Bài giảng Kinh tế quốc tế - Chương 1: Tổng quan về kinh tế quốc tế - Chu Thị Dương

pdf 42 trang ngocly 18/05/2021 1390
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Kinh tế quốc tế - Chương 1: Tổng quan về kinh tế quốc tế - Chu Thị Dương", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfbai_giang_kinh_te_quoc_te_chuong_1_tong_quan_ve_kinh_te_quoc.pdf

Nội dung text: Bài giảng Kinh tế quốc tế - Chương 1: Tổng quan về kinh tế quốc tế - Chu Thị Dương

  1. LỜI NÓI ĐẦU Kinh tế quốc tế là môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia, nghiên cứu sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ, sự vận động của các yếu tố sản xuất, các chính sách điều chỉnh quá trình vận động và trao đổi. Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để đạt tới vị trí thuận lợi trong nền kinh tế thế giới. Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phát triển mạnh mẽ lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bao gồm thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và di chuyển quốc tế về lao động, hợp tác về kinh tế và khoa học – công nghệ, các dịch vụ thu ngoại tệ. Trên ý nghĩa đó, việc nghiên cứu môn học Kinh tế quốc tế là rất cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và phương pháp luận, tạo điều kiện cho việc tổ chức và quản lý lĩnh vực kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia đạt hiệu quả cao. Tập bài giảng này được biên soạn dựa trên cơ sở tham khảo các giáo trình: Quan hệ kinh tế quốc tế; Kinh tế đối ngoại – Những nguyên lý vận dụng tại Việt Nam; Kinh tế quốc tế của Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Trường Đại học Thương mại, Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Quan hệ quốc tế. Trong quá trình biên soạn tập bài giảng, tác giả đã nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các đồng nghiệp trong Hội đồng khoa học Trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc, các đồng nghiệp trong khoa Kinh tế. Tác giả xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu đó. Tập bài giảng này trình bày những nội dung chủ yếu của môn học Kinh tế quốc tế thuộc chương trình cơ sở. Tập bài giảng gồm 4 chương do giáo viên Nguyễn Thị Cẩm Tú và Chu Thị Dương đồng chủ biên. Chương 1: Tổng quan về kinh tế quốc tế do giáo viên Chu Thị Dương biên soạn. Chương 2: Thương mại quốc tế do giáo viên Chu Thị Dương biên soạn. Chương 3: Đầu tư quốc tế do giáo viên Nguyễn Thị Cẩm Tú biên soạn. Chương 4: Liên kết kinh tế quốc tế và quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam do giáo viên Nguyễn Thị Cẩm Tú biên soạn. Do kinh nghiệm nghiên cứu và thời gian biên soạn có hạn nên tập bài giảng không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp để tập bài giảng ngày càng hoàn thiện hơn. Tập thể tác giả 1
  2. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ 7 1. 1. NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI 7 1.1.1. Khái niệm 7 1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới 9 1.1.3. Các xu hướng vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới 10 1.2. QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ 11 1.2.1. Khái niệm và nội dung của quan hệ kinh tế quốc tế 11 1.2.2. Tính chất của quan hệ kinh tế quốc tế 11 1.2.3. Cơ sở hình thành và phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế 13 1.2.4. Vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại 14 CÂU HỎI ÔN TẬP 14 Chương 2 THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 16 2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 16 2.1.1. Khái niệm 16 2.1.2. Đặc điểm 16 2.1.3. Vai trò 17 2.2. MỘT SỐ HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 17 2.2.1. Học thuyết trọng thương (chủ nghĩa trọng thương) 17 2.2.2. Học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam - Smith 18 2.2.3. Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 21 2.2.3. Học thuyết về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) của David Ricardo 23 2.3. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 24 2.3.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chính sách thương mại quốc tế 24 2.3.2. Các hình thức của chính sách thương mại quốc tế 26 2.4. CÁC NGUYÊN TẮC CHỦ YẾU ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 29 2.4.1. Nguyên tắc tương hỗ 29 2.4.2. Nguyên tắc ngang bằng dân tộc 29 2.4.3. Nguyên tắc nước được ưu đãi nhất 30 2.5. CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 31 2.5.1. Thuế quan 31 2.5.2. Các biện pháp phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩu 34 2.5.3. Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu 37 2.6. NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM 40 2.6.1. Ưu điểm 40 2.6.2. Hạn chế 41 CÂU HỎI ÔN TẬP 41 Chương 3 ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 43 3.1. KHÁI NIỆM VÀ TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 43 3
