Chiêu bài quản lý vàng của Bill Gates (Phần 2)

pdf 62 trang ngocly 80 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chiêu bài quản lý vàng của Bill Gates (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfchieu_bai_quan_ly_vang_cua_bill_gates_phan_2.pdf

Nội dung text: Chiêu bài quản lý vàng của Bill Gates (Phần 2)

  1. CHƯƠNG V: LỰA CHỌN QUYẾT ĐOÁN, NẮM BẮT CƠ HỘI ơ hội luôn dành cho những người có sự chuẩn bị. Đối diện với cơ hội, bạn đừng do dự, phải C lựa chọn một cách quyết đoán, nắm lấy cơ hội thuộc về mình. Nắm bắt được một cơ hội tức là tiến gần thêm một bước nữa đến với thành công. 1. TỰ MÌNH TÌM KIẾM CƠ HỘI Trên con đường phát triển doanh nghiệp, có cơ hội phải dựa vào vận may, nhưng đa phần các cơ hội đều phải dựa vào bản thân, tự mình sáng tạo, chỉ có không ngừng sáng tạo những cơ hội phát triển mới thì doanh nghiệp mới không ngừng tiến bộ. Đối với doanh nghiệp, mỗi cơ hội đều là động lực của phát triển. Sau khi Microsoft đưa ra hệ điều hành Windows, danh tiếng của công ty nổi như cồn. Microsoft lúc đó đã là một công ty lớn với hơn 10.000 nhân viên, có hơn mấy chục triệu người dùng trên toàn cầu, đồng thời có công ty con và văn phòng đại diện ở hơn 40 quốc gia. Lúc này, Bill Gates vẫn chưa hài lòng, ngược lại ông còn cố gắng làm việc, tìm kiếm cơ hội phát triển nhiều hơn. Là một nhà doanh nghiệp, ai cũng biết phải giỏi nắm bắt cơ hội, tuy nhiên không phải ai cũng nắm bắt được cơ hội, lại càng ít người tự mình chủ động tạo ra cơ hội. Bill Gates có thể không ngừng tìm kiếm cơ hội kinh doanh thúc đẩy Microsoft phát triển. Trong thời đại Internet, Bill Gates không những làm cho phần mềm của mình ngày càng có giá trị, mà còn hoạch định tương lai thiết thực và khả thi. Trong lịch sử phát triển của Microsoft, các cơ hội tốt luôn đi theo Microsoft, đó không chỉ là cơ duyên mà còn nhờ vào trí tuệ và sự nỗ lực. Trước thắng lợi, Bill Gates vô cùng tỉnh táo, ông biết rằng động lực phát triển của Microsoft đang giảm, thời đại đỉnh cao của Microsoft cũng sắp kết thúc. Kim ngạch tiêu thụ hệ điều hành Windows không tăng, còn kim ngạch tiêu thụ phần mềm máy bàn lại có sự giảm nhẹ, những điều đó đều có thể làm rõ vấn đề. Bill Gates biết rất rõ điều đó, sức ép đối với Microsoft là rất lớn, thời kỳ phát triển nhanh đã qua. Năm 1989, Microsoft hợp tác với công ty 3 Com khai thác ra hệ thống điều hành mạng LAN Manager, đây là hệ thống mạng có phạm vi ứng dụng khá hẹp, dựa trên hệ điều hành OS/2 và thỏa thuận NetBEUI. Hệ thống này sau khi ra thị trường không được nhiệt tình đón nhận. Sau này, Microsoft lại đưa ra hệ điều hành Windows NT, giành ưu thế trước đối thủ cạnh tranh là hệ điều hành Unix. Để thay đổi tình trạng bị động lúc bấy giờ, Microsoft bắt đầu tìm kiếm bước đột phá. Chính vào lúc đó, công ty Intel tìm đến Microsoft. Ngoài việc thiết kế phần mềm cho ti vi, Microsoft còn sáng tạo ra “máy tính mini”. Loại máy tính này rất nhỏ, xách tay thuận tiện, thậm chí có thể để được trong túi xách. Về mặt chức năng, “máy tính mini” có thể lưu trữ và tiếp nhận số liệu rất thuận tiện, có thể duy trì được liên lạc với công ty, người thân mọi lúc. Đội ngũ nghiên cứu khai thác của Microsoft dưới sự lãnh đạo của Bill Gates đã phát huy rất tốt tư duy sáng tạo. Hiện nay, một nhóm khai thác của Microsoft đang khai thác một loại máy tính nhỏ như đồng hồ, cung cấp các thông tin như tin tức, thể thao, thời tiết, giá cổ phiếu thông qua dịchvụ dữ liệu MSN Direct không dây. Một nhóm khác thì đang nghiên cứu để đưa một con chíp siêu nhỏ có chức năng ghi nhớ vào trong gót giày của vận động viên, thông qua con chíp này có thể tính được khoảng cách đi bộ của bạn, sau đó tính toán được năng lượng bạn tiêu hao.
  2. Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, Bill Gates đưa ra một ý tưởng mới đối với ví tiền, tức là “máy tính ví tiền”. Loại ví tiền này bao gồm sổ điện thoại, lịch trình, la bàn, thẻ tín dụng. Microsoft hy vọng có thể kết hợp với công ty bảo mật dữ liệu RSA ở Thung lũng Silicon, để có thể bảo mật thông tin, đồng thời hy vọng từ đó đưa ra tiền điện tử. Như vậy sẽ không cần phải đến ngân hàng rút tiền mà chỉ cần “máy tính ví tiền” là có thể xếp đặt mọi việc một cách thuận tiện. Microsoft thông qua việc khai thác các phần mềm này để thăm dò thị trường, mục tiêu của Microsoft là phải giữ được ưu thế hàng đầu trong tất cả các lĩnh vực. Nỗ lực đã được đền đáp, trong số các sản phẩm mới lạ mà Microsoft cho ra đời, có sản phẩm được khách hàng chấp nhận. Microsoft không ngừng tiến lên phía trước, họ đang tìm kiếm những cách làm tích cực để máy tính của Microsoft có được không gian sử dụng rộng rãi hơn. 2. CHỈ MỘT CƠ HỘI LÀ CÓ THỂ KHIẾN MÌNH NỔI BẬT Đôi khi, chỉ cần một cơ hội là có thể khiến cho doanh nghiệp trở nên nổi tiếng, đối với những cơ hội như vậy thì không được do dự, phải tận dụng triệt để. Những cơ hội như vậy có thể làm thay đổi diện mạo một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn phát triển cần phải không ngừng tìm kiếm cơ hội, đặc biệt là những doanh nghiệp đang trong giai đoạn phát triển, đôi khi, chỉ với một cơ hội, doanh nghiệp đó có thể trở nên nổi tiếng. Microsoft viết tiếp câu chuyện thần thoại về mình, sự hợp tác giữa Microsoft và IBM có thể nói là một sự kết hợp trời định. Rất nhanh chóng, Microsoft đã thay đổi, từ một công ty nhỏ trở thành một doanh nghiệp lớn danh tiếng. Khi đó, cùng với sự xuất hiện của bộ vi xử lí cao, IBM đã nhìn thấy tương lai của máy tính cá nhân nên quyết định đầu tư phát triển vào lĩnh vực đó. IBM sau khi khảo sát tình hình đã quyết định hợp tác với Microsoft. Trước khi lãnh đạo cấp cao của IBM gặp mặt Bill Gates, công ty IBM đã ký với Microsoft một thỏa thuận, thỏa thuận quy định, Microsoft không được tiết lộ các thông tin về phần mềm cho IBM. IBM cũng rất biết cách kinh doanh, khi ký thỏa thuận này, IBM không có liên quan về phương diện phần mềm, nếu có vấn đề gì xảy ra thì Microsoft sẽ chịu trách nhiệm. Thỏa thuận này có lợi cho chính IBM nhưng Bill Gates cũng hiểu rằng, cách làm này đồng thời tỏ rõ được thành ý hợp tác của IBM. Sau khi thỏa thuận được ký kết, lãnh đạo cao cấp của IBM bắt đầu gặp mặt Bill Gates, bàn bạc về các công việc cụ thể. Sau khi hai bên gặp mặt, lãnh đạo cao cấp của IBM vô cùng ngạc nhiên, một thanh niên trẻ như Bill Gates không những là một thiên tài về máy tính mà cách ứng xử cũng mang phong cách của một nhà lãnh đạo. Vì là lần đầu tiên hợp tác với IBM nên Bill Gates vô cùng cố gắng. Bill Gates nói, hệ điều hành QDos của Microsoft cũng có thể lắp vào máy tính cá nhân của IBM. Phía IBM rất vui mừng đồng thời yêu cầu Bill Gates cung cấp một báo cáo khả thi. Thực ra hệ điều hành này không phải do một mình Microsoft khai thác ra. Đây là sản phẩm của một công ty máy tính khác, Microsoft đã trả giá cao để mua quyền sử dụng. Việc này đã tiết kiệm được nhiều thời gian quý báu cho Microsoft, quan trọng hơn nữa là Microsoft muốn trên cơ sở hệ điều hành QDos để khai thác một hệ điều hành cao cấp hơn, thực dụng hơn. Lần gặp mặt thứ hai giữa Bill Gates và IBM, hai bên cùng đưa ra một số vấn đề và bàn bạc một số công việc cụ thể. Khi cuộc họp sắp kết thúc, một lãnh đạo cao cấp của IBM hỏi Bill Gates: “Ở Microsoft, có bao nhiêu người tài giỏi như anh?”. Bill Gates cười và nói rằng: “Những người khác đều tài giỏi hơn tôi, tôi là người bình thường nhất, bởi vì học lực của tôi thấp nhất, ngay đại học còn chưa tốt nghiệp”. Vị lãnh đạo cao cấp của IBM gật đầu một cách ngạc nhiên. IBM muốn nhanh chóng đưa máy tính cá nhân ra thị trường nên đã gây cho Microsoft rất
  3. nhiều áp lực về mặt thời gian. Để hoàn thành nhiệm vụ trong bản thỏa thuận, nhân viên của Microsoft phải chịu khá nhiều áp lực, đồng thời công ty cũng không ngừng tuyển dụng nhân tài. Trong khoảng thời gian đó, Bill Gates và nhân viên của mình làm việc quên ăn quên ngủ. Trong bản thỏa thuận, Microsoft và IBM cuối cùng quyết định công bố chi tiết và quá trình khai thác phần mềm. Dưới con mắt của các công ty khác, đây có thể coi là một đột phá của IBM. Trước đây, để bảo vệ vị trí dẫn đầu của mình, IBM rất ít khi công khai các thành quả nghiên cứu của mình. Bill Gates muốn công khai chi tiết và quá trình khai thác hệ điều hành bởi ông muốn khai thác một hệ điều hành được ngành máy tính chấp nhận, đồng thời tương thích với các máy tính khác nhau, các phần mềm khác nhau. Bởi vì chỉ cần thông thạo hệ điều hành thì việc thiết kế phần mềm cho máy tính sẽ đơn giản và dễ dàng hơn nhiều. Nhưng có một vấn đề phát sinh, đó là vấn đề bản quyền. Khi trợ lí của Bill Gates hỏi về điều này, ông nói rằng, cứ yên tâm. Pháp luật sẽ bảo vệ thành quả lao động của họ. Khi Microsoft bắt đầu bận rộn với việc khai thác phần mềm hệ điều hành ổ đĩa, Bill Gates đột nhiên nghĩ đến một vấn đề nghiêm trọng, hiện nay Microsoft đang khai thác hệ điều hành ổ đĩa trên cơ sở hệ điều hành QDos, nhưng Microsoft chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu QDos. Nếu Microsoft đưa ra được một hệ điều hành mới trên cơ sở của QDos thì bản quyền của phần mềm mới này sẽ thuộc về ai? Microsoft cảm thấy vấn đề trở nên vô cùng nghiêm trọng, thế là ông tạm dừng công việc khai thác lại, bắt đầu liên hệ với “chủ nhân” của QDos, hy vọng có được quyền sở hữu QDos. Trong quá trình đàm phán với “chủ nhân” của QDos, Microsoft muốn đổi quyền sử dụng phần mềm mới sắp ra đời lấy quyền sở hữu QDos. “Chủ nhân” của QDos không nhận thức được vấn đề một cách đúng đắn, khi đó họ cho rằng đó là một lần hợp tác trao đổi quyền lợi nên đã đồng ý ngay với yêu cầu của Microsoft. Sau này, “chủ nhân” QDos mới phát hiện ra rằng, mình đã bán đi bản quyền, ân hận thì đã muộn. Chính nhờ hành động này của Bill Gates, Microsoft mới có được hệ điều hành của mình. Nếu máy tính cá nhân của IBM bán chạy thì cũng có nghĩa là Microsoft đã thành công. Sau này, máy tính cá nhân của IBM khai thác thành công, sau khi đưa ra thị trường, nhanh chóng trở thành “đứa con cưng” trên thị trường. Hệ điều hành ổ đĩa của Microsoft cũng trở thành tiêu chuẩn trong ngành máy tính. Về sau, rất nhiều phần mềm bắt đầu được khai thác dựa trên hệ điều hành này, vị trí của Microsoft càng có được sự củng cố. Khi đó, Bill Gates mới 27 tuổi, ông đã chứng tỏ cho thế giới một điều: cho tôi một cơ hội, tôi sẽ làm nên kỳ tích. 3. KHÁCH HÀNG CŨNG LÀ MỘT CƠ HỘI Khách hàng luôn luôn đúng, khi doanh nghiệp mất đi một bộ phận khách hàng thì đừng trách cứ khách hàng, bởi vì vấn đề chính là ở bản thân doanh nghiệp. Cho khách hàng một cơ hội thì khách hàng mới cho bạn cơ hội. Trên con đường phát triển của Microsoft, Bill Gates coi trọng nhất hai đối tượng, một là các đồng minh hợp tác với Microsoft, hai là các khách hàng sử dụng sản phẩm của Microsoft. Con đường phát triển của máy tính trong tương lai sẽ là một thiết bị vừa là máy tính, vừa là mutil media, vừa là phần mềm đa chức năng. Dù xét về chức năng hay phạm vi, bản thân Microsoft khó có thể thực hiện được điều đó. Vì tương lai của máy tính, Microsoft không thể không tìm kiếm các đối tác mới. Tuy nhiên, muốn hợp tác được với Microsoft không phải là một chuyện dễ dàng, vì Microsoft rất kỹ tính trong việc lựa chọn đối tác. Bởi vậy, tiếng tăm của Microsoft về phương diện này không được tốt, thêm vào đó, Bill Gates vốn nổi tiếng là một người giỏi đàm phán, đồng thời có thể thấy, Microsoft là một công ty rất mạnh. Suy xét một cách kỹ lưỡng - cách làm này của Microsoft là có lí do. Hợp tác với các đối tác là mối quan hệ hai bên cùng có lợi, nếu sơ suất lựa chọn phải đối tác không phù hợp thì không những không
  4. thể hợp tác thành công mà còn làm lỡ sự phát triển của mình. Về phương diện khách hàng, Microsoft không thể lựa chọn. Khách hàng lựa chọn Microsoft chứ không phải Microsoft lựa chọn khách hàng. Bởi vậy, Microsoft sẽ cố hết sức để làm tốt công tác phục vụ đối với từng khách hàng. Khi nghiên cứu khai thác sản phẩm, Microsoft luôn coi ý kiến của khách hàng phản ánh đến phòng dịch vụ hậu mãi là tiêu chuẩn để cân nhắc. Ví dụ, về mặt hệ thống điều hành Windows, từ sau khi Microsoft đưa ra thị trường phần mềm hệ điều hành Windows 3.0, Microsoft đã lập ra một đội chuyên trách, chuyên thu thập, lựa chọn những ý kiến của khách hàng về hệ điều hành Windows, sau đó phòng khai thác của Microsoft dựa vào những ý kiến đó để tiến hành cải tiến hệ điều hành Windows, đến khi Windows 95 ra đời, hệ điều hành Windows đã rất được khách hàng ưa chuộng; về phương diện thao tác hệ thống, Microsoft đã có thể đứng vững trên đôi chân của mình. Các công ty khác có thể sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để khai thác sản phẩm mới, còn Microsoft lại dành rất nhiều thời gian để tìm hiểu khách hàng. Đó chính là nguyên nhân căn bản vì sao Microsoft có thể giành được nhiều khách hàng như vậy. Để hiểu khách hàng hơn nữa, Microsoft còn đưa ra một phân tích nhằm vào hành vi và chiến lược mua hàng của khách hàng. Những phân tích cụ thể này không phải do nhân viên của Microsoft mà do công ty điều tra chuyên nghiệp được Microsoft chi tiền mời về làm. Đây là một công ty có uy tín, họ thông qua sự phân tích mức độ hài lòng của khách hàng đối với Microsoft, thông qua sự phân tích độ chênh lệch giữa khách hàng tiềm năng và khách hàng thực sự của Microsoft, từ đó tìm kiếm cách thức và điều kiện để có được những khách hàng trung thành. Ngoài ra, công ty điều tra còn làm một cuộc điều tra để so sánh mức độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng các sản phẩm và dịch vụ hậu mãi của Microsoft với các công ty đối thủ của Microsoft, kết quả phát hiện ra, dịch vụ hậu mãi sẽ ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng. Trong nội bộ Microsoft, để tính mức độ hài lòng của khách hàng đối với một sản phẩm hoặc một dịch vụ nào đó, có người nghĩ đến cách mà phòng thực nghiệm đã từng áp dụng. Đó là khi Microsoft đang khai thác phần mềm Exel 3.0, có người ở phòng lập trình đã dựa vào những khách hàng điển hình để đánh giá một sản phẩm nào đó. Phương pháp đó rất đơn giản, cũng không cần đến các nhân tài chuyên ngành để tập hợp và phân tích các số liệu. Bởi vậy, kết quả mà họ có được không có giá trị tham khảo, tuy nhiên, cách thức họ làm mang tính đột phá. Thành công của Microsoft có thể lấy “thiên thời địa lợi nhân hòa” để hình dung, trong đó, Microsoft rất coi trọng “nhân hòa”. “Nhân hòa” ở đây là mối quan hệ với khách hàng. Khi mới thành lập, về phương diện dịch vụ khách hàng, Microsoft làm không được tốt. Tuy nhiên, trong những giai đoạn sau của quá trình phát triển, Microsoft luôn đặt nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu trong chiến lược phát triển của công ty. Chính vì luôn quan tâm đến nhu cầu của khách hàng nên những phần mềm mà họ khai thác mới có được thị trường lớn như vậy. Mỗi khi họp nhân viên, Bill Gates đều nhấn mạnh câu “khách hàng là thượng đế, khách hàng là sự sống của Microsoft”. Câu nói này cũng trở thành tôn chỉ làm việc của các nhân viên trong Microsoft. Bởi vậy, phần mềm mà Microsoft khai thác đều cân nhắc đến nhu cầu thực sự của khách hàng, dù là một chương trình nhỏ cũng phải làm cho thật hoàn hảo. Ngay khi đang phải đối mặt với khó khăn, Microsoft đều không lúc nào quên khách hàng. 4. TRÁNH RỦI RO, DUY TRÌ VỊ TRÍ DẪN ĐẦU Trong thị trường, luôn tồn tại những rủi ro lớn. Có những rủi ro có thể dựa vào thực lực và sự cố gắng để vượt qua, nhưng có những rủi ro lại là những “huyệt mộ”, một khi rơi xuống thì chỉ có cái chết đợi sẵn. Một doanh nghiệp sáng suốt đương nhiên không để mình rơi vào cảnh đó.
