Bài giảng Tổng quan về giáo dục và giáo dục nghề nghiệp - Phần 1: Giáo viên dạy nghề
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Tổng quan về giáo dục và giáo dục nghề nghiệp - Phần 1: Giáo viên dạy nghề", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
bai_giang_tong_quan_ve_giao_duc_va_giao_duc_nghe_nghiep_phan.pdf
Nội dung text: Bài giảng Tổng quan về giáo dục và giáo dục nghề nghiệp - Phần 1: Giáo viên dạy nghề
- MỌT SO VAN ĐE VỂ CÁCH DẠY VÀ CÁCH HỌC NHÀ XUẤT HAN ĐẠI HỌC Qưỗc GIA HÀ NÔI
- MỤC LỤC Trang 1 Lòi nói đầu 7 2 Bí quyết quan trọng nhất là phương pháphọc tập, 11 là phong cách học tập Cô Thủ tướng Pham Ván Dồng 3 Đay mạnh dổi mối cơ bản cách dạy, cách học thực 15 hiện Nghị quyết Đại hội IX Vủ O a n h 4 Dạy ỏ đại học chủ yếu là dạy cho sv cách học, cách 20 tư duy sáng tạo. Thủ tướng Phan Văn Khải 5- Một vài ý kiến vê vấn dê bồi dường nhân tài 22 GS. Đàm Trung Dổn 6. Bồi dưỡng học sinh giỏi ớ các lóp chuyên 29 GS. Dương Trong Bái 7. Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ caophục vụ 35 nền kinh tê tri thức nước nhà GS. Phạm• Si Tiến 8. Biết mười dạy một và học một biết mười 39 GS. Nguyễn Văn Đạo í>. Một sô vấn đề thòi sự về việc dạy cách học 43 GS. Vũ Văn Tảo 3
- 10. Cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo PGS. TS. Ngô Doãn Đãi 11. Học và dạy cách học GS. Trần Bá Hoành 12. Suy nghĩ về dạy học ở đại học GS. Nguyễn Như Ý 13. Tổng quan vê' phương pháp dạy học ở đại học PGS. Lê Đức Ngọc 14. Tiếp tục đổi mối phương pháp dạy học theo hướng "Hoạt động hóa ngưòi học” PCS. TS. Nghiêm Đình Vỳ 1 5 . phương pháp dạy học dựa trên hoạt động và những thách thức mối với GV và HS tiểu học TS. Nguyễn Trí 16. Học, dạy, quản lí và tri thức hóa NG. N g u yễn K ỳ 17. Sinh viên học như thế nào ? GS. Trần Phương 18. Nỗ lực tự học để vươn lên học giỏi NG. Đàm Lê Đức 19. Vài điều tâm đắc trong ba mươi năm dạy Vãn GS. Lê Trí V iễn 20. Dạy Văn để học sinh tự học Văn GS. Phan Trọng Luận
- 2 1 . Thô não là một họ«' sinh giói Văn ? 143 GS. Nguyễn Dàng Manh TS. Dỗ Ngoe Thống 22. Mã\ vấn đế phán tích tác phẩm văn học 162 GS. Trần Đáng Xuyên 2.1 H-.C Ván 167 GS. Trần Đỉnh sử 24. Phương hướng dạy và học từ Hán - Việt ỏ trường 170 phổ thông GS. Dáng Đức Siêu 25. Dổi mới phương pháp dạy học Lịch sử - một yêu 178 cầu cáp thiết GS. Phan Ngoe Liên 2fi. Sáu chữ dành cho giáo viên dạy Lịch sử 186 NG. Đoàn Thịnh 27. Bồi (iưỡng cho học sinh năng lực tự học môn Địa lí 193 PGS. Nguyễn Dược 2H. Thiêt kế bài học Đạo đức - Giáo dục công dân theo 196 phương pháp dạy - tự học (bằng hành động) NG. Nguyễn Nghĩa Dán 2i). Học sinh nên học Toán như thế nào cho tốt ? 199 GS. TSKH. Nguyễn Cảnh Toàn 30. Một số ý kiến vê dổi mới phương pháp dạy Toán ỏ 210 bậc phổ thông trung học PGS. TS. Trần Kiều 5
- 31. Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong 218 học Toán NGƯT. Vũ Hữu Bình 32. Làm-bài tập thí nghiệm Vật lí - một cách tự học 231 đạt hiệu quả cao NG. Nguyễn Thượng Chung 33- Những suy nghĩ sau một bài tập Vật lí 243 NG. Đào Ván Phút 34. Các biện pháp hoạt động hóa người học trong dạj ‘249 học Hóa học GS. TSKH. Nguyễn Cương 35. Hãy cải tiến cách học ngoại ngữ của bạn 257 NG. Đào Trọng Quang 36. Tự học ngoại ngữ khó hay dễ 264 PGS. Lê Khánh Bằng TS. Nguyễn Văn Tu r.
- LỜI NÓI ĐÁU rong những nỏm thamỉ cỉượr dao tạo (ỉ trường sư phạm. Ịỉtp lớp s v - những nhờ i*ỉa<) tươmí lai (ÌƯỢc tran LỊ hi kha T bài hán về h luận (lạV học i'd h luận (ỉạv các môn học. Hanh trang vào nghe của cóc nha giáo trê kháng chi có kirn thríc ir môn hục mà còn có cá kiến thức vè phương pháp fị'rtmg đội ngủ này có khá nhiều nhà giáo do say mẽ với nghé iũ ỉ.ư tâm hon", không ngừng tự bối dưỡng cho minh tri thức mới rà nàn Lí lực sư phạm báng cách đọc sách háo, í ham gio hội tháo khoa học, tham gia viết sách, viết báo, tong kết kinh nghiệm ịliùng dạy Do dỏ khi tiếp cận với cách í7ạv, cách học mới, họ tiếp nhận một cách chu động, hào hứng, chắc chăn và mang tinh sang tạo cao. Song sỏ nhà giáo như trẽn còn chưa nhiều. Nhiều người băng lòng với cai dà được học ớ nha trường mà chưa nhân côn lùrìi biết, kinh nghiệm về cách clợy, cách học, biến nó thành thứ ('ùa cài, thứ tài sán quỹ gió của minh như là một phàm chất cốt \'èu cùa nhà giáo. Vày thế là những V tường, những cách dạy, rách học tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu về vấn đề này dàng tài trẽn sách báo với họ chỉ là sự “kính nhỉ viễn chi ". Nhưng từ những năm 80 trở lại đây, trong các Nghị quyết {'ủa Đáng, trong những bài phát biêu của các vị lãnh đạo Đảng rà Nhcì nước (dặc biệt là những bài phát biếu của CỐThú tưởng Phạm Vỏn Đổng), trong các hội nghị, hội thảo khoa học, trong rác bài báo những định hường chiến lược, những luận điểm khoa học vé cách dạy. cách học sáng tạo không ngừng được (ĩề xuãt. Diều đó tạo nên một không khi khoci học sôi động, lỏi cuốn vá tạo điều kiện cho các nhà giáo gắn bỏ với nghề dạy học cao (Ịỉ/ý vờ sáng tạo vượt lên chính minh. Và tất nhiên khổng phái Ịất rà các nhà giáo (tru dà hoa nhịp itưựr với không khí tỉó 7
- Tự nguyện và tich cực phục vụ cho sự nghiệp giáo (lục trên phương diện đổi mới cách dạy, cách học, đặc san Tư hoc (nay la đặc san Iỉọy - Tự học) của Hội Khuyến học Việt Nam đà ựiòi thiệu nhiều bài viết của các nhà giáo cỏ bé dày nghiên cứu kìiou học giáo dục và kinh nghiệm giảng dạy ở các triỉờìĩg phô thông, cao đăng, đại học. Những bài viết ấy thê hiện tâm huyết, trị tuò và trách nhiệm của các thê hệ nhã giáo đi trước đôi với các thò' hệ nhà giáo trẻ, các bạn HS, s v và đông đảo bạn đọc quan tân> đến việc đổi mới cách dạy, cách học. Với mong muôn ấy, chúng tôi cho in cuốn Môt só ván dê vô cách day và cách hoc nhảm mục đích cung cấp thêm cho (IV. HS, s v một tập sách tham khảo về các phương pháp củng như về kinh nghiệm dạy và học Xưa và nay. Các bài in trong cuốn sách này dược chọn từ đặc san Tụ h ọ c. đặc san Day - Tự hoc và một sô' tài liệu khác, tập trung chủ yếu vào vấn đế cách clọy, cách học, gồm: * Tư tưởng về đổi mới cách dạyỷ cách học; * Những vấn đề chung của cách dạy, cách học; * Những vấn để về cách dạy, cách học các môn học cụ thể. Những quan niệm , những ý kiến nêu trong các bài viết ở tập sách này củng chỉ được coi như là những vấn đề nẽu ra (tê trao đổi, cùng hướng vào ỷ nghĩ: góp phấn đổi mới cách dạy, cách hụt trong nhà trường ngày nay. Hi vọng tập sách sẽ được bạn đọc đón nhận với tâm lòng ưu ái và năng đở. Chúng tôi rất mong bạn đọc gần xa viết bài trao đổi vế vấn đế trên và chi báo cho những khiếm khuyết đê chúng tôi cỏ thèm kinh nghiệm làm những tập tiếp theo. GS. NGUYỄN CẢNH TOÀN
- QUY DỊNH VIET TÁT TRONG SACH 1 IS học sinh sv : sinh riên <;v : giao l iên IM'DII phươntỊ pháp dạv hục I'lH'.I) phương pháp giao dục SGK : sách giáo khoa
- Bl QUYET QUAN TRỌNG NHAT LÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP, LÀ PHONG CÁCH HOC TẢP(" Cỏ Thú tườnịỊ Phạm Van Dỏng r ÓI muôn nói thỏm (lôi diếu về phương pháp giáo (lục nhíUTì xây dựn^ con người và xây đựng chủ nghía xà hội. INKSrO nẽu lóII ‘1 cột trụ giáo dục là: học đê biết, học dê lam, học đê làm người, học đẻchutìg sổng với người khác. Đó là nhũng (liốu ƯNKSCO nói với tất cà các dân tộc trôn thế giới. Phương pháp giáo đục trong thòi gian tới phát triển như thế nào chưn ai lường đùọV: giáng dạy. học lập bang những công nglụ1 ru sao. học tại trường, học từ xa như thế nào v.v Đảy là thòi dại thông tin. thòi dại trí tuệ. mọi người có thổ học đổ trưởng thành. Phái nghiên cứu đổ không ngừng hoàn thiện, không ngừng dôi mói. không ngừng nâng cao. không ngừng phát triên giáo dụt' về mọi mật. nhằm lam nên lực lượng chủ yếu của sự phát triòn cúa dân tộc, của đất nước, của con dường đi lên chú nghía xã hội. Dặc biệt phải chú ý đến sự không ngừng hiện đại hỏa PPGD'2\ làm cho giáo dục ở trong tầm tay của mọi người, bằng các phương tiện hiện dại: nghe, nhìn, ai cũng được học hành tron# các loại trường công lập. ùúii iập, học thường xuyên Hài dâng trên "Tự họcât sô 10 (9/2000). "Tư hoe" nhấn mạnh. 11
- Phãi gán học với hành, học dế vận dụng, học (le sáiầÉ' tạo 1)0 hành nghề, trong hành nghiệp, trong cuộc sông. Ilọc án. học 'lói. học gói. học mỏ. Học dể ứng xứ vỏi C0I1 người, vỏi cuộc SÔIÌỊỈ. vui bàn thân, học dó cống hiên vào sự nghiệp xây dựng ci;Vt n.iỏe giàu dẹp. Trong những nhà bấc học ỏ nước ta. những ngưòi ró trình độ cao. những người có công trình nghiôn cứu có giá trị, Ìihiếvi người vừa nghiên cứu và ứng dụng khoa học, vừa giang <lạvf ớ các trường dại học. bởi không có gì quý bang những kinh nghiệni thực tiền thu được trong quá trình nghiên cứu và ứng dụniĩ khoa học. không sách nào có thể thay thế dược. Chinh An bo Anh-xtanh đã nói: “Cái gì đà có trong các trang sách thì tôi không giảng1’. Phái gán giáo dục vởi môi trường thiên nhiỏn, môi trường xã hội. môi trường sống cua con người, làm cho ro il người đẹp, xã hội đẹp, cuộc sống đẹp, thiên nhiên đẹp. * * * Tất cá đòi hỏi một điểu kiện tiên quyết là ngành giáo dục phái thanh toán trong thòi gian ngắn những hư hỏng, yếu kém, sai sót, dồng thời phải có chương trình hành động và kế hoạch thực hiện những công việc dà được các văn kiện của Đang, Nhà nước cùng như dư luận xã hội nêu ra. Làm tốt và làm rất tốt những điều trên là từng bước xây dựng lâu đài giáo dục nước ta vừa hiện dại, vừa dân tộc. Ớ trước lâu đài này. có thể ghi dòng chữ: “Vào đây là vào nơi cất giấu kho báu của trí tuệ dân tộc và trí tuệ loài người; ra khói đây là đi tới những nơi mình có thể đóng góp phẩn quan trọng nhất của mình vào sự nghiệp xây (1 ựng đất nước, dào tạo con người và chuẩn bị tương lai”. 12
- I Ol 1 Ill'll) tiling Ịĩlíio (lục ]; I láu Ó1 hC• I> máu nhiệin giúp không n <\ Im cong nghi*. Phong cách này là những ịi\ lút đẹp nhát cùa «iiỉn tộc minh, cua các dãn tộc* khác, cua cà loài người, nghìn là hoàn toỉin trái Ii^ược với tất cả nlìữny gì là phi vãn hóa. phán vãn hỏa, là ngu (lốt. là bóng tối. Đây là cách nhìn, tầm nhìn rất rộng lớn và cao xa giúp con ngư«Ji. loài người nhìn tháy những chân trời ngày càng rộng mở. theo (Ịuan đú-iì) cúa Các Mác: Người đến sau dứng trẽn vai người (lỏn trước* (lể nhìn xa hõn Không có con (lường dế vương dôi VỚI khoa học. chi ngùời nào chịu khó học hói thì mỏi dạt liên rái (lích của mình. Diều cốt VỐU trong phương pháp khoa học là thây một cách sáng tỏ và vận dụng một cách thành thạo phong cách trên dây. từ đó mà <‘ỏ thái độ rộng l ài. khoan dung đỏi với người có ý kiên khác mình: Coi ý kiến khác nhau, có khi trái ngược nhau, là điều bình thường trong khoa học. Chỉ có tháo luận, tranh luận, lật qua lật lại, người thấy mặt này. người thấy mặt khác, thì mới dân dan tiỏp cặn cái đúng, đồng thòi phải thấy cái đúng cùng không có gì là vĩnh hang, là bất biến. ố (lây tôi muôn nhấn mạnh một (liều mà tôi thây r;Yt cần thiẽt (lôi vói chúng ta, là sự trung thực trong linh vực tri thức. Trung thực nghĩa là không gian dối, không bóp méo sự thật, không lừa dôi mình, đồng nghiệp của mình và mọi người, tóm 13
- 1.11 là cỏ phíìm chái tronií sáiiị*. ngay ihnnịT. lời MÓI (li đôi với VI\V làm Dáy là diếu c\Ịc kì quan trọng. Tliầv giáo phái dạy cho học trò nia mình tránh xa nhũng điếu trái ngược mà chúm: u\ thường thấy một cách ilau lỏng trong hành vi của một sô ít người trí thức, người làm khoa học ở nước ta. Nói như vậy là nhác lại những diều tỏi (là viét vé những Éíì xấu xa không thế dung thử trong tình trạng mua bán bang cấp còn chẽn ra (í I1<11 này nơi khác, trường này trường khác, cấp bộc này hay cấp bạo khác Trẽn dây tỏi chỉ làm nổi bột nhííiìK (liều quan trọng nhát vổ phong cách học tạp. bởi không cỏ phong cách nàv thi không c‘ó nền khoa học chán chính và một nền giáo đục giàu tính hiện (lại và tính dân tộc, không ró nó thì làm có giáo đục là quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc. Tôi sáp viết đến những dòng cuối của hài viết này. Trong suỏt thòi gian chuẩn bị viết loại bài vế giáo dục. tám trí tôi luôn nghi về sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. vể con đưònK xã hội chủ nghía của dân tộc la, về thê hệ trẻ rủa (lát nước ta. vẻ nền giáo dục quốc dân và còng tác giáo dục. công lác mà tỏi yêu mến với tất cả tấm lòng tha thiết của mình. Tôi muôn kết thúc loại bài viết vổ giáo dục líằng một lời nhắn gửi: Hỡi anh chị em làm khoa học ở nước ta! Hỡi anh chị em làm giáo dục ỏ nước ta! Hây doàn kết lại, đoàn kết một lòng, đoàn kết vì sự nghiệp lớn, sự nghiệp cách mạng vì đại của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lẽ sông của chúng ta. Hỡi các bạn trẻ. đi vào thế ki mới trong thời đại mới, các hạn hãyhọc tập đổ tlìành người và đế làm người, góp phần vào công cuộc công nghiộp hóa, hiện dại hóa nước nhà, xứng đáng với cha anh, sánh vai củng bạn bè trên thế giới. 14