  3. 3.1.1. Khái niệm 43 3.1.2. Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế 43 3.1.3. Tác động của đầu tư quốc tế 44 3.2. ĐẦU TƯ QUỐC TẾ TRỰC TIẾP (ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI) 45 3.2.1. Khái niệm và đặc điểm 45 3.2.2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 46 3.2.3. Lợi thế và bất lợi của của đầu tư trực tiếp nước ngoài 46 3.2.4. Khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất 47 3.3. ĐẦU TƯ QUỐC TẾ GIÁN TIẾP (ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI) 49 3.3.1. Khái niệm 49 3.3.2. Đặc điểm 49 3.3.3. Lợi thế và bất lợi của đầu tư gián tiếp nước ngoài 49 3.3.4. Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài 50 3.3.5. Hỗ trợ phát triển chính thức – ODA 50 3.4. ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 52 3.4.1. Vai trò của đầu tư quốc tế đối với công cuộc phát triển kinh tế ở Việt Nam 52 3.4.2. Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam 54 CÂU HỎI ÔN TẬP 55 Chương 4 LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 56 4.1. LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ 56 4.1.1. Khái niệm và nguyên nhân hình thành liên kết kinh tế quốc tế 56 4.1.2. Những đặc trưng cơ bản của liên kết kinh tế quốc tế 57 4.1.3. Vai trò của liên kết kinh tế quốc tế 58 4.1.4. Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế 58 4.2. CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ QUỐC TẾ 60 4.2.1. Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization -WTO) 60 4.2.2. Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF) 63 4.2.3. Ngân hàng thế giới (WB) 64 4.2.4. Liên minh châu Âu – European (EU) 64 4.2.5. Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) 66 4.2.6. Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 66 4.2.7. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 67 4.3. QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 74 4.3.1. Tiến trình tự do hóa đơn phương 74 4.3.2. Tham gia vào các thể chế liên kết 74 4.3.3. Tham gia vào các liên kết kinh tế song phương 75 4.3.4. Tham gia liên kết kinh tế khu vực 75 CÂU HỎI ÔN TẬP 76 4
  4. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT UN: Liên Hiệp Quốc WB: Ngân hàng thế giới IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế EU: Liên minh châu Âu ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ADB: Ngân hàng phát triển châu Á G8: Nhóm nước tư bản công nghiệp phát triển GDP: Tổng sản phẩm quốc nội GNP: Tổng sản phẩm quốc dân GATT: Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch WTO: Tổ chức thương mại thế giới EEC: Ủy ban Châu âu MFN: Nguyên tắc tối huệ quốc NTR: Quy chế Quan hệ thương mại bình thường PNTR: Quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn ISO: Tiêu chuẩn quốc tế thống nhất FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FPI: Đầu tư gián tiếp nước ngoài KCNTT: Khu công nghiệp tập trung KCX: Khu chế xuất ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức UNDP: Chương trình phát triển của Liên hợp quốc UNICEF: Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc FAO: Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN NAFTA: Khu mực mậu dịch tự do Bắc Mỹ APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương 5
  5. Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ Mục tiêu: Nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về nền kinh tế thế giới như: Quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới, những xu thế vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới, cơ sở hình thành và phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế và vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại. 1. 1. NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI 1.1.1. Khái niệm Nền kinh tế thế giới là nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau thông qua sự phân công lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng. Sự phát triển của nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào. - Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. - Trình độ phân công lao động quốc tế. - Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế. Nền kinh tế thế giới được cấu thành từ nhiều bộ phận và có quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau bao gồm 2 bộ phận cơ bản sau: a.Thứ nhất: Chủ thế kinh tế quốc tế Đây chính là những tổ chức, cá nhân đại diện trong nền kinh tế thế giới và là nơi phát sinh các quan hệ kinh tế quốc tế. Các chủ thể kinh tế quốc tế bao gồm các thực thể kinh tế với các cấp độ khác nhau. Các nền kinh tế của các quốc gia độc lập trên thế giới: Đây là những chủ thể đầy đủ nhất trên các mặt: Kinh tế, chính trị, pháp lý. Quan hệ giữa các chủ thể này được thực hiện thông qua việc ký kết các hiệp định (kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ ) giữa các quốc gia hay từng nhóm quốc gia. Ví dụ: Nền kinh tế của các nước Việt Nam, Mỹ, Nhật, Nga, Đức Các chủ thể kinh tế ở cấp độ thấp hơn cấp quốc gia: Đây là các công ty, xí nghiệp, tập đoàn kinh doanh của các nước. Chúng là các chủ thể kinh tế không đầy đủ xét từ khía cạnh chính trị, pháp lý như chủ thể là quốc gia độc lập. Các chủ thể này tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế dựa trên những hợp đồng thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ được thoả thuận giữa các bên trong khuôn khổ của hiệp định ký kết giữa chủ thể Nhà nước đã nêu ở trên. Ví dụ: HONDA, PANASONIC, TOYOTA, SAM SUNG, MICROSOFT Các chủ thể kinh tế ở cấp độ quốc tế: Bao gồm: - Các tổ chức quốc tế xuất hiện trong quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế và sự phát triển của các liên kết kinh tế quốc tế. Chúng có địa vị pháp lý rộng hơn các chủ thể ở cấp độ quốc gia như: Liên Hiệp Quốc (UN), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) - Các liên kết kinh tế quốc tế khư vực như: Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) 7