  5. Phải làm được như Bill Gates, trước tiên phải có được bản lĩnh dự đoán rủi ro, sau đó mới có thể nắm được vị trí dẫn đầu. Bill Gates biết rằng, trong thị trường đầy biến động, muốn trở thành người dẫn đầu, mỗi nhà doanh nghiệp đều biết rằng phải có được bản lĩnh dự đoán rủi ro, tuy nhiên những người thực sự có khả năng dự đoán rủi ro thì không nhiều, đó là bởi vì họ chưa có đủ sự sáng suốt trong việc quan sát thị trường và trong khả năng quyết sách đầu tư. Để giành được thị trường Browser, Bill Gates đã phát huy hết mức sở trường của phòng chiến tranh (War Room) – phòng nghiên cứu tình báo cạnh tranh, hàng tháng phải định kỳ theo dõi sự thay đổi của thị trường Browser, sau đó căn cứ vào kết quả thu được để đưa ra sách lược cho thị trường Browser của Microsoft. Cuối cùng, War Room đã giúp Microsoft thành công trong việc giành được vị trí dẫn đầu trong thị trường Browser. Đối thủ cạnh tranh gần đây của Microsoft là Netscape. Có một thời gian dài, ảnh của Netscape được treo đầy trong phòng War Room, mãi cho đến khi Microsoft thắng lợi trước Netscape, giành được vị trí dẫn đầu thị trường, thì ảnh của Netscape cùng với ảnh của các đối thủ trước đây của Microsoft như Novell, Sun, Java mới được dỡ xuống. Mỗi sách lược thị trường của Microsoft được đưa ra đều phải thông qua sự sát hạch nghiêm ngặt của “trò chơi chiến tranh” ở phòng War Room, thông qua một cuộc kiểm nghiệm giống cuộc chiến thực sự trên thị trường trước khi được đưa ra thị trường. Những sách lược này, thông qua sự kiểm nghiệm của phòng War Room, trở nên có hiệu quả và thực tế hơn, từ đó tránh được những rủi ro do những quyết sách không khoa học mang lại. Bill Gates từng tuyên bố với giới kinh doanh toàn cầu rằng: “Các bạn phải cảm thấy may mắn vì chúng tôi không tiến vào sản nghiệp của các bạn”, sở dĩ ông dám nói như vậy là vì ông thực sự có khả năng để làm như vậy. Rủi ro lớn nhất mà Bill Gates phải đối mặt là tìm sản phẩm thay thế cho các sản phẩm cũ, hơn nữa, còn phải tìm thấy trước khi nguồn lợi nhuận trọng tâm vốn có hoàn toàn biến mất. Đồng thời, nguồn lợi nhuận có được từ sản phẩm thay thế trong tương lai phải tương đương, thậm chí nhiều hơn một bậc so với sản phẩm cũ. Bởi vậy, Microsoft đã đến lúc phải đối mặt với sự cạnh tranh thực sự. Đây cũng là một trong những lí do quan trọng khiến Microsoft coi trọng việc thông qua những công tác tình báo để nắm được hướng đi của thị trường. Không chỉ Microsoft coi trọng tình báo cạnh tranh, ngày càng nhiều các công ty trên thế giới cũng bắt đầu coi trọng phòng ban này. Chính phủ Nhật Bản hàng năm đều đầu tư rất nhiều tiền vào công tác thu thập và phân tích các tin tức tình báo cạnh tranh, hơn nữa còn cung cấp miễn phí cho các doanh nghiệp Nhật Bản. Sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của các doanh nghiệp Nhật Bản trên phạm vi toàn cầu bắt nguồn từ sự coi trọng cao độ tin tức tình báo cạnh tranh từ chính phủ đến doanh nghiệp. Công ty Xerox của Mỹ cũng hết sức coi trọng công tác tình báo cạnh tranh, hơn nữa, vì tận dụng tốt các tin tức tình báo cạnh tranh, trong cuộc cạnh tranh thị trường với đối thủ Nhật Bản, họ đã giành được vị trí có lợi. Năm 1959, công ty Xeros đã phát minh ra chiếc máy in ảnh đầu tiên trên thế giới, vào những năm 60 và đầu những năm 70 sau này, luôn duy trì được vị trí dẫn đầu trên thị trường máy in ảnh thế giới. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 1977 đến năm 1982, thị phần của nó giảm từ 81% xuống còn 36%. Đối thủ lớn nhất của Xerox chính là công ty Canon của Nhật Bản. Canon từng có giai đoạn đưa ra một khẩu hiệu như thế này: “Bán máy photo với giá thành phẩm của Xerox”. Sau khi chịu “sự sỉ nhục” đó, Xerox bắt đầu triển khai nghiên cứu tình báo cạnh tranh với quy mô lớn, cuối cùng đã đánh bại Canon, giành lại được thị phần từ tay người Nhật. Thực ra, trong vô vàn các lĩnh vực trong thị trường, máy tính là lĩnh vực đòi hỏi cao nhất năng lực dự đoán rủi ro đối với thị trường trong quá trình cạnh tranh. Tốc độ nâng cấp nhanh chóng của phần mềm, phần cứng máy tính hoàn toàn có thể khiến cho một công ty thiếu năng lực dự đoán rủi ro bị phá sản trong chớp mắt. Sau khi Spindler nhậm chức Chủ tịch công ty
  6. Apple, một trong những đối tác của Microsoft, ông đã dành nhiều công sức cho việc dự đoán rủi ro. Ông yêu cầu trước khi mỗi hạng mục được phê duyệt, đều phải trải qua sự kiểm nghiệm nghiêm ngặt của hai giai đoạn là điều tra và khái niệm. Đồng thời, ngay cả cuộc họp của Hội đồng quản trị cũng phải được kiểm tra kỹ lưỡng. Spindler yêu cầu nhân viên phải so sánh các cuộc họp của Apple với các cuộc họp của 6 công ty thuộc “cấp thế giới” như SC Johnson, Coca Cola, Motorola Đồng thời, mỗi lần bắt đầu hội nghị đều có một cuộc thảo luận “khung chiến lược”, có biểu đồ thể hiện sự thay đổi của tình hình so với lần họp trước. Spindler thậm chí còn đưa tiền thưởng năm của mình ra làm đảm bảo cho sự dự đoán chính xác về phương diện quản lí sản phẩm và giao hàng. Ông nói với các nhân viên của mình rằng: “Nếu mọi việc xảy ra không theo ý muốn, thì túi tiền của tôi sẽ trống rỗng”. Nhờ vào tài năng của mình, sau này chính ông đã đưa được Apple ra khỏi thời khắc khó khăn. Công ty Microsoft của Bill Gates tuy chưa gặp phải thời khắc khó khăn liên quan đến sự sinh tồn như Apple nhưng Bill Gates luôn rất coi trọng những dự đoán về nguy cơ trong tương lai. Công tác dự đoán rủi ro ở Microsoft do “túi khôn” của ông đảm trách, thành viên của “túi khôn” Microsoft không thuộc vào một phòng ban nào, nhưng họ có được sự thừa nhận của tất cả mọi người nhờ vào tài trí và kinh nghiệm của mình. Microsoft sở dĩ phải thành lập “túi khôn” và ủy ban cố vấn học thuật, mục đích chính là để các chuyên gia học thuật đưa ra những ý kiến mang tính chất xây dựng về phương diện chiến lược phát triển toàn cầu và tính an toàn cho các sản phẩm của mình. Trong hội nghị do Microsoft tổ chức, các thành viên của túi khôn sẽ lắng nghe những tiến triển về phương diện tăng cường sản phẩm Windows, tính năng an toàn của các phần mềm văn phòng như IE, Office và các sản phẩm khác, Bill Gates hy vọng nghe được những ý kiến quý báu của các nhà học thuật về tiến triển của công việc, từ đó tránh khỏi các sai lầm mang tính phương hướng. Bill Gates bày tỏ, Microsoft sẽ tăng cường giao lưu học thuật với các anh tài học thuật trong giới, đồng thời cũng thường xuyên giao lưu với các chuyên gia luật pháp, Microsoft hy vọng các chuyên gia có thể đưa ra nhiều tư vấn về pháp luật hơn. Viện nghiên cứu Microsoft cũng có thể làm giảm bớt những rủi ro nhất định. Công việc của viện nghiên cứu một mặt là tiến hành những nghiên cứu cơ bản dựa trên lí luận, mặt khá quan trọng khác là làm thế nào để thành quả của các nghiên cứu đó trở thành sản phẩm. Cho đến năm 2007, viện nghiên cứu Microsoft đã có hơn 50 nghiên cứu, trong đó có khoảng 30 hạng mục nghiên cứu đã được chuyển thành sản phẩm, tỉ lệ đó rơi vào khoảng 50%, có thể nói tỉ lệ đó là khá cao, hệ số rủi ro cũng thấp. Nhờ đó, Microsoft luôn cách xa rủi ro trong kinh doanh, cách xa thất bại, nhẹ nhàng đi trước thời đại, giữ vị trí dẫn đầu. 5. NGƯỜI NẮM BẮT ĐƯỢC THÔNG TIN LÀ NGƯỜI THẮNG CUỘC “Ngay cả gió, chỉ cần ngửi chút hương vị của nó, bạn cũng có thể biết được nó đến từ đâu”. Câu nói này đã được Bill Gates biến thành nguyên tắc kinh doanh - kịp thời nắm bắt thông tin thị trường. Ông biết rằng, thông tin là thứ không thể thiếu được trong lĩnh vực kinh doanh hiện nay, nắm được thông tin tức là nắm được quyền chủ động, tức là có thể giành được thành công trong sự nghiệp. Giới thông tin đều biết rằng, Bill Gates tuy nắm vững kỹ thuật chuyên môn, nhưng yếu tố dẫn đến thành công của ông không phải vì ông là một chuyên gia về kỹ thuật mà vì trực giác nhạy bén đối với thị trường và phương pháp kinh doanh độc đáo của ông, Bill Gates biết cách mượn
  7. sức ảnh hưởng của phần mềm, vươn đến các mặt khác trong cuộc sống, điều này hoàn toàn khác với các doanh nghiệp khác, chỉ chú trọng vào một lĩnh vực kinh doanh, đây là sự vĩ đại của Bill Gates. Trong cuốn “Encarta” bách khoa toàn thư do mình phát hành, Microsoft đã giải thích một cách chính xác về thành công của Bill Gates: “Đa số các thành tựu của Bill Gates là do ông có thể biến viễn cảnh của khoa học kỹ thuật thành sách lược thị trường, kết hợp được sự nhạy bén đối với khoa học kỹ thuật và tính sáng tạo”. Đằng sau sự huy hoàng khiến người khác thán phục của mình, Bill Gates vẫn là một người bình thường, nếu có điểm gì khác biệt thì đó chính là trí tuệ hơn người, con mắt nhìn xa trông rộng và lòng quyết tâm chiến thắng hơn người của ông, đồng thời Bill Gates cũng là người không bao giờ bỏ qua bất kỳ một cơ hội nào có thể kiếm được tiền. Có giai đoạn Bill Gates là người phát ngôn của giới thông tin. Đó là vì trực giác nhạy bén đối với thị trường, phương pháp kinh doanh và năng lực marketing xuất sắc của ông chứ không phải do năng lực sáng tạo hay những kiến thức mà ông có được. Đó cũng là tố chất mà một nhà đầu tư rủi ro cần có. Ông rất giỏi trong việc nắm bắt cơ hội, đồng thời còn là một “sát thủ” trên thị trường, sử dụng con mắt nhìn xa trông rộng và sách lược kinh doanh thông minh của mình khiến đối thủ gần như không còn đất để phát triển. Bill Gates rất có con mắt nhìn, giới kinh doanh phải thú nhận rằng: “Thị trường tốt nhất là thị trường không có Bill Gates, nhưng đáng tiếc là chẳng có lĩnh vực nào ông không vươn tới. Nói về khoảng thời gian bắt đầu kinh doanh, Bill Gates nói: “Chúng tôi lập trình, bán phần mềm, suốt ngày đêm, gần như không còn nhớ đến thời gian đang trôi. May mà khách hàng của chúng tôi đều là những người yêu thích máy tính, họ đều không vì chức năng yếu, sách hướng dẫn đơn giản mà từ bỏ sự ủng hộ đối với chúng tôi”. “Khi đó, còn có một số công ty đóng gói sản phẩm của chúng tôi vào túi nilon mang bán, trong túi có một tờ hướng dẫn sử dụng được photo và số điện thoại liên lạc. Đối với Microsoft, khi có khách hàng gọi điện thoại đến đặt hàng, ai là người nhận điện thoại thì người đó phải giao hàng, tự mình đi lấy hàng, đóng túi rồi cho vào thùng thư, sau đó quay lại bàn làm việc của mình để lập trình tiếp”. Sau này Bill Gates đưa ra một kết luận, nếu có hệ điều hành thì máy tính có thể trở nên thông dụng, làm thay đổi lịch sử phát triển của máy tính cá nhân. Có thể nói, thành công của Bill Gates là nhờ được quá giang trên chiến xa của người khổng lồ xanh IBM. Sau khi cổ phiếu của Microsoft lên sàn, Bill Gates vẫn không bỏ qua bất cứ cơ hội nào có thể mang lại lợi ích cho bản thân và công ty. Ông đi khắp nơi diễn thuyết, tổ chức giới thiệu về cổ phiếu. Trong vòng 10 ngày ông bay đến 8 thành phố trên thế giới, bao gồm cả trung tâm tiền tệ thế giới Luân Đôn. Đối với Bill Gates, đây là một cuộc hành trình đầy mệt mỏi, nhưng để cổ phiếu của mình có được giá tốt, ông không chỉ đến những thành phố đó mà còn diễn thuyết, mở các cuộc quảng bá rầm rộ cho cổ phiếu. Những cố gắng của ông không phải là vô ích, ông đã thu được rất nhiều tiền từ các cổ đông. Ngày đầu tiên lên sàn chứng khoán vào ngày 13 tháng 3 năm 1986, cứ mỗi phút lại có gần mấy nghìn cổ phiếu được giao dịch, tổng cộng có 3,6 triệu cổ phiếu đã được giao dịch thành công. Trong lịch sử phát triển của các nhà doanh nghiệp trên thế giới, e rằng chỉ Bill Gates có được số lợi nhuận như thần thoại chỉ trong một thời gian ngắn. 6. RA TAY QUYẾT ĐOÁN, LÀM NGƯỜI ĐI ĐẦU Bill Gates nói, nghiệp vụ quan trọng nhất của Microsoft là khai thác phần mềm. Nhưng người