- DẨY MẠNH ĐÓI MỚI c ơ BẢN CÁCH DẠY, CÁCH HỌC THỤC HIỆN NGHỊ QUYẾT OẠI HỘI IX"’ Vũ Oanh ghị quyỏt Dại hội IX dà xác (lịnh: "Thực hum giáo (lục Ncho mọi n^ùời, rá nước trơ thành một xã hội học tập. lạo (\\Í'U kiện cho mọi người ờ mọi lửa tuỏi (lược học tập thường xuyrn suôt dời” (Vãn kiộn Dại hội IX. NXlĩ Chính trị Quỏv Ịíia. tr 1 Oil. 202 (viết tát là VKĐ). Quyết (iịnh '17 QD- TTg ngày 4/ M 2001 cua Thú tướng (’hĩnh phủ cũng dã quy định: "Tạo điếu kiện thuận lợi cho các tảng lớp nhân dán đểu có cơ hội tiếp thu giáo dục sau trung học", tức là giáo (lục (lại học đại chúng. "Mọi người học. Học suỗt đòi. Đại họe dại chúng. Xã hội họe tập" (ló là bôn mục tiêu chiến lược đủi mới cơ bán cách dạy học ỡ Việt Xam hòa nhập vào trào lưu cách mạng học tập toàn cầu vi sụ phát triển kinh tố tri thức, xà hội học tập. vàn minh trí tuộ. f)ùi mỏi cơ bản cách dạy. cách học nhằm cái đích CUÔ1 cùng là J'c:\ nước trở thành một xã hội học tập. một xà hội mà ai cùng duợc học hành. Học hành sáng tạo suốt dời. Công nông là trí thức. Dân tộc thông thái. Muôn có xà hội học tập, phải doi mới cơ bán cách dạy. cách học. theo những định hướng và nhiệm vụ chiến lưực trọng yếu của Đợi hội IX: đôi mới mục tiêu học. Học đo làm người "Phát triỏn toàn diện về chính trị. tư tướng, trí tuệ, dạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo. có ý thức cộng dồrìK' * ('hu tịch Hội Khuyến học Việt Nam. 1 Bill clftng trẽn "Dạy - Tự học" số 21 (12/ 2002)
- lòng nhân ái, khoan (lung, tôn trọng nghía tình, lói sóng rỏ van hỏa. quan hộ hài hỏa trong gia dinh, cộng dỏng và X I hội" (VKỈ). tr. 114); thực hiện phương chàm hục: "Học di liói VỚI hành, két hợp vói lao dộng sán xuất, gan với xà hội". "Ki‘t hop nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp dế phát triển" (VKỈ). tr. 92). Dổi mới cơ bản cách học: Học suôt dời "phrtt huy tinh thần độc lập suy nghi và sáng tạo, đô nâng cao năng lực tự học. tự hoàn thiện học vấn và tay nghề tự tạo việc làm. chủ dộng Um kiếm cơ hội lộp nghiệp” (VKĐ. tr.l 10) tự hoàn thiện nhãn cách (VKĐ. tr. 114). dổi mới phương thức: "kêt hợp học tập trung, học từ xa. học qua máy tính, xã hội hóa, phát triên da dạng các hình thức học. đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học (VKĐ, tr.l 11). và xáo định con đường phát triển việc học: sớm phổ cập trung học (2010) cho thành phố và nông thôn đồng bằng, sớm phổ cập sử dụng tin học và mạng thông tin quốc tế trong nền kinh tô và đòi sông xã hội (VKĐ, tr. 94), "mở rộng hợp lí quy mô đại học”, đón nhận sự phát triển kinh tế trí thức và phổ cập trung học, "tạo điếu kiện thuận lợi cho các tầng lớp nhân dân dểu có cơ hội tiếp thu giáo dục sau trung học". Đổi mới cơ bản cách dạy. cách học vì một xã hội học tập hiện dại, đậm đà bản sắc dân tộc là một cuộc vận động cách mạng thường xuyên và rộng khắp, khoa học và dại chúng, cộng dồng và cá nhân, vì con người và bằng nội lực của con người và của cơ sỏ. của khoa học. người dạy. người khuyến học. người quản lí, của nhà trương, gia dinh, cộng dồng và của chính ngươi di học dưới sự lành đạo của Đáng. Người học vừa là mục tiêu, vừa là động lực đối mới cách dạy. cách học. Tự giác từ bỏ "lối học nhồi nhét một lần cho cả đời", "lôi học thụ dộng tiếp thu một chiều" khá phổ biên hiện nay. tích cực, chủ dộng tạo ra ý chí vồ nàng lực học suôi đời. "học 16
- k h ò n £ l»ao kri ;m thiện học vấn và Líỉv n^liể, tự tạo việc líUìỉ, chủ động tìm kiêm cơ hội lập nghiệp. tự hoàn thiện nhân cách" (VKĐ. tr. 109, 110. 114). Người day - lực lượníí nòng cốt đổi mới CÁCh dạv, cách học cẩn từ bỏ lõi dạy nhồi một lẩn cho cá đời. lôi truyền thụ áp d;il một chiều, phát huy tư (luy sáng tạo và nãng lực tự học. tạo ra nàng lực và thói quen hoe suốt đòi của người hoc, làm tốt chức năng mới của người thấy học, chuyên gia vế việc học, người khuvôn học. hồ trợ, khuyến khích, tạo điều kiộn. dạy cách học cho người tự học chữ. tự học nghề, tự học nên người tri thức hỏa phát triển toàn diện. Người khuyến học ' lực lượng hỗ trổ trọng yếu đổi mới cách dạy, cách học, vừa tích cực, kiên trì vận động mọi người học thường xuyên, vừa tạo điểu kiện và môi trường thuận lợi khuyến khích người học phát huy tốt nhất nội lực tự học, tự rèn. vừa làm tấm gương sáng tự học suốt dời. Người quấn li giáo dục, khuyến học - lực lượng chỉ đạo đối mói cách dạy, cách học - cẩn đổi mới cơ bản tư duy và công nghệ quản lí: Quản lí giáo dục và quản lí "giáo dục thường xuyên cho mọi người học suốt đời", "giáo dục của mọi người", "giáo dục của họe suốt đòi làm gốc" (lấy tự học làm cốt), quán triệt toàn diện Nghị quyết Dại hội Đảng IX đồng thòi tập trung sức đột phá vào linh vực then chôt là cách học, cách dạy (tức là đẩy mạnh đối mới cơ bản cách dạy. cách học) và đại học (tức là thực hiện giáo (lục sau trung học cho mọi người). Trên tinh thần dân chủ hóa, sả hội hóa, phát huy tốt nhất nội lực. kết hợp tận (lụng mọi nguồn lực hên ngoài, tương tácịV^itoàrrxã hội; áp-thing cဠtiến 17
- bộ của công nghệ và thông tin và thông lưu mới đò từng bước công nghệ hóa quá trình quan lí giáo (lục. Nhờ trường cần đổi mới cơ bán theo mô hình dạy - tụ họ<\ đào tạo - tự đào tạo, kết hợp đào tạo ban đầu VỚI đào tạo thường xuyên, dào tạo cơ bản với dào tạo cách học. cách làm. Dôi mỏi thi dua Hai tốt: Học tốt và dạy tôt cách học, phát huy tôi nhót nội lực tự học của người học. Đổi mới chế độ thi cử cho phu hợp với cách học, cách dạv mới, khuyến khích tự học, tự nghiền cửu. Nhà trường gắn với gia đinh, Hạn chế các phương |)há|) quyền uy, cho roi cho vọt hoặc nuông chiểu, cho ngọt cho bùi quá đáng, khuyến khích ứng dụng các phương pháp day - tư học. giúp trẻ em học nên người, xây dựng gia đinh hiếu học tiẻtỉ tiến ba tốt: học tốt, làm tốt. khuyên học tốt. Nhà trường gắn với xã hội. Giáo dục xã hội hóa. Giáo dục của học suôt đòi. Cả nước trớ thành một xã hội học tập, một mật trận khuyến học - khuyến tài. Toàn dân vừa làm, vừa học. vừíi khuyến học. Từng cộng dồng dân cư. từng cộng dồng xâ hội phấn đấu trỏ thành cộng đồng hiếu học tiên tiến 3 tốt : học tôt hay phổ cập giáo dục tốt, làm tốt hay phổ cập và cải tiến nghé nghiệp tốt, khuyên học tốt hay có điếu kiện và tổ chức khuyên học khuyến tài tốt. Đổi mới cơ bản cách dạy, cách học là sự nghiệp quần chúng dưối sự lành dạo của đảng bộ địa phương. Trước hết môi cán bộ, dảng viên, đoàn viên là người học, ngưòi khuyến học mẫu mực. Mõi chi bộ, chi đoàn là một cộng đồng hiếu học tiên tiên. i)ảng bộ đoàn kết. tập hợp mọi lực lượng và tổ chức xà hội trong mặt trận khuyến học - khuyến tài, hệ giáo dục - nhà trường làm chú lực. Hội khuyến học làm đầu mòi, Đoàn thanh niên làm xung kích, cùng với các tổ chức khuyến học bảo trợ giáo dục. quì khuvôV* hoc xây dựng phomr trào toàn dãn vừa làm. vừa họ<* 18
- Vila klìUYÓỉi học tinning xuyên và rộng khổ]), (loàn k(’t (láy mạnh. <lni IÌKÍ1 rơ bàn cách (lạy, cách học. xâv (lựng th/mh cĩmịĩ xíI lini họr 1 ập từ cơ sỏ 19
- DẠY• ơ ĐẠI • HỌC • CHU YẺU LA DẠY• CHO SINH VĨEN CACH HỌC, * ' CÁCH T ư DUY SÁNG TẠO m Thủ tưởng Phan Văn Khái áo cáo của Bộ Giáo dục và Dào tạo dã trình bày lôi nghĩ là đầy đủ. không thiêu điều gì, về đánh giá tình hình giáo dục nước ta, những thành tựu, những yếu kém và phưrtng hướng phát triển thòi gian tới. Tôi xin nhấn mạnh thêm một số điểm. Ngay về những điểm đã có lựa chọn, chúng ta cũng dà quen thuộc và từng thảo luận nhiều lần. Nếu có gi mỏi mẻ. thi là ở chỗ lần này chúng ta quyết không chi nói. viết và bàn, mà phải làm thiết thực và tìm ra cách làm thật sự có hiệu quả. Thứ nhất là chất lượng giáo dục đại học. Trường đại học. qua toàn bộ hoạt động giảng dạy và học tậ|) tất cả các môn học, cần bồi dưỡng cho sv tình cảm say mê học tập, say mê tìm tòi phát hiện những cái mới, lòng mong muôn cống hiến cho nhân dán và niềm hoài bão dưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, để có thể sánh vai cùng các cưòng quốc năm châu, như lời Bác Hồ đã cản dặn. Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh, trường đại học cần giúp sv thu nhận được những kiến thức và (l> Trích phảt biểu của Thù tướng Phan Vồn Khài tại Hói nghị Giáo dục pọi học - tô chửc từ 1 * 3/ 10/ 2001 tại Hà Nội. Dftnp trô/? "ỉ)a\' • T ự /iọcMsô '2 ( 12/ 2 0 0 1 ).
- k'l n.ing- ní l).in nhát và chủ yêu dạy cho s v cách học. cách tư duy sàng t(ii) Sgiiìiì sv hiêl cách hoe và quen tư (luy sáng tạo (1)1 mỏi vố the thích ứng VÓI mọi tình huông trong thị trường lao đóiMí và tron" <ỉoi sônịí xà hội khi ra trường. Một nàng lực cụ thố ríH íỊiian Irọníỉ mà trường (lại học cần trang bị cho sv là năng lự<* tun viộc 1;Ilìì và tạo ra việc- làm cho bán thân và cho những iifiUf'Ji khóc, s v phái biêt cách làm việc trong một tập thể. biết cách hộp tác VỚI mọi người, dồng thời phải có năng lực cạnh tranh cả trong nước, ỏ khu vực và trên thế giới. Đô đào tạo được dội ngù nhân lực như trên, phái bát đầu từ việc thiết kố chương trình và nội dung đào tạo. Tôi được biết Bộ Giáo (lục và Dào tạo dang cùng các trường đại học xây đựng các khung chương trình chuẩn cho giáo dục dại học. Đáy là một việc làm cẩn thiết đẻ tiêu chuẩn hóa, để hội nhập với khu vực và qiiôc tê, đồng thời giữ gìn những tiêu chuẩn và giá trị của dân tộc ta, của định hướng xã hội chủ nghía. Tuy nhiên, chuẩn hóa không phải là nhất loạt, bậc đại học phải là bậc học đa dạng, b;io đảm các sắc thái của các ngành, nghề khác nhau, các địa phương khác nhau. Muốn thực hiện dược chương trình tốt phải có phương pháp day và học tốt. Một số giáo sư đại học nói đây là khâu yếu nhất cùa các trường đại học nước ta hiện nay. Dạy đại học là chủ yếu dạy cho s v cách học, như vậy trước hết nhà giáo phải là ngưòi biết cách học, biết nghiên cứu khoa học, biết thu thập, lựa chọn, xù lí thông tin, ham mê hiểu biết, ham mê khám phá cái mới. Các trường đại học nên tỏ chức trao dổi vể phương pháp giảng dạv mới, phát huy tính chù động, óc sáng tạo của sv. 21
- MỌT VAI Y KIEN VE VAN ĐE BÓI DƯỠNG NHÂN TÀI(1) GS. Đàm Trung Dồn uan niệm vê nhán tài Q Trong các cuộc bàn về vấn để phát hiện và bồi díõng nhân tài, dôi khi nhũng ý kiến khác nhau lại bát iiỊuồn từ chỗ mỗi ngưòi quan niệm tài năng theo một cách riên'. Vi thế. chúng tôi muôn nói quan niệm của chúng tôi vê nhân ui. Có thể quan niệm nhân tài là những người, khi cùng ihực hiện một nhiệm vụ trong cùng một điều kiện như nhữn^ ĩgười khác, đà đạt hiệu quả hơn hẳn. Nhắn tài có thể xuất hiện trong mọi lĩnh vực hoạt dộng, và ỏ các mức độ khác nhau. *)ượe ngưõng mộ hơn cả là các nhân tài trong các lĩnh vực nước sô lừa bỏng của đất nước, ở các đỉnh cao của trí tuệ, vàn học, khoa học, kì thuật, v.v vỏi quan niệm như vậy, nhân tài là tinh hoc của dân tộc. và có tác dụng rất lốn đôi với tiến bộ của xã hội. Một danh ngôn được nhiều người tán thưởng nói rànf tài năng ( nảng khiêu) 5% do trời phú, 95% do lao động mà có. slhư thế có nghĩa là xã hội không chăm lo gợi mở niềm say mí học tập. lao dộng? tạo môi trường tốt và định hướng HS vào học tập. nghiên cứu v.v thì dù có dược tròi phú cho một đầu óc minh nẫn thì những mầm mông của nhân tài cùng sẽ bị thui chột ioậc định hướng tán mạn vào các lĩnh vực không quan trọng, Tiển vông. Cho nên Đảng, Nhà Iiước ta luôn luôn coi trọng việc )hát Bài dàng trên “Tự học' số 15 (2/2001).