  6. - Các hiệp hội ngành nghề: hiệp hội chè, hiệp hội cà phê thế giới Ngoài ba loại chủ thể trên, trong nền kinh tế thế giới hiện nay còn có một số loại chủ thể đặc biệt như: Công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia và công ty siêu quốc gia. Thuật ngữ “công ty đa quốc gia” thường được dùng để chỉ các công ty mà vốn của nó thuộc sở hữu của các doanh nghiệp hoặc cá nhân thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, và do đó phạm vi hoạt động kinh doanh của nó cũng diễn ra ở trên lãnh thổ nhiều quốc gia khác nhau. Trong trường hợp này, người ta chưa chú ý đến tỷ trọng vốn đóng góp của từng bên và cũng chưa quan tâm đến sức mạnh kinh tế của các công ty đó. Thuật ngữ “công ty xuyên quốc gia” được sử dụng một cách tương đối phổ biến trong các sách báo kinh tế, nó dung để chỉ những công ty có trụ sở chính ở một quốc gia nào đó, tầm hoạt động của các công ty này vươn sang nhiều quốc gia khác (công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện ), các công ty này có sức mạnh kinh tế to lớn, giữ vai trò chi phối một lĩnh vực thị trường liên quan đến nhiều quốc gia. Những công ty xuyên quốc gia có khả năng nằm ngoài tầm kiểm soát của một chính phủ. Thuật ngữ “công ty siêu quốc gia” cũng được sử dụng trong một số trường hợp, chủ yếu ám chỉ tầm hoạt động của những công ty này vượt ra ngoài lãnh thổ của một quốc gia mà không quan tâm đến việc hình thành và tổ chức bộ máy của nó. Các loại công ty nói trên là một loại chủ thể kinh tế quốc tế quan trọng vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ. Nhưng khi phân nhóm, không thể coi các loại công ty này là những chủ thể kinh tế ở cấp độ thấp hơn phạm vi quốc gia, đồng thời cũng không thể khẳng định nó là các chủ thể ở cấp độ vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia. b. Thứ hai: Khách thể của nền kinh tế thế giới (Nội dung của quan hệ kinh tế quốc tế). Đây chính là các quan hệ kinh tế quốc tế, là bộ phận cốt lõi của nền kinh tế thế giới, được hình thành do sự tác động qua lại của các chủ thể kinh tế quốc tế. Các quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm: - Quan hệ kinh tế quốc tế về trao đổi hàng hoá và dịch vụ: Đó chính là việc mua bán hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia, hình thành nên hoạt động xuất nhập khẩu (thương mại quốc tế). - Quan hệ kinh tế quốc tế về di chuyển vốn đầu tư (xuất nhập khẩu vốn đấu tư): Đây là việc đưa các nguồn vốn từ nước này sang nước khác để thực hiện các hoạt động đầu tư, bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. - Quan hệ kinh tế quốc tế về di chuyển sức lao động (xuất nhập khẩu sức lao động): Đó là việc di cư một cách tạm thời một bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động giữa các quốc gia với nhau để điều chỉnh quan hệ cung cầu về sức lao động theo trình độ chuyên môn khác nhau giữa các quốc gia. - Quan hệ kinh tế quốc tế về trao đổi khoa học công nghệ. - Quan hệ kinh tế quốc tế về di chuyển các phương tiện tền tệ: Đó là việc di chuyển các loại tiền mặt, các loại kim khí quý, các loại giấy tờ có giá trị (trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán ) giữa các quốc gia nhằm phục vụ cho hoạt động lưu thông tiền tệ, hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán cũng như hoạt động đầu tư Như vậy, giữa việc di 8
  7. chuyển quốc tế các phương tiện tiền tệ và việc di chuyển quốc tế về vốn có một sự trùng hợp với nhau, nhưng giữa chúng vẫn có sự khác nhau quan trọng. Nền kinh tế thế giới là một thực thể thống nhất hữu cơ của hai bộ phận nói trên. Cơ cấu của nền kinh tế thế giới biến đổi gắn liền với các cuộc cách mạng công nghiệp. Ngày nay với xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá làm tăng dần tính đa dạng của các mối quan hệ kinh tế quốc tế và làm tăng dần tính chỉnh thể của nền kinh tế thế giới. 1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới a. Những tiền đề ra đời của nền kinh tế thế giới - Quan hệ sản xuất của phương thức tư bản chủ nghĩa, mà trước hết là quan hệ thị trường thông qua trao đổi hàng hoá dịch vụ. Để tìm kiếm lợi nhuận, các nhà tư bản đã mở rộng thị trường ra khỏi biên giới của quốc gia mình, hình thành nên thị trường thế giới. Đó là yếu tố quyết định sự hình thành nền kinh tế quốc tế. - Quá trình phân công lao động quốc tế gắn liền với chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế. Mỗi quốc gia đều có điều kiện tự nhiên và trình độ sản xuất khác nhau vì vậy họ sẽ có những lợi thế khác nhau trong việc sản xuất hàng hoá, dịch vụ thể hiện bằng chi phí sản xuất thấp. Từ đó xuất hiện quá trình chuyên môn hoá, hợp tác và nhu cầu trao đổi sản phẩm giữa các nước vì lợi ích kinh tế. Đây chính là cơ sở hình thành thị trường thế giới. - Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật công nghệ đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động và tăng nhanh khối lượng hàng hoá dịch vụ ở các nước, đặc biệt là các nước kinh tế phát triển. Từ đó xuất hiện nhu cầu hợp tác giữa các nước trong lĩnh vực khoa học công nghệ trên phạm vi toàn thế giới - động lực phát triển của nền kinh tế thế giới. - Sự phát triển của các phương tiện vận tải, thông tin liên lạc đã làm cho các bộ phận của nền kinh tế thế giới xích lại gần nhau, mở rộng không ngừng các quan hệ kinh tế giữa các nước, các khu vực trên thế giới. b. Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế thế giới * Giai đoạn thứ nhất: Nền kinh tế thế giới xuất hiện và ở vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh với những đặc điểm sau: - Phân công lao động quốc tế chuyển từ sử dụng sự khác biệt về điều kiện tự nhiên sang phân công lao động thông qua buôn bán quốc tế. - Lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng ở một số nước gắn liền với việc mở rộng thị trường nhằm đạt lợi nhuận cao. - Sự phát triển không đồng đều giữa các nước làm sâu sắc thêm sự cách biệt về tốc độ phát triển kinh tế giữa một nhóm nhở các nước công nghiệp phát triển với phần còn lại của thế giới. * Giai đoạn thứ hai: Nền kinh tế thế giới từ cuối thế kỷ XIX ở vào thời kỳ chủ nghĩa đế quốc với những đặc điểm sau: - Hình thành các liên minh độc quyền thống trị thị trường trong nước và thế giới. 9