  8. khổng lồ này từ lâu đã không còn hài lòng với lĩnh vực phần mềm văn phòng và hệ điều hành cố định. Vì lo lắng rằng lợi nhuận và mức tăng trưởng ở hai lĩnh vực này giảm sút nên đối với Microsoft, tiến quân vào nhiều nghiệp vụ khác là sự lựa chọn tất yếu. Dưới sự lãnh đạo của Bill Gates, Microsoft ngoài việc duy trì các hạng mục phần mềm vốn có còn tiếp cận với rất nhiều các hạng mục khác. Ví dụ, sản phẩm mới của Microsoft, Xbox, NET, MSN, phần mềm ứng dụng doanh nghiệp, phần mềm điện thoại và wifi, tivi Sách lược khai thác sản phẩm của Microsoft đã tiếp cận các phần mềm thông dụng, gắng sức chiếm thị trường hệ điều hành điện gia dụng và các sản phẩm IT, làm người đi đầu của thị trường. Bill Gates bản tính hiếu thắng, ông luôn đưa Microsoft dẫn đầu trào lưu trong lịch sử, xác lập vị trí dẫn đầu tuyệt đối của Microsoft trong lĩnh vực phần mềm văn phòng và hệ điều hành. Sự phát triển của các sản phẩm của Microsoft có thể nói là một mũi tên trúng hai mục đích. Microsoft dựa vào lĩnh vực dẫn đầu vốn có để mở rộng các sản phẩm mới, đồng thời cũng thông qua việc sử dụng rộng rãi các sản phẩm mới để khẳng định vị trí dẫn đầu vốn có của mình. Ở Microsoft, mong muốn chinh phục thị trường còn lớn hơn mong muốn về lợi nhuận, đó cũng là sách lược đầu tiên được áp dụng ở Microsoft, nếu phải làm thì họ sẽ làm một cách tốt nhất, làm được 100%. Nhân viên của Microsoft đều hiểu rất rõ điều mà công ty mong đợi ở họ: “Trong mỗi thị trường mà họ tiến quân vào, họ phải chiếm được 100% thị trường”. Dù đưa ra quyết sách như thế nào, mở các cuộc họp ra sao, khai thác sản phẩm gì, họ đều theo đuổi cùng một mục đích: chiếm lĩnh hoàn toàn thị trường. Bởi vậy, câu hỏi mà các nhân viên của Microsoft luôn luôn được nghe là: “Làm thế nào để có thể nâng cao tỉ lệ chiếm lĩnh thị trường?”, tiếp đến là: “Làm thế nào để có thể làm tốt hơn nữa?”. Như vậy, nhân viên Microsoft đều không ngừng suy nghĩ làm thế nào có thể cải tiến, mở rộng thị trường. Trong gần 20 năm, Microsoft luôn là người đưa ra những quy tắc cho ngành công nghệ cao. Giáo sư David của Đại học Harvard bày tỏ: Microsoft đang đi trên con đường mà rất nhiều công ty lớn đang đi – cùng với việc duy trì lĩnh vực trọng tâm là đầu tư vào lĩnh vực mới. Chính điều này khiến cho Microsoft phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, Microsoft đi đến đâu là các đối tác, các đối thủ cạnh tranh của Microsoft đi theo đến đó. Bill Gates có thể tạo ra đế quốc phần mềm là nhờ rất nhiều vào việc ông luôn duy trì được việc là người đầu tiên tham gia thiết kế thị trường. Trong tác phẩm “Con đường tương lai” nổi tiếng của mình, Bill Gates từng dự đoán thế giới khoa học kỹ thuật của tương lai, cuộc sống của nhân loại sẽ được xây dựng trên xa lộ thông tin rộng lớn. Trong “Hệ thần kinh số” của mình, ông cũng chỉ ra rằng: Doanh nghiệp trong tương lai sẽ không có nhân viên, bởi sẽ có những người làm việc trí óc thay thế. Những cách nhìn kỳ lạ một mặt chỉ rõ đầu óc thiên tài, mặt khác cũng thể hiện những nỗ lực không mệt mỏi của ông. Bill Gates nói: “Không thể so sánh Microsoft có mức doanh số năm 32 tỉ đô la với những công ty có quy mô nhỏ, sự so sánh như thế quả là nực cười”. Nhiệm vụ trọng tâm của Microsoft là sáng tạo, cũng chính là làm người dẫn đầu trên thị trường. Trong 30 năm phấn đấu, các sản phẩm mới khai thác của Microsoft nhiều hơn bất cứ một công ty lớn nào. Khi đó, hệ điều hành của Microsoft đã chiếm lĩnh gần 90% thị trường, thị trường phần mềm ứng dụng doanh nghiệp cũng chiếm gần 90%, thị trường Browser cũng chiếm gần 85%, như vậy, Microsoft đã vươn đến mọi lĩnh vực, hơn nữa vẫn tiếp tục hướng đến khai thác thị trường. Khi tiếp cận một lĩnh vực mới, mục tiêu mà Microsoft theo đuổi vẫn là “thứ nhất”. Không lâu sau khi tiến quân vào lĩnh vực thông tin di động, Microsoft đã trở thành một đối thủ lớn trên thị trường này, không ai nghĩ rằng Microsoft có thể đạt được tốc độ phát triển nhanh như vậy. Khi Microsoft mới đặt chân vào lĩnh vực điện thoại thông minh, mọi người đều coi Microsoft là “ngoại đạo”, nhưng chỉ một năm sau, Microsoft đã có sự phát triển với tốc độ
  9. chóng mặt trong lĩnh vực này, khẩu hiệu “Windows của di động” của Microsoft đã dần được các nhà sản xuất điện thoại di động chấp nhận. Điều này khiến cho Microsoft chiêu mộ được ngày càng nhiều các nhà sản xuất phần cứng, mỗi lần tham gia triển lãm, Microsoft có thể có được liền một lúc 29 mẫu điện thoại mới. Phần mềm Browser IE của Microsoft cũng rất thành công, ngày càng có sức ảnh hưởng. Tháng 8 năm 2004, Microsoft đưa ra dịch vụ Music online, chính thức tiến quân vào thị trường download âm nhạc, điều này đã đưa đến cho Microsoft sự khiêu chiến của Apple, đối thủ đang dẫn đầu trong lĩnh vực này. Theo phân tích của người trong giới, Microsoft có thể bán ra được bao nhiều phần mềm Windows thì có thể cũng bán ra được bấy nhiêu ca khúc download. Bước nhảy vọt của Microsoft trong thị trường download âm nhạc rất có thể sẽ phá vỡ địa vị lũng đoạn của Apple. 7. XÓA BỎ NHỮNG RÀO CẢN, THÂU TÓM SỰ CHÚ Ý Một người biết chú tâm sẽ có thể tập trung được thời gian, tinh lực và trí tuệ của mình vào những việc cần phải làm, từ đó có thể phát huy được tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo. Bill Gates là một người như vậy, ông có thể xóa bỏ mọi rào cản từ thế giới bên ngoài, tập trung tinh lực, nỗ lực thực hiện mục tiêu của mình. Từ cổ chí kim, những người nổi tiếng trên thế giới rất chú tâm vào sự nghiệp của mình, một khi đã lựa chọn một nghề nào đó thì họ quyết không từ bỏ, không dừng lại cho đến khi đạt được mục đích của mình. Có lẽ Bill Gates đã học được tinh thần này từ những người nổi tiếng, sau khi lựa chọn ngành máy tính, ông bỏ qua những lời phản đối của người khác, đến hôm nay, ông vẫn không từ bỏ sự lựa chọn của mình. Trường trung học nơi Bill Gates từng học là một trường học có cách giáo dục bao dung, ở đây, những sở trường của học sinh có được sự thể hiện một cách tối đa. Sự phát triển không ngừng của kỹ thuật máy tính đã thu hút được sự chú ý cao độ của trường, để học sinh được tiếp xúc với công nghệ mới, nhà trường đã thuê một chiếc máy tính từ một công ty máy tính để đáp ứng sở thích của học sinh về phương diện này. Lần đầu tiếp xúc với máy tính, Bill Gates đã tỏ ra rất yêu thích máy tính, ông rất tò mò về kết cấu bên trong của máy tính, ngoài ra, khả năng tính toán của máy tính càng làm cho Bill Gates say mê. Ở phòng máy tính của trường, ngoài Bill Gates còn có một số học sinh khác tới tìm hiểu về chiếc máy tính. Bill Gates và họ nhanh chóng trở thành những người bạn thân, đôi khi còn cùng nhau nghiên cứu lập trình máy tính. Rất nhanh chóng, Bill Gates trở nên say mê với máy tính, ngoài việc thường xuyên đến phòng máy tính của trường, ông còn tìm kiếm một số tài liệu và sách có liên quan đến lĩnh vực máy tính, sau khi tìm được những kỹ thuật máy tính mới nhất trong sách báo tài liệu, ngày hôm sau, việc đầu tiên là Bill Gates chạy ngay đến phòng máy tính của trường để thao tác, còn nếu gặp phải vấn đề khó trong quá trình thao tác, ông sẽ đến thư viện để tìm kiếm phương pháp giải quyết. Cứ như vậy, trải qua một thời gian dài không ngừng kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, những kiến thức về máy tính của Bill Gates đã phong phú lên rất nhiều. Từ đó về sau, Bill Gates đã quyết định, phải làm được điều gì đó trong ngành máy tính, sau khi tốt nghiệp trung học, Bill Gates vào học tại trường đại học danh giá nhất thế giới - Đại học Harvard. Ở đại học, ông học chuyên ngành luật, nhưng phần lớn thời gian ông vẫn dùng cho sở thích máy tính của mình. Tuy nhiên, khi còn chưa học xong đại học, Bill Gates đã cùng một người bạn quen tại phòng máy tính cùng lập công ty máy tính riêng. Vạn sự khởi đầu nan, mới thành lập công ty, chưa có thị trường, chưa có kỹ thuật trọng yếu nên khi họ mang sản phẩm của mình đến các công ty khác, người quản lí công ty nhìn thấy hai chàng trai trẻ đứng trước mặt thì tỏ ra rất thất vọng. Sau khi phân tích kỹ lưỡng, Bill Gates và
  10. người bạn cho rằng, sự cạnh tranh trên thị trường máy tính ở Mỹ quá khốc liệt, công ty của họ không thể cạnh tranh được với các công ty máy tính khác, thế là Bill Gates quyết định ra khỏi thị trường Mỹ, chuyển hướng sang thị trường châu Âu, thị trường máy tính châu Âu vẫn chưa được khai thác, còn rất nhiều tiềm năng. Đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Bill Gates và người hợp tác của mình bôn ba ở châu Âu, khảo sát thị trường. Ở châu Âu, ông phát hiện một công ty máy tính của Đức có thị phần rất lớn, chiếm khoảng hơn 60% thị trường châu Âu. Bill Gates và bạn mình bàn bạc, nếu có thể hợp tác được với công ty này khai thác phần mềm cho họ thì Microsoft nhất định sẽ đứng vững trên thị trường châu Âu. Thế là, họ cùng nhau nghiên cứu kỹ lưỡng máy tính mà công ty máy tính đó sản xuất, đồng thời bắt đầu thử khai thác phần mềm cho loại máy tính này. Không lâu sau, họ mang sản phẩm của mình đến công ty máy tính đó, tiếp họ là phó giám đốc công ty. Ban đầu, vị phó giám đốc này còn nghi ngờ, hai chàng trai trẻ này mà cũng có thể khai thác phần mềm ư? Ông đưa sản phẩm của họ cài vào một máy tính của công ty dùng thử, tính ổn định và tính ứng dụng của nó đã khiến vị phó giám đốc hết sức hài lòng. Thế là, công ty máy tính này đã lên kế hoạch hợp tác bước đầu với Microsoft. Microsoft bắt đầu khai thác phần mềm cho công ty này, đồng thời nhanh chóng đứng vững trên thị trường châu Âu. Để mở rộng việc khai thác thị trường châu Âu, Bill Gates cùng bạn mình tiến hành cuộc tấn công mạnh vào thị trường này, họ đưa ra một kế hoạch đa nguyên nhằm vào thị trường châu Âu. Microsoft không những sản xuất phần mềm điều hành cho thị trường châu Âu mà còn sản xuất cả phần mềm ứng dụng. Microsoft đã đánh bại hoàn toàn các đối thủ cạnh tranh trên thị trường châu Âu, bởi vì, sự kết hợp giữa phần mềm điều hành và phần mềm ứng dụng của Microsoft quá hoàn hảo. Đồng thời, Microsoft còn đưa ra những phần mềm với nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, không những độc chiếm thị trường châu Âu mà Microsoft còn đặt được nền móng vững chắc cho việc quay lại thị trường Mỹ của mình. Cuối thế kỷ 20, Microsoft đang gấp rút khai thác Windows 2000, Windows 2000 là bản nâng cấp từ Windows 98, ở Windows 2000, người dùng có thể dễ dàng mua hàng online, đồng thời, để thuận tiện cho việc mua hàng online, Windows 2000 còn có thể quản lí tài khoản qua mạng. Về phương diện giải trí, khi hệ điều hành Windows vừa ra mắt, trong hệ thống đã có chức năng giải trí. Bởi vậy, Windows 2000 cũng không làm người sử dụng thất vọng. Chức năng mạnh mẽ của Windows 2000 khiến cho người sử dụng rất hài lòng, nhưng chính vào lúc này, một loạt các điều luật của bộ Tư pháp Mỹ và Liên minh châu Âu lại đem đến rắc rối cho Microsoft. Tuy nhiên, song song với việc ứng phó với những điều luật này, Bill Gates vẫn tiếp tục tiến hành công việc khai thác phần mềm, cho đến khi Windows 2000 ra đời. Ngày 19 tháng 12 năm 1999, Windows 2000 chính thức có mặt trên thị trường, do Microsoft đã làm tốt công tác quảng cáo nên khi Windows 2000 ra thị trường thì lượng tiêu thụ đã khiến chính Bill Gates cũng phải ngạc nhiên. Sự thành công của Windows 2000 có được cũng là nhờ Bill Gates nắm được thông tin thị trường, ông không để hàng loạt các đạo luật ban hành làm ảnh hưởng đến sự chú ý của mình. Bill Gates từng nói một câu: “Mạng Internet đã làm thay đổi thế giới, nó khiến cho trái đất trở nên nhỏ bé hơn, đồng thời cũng làm thay đổi Microsoft”. Cùng với sự phổ cập nhanh chóng của Internet, hệ điều hành của Microsoft cũng đã có sự thay đổi, để người sử dụng Internet có thể dùng được nhiều ứng dụng phần mềm hơn nữa, Microsoft đã khai thác hệ điều hành Windows.Net dựa trên mạng Internet. Hệ điều hành này giúp người sử dụng có thể dễ dàng download phần mềm trên mạng, điều này không những làm mới mạng Internet mà còn đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng, họ có thể tìm thấy phần mềm mà họ thực sự cần thiết qua Internet. Một nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng là người quyết sách của doanh nghiệp, dẫn dắt sự phát triển của doanh nghiệp, những lãnh đạo xuất sắc là những người luôn có thể chèo lái con thuyền doanh nghiệp vượt qua sóng gió một cách an toàn, thẳng tiến về phía trước.