- hìị‘1 . Im‘>j timing nh.ih t;n và Hộ (ìi) - })T luôn ỉ ran tro iãni sao có (lit‘L kiện lói nh.ìt (lỏ th ự c tlìi v á n (le này. Tài náììg rà nùng hhiếu Bộc lộ sỏm Iihát của tài nàng kill con n^ói tm i ghô nhà trưõn*' là các iis có nâng khiếu, cách HS nôi lên trong quá trình hoc lộp. Nàng khiêu rua 1ỈS rất da dạng. Trong một 1ỚỊ) học, HS rô thể nối lõn so VỚI chúng bạn do trá lòi nhanh các cáu hói của GV đật ra trên l(í|>. e*() làm bài chuẩn xác. do tháo vát trong lúc làm thí nghiệm, dí) biết tập hợp các bạn xây dựng phong trào cua lớp v.v. Diêm mạnh cùa HS này là nền tâng cho tải năng thuộc lĩnh vực hoạt dộng cùa các em đó trong tương lai. Việc phát hiện năng khiếu của HS thường không giông nhau: Có những <*m nâng khiếu nảy nở rất sớm từ lứa tuổi chưa đên trường mà ta thường gọi một cách trân trọng là các “thẩn dong’. Củng có không ít em khác khi học phổ thông chỉ học bình thường , thậm chi còn bị hỏng trong các kì thi tuyến sinh vào các trường (lại học. nhưng khi ra dời lại là người xuất chúng. Phát hiộn đúng sỏ trường của HS trong mọi ngành học, cấp học dc không bỏ phí bất kì một mầm mông tài nàng nào. và định hướng các em dũng vào các ngành nghề thích hợp là một nhiệm vu rất quan trọng mà mỗi GV phải làm. Lảm thế nào dê phát hiên và bối dường nhàn tài Ờ các nước có nền giáo dục phát triển và hoàn thiện, hệ thông các trường tương dôi hoàn chỉnh, vừa đảm bảo việc pho cập giáo (lục rộng rai, vừa đảm bảo chất lượng cao. Việc phân loại trường theo chất lượng được liến hành công khai, được xã hoi thừa nhận. Chế độ dãi ngộ đối vói sv có phan biệt theo trường đào tạo. Tất cả các điểu kiện khiến cho việc bồi dường nhân tài có thể thực hiện một cách dề dàng. Chảng hạn như ỏ Mù trong hầu hết các trường đại học chính quy. dại học mò, dại
- học cộng đồng, (lại học phi chính quy. cao dắng, trung họo chuyên nghiệp, v.v. đểu có hộ đào tạo tài năng (Honour) dế thu hút các HS ưu tú trong trường của mình. Hệ này dược chỉ đạo vê mặt chuyên môn bởi một Hội đồng Đào tạo tài năng quốc gia (viết tắt là NCHC). Điều kiện để dự tuyển vào các hệ tài năn^ này là kết quả học tập cao trong các nảm học trước, và (lược 12 GV hoặc nhà khoa học có uy tín giới thiệu. Chương trình học của các hệ này rất đa dạng từ cách lấy nguyên chương trình chung khi giảng dạy, nâng cao bằng cách chứng minh chặt chõ hơn, đến cách đưa thêm vào một số giáo trình nâng cao (khoảng 20%) hoặc giảng dạy theo một chương trình khác hẳn. Người ta cho rằng tính đa dạng này phù hợp vói tính đa dạng của nấng khiếu của HS đang theo hệ này nếu không hoàn thành nhiệm vụ học tập sẽ bị thải loại, còn nếu tốt nghiệp ở loại này sẽ dược giới thiệu để học tiếp ỏ các trường có thứ bậc xêp hạng cao hơn. ở nước ta, hệ thông đào tạo HS năng khiếu đã được tổ chức vài chục năm nay ở nhiều cấp học dưới dạng trường chuyên, lớp chọn và thực tế nhiều HS tốt nghiệp các hộ này đang trở thành những cán bộ có tài trong nhiều lĩnh vực hoạt dộng xã hội khá(‘ nhau. Tuy nhiên, do chưa đầu tư đầy đủ vào việc chỉ đạo vào các loại hình đào tạo này để tìm ra các phương thức đào tạo phù hợp, nên một sô' lớp tự phát đi lệch với các yêu cầu cơ bản của giáo dục, dẫn đến sự không đồng tình của dư luận xã hội và quyết định đình chỉ các lớp này ở cấp tiểu học và cấp THCS, và chỉ tổ chức ỏ cấp THPT. Chỉ còn các ngành nghệ thuật, thể thao, v.v. là có các lớp bồi dưỡng năng khiếu từ lứa tuổi nhò. Từ đấy có một câu hỏi cần được giải đáp là phải chảng chi các mầm mồng tài năng về văn nghệ, thể thao là bộc lộ từ lứa tuổi nhỏ và có thể bồi dưỡng sớm, còn tài năng về khoa học, kì thuật thì không như vậy? 24
- Tiỏp xũe nhiều VỚI ỉ IS các lớp Iiãng khiốu và sv hệ đào tạo tài nàng, tói có cám KÍár lá hình nluí khôn í; phái như vậy; ờ các lớp nang khiếu, tuy chi' cỏ một tỉ lộ khỏntĩ nhiều HS đã bộc lộ sóni khá nàng, nhưng tỉ lộ này cao hơn ỏ các lcip thường rát nhiõu. Vậy làm thê nào đổ nâng cao hơn nửa ti lộ này? “Không có cái gi lại không sinh ra từ một cái gì". Thiên hưónịí và năng khiêu cũng vậy, cũng cỏ nguồn gốc của I1Ó. Trong các nguồn gốc có thể kể đến dòng họ. cách giáo dục của tíiíi dinh và các quan hộ xã hội. Tác dộng đến mỗi con người ớ lứa tuổi càng nhỏ thì dấu ấn dể lại càng sâu sắc, vì thế để có nhiếu nhân tài cho đất nước, ta không chi hái lượm được các năng khiếu hình thành một cách ngẫu nhiên, mà phải gieo trổng nó bằng cách gợi mở tĩnh tò mò khoa học cho thê hộ trỏ càng sớm càng tốt. Trên thế giới, nhiều nhà khoa học nổi tiếng cũng có quan điểm như vậy. Loon Lederman. nhà vật lí học Mĩ được giải Nobel năm 1998 vể công trình phát hiện ra hạt Muon - nơtrino, đã có một để xuất độc dáo về vấn dề này: Ông ta cho rằng đê có nhân tài, việc quan trọng nhất là truyền cho mọi người, đặc biệt là lớp người trẻ hửng thú di vào khoa học. Các thầy cô giáo cấp tiểu học thường không chuẩn bị đầy đủ kiến thức về khoa học tự nhiên, nên khả năng gợi mở lòng say mê khoa học cho HS từ lứa tuổi nhỏ bị hạn chê rất nhiều. Dựa vào Hội đồng xây dựng khả nàng về khoa học (Committee on capacity building in science, viôt tắt là CCBS). ỏng ta đã đê xuất một kế hoạch đê gâv lòng ham mê khoa học cho trẻ em trong lứa tuổi từ 6 đến 12 (gọi là chương trình “Main à la pate” - bàn tay nhào bột) mà bắt đầu việc bô túc lại cho GV cấp tiểu học những kiến thức cần thiết. Ỏng hi vọng nếu tham gia kế hoạch này, thì có thể hình thành nhiều HS năng khiếu về khoa học và kĩ thuật hơn nữa. Như vậy, có phải là cần thành lập các lốp mẫu giáo chuyên? Không 25
- phải thế, nhưng cần phải cải tiến cách dạy à các trường này. Chảng nhẽ ở các lớp mầu giáo các em chỉ nên chới các trò chơi bán hàng, giá làm bác sĩ nghe* kế các chuyện về chú cáo, chú thỏ hay sao? Đối với các cấp học khác cũng có nhiều diều rần rút kinh nghiệm. Trong thời gian qua, các trường năng khiếu đã góp phần tích cực vào việc bồi dưỡng và dào tạo HS giỏi ở nước ta. Tỉ lộ HS thành dạt ỏ các trường này cao: nhiều em đã đạt giải cao trong các kì thi Olimpic quốc tế. Trong sô này một số đã trỏ thành các nhà khoa học giỏi, nòng cột trong dội ngũ các cáp bộ nghiên cứu ở các viện, các giảng viên ỏ các trường đại học. Tuy nhiên, nếu hỏi do đâu mà có các thành tích như vậy thi các câu trả lòi có thể rất khác nhau. Ngay các HS đã đoạt giải Vàng trong các kì thi Toán quốc tế cũng phát biểu là diều các em học dược nhiều nhất ở các trường chuyên là mẹo làm tính. Với hệ chuyên Lí thì nhiều GV chơ rằng ta đã bắt HS phổ thông học chương trình đại học. Khi lên đại học, các em này thấy hầu như không học thêm được gì nhiều về môn này. v.v. Một giáo sư ở Trường ĐHBK Paris dặt ra câu hỏi trong số các HS Việt Nam tại trường này trong mấy năm nay tại sao có em cực kì xuất sắc. dứng đầu cả trường, có em lại học rất vất vả và có nguy cơ bị loại khỏi trường? Vậy có phải tất cả các HS giỏi ở các trường chuyên, khi đã đoạt giải ỏ các kì thi quốc tế đểu sẽ trở thành nhân tài? Khi tổng kết thành tích Olympic Vật lí trong sáu bảy năm lại đây, chúng tôi thấy tuy số giải Vàng có ít hơn nhưng thành tích dồng đội cao, nghĩa là trình độ HS đều ờ mức độ tương đối cao. Dồng nghiệp trôi' thế giỏi đều khen ngợi chúng ta có một nền giáo dục phô thông (tất nhiên là về Vật li) rất tô’t: là người trong cuộc, tôi biết rõ là sự dồng đều này chỉ có trong số các HS 26
- giỏi t h;im gia đội tuyến Vật li mà không phài trong đông (láo các US ruôi ráp. Diều đó trái với quy luật phân bó tự nhiên cùa Vật lí học. vã mang dáng điệu cùa hiện tượng quen thuộc trong Vặt li. lìiộn tượng bão hoà trong quá trình bơm quang học Nói cách khác, nhiểu em diổm cao trong các kì thi do đã dược các tháy dạy cho đủ các dạng bài toán, và khi gặp các vấn đê chưa (lược nghe* thay giảng và cán phải vận dụng kiôn thửc của minh một cách sáng tạo de giải thì lúng túng. Truy nguyên nhân, lôi này một phần do cáo trưởng chuyên (Vật lí) chưa thật sự tuyển dư<ir các HS có năng khiêu, và trong giang dạy cùng chứa chú ý dúng mức* đến bồi dưỡng phương pháp tư duy, gợi mở lòng hãng say tim tòi cái mới. Mặt khác, cũng do không ít phụ huynh HS dã quan niệm lớp năng khiếu chỉ như chiếc cẩu dưa con em mình vào đại học, hoặc đến mục đích cuối cùng là đoạt giải trong các kì thi HS giỏi, xem việc rèn luyện phương pháp tư duy vật li cho HS là viển vông không thiết thực. Nói như vậy tất sẽ có người hỏi liệu chúng ta bỏ nhiều công sức và tiền của để tổ chức các kì thi HS giỏi, đưa các đoàn HS đi tham dự các ki thi Olympic quốc tế có lợi ích thiết thực nào không? Tỏi xin mượn lời của G.s. Asthur Eisenkraft, phó chủ tịch kì thi Vật lí quốc tế lần thứ XXIV tại Mĩ, nói với HS tham dự kì thi này để thay câu trả lòi: “Hồi dây, các HS nhỏ tuổi sẽ nhìn vào tất cả các em đang có mặt tại đây, và xom các em thực sự là những anh hùng. Những HS ấy s ẽ hiểu rằng bàng cống hiến của mình và lao dộng gian khô, các em ấy sẽ đạt được vinh dự như các em đây, và giám ước mơ một ngày mai sẽ đại diện cho đất nước mình trong các cuộc tranh đua quốc t(?\ Đối vỏi việc bồi dường nhân tài, còn gì hiệu quả hơn cách khơi dậy Irons lớp trẻ niềm tin và ước mơ ấy? 27
- Chính theo phương châm ấy. mấy năm Rần dây <i Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Dại học Quốc gia Hà Nội) dã thành lập hệ đào tạo cứ nhản khoa hục tài nàng, tuyển sinh Lrontí sô các HS có nhiều thành tích học tập nhất ỏ bậc phổ thông, nhà trường dã Lạo những diều kiện tốt nhất về cờ sơ vật chất, vế đội ngũ GV và môi trường học tập. Tất cà những điểu ấy góp phần tạo nên niềm tự hào và lòng tự tin cho s v để các em này theo học một chương trình nâng cao ỏ bậc dại học. Bước dầu thấy cách dào tạo này có ánh hưởng tốt đến chất lượng đào tạo nhưníí có lõ còn quá sớm dè có thể nói một diều gì thật chính xác. Thay cho kết luận, tôi muôn bày tỏ sự dồng cảm của bản thán với những trăn trở của nhiều nhà giáo lão thành dôi với sự nghiệp đào tạo nhân tài cho đất nước: Đây là một việc mà chỉ riông nghành giáo dục không thể làm nổi. Nhân tài như mộl dại thụ. đủ sức chống chọi với giông bão, nắng mưa. HS ra trường chì mới như một cây non đánh từ vườn ươm. Nó có trướng thành hay không là tùv thuộc ý đồ của người trồng và sự chàm bón sau này. Cây con có tốt đến mấy nếu trồng vào chậu đất nhỏ thì cũng chỉ có thể trỏ thành cây cành mà thôi. 28
- BỔI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI ở CÁC LỚP cHUYÊN'u GS. Dương Trọng Bái iện nay trên thế giới có các hình thức sau đây để tuyển H chọn, bồi dưỡng các HS có nàng khiêu, gọi tát là các HS giỏi. 1. Tổ chức các ngoại khóa (ở ngay trường phổ thông), các cung văn hóa thiếu niên, các báo tàng khoa học - kĩ thuật, ở (ló HS không chỉ được xom mà còn được làm các thí nghiệm khoa học. 2. Tổ chức các kì thi HS giỏi từng môn học, từ trường đến tỉnh rồi toàn quốc. Rất nhiều nước dùng hình thức này: các nước XHCN (trước đây), Pháp (Concours general). Ba Lan, Mĩ. Trung Quốc v.v Sớm nhất là Olimpic quốc tế, hiện đã có Olimpic về các môn Toán. Lí. Hóa. Sinh. 3. T ổ chức các lớp chuyên học sâu hơn một môn nào đó ở ngay trường phổ thông hoặc ỏ các lớp trực thuộc một trường đại học. 4. Tổ chức các trường chuyên có thê trực thuộc một trường đại học, như Trường chuyên Toán. Lí thuộc Đại học Nôvôxibiếc (SNG). Tníong chuyên thuộc đại học Baltimore (Mĩ) An Độ. Thái Lan có những trường đặc hiệt, dành cho HS giỏi, tuy không (lạy sâu về từng môn nhưng dào tạo với chấl lượng cao. 111 Bài điìng trên "T ự hoc" số 11 (10/ 2000). ‘29
- 5. Các ki thi HS giỏi cỏ một sổ hạn chế. Các kì thi này tiến hành tập trung trong một sô giò. ví dụ 5giờ/ngày, trong 2 ngày dối với Olimpic quốc tế về Vật lí. Thí sinh phái giải các bài tập, làm các thí nghiệm theo các dô của ban giám khảo. Cấm mang tài liệu vào phòng thi, cấm trao đổi với các bạn. Nhưng nghiên cứu khoa học lại là một quá trình tìm tòi lâu dài. phát hiện cái mới trên cd sở tận dụng tất cả những gì đả biết qua sách báo, tài liệu, và thường là công trình có tính chât tập thể. Tính chất nghiên cứu khoa học cùa các kì thi Olimpic bị hạn chế. nhưng mục dích của việc phát hiện, bồi dưỡng HS có năng khiếu lại là tim dược những em sau này có thể trở thành những người nghiên cứu khoa học giỏi. Vì vậy, từ năm 1992, Viện Vật lí thuộc Viện Hàn lâm khoa học Ba Lan đã tổ chức một cuộc thi quốc tê mới lấy tên là “Bước đầu tiến tới giải Nobel về Vật lí ", cho HS PTTH (dưới 20 tuổi). Thí sinh phải nộp cho ban tổ chức báo cáo vổ một công trình nghiên cứu. Đề tài có thể là chế tạo một dụng cụ để làm thí nghiệm. Kết quả có thể không mỏi, nhưng nếu tìm lại dược bàng phương pháp của riêng mình, có chút ít sáng tạo, thì được giải (được đài thọ ãn ỏ một tháng ỏ Ba Lan để nghiên cửu). Đã có 2 HS Việt Nam tham gia các năm 1995 và 1997 (1 được bằng khen về chế tạo dụng cụ thí nghiệm). Pháp cũng có hình thức thi này cho HS của mình, bên cạnh Concours general, nhưng dự thi là các nhóm HS có GV của mình hướng dẫn. Đối chiếu với các hình thức tuyển chọn HS trên đây, Việt Nam ta còn thiêu hình thức : bước đầu nghiên cứu khoa. học. Ta đã có hình thức này đối với sv (làm khóa luận tốt nghiệp). Ta cũng đã tổ chức thi làm đồ dùng dạy học, nhưng lả cho GV. Bây giờ xin nói về lớp chuyên, vì tôi không hiểu đã cocông trình nghiên cứu khoa học nào. hay hội nghị khoa học nào đã đi 3 0