  8. - Nền kinh tế thế giới mang tính chất tư bản chủ nghĩa thống nhất do các quy luật phát triển kinh tế - xã hội của một nhóm nước tư bản công nghiệp phát triển nhất quyết định (G8). - Tồn tại xu hướng xuất khẩu tư bản (vốn) từ các nước chính quốc sang các nước thuộc địa. - Mâu thuẫn giữa các nước tư bản công nghiệp phát triển và các nước thuộc địa, giữa tư bản và lao động làm thuê diễn ra ngày càng gay gắt trên phạm vi toàn thế giới. * Giai đoạn thư ba: Nền kinh tế thế giới ở vào thời kỳ bắt đầu từ sự thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười với những đặc điểm sau: - Sự ra đời của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển theo quy luật hoàn toàn khác với quy luật của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. - Xuất hiện quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa (do Liên Xô đứng đầu) với các nước tư bản chủ nghĩa, quan hệ hàng hoá- tiền tệ. - Mâu thuẫn cơ bản trong quan hệ kinh tế quốc tế là mẫu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội (thể hiện trên lĩnh vực kinh tế). - Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc dần dần bị xoá bỏ và hình thành các nước mới độc lập. Do đó, xuất hiện mẫu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau, giữa các nước tư bản công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển. * Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn hiện đại của nền kinh tế với những đặc điểm sau: Liên Xô và cộng đồng xã hội chủ nghĩa của Châu Âu tan rã, hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa không tồn tại, các cường quốc phương tây trở thành thế lực chủ yếu chi phối cục diện chính trị - kinh tế thế giới. 1.1.3. Các xu hướng vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ vũ bão, đưa nền kinh tế tri thức vào trong mọi lĩnh vực, trong đó khoa học và công nghệ là động lực và phương tiện để phát triển kinh tế. Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới diễn ra với quy mô ngày càng lớn ở tất cả các lĩnh vực: Buôn bán, đầu tư, tổ chức sản xuất, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ Xu hướng toàn cầu hoá và xu hướng khu vực hoá trở thành mốt trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ biệt lập sang hợp tác. Xu hướng này làm nảy sinh hai hệ quả trái ngược nhau. - Các nước ưu tiên cho phát triển kinh tế thông qua gia tăng các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế trong các lĩnh vực: Thương mại, đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ trên cơ sở đảm bảo cho các bên tham gia đều có lợi. - Cạnh tranh về kinh tế sẽ dẫn đến chiến tranh kinh tế làm cho mâu thuẫn giữa các cường quốc, các trung tâm kinh tế và các tập đoàn xuyên quốc gia ngày càng gay gắt. 10
  9. Sự phát triển của vòng cung Châu Á – Thái Bình Dương với các quốc gia có nền kinh tế hết sức năng động, đạt nhịp độ phát triển cao liên tục qua nhiều năm, đang làm cho trung tâm kinh tế thế giới chuyển dần về khu vực này. Vòng cung châu Á – Thái Bình Dương có khoảng 2 tỷ dân, chiếm gần 40% GNP của toàn thế giới với những tài nguyên thiên nhiên phong phú, đã từng có những nền văn minh rực rỡ trong quá khứ và ngày nay đang chứng tỏ một sự phát triển hết sức mau lẹ, chưa từng có trong tiền lệ. 1.2. QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ 1.2.1. Khái niệm và nội dung của quan hệ kinh tế quốc tế a. Khái niệm Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước xét trên toàn bộ nền kinh tế thế giới. Nói cách khác, quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối quan hệ về vật chất, tài chính, kinh tế và khoa học công nghệ có liên quan tới tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất diễn ra giữa các quốc gia và giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế. Quan hệ kinh tế đối ngoại là tổng thể các mối quan hệ vật chất và tài chính, kinh tế và khoa học công nghệ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. b. Nội dung của quan hệ kinh tế quốc tế - Thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là quan hệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó trao đổi thường vượt ra ngoài biên giới một quốc gia) thông qua hoạt động mua, bán và lấy tiền tệ làm trung gian trao đổi. Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Sở dĩ thương mại quốc tế có vai trò quan trọng như vậy bởi vì kết quả của các quan hệ kinh tế quốc tế khác cuối cùng được thể hiện tập trung trong thương mại quốc tế và quan hệ hàng hoá – tiền tệ vẫn là quan hệ phổ biến nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Trên phạm vi một quốc gia, nó chính là hoạt động ngoại thương của quốc gia đó. Hoạt động thương mại quốc tế bao gồm: + Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá hữu hình (nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lương thực thực phẩm, các loại hàng tiêu dùng ): Đây là bộ phận chủ yếu và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. + Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá vô hình (Các bí quyết công nghệ, bằng sáng chế phát minh, phần mềm máy tính, các loại dịch vụ du lịch và nhiều loại hình dịch vụ khác ): Đây là bộ phận có tỷ trọng ngày càng gia tăng phù hợp với sự bùng nổ của cách mạng khoa học – công nghệ và việc phát triển các ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. + Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công: Đây là một hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phân công lao động quốc tế và do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia. Nó được phân chia thành hai loại hình chủ yếu tuỳ theo vai trò của bên đặt hàng và bên nhận gia công. Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường ở vào vị trí nhận gia công thuê cho nước ngoài. Nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình. Hoạt động gia công mang tính chất 11