  11. CHƯƠNG VI: COI TRỌNG SÁCH LƯỢC KINH DOANH ột doanh nghiệp thành đạt là một doanh nghiệp có sách lược kinh doanh thành công, bao M gồm giá cả, quảng cáo tuyên truyền Thị trường là thuốc quý để kiểm nghiệm sức sống của doanh nghiệp, một thị trường rộng lớn khiến cho doanh nghiệp tràn trề sức sống, mà muốn chiếm được thị phần thì phải coi trọng sách lược kinh doanh. 1. TIẾN QUÂN VÀO LĨNH VỰC MỚI, KHAI THÁC THỊ TRƯỜNG MỚI Đối mặt với thị trường rộng lớn không bao giờ được hài lòng với thị phần mà mình đang nắm giữ, so với cả thị trường, đó chỉ là một bộ phận nhỏ, còn rất nhiều nhu cầu của thị trường chờ chúng ta khai thác. Nếu doanh nghiệp lại tiếp cận với một lĩnh vực mới thì chính trong lĩnh vực mới đó lại có một thị trường to lớn. Đối mặt với một rừng các đối thủ mạnh trên thị trường, Microsoft không ngừng mở rộng thị trường thông qua hàng loạt những thay đổi sách lược. Microsoft luôn coi trọng khai thác sản phẩm mới, bởi chính những sản phẩm mới này giúp Microsoft mở rộng được thị phần của mình. Khi bắt đầu bước vào thế kỷ mới, Microsoft gặp phải rất nhiều khó khăn ở trong và ngoài nước. Sự chỉ trích gay gắt của Bộ Tư pháp Mỹ khiến các nhân viên của Microsoft rất hoang mang. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Bill Gates, Microsoft không dừng bước trước các lĩnh vực mới. Năm 2002, Microsoft lại khai thác một phần mềm mới chuyên dụng cho máy tính xách tay. Do đối tượng sử dụng loại máy tính xách tay phần lớn là các doanh nhân, về mặt Internet, họ đa phần đều sử dụng wifi. Phần mềm ứng dụng mà Microsoft mới đưa ra nhằm vào mặt này, đó là phần mềm MME (Microsoft Mobile Explorer), cài đặt phần mềm này, người sử dụng có thể lên mạng, gửi thư điện tử ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Sau đó không lâu, Microsoft lại có đột phá mới về mặt phần mềm máy tính xách tay. Phần mềm mới này có thể tương thích với máy tính xách tay của nhiều công ty máy tính, đồng thời kết hợp một cách tốt nhất giữa thương vụ và giải trí. Sau khi máy tính xách tay được cài đặt phần mềm này, người dùng có thể nghe nhạc, đọc các loại sách điện tử khác nhau, cũng có thể xem ti vi. Ngoài ra, nó còn bao gồm cả những thứ mà các thương gia cần như sổ ghi chép, sổ lịch trình, sổ làm việc Chức năng mạnh này đã khiến Microsoft đánh bại được đối thủ cạnh tranh. Nửa năm sau, thị phần của Microsoft về mảng này đã tăng lên đáng kể. Bill Gates từng nói với cấp dưới rằng: “Thị trường ADSL của Nhật Bản rất nhiều tiềm năng, trước đây Internet ở Nhật Bản có giá rất cao, rất ít người có thể sử dụng dịch vụ ADSL, họ chỉ có thể lên mạng bằng truyền hình hữu tuyến. Công ty truyền hình hữu tuyến mà chúng ta mua lại sở hữu rất nhiều thành phố, số lượng khách hàng tiềm năng là rất khả quan”. Trong thế giới mạng hiện nay không thể vắng bóng Microsoft. Dưới sự lãnh đạo của tầng lớp lãnh đạo Microsoft mà Bill Gates làm chủ đạo, Microsoft đã nhanh chóng xác lập chiến lược phát triển, đó là xây dựng nên hệ thống NET. Tháng 6 năm 2001, Microsoft chính thức tuyên bố thực hiện hệ thống •NET, đồng thời mỗi năm đầu tư ít nhất 5 tỉ đô la cho hệ thống này. Theo dự tính của những người có liên quan trong nội bộ Microsoft, nếu hệ thống này giành được thành công thì lợi nhuận hàng năm của Microsoft có thể tăng gấp vài lần.
  12. Bill Gates và các cộng sự của mình không ngại gian khổ bởi họ muốn dựa vào •NET để chiếm lĩnh thế giới số trong tương lai, chứ không phải trở thành nhà cung cấp dịch vụ trong thế giới số tương lai. Thông qua việc không ngừng hoàn thiện hệ thống •NET, Microsoft có thể thống trị tuyệt đại đa số người sử dụng, từ đó kiểm soát được thế giới thông tin, trở thành kẻ thống trị trong thế giới số. 2. KIÊN TRÌ TẤN CÔNG THỊ TRƯỜNG, GIÀNH ĐƯỢC KHÁCH HÀNG Microsoft nổi tiếng là “xảo quyệt” trong ngành công nghiệp máy tính, ngày hôm nay là đối tác của bạn, ngày mai sẽ là đối thủ cạnh tranh của bạn, điều này cũng thể hiện một điều, trên thị trường không có bạn bè vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn. Đối mặt với thị trường đầy biến động, Microsoft trong chiến dịch kiên trì tấn công thị trường đã giành được cảm tình của rất nhiều khách hàng. Có người miêu tả Bill Gates như sau, trong kinh doanh, Bill Gates rất hữu hảo với đối tác, đối với đối thủ cạnh tranh thì rất “vô tình”, rất khảng khái trong các công việc từ thiện. Về vấn đề đối xử với đối tác, Bill Gates vừa hữu hảo vừa đề phòng. Bill Gates biết rằng, đối tác hôm nay chính là đối thủ ngày mai. Bởi vậy, Microsoft mới có thể đứng vững trên thị trường. Vừa đặt chân vào thị trường Trung Quốc, Microsoft đã ngắm đến kỹ thuật viết tay của công ty Hán Vương, ngay từ năm 2002, Microsoft đã bắt đầu hợp tác với công ty Hán Vương trong kỹ thuật của Tablet PC, nội dung hợp tác đề cập đến những lĩnh vực quan trọng như kỹ thuật nhận biết chữ viết tay, phần mềm ứng dụng viết tay, kỹ thuật cảm ứng phần cứng Sở dĩ Microsoft hợp tác với công ty Hán Vương vì công ty Hán Vương dẫn đầu thế giới về lĩnh vực nhập chữ Hán viết tay. Tuy nhiên, điều khiến công ty Hán Vương không ngờ đến là Microsoft muốn trói phần mềm viết tay của công ty Hán Vương trong hệ điều hành Windows. Công ty Hán Vương lập tức đứng ra phản đối, đồng thời tuyên bố nếu Microsoft cố tình làm như vậy, họ sẽ kiện Microsoft, Microsoft lúc đó mới từ bỏ ý định của mình. Nếu Microsoft thực hiện được ý đồ của mình thì công ty Hán Vương sẽ đứng trước nguy cơ diệt vong. Bởi vì hệ điều hành Windows của Microsoft chiếm trên ½ thị trường phần mềm hệ điều hành trên toàn cầu, chẳng có ai là đối thủ của Microsoft. Đồng thời, Microsoft cũng có những mối liên hệ mật thiết với các công ty phần mềm máy tính khác trong nước, đối với Microsoft, những công ty này đang lót đường cho sự phát triển của Microsoft, vào lúc thích hợp, Microsoft sẽ biến những công ty đó thành của mình. Chỉ trong vòng hơn 30 năm ngắn ngủi, Microsoft đã dựa vào sách lược đó để chiếm được vị trí bá chủ trong ngành công nghệ phần mềm máy tính. Từng có người bình luận về Bill Gates như sau, trên thế giới này, chỉ cần là thứ mà Bill Gates coi trọng thì ông sẽ có cách để có được. Mục tiêu của ông là giành được ngày càng nhiều khách hàng hơn, thống trị thị trường phần mềm toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, Microsoft đã áp dụng rất nhiều biện pháp, đồng thời cũng thu được những hiệu quả rõ rệt. Sau khi các kỹ thuật phần mềm của Microsoft dần dần có được sự thành thục, để giúp Microsoft ngồi vững trên chiếc ghế bá chủ, Microsoft áp dụng sách lược hợp đồng cung cấp hàng mang tính độc chiếm. Doanh thu lên tới chục tỉ đô la của Microsoft hàng năm chủ yếu thu được từ những “sản phẩm hàng đầu”, đầu tiên là hệ điều hành Windows, sau đó là phần mềm Office. Thu nhập khổng lồ từ những sản phẩm trên có thể khiến Microsoft không ngừng cải thiện chức năng và thiết kế các sản phẩm của mình, từ đó tiêu thụ được với quy mô lớn hơn, hình thành một vòng tuần hoàn ưu việt: cải tiến - tiêu thụ - cải tiến.
  13. Bill Gates từng bình luận về Microsoft như sau: Ưu thế của Microsoft là vô cùng lớn. Khi chúng tôi bán được 100 nghìn phần mềm Office mỗi tháng, hàng năm chúng tôi có thể bỏ ra 3 triệu đô la để cải tiến sản phẩm của chúng tôi, mà lượng tiêu thụ của chúng tôi mỗi tháng không chỉ có vậy. Lượng tiêu thụ khổng lồ hàng năm của Microsoft quyết định vị trí vững chắc của Microsoft trên thị trường phần mềm. Như vậy, dù ở phương diện định giá sản phẩm hay lượng hàng bán ra, Microsoft đều có quyền, thậm chí còn là người đưa ra các tiêu chuẩn về phương diện này. 3. COI TRỌNG CÔNG TÁC QUẢNG CÁO TUYÊN TRUYỀN Một sản phẩm ưu việt không những cần có chất lượng tốt mà còn cần sự quảng cáo tuyên truyền ở mức độ thích hợp, khi hệ điều hành Windows 95 được đưa ra thị trường, Microsoft đã có một chiến dịch quảng cáo rất hiệu quả, không những khiến cho hệ điều hành Windows 95 bán chạy mà quan trọng hơn, khiến cho toàn thế giới biết đến Microsoft. Microsoft có được thành công như ngày nay phải kể đến sản phẩm và công tác quảng cáo tuyên truyền. Năm 2005, để tạo ra cơn sốt cho hệ điều hành Windows XP, Microsoft đã tiến hành các hoạt động quảng cáo tuyên truyền trong vòng 15 tháng. Theo nguồn tin trong nội bộ Microsoft cho hay, Microsoft tiến hành quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng, vô tuyến , hoạt động quảng cáo tiêu tốn khoảng 100 triệu đô la Mỹ, bao gồm gần 50 bản quảng cáo trên vô tuyến phát ở 11 nước. Ngay như hệ điều hành Windows Vista mà Microsoft mới đưa ra thị trường, Microsoft đã chi 500 triệu đô la cho quảng cáo và marketing sản phẩm. Theo nguồn thông tin từ Microsoft, hiện nay lượng tiêu thụ của Vista đã vượt mức 100 triệu bản. Steve Balmer gần đây còn bày tỏ, để bán được nhiều hơn nữa, hệ điều hành Windows Vista Microsoft sẽ tăng thêm chi phí cho quảng cáo. Năm 2008, Microsoft lên kế hoạch đầu tư 200 đến 300 triệu đô la Mỹ để quảng cáo tuyên truyền cho các sản phẩm của Microsoft bao gồm: hệ điều hành Windows, máy chủ trò chơi vô tuyến X360 và máy phát số đời mới Zune để củng cố hơn nữa địa vị của các sản phẩm của Microsoft trong các lĩnh vực. Microsoft không ngừng cải tiến hệ điều hành Windows, hệ điều hành Windows 95 được khai thác đã đánh dấu một thời đại mới. Sự ra đời của hệ điều hành Windows 95 dự báo cuộc cách mạng của hệ điều hành máy tính. Bill Gates từng nói: “Không có tốt nhất, chỉ có tốt hơn”. Khi Windows 95 ra đời, Bill Gates gọi nó là “bầu trời xanh” của hệ điều hành Windows, Microsoft còn đầu tư mấy triệu đô la Mỹ để sử dụng ca khúc “Start Me Up” của nhóm nhạc rock Rolling Stone để làm ca khúc quảng cáo cho Windows 95. Một ngày trước hôm Windows 95 chính thức đưa ra thị trường, Microsoft còn bỏ ra một khoản tiền lớn để mua lại số đầu tiên của các tờ báo có số lượng phát hành lớn, các tờ quảng cáo của Windows 95 bay như tuyết rơi kín trời. Ở đài phát thanh, đài truyền hình và Internet, đâu đâu cũng có thể nghe thấy quảng cáo của Windows 95. Ngày 24 tháng 8 năm 1995, Microsoft đưa ra thị trường hệ điều hành Windows 95. Để quảng cáo tốt hơn nữa cho Windows 95, Microsoft còn tổ chức đồng thời các lễ ra mắt Windows 95 ở nhiều thành phố, điều này cũng thể hiện rõ sự coi trọng của Microsoft đối với Windows 95. Đầu tư khổng lồ vào quảng cáo của Microsoft đã đem lại hiệu quả tốt, hệ điều hành Windows 95 nhanh chóng lan rộng khắp toàn cầu. Hiệu ứng quảng cáo cũng đem lại cơn sốt mua hàng ở Mỹ và trên toàn cầu. Ở một số cửa hàng bán lẻ và siêu thị bán linh kiện máy tính, khách mua Windows 95 đứng xếp thành hàng dài trước cửa, những người đến xếp hàng trông ai cũng háo
  14. hức muốn sớm được trải nghiệm sự tiện lợi mà hệ điều hành Windows 95 đem lại. Ngoài Mỹ, cơn sốt hệ điều hành Windows 95 cũng xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới, ở thủ đô Wellington của NewZealand, những khách hàng trung thành của Microsoft dậy từ rất sớm đến đợi trước cửa các cửa hàng bán lẻ để mua hệ điều hành mới nhất của Microsoft, đồng thời họ cũng cảm thấy rất vinh dự bởi vì do chênh lệch múi giờ, họ đã trở thành những người sử dụng phần mềm Windows 95 sớm nhất. Ở Pháp, hệ điều hành Windows 95 trong một thời gian ngắn đã trở thành ngôn ngữ thịnh hành trong giới máy tính, trên các diễn đàn và trên các trang web tràn ngập những lời ca ngợi hệ điều hành Windows 95. Ở Trung Quốc, chính hệ điều hành Windows 95 khiến cho nhiều người dân Trung Quốc biến đến Microsoft, từ đó về sau, Microsoft chính thức mở rộng thị trường phần mềm hệ thống ở Trung Quốc. Microsoft đầu tư mấy trăm triệu đô la cho việc quảng cáo Windows 95, hiệu quả thu được rất rõ nét. Ngay trong ngày đầu tiên tung ra thị trường, Windows 95 đã bán được 300 nghìn bản, lượng tiêu thụ cả năm đạt hơn 30 triệu bản, doanh thu đạt gần 2 tỉ đô la Mỹ. 4. GIÀNH THỊ TRƯỜNG BẰNG GIÁ CẢ Trong thị trường sản phẩm, về phương diện định giá sản phẩm, doanh nghiệp phải rất linh hoạt, việc tăng giảm giá đúng lúc sẽ thể hiện được sách lược thị trường của doanh nghiệp. Vào thời điểm thích hợp, có thể dùng giá thấp để chiếm lĩnh thị trường, đánh bại các đối thủ cạnh tranh, từ đó tạo được tiếng nói trên thị trường. Chỉ trong vòng hai mươi mấy năm, Bill Gates từ một thanh niên với hai bàn tay trắng đã trở thành một trong những người giàu có nhất thế giới, tạo ra một câu chuyện thần thoại về sự giàu có. Tuy nhiên, Bill Gates không vì thế mà thỏa mãn, vốn đã quen với việc bôn ba trên thương trường, ông khó có thể dừng lại. Đối với nhiều thương gia, lợi nhuận là thứ đầu tiên mà họ nghĩ đến, mà lợi nhuận chủ yếu đến từ hai mặt là giá cả và thị phần, hai mặt này có mối quan hệ tỉ lệ nghịch. Giá cả càng cao thị phần càng giảm, chất lượng tốt giá rẻ thì thị phần sẽ tăng lên. Ở một mức độ nào đó, lợi nhuận chính là sự sống của doanh nghiệp. Thành công về phương diện sách lược thị trường của Microsoft có liên quan rất nhiều đến giá cả sản phẩm và thị phần thị trường của Microsoft. Đối với Microsoft, lợi nhuận ít đi chỉ ảnh hưởng tới thu nhập của Microsoft, còn quyết định thắng bại là ở thị phần trên thị trường. Một trưởng phòng của Microsoft đã từng nói một câu như thế này: “Chúng tôi khai thác Word không phải chỉ vì lợi nhuận, chúng tôi mong muốn thông qua sản phẩm này đẩy đối thủ của mình ra khỏi thị trường”. Ở Microsoft, mỗi nhân viên đều rất có chí tiến thủ và có tinh thần trách nhiệm cao, thông qua những nỗ lực đó, Mi- crosoft không những đánh bật được đối thủ ra khỏi thị trường mà còn đánh bại họ hoàn toàn. Bởi vậy, Microsoft luôn giữ vị trí đứng đầu trong ngành công nghệ phần mềm máy tính. Do nguyên nhân nhiều mặt, đôi lúc sản phẩm của Microsoft cũng gặp phải tình trạng ế ẩm, khi đó Microsoft luôn quả quyết rút sản phẩm ra khỏi thị trường, nhưng Microsoft quyết không rút khỏi thị trường sản phẩm mang tính sinh tồn của Microsoft, ví dụ như thị trường phần mềm điều hành. Khi mới thành lập, Microsoft đã xác lập thị trường nào là thị trường mục tiêu chiến lược của Microsoft. Sau khi xác lập thị trường, Microsoft xác định mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn; cùng với sự thay đổi của thị trường, Microsoft cũng không ngừng thay đổi những mục tiêu đó. Đồng thời, Microsoft không tiếc công sức bảo toàn những thị trường này. Ban đầu,
