn, nhiều sinh viên tốt nghiệp đang quay lại sau khi đang làm việc để tham gia các khóa học hoặc các chương trình tiếp theo để bắt kịp với lĩnh vực tri thức thay đổi liên tục của họ. Nhiều trong số các sinh viên đó đang làm việc toàn thời gian, có gia đình và xoay sở cho phù hợp việc học tập của họ xung quanh các cam kết khác của họ. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 40/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Vâng là tới hạn về kinh tế để khuyến khích và hỗ trợ các sinh viên như vậy, những người cần duy trì tính cạnh tranh trong một xã hội dựa vào tri thức, đặc biệt như với tỷ lệ sinh đang tụt dốc và cuộc sống dài hơn, trong một vài quyền tài phán, những người học suốt đời, các sinh viên mà đã tốt nghiệp rồi nhưng đang quay lại học thêm nữa, sẽ sớm vượt qua số lượng các sinh viên tới trực tiếp từ các trường trung học phổ thông. Vì thế tại trường đại học British Columbia ở Canada (UBC), độ tuổi trung bình của tất cả các sinh viên tốt nghiệp bây giờ là 31, và hơn 1/3 tổng số sinh viên là hơn 24 tuổi. Cũng có sự gia tăng trong các sinh viên chuyển từ các trường cao đẳng 2 năm sang các trường đại học - và ngược lại. Ví dụ, tại Canada, Viện Công nghệ British Columbia ước tính rằng bây giờ hơn nửa sự tuyển mộ mới của nó mỗi năm là có một bằng đại học rồi. 1.6.3 Bẩm sinh số Một yếu tố khác làm cho các sinh viên hơi khác ngày nay là sự đắm mình của họ trong những tiện ích với công nghệ số, và đặc biệt là phương tiện xã hội: thông điệp tức thì (chat), Twitter, các trò chơi video, Facebook, và một kho các ứng dụng chạy trên vô số các thiết bị di động như các thiết bị iPad và các điện thoại di động. Các sinh viên như vậy luôn ở trạng thái 'bật'. Hầu hết các sinh viên đi tới trường đại học hoặc cao đẳng đắm mình trong các phương tiện xã hội, và cuộc sống của họ phần nhiều có liên quan xung quanh các phương tiện như vậy. Hình 1.6.2 Những người học suốt đời đang là một thị trường ngày càng quan trọng cho giáo dục đại học Hình ảnh: © Evolllution.com, 2013. Vài nhà bình luận như Mark Prensky (2001) viện lý rằng những người bẩm sinh số suy nghĩ và học một cách khác biệt cơ bản như là kết quả của sự ngâm mình của họ trong các phương tiện số. Họ kỳ Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 41/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 vọng sử dụng phương tiện xã hội trong tất cả các khía cạnh khác trong cuộc sống của họ. Vì sao kinh nghiệm học tập của họ nên phải khác chứ? Chúng ta sẽ khai thác điều này xa hơn trong Chương 8, Phần 2. 1.6.4 Từ ưu tú tới thành công Nhiều giáo viên có tuổi vẫn còn thiết tha với những ngày xưa tốt đẹp khi họ từng là sinh viên. Thậm chí trong những năm 1960, khi Ủy ban Robbins đã khuyến cáo một sự bùng nổ các trường đại học ở nước Anh, các Phó hiệu trưởng của các đại học đang tồn tại đã than vãn 'Nhiều hơn có nghĩa là tồi tệ hơn'. Tuy nhiên, đối với các trường đại học công, lý tưởng Socrat về một vị giáo sư chia sẻ tri thức của họ với một nhóm nhỏ các sinh viên chuyên tâm dưới gốc cây đoan không còn tồn tại, ngoại trừ có lẽ ở mức sau đại học, và có lẽ không bao giờ quay về các cơ sở công sau trung học (ngoại trừ có lẽ ở nước Anh, nơi mà chính phủ của thủ tướng Cameron dường như đang quay ngược đồng hồ về những năm 1950). Sự