  10. công nghiệp nhưng chu kỳ gia công thường rất ngắn, đầu vào và đầu ra của nó gắn liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi là một bộ phận của hoạt động ngoại thương. + Tái xuất khẩu: Người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời sau đó thực hiện xuất khẩu sang nước thứ ba mà không có sự tác động của nước đó. Ở đây, có cả hành vi mua và bán nên mức rủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao + Chuyển khẩu: Xuất khẩu qua nước khác thông qua nước trung gian. Nghĩa là không có hành vi mua bán mà chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho lưu bãi, bảo quản + Xuất khẩu tại chỗ: Trong trường hợp này, hàng hoá và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu. Đó là việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, cho khách du lịch quốc tế Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt hiệu quả cao do giảm bớt chi phí bao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh, trong khi vẫn có thể thu được ngoại tệ. + Xuất khẩu tiểu ngạch: Mua bán giữa người dân hai quốc gia mà không thông qua hợp đồng. + Xuất khẩu chính ngạch: Mua bán giữa người dân hai quốc gia trên cơ sở hợp đồng. - Đầu tư quốc tế: Đầu tư quốc tế là một quá trình kinh doanh, trong đó vốn đầu tư được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác với mục đích sinh lời. Trong đầu tư quốc tế thường có hai hoặc nhiều bên có quốc tịch khác nhau cùng phối hợp với nhau để triển khai một dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các bên. Khác với hoạt động thương mại quốc tế có thể chỉ diễn ra theo từng vụ việc, đầu tư quốc tế là một quá trình được kéo dài, có trường hợp đến vài chục năm. Vốn đầu tư quốc tế có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như bằng các loại tiền mặt hoặc giấy tờ có giá trị, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, quyền sử dụng đất đai, các sáng chế, phát minh, bí quyết công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá Lợi ích do hoạt động đầu tư mang lại thường là lợi ích kinh tế, đồng thời còn có cả lợi ích chính trị, lợi ích văn hoá – xã hội, lợi ích về bảo vệ môi trường sinh thái Vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính: đầu tư của tư nhân và Hỗ trợ phát triển chính thức của các chính phủ, các tổ chức quốc tế - Hợp tác quốc tế về kinh tế và khoa học – công nghệ, bao gồm: + Chuyên môn hoá hợp tác hoá quốc tế giữa các tổ chức kinh tế, giữa các quốc gia trong sản xuất một loại sản phẩm: Việc chuyên môn hoá có thể diễn ra theo các ngành, trong nội bộ từng ngành (theo từng sản phẩm), theo chi tiết sản phẩm và theo quy trình công nghệ. Chuyên môn hoá theo các ngành diễn ra khi có sự khác biệt lớn về điều kiện tự nhiên, sự chênh lệch đáng kể về trình độ công nghệ, trong đó mỗi quốc gia sẽ tập trung vào những ngành mà bản thân họ có điều kiện sản xuất thuận lợi và đạt được hiệu quả cao. Quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong sản xuất gắn liền với sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ và quá trình phát triển của các công ty xuyên quốc gia. Những công ty lớn có chi nhánh ở hàng chục quốc gia có khả năng thực hiện quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá một cách ăn khớp trên những phạm vi rộng lớn. Đặc biệt sự ra đời của các khối liên kết kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của việc chuyên môn hoá và việc hợp tác hoá quốc tế trong lĩnh vực sản xuất. 12
  11. + Hợp tác và trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ (hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình): Là một loại hình hoạt động bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để cùng nhau tiến hành nghiên cứu, sáng chế, thiết kế, thử nghiệm, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin về khoa học – công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học – công nghệ mới vào thực tiễn sản xuất. Sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học – công nghệ là một đòi hỏi khách quan trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào có khả năng tự giải quyết mọi vấn đề khoa học – công nghệ mà thực tiễn đặt ra. Khoa học – công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và những thành tựu khoa học – công nghệ - Các dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm: Du lịch quốc tế, giao thông vận tải quốc tế, thông tin liên lạc quốc tế, bảo hiểm quốc tế 1.2.2. Tính chất của quan hệ kinh tế quốc tế Quan hệ kinh tế quốc tế là một mối quan hệ thoả thuận, tự nguyện giữa các quốc gia độc lập, giữa các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân. Dựa trên: + Nguyên tắc: Tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của các bên tham gia. + Bình đẳng, hợp tác, các bên tham gia đều có lợi thông qua các hợp đồng kinh tế với sự thoả thuận của các bên. + Quan hệ kinh tế quốc tế chịu sự chi phối của các quan hệ chính trị quốc tế, do đó cần sử dụng kết hợp để chúng làm tiền đề và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra theo yêu cầu của các quy luật của kinh tế thị trường và chịu sự tác động của các quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh Quan hệ kinh tế quốc tế chịu sự tác động của hệ thống quản lý, của các chính sách, pháp luật, thể chế của từng quốc gia cũng như điều ước quốc tế. Do đó, khi tiến hành các hoạt động kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp phải: + Am hiểu luật pháp của nước mình và nước đối tác. + Tuân thủ hệ thống pháp luật và chính sách trong nước. + Tôn trọng và vận dụng phù hợp với yêu cầu của luật pháp và chính sách của các quốc gia có liên quan. Quan hệ kinh tế quốc tế được vận hành gắn liền với sự gặp gỡ và chuyển đổi giữa các đồng tiền thông qua tỷ giá hối đoái Khoảng cách về không gian địa lý giữa các nước có tác động trực tiếp đến thời gian và chi phí vận tải. 1.2.3. Cơ sở hình thành và phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế - Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên giữa các nước: Vị trí địa lý, nguồn tài nguyên khoáng sản, điều kiện đất đai khác nhau dẫn đến chi phí sản xuất cùng một loại sản phẩm ở một nước sẽ rất khác nhau. Vì thế, mỗi nước sẽ có lợi thế về việc sản xuất một số loại sản phẩm nào đó và không có lợi thế khi sản xuất một số sản phẩm khác. Chính vì vậy, mỗi quốc gia phải tiến hành trao đổi sản phẩm cho nhau để cân bằng phần dư thừa các sản phẩm. - Do sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế, khoa học kỹ thuật giữa các nước. Từ đó dẫn tới sự khác nhau về điều kiện tái sản xuất như: Vốn, trình độ kỹ thuật công nghệ kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ quản lý 13
  12. - Quá trình phát triển kinh tế tất yếu dẫn đến phân công lao động, sự phân công này diễn ra giữa các quốc gia với nhau, giữa các công ty, tập đoàn kinh doanh ở các nước khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia. - Do yêu cầu khách quan là cần phải tiến hành chuyên môn hoá giữa các quốc gia nhằm đạt quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất để tận dụng lợi thế riêng về điều kiện tự nhiên, vốn, kinh nghiệm - Do sự đa dạng trong nhu cầu của mỗi quốc gia đòi hỏi phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế. Khi kinh tế phát triển, thu nhập của người tiêu dùng tăng thì nhu cầu về sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, chủng loại, mẫu mã đa dạng ngày càng tăng. Chính vì vậy cần có các quan hệ trao đổi làm phong phú hơn sản phẩm hàng hoá trên thị trường. 1.2.4. Vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại a. Đối với những nước công nghiệp phát triển + Tạo điều kiện để bành trướng sức mạnh, tìm kiếm và mở rộng thị trường để tiêu thụ lượng hàng hoá dư thừa do sản xuất phát triển. + Tìm kiếm nơi đầu tư thuận lợi nhằm mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với đầu tư trong nước do tận dụng được lợi thế của nước nhận đầu tư: Điều kiện tự nhiên, tài nguyên, giá nhân công rẻ và thị trường tiêu thụ rộng lớn. + Phân tán rủi ro trong kinh doanh. b. Đối với những nước đang phát triển + Tạo cơ hội thu hút vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến để hình thành sản xuất phát triển, khắc phục tình trạng tụt hậu so với các quốc gia. + Khai thác có hiệu quả nguồn lực trong nước, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế. + Thúc đẩy sản xuất trên quy mô lớn và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sang các quốc gia khác. + Tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các nhà đầu tư nước ngoài. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Trình bày các bộ phận cơ bản của nền kinh tế thế giới? 2. Phân tích các giai đoạn phát triển của nền kinh tế thế giới? Từ đó thấy được quá trình phát triển của các quan hệ kinh tế thế giới? 3. Phân tích các xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới? 4. Cho biết nội dung và tính chất của quan hệ quốc tế? 5. Phân tích cơ sở hình thành và phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế. 6. Phân tích vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại 14
  13. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đảng cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế 2. PGS.TS. Đỗ Đức Bình, TS. Nguyễn Thường Lạng (Chủ biên), Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2004 3. PGS.TS. Đỗ Đức Bình, TS. Bùi Anh Tuấn (Chủ biên), Kinh tế học quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2002 4. TS. Đinh Xuân Quý, Kinh tế Việt Nam trước thềm hội nhập, Nhà xuất bản Thống kê, 2005 5. GS.TS Võ Thanh Thu, Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, 2003 6. Giáo trình kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân, 2002 7. Giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam, Học viện Quan hệ quốc tế 8. Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế 15
  14. Chương 2 THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Mục tiêu: Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về thương mại quốc tế như: Nội dung của thương mại quốc tế, các học thuyết về thương mại quốc tế, các chính sách và công cụ chủ yếu của hoạt động thương mại quốc tế. Trong điều kiện kinh tế mở, hội nhập và cạnh tranh quốc tế, vấn đề mở rộng và phát triển thương mại quốc tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên tất yếu và cấp bách đối với các quốc gia. Để đảm bảo cho hoạt động thương mại quốc tế đạt hiệu quả, cần thiết phải nắm được những vấn đề chung về thương mại quốc tế và chính sách thương mại quốc tế; đồng thời phải đánh giá được tiềm năng của chính mình để xây dựng một cơ chế, chính sách thích hợp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia trong quan hệ buôn bán với các quốc gia khác trên thế giới. 2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 2.1.1. Khái niệm Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau thông qua hoạt động mua, bán và lấy tiền tệ làm trung gian trao đổi. 2.1.2. Đặc điểm - Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng nhanh, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất, điều