  15. Microsoft không vội thu lợi nhuận từ những thị trường đó mà đề ra mục tiêu đứng vững trên những thị trường này trước, sau đó đánh bật những đối thủ cạnh tranh, khi có được ưu thế tuyệt đối, Microsoft mới xuất kích. Vì khi đó, Microsoft gần như độc bá những thị trường này, sẽ có quyền chủ động về mặt giá cả, lợi nhuận hoàn toàn có thể nhìn thấy được. Về lĩnh vực hệ điều hành, Microsoft tin tưởng rằng đối thủ của mình chỉ mới bước chân vào lĩnh vực này, mà hiện nay, những nhà cung cấp hệ điều hành, ngoài Microsoft, các nhà cung cấp khác đều đang đứng trên bờ vực phá sản. Trước đây, những nhà cung cấp này, để đối phó với kẻ thù chung là Microsoft, họ đã tập hợp lại thành một liên minh, nhưng Microsoft tự tin cho rằng, những gì hiện tại mình có được và sẽ có được trong tương lai đều sẽ là những đòn đánh chí mạng vào đối thủ. Microsoft áp dụng sách lược trói buộc, nhanh chóng khiến cho liên minh đó không đánh mà tự bại. Khi Microsoft đưa ra phần mềm Windows 95, trên thị trường không có đối thủ nào có thể cạnh tranh được với Microsoft. Về phương diện giá cả, Microsoft đưa ra sách lược giá cao. Khi đó, giá bán lẻ của Windows 95 lên tới hơn 100 đô la Mỹ. Tuy nhiên, thị trường phần mềm hệ thống khi đó là thị trường của người bán, dù Microsoft có tăng giá bán lên cao thì lượng tiêu thụ của Microsoft cũng sẽ không giảm bớt. Hiện nay, trước sự bùng phát của máy tính xách tay, chiến lược về giá cả của Microsoft lại có sự thay đổi, cùng với việc tiếp tục giảm giá bán các linh kiện khác của máy tính xách tay, Microsoft tăng giá bán hệ điều hành. Bill Gates từng nói với nhân viên của mình rằng: Với sự giảm giá của linh kiện máy tính xách tay và máy tính xách tay, giá bán hệ điều hành của chúng ta không được giảm mà ngược lại phải tăng cao lên”. Do ưu thế của Microsoft trên thị trường phần mềm hệ thống, giá bán sản phẩm của Microsoft không chịu sự điều khiển của sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp mà hoàn toàn được quyết định bởi sức mua và khả năng chịu đựng của khách hàng. Bởi vậy, khi giá bán máy tính xách tay giảm, Microsoft lại bắt đầu tăng giá, hơn nữa còn tăng giá gấp đôi. Cùng với sự giảm giá của bộ vi xử lí máy tính, áp lực về nhu cầu máy tính xách tay trên thị trường cũng không còn căng thẳng như trước, điều này khiến cho Microsoft có thể duy trì được mức giá cao của mình. Bởi vậy, Microsoft không có đối thủ trong lĩnh vực phần mềm hệ điều hành, Microsoft coi việc hạ giá linh kiện máy tính là cơ hội để mình duy trì và nâng cao giá. Về phương diện giá cả, Bill Gates còn có mục tiêu chiến lược trong mấy năm trong tương lai, đầu tiên phải đảm bảo được mức giá cơ bản, sau đó cố gắng để tăng giá gấp đôi, đồng thời duy trì ưu thế về giá trong quá trình phát triển trong tương lai. Chẳng khó khăn gì để nhận ra, thông qua phương thức định giá này, việc Microsoft muốn có được thu nhập khổng lồ chỉ là vấn đề thời gian. Chính số thu nhập khổng lồ đó đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của Microsoft. Với số tiền đó, Microsoft có thể đầu tư nhiều hơn nữa vào khai thác, cũng có thể mua lại những công ty có triển vọng khác, khiến Microsoft không ngừng tiến lên phía trước trong lĩnh vực thị trường hệ thống. Thông qua chiến thuật về giá, Microsoft không những đánh bại được đối thủ cạnh tranh mà còn có tiếng nói trong việc định giá sản phẩm, đồng thời còn tăng được thu nhập. 5. SÁCH LƯỢC THỊ TRƯỜNG CỦA BILL GATES Mỗi ngành nghề đều phải có sách lược thị trường khác nhau, một người đã nhiều năm trong ngành máy tính như Bill Gates đương nhiên hiểu rất rõ điều đó. Tìm hiểu một chút về sách lược thị trường của ông sẽ có tác dụng tham khảo. Từ khi bước chân vào ngành máy tính, Bill Gates đã dự đoán được chính xác tương lai của
  16. ngành máy tính, về thị trường phần mềm máy tính, ông cũng rất có con mắt trong kinh doanh, khiến công việc vô cùng phát đạt. Trong quá trình này, Bill Gates cho rằng, về phương diện sách lược thị trường, nên tuân thủ theo một số nguyên tắc sau: (1) Trong những ngành nghề có liên quan đến sự sống của phần mềm máy tính, phải sớm xâm nhập, đồng thời đứng vững ở vị trí dẫn đầu. Khi máy tính mới hưng thịnh, ngôn ngữ máy tính là thứ được người ta quan tâm nhất, bởi vì những ngôn ngữ này có thể lập ra những chương trình phần mềm khiến máy tính phát huy được tối đa hiệu quả của nó. Ngay từ lúc đầu, ngôn ngữ Basic mà Bill Gates coi trọng cũng thuộc loại này. Nhờ sự không ngừng cải tiến của bộ vi xử lí, tính năng của ngôn ngữ Basic cũng ngày càng mạnh hơn. Sự xuất hiện liên tục của các đời vi xử lí mới cũng làm thay đổi máy tính. Lúc này, hệ điều hành máy tính lại được coi trọng, trở thành đứa con cưng mới trong ngành phần mềm máy tính. Chính những phần mềm hệ điều hành này quyết định những thao tác cơ bản của máy tính. Ngay như hiện nay, thứ được quan tâm nhiều nhất chính là phần mềm xử lí chữ viết và phần mềm đa phương tiện. Xử lí chữ viết là phần mềm cần thiết cho văn phòng, phần mềm đa phương tiện cần thiết cho giải trí gia đình. Cùng với sự phát triển của máy tính, phần mềm máy tính cá nhân cũng ngày càng phức tạp hơn. Một số công ty phần mềm máy tính lớn đã thêm vào các tính năng khác trên cơ sở phần mềm vốn có, điều này khiến cho các công ty máy tính quy mô nhỏ khác không có khả năng để cạnh tranh. Ví dụ, khi Microsoft đưa ra phần mềm Windows 95 thì có kèm theo chức năng thư điện tử. Windows 95 không những thao tác dễ dàng, chức năng mạnh lại kèm thêm chức năng mạng, khiến đối thủ không thể cạnh tranh. Ngoài ra, có một số công ty máy tính để đáp ứng nhu cầu khác nhau của khách hàng đã khai thác và cho ra đời nhiều loại phần mềm. Microsoft chia sản phẩm của mình thành các mức khác nhau, đối với từng mức lại có các sách lược tương ứng. Microsoft chia sản phẩm mình có thành 9 mức, ở mỗi mức lại có sản phẩm đặc biệt của Microsoft, mỗi một mức lại có những khách hàng tương ứng. (2) Tấn công bằng sản phẩm mới. Để mở rộng hết mức thị phần, Microsoft không ngừng đưa ra các sản phẩm mới. Chức năng của các sản phẩm mới này hoàn hảo, được sản xuất dựa trên nhu cầu thực sự của khách hàng, bởi vậy, thị trường của Microsoft ngày càng được mở rộng. Hàng năm, Microsoft cấp cho phòng khai thác mấy trăm triệu đô la để cải tiến các sản phẩm phần mềm, chưa bao gồm chi phí khai thác. Đối với từng khách hàng, Microsoft có những sản phẩm khác nhau để cung cấp. Ví dụ: trong lĩnh vực phần mềm ứng dụng, Microsoft cung cấp cho khách hàng hai sản phẩm là bản đơn giản và bản Full, bản dùng cho gia đình và dùng cho doanh nghiệp; về phương viện phần mềm văn phòng, Microsoft còn cung cấp cho khách hàng bản về tài chính, để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Về phần mềm hệ điều hành Windows, Microsoft cũng không ngừng cải tiến. Đương nhiên, trong khi cải tiến sản phẩm, Microsoft cũng không quên các sản phẩm vốn có. Bởi vì các sản phẩm đời mới đều phải dựa trên các sản phẩm vốn có, đồng thời ở một mức độ nào đó, sản phẩm mới là sản phẩm vốn có được cải tiến, khi những sự cải tiến đạt đến một mức độ nhất định thì một sản phẩm mới được ra đời. (3) Mở rộng hết mức thị phần, cố gắng để mình trở thành tiêu chuẩn trong ngành.
  17. Bill Gates có những tiêu chuẩn ngành nghề riêng. Đầu tiên phải đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình là ổn định, sau đó tìm mọi cách để mở rộng thị phần. Thông qua việc bán sản phẩm với số lượng lớn, Microsoft trở nên nổi bật lên trong số các công ty phần mềm máy tính khác. Sau khi bước đầu chiếm lĩnh thị trường, thông qua cải tiến, tuyên truyền sản phẩm, Microsoft giành được sự ủng hộ và tín nhiệm của khách hàng, từ đó xác lập vị trí vững chắc trên thị trường, cuối cùng trở thành người đưa ra các tiêu chuẩn cho ngành phần mềm. (4) Tiến hành phân loại và tổng hợp, tạo ra “bộ mặt mới” để tiến vào thị trường. Số lượng sản phẩm mới ngày càng tăng lên, chủng loại sản phẩm cũng ngày càng phức tạp, đôi khi khiến khách hàng cảm thấy rất khó để lựa chọn. Microsoft liền tổng hợp lại các sản phẩm vốn có một cách đơn giản, tập hợp 3 phần mềm Word, Excel và Power Point vào thành một gói phần mềm Office, về mặt giá cả, chỉ đắt hơn một chút so với giá của từng phần mềm trước đó. Điều này không những thuận tiện hơn cho khách hàng mà còn khiến khách hàng cảm thấy rất kinh tế. Ngoài ra, Microsoft cũng áp dụng cách đó ở lĩnh vực phần mềm hệ điều hành, sau này còn gắn thêm Browser mạng; để phục vụ khách hàng tốt hơn nữa, Microsoft luôn không ngừng cải thiện hệ điều hành Windows; để thuận tiện cho khách hàng gửi nhận thư, Microsoft còn đưa vào hệ điều hành Outlook Express Dựa vào sách lược thị trường của Bill Gates, công việc kinh doanh của Microsoft vô cùng phát đạt, khiến cho Bill Gates ngày càng kiên định trong niềm tin của mình. 6. ĐI CON ĐƯỜNG RIÊNG, GIÀNH ƯU THẾ KINH DOANH Ước mơ của mỗi người làm kinh doanh là chiếm được ưu thế kinh doanh, thiên tài Bill Gates cũng không ngoại lệ. Điều khác biệt là ông hiểu được cách làm thế nào để tạo được cơ hội cho chính mình, chiếm lĩnh vị trí ưu thế trên thị trường. Ông hiểu rằng, muốn chiếm được ưu thế, điều quan trọng nhất là phải đáp ứng được nhu cầu của xã hội và người khác, vì thế ông đã đi con đường riêng, tạo ra những cơ hội vốn không thuộc về mình. Một điểm rất rõ trong ưu thế kinh doanh của Bill Gates là ông đã tạo được cho mình con đường riêng để đi, vận dụng các cơ hội mà người khác không dám nghĩ đến hoặc không nghĩ ra để kiếm được những khoản tiền khổng lồ. Lần đầu tiên hợp tác với IBM, Microsoft còn là một công ty nhỏ không có tiếng tăm, khi đó họ chỉ cung cấp phần mềm cho các công ty nhỏ, IBM danh tiếng đột nhiên tìm đến, tuy Bill Gates có chút khó hiểu nhưng vẫn đồng ý hợp tác khai thác phần mềm điều hành mà IBM cần. Đây cũng là điểm khác biệt của Bill Gates, ông không giống những nhà kinh doanh nhút nhát, khi không chắc chắn thì không dám chấp nhận thách thức. Đương nhiên, đây gần như là một biện pháp mà Microsoft thường sử dụng. Một điểm khác biệt nữa của Bill Gates là sau khi ký thỏa thuận với IBM, ông tập trung hết sức lực vào lập trình. Bởi ông biết rằng, lần hợp tác này không giống những lần trước, khai thác một hệ thống như vậy trong một thời gian quy định là một nhiệm vụ không thể hoàn thành. Thế là, ông tìm đến một công ty đã có sẵn hệ điều hành, mua lại hệ điều hành đó với giá 50.000 đô la Mỹ. Sau đó, ông bắt đầu sửa, phải mất 6 tuần để hoàn thành công việc, đó chính là hệ điều hành MS-Dos. Trên cơ sở hệ điều hành MS-Dos, sau này Microsoft lại khai thác ra hệ điều hành Windows, cho đến giờ, hệ điều hành của Microsoft đã chiếm 90% thị trường máy tính cá nhân trên toàn thế giới. Từ đó có thể thấy, Bill Gates không phải là người đầu tiên làm phần mềm, nhưng ông có khả