đại chúng hóa giáo dục đại học, với cảnh báo của những người theo chủ nghĩa truyền thống, đã mở viện hàn lâm ra cho những người cùng khổ. Tuy nhiên, chúng ta đã thấy rằng điều này đang được làm nhiều vì các lý do kinh tế như với tính di động của xã hội. Những ảnh hưởng của các thay đổi đó trong sinh viên đối với việc dạy học của các trường đại học và cao đẳng là sâu sắc. Có lúc, các giáo sư toán học người Đức đã tự hào với chính họ rằng chỉ 5% hoặc 10% các sinh viên của họ có thể thành công trong các cuộc thi của họ. Độ khó từng quá cao và chỉ những sinh viên tốt nhất mới qua được. Một tỷ lệ hoàn thành bé xíu đã chỉ ra việc học của họ khắt khe ra sao. Đó từng là trách nhiệm của các sinh viên, chứ không phải của các giáo sư, để đạt được mức yêu cầu. Điều đó có thể vẫn là mục tiêu cho các sinh viên nghiên cứu mức đỉnh, nhưng chúng ta đã thấy rằng ngày nay các trường đại học và cao đẳng có một mục đích hơi khác, và điều đó là để chắc chắn, xa nhất có thể, rằng càng nhiều sinh viên có thể càng tốt rời trường đại học với đủ khả năng thích hợp cho cuộc sống trong một xã hội dựa vào tri thức. Chúng ta không thể kham nổi việc ném đi cuộc sống của 95% các sinh viên, hoặc vì các lý do đạo đức hoặc kinh tế. Trong bất kỳ trường hợp nào, các chính phủ đang sử dụng các tỷ lệ và mức độ hoàn thành ngày càng gia tăng được tưởng thưởng như các chỉ số thực thi chính ảnh hưởng tới việc cấp vốn. Là thách thức chính đối với các cơ sở và các giáo viên để xúc tác cho càng nhiều sinh viên có thể càng tốt để thành công, đưa ra sự đa dạng rộng lớn các sinh viên. Hãy tập trung hơn nữa vào các phương pháp dạy học mà dẫn tới sự thành công của sinh viên, sự cá nhân hóa hơn nữa trong học tập, và phân phối mềm dẻo hơn nữa là tất cả những gì cần thiết để đáp ứng thách thức của sinh viên ngày một đa dạng. Các phát triển đó đặt ra nhiều trách nhiệm hơn nhiều lên vai những người dạy và những người chỉ dẫn (cũng như là các sinh viên), và đòi hỏi một mức độ kỹ năng cao hơn nhiều trong việc dạy học. May thay, trong vòng 100 năm qua, đã có nhiều nghiên cứu trong cách mọi người học tập, và nhiều nghiên cứu trong các phương pháp dạy học dẫn sinh viên tới thành công. Không may, nghiên cứu đó không được biết tới hoặc không được áp dụng bởi đa số những người chỉ dẫn trong các trường Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 42/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 đại học và cao đẳng, những người vẫn còn dựa chủ yếu vào các phương pháp dạy học có lẽ từng phù hợp khi từng có các lớp học nhỏ và các sinh viên ưu tú, nhưng không còn phù hợp nữa ngày nay (xem, ví dụ, Christensen Hughes and Mighty, 2010). Vì thế một tiếp cận khác cho việc dạy học, và sử dụng công nghệ tốt hơn để giúp những người chỉ dẫn gia tăng hiệu quả của họ xuyên khắp lượng sinh viên đa dạng, bây giờ là cần thiết. Hoạt động 1.6 Làm việc với sự đa dạng 1. Những thay đổi nào nếu có mà bạn đã lưu ý thấy trong các sinh viên bạn đang dạy? Điều này khác với phân tích của tôi như thế nào? 2. Trách nhiệm của ai để đảm bảo cho các sinh viên thành công? Ở mức độ nào sự đa dạng các sinh viên đặt ra trách nhiệm nhiều hơn lên các giáo viên và những người chỉ dẫn? 3. Bạn có đồng ý rằng 'Nhiều hơn có nghĩa là tồi tệ hơn'? Nếu đúng, các lựa chọn thay