- clrn kốt luận về tác hại CÚM CJ1C lỏị) chuyên, đỏ tn»n rcí sò <ló Bộ (ỉláo (lục* - Dao tạo (lã quyôt (lịnh xóa bỏ các lớp chuyón TH('S. Trong tập tài liệu của Viện KIKỈD. tôi (Iọc (ỉư<íc lời phát biêu của cố TỈ1 U lining Phạm Van Dồng tại trại Nghiên cứu CC(.ìl) (than# A - 1996): ‘'Phái chú trọng đào tạo nhãn lài. phái chọn từ ráp I. nhất là từ cáp II. những em có nàng’ khiêu clộr biệt, nhất là về Toán. Lí, Hóa. Nhạc. Thể dục ". Tháng 1 - 1971, tại Đại hội Toán học miền Bắc lan thử nhất cô Thú tưỏng Phạm Vãn Đồng lại nói: "Hiện nay ta có các lớp chuyên Toán, phát hiện HS có nãng khiêu từ cấp II Phái phát hiện sớm: 100 em cấp II lên đốn lớp 10 (lớp cuối PTTH hồi dó) còn dược 50%, lôn đến đại học còn 50% thì tôt". Lời phát biếu của cô Thú tướng Phạm Vãn Đồng đến nay khỏng.dúng nừa chảng? Trước dây, tôi đà được đọc một vài bài báo về các lớp chuyên. Có bài phê phán các lốp chuyên là không phát huy trí thông minh sáng tạo của HS. mà chỉ biến các em thành các “thợ giải bài tập". Dĩ nhiên các lớp chuyên còn một số vấn dề tồn tại cần giai quyêt, nhưng tôi tự hỏi nếu cho các tác giã bài báo trên dạy l(íp chuyên thì tác giá sè phát huy trí thông minh của các em bằng cách nào? Bằng cách trình bày li luận vé phương plìáp nghiên cứu khoa học. phương pháp sáng tạo chàng? Đúng là có thể giới thiệu phương pháp tìm tòi đỏ giai một loạt bài tập cùng loại, hoặc có một nét chung nào dó. Nhưng cùng chi có thể giới thiệu trong vài tiết bằng những vi dụ điôn hình. Sau đó thì làm g\ nếu không cho thực hành giải bài tập? Giải nhiều loại bài tập khác nhau chinlì là “thố đục trí tuệ”, chính là ròn luyẹn trí thông minh! Nếu các em trỏ thành “thợ giải hài tạp” giỏi thi dó là diếu <lántf mừng. Trong tất cả các kì thi tiểu có yêu cầu giải bài tập. việc luyện cho các em đáp ứng tốt nhát yêu cầu dó vừa thiết 31
- thực, vừa góp phồn cùng với các hoạt động khác- rèn luyện nhân cách của các om. Lại có người phê phán các lớp chuyên dạy không “toàn diện”, HS học lệch; chuyên Toán hay chuyên Li thì lơ là các môn Vàn. Sử v.v Ta chỉ việc hỏi các GV chủ nhiệm các lớp chuyên thì thấy ngay rằng HS của họ hoàn toàn không thua kém gì HS các lớp đại trà về các môn không chuyên, tuy không tôn nhiều thòi gian vào các môn đó. Đơn giản là vì HS lớp chuyên dà qua sàng lọc (thi tuyển) nên đều là HS khá, “thể dục trí tuệ” nói trên lại làm cho đầu óc họ nhạy bén hơn, sâu sắc hơn. Có ý kiến cho rằng chương trình các lớp chuyên năng nề, nhồi nhét. Mục đích các lớp chuyên là cung cấp cho HS, ngoài học vấn chufí£ cho mọi em HS. những kiến thức và kĩ năng sâu rộng hơn vẻ mộĩ rriôn khoa học nào dó mà họ thích thú và có khá năng học được, h,ướng dần các em bước đầu nắm được khoa học đó và sơ bộ rèn luyện phong cách nghiên cứu khoa học. Tất nhiên chương trinh các lớp chuyên phái sâu rộng hơn. trong một số tiết nhất định phải đi nhanh hơn. sở dĩ ớ một số nơi HS không tiếp thu được tốt chủ yếu là vì “đầu vào” chưa dúng, thi tuyên không nghiêm túc. Thực tế HS lốp chuyên của một số nơi “ngồi nhầm chỗ”. Tình hình này cũng giông như tình hình nhiều trường chuyên ban. Ban A chảng hạn là dành cho MS có khá năng học khoa học tự nhiên, dự kiến trường có 10 lớp thì ban A chỉ khoảng 3 - 4 lớp, nhưng lại mỏ tới 8 - 9 lốp thì rất nhiều HS “ngồi nhầm chỗ” và dĩ nhiên chương trình ban A trỏ thành quá tải. HS các lớp chuyên có tiếp thu được chương trình hay không? Câu trả lời là két quả các kì thi quốc gia vì háu hết thí sinh các kì thi này là HS các lớp chuyên. 32
- L.I thành vi ôn cua ban giám khảo món Vột li lừ 15 nám nay lôi I hây ban giám khiio rất hài lòng vé kết quá các kì thi, chì phim nàn rang kỏt quá của bảng B (các tỉnh miến núi) thua quá xa két quá của biinự, A (cár tình đồng bang), nhưng sụ cách biệt (ló la tình trạng chung của nền giáo đục nước* ta. Ớ kì thi quốc g\:\ Mâm nay. dề thi món Vật lí lớị) 9 có 4 bài toán dểu khó. riêng bỉu sỏ 1 (Cơ học) thì ban giám khảo cho là quá khó. có thế phải 1)0 nêu phẩn lớn thí sinh không làm dược (để kết quả chung khỏi quá thấp). Nhưng đến khi chấm thì hóa ra rất nhiều thi sinh (phán lớn là của háng A) làm được, thậm chí vài em lại có lời giải dầy đủ hơn đáp án, vì xét thêm một scV trường hợp khả dĩ nữa không có trong đáp án. Chúng tôi dà đổ nghị trao một sô lớn giai vì thấy xứng dáng, nhưng sau xét tương quan giữa các môn dành phải rút bớt. Chúng tôi bảo nhau: HS lớp chuyên giòi thật! Có người lại phê phán rằng HS các lớp chuyên giỏi lắm là giật được giải quốc tế. không ai sau này trở thành nhà bác học! Nêu hiểu là nhà bác học ỏ mức quốc gia thì có dấy. một sỏ nhà khoa học có tên tuổi của nước ta trước đây là HS lớp chuyên. Hầu hết HS các lớp chuyên đều trở thành củ nhân, tiến sĩ thành cán bộ khoa học - kì thuật đác lực của nước ta. Trong việc hình thành đội ngũ cán bộ đó có sự dóng góp nhỏ nhưng đáng trân trọng của các lớp chuyên. Các lớp chuyên chỉ có thế phát hiện, bồi dưỡng các mầm mông nhân tài. có thành nhân tài hay không còn phụ thuộc vào việc học dại học, sau đại học vào hoàn cảnh công tác và nỗ lực cá nhân. Có ý kiến phàn nàn rằng việc mỏ các lớp chuyên, lớp chọn gây ra tâm lí ganh (lua trong phụ huynh HS, ai cũng muôn cho con em mình được học các lớp ấy vì có nhiều thầy giỏi dạy, nên
- bát con om học thêm dể dự thi tuyển, “chạy chọt" dc C011 om (lược vào. Chỉ có việc “chạy chọt" bất hợp pháp là sai. còn tâm lí muốn cho con em mình trở thành HS giỏi thì rất chính dáng. Chỉ cần phụ huynh đánh giá đúng con em mình, nếu không có kha năng lụt vào lớp chuyên thì đừng “cố dấm ăn xôi", cử dể nó học thoải mái ỏ lớp thường, dứng dầu ở lốp thường con hơn dứng “bét” ỡ lớp chuyên. Có một vài diều chưa hay trong tình hình các lớp chuyên, lớp chọn, chủ yếu là việc mở tràn lan. Theo tôi chi' cần chấn chỉnh các lớp chuyên, không nén xóa bỏ. Nay Bộ Giáo dục và Dào tạo đã có quyết định xóa bỏ các lớp chuyên ỏ cấp THCS. Nhiều người bảo tôi “Yên chí, các trường sẽ đổi tên lớp chuyên thành “lớp chất lượng cao"! Có nhu cầu thì nó SC vẫn tồn tại. Nhưng tồn tại lén lút như vậy thì quả là không ổn, càng khó quản li. càng dỗ lệch lạc. Hiện nay vẫn có thi HS giỏi cấp huyện, tỉnh, cho lớp 9. nên các trường có HS dự thi sẽ phải có nhiều hình thức bồi dường, nhiều loại “lớp chất lượng cao” để đáp ứng yêu cầu. vì không có sàng lọc thì làm sao có HS giỏi dược! Ngày 25/8/1997, tôi được mời dự lễ khen thưởng các em HS đoạt giải trong các kì thi quốc tế. Hầu hết các em này dều là HS các lóp chuyên. Tôí và mấy giáo sư dã tham gia bồi dưỡng các em bảo nhau: “Không có các lớp chuyên, chúng ta đừng hòng đoạt giải quốc têV\ 34
- ĐÀO TẠO■ NGUỒN NHÂN Lực • CÓ TRÌNH ĐỘ• CAO PHỤC • vụ # NEN k in h t ê TRI THỨC NƯỚC NHÀ (U GS. Pham Sĩ Tiến ang thế kỉ XXI khái niệm về kinh tế tri thức ngày càng rõ ràng và dược sử dụng rộng rãi ó nhiều nước. Đê hình thành một nền kinh tế tri thức cần có nhiều diều kiện, nhưng quan trọng là phải có một nguồn nhân lực trình độ cao có khả lùmg nam bắt và làm chủ các tri thức mối nhất trong thời đại. Nhân lực trình độ cao được hiểu là những người có dược đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau, nhưng chủ yếu dược đào tạo sau đại học. Nước ta dang trong thời kì dẩy mạnh công nghiệp hóa. hiện dại hóa và dang chủ dộng hội nhập quốc tế, do đó hình thành và xây dựng nền kinh tế tri thức sè là điều tất yếu. Việc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đõ phục vụ nền kinh tế tri thức ở nước ta dã thực hiện thế nào và triển vọng ra sao ? Những năm qua sự nghiệp dào tạo nhân lực trình độ cao đã đạt dược thành tựu nhất định. Vổ mặt số lượng. Liên xô và các nước XHCN trước đây dã tạo cho nước ta khoáng 10 ngàn cán bộ có họe vị tiên sĩ. tiến sĩ khoa học. Và tinh đến nay các cơ sở đào tạo sau đại học trong nước đã dào tạo được gần 5 ngàn người có học vị tiên sĩ. 38 tiến sĩ khoa học và hơn 10 ngàn thạc sĩ. Thành tích " Bài đăng trẽn "T ự học" số 15 (2/2001). 35
- (ló được đánh giá trong Nghị quyết II Ban Chấp hành Trung ương Dâng khóa VUI: "Ciiáo dục sau đại học đã đào tạo dược số lương đáng kê cán bộ có trình độ cao mà trước dãy phái dưạ vào nước ngoài". Vổ mặt chất lượng và hiệu quà. hiện nay trong tất ca các lĩnh vực khoa học củng như kinh tế - xà hội ở nước ta, những người có hạt’ vị tiến sĩ. tiến sì khoa học dà và đang phát huy khá nàng của mình. Cùng với các cán hộ được đào tạo ỏ nước ngoài, không ít người dược dào tạo trong nước đã trỏ thành cán bộ dầu ngành và có những dóng góp rất dáng ghi nhận với những ',iải Lhưỏng quốc gia, quốc tế. Nhiều người dược phong hàm giáo sư, phó giáo sư, có công lao lớn trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong nước, cùng như với tư cách là chuyên gia giáo dục nước ngoài. Nhiều công trình nghiên cửu cua họ được ứng dụng rộng rãi và mang lại lợi ích to lớn cho xà hội. Tuy nhiên, nếu so sánh vói yêu cầu của việc xây dựng một nến kinh tế tri thức chúng ta phải dào tạo sau đại học tốt hơn hiện nay đồng thời cử cán bộ di dào tạo tại nước ngoài một cách có hiệu quả. Các cơ sở dào tạo sau dại học phải chuyến biến cho phù hợp với yêu cẩu mới, vừa phải tảng quy mô đào tạo với mức độ hợp lí đê đáp ứng yêu cầu, song phải đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng dào tạo. Trong đào tạo thạc sĩ, việc xem xét xây dựng lại chương trình dào tạo sao cho hiện đại, phù hợp với điểu kiện nước ta. phù hợp vối đổỉ tượng đào tạo. mang tính thiết thực, cập nhật khoa học tiên tiến và ngày càng hòa nhập với các nước là việc quan trọng. Nhưng cùng với việc xảy dựng chương trình đào tạo mới. các cơ sở đào tạo phải thực hiện cai tiến phương pháp dào tạo một cách triệt để. Đào tạo sau đại học phải là cấp học di dầu trong việc tự học là chính , vì thố. mỗi môn học trong chương trình phải giới hạn việc giáng dạy lí thuyết, ấn định giờ trao dổi. thảo luận hay học nhóm của người học, phải
- quy (lịnh rỏ k'Hf tự học và tài liệu bát buộc, phải nghiên cứu đôi VỚI ngưii 1 học. Một số môn học phải yóiỉ cầu chặt chẽ. khôi lượng (hực hành, thi nghiệm. Mồi giảng viên sau đại học phái thấy rõ trnrh nhiệm giáng dạy VỚI chất lượng rao và có kèt quả ỏ bậc học này. Trong một thời gian ngắn, ưỏc ('hừng 2.3 nam chúng ta phái biến việc (lào tạo mà ngưòi học* chủ động cao. tự học. tự cửu với sự giúp (1(1. hỗ trợ vế phương pháp học tập và nphión cứu của giáng VHM1. người hướng đản khoa học. Tiến sì là trình (lộ cao nhất, tiêu biếu cho chất lượiiK đào tạo cua bạc sau đại học. do (ló chất lượng dào tạo phái dám bào ngày càng nâng cao. Luận án tiến sĩ phái chửa dựng những đóng góp mới có giá trị trong lình vực khoa học chuyên ngành, thế hiện khả nãng sáng tạo. độc lập nghiên cửu khoa học của nghiên cứu sinh Với yêu rầu như vậy thì phẩn lớn các dề tài luận án tiến sì phải xuất phát từ những công trình nghiên cứu khoa học, thể hiện sự kết hợp chặt chõ và tự nhiên giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học. Vế phía người họi*. VỚI y thúc học tập đê nam vững kiên thức và kĩ nàng chuyên ngành. người học cố quyền yêu cầu các cơ sỏ đào tạo. rác giảng viên cung cấp đủ tư liệu, tài liệu tham khảo (lổ mỗi người tự nghiên cứu là chính, bài giảng của giàng viên phài mang tinh chỉ (lẫn rõ ràng. Mặt khác, Iìgười học cũng dược phép yêu cầu giáng: viên tư vấn về chuyên môn sau các bài giáng trẽn lớp học hoặc tạo diếu kiện cho người học nghiên cứu khoa học. Yêu cầu của người học sẽ ỉà một yếu tô quan trọng I húr dẩy các cơ sờ dào tạo thay dổi cách thức dào tạo hiện nay. Cùng với việc đào tạo trong nước, từ năm 2000 chúng ta triển khai để án "Đào tạo cán bộ khoa học kĩ thuật tại các cơ sỏ nước ngoài bàng ngân sách Nhà nước". ĐỂ án này mỏ ra một thòi kì mới (lé dào tạo cán bộ khoa học kĩ thuật trình ciộ cao, mà (lợt đẩu sẽ là những "máy cái" hoạt dộng ở các trường đại học và