  18. năng biết được nhu cầu của khách hàng, cũng tức là ông nhìn ra được thị trường phần mềm rộng lớn trong tương lai. Bởi vậy ông đã đi con đường riêng, đóng vai trò là người trung gian, kết nối hai bên trong thị trường, giành lấy cơ hội vốn không phải thuộc về mình, khiến bản thân trở thành người chiến thắng chung cuộc. Xét về chiến lược của Bill Gates khi tiến vào thị trường Trung Quốc, lối suy nghĩ trái ngược của Bill Gates đã được thể hiện rất rõ nét, đồng thời còn mang lại cho ông một thị trường rộng lớn hơn. Để nuôi dưỡng thị trường Trung Quốc, Bill Gates đã bỏ qua tất cả các sách lược trước đây, khi đó thậm chí có người còn nói Bill Gates ủng hộ bản copy trái phép, bởi vì kết quả kinh doanh của họ ở Trung Quốc rất kém, lợi nhuận có được đều từ các cuộc đánh hàng giả mà có được. Đối với các doanh nghiệp quan trọng hay các đối tác hợp tác quan trọng, Microsoft đều áp dụng phương pháp bán hàng gửi thư luật sư, họ luôn đánh vào các doanh nghiệp nổi tiếng trong nước, bởi vì hệ thống điều hành của Microsoft và các phần mềm ứng dụng của Microsoft đều là những phần mềm mà người Trung Quốc đã quen sử dụng, phí bản quyền và phí bồi thường rất khả quan. Để đánh bại bản copy bất hợp pháp, Bill Gates đã đưa ra hệ điều hành Windows XP, các bản copy bất hợp pháp sau khi upgrade sẽ xuất hiện hiện tượng bị lỗi, hoặc chỉ dùng được trong 30 ngày. Người dùng chỉ còn cách là bỏ tiền ra mua bản chính với giá cao. Tuy nhiên, cách làm của Bill Gates cũng làm dấy lên làn sóng phản đối của người Trung Quốc, họ chỉ trích cách làm của Microsoft là bá đạo, vô lí. Bill Gates không thể không nhìn nhận lại phương pháp của mình, cuối cùng, sau nhiều lần đến thăm Trung Quốc, Bill Gates đã dần dần thay đổi phương pháp của mình. Hiện nay, Bill Gates đã có những cách riêng để đánh bản copy trái phép. Ông chuyển sang kiện các doanh nghiệp sử dụng bản copy trái phép, kiện lên Cục bản quyền ở địa phương và cấp quốc gia, yêu cầu ngừng sử dụng bản copy trái phép, đồng thời bày tỏ, nếu người sử dụng chấp nhận dùng bản chính thì sẽ có ưu đãi về giá, mức độ ưu đãi đạt từ 30%- 50%. Đây là chiến lược cực kỳ sáng suốt trên thị trường “mượn gà đẻ trứng” vừa có thể làm giảm bớt sự không hài lòng của người tiêu dùng Trung Quốc đối với Microsoft, vừa đạt được mục đích đánh hàng copy trái phép của Microsoft, có thể nói là một mũi tên trúng hai mục đích. Microsoft còn áp dụng sách lược bảo hộ bản quyền sản phẩm tri thức của WTO vào việc phòng chống bản sao trái phép, nhiều lần kết hợp với các bộ ngành liên quan của Trung Quốc để rà soát thị trường đĩa sao trái phép, đồng thời đóng cửa các dây chuyền sao in đĩa lậu. Nhưng do giá của Microsoft quá cao, dù đã chỉnh đốn lại thị trường song những động thái của Microsoft đối với thị trường đĩa sao trái phép chỉ có tác dụng tạm thời, nếu Microsoft không giải quyết vấn đề từ góc độ thực tế (giá cao) thì ảnh hưởng lâu dài đối với thị trường Trung Quốc là không lớn. 7. KHÔNG NGỪNG THEO ĐUỔI CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Muốn sản phẩm của mình trở nên nổi bật thì phải chú trọng đến vấn đề chất lượng. Chất lượng tốt cũng có nghĩa là một thái độ chịu trách nhiệm trước khách hàng, chỉ khi khiến cho khách hàng thực sự cảm thấy sản phẩm có chất lượng tốt thì mới có thể mở rộng thị trường hơn nữa, “không có tốt nhất, chỉ có tốt hơn” là lời hứa của Microsoft đối với chất lượng sản phẩm. Ở Microsoft, công việc theo đuổi chất lượng sản phẩm chưa bao giờ dừng lại. Sau khi sản phẩm được ra đời, công việc cải tiến và thay mới sản phẩm lại bắt đầu. Tất cả những việc mà
  19. Microsoft làm đều là để nâng cao chất lượng của sản phẩm, mang lại tiện ích hơn nữa cho người sử dụng. Bill Gates bôn ba trên thị trường nhiều năm, ông vô cùng coi trọng hai yếu tố chất lượng và thị trường. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp gắn liền với khách hàng và thị trường. Nhưng làm thế nào mới giành được khách hàng, giành được nhiều thị phần hơn? Chính là nhờ vào những sản phẩm có chất lượng ưu việt của doanh nghiệp. Đó là chìa khóa để mở cánh cửa thị trường, không những có thể khiến doanh nghiệp nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường mà còn đem lại tiếng tốt cho doanh nghiệp, từ đó hình thành nên thương hiệu. Ở nhiều doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, bắt đầu được thành lập đã dựa vào một kỹ thuật nào đó để duy trì, vài năm rồi mười mấy năm trôi qua, kỹ thuật đó vẫn không thay đổi, còn doanh nghiệp cũng đến lúc phải đóng cửa. Ở Microsoft thì khác, sau khi một kỹ thuật nào đó giành được vị trí dẫn đầu thì cũng là lúc bắt đầu chuẩn bị cho công việc khai thác kỹ thuật mới tiếp sau đó. Bởi vậy, nhân viên của Microsoft không bao giờ hài lòng với hiện tại, thành tích ngày hôm nay chỉ có thể đại diện cho quá khứ, mọi thứ đều cần phải bắt đầu lại. Đó là đặc trưng của Microsoft, tốc độ đổi mới ở Microsoft nhanh hơn ở bất kỳ doanh nghiệp nào. Trong ngành phần mềm máy tính, chất lượng của phần mềm quyết định ai sẽ là người đứng đầu. Có người nói Microsoft lũng đoạn thị trường phần mềm hệ thống, câu nói này không hoàn toàn đúng. Chỉ có thể nói rằng, Microsoft có được ưu thế tuyệt đối trên thị trường phần mềm hệ thống. Nói đến phần mềm hệ thống của Microsoft, thực ra Microsoft cũng đã phải đi qua những con đường quanh co, phần mềm hệ thống được như ngày hôm nay, đó chính là thành quả nỗ lực của toàn bộ nhân viên Microsoft. Không chỉ ở phần mềm hệ thống, các phần mềm khác cũng như vậy. Ở Trung Quốc, năm 2005, phần mềm Office của Microsoft chiếm 71.01% trên thị trường. Tuy nhiên, đôi khi để sản phẩm của mình được hoàn hảo hơn, Microsoft không thể không kéo dài thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Năm 2000, trong khi thử nghiệm sản phẩm phần mềm quản lí khách hàng đang dự định cho ra mắt thì xuất hiện một vấn đề nhỏ, tiến hành phân tích sản phẩm thì nhận thấy, người dùng có thể sẽ không được thuận tiện khi sử dụng. Khi nhân viên báo cáo vấn đề lên trên, tầng lớp lãnh đạo của Microsoft ngay lập tức tuyên bố kéo dài thời gian đưa sản phẩm ra thị trường, để phòng khai thác lập tức bắt tay vào giải quyết vấn đề. Khách hàng của Microsoft đều cảm thấy rõ, Microsoft dường như luôn ở bên họ. Sau khi nhân viên Microsoft phát hiện hệ điều hành hoặc phần mềm ứng dụng có thiếu sót thì sẽ lập tức công bố, đồng thời đưa những phần mềm sửa lỗi lên mạng chính thức của Microsoft để người sử dụng có thể download về, cài đặt sửa lỗi. Trong quá trình sử dụng phần mềm của Microsoft, nếu có vấn đề gì thì người sử dụng có thể phản hồi cho Microsoft, những vấn đề đó sẽ được giải quyết một cách tốt đẹp. Nhờ chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt, Microsoft đã chiếm được nhiều khách hàng. Ngược lại với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của Microsoft, một số doanh nghiệp khác lại dần dần đi xuống, điều này cũng chứng minh điểm khác biệt giữa Microsoft với những doanh nghiệp khác. Trong lịch sử phát triển của mình, Microsoft luôn luôn theo đuổi chất lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao cùng với sự phát triển của Microsoft. 8. TẬN DỤNG CÁC MỐI QUAN HỆ ĐỂ TẠO RA HUYỀN THOẠI Các mối quan hệ được hình thành từ các hoạt động xã giao, bất cứ ai dù làm ở ngành nào
  20. cũng đều cần những mối quan hệ nhất định. Bill Gates đã khéo léo tận dụng các mối quan hệ của mình để tạo ra một huyền thoại, tạo ra đế quốc phần mềm. Ban đầu, khi công ty mới được thành lập, Bill Gates và người bạn đồng sáng lập công ty ngoài việc chuyên tâm khai thác ngôn ngữ lập trình Basic còn thiết kế một số phần mềm ứng dụng, đợi sau khi phần mềm được khai thác thành công mới tìm thị trường, tìm cách bán phần mềm. Trong quá trình này, Bill Gates còn tận dụng các mối quan hệ để tạo ra một huyền thoại, trong quá trình phát triển sau này, ông luôn luôn coi trọng các mối quan hệ. Thực ra, việc Bill Gates và đồng nghiệp của mình có thể khai thác được một phần mềm ứng dụng là nhờ vào việc Bill Gates biết cách quan sát cuộc sống một cách chi tiết. Một hôm, Bill Gates đi qua một ngã tư ở thành phố Seattle, khi ông chuẩn bị đi qua đường thì có đèn đỏ, ông phải đứng lại đợi. Ông quan sát thấy hệ thống đèn giao thông thiết kế chưa được hợp lí, khoảng cách giữa hai đèn xanh và đỏ luôn được cố định, mà không căn cứ vào lưu lượng xe để thay đổi. Thế là, ông nghĩ rằng mình nên làm gì đó với hệ thống đèn giao thông. Khi ông đem suy nghĩ của mình nói với người bạn đồng nghiệp, hai người ngay lập tức có chung ý kiến. Khi bắt đầu công việc khai thác phần mềm, họ vấp phải một loạt những khó khăn. Đầu tiên, họ cần một bộ vi xử lí, mà giá của nó lại quá cao, họ vay mượn khắp nơi, cuối cùng cũng mua được một bộ vi xử lí của Intel. Về các phần cứng khác, Bill Gates và người bạn của mình không thông thạo, họ đành phải nhờ cậy người khác. Nguyên lí thiết kế của họ là thông qua ống nhựa cảm ứng đặt trên đường để ước tính lưu lượng xe tham gia giao thông, từ đó điều chỉnh một cách hợp lí thời gian giữa hai đèn xanh đỏ. Sau khi phần mềm được khai thác thành công, kết hợp với phần cứng, qua vài lần thử nghiệm, họ lại tiến hành thêm vài cải tiến nhỏ, sau cùng đã cho ra đời một sản phẩm hoàn thiện. Khi mang sản phẩm của mình đến Sở giao thông, họ đã vấp phải khó khăn thực sự. Người chịu trách nhiệm ở Sở giao thông Seattle khi nhìn thấy hai thanh niên còn quá trẻ mang tới cái gọi là “hệ thống quản lí giao thông”, ông cảm thấy nghi ngờ, cho rằng họ chỉ là những người trẻ không hiểu biết, những thứ họ làm ra không thể sử dụng được. Đúng vào lúc này, Bill Gates nhớ đến mối quan hệ của mình, nếu thông qua sự giới thiệu của người quen thì có thể sẽ thu được kết quả không ngờ. Do tính chất ngành nghề, bố mẹ Bill Gates đều thuộc vào tầng lớp thượng lưu trong xã hội, có mối quan hệ rộng. Thế là, nhờ bố mẹ, Bill Gates đã bán được thành công sản phẩm của mình. Thành công ở Seattle khiến hai chàng trai nhìn thấy được thành công trong tương lai, họ bắt đầu tuyên truyền và đem bán sản phẩm của mình ở các thành phố khác trên nước Mỹ. Vài năm sau, cũng nhờ vào mối quan hệ, Bill Gates đã tìm được con đường tiêu thụ các sản phẩm của mình, lần thì nhờ vào mối quan hệ của anh họ, lần thì dựa vào chính mối quan hệ của mình, Bill Gates nhanh chóng hoàn thành được mấy đơn hàng. Cùng với sự thành công của các đơn hàng đó, Bill Gates cũng quen biết thêm được rất nhiều quan chức và bạn bè trong giới kinh doanh, điều này có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển về sau của Bill Gates. Không lâu sau, công ty của Bill Gates đổi tên thành Microsoft, tiếp tục khai thác phần mềm. Điều khiến Bill Gates không ngờ đến là chính lúc này, Microsoft đã nhờ vào IBM để nhanh chóng trở nên nổi tiếng. IBM khi đó đang ở vào đỉnh cao của sự phát triển. Cuối những năm 70 của thế kỷ 20, máy tính cá nhân phát triển rất mạnh, IBM không muốn bỏ qua thị trường máy tính cá nhân nên quyết định tiến quân vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, IBM không thể cùng lúc khai thác hai mảng phần cứng và phần mềm, cần phải tìm kiếm một công ty phần mềm, cùng hợp tác khai thác máy tính cá nhân. IBM nghĩ đến Microsoft, đối với Bill Gates, đây quả là cơ hội hiếm có. Sau này, Bill Gates hồi tưởng lại: “Lần hợp tác với IBM, chúng tôi đã nắm được kỹ thuật cao”. Sau đó, IBM yêu cầu Microsoft cung cấp một bản báo cáo khả thi. Không lâu sau, Bill Gates và đồng sự của mình mang bản báo cáo đến công ty IBM, do đây là lần đầu tiên hợp tác với một đối tác lớn như vậy nên Bill Gate có phần hơi căng thẳng, tuy nhiên, Bill Gates vẫn giành được
  21. sự tín nhiệm của IBM nhờ sự thể hiện xuất sắc của mình. IBM quyết định chính thức hợp tác với Microsoft. Thực ra, còn có một nguyên nhân khác khiến Bill Gates có thể lãnh đạo Microsoft phát triển thuận lợi dựa vào ưu thế của IBM, đó chính là mối quan hệ của Bill Gates. Mẹ của Bill Gates ở trong Hội đồng quản trị của IBM, điều này cũng có vai trò quan trọng trong thành công của Bill Gates. Microsoft có ưu thế về kỹ thuật, thêm vào đó là sự điều hành từ bên trong của mẹ Bill Gates, cộng với sự thể hiện xuất sắc của bản thân Bill Gates, tất cả những điều đó đã thúc đẩy sự hợp tác giữa IBM và Microsoft. Chính lần hợp tác này đã giúp Microsoft nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Cùng với sự bùng nổ của máy tính cá nhân của IBM, Microsoft cũng nhanh chóng nổi tiếng, hệ điều hành của Microsoft trở thành tiêu chuẩn trong ngành phần mềm máy tính. Rất nhanh, Bill Gates cũng thành công trong việc bán phần mềm của mình cho IBM. Lần hợp tác này, sản phẩm của Microsoft không những có được sự quảng cáo tốt mà còn tăng cường được giá trị của thương hiệu Microsoft, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển sau này của Microsoft. Sau khi các sản phẩm của Microsoft chiếm lĩnh toàn bộ thị trường Mỹ, Bill Gates chưa hài lòng và vẫn tích cực khai thác thị trường nước ngoài. Thị trường châu Âu và châu Á là trọng điểm của Microsoft; ở thị trường châu Âu, để có thể đáp ứng được nhu cầu thực sự của khách hàng, Microsoft xây dựng ở đây một trung tâm khai thác độc lập, người phụ trách trung tâm này là Henry người Pháp, ông từng học ở Mỹ, sau này về nước làm việc trong ngành máy tính. Henry là người bạn Bill Gates quen khi học đại học, cũng là một người say mê máy tính, do Henry thông thạo thị trường máy tính châu Âu nên sau này Bill Gates mời ông tham gia Microsoft, phụ trách thị trường châu Âu. Còn ở Trung Quốc thuộc châu Á, Microsoft hợp tác với chính phủ Trung Quốc, cũng có được thị trường Trung Quốc một cách khá nhanh chóng. Những thứ mà Microsoft có được là nhờ vào sự tận dụng khéo léo và triệt để các mối quan hệ. 9. ĐIỀU TRA KỸ LƯỠNG, TÌM HIỂU NHU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm, ở một mức độ nào đó cũng là cung cấp dịch vụ. Bởi vậy, cần phải chăm chú lắng nghe ý kiến của khách hàng, tìm hiểu nhu cầu thực sự của khách hàng, phải khiến cho khách hàng cảm thấy doanh nghiệp luôn quan tâm theo sát họ, có thế mới giành được nhiều khách hàng. Bill Gates cho rằng, phần mềm là một loại sản phẩm, để tìm đường tiêu thụ cho loại sản phẩm này thì phải khiến cho sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Bởi vậy, trên con đường phát triển của Microsoft, Bill Gates rất coi trọng việc tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngoài những khách hàng trung thành của Microsoft, Bill Gates còn quan tâm đến tầng lớp thanh niên, bởi vì tương lai thuộc về thế giới của họ, muốn sản phẩm của mình phù hợp với nhu cầu của khách hàng thì những ý kiến của tầng lớp thanh niên cũng cần được coi trọng. Những thanh niên này có trí tưởng tượng phong phú, một số sáng tạo của Microsoft cũng được xuất phát từ đó. Để nắm chắc nhu cầu của thị trường tương lai, việc làm của Microsoft không phải là thừa. Microsoft đã làm trong ngành phần mềm mấy chục năm, trong khoảng thời gian đó, Microsoft đã nắm được quy luật của thị trường phần mềm, muốn tìm được đường tiêu thụ cho sản phẩm của mình thì phải điều tra kỹ lưỡng, liên hệ rộng rãi với các khách hàng, tìm hiểu nhu cầu của họ, từ đó khai thác thành công các sản phẩm mà khách hàng cần. Để tìm hiểu nhu cầu của khách hàng tốt hơn, Microsoft từng tổ chức một nhóm điều tra. Khi bản thử nghiệm của sản phẩm vừa đưa ra thị trường, Microsoft tổ chức một buổi quảng cáo sản phẩm, mời rất