thế nào bạn có thể gợi ý cho giáo dục đại học? Điều này có thể được trả tiền như thế nào? 4. Liệu đất nước/quốc gia của bạn có sự cân bằng giữa giáo dục hàn lâm và dạy nghề? Liệu bạn có đặt quá nhiều sự nhấn mạnh trong các trường đại học và không đủ trong các trường cao đẳng kỹ thuật hoặc dạy nghề? Các tham chiếu • AUCC (2011) Trends in Higher Education: Volume 1-Enrolment Ottawa ON: Association of Universities and Colleges of Canada • Christensen Hughes, J. and Mighty, J. (2010) Taking Stock: Research on Teaching and Learning in Higher Education Montreal and Kingston: McGill-Queen’s University Press • Council of Ontario Universities (2012) Increased numbers of students heading to Ontario universities Toronto ON: COU • Lumina Foundation (2014) A Stronger Nation through Higher Education Indianapolis IN: The Lumina Foundation for Education, Inc. • Prensky, M. (2001) ‘Digital natives, Digital Immigrants’ On the Horizon Vol. 9, No. 5 • Robbins, L. (1963) Higher Education Report London: Committee on Higher Education, HMSO Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 43/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 1.7 Từ ngoại vi tới trung tâm: công nghệ đang thay đổi cách chúng ta dạy học như thế nào Chúng ta sẽ thấy trong Chương 6, Phần 2 rằng công nghệ đã luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy học từ thời xa xưa, nhưng cho tới gần đây, nó đã lưu lại nhiều hơn ở ngoại vi của giáo dục. Công nghệ đã và đang được sử dụng chủ yếu để hỗ trợ việc dạy học trong các lớp học thường xuyên, hoặc được vận hành ở dạng giáo dục từ ở xa (distance education), cho một thiểu số các sinh viên hoặc trong các phòng được chuyên môn hóa (thường trong giáo dục liên tục hoặc mở rộng). Tuy nhiên, trong vòng 15 năm gần đây, công nghệ đã và đang ngày càng có ảnh hưởng tới các hoạt động dạy học cốt lõi thậm chí của các trường đại học. Một vài cách thức công nghệ đang dịch chuyển từ ngoại vi vào trung tâm có thể được thấy từ các xu thế sau. 1.7.1 Học tập hoàn toàn trên trực tuyến Học tập trên trực tuyến có tín chỉ bây giờ đang trở thành một hoạt động chính và trọng tâm của hầu hết các phòng nghiên cứu trong các trường đại học, cao đẳng và ở mức độ nào đó thậm chí trong hệ thống giáo dục ở các trường phổ thông hệ 12 năm. Tuyển sinh trong các khóa học hoàn toàn trên trực tuyến (như các khóa học giáo dục từ ở xa) bây giờ chiếm khoảng 1/4 tới 1/3 toàn bộ các tuyển sinh sau trung học ở Mỹ (Allen and Seaman, 2014). Tuyển sinh học tập trên trực tuyến đã và đang ngày càng gia tăng trong khoảng 10% - 20% theo từng năm trong vòng 15 năm gần đây ở Bắc Mỹ, so với sự gia tăng trong các tuyển sinh dựa vào các khu trường vào khoảng 2% - 3% theo từng năm. Bây giờ có ít nhất 7 triệu học sinh ở Mỹ chọn một khóa học hoàn toàn trên trực tuyến, với gần như 1 triệu người qua tuyển sinh các khóa học trên trực tuyến chỉ riêng trong Hệ thống Cao đẳng Cộng đồng California (California Community College System) (Johnson and Mejia, 2014). Học tập hoàn toàn trực tuyến bây giờ là thành phần chủ chốt của nhiều trường và hệ thống giáo dục sau trung học. 1.7.2 Học tập pha trộn và lai Khi có nhiều người chỉ dẫn hơn trở nên có liên quan tới việc học tập trực tuyến, họ đã nhận ra rằng nhiều điều đã và đang được làm