- những người công tác tại các viện nghiên cứu. Trong tuyển chọn sẽ ưu tiên cho các ngành khoa học trọng điểm, các ngành khoa học kĩ thuật và nông, lâm, ngư nghiệp song cũng dành chi tiêu thích đáng dể dào tạo dội ngủ cán !>ộ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân vãn. văn hóa nghệ thuật và V dược. Năm đầu tiên triển khai để án đào tạo tại nước ngoài, nhiều người còn rụt rè trong việc đảng kí dự thi vì họ chưa chuẩn bị tốt về kiến thức ngoại ngữ cũng như chuyên môn. Mặt khác, một số trường đại học, viện nghiên cứu chưa có kế hoạch mạnh dạn trong đào tạo cán bộ, chưa tạo diều kiện dể nhiều người dự thi để Nhà nước có diều kiện lựa chọn dể bồi dưỡng nhân tài. Nhưng với việc tuyển chọn nghiêm minh, công bằng chúng ta sẽ lựa chọn được những người xứng đáng dể cử đi đào tạo tại các nước có nền khoa học và công nghệ phát triển. Những người được chọn lựa cử đi học sẽ được cung cấp đầy đủ điều kiện để học tập tô*t nhất, tiếp thu kiến thức và phương pháp đào tạo mói cũng như tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại. Đê' án có nhiệm vụ quản lí chặt chẽ trong và sau quá trình đào tạo, giúp việc đào tạo nhân lực trinh độ cao ở nước ngoài không những thành công về mặt số lượng, chất lượng đào tạo mà còn thành công ở chỗ đào tạo được những ngưòi có ý thức chính trị tốt, làm việc hết lòng cho đất nưốc. Đào tạo sau đại học trong nước cùng với dào tạo ỏ nước ngoài sẽ là hai hướng song song và đểu quan trọng. Phải làm tốt cả hai hướng dào tạo thì mới đào tạo được nguồn nhân lực trình độ cao, phục vụ cho đất nước phát triển, đặc biệt là trong các ngành mũi nhọn của khoa học công nghệ, góp phần hình thành nền kinh tế tri thức của nước nhà. 38
- BIẾT MƯỜI DẠY MỘT VÀ HỌC MỘT BIẾT MƯỜIm GS. Nguyễn Vãn Đạo ó thể phân loại các phương pháp dạv và học ỏ dại học Cthành hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất, dạy và học theo kiểu "thấy đọc - trò ghi". Người học chí học theo những điểu thầy đà dạy, không tham kháo thêm tài liệu, sách báo khác. Theo phương pháp này. mức độ điêu khiển của giảng viên tương là cao hơn nhưng thực ra là rát thấp, khiến cho ngưòi học tiếp thu kiến thức một. cách thụ dộng, kém khá năng sáng tạo và khả nàng tự học suốt dời. cần phái châm dứt các phương pháp dạy và học theo kiểu này ở các trường đại học của ta càng sớm càng tốt. Nhóm thứ hai. Lấy người học làm trung tăm, coi người học là chủ thể của quá trình dạy và học. Giảng viên chỉ dạy những kiến thức cơ bán, (lóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra quá trình học. không làm thay ngưòi học. Còn người học phải tự diều khiển quá trình tiếp thu kiến thức, tham khảo mỏ rộng kiên thức theo các tài liệu, sách báo, dưới sự điểu khiển sư phạm của giảng viên. Giảng viên nêu ra vấn đề, sv tập giai quyết dể. Có sự dối thoại giữa giảng viên - sv, giữa s v - sv. Hai hoạt động dạy Víì học cùng phôi hợp với nhau và cùng phát huy tác dụng, dẫn tới chất lượng cao của đào tạo, hình thành nên Bài đáng trên “7y học" số 10 (9/2000). 39
- những con người có dầu óc sáng tạo. có khả nâng di xa SUÔI (!Ờ1 trên con dường học vấn. Đáy là phương pháp dạy tiên tiến, cần được áp dụng rộng rãi trong Lất cá các trường dại học của ta. Ớ bậc đại học, phương pháp giảng dạy và phương pháp học tập có vai trò cực ki quan trọng dối với chất lượng dào Lạo. Dể đạt hiệu quả cao cho người học: "học một biết mười", điều đầu tiên cần đòi hỏi ỏ người dạy là phải "biết mười dạy một". Biết mười ở đây không chi' dơn thuần về khối lượng kiến thức mà còn cả vổ phương pháp tư duy, khả năng sáng tạo, ý chí vượt khó, đạo dức, tư cách. Do vậy, người giảng viên dồng thời phải là nhà khoa học. Người ta nói rát đúng rằng: "Một người diễn thuyêt giỏi có thể không phải là nhà khoa học. Song một GV đại học giỏi nhất thiết phải là nhà khoa học". Ngày nay, với sự phát triển vũ bão của khoa học và công nghệ trong nền kinh tế tri thức với tốc dộ tăng trướng nhanh chóng của kiến thức loài người, việc chuyển đổi ngành nghề đã trở thành tất yếu vối nhiều người thì việc học và tự học suốt đòi đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi con người, việc khiến tạo nên xã hội học tập trớ thành trách nhiệm của mọi quốc gia. Vì vậy, khi nói đến chất lượng đào tạo, chúng ta phải nhìn nhận không chì thông qua kết quả học tập trong những năm tháng học ở nhà trường, mà còn đánh giá ở khả năng đáp ứng công việc sau khi ra trường, khả năng chuyển dịch ngành nghề trong cuộc đòi và khá năng phát triển, theo kịp những thành tựu hiện đại của khoa học và công nghệ. Thời gian học tập trong trường dại học chỉ hạn chế trong vòng 4 - 5 năm. Vậy thì những gi cần phái cung cáp cho s v đế họ có thể sử dụng và phát triển trong suốt cuộc đòi. đó là: 1. Một sô kiến thức cơ bản, chính xác. Điều này đòi hỏi giảng viên phải rất giỏi về chuyên môn để có thể nêu cho sv 4 0
- 11 hlin 14 khái Inôm cri bán nhất. giúp họ hiểu bán chất vấn đê. Nó cũiifĩ (lòi hỏi sv có đủ trinh độ để tiếp thu kiên thức, có đủ thông tin khoa học, giáo trình, tài liệu tham kháo có chất lượng cao, cỏ dược các phòng thí nghiệni tốt. 2 . sv phài dược trang bị phương pháp học, phương pháp tự học, phương pháp tư duy dể hiểu sâu sắc và bàn chát vấn dề, phương pháp sáng tạo dê phát triển vấn dề. Chính là phương pháp (lạy rủa giảng viên và phương pháp học của s v sẽ tạo nôn cỗ xo dưa s v đi suốt cuộc dời lao động vã sáng tạo của họ. 3. Có kiến thức cơ bán. ngoại ngữ và phương pháp học tốt, . sv còn cần dược rèn luyện tốt về th ể lực và ý chí. Dó là ý chí vượt khó, quyết tâm vươn lẽn. không chịu kém cỏi, nghèo nàn. lạc hậu. Vì việc học và tự học suốt đời dã trờ thành vôu cầu bắt buộc đói với mồi con người trong thời đại chúng ta nên nội dung học tạp ỏ tát rã các cấp học phải được xem xét lại theo chiều hướng pàm tới mức tôi thiểu, chì giữ lại những kiên thức cơ bản với các tài liệu, giáo trình thật sinh động, hấp dẫn và chính xác do những nhà khoa học hàng dầu của đất nước biên soạn. Phương pháp giảng dạy của giảng viên phải dược đặc biệt quan tâm. (lược nâng lón đôn mửc nghệ thuật. Ngày nay. việc giảng dạy phái được từng bước hiện dại hóa với các công cụ như máy tính và Internet, làm cho việc giảng dạy sinh động hơn, hấp dẫn hơn. Tuy vậv. các rông cụ hiện dại nàv vẫn không thổ thay thế được các giảng viên. Họ là những người giúp đỡ. hướng dẫn s v di trên con đường học tập. sáng tạo, phát minh. Để khắc phục tình trạng học tập rul căng thẳng của HS ngày nay. đặc biệt là trước các kì thi tốt nghiệp, thi tuyển, trong 41
- thòi gian tới chúng ta cẩn tiếp tục rrní rộng quy mô dào tạo, da dạng hóa các loại hình đào tạo. huy (lộng các nguồn ngoai và ngân sách cho công tác đào tạo. Chúng ta phải cùng nhau phấn đấu sao cho việc học tạp trở thành niềm vui, niềm hạnh phúc của mọi người, dặc biệt là của thế hệ tre. Có như vậy con em của chúng ta mói có thể tự học và tự học suốt dời. chứng ta mới xây dựng được một xã hội học tập lành mạnh. 42
- MỘT• SỐ VẤN ĐỄ THỜI s ự • VẺ VIỆC • DẠY CÁCH HỌC Dạy -> ĐT, BD GV Như vậy GV cần cài tiến việc dạy bằng cách nghiên cứu việc học của người học. Theo quan điểm này, cần làm rõ quan niệm về học và dạy trong cách hiểu về môi quan hộ giữa chúng. Vậv hoc là gì? Học trong nhà trường là nói về sự thay đổi cách thức mà người học dã hiểu, đã trài nghiệm, hoặc dã quan niộm về "thế giới xung quanh mình". "Thế giới xung quanh mình" bao gồm cả quan niệm và phương pháp đặc trưng cho một môn học hoặc một nghề mà họ đang học. Bíu đàng trên "Tự học" số 17 (4/2000). 43
- Từ quan diổm này. năng lực then chốt trong việc học những môn học, là hiểu. Hiểu có nghĩa là cách thức mà người học nhận thức và pliãn biệt dược những hiện tượng liên quan đôn chủ thể. diều này còn quan trọng hơn là cách thức mà người học biết cái gì vế những hiện tượng đó hoặc biết làm thế nào để thao Lác chúng. Chinh đây là sự phân biệt giữa biết với hiểu; có thể biết mà hiểu hoặc biết mã vẫn không hiểu; còn dã hiểu thì tất nhiên phải biết. Nhiều người có thể tái hiện những kiến thức trong sách mà minh nhớ dược trong khi vần không hiểu chú đề, theo nghĩa lã chủ đề giúp giải quyết những vấn dề thực té gi? Nhiều người học có khả năng nhắc lại một khối lượng thông tin theo yêu cầu; nhưng điều nàv không nhất thiết đã là sự minh chửng về một sự thay đổi trong phạm trù hiểu, ở bất ki bậc học nào. Học là một sự thay đổi vê chất ở cách nhìn của một con người về thực tiễn; diều này rất cần thiết dể đánh giá những lập luận về học. Sự cải thiện về việc dạy phải dần đến việc học của ngươi học có chất lượng cao hơn. Nó đòi hỏi GV phải thay đổi cách nghĩ, cách cài thiện về việc học - đòi hòi sự thay clổi trong quan niệm, trong lí thuyết về dạy học, sao cho phù hợp với thực tế. Từ dó dạy là gì? Mục đích của dạy là làm sao cho người học biết học đúng cách và cách đó là khả thi. Đó là làm thay dôi cách hiểu của n g ư ờ i học, sao cho người học bắt dầu quan niệm về hiện tưựng và ý tưởng theo cách mà các nhà khoa học, Toán học, Sử học. Lí học., hoặc chuyên gia vồ các chù đề khác đã quan niệm, có nghĩa là làm cho người học hiểu được các nhà khoa học đỏ. Ciii l.iê’11 44
- giáo (lục o đại học đòi hỏi phải khuyến khích giáng vién lập luận tưòng minh vo cái họ làm và vì sao họ làm như vạy. Giả thiết ở tlíiy là. giáo dục dại học sẽ có hiệu quá, nêu người dạy tự hỏi về những tác động của việc dạy của mình dối với việc học của s v sè như thô nào? Mục (lích hàng dầu của dạy là giúp cho người học học được; dân dêĩì chỗ là: mỗi hành dộng của người dạy. và mỗi thao tác định hưỏng hoặc cải tiến việc dạy đểu cần dược xem xét theo một tiêu chí đon giản: có dẫn tới một cách học của người học dược thiết ké bài người dạy hay khôngĩ Quan hệ giùa day và hoc Dạy và học. nhất là ở đại học. gắn với nhau một cách mật thiết và có thê thiết kẽ'được. GV nên dạy như thế nào? Điều này còn tùy thuộc vào giả thiôt của GV về cái và cách mà người học sẽ học: do đó dạy tốt đòi hỏi GV phải nghiên cứu kì về cách học của người học. Dạy và học là hai hoạt dộng tương tác thường xuyên. GV phải học hỏi, lự học thường xuyên, học trong khi dạy: GV không thể dạy tốt mà lại không học thường xuyên. Dạy tốt đòi hỏi GV phải cô gắng liên tục học về cách hiểu cùa người học và về những tác động của dạy đỏĩ với cách hiểu đô. Sự suy nghi và hành động của người học chịu tác động sâu Sííc bởi nội dung và môi trường trong dó họ học. Họ rất chú ý đến những đòi hỏi của GV và của sự đánh giá; nhưng củng khó mà biết được họ sẽ làm gì? Việc học của họ nhiều khi không tập trung nhằm vào nội dung của môn học, mà lại nhằm làm vừa lòng GV. nhằm nhớ và tái hiện để đạt điểm cao mà không chú trọng đến hiểu. 45
- Tóm lại. dã học thì phái hiểu, có hiểu thì mỏi hành đũng đúọc Học -» Hiểu - > Hành Mục đích của Học là Hiểu, trên cơ sở đó là Hành. 2. Công nghệ để kiểm tra có hiểu đúng và có hãnh dũng không? Là công nghệ hỏi. Cách học có hiệu quá có thể tóm tắt là Học - Hỏi - Hiểu - Hành (4H) ^7 Hiểu Hoc = Cách học (4H) ^ Hành Có thể chia làm hai trường hợp chính thường gặp trong cuộc sông: a. Hiểu sâu, hành thạo (ví dụ để Lìm giỏi một nghề). b. Hiểu đủ, Hành ngay (ví dụ dể làm một loại thao tác thực hành dơn giàn nào đó). Nhiều tình huống thực tế có thể coi là sự giao nhau của hai trường hợp này. Từ đó có cách vận dụng-thích hợp. A. HỌC - HỎI (SÂU) - HÀNH (THẠO) Trong quá trình HỌC, tiếp thu sự giảng dạy của GV. tự nghiên cứu tài liệu , mục đích trước hết và cùng là tối thiểu mà người học phải đạt là H iểu. a. Bằng cách nào mà tự kiểm tra được là mình hiểu, hiểu "đúng", hiểu "chính xác", hiểu "sầu", chứ không phải là hiểu "lơ mơ", hiểu "sai" Chính là việc tự hỏi và việc tự trả lời mà có thể tự đánh giá xem mình dã hiểu ở mửc nào. Tự hỏi, tự trả lời, tự 46
- (lánh yiá là một (Ịuá trình phát hiện ra những điều không hiểu, không thõng suốt và rần phải tìm cách giải quyết những thao m/ic dó. Quá trình này lã quá trình mà người học rèn luyện phương pháp tư duy ch o hàn thân, nâng ca o năng lực tìm tòi giái (láp cho các cáu hỏi đặt ra, qua đó mà nắm vững hơn nhung nội dung cấn thiết, can áp dụng. Trong quá trình này. nếu tự mình thấy không thoả mãn ỏ chỗ nào đó. thì có thể húi người khác và tiếp thu lời đáp, nhờ đó có thể hiểu hơn. b. HỎI người khác có nhiều cách, có thể chia thành 2 loại chinh: hỏi chù dộng hoặc tích cực và hỏi thụ động. Hỏi chú động là chỉ hỏi sau khi đã tự hổi. tự đáp và dã thây rõ chỗ nào là chỗ minh không tự thoa mãn được; như vậy, câu hỏi sẽ cụ thê hơn, sáng súa hơn. mang tính địa chỉ cao hơn. Khi hỏi tích cực. lúc: nhận dược câu trả lời thì sẽ có cảm giác ngay là "thông" hay "chưa thông" với câu trả lòi, từ đó có thêm cơ sở để tiếp tục tìm hiểu vấn dể kĩ hơn. Ở dây. can chú ý hai thái độ của người hỏi đối với cáu trả lời của người khác: dễ dàng chấp nhận hoặc vội vàng không chấp nhận, tức là dểu chưa suy nghĩ kĩ về câu trả lời mà đã Lỏ thái độ. dễ mắc khuyết điểm về sự "chủ quan". Két quá cần dạt. phải là "hiểu hờn trước", rồi từng bước tiến liên "hiểu đầy dủ hơn, hiểu sâu hơn". Thiếu khâu tự hỏi, tự đáp mà đã di hỏi người khác ngay, thì cáu hỏi thường chuẩn bị không kĩ càng, không đủ sáu. cho nén hiệu quả tiếp nhận lời đáp sẽ thấp, tức là không hiểu thêm được mấy. Khái niệm hỏi "người khác" có hàm ý rộng, là đặt câu hỏi với các đối tượng "ngoài bản thân"; đối tượng này không chỉ là "người" khác mà còn là: a/ Các tài liệu, tư liệu rất đa dạng, như sách, báo, phim, ảnh, băng ghi ám, ghì hình, di tích, di sản v.v ; b/ Các phương tiện mới về công nghệ thông tin và truyền thông như các công cụ nghe nhìn, máy tính, mạng thông tin trong nước, quốc tế Như vậy, tiềm năng của "người khác" (với nghĩa 47