  22. nhiều khách hàng đến tham gia, các khách hàng không ngừng đưa ra câu hỏi, những kỹ sư phần mềm của Microsoft không những trả lời từng câu hỏi của họ mà còn giới thiệu cho họ một cách chi tiết các thông tin về sản phẩm mới. Đồng thời, sau khi trả lời các câu hỏi của khách hàng, các nhân viên khai thác thông minh của Microsoft còn hỏi lại các khách hàng: “Anh thích dùng phần mềm như thế nào? Theo anh, sản phẩm của chúng tôi còn mặt nào cần phải cải tiến?”. Trong quá trình hỏi đáp này, không những các khách hàng của Microsoft có thể có được những hiểu biết sâu về sản phẩm của Microsoft mà Microsoft cũng có thể tìm hiểu được nhu cầu thực sự của các khách hàng. Khi buổi họp sắp kết thúc, nhân viên Microsoft đề nghị các khách hàng đưa ra nhận xét tổng hợp cho bản thử nghiệm của Microsoft, đưa cho họ 3 đáp án để lựa chọn là xuất sắc, tốt, bình thường. Đồng thời, Microsoft còn hoan nghênh các khách hàng đóng góp ý kiến cho sản phẩm của mình, nếu ý kiến đóng góp của khách hàng nào được sử dụng thì Microsoft sẽ có món quà nhỏ tặng cho vị khách hàng đó. Hơn nữa, những ý kiến của khách hàng sẽ được thể hiện trong sản phẩm. Cuối cùng, kết quả đánh giá tổng hợp của khách hàng sẽ quyết định sản phẩm mới liệu có được đưa ra thị trường hay không, nếu mức độ hài lòng của khách hàng đạt tỉ lệ cao thì sản phẩm sẽ nhanh chóng được đưa ra thị trường. Nếu mức độ hài lòng của khách hàng đạt tỉ lệ thấp thì chứng tỏ sản phẩm mới này tồn tại những vấn đề nghiêm trọng, dù nhu cầu thị trường đang lên cao nhưng Microsoft cũng sẽ không đưa sản phẩm đó ra thị trường. Bill Gates biết rằng, dù có đưa sản phẩm ra thị trường thì chẳng mấy chốc sẽ bị thị trường đào thải, kẻ thích nghi được sẽ tồn tại. Quy luật của tự nhiên cũng được thể hiện rất rõ trong ngành phần mềm máy tính. Về phương diện phần mềm Office, Microsoft cũng áp dụng phương pháp tương tự, đánh bại công ty Lotus. Về phương diện phần mềm ứng dụng, công ty Lotus vào thị trường sớm hơn Microsoft, như vậy, Lotus giành được cơ hội chiếm lĩnh thị trường. Ban đầu do thiếu kinh nghiệm, phần mềm Office của Microsoft không dễ sử dụng, một nhiệm vụ đơn giản cũng cần phải thực hiện mấy thao tác, khiến người dùng cảm thấy rất phiền phức, có khách hàng thậm chí còn tuyên bố từ nay về sau không bao giờ sử dụng sản phẩm của Microsoft. Rất nhanh, sản phẩm Office của Microsoft ra thị trường chưa lâu đã bị thị trường bao vây tiêu diệt, biết được thông tin này, Bill Gates ngay lập tức đích thân chỉ đạo công việc. Đầu tiên, ông tổ chức một nhóm điều tra thị trường, tiến hành điều tra các vấn đề còn tồn tại của Office, nhóm điều tra này phải điều tra, phỏng vấn trên thị trường phần mềm, có khi phải đến tận nhà hoặc cơ quan của khách hàng để phỏng vấn, lắng nghe ý kiến của khách hàng một cách kỹ lưỡng. Sau đó, ông kết hợp phòng thị trường và phòng khai thác một cách có hiệu quả, cuối cùng Bill Gates đã thay đổi phương pháp làm việc ở phòng thử nghiệm sản phẩm mới, trước đây phòng này chỉ có những nhân viên kỹ thuật, họ chỉ thạo việc khai thác sản phẩm chứ không thạo về tính ứng dụng và thao tác, bởi vậy, nhóm thử nghiệm sản phẩm còn có thêm một số nhân viên của Microsoft, những người chuyên “bới lông tìm vết” các sản phẩm mới. Cùng với sự điều tra kỹ lưỡng sản phẩm, Microsoft cũng hiểu hơn về những khiếm khuyết tồn tại của sản phẩm, cộng với sự điều chỉnh từ phòng thử nghiệm sản phẩm, nguyên bản phần mềm Office đã được cải tiến. Phần mềm Office mới không những giành được thành công mà còn có được tính năng mạnh, thao tác đơn giản, người dùng chỉ cần click nhẹ là có thể thực hiện được thao tác cần thiết. Không lâu sau, Microsoft mời một công ty điều tra làm một cuộc điều tra thị trường, phát hiện mức độ hài lòng đối với phần mềm Office đã tăng lên đáng kể. Đồng thời, số lượng tiêu thụ phần mềm Office cũng tăng lên gấp đôi so với lúc đầu, đó chính là lời giải thích tốt nhất. Hiện nay, sự cạnh tranh của sản phẩm chính là sự cạnh tranh về chất lượng, chỉ có chất lượng tốt thì sản phẩm mới có thể đứng vững trên thị trường. Sản phẩm tốt, không những tính năng phải ổn định, mà điều quan trọng nhất là sản phẩm phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Trên thị trường phần mềm hiện nay, các sản phẩm phần mềm đầy rẫy, nhưng sản phẩm của Microsoft vẫn độc chiếm vị trí dẫn đầu, điều tra thị trường, tìm hiểu nhu cầu thực sự của
  23. khách hàng chính là tuyệt chiêu đưa đến thắng lợi của Microsoft.
  24. CHƯƠNG VII: LÀM NGƯỜI DẪN ĐẦU, KHÔNG LÀM NGƯỜI CHẠY THEO ột doanh nghiệp muốn dẫn đầu trong một ngành nghề nào đó thì phải coi trọng sự cạnh M tranh, thông qua cạnh tranh bỏ xa các doanh nghiệp khác lại phía sau, làm người đi đầu trong ngành đó. 1. KHÔNG THỂ THIẾU Ý THỨC VỀ NGUY CƠ Con người nếu không biết lo xa thì không thể tiến xa được, những nhà lãnh đạo doanh nghiệp đều hiểu rất rõ điều này. Là doanh nghiệp dẫn đầu trong ngành phần mềm, Bill Gates luôn tỏ ra rất thận trọng, luôn phòng ngừa các đối thủ của Microsoft. Trong suốt quá trình phát triển của mình, Microsoft luôn giữ khoảng cách với các công ty phần mềm máy tính khác. Trong mắt Bill Gates, mỗi công ty phần mềm đều muốn thay thế Microsoft, chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong ngành phần mềm. Hoặc có lẽ vì cây to dễ gặp nguy hiểm trước gió lớn, bởi vậy Bill Gates luôn rất coi trọng các đối thủ cạnh tranh, ý thức về nguy cơ của Bill Gates rất mạnh mẽ. Các đối tác của Bill Gates cũng hiểu rõ điều đó. Khi các đối tác tiến hành đàm phán với Microsoft, Bill Gates luôn xem đi xem lại nhiều lần thỏa thuận hợp tác, xem kỹ từng chi tiết để tránh bị thiệt trên từng câu chữ. Đồng thời, Bill Gates cũng đưa ra những yêu cầu khiến đối tác không thể chấp nhận, để đạt được mục đích, Bill Gates cũng tìm mọi cách để thuyết phục họ. Đối mặt với các đối thủ cạnh tranh, Bill Gates đôi khi cũng sử dụng “tiểu xảo”. Khi có một công ty nào đó mới đưa ra sản phẩm mới, Bill Gates cũng công bố rằng mình đã hoàn thành việc khai thác một sản phẩm nào đó. Khi khách hàng nghe nói Microsoft sẽ đưa ra một sản phẩm cùng loại, thì tạm thời dừng việc đặt mua và tiếp tục nghe ngóng. Bởi vậy, việc này khiến đối thủ cạnh tranh rơi vào thế bị động. Ngoài ra, khi các công ty khác có các phát minh hoặc sáng kiến mới, nếu Bill Gates cảm thấy có tiền đồ, Microsoft sẽ không tiếc tiền để mua lại, đóng gói và dán thương hiệu của Microsoft rồi đưa ra thị trường. Khi đối tác của Microsoft lơ là cảnh giác, tiết lộ với Microsoft chương trình mới hoặc sản phẩm mới sắp đưa ra thị trường thì họ sẽ thua Microsoft trên thỏa thuận hợp tác. Bởi vậy, các đối tác của Microsoft luôn cảnh giác với Microsoft, đôi khi cũng phải chuẩn bị sẵn “kế hoạch B”. Tuy các công ty này không hài lòng với hành vi của Microsoft, có công ty còn kiện Microsoft nhưng Microsoft có một đoàn luật sư chuyên phụ trách về mặt này, đối với những vụ kiện như vậy, Microsoft đa phần đều giành phần thắng. Sau này, dù có xảy ra những chuyện như vậy cũng ít có công ty tiến hành kiện Microsoft. Thứ nhất là do không nắm chắc được phần thắng, thứ hai là những công ty này không thể tách khỏi Microsoft, bởi vì những phần mềm mà họ khai thác ra đều phải dựa vào hệ điều hành của Microsoft. Sở dĩ Microsoft đối xử như vậy với các đối tác và đối thủ cạnh tranh của mình là vì ý thức về nguy cơ của Bill Gates rất mạnh mẽ, ông hiểu rõ rằng, Microsoft không đánh bại được người khác thì người khác sẽ đánh bại Microsoft. Bởi vậy, Bill Gates luôn cảnh báo nhân viên của mình rằng, phải chú ý đến những đối thủ quanh mình, phải nắm bắt được nhất cử nhất động của đối thủ, suy nghĩ về động cơ hành động của họ. Ví dụ dưới đây có thể cho chúng ta thấy rõ được ý thức về nguy cơ của Microsoft mạnh mẽ như thế nào. Hệ điều hành Dos từng được ưa chuộng một thời, khi đó chính là “bùa hộ mệnh”
  25. của Microsoft, tuy nhiên, chỉ một chút nữa đã bị công ty khác cướp mất. Code nguyên bản của hệ điều hành Dos là do một công ty phần mềm nhỏ khai thác ra, đó là công ty Patterson. Khi đó tên của hệ điều hành Dos là QDos, sau này Microsoft đổi thành Dos. Microsoft cho rằng hệ điều hành này rất có tương lai, liền mua lại code nguyên bản của công ty Patterson. Để đền đáp công lao của công ty Patterson, Microsoft cho công ty Patterson quyền sử dụng miễn phí Dos. Sau này, do tình hình kinh doanh của Patterson không được tốt, phải đối mặt với nguy cơ đóng cửa. Khi đó, một công ty nước ngoài muốn mua lại Patterson, điều này cũng có nghĩa là công ty này có thể có được quyền sử dụng miễn phí Dos. Sau khi Microsoft biết được thông tin này, cảm thấy vô cùng lo lắng, lập tức phái người đi đàm phán, sau vài lần đàm phán, cuối cùng Microsoft cũng giành lại được quyền với một số tiền lớn. Microsoft có thể nổi trội giữa bao nhiêu đối thủ cạnh tranh chính là nhờ vào đội ngũ các nhân viên kỹ thuật xuất sắc của mình. Có một lần, Bill Gates ngồi trò chuyện với một số kỹ thuật viên cốt cán của Microsoft, nói đến sự phát triển của Microsoft, có người nói: “Có sự lãnh đạo của Bill Gates, Microsoft dường như có được sự dẫn dắt của Chúa, không ngừng phát triển tiến lên”. Đối mặt với thành công, Bill Gates chưa bao giờ tự kiêu về bản thân, còn khi thất bại, Bill Gates cho rằng thất bại chính là tiến bộ, là cơ hội. Ở Microsoft, để có được sự quản lí trong nội bộ công ty tốt hơn đối thủ, Bill Gates cũng áp dụng các phương pháp quản lí rất hiệu quả. Về phương diện quản lí đội ngũ tầng lớp, Bill Gates đã đơn giản hóa tầng lớp, vừa tiết kiệm được nhân lực, vừa tăng cường tốc độ truyền đạt thông tin. Ngoài ra, để đốc thúc các nhóm công tác làm việc có hiệu suất cao, Microsoft áp dụng cơ chế đào thải người đứng cuối, những nhóm làm việc có tiến độ chậm sẽ bị nghỉ việc. Bill Gates từng nói đùa rằng: “Tôi phải cảm ơn những đối thủ cạnh tranh của mình, chính họ đã đem lại cho tôi rất nhiều linh cảm trong quản lí Microsoft”. Chính ý thức về nguy cơ đến từ đối thủ, Bill Gates không ngừng thức tỉnh bản thân và những nhân viên của mình. Những nguy cơ đến từ bên ngoài Microsoft cũng rất đáng lo, tuy nhiên, sự tự mãn trong nội bộ Microsoft cũng không thể coi nhẹ. Bình thường, Bill Gates cũng thường cảnh tỉnh họ không được cho mình là “số một” mà tự cao tự đại mù quáng, luôn luôn phải giữ cho đầu óc được tỉnh táo, bình tĩnh. Sau khi Microsoft lên sàn, rất nhiều cổ đông của Microsoft trong chớp mắt trở nên giàu có. Bãi đỗ xe của Microsoft nhanh chóng đỗ đầy xe con, trong đó có không ít xe là của những hãng xe nổi tiếng trên thế giới. Khi Bill Gates nhìn bãi đỗ xe, đột nhiên ông có một cảm giác bất an. Sau khi Microsoft lên sàn chứng khoán, sự tập trung của nhiều người bắt đầu bị phân tán, rất nhiều cổ đông của Microsoft thường xuyên dành thời gian quan tâm đến tình hình cổ phiếu của Microsoft trên thị trường, trong số các cổ đông của Microsoft, có rất nhiều người là các kỹ thuật viên cốt cán, nếu họ bỏ quên công việc chuyên môn để nghiên cứu cổ phiếu thì Microsoft sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị rớt lại phía sau. Nhất là vào lúc này, cổ phiếu của Microsoft đang lên cơn sốt trên thị trường, giá cổ phiếu cũng dẫn đầu các công ty khác, điều này càng khiến họ nảy sinh sự kiêu ngạo, tự đắc. Bill Gates lên tiếng cảnh báo với nhân viên của mình rằng, nếu muốn cổ phiếu không ngừng tăng cao thì phải nỗ lực làm việc hơn nữa, tình hình kinh doanh của Microsoft có tốt thì cổ phiếu mới có thể tăng giá. Chính con mắt nhìn xa trông rộng của Bill Gates, sự tỉnh táo trước hào quang của chiến thắng đã khiến Bill Gates loại bỏ thành công các nguy cơ đến từ trong và ngoài Microsoft, khiến Microsoft không ngừng đi đầu trong ngành phần mềm. 2. NGẮM CHUẨN THỊ TRƯỜNG TOÀN CẦU Sau khi được khai thác thành công, sản phẩm mới của Microsoft sẽ được sản xuất theo nhiều bản với nhiều ngôn ngữ khác nhau, mục đích của Microsoft chính là phổ cập sản phẩm của mình đến khắp mọi nơi trên thế giới. Microsoft ngắm chuẩn thị trường toàn cầu, có thể nhìn