theo truyền thống trong các lớp học có thể được làm tốt y hệt hoặc tốt hơn trên trực tuyến (một chủ đề sẽ được khai thác nhiều hơn trong Chương 9). Kết quả là, những người chỉ dẫn đã và đang dần giới thiệu nhiều hơn các yếu tố học tập trực tuyến trong việc dạy học trong các phòng học của họ. Vì thế các hệ thống quản lý học tập có thể được sử dụng để lưu trữ các ghi chép bài giảng ở dạng các slide hoặc các tệp PDF, các đường liên kết tới các ghi chép trên trực tuyến có thể được cung cấp, hoặc các diễn đàn trực tuyến để thảo luận có thể được thiết lập. Vì thế học tập trực tuyến ngày càng được pha trộn với dạy học dạng mặt đối mặt, nhưng không làm thay đổi mô hình dạy học trong các phòng học cơ bản. Dù không có tiêu chuẩn hay định nghĩa đồng thuận chung nào trong lĩnh vực này, tôi sẽ sử dụng khái niệm 'học tập pha trộn' cho việc sử dụng công nghệ này. Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 44/604
- Dạy học trong kỷ nguyên số, Tony Bates, xuất bản lần đầu 15/04/2015 Bản cập nhất tới hết tháng 8/2015 Cho dù gần đây hơn, sự nắm bắt bài giảng đã làm cho những người chỉ dẫn nhận thức ra rằng nếu bài giảng được ghi lại, thì các sinh viên có thể xem điều này vào thời gian của riêng họ, và sau đó thời gian ở phòng học có thể được sử dụng cho các phiên làm việc tương tác hơn. Mô hình này đã được biết tới như là 'phòng học đảo ngược chức năng' (flipped classroom). Vài cơ sở bây giờ đang có các kế hoạch chuyển một phần đáng kể việc dạy học của họ sang các chế độ mềm dẻo và pha trộn hơn. Ví dụ, trường đại học Ottawa đang có kế hoạch có ít nhất 25% các khóa học của trường được pha trộn hoặc lai trong vòng 5 năm (Đại học Ottawa, 2013). Đại học British Columbia đang có kế hoạch thiết kế lại hầu hết các lớp học lớn giảng bài năm đầu và năm thứ 2 của nó thành các lớp học pha trộn (Farrar, 2014). Các tác động của cả việc học tập hoàn toàn trực tuyến và pha trộn sẽ được thảo luận đầy đủ hơn trong Chương 9. Hình 1.7.1 Sự gia tăng việc học tập trực tuyến ở Mỹ 1.7.3 Học tập mở Một phát triển ngày càng quan trọng khác có liên quan tới học tập trực tuyến là sự dịch chuyển sang giáo dục mở hơn. Trong vòng 10 năm qua đã có những phát triển trong học tập mở đang bắt đầu có ảnh hưởng trực tiếp tới các cơ sở truyền thống. Ngay lập tức nhất là các sách giáo khoa mở - như những gì bạn đang đọc bây giờ. Các sách giáo khoa mở là các sách giáo khoa số mà có thể được các sinh viên (hoặc những người chỉ dẫn) tải về ở định dạng số một cách tự do, vì thế tiết kiệm tiền đáng kể về các sách giáo khoa cho các sinh viên. Ví dụ, ở Canada, 3 tỉnh British Columbia, Alberta, và Saskatchewan đã đồng thuận cộng tác trong việc sản xuất và phân phối các sách giáo khao mở được rà soát lại ngang hàng cho 40 lĩnh vực chủ đề hay được viết trong các chương trình đại học và cao đẳng cộng đồng của họ. Tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Education Resources) là sự phát triển khác gần đây trong giáo dục mở. Chúng là các tư liệu giáo dục số có sẵn tự do qua Internet mà có thể được những người chỉ dẫn (hoặc các sinh viên) tải về miễn phí, và nếu cần thiết sẽ được tùy biến hoặc sửa đổi Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học & Công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ Trang 45/604