- rộng) là một nguồn lực bên ngoài rất mạnh cho việc hỏi, việc hói chủ động. Quá trinh tự học của người học là quá trinh kết hợp sự nỗ lực chủ quan của người học, chủ yếu là nỗ lực tư duy với sự tranh thủ tận dụng, khai thác cùa người học đôi với những nguồn lực ngoài. c. Khởi sự việc hỏi theo kiểu chủ dộng, là khởi sự một quá trinh tương tác với "người khác". Có hai loại tương tác: tương tác trực tiếp và tương tác gián tiếp. Tương tác trực tiếp là quá trình: "hỏi - đáp"; "hỏi tiếp • dáp tiếp" giữa người hỏi và người được hỏi. Điểu này thường xảy ra giữa người vối người, và ngày nav lại còn có thể xảy ra giữa người với loại máy tính cùng phần mềm có tính năng tương tác. Tương tác gián tiếp xảy ra khi ngưòi dược hỏi không phải là những trường hợp vừa nêu; ví dụ, người hỏi di tra cứu sách, nhận được lòi đáp của sách, có thể thây chưa thoả mãn. nên tra cửu tiếp tục, có thể cả ở những nguồn khác cho đến khi "tạm hài lòng" hoặc "được thoả mãn". Sự tương tác này được sinh ra. bắt đẩu từ việc hỏi; hiệu quả tương tác, trước hết phụ thuộc vào mức độ "chuẩn bị hỏi". Khư vậy, người học phải học cách hỏi: cách tự hỏi và cách hỏi "người khác". GV cần dạy cho người học cách học, cách tự học, đặc biệt là cách tự hỏi, cách hỏi "người khác". Tự hỏi - Tự đáp - Tự đánh giá -> Hiểu -y Hành Chù động -> Hiếu -> Hành Thụ dộng -> Hiểu -» Hành (Học - Hỏi - Hiểu) - Hành: Hướng cùa liỏi là dể hiểu sáu, rồi thành thạo. 48
- Con đườn^r Học - Hành theo sơ dồ này là phái qiiíỉ Hiêu tức là luõu (Xí s<> li thuyết, nhận thức rủa hành- Dâv l;i con đường hĩio chái lượng. theo chiều sâu, hiếu sâu từ đó hành thạo. Như vậy. học phải đi dồi với hùi thi mới lì ị cu . hiùu sáu Víì (IniiỊi thòi mỏi lại tháy nhtintf điểu còn rhiía hiếu, can phải tiỏp tục học. Ong cha ta thường nói "học hói ", ró thể hiõu như sau: Khi học, thi không nên chỉ tiêp thu một chiồu. mà phải lật (li lạt lại vấn đề. tức là pbẩi dê ra dược cáu hỏi và tìm (ỉưực cách trá lời. thì mới hiếu được sâu, được rộng. Nhận thức (lược tầm quan trọng cúa việc hỏi, cần học cách hói, để cáu hòi phàn ánh được "trúng" diều còn chưa hiểu, điểu còn chưa biết, để câu hỏi thể hiện dược* lộ trình các bước hỏi:-cặp "câu hỏi và trá lời" thứ nhất là tiền dô cho cặp “câu hòi và tra lời" thứ hai V.V Như vậv, "hỏi" chính là một thao tác "kích thích" tư duy trong quá trình học. mà nhiệm vụ là đặt ra một vân để phải gioi quyết, nhàm làm cho người học hiểu sâu hơn. Có thể biểu thị ý trên thành 3 khâu: HỌC - HỎI ■ HlỂU. d. Trong việc học. thuật ngữ "hỏi" xuất hiện dưới nhiều dạng. Ví dụ: - "Học hòi", như trôn dâ nêu, là: học phải đi dôi với hỏi, với cách hỏi. • "Vấn đế". Từ "vấn" có nghĩa là "hỏi"; từ "để" có nghía là "dể xuất”, "dặt ra" cụm từ "vấn đề" có nghía là "đề xuất cáu hỏi", “đặt ra câu hỏi”. Việc học xét đến cùng là nhằm nâng cao "năng lực trả lòi (giải được) những câu hồi được để ra (vấn để)% và ra quyết định (quyết), "năng lực giải quyết vấn đề". Chính vì vậy quá trình học phải là quá trình hỏi (vân) và trả lời (đáp), là quá trình "vân - đáp", là một chuỗi vấn - đáp”, khâu trướclà tiền dề cho khâu sau. Bằng cách đó. người học di sâu vào vấn để, hiểu rõ vấn đề hơn, đầy đủ hơn, từ đó có khả năng hành dộng, giải quyết vấn dể vững chắc hơn. 49
- - "Tư vấn", ' Cỏ vấn". Trong nhiều trường hợp. người học phải hỏi "người khác" chính là tìm người "tư vấn", "cô vấn" để hỏi các vị và để góp ý. khuyên cáo. c. Việc tự học rủa sv là một quá trình nghiền ngầm điều m ình học, lật đi lật lại vãn đề, hình thành những thắc mác, những câu hỏi. đi dôi với sự cố gắng tự trả lòi dể giải quyết từng khâu Trong qua trình này. ở những chỗ thích dáng, cần tim thầy, tìm bạn, tìm tài liộu. sử dụng máy vi tính v.v. dể hỏi. để tra cửu, thậm chí để dối thoại. Cốt lõi của việc tự học của s v là việc tư duy, rèn luyện phương pháp tư duy, tư duy độc lập, tư duy phân tích, phê phán, tổng hựp, tư duy sáng tạo. Cách tư duy trong tự học ngày nay cần tính đến hiệu quà tương tác nên tổ chức học tập và làm việc theo nhóm, có đối thoại, kê cả học tập có máy tính hỗ trợ. Chính vì thế ỏ Hội nghị quốc tế về đại học thế kỉ XXI: "Tầm nhìn và hành động44 (tháng 10/1998, tại Paris do UNESCO• tổ chức), đã nêu rõ: người tốt nghiệp đại học ngày nav phải là nhản lực tư duy. Đặc trưng của phương pháp học ỏ đại học là học cách tư duy để giải quyết vấn đế. B. HỌC - HỎI - HIỂU (ĐỦ) - HÀNH (NGAY) Hướng của hỏi là để hành ngay. Khâu hiểu ở đây vẫn phải có, nhưng không đến mức phải hiểu sâu, mà chủ yếu là hiểu các yếu tô trực tiếp cho hành, như quy trình, thao tác. Con đường này thường dùng trong đào tạo ngắn hạn, cũng như trong nhiêu trường hợp cốt thao tác ngay, đúng quy trình. Tuy nhiên, sự hiểu không sâu cũng có ảnh hưòng đến hành, nhất là khi phải xử lí những trục trặc, sự cô khi hành. 50
- Tự hôi - Tư chip -> Hiếu » Ilânli > Tích cực -» Hiếu -> Hành Hành (Hoc - Hòi - Hiếu) - Hành: Hướng niu hòi là (lù hint liê hanh ngay. 3. Cách học thông minh đòi hỏi phải có cách dạy thông minh Một vài ví (lụ lấy từ những câu châm ngôn của ông cha ta. • Đó là học có sáng tạo: "hục một - biết mười". Vai trò hỗ trợ của GV trong dạy cách học cũng phải theo hướng dạy thông minh: muốn vậy, GV phải “biết mười đổ dạy một”, tức GV phải tự học. tự cập nhật kiến thức, phải học thường xuyên suốt đòi, đổ luôn luôn không “cạn thông tin mới”, từ dó luôn luôn giữ dược "vị thê biết mười". GV dùng sự hiểu biết sâu rộng của mình dể hưống dẫn, gợi 1ĨÌỞ cho HS, thực chất là GV tạo cho HS môi trường trí tuộ cần thiết để HS tự phát huy. • Đó là chú trọng học bọn. "Học thầy, không tầy học bạn". Vai trò rủa GV là tổ chức các cách học nhóm, tạo ra tương tác HS - HS, HS • GV, giao cho nhóm tự quản lí dưới sự hỗ trợ •ủa GV. HS có thể tự động “kết bạn” cùng học với nhau. 51
- • Dó là hết lòng học thầy, "Không thấy đô mày lùm nên", “Tôn sư học dạo". Chỉ khi HS hết lòng học GV thì mới có thể học dược nhiều, có hiệu quả. GV có tác dụng với HS trước hết là nôu gương: gương về cách sống, cách dối xử: gương về tinh thần "học không biết chán, dạy không biết mỏi", gương về vận (lụng trí tuệ, giải quyết các tình huống, những kinh nghiệm và bài học chính GV đúc kết; gương về tổ chức làm việc khoa học. nghê nghiệp v.v chứ không chỉ là những bài giảng, những kì tháo luận. Cách dạy của GV giỏi là tạo cho người học được tiếp xúc, làm việc trong môi trường có nhiều GV giỏi, rồi cớ những điều kiện vật chất kĩ thuật tốt. 52
- CẢI TIẾN PIiươN G PHÁP GIẢNG DẠY ĐẺ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO1’ PGS.TS Ngò Doãn Đãi rong Nghị quvôt Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đàng Cộng sán Việt Nam khóa VIII về định hướng chiên lược phát triển giáo dục.dào tạo trong thòi kì công nghiệp hóa. hiện đại hóa và nhiệm vụ dến nảm 2000. ỏ phần •'Những giải pháp chủ yếu” có mục ‘Tiếp tục dổi mới nội dung. PPGD - đào tạo ”. Một trong những biện pháp được ghi ỏ mục này là: “Đổi mới mạnh mẽ PPGD - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiểu, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đàm bào điểu kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS, nhất là s v đại học ”, Đã hơn õ năm trôi qua, Nhà nước và các trường dại học đã làm nhiều việc dể phát triển nền giáo dục đại học, nhưng hầu như chúng ta chưa quan tâm đầy đủ dến việc dôi mới phương pháp giảng dạy (PPGD) chứ chưa nói đến việc phải đổi mới mạnh mẽ như Nghị quyết đã chỉ ra. Li do gì cản trở chúng ta quan tàm dổi mới phương pháp giảng dạy trong các trường đại học trong thời gian q ua? - Hạn chế về thời gian " Bài đảng trẽn "Dạy - Tự học" số 21 (12/ 2001). 53
- Quy mỏ dào tạo phát triôn quá nhanh, trong khi chúng la phai thực hiộn những cải rách về quy mỏ, hình thức tổ chức nhà trường, quy trình đào tạo, quy chế kiểm tra thi cử và công nhạn tốt nghiệp, làm cho: + Các nhà quân lí bận rộn với việc tìm cách tàng nguồn lực và sử dụng nguồn lực dể cải tạo cơ sờ vật chát dã quá hạn chê và lạc hậu so vổi nhu cẩu phát triển và quy mô (lào tạo ngày càng lớn. với việc nghiên cứu và thử nghiệm những mô hình mới về tổ chức nhà trường, với việc tìm hiểu và áp dụng các quy trình, quy chế dào tạo mới do Bộ Giáo dục & Dào tạo ban hành; + Các cán 1>Ộ quàn lí chuyẽn môn ờ các khoa, bộ môn bận với việc lổ chức, xây (lựng và chinh lí chương trình, tổ chức, phân công giảng dạy. viốt giáo trình trong diếu kiện số s v tăng mạnh; + Các giang viên, tuyệt dại da sỏ quá tải với sô giò lên lớp ỏ rất nhiểu hộ (dại họe, sau dại học. cao dang, chinh quy. tại chức, văn bàng thứ hai) rủa trưòng mình và các trường dại học dãn lập. các lớp đại học tại chức ở các địa phương. Giò dây. khi các mô hình tổ chức nhà trường và quy trình dào tạo đã tương đối ổn định và khi chúng ta đà nhận ra là phái thu hẹp bớt quy mô (lào tạo và chú ý hơn tới chất lượng dào tạo. chúng ta đà ró diếu kiện để quan tâm đến PPG1). - Hạn chế trong nhận thức, nhất lò trong đội ngũ cán bộ, Ị*làng viên. Cho đến nay vẫn tồn tại VỈÌC quan niệm chưa day (lù sau: 54
- ]. Nêu thủV iịiòi IV kiên thức chuyên môn thi tlìáv sẽ (lạy ịỊUỉi Vé sự (Ịuan trọng của kiên thức chuyên mún thi không ai phu nhận, nhưng kiên thức chuyên món mới là diếu kiện cần để giĩing dạy K1Ó1. chứ chua phải là diếu kiộn đú. () Mì. IKÍ1 mà các trường dại học có nhiều giáo sư giòi và lớp học (lược tó chức theo lôi ghi danh, mím 1978 Gaff đà klìào sát \M 2 sv, dưa ra một danh mục 30 điều cần dược nâng cao trong việc Riảng dạy ớ trường đại học và đề nghị họ xốp thứ tự. s v dà xcp klốn thức của thầy ỏ cuối danh mạc. Có nhiều giáo sư dã xuát bản nhiều sách chuyên môn và công bô nhiều bài báo, nhận được nhiều tài trợ cho các đề tài nghiên cửu. nhưng sô sv ghi tên học thì lại ít và nhiều ngưòi bỏ dỏ môn học của giáo sư ấy (Marvellen VVeimcr, 1990). 2. Cái mà thầy cẩn dạy chỉ là nội dung Trong thố giới hiện đại quan niệm này hết sức không đầy đủ vì kiên thức nhãn loại nói chung và trong mồi ngành khoa học nói riêng ngày càng nhiều. Thầy giáo bị một sức ép là (lạy một khối lượng nội dung lỏn. trong khi sỏ* tiết học dành cho môn khoa học không đượe tăng them. Điếu này giải thích tại sao khi xay dựng chương trình, ngành nào cũng kêu số tiết dành cho môn học của mình ít. Nhà hóa học Lagowski (1985) cho rằng nẽu quan niệm (lạy học là dạv kiến thức cần cho sv khi ra trường thì làm sao nhà trường có thể dạy dú dù chỉ 80% kiến thúc cần thiết cho một nhà hóa học làm việc trong 35 năm. Maryellen Weimer trong euôn ‘improving college teaching’ (San Francisco. Oxford. 1990) cũng nêu ra hai quan niệm sai lầm cản trò việc cải liến phương pháp giảng dạy như trên. Ngoài ra. tác giả này cỏn nêu thêm một quan niệm sai lầm thứ 55
- ba cho rang: người dạy giỏi là người có khá năng bấm sinh (Good teachers are born). Quan niệm này phú nhận việc cài liến IT giảng dạy của những GV dạy yếu. Tại sao cần phải cải tiến phương pháp giảng dạy? Hơn bao giờ hết, lúc này chúng ta cần quan tâm đên việc Cíii tiến PPGD vi: + Xã hội loài người ngày nay là xã hội tri thức và thông tin. Sự đổi mới với tốc độ rất nhanh trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ tác dộng đốn thông tin ở ba khía cạnh: - Thông tin có giá trị không dài. - Khôi lượng thông tin tăng nhanh, - Nội dung thông tin ngày càng chuyên môn hóa và phức tạp (S. T. Chong. 1998). Như vậy, cách dạy chỉ hướng tới cung cấp kiến thức (thông tin) sẽ luôn luôn lạc hậu với thời đại. Xã hội tri thức và thông tin đòi hỏi một nền giáo dục suốt dời cho mọi ngưòi. Giảng viên phải hướng tới việc dạy cho s v biết cách học là chủ yếu. + Xã hội hiện đại đòi hỏi những s v tốt nghiệp dại học những phẩm chất khác trước đâv. Đó không phải là những con người học gạo với một lô kiến thức sách vở. mà là những con người năng dộng, biết tự làm giàu kiên thức và biết vận lỉụng một cách sáng tạo những kiến thức ấy dể giải quyết các vấn đế đặt ra trong cuộc sống. Năm 1988 Hội nghị hiệu trương các trường đại học của các nước châu Âu họp tại Geneva có hơn 500 trường dại học danh tiếng tham gia dã uỳ quyền cho Viện Nghiên cứu giáo dục dại học đặt tại Brussels tiến hành khảo sát, để nghị 6 chủ tịch của 56