  26. thấy được con mắt hơn người của Microsoft. Microsoft đã giành được ưu thế trên thị trường phần mềm toàn cầu nhờ vào hai phương pháp, một là “biên độ” sản phẩm, hai là “mức độ” sản phẩm. Về mặt “biên độ”, Microsoft thông qua sự đa dạng các sản phẩm, thông qua các sản phẩm đa chức năng để tranh giành thị trường. Về “mức độ”, Microsoft không ngừng khai thác các sản phẩm mới, các sản phẩm này ngày càng có tính ứng dụng cao, hấp dẫn khách hàng. Với hai phương pháp này, sản phẩm của Microsoft đã nhanh chóng lan rộng khắp thế giới. Bill Gates thường nói với nhân viên của mình rằng, muốn đứng vững trên thị trường toàn cầu, Microsoft luôn phải đi trước các công ty khác. Khi bạn dừng lại, nhìn lại quãng thời gian phát triển trong quá khứ, bạn sẽ phát hiện Microsoft đã tiến bộ hơn nhiều. Bill Gates dám đánh cược lớn hơn đối với tương lai của Microsoft, đó cũng là một nguyên nhân khiến Microsoft có thể không ngừng tiến bộ. Không nên chỉ nhìn vào những thứ có trước mắt mà phải nghĩ nhiều hơn nữa đến tương lai. Dos là một ví dụ điển hình. Từ khi Dos ra đời, phần mềm hệ thống này đã tạo ra cơn sốt trên thị trường, nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường phần mềm hệ thống toàn cầu. Có người hỏi, tại sao Microsoft không tiếp tục nâng cấp Dos mà lại bắt đầu khai thác hệ điều hành Windows mới? Nguyên nhân là vì sự xuất hiện của phần mềm văn phòng đã đặt dấu chấm hết cho Dos. Sự xuất hiện của phần mềm văn phòng Word, Excel đã thúc đẩy Microsoft phải thay đổi phần mềm hệ thống. Để triển khai một thế tiến công mới, Microsoft bắt đầu một cuộc hành trình dài của Windows. Mặc dù khi hệ điều hành Windows mới được đưa ra, thị trường có vẻ không đón nhận lắm, nhưng sau vài lần cải tiến, sản phẩm của Microsoft đã thể hiện được sức hấp dẫn mạnh mẽ của nó. Ví dụ: khi Microsoft đưa ra sản phẩm Windows 1.0 và Windows 2.0, hai bản này có kết cấu đơn giản, chức năng đơn nhất, rất khó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, cũng không khác mấy so với hệ điều hành Netware của công ty Novell. Sau đó, Microsoft đưa thêm vào hệ điều hành Windows phần mềm xử lí chữ và phần mềm bảng điện tử, hệ điều hành Windows của Microsoft bắt đầu thể hiện được ưu thế của mình. Sau này, Microsoft tiếp tục đưa vào hệ điều hành Windows các phần mềm tổ hợp văn phòng, phần mềm kế toán và các phần mềm đa phương tiện khác. Từ đó, hệ điều hành Windows của Microsoft không còn đối thủ cạnh tranh. Cùng với thời gian, sản phẩm của Microsoft không ngừng đổi mới chức năng, đó chính là bí quyết chiến thắng của sản phẩm Microsoft. Ngoài ra, sản phẩm của Microsoft thao tác đơn giản, người dùng cũng dễ dàng học cách sử dụng, bởi vậy, trong ngành phần mềm máy tính của Mỹ, sản phẩm của Microsoft nhận được rất nhiều lời nhận xét, bình luận tốt. Những sản phẩm của Microsoft không những tính năng được nâng cao mà còn giành được thị trường đầu tiên. Hệ điều hành Windows của Microsoft là một sản phẩm ưu việt, đem lại cho Microsoft nhiều lợi nhuận. Để khai thác Windows 1.0, Microsoft đã tiêu tốn thời gian cả một năm của hơn 50 nhân viên khai thác phần mềm, đến cuối năm 1985, Microsoft chính thức công bố giá bán là 100 đô la Mỹ. Windows 1.0 được khai thác dựa trên MS - Dos 2.0, bộ nhớ trong 256K, độ phân giải màu là 256. Windows 1.0 có giao diện hình hóa, hỗ trợ thao tác bằng chuột và thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng một lúc. Giao diện cơ bản nhất trong Windows 1.0 là cửa sổ. Ngoài ra, Windows 1.0 còn bao gồm một số chương trình ứng dụng mà hiện nay vẫn còn được sử dụng trong hệ điều hành Windows, ví dụ như máy tính, đồng hồ, lịch Không lâu sau, Microsoft lại tiến hành cải tiến Windows 1.0, đưa ra Windows 2.0. Có thể nói, sự xuất hiện của bộ vi xử lí Intel 286 đã đẩy nhanh sự xuất hiện của Windows 2.0 trên thị trường. Bộ xử lí Intel 286 có khả năng nâng cao tốc độ xử lí, mở rộng bộ nhớ trong, đối với một số chức năng thông dụng, Microsoft đã thiết kế các phím nóng và tổ hợp phím. Tháng 5 năm 1990, Windows 3.0 được đưa ra thị trường. Windows 3.0 có giao diện đơn giản, thao tác thêm cá tính hóa, cuối cùng đã giành được sự tín nhiệm của khách hàng. Để mở rộng
  27. hơn nữa thị phần, Microsoft lần lượt đưa ra các phiên bản Windows 3.0 với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Việc này đặt nền móng cho việc khai thác thị trường ở các nước không nói tiếng Anh sau này. Khi đó lại có bộ xử lí Intel 386 tiên tiến hơn, khiến Windows 3.0 như hổ thêm cánh. Windows 3.0 không những có chức năng hệ điều hành 32 số mà hiệu quả hiển thị hình ảnh cũng được cải thiện rất nhiều. Windows 3.0 còn tương thích với phần cứng máy tính, chỉ cần lắp chương trình khởi động tương ứng là có thể yên tâm sử dụng. Microsoft có thể làm mưa làm gió với hệ điều hành Windows cũng là nhờ vào Dos. Dos không những giá thấp mà chức năng lại tốt. Việc này khiến cho việc máy tính có thể vận hành một cách dễ dàng đã trở thành hiện thực. Cuối những năm 80 của thế kỷ 20, sự xuất hiện hàng loạt các phần mềm mới khiến cho Dos không còn đường tiêu thụ, thế là Microsoft bắt đầu khai thác hệ điều hành Windows. Dù các đối thủ cũ đã vượt qua Microsoft về phương diện Dos nhưng về phương diện thị phần, Microsoft vẫn chiếm ưu thế, vì hệ điều hành Windows đã nhanh chóng tương thích với rất nhiều chức năng của Dos. Tuy nhiên, Dos thực sự phải đối mặt với việc phải rút khỏi thị trường khi phần mềm Excel 2.0 ra đời. Ngành phần mềm máy tính rất quan tâm đến phần mềm Excel 2.0, chức năng của nó rất hoàn hảo. Sự thành công của Excel 2.0 cũng là thành công của hệ điều hành Windows, nó khiến cho hệ điều hành Windows đứng vững trên thị trường phần mềm hệ thống. Do Dos không đáp ứng được mặt này nên cuối cùng nó sẽ phải rút khỏi thị trường phần mềm. Excel cũng là phần mềm bảng hiện nay bán rất chạy. Phần mềm Word hiện nay chúng ta thường sử dụng là phần mềm xuất sắc sau này của Microsoft. Khi Microsoft mới đưa ra phần mềm Word, do nguyên nhân từ bản thân Microsoft mà Word không tạo ra được làn sóng mới, dù sau này Microsoft đã có rất nhiều cải tiến song không có nhiều khởi sắc. Còn bộ phần mềm Office mà Microsoft đưa ra hiện nay chính là sự tấn công của Microsoft đối với các đối thủ cạnh tranh. Microsoft đã kết hợp rất hoàn hảo bộ phần mềm Office và hệ điều hành Windows, như vậy vừa nâng cao được tỉ lệ thị phần trên thị trường phần mềm, vừa khiến hệ điều hành Windows có thể xưng bá trên thế giới. Còn phần mềm Office chúng ta sử dụng hiện nay còn được thêm vào những kỹ thuật mới, khiến cho chức năng ứng dụng của những phần mềm này càng thêm toàn diện. Mỗi ngày Microsoft đều đang đẩy nhanh tốc độ đổi mới sản phẩm, đặt nền móng cho chiến lược toàn cầu của Microsoft. Bước vào thế kỷ 21, cùng với việc ngắm chuẩn được thị trường toàn cầu, Microsoft cũng gặp phải một khó khăn rất lớn. Từ “Vụ án lũng đoạn” ở tòa án Mỹ, dư luận cũng đưa ra nhiều tin khác nhau về Microsoft. Chính vào lúc này, Bill Gates về hưu. Microsoft cũng như mọi lần, không chịu lùi bước. Bên ngoài cho rằng việc Bill Gates về hưu là để “lùi một bước để tiến hai bước”. Lúc này, Microsoft phải đối mặt với nhiều áp lực, nội bộ Microsoft hoang mang, còn các đối thủ cạnh tranh thì vui mừng. Trong tình hình đó, Steve Balmer - người sắp kế nhiệm không làm Bill Gates thất vọng, ông đã tuyên bố một cách quyết đoán phương hướng phát triển của Microsoft trong thế kỷ mới, đó là tạo ra “Microsoft.net”. “Net” có nghĩa là mạng lưới, chỉ mạng Internet. Điều này cũng chỉ ra mục tiêu phát triển của Microsoft trong thế kỷ mới. Microsoft không còn lấy Microsoft làm trung tâm như truyền thống, mà cố gắng dốc sức phát triển mạng Internet. Hiện nay, mạng Internet đã phủ khắp toàn cầu, xâm nhập vào cuộc sống của mỗi chúng ta. Bởi vậy, Bill Gates lấy Internet làm trung tâm, tỏ rõ chiến lược toàn cầu của ông. Bill Gates cho rằng, sự phát triển của mạng Internet đem lại rất nhiều tiện ích cho các doanh nghiệp và mỗi cá nhân, mà mục tiêu của Microsoft chính là đưa tất cả các sản phẩm của mình vào “Microsoft.net”, đó vừa là một hệ thống sản phẩm, vừa là một hệ thống dịch vụ sản phẩm, khách hàng có thể thông qua “Microsoft.net” để đặt mua các sản phẩm mình cần, cũng có thể thông qua “Microsoft.net” để có được sự ủng hộ và dịch vụ về sản phẩm.
  28. Theo lộ trình trong thế kỷ mới của Microsoft, kế hoạch lớn này đã bắt đầu được tiến hành. Quá trình phát triển mấy chục năm trong quá khứ, Microsoft luôn thể hiện những ý tưởng phi thường của mình, điều này cũng dự báo Microsoft sẽ thực hiện được mục tiêu trong thế kỷ mới một cách thuận lợi. Khi Microsoft công bố kế hoạch mới, có người đã nói như thế này: Bill Gates lùi một bước nhỏ còn Microsoft lại tiến lên một bước lớn. Không lâu nữa, có thể chúng ta sẽ nhìn thấy một thế giới như thế này, đâu đâu cũng thấy máy tính có cài hệ điều hành Windows, còn máy tính nội bộ thì lại chạy trên “Microsoft.net”. 3. BÀNH TRƯỚNG CŨNG LÀ MỘT KIỂU CẠNH TRANH Microsoft dựa vào năng lực tài chính mạnh mẽ của mình để mở một chiến dịch mua lại các công ty, điều này khiến cho đối thủ cạnh tranh của Microsoft không đối phó kịp, đồng thời cũng khiến cho đối thủ cạnh tranh của Microsoft phải bó tay. Việc này cũng khiến cho đế quốc Microsoft ngày càng mở rộng và lớn mạnh. Nhằm tranh giành thị phần với đối thủ cạnh tranh, Microsoft không ngừng mở rộng quy mô, đồng thời, Microsoft cũng tiến hành một kế hoạch mua lại các công ty. Năm 2007, Microsoft tuyên bố bỏ ra 240 triệu đô la Mỹ để mua lại 1,6% cổ phiếu của trang web mạng xã hội Facebook, đồng thời Microsoft cũng làm đại lí độc quyền về quảng cáo trên Facebook. Không lâu sau, nội bộ Microsoft lại công bố tin, Microsoft đã mua lại công ty quảng cáo mạng Aquantive với giá 6 tỉ đô la. Giá Microsoft mua lại Aquantive là 66,5 đô la/một cổ phiếu, tổng cộng chi hết 6 tỉ đô la Mỹ, đây cũng là một cuộc mua bán có giá trị lớn nhất trong lịch sử của Microsoft. Còn Chủ tịch mới tiếp nhiệm của Microsoft là Steve Balmer thì tuyên bố, kế hoạch của Microsoft là trong tương lai sẽ tiến hành khoảng 100 lần mua bán nữa. Cùng với đó, Microsoft cũng có rất nhiều kế hoạch đầu tư và hợp tác. Bill Gates từng lo lắng đến việc phần cứng máy tính không bắt kịp được bước phát triển của phần mềm máy tính. Thế là Microsoft đầu tư một công ty truyền hình hữu tuyến, để hỗ trợ cho Microsoft đẩy nhanh tốc độ phát triển về phương diện này. Để có thể mở rộng phạm vi phủ mạng Internet, Bill Gates đưa ra ý kiến công ty truyền hình hữu tuyến sẽ cung cấp dịch vụ Internet. Không lâu sau, Bill Gates liền đầu tư Teledesic Corporation, đầu tư tiền cho Teledesic Corporation để xây dựng mạng Internet ở vùng nông thôn. Đây là một kế hoạch chương trình vệ tinh, bởi vì các làng quê không tập trung mà phân tán ở nhiều nơi khác nhau, nếu dùng cáp quang thì không kinh tế, sửa chữa, bảo dưỡng và bảo vệ cũng rất khó khăn. Bởi vậy, vệ tinh quỹ đạo thấp là một lựa chọn sáng suốt. Microsoft không ngừng đầu tư và mua bán, dư luận có người cho rằng, Bill Gates sẽ phải trả giá cho những hành động không biết lượng sức mình này. Tiến quân vào các lĩnh vực như truyền hình hữu tuyến, dịch vụ Internet, thông tấn , đem đến cho Microsoft rất nhiều rủi ro tiềm ẩn, bởi vì Microsoft là người “ngoại đạo” trong các lĩnh vực đó. Cũng có người nói rằng, việc Microsoft liên tiếp tiến hành các vụ mua bán cũng là một kiểu hiệu ứng quảng cáo, trong quá trình mua bán này, giá trị thương hiệu của Microsoft cũng được nâng cao. Nằm trong top 500 doanh nghiệp mạnh nhất thế giới, mỗi lần mua bán hay đầu tư của Microsoft đều thu hút được sự quan tâm của các phương tiện thông tin đại chúng. Microsoft và Bill Gates cũng trở thành doanh nghiệp và nhà lãnh đạo doanh nghiệp có tỉ lệ xuất hiện trên báo chí cao nhất. Cũng có người nói đùa rằng, Microsoft là một công ty truyền thông, nhưng từ trước đến nay chưa từng quảng cáo cho người khác mà chỉ phục vụ cho chính mình. Bởi vì, mỗi lần Microsoft tiến hành một thương vụ thì các tờ báo sẽ lũ lượt đến đưa tin, viết bài, vô hình trung đã quảng cáo cho Microsoft. Năm 2006, Microsoft tuyên bố mua lại công ty Motion Bridge của Pháp. Motion Bridge là