đó đưa đến tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc gia ra thị trường thế giới. - Tốc độ tăng trưởng của thương mại “vô hình” nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của thương mại “hữu hình” thể hiện sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu hàng xuất - nhập khẩu của mỗi quốc gia. - Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc. - Tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao tăng nhanh. - Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau, không những về mặt chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng và các tiêu chuẩn khác gắn với trách nhiệm xã hội và quyền lợi người tiêu dùng. - Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hoá diễn ra liên tục, đòi hỏi phải năng động, nhạy bén khi gia nhập thị trường thế giới. Các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao có sức cạnh tranh mạnh mẽ trong khi các sản phẩm, nguyên liệu thô ngày càng mất giá, kém sức cạnh tranh. - Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hoá thương mại, song mặt khác, giữa các liên kết kinh tế quốc tế cũng hình thành các hàng rào mới, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn. 16
  15. - Vai trò của GATT/ WTO ngày càng quan trọng trong điều chỉnh thương mại quốc tế. Có thể coi WTO là một tổ chức quốc tế có uy nhất trong điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. 2.1.3. Vai trò - Thương mại quốc tế làm đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước thông qua việc xuất và nhập khẩu nhằm đạt tới cơ cấu có lợi cho nền kinh tế trong nước. - Thương mại quốc tế góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, do việc mở rộng trao đổi mà khai thác triệt để lợi thế của nền kinh tế trong nước trên cơ sở phân công lao động quốc tế, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành. 2.2. MỘT SỐ HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Thương mại quốc tế đã ra đời cách đây hàng nghìn năm nhưng phải đến thế kỷ XV mới xuất hiện những lý thuyết nhằm giải thích nguồn gốc và lợi ích của thương mại quốc tế. Ngày nay, những nỗ lực nhằm hoàn chỉnh và phát triển các lý thuyết về thương mại quốc tế vẫn đang được tiếp tục. 2.2.1. Học thuyết trọng thương (chủ nghĩa trọng thương) Chủ nghĩa trọng thương được hình thành và phát triển ở Châu Âu, mạnh mẽ nhất là ở Anh và Pháp từ giữa thế kỷ XV (1450), phát triển hoàng kim vào thế kỷ XVI – XVII và tan rã vào đầu thế kỷ XVIII. Chủ nghĩa trọng thương ra đời trong bối cảnh phương thức sản xuất phong kiến tan rã, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới ra đời. Chính vì vậy, lý thuyết trọng thương được coi là hệ thống kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, là một lý thuyết làm nền tảng cho các tư duy kinh tế từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. a. Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về thương mại quốc tế Tư tưởng chính của chủ nghĩa trọng thương được thể hiện qua 4 điểm sau: - Về tiền tệ/ Bản chất giàu có của các quốc gia Mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ (biểu hiện bằng vàng, bạc, đá quý). - Về ngoại thương Muốn gia tăng khối lượng tiền tệ thì con đường chủ yếu là phát triển ngoại thương, tức là phát triển buôn bán với nước ngoài. Nhấn mạnh trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu (tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu). - Về lợi nhuận Chủ nghĩa trọng thương cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông tạo ra, là kết quả cửa sự trao đổi không ngang giá và là hành vi lường gạt, tước đoạt lẫn nhau giữa các quốc gia. Trong thương mại quốc tế “dân tộc này làm giàu bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc kia”. - Về vai trò của Nhà nước Đánh giá cao vai trò của Nhà nước trong việc điều khiển nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế. Những người theo đuổi thuyết trọng thương kêu gọi Nhà nước can 17
  16. thiệp sâu vào hoạt động kinh tế; lập hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch, miễn thuế nhập khẩu cho các loại nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, cấm bán ra nước ngoài những sản phẩm thiên nhiên (sắt, thép, lông cừu ), nâng đỡ xuất khẩu b. Ưu điểm và hạn chế của học thuyết trọng thương - Ưu điểm: + Sớm nhìn ra và đánh giá cao vai trò của thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế đối với sự phát triển và phồn vinh của mỗi quốc gia “không có biện pháp nào kiếm nhiều tiền bằng thương mại”. Tư tưởng này đối lập với trào lưu tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ là coi trọng nền kinh tế tự cung tự cấp. + Sớm nhìn ra và đánh giá cao vai trò của Nhà nước trong việc trực tiếp tham gia điều tiết hoạt động nền kinh tế xã hội, đặc biệt là hoạt động ngoại thương thông qua các công cụ: Thuế quan, lãi suất, các công cụ bảo hộ mậu dịch + Lần đầu tiên trong lịch sử lý thuyết kinh tế được nâng lên như là lý thuyết khoa học và khác hẳn với các hệ tư tưởng kinh tế thời trung cổ, giải thích các hiện tượng kinh tế theo quan niệm tôn giáo. - Hạn chế: + Đánh giá quá cao vai trò của tiền tệ. + Quan niệm về nguồn gốc của lợi nhuận chưa đúng. + Các lý luận về kinh tế của chủ nghĩa trọng thương còn đơn giản và chưa cho phép giải thích bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế. Tuy nhiên chúng ta đã khẳng định rằng những người theo lý thuyết trọng thương đã đặt nền móng để nghiên cứu nghiêm túc hiện tượng và lợi ích của thương mại quốc tế. 2.2.2. Học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam - Smith Adam – Smith (1723 - 1790) là nhà kinh tế học cổ điển người