- cnc rôììịĩ, tyíỊUÔc ị:\:ì (I;i ngành khốn.ụ lô Irà líii ciìììịi một n\u hói: Họ linrl) ni);11 lo;u hinl) s v tốt ngluội) nào? C;i (') vị chù tịch rủa rác* rònịị ty ÍỊUÔC s»1; 1 (la ngành trôn không hổ nhric* (lên bất cứ yru câu nào ví* kú*n ihửc chuyên ngành củỉi nlnìiHí n^ưùi tồt nghiệp. nhưng họ (' mà họ tuvÍMi đụng là: có sáng kirn, có tính sáng tĩìo và có tính linh hoạt (Wang Yi Bintf. 2000). Tháng 9/1992 Hội nghị ịiriiii Ilội (!ổng ỉĩiáo dục Australia và Bộ (ỉiáo (lục * Dào tạo - V](‘C làm Australia (là (lưa ra một kiên nghị về 7 nàng lực lh(*n chót (key compotrncios) cần dược đưa vào mục tiêu (lão tạo dê s v ra trường có thổ lao dộng có hiệu quả trong một cuộc sõng thay dối nhanh chóng là: - Năng lực thu nhập, phân tích và tố chức thõng tin: - Nang lực truyền bá những ý tương và thông tin: - Nàng lực kê hoạch hóa và tổ chức các hoạt dộng; - Nàng lực làm việc VỚI người khác và trong (ỉồntf dội: Nang lực sử (lụng những ý tường và kĩ thuật toán học: Nàng lực giải quyết vấn đề: Năng lực* sứ dụng công nghẹ; + Xét vể mục liêu dạy học. từ cá ('lì đây gấn nứa thê ki người ta ciầ chia ra [ị loại mục Liêu cần dạt dưực là: nhặn thức (cognitive), Cíim xúc (affective) và kĩ nàng (psychomotor) [Bloom. 1956Ị. Nhưng ỏ nước ta hiện nay các GV thường mới chỉ chú ý dôn mục tiêu nhộn thức. Ngay trong mục tiêu này, vốn có deni 6 bậc: hiỏt (knowledge), hiểu (comprehension), áp đụng (application), phân tích (analysis), tông hợp (synthesis) và đánh 57
- giá (evaluation), thì cluing ta ciinj' rhì mới chú ý và cố tf:íng dạt các mục tiêu nhận thức bậc thấp là hiểu, biết, mà chưa hướng tới các mục tiêu nhạn thức ờ bậc cao hem. Có bao nhiêu phương pháp và cẩn áp dụng nhùng phương pháp gi? Các chuyên gia giáo dục đại học ilỉi thống kê dược rất nhiều PPGD. Trong chuyên khảo ‘Tips on how to teach effectively” (Chỉ dẫn việc dạy học có hiệu quà) s. J Hidalgo (1994) dã liệt kê đến hơn 60 pp. Trong các tài liệu khác ta còn có thể tìm thây các pp grap (graph method), pp mô hình hóa, pp dạy học vi mô. Các nhà giáo học pháp ngoại ngủ còn có các pp dạy theo mẫu lòi nói, pp thực hành có ý thức, pp nghe - nhìn, pp đối chiếu có ý thức, pp chương trình hóa. pp nêu vấn dể, pp khu biệt Nhà tâm lí học người Bungari G. Lozanov còn để xuất dạy học bằng PPDH ám thị (xuggestopeditseskij metod) mà nguyên lí cớ bản của nó là khơi dậy những năng lực tiềm tàng trong người học, gây cho họ niềm tin vào người thầy và khả năng của chính họ trong việc học tập. Dù có rất nhiều pp như vậy, chúng ta có thể gộp các pp thành hai nhóm: 1. PPGD lấy người thầy làm trung tâm (teacher - centered, faculty initiated): kiến thức được người thầy truyền thụ cho trò. 2. Các PPGD lây ngưòi học làm trung tâm (student - centered, learner - initiated): kiên thức được người học tự tìm kiếm dưới sự hướng dẫn của thầy. Tùy theo từng loại kiến thức mà người dạy cần lựa chọn và kết hợp các PPGD thuộc hai nhóm trôn. Tuy nhiên, đôi với tình 58
- iiinh Ị4ỉ• 1 ỉ 1Li dạy đ;n học íí núoe la hiện nay. cluing la can quan tám D^hirn cửu va :’ip tiling lã cát* IMHỈl) l;ìy ntriiõi hoc lãm l run*' 1 :nn + Xi’.'iv n;iy. quan mộm <*u;i thô Kiới vẽ hình m:ui tníìínự <i:u hoc- (■ ũ 11J4 <la thay doi. David Bo.mlanđ dã lộp một bâng dõi clìỉỏu đạc (hem cua rác triiõng <iại hoc hiện (lại YỎ1 các- trường (lại học truỏr đây. Irong đó có những dạc diêm quan troiiịĩ nhât Ill’ll quan ú ù lie tài mà chứng la dang tháo luận là: So sánh nhà trường kiểu củ và nhà trường kiêu moi Kiêu cũ Kiêu mới 1 Trung tâm kiến thức Trung tâm học lập V Nơi sv học- cáo học Nơi sv học cách học pià 3 Chú ý dến cách trình Chú ý dên viộc học tập cá nhân bày thông tin 4 Môn học là một loạt Môn học là một loại hoạt dộng hoạt động giảng dạy học tập mang tinh hộ thống theo của GV và dược sv kế hoạch có sự lựa chọn tùy theo tống hợp lại sớ thích của sv o Chuẩn của mòn học Chuẩn của môn học dược đảm dựa trên sự nôi liếng bảo bằng các quá trình kiểm tra của GV chất lượng 6 (ÌV là các học giả và GV là người quản lí việc học tập nhà nghiên cửu 7 (»v là hình mầu của (ỈV là hình mẫu của một nhà một nhà trí thức chuyên môn 59
- 8 (IV được tuyển chọn GV được tuyến chọn theo kinh theo kiên thửc và nghiệm áp (lụng kiến thức vào thành tích nghiên nghề nghiệp và kĩ năng trự giúp cứu các sv 9 Sự phát triển dặc Sự phát triển dặc điểm cá nhân điểm cá nhân không là điểu quan trọng chủ yếu phải là điểu quan trọng 10 Thư viện của trường Thông tin được truy tìm trên là nguồn tư liệu chủ phạm vi toàn cầu yếu 11 Quan hệ ngoại vi dôi Quan hệ chặt chẽ đối với công với công nghiệp nghiệp Các yếu tố quyết định việc lựa chọn phương pháp giảng dạy 60
- 1. Chương trinh Chương trinh có thổ được xây (lựng theo .'ỉ cách tiôp cận: nội đung (content approach), mục tiêu (objectives approach), quá trinh (process approach). Chi các chương trình dược xây dựng theo quan điếm mục tiêu và quá trình mỏi tạo diếu kiện thuận 1(11 dể áp dụng các lTCil) lấy người học làm trung tám. 2. Giáo trình Nêu các môn học có đủ giáo trình và tài liệu tham khảo thì C.V mới có thể sử dụng các pp hướng dẩn s v tự tìm kiếm kiến thức. 3. Giảng viên Nhận thức và sự hiểu biết của GV về mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu môn học, về lí luận dạy học, khả năng sử (lụng các thiết bị dạy học hiện dại là những yếu tố quyết định việc lựa chọn pp hoặc ý thức cải tiến PPGD của chính người GV. 4. Thiết bị giàng dạy Nhà trường có những thiết bị giảng dạy mới như overhead, projector, diorama, thì GV mới có thể áp dụng các PPGD mói. 5. Kiểm tra, dánh giá Nêu việc kiêm tra, đánh giá chỉ nhằm vào lĩnh vực nhận thức ở bậc thấp (biết, hiểu) thì GV sẽ chỉ dùng các pp truyền thụ kiến thức. Việc kiểm tra. thi phải do chính GV dạy môn học thực hiện với sv của mình. Chi khi người GV biết dược kết quả học tập cùa sv, sự tiến bộ hay thụt lùi của họ thì người GV mới có ý thức cải tiến PPGD. 61
- 6. Quy ch ế giảng dạy Quy chỉ' ginntf (lạy có thô VÕII can (ỈV có dồ cương môn học (syllabus) trong dó có ghi nội iỉunự các Iniối học. tài liệu hắt buộc phải dọc. tà 1 liệu tham khảo, thời gian tin. kiêm tra, các* bài tập lớn giao cho s v về nhà v.v CịtiV chế có thổ yêu cầu (ĨV phíii th<‘<) học các lóp bồi dưỡng vé nghiệp vụ sư phạm Quy chế ró thô yêu cầu (iV phái dược s v nhận xét. đánh giá v.v Những quy định trôn đáy sẽ là dộng lực thúc đẩy (ỈV lựa chọn, thay đổi và cải tiến PP(ÍI). 7. Sinh viên Tùy theo đối tượng s v mà GV sẽ lựa chọn các pp phù hợp: dạy s v cử tuyển (người dân tộc tiểu số từ miền núi, vùng sâu, vùng xa) khác VỚI dạy sv các tỉnh dồng bằng và thành phố vào dại học qua thi tuyển, dạy sv đại học khác với dạy học viên cao học, nghiên cứu sinh v.v * Điêu hiên dê đói mới manh mẽ các phương pháp g iả n g dạy Những điểu trình bày trên đáy cho thấy, đổ dổi mới mạnh mẽ PPGD chúng ta cần: 1. Trang bị cho GV những kiến thức về lí luận dạy học đại học. 2. Tang cường cơ sờ vật chất phục vụ cho việc dạy của GV và việc học của SV: đầu tư cho thư viện, thiết bị dạy học. phòng thí nghiệm, xương thực hành 62
- T Drill tư th(ii giíin và kinh phí xứng đáng cho (ỈV viết g iáo I rin h . 4 XAy dựng và ban hành quy chế giang dạy. f>. Tố chức nghiên cứu và áp dụng các phương tiện (lạy học hiện (lại: multimedia, dồ hoạ 3 chiểu (3 - D graphics) và hiện thực áo. thư viện ảo trên internet, hội nghị từ xa (tele-/video conferencing), thế giỏi áo, thao tác từ xa V.V * Hợp tác giữa các trường dại học dể cải tiến mạnh mẽ phương pháp giảng day 1. Phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng GV về lí luận dạy học đại học. 2. Thành lập các tổ hỗn hợp nghiên cứu về lí thuyết và thực hành các phương tiện dạy học hiện dại. 3. Phối hợp tổ chức các hội thảo về PPGD các chuyên ngành. 4. Phôi hợp tổ chức dự giờ của các giáo sư dạy giòi và thảo luận sau các buổi dự giờ dó. 63
- TẢI LIỆU THAM KHẢO 1. Vũ Văn Tào. Vài nét vé xu thè đổi mới PPGD - dào tạo. Giáo dục dại học. Hà Nội, 1996. 2. Nguyễn Ngọc Quang. Bán chất của quá trinh dạv học. Giáo dục dại học. Hà Nội, 1996. 3. Wang Yi Ring. Dám bảo chất lượng trong Giáo dục đại học: kinh nghiệm ( lia một sô nước (Hội tháo quốc gia “Đảm bảo chất lượng trong Giáo dục đại học”). Đà Lạt. 4/2000. 4. S. T. Chong. Higher Education over the Internet: Dawn of the Virtual Universiti (Proceedings of the Regional Conference on Higher Education "National Strategies and Regional Co operation for the 2 r l century”). Tokyo, 7/1997. 5. David CỈ. Boa land. The new universities (Proceedings of the International Conference. “Higher Education in the 21st century”). Hà Nội. 5/1996. 6. FE. S. J Hidalgo. Tips on how to teach effectively. Rex Book Store, 1994. 7. Ma rye lien Weimer. Improving college teaching. San Franc isco. Oxford. 1990. 8. Wang Yi Bing. “Future of education and role of DOL”. (Vietnam National workshop on distance education). Hanoi, 3/2000. 64
- HOC• VA DAY • CACH HOC,n • GS. Trấn Bá Hoành Ốt lỏi của học là cách học cTrong lao dộng học tập. người học tiêp nhạn các thông tin từ bôn ngoài dể cái hiến chính mình về kiên thức. kĩ náng. thái độ. chuẩn bị tiềm nảng thích ứng với môi trường tự nhiên, xà hội. Việc học không chì bát đẩu và kết thúc ỏ lứa tuổi học dường như quan niệm trước kia. Ngày nay tri thức của loài người dang lãng rất nhanh vế khối lượng, đổi mới nhanh vồ chất lượng nội dung: dù kéo dài thời gian học trong nhà trường bao nhiêu cùng không cỉủ. Khôn ngoan là phải biết học lấy cách học để “Học một bict mười” như cha ông ta từng nói, và quan trọng là đẽ có thê tiếp tục tự học suốt đời. Trong xà hội hiện đại, công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, tạo ra những phường tiện, phương pháp giao lưu mới. mô rộng “phổ” các khà năng học tập tạo cơ hội cho mỗi người có thể học dưới nhiều hình thức, theo khả năng và điều kiện cho phép. Tuy nhiên, trong rừng thông tin ấy, bí quyết đê học có kết quả là có phương pháp học tập hợp lí. Ngày nay, giáo dục nhà trường không còn là nguồn thông tin duy nhất dom đến cho thanh, thiếu niên trong tuổi học đường những tri thức mới mè của loài người. Nhưng giáo dục (,) Bài đâng trên “Tự học" số 17 (4/ 2001) 65
- nhà trường - dưới sự chỉ đạo của (ỈV vẫn là con dường đáng tin cậy và có hiệu quả nhất, làm cho thố hộ trẻ tiếp thu có mục dích, có chọn lọc. có hệ thông tinh hoa di sản vãn hóa khoa học, nghẹ thuật của loài ngưòi và của dân tộc. Không nôn nghĩ rằng người ta có thể sớm thay thế việc hục có sự chỉ dạo của GV trong nhà trường bằng việc tự học hoàn toàn với sự trợ giúp của các thiết bị thông tin. không cần trường lớp. Ngược lại, vai trò của người GV càng quan trọng; có điều là chức năng của họ đả thay đổi. Chức năng cơ bản của dạy là dạy cách học Từ lảu cha ông ta dă nhặn thức rất dúng khi dùng các từ “thầy học” (ông thầy về việc học), “nghề dạy học” (nghề dạy ngưòi ta học), “bộ học” (bộ quản lí việc học). Trong các từ này hoạt động học, vai trò chủ thể người học dược đề cao chứ không phải là hoạt dộng dạy, vai trò của ngưòi dạy được đặt lên hàng dầu. Quan niệm này phản ánh đúng bản chất của quá trình dạy1 học. Cũng từ lâu, các nhà SƯ phạm đà nhận thức được ý nghĩa của việc dạy phương pháp học. GV phải biết định hướng, tổ chức cho HS tự mình khám phá ra kiến thức mới, giúp cho các em không chỉ nắm bắt được nội dung kiến thức mà còn nắm được phương pháp đi tới kiến thức đó. Ngày nay, dạy phương pháp học trờ thành một mục tiêu dạy học chứ không phải chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học, được quan tâm ngay từ đầu bậc tiểu học và càng lên bậc cao hơn. càng được coi trọng. Nói tới phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Phương pháp tự học là cẩu nôi giữa học tập với nghiên cứu khoa học. Một yếu tố quan trọng bảo đảm thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả nàng phát hiện và giải quyôt những vấn đê dặt ra. Nếu rèn luyện cho ngưòi học có dược phương pháp, kĩ nàng, thói quen và ý chí tự 6 6
- hoc. I)K*t hull lio.it vận (lụng những ilicu (là học vào nhrtntĩ tình Ihiỏììk mỏi thi sô tạo cho họ lòng h;un học. khơi dạy tiếm nàng vón ('() lro 111» mồi người, phát huy nội lực* làm cho kết quá học (iuỢc nhân l(’*n Jíã|) bội. (long thòi sớm thích ứng vỏi cuôc sông trong rộng dồng. Vi những lê dó, ngày nay trong quá trình dạy học. người tỉỉ nhàn mạnh vai trò người học và vị trí hoạt dộng hục, cố gắng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ dộìĩịi sang học tập tivh cực chú dộng, sáng tạo. Trong lí luận dạy học đà từng có 3 cách tiếp cận hoạt dộng học từ phía người dạy. ì. Chú ý đến san phám của học. Ví dụ : Học xong vấn để này HS phai dạt được những mục tiêu cụ thể gì về kiến thức, kĩ năng, thái dộ? Vai trò (ỈV là xác định rõ mục tiêu rồi chọn cách thức truyền dạt. làm mầu. dể HS dạt dược các mục tiêu (ỉó. 2. Quan tăm đến chinh quá trình học. Ví dụ : Đẻ nám dược kiên thức này. HS phải sử (lụng những thao tác tư duy nào ? Để có được kĩ nâng này. HS phải trải qua những hoạt dộng thực hành gì? Vai trò của GV là tổ chức hoạt động thực hành thực tế trong và ngoài lúp để giúp HS đạt mục tiêu học tập. 3. Quan tám đến những vấn dề này sinh trong thực tiễn học tập, trong cuộc sông cộng đong. Ví dụ: Hiện tượng sap học mâu thuẫn hoặc vượt ra ngoài những khái niệm, định luật đà học trước đỏ như thố nào ? Tình trạng sử dụng nước sinh hoạt trong (lịa phướng clang dặt ra những vấn đề ự,\ ? cần làm ịỊÌ để cái thiộn tình hình dỏ? Vai trò của GV là tổ chức những tình huông có vãn đề. hướng đần HS nhận dạng vấn dề dặt ra. tổ chức cho 1ỈS tự lực giãi quyết vấn để đó. Lìa cách tiôp cận nói trôn có liên quan và dều hướng tới nâng cao hiệu quá học nhưng mồi cách đế cập một khía cạnh của hoạt dộng học. Kiến thức học dược phai là sản phẩm của một quá 67
- trình tư duy tích cực thì mới sâu sắc, vững chắc. Mọc thông qua tập dượt giải quyết các vấn đổ thì càng nắm vững và biết vận dụng. Sự phát triển của xã hội dang đòi hỏi giáo dục nhà trưòng phải chuyển từ kiểu dạy tập trung vào vai trò GV và hoạt dộng dạy sang kiểu dạy học tập trung và vai trò HS vào hoạt động học. từ cách dạy thông báo - đồng loạt, học tập thụ động sang kiểu dạy hoạt dộng, phân hóa, học tập tích cực. GV không còn dóng vai trò chính là truyền đạt kiến thức mà là người gợi mỏ, hướng dẫn, tô chức, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tìm tòi, tranh luận của HS. GV giỏi là người biết giúp đỡ HS của mình tiến bộ nhanh trên con đường học tập tự lực, kết hợp thành công việc giảng dạy tri thức với việc giáo dục giá trị và phát triển tư duy, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại. 6 8
- SUY NGHĨ VỂ DẠY• VÀ HỌC • ở ĐẠI • HỌC • GS. Nguyền Như Ý ạy và học (í dại học phải khác căn bản với dạy và học ỏ Dphố thông. Đặc điểm cơ bản của dạy và học ỏ dại học là tinh giao lưu suy nghĩ, giao lưu nhận thức và tri tuệ sinh động, như là một cuộc đôi thoại đa chiểu giữa thấy với trò, giữa trò với nhau, giữa nhận thức củ với nhận thức mớiy giữa cái đả biết và cái chưa biết, cái khăng định và cái hoài nghi, ỏ đó ai cũng trình bày ý kiến riêng của mình (hoặc phát triển thành lời hoặc suy nghi trong dầu) về cùng một vấn để trên cơ sơ tự học, tự đọc sách, tự nghiên cứu trưởc giáo trình và các tài liệu cần yếu liên quan đến nội dung bài học. Như vậy, nhiệm vụ dạy và học d đại học là vừa dạy và học kiến thức mới, vừa dạy và học phương pháp học tập, nghiên cứu tối ưu để s v sau khi ra trường có thể tự học, tự nghiên cứu và tiên hành học suốt đòi chứ không phải chỉ học một lần, một thòi đoạn là xong rồi, để dùng cho cả đời. 0 môi trường đại học, dạy cách học, cách làm thí nghiệm, cách nghiên cứu, cách đọc sách, cách dạy học, cách tìm kiếm và xử lí tư liệu phải được ưu tiên bên cạnh việc truyền thụ kiến thức cái mà s v cố thể tự đọc trong sách theo hướng dẫn của thầy. Dạy và học ở đây phải là hoạt động tương tác giữa thầy và trò để hình thành kiến thức mới và phương pháp đọc sách, phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu ở chính người sv. Đổí với sv, học ở trên lớp phải trở thành một dạng hoạt động nhận thức tích cực, tự giác, mang tính phát hiện, tính tưởng tượng đẩy hứng thú. Dạy và học ở đại học không thể là sự truyền đạt kiến thức một chiểu, đơn điệu, tẻ nhạt, từ thầy đến 69
- trò như một cuộc dơn thoại (hay dộc thoại): thầy cứ nói. trò cứ nghe, thầy nói gì, trò ghi náy. ghi càng đáy đủ. càng chi tiết lòi thầy "giảng" càng lốt, kể cả những câu. nhữníĩ ý chưa kịp hiểu. Đáng ra, cái gì dã có trong SGK. trong giáo trình thì không cần giảng kĩ ở trên lớp mà chỉ cần nhấn mạnh trọng tâm và nên gợi ý. giới thiệu Lài liệu để sv tự học. Cách dạy và học nói trên khá phổ biến trước dây và đã bộc lộ rõ mặt hạn chê của nó. nhất là ớ các lớp năm thử nhất. Nguyên nhản thì có nhiều. Nhưng chắc chắn có một nguyên nhản rát quan trọng là nhận thức về vai trò hưởng dàn, vé tinh quyết định của phương pháp dạy ■ học đối với hứng thú. hiệu quả và tính bển vững của kiến thức thụ dắc được của s v ở cả thầy và trò chưa thật sự sâu sắc. Thêm vào dó, tình trạng thiếu giáo trình và các sách tham khảo thiết yếu cho sv và cho thầy giáo để tự học, tự đọc, tự nghiên cứu cũng dã khiên cho việc tiến hành đổi mới cách dạy và cách học ở đại học rất lúng lúng và gặp rất nhiều khó khăn. Những ý tưởng về đổi mới cách dạy và cách học ơ đại học hiện nay là rất tích cực và bức xúc. Song, bước đi là thế nào, bắt đầu từ đâu, cái gì làm trước, cái gì làm sau là những diều phải suy xét, cân nhắc cho trúng, không nên vừa làm. vừa nghĩ như các thời kì trưóc dây. Đỏi mói giáo dục đại học trước hết là định hướng lại đường lối, mục tiêu giáo dục. Nhưng, ngay sau đó là phải tiến hành tổ chức lại hệ thống quản li điều hành và hoạt động giáo dục đại học từ trung ương đến cơ sờ và thực hiện đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học ở đại học. vé một ý nghĩa nào đó, có thể nói dóỉ mới cách dạy và cách học là cái chìa khóa quan trọng của đôi mới giáo dục đại học. Phương pháp dạy đã dược nói nhiều, mặc dù chưa có những bước tiến dáng kể. Nhưng đó chủ yếu là nói về PPDH của người thầy, ở đây chúng tôi muốn nói đến phương pháp như là đôi tương cùa dạy - học, cái cần dạy cho s v để họ có cách học và cách nghiên cửu tốt nhất. Nói cách khác, trường đại học cần 70
- đạc l)ú't chú trọng dạy phương pháp học, phương pháp nghiên cửu cho sv . Nam <1 ược phương pháp học* tối ưu sv không những sẽ học lỏi trong nlìửiìK nám ỏ đại học, mà khi ra trường có thể tién hành tự học. tự nghiên cứu suốt đời, học chắc chắn, bền vững, chú động và sáng tạo. Cốt lõi của một hộ thông giáo dục là hộ chương trinh, dội n^ủ GV và hộ thống S(«K. giáo trình và các sách tham kháo tlnết. yếu. Phương pháp dạy - học là dộng lực thúc đay trực tiôp quá trình doi mới chương trình và tác động mạnh mẽ (lén đổi mỏi nội dung dạy và học. đổi mới SGK, giáo trinh và ngược lại. ỉ)ỏ lẽn lớp học một giờ. s v cần chuẩn bị bài học ba. bốn K1Ờ truVk* (ló. ơ lớp, các s v sẽ tự trình bày, thảo luận các vấn đề của nội dung bài học. GV đóng vai trò người hướng dần. gợi ý chứ không thuyết giảng 100% cho sv ghi. Muốn làm dược như thế, (liều kiện cần có trước nhất là sách, tài liệu cho s v và GV. Không phải chỉ có một cuốn giáo trình gan trực tiếp với nội đung bài học, mà oan có nhiều loại sách liên quan gầrj và xa đến nội dung bài học, với các phương pháp nghiên cứu, các cách tiếp cận khác nhau, giúp s v có được hiểu biết sâu, rộng vê môn học, vể những thành tựu đã đạt được và vấn đề còn để ngỏ, vể các khuynh hướng, trưòng phái, các phương pháp nghiên cứu, các phạm vi úng dụng trong thực tế và vê mối liên quan giữa môn học này với môn học gần gũi v.v dể có được các tri thức liên ngành cần thiết. Trong điểu kiện hiện tại, mỗi môn học ở đại học, GV, s v ít nhất phải có những cuôn sách sau đây: Giáo trình đợi cương, giáo trinh chuyên ngành về môn học; Các sách bài tập, sách tham khảo thiết yếu liên quan đến kiến thức môn học; sách uề lịch sử hình thành và phát triển môn học, về các trường phái, các khuynh hưởng, các phương pháp nghiên cứu môn học; Từ điển giải thích các thuật ngữ chuyên ngành; Từ điển bách khoa chuyên ngành và Từ điển đối dịch thuật ngữ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt đê đọc sách báo nước ngoài. 71
- Các loại sách kể trôn giúp sv (và (ỈV) có lài liệu đổ tự học, tự nghiên cứu, đổ nắm chác kiến thức, mở rộng và nâng cao hiểu biết cho phép giảm thời gian học trên lớp của s v và thòi gian dứng lớp của GV, tăng thời gian tự học, tự nghiên cửu của sv, của GV. Ngoài giáo trình đại cương và giáo trình chuyên ngành, cần xây dựng một danh mục sách tham kháo bắt buộc chu từng văn đề, từng môn, coi như là các tài liệu thiết yếu cung cấp những kiến thức bên cạnh giáo trình mà sv bắt buộc phải nắm dổ làm bài tập, bài kiểm tra, bài thi. Hiện nay. nhiêu môn học ở đại học chưa có giáo trình, dang phải dạy chay, học chay. Các môn đã có giáo trình thường rơi vào mấy trường hợp sau: Hoặc là giáo trình đã cũ. nhiều tư liệu, phương pháp đã lạc hậu, chưa được cập nhật kiến thức mới; Nhiều giáo trình viết vội, in vội. chưa hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn cấu trúc, cách trình bày; hệ thống câu hỏi và bài tập thực hành còn nghèo nàn đơn giản; yếu tố phương pháp để sv t.ự học, tự giải quyết vấn để học sáng tạo, thảo luận còn mò nhạt. Nhiều giáo trình được dùng ở dạng các bài giảng ròi rạc, hệ thông bài tập và câu hỏi chưa đầy đủ. Hầu hết các bộ môn chì có độc một cuốn giáo trình, không có hoặc có rất ít sách tham khảo đọc thêm, thiếu từ điển giải thích thuật ngữ chuyên ngành, chưa nói gì đến từ điển bách khoa chuyên ngành, là những cuốn sách cẩm nang môn học cơ bản nhất của sv, GV. Để nhanh chóng khắc phục tình trạng trên, Nhà nước cần có chương trinh cấp quốc gia xáy dựng các bộ giáo trình đại cương, giáo trinh chuyên ngành và sách tham khảo thiết yếu cho các môn học, kết hợp tổ chức viết mới với việc chỉnh li, bổ sung các bộ giáo trình đã có để tái bản, đặc biệt cần tăng cường dịch các bộ giáo trình và sách chuyên khảo của các nước có nén khoa học công nghệ phát triển, trước hết là giáo trình các môn khoa học 72
- tự nhiõn. khoa 11 ọc công nghệ. Một công việc cần thiêt cấp bách và có thê’ làm ngay là các trường đại học cần sớm củng cô lại và phát, triển một cách bển vững hộ thống thư viện vê' cơ sở vật chát, vổ vốn sác h và tạp chí khoa học, vồ cán bộ thư viện. Đổ làm dược việc này. trước mát Nhà nước cần dành riêng một khoản kinh phí cho Bộ CD và ĐT để mua sách báo cho thư viện đại học, rất cấn là sách và tạp chí nước ngoài. Thư viện là phương tiện dạy và học hết sức quan trọng và không thể thiếu ỏ dại học. Không có thư viện tốt thì không thể tiên hành tự học. tự nghiên cửu. do đó khó nói dến đổi mới phương pháp dạy và học ở đại học. Việc thành lập thư viện chuyên ngành tại khoa và ở trường có ý nghĩa đặc biệt tích cực đối với việc nâng cao chất lưựng học tập. nghiên cứu và giảng dạy của s v và GV. Rất có thổ phải lập các thư viện khu vực hay thư viện cụm trường đại học ở đó tập trung đầu tư trang bị số lượng sách lớn phong phú về thể loại mà các thư viện khoa, trường không có điều kiện mua. đặc biệt là các sách quý hiếm, đắt tiền, phục vụ cho s v và GV trong cả khu vực, cà cụm trường. Một quốc gia không có hệ thông thư viện đại học hoàn chỉnh hoặc chỉ có những thư viện đại học nhỏ bé, tuềnh toàng, nghèo nàn sách báo, tạp chí, thì quốc gia đó coi như chưa có nén đại học thực thụ và tất nhiên, các trường đại học đó cũng rất khó thực hiện tốt chức năng đào tạo của mình, nhất là đào tạo sau đại học. Bởi vì dạy - học ở đại học là dạy cách tự học, dạy cách học sáng tạo, dạy và học phương pháp học, phương pháp tự nghiên cứu thông qua việc dạy và học một số lĩnh vực kiến thức cụ thể. Muốn vậy. các trường đại học phải có dủ sách, tạp chí khoa học và các tài liệu học tập thiết vếu để sv, GV đọc và tự nghiên cứu. 73
- TỐNG QUAN VỂ PHƯƠNG PHÁP DẠY• HỌC • ở ĐẠI « HỌC • ° ’ PGS. Lê Đức Ngọc riết li về phương pháp dạy học dại học TPhưrtng pháp dạy học đại học (IM’DH) lã một khoa học và cũng là một nghệ thuật. PhiKfng pháp dạy học đại học (1’1M)H0H) lại rang cần có tính khoa học và tinh nghệ thuật cao. Tính khoa học của PPDHĐH (lòi hỏi phái nắm vững bản chất cua quá trình dào tạo dại học. Dạy học dại học là dạy nhận thức (Cognitive), dạy kĩ năng (Psychomotor) và dạy cảm nhận (affective) các kiến thức khoa học. Tuỷ theo khoa học (tụ nhiên hay xã hội - nhãn ván. cơ bàn hay công nghệ kĩ th u ậ t ). và tuỳ theo mục tiôu đào tạo (đại học hay sau dại học. chuyên môn hay nghiệp vụ ) mà chọn chủ điếm hav trọng tâm về dạy nhận thức, dạy kĩ năng hay dạy cảm nhận cho phù hợp. Tinh nghệ thuật của việc DHĐH thổ hiện (1 năng lực truyền dạt của giảng viên, làm sao khơi dạy dược tiềm năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của sv để nhận thức, để cảm nhận và đe có kĩ năng cao. Nhu vậy. giảng viên nào càng nắm vùng tính khoa học và tính nghị* thuật của việc dạv học thì sẽ dạy cho sv có dược các bậc nhận thức, bậc cám nhận hay bậc kĩ năng càng cao và giảng (1) Bài dang trôn "Tự học" số 12(11/ 2000). 74