Anh. Trong cuộc đời của mình ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng về kinh tế , nổi tiếng nhất là cuốn “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776. Cũng nhờ tác phẩm này mà ông được suy tôn là “cha đẻ của kinh tế học”. a. Nội dung của học thuyết - Theo Adam - Smith, lợi thế của một nước có thể là lợi thế tự nhiên hay lợi thế do nỗ lực của nước đó. - Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra một sản phẩm khi nó có thể sản xuất ra sản phẩm đó với chi phí thấp hơn các nước khác. - Theo Adam - Smith, lợi thế tuyệt đối chính là cơ sở của thương mại quốc tế. Các quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất các loại sản phẩm mà họ có lợi thế tuyệt đối và trao đổi với các quốc gia khác để lấy các sản phẩm mà họ không có lợi thế tuyệt đối. Chính vì thế mà sự trao đổi buôn bán giữa các quốc gia dựa trên sự tự nguyện và các bên cùng có lợi. Mô hình thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối Giả sử có 2 quốc gia A và B cùng tiến hành sản xuất 2 loại sản phẩm X và Y. Trong đó: - Quốc gia A có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất sản phẩm X 18
  17. - Quốc gia B có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất sản phẩm Y Theo quan điểm của Adam - Smith thì: - Quốc gia A nên chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm X - Quốc gia B nên chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm Y Sau đó 2 quốc gia sẽ tiến hành trao đổi sản phẩm với nhau thông qua hành vi xuất nhập khẩu. Cụ thể: - Quốc gia A xuất khẩu sản phẩm X, nhập khẩu sản phẩm Y - Quốc gia B xuất khẩu sản phẩm Y, nhập khẩu sản phẩm X Kết quả là sản lượng của cả 2 mặt hàng sẽ tăng lên và cả 2 quốc gia đều trở nên sung túc hơn. Ví dụ minh họa: Để đơn giản hóa sự phân tích, mô hình thương mại được xây dựng với giả thiết thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia là Anh và Mỹ, sản xuất 2 mặt hàng là gạo và vải; lao động là yếu tố sản xuất duy nhất. Trong điều kiện tự cung tự cấp, mỗi nước tự sản xuất hai mặt hàng để tiêu dùng trong nước. Số lượng lao động cần thiết để mỗi nước sản xuất ra mỗi đơn vị gạo và vải như sau: Bảng 1: Chi phí sản xuất của Anh và Mỹ Nước SX Mỹ Anh NSLĐ - Gạo (lao động /kg) 1 6 - Vải (lao động /m) 5 4 - Có thể thấy rằng: Ở Mỹ: Chi phí sản xuất 1 kg gạo là 1 lao động, 1 m vải là 5 lao động Ở Anh: Chi phí sản xuất 1 kg gạo là 6 lao động, 1 m vải là 4 lao động - Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam - Smith thì Mỹ có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất gạo, Anh có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải. Do đó, Mỹ nên chuyên môn hóa sản xuất gạo, Anh nên chuyên môn hóa sản xuất vải. Sau đó hai nước sẽ đem trao đổi một lượng nhất định các mặt hàng với nhau. Cụ thể: Mỹ xuất khẩu gạo và nhập khẩu vải, Anh xuất khẩu vải và nhập khẩu gạo. Điều này sẽ dẫn tới mỗi nước có khả năng tiêu dùng nhiều hơn so với trường hợp tự cung tự cấp và đồng thời làm gia tăng sản lượng gạo và vải của toàn thế giới. - Giả sử Anh và Mỹ mỗi nước có 120 lao động và số lao động được chia đều cho 2 ngành sản xuất gạo và vải. + Trong trường hợp sản xuất tự cung tự cấp, sản lượng gạo và vải được thể hiện ở bảng sau: 19
  18. Bảng 2: Sản lượng gạo và vải khi chưa có thương mại quốc tế Nước SX Mỹ Anh Thế giới NSLĐ - Gạo (kg) 60 10 70 - Vải (m) 12 15 27 + Khi hai nước tham gia vào thương mại quốc tế, lượng lao động sẽ được phân bổ lại ở mỗi nước. Cụ thể là tất cả 120 lao động ở Mỹ tập trung vào ngành gạo, 120 lao động ở Anh tập trung vào ngành sản xuất vải. Lúc đó sản lượng gạo và vải được thể hiện ở bảng sau: Bảng 3: Sản lượng gạo và vải khi có thương mại quốc tế Nước SX Mỹ Anh Thế giới ΔQ Thế giới NSLĐ - Gạo (kg) 120 0 120 + 50 - Vải (m) 0 30 30 + 3 Rõ ràng là nhờ chuyên môn hóa và trao đổi, sản lượng của toàn thế giới tăng lên không chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước như trong trường hợp tự cung tự cấp, mà còn dôi là 50 kg gạo và 3m vải. Vì vậy mỗi nước có thể tăng lượng tiêu dùng cả 2 mặt hàng và do đó trở nên sung túc hơn. b. Ưu điểm và hạn chế của học thuyết - Ưu điểm: So với học thuyết trọng thương, học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam - Smith tiến bộ hơn ở 3 điểm sau: + Quan điểm về bản chất giàu có của các quốc gia. Theo Adam – Smith, sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào số lượng hàng hóa mà quốc gia đó sản xuất ra chứ không phải phụ thuộc vào lượng tiền tệ, vàng bạc, đá quý mà quốc gia đó tích lũy được. + Quan điểm về lợi ích thu được từ thương mại quốc tế. Adam - Smith bác bỏ quan điểm trọng thương coi thương mại quốc tế như là một trò chơi phải có kẻ thắng người thua. Ngược lại Ông chứng minh rằng thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho cả hai nước tham gia thông qua việc thực thi một nguyên tắc cơ bản là phân công lao động. + Quan điểm về chính sách ngoại thương của Chính phủ. Adam - Smith khẳng định rằng thương mại tự do có lợi cho tất cả các quốc gia và Chính phủ nên thực hiện chính sách “không can thiệp” vào hoạt động thương mại quốc tế nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung. - Hạn chế: 20
  19. Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam - Smith không giải thích được các trường hợp sau: + Nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra tất cả các mặt hàng thì quốc gia đó có cần thiết phải tham gia vào thương mại quốc tế hay không? + Nếu một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra bất cứ một mặt hàng nào thì liệu quốc gia đó có thể tham gia vào thương mại quốc tế được không và chỗ đứng của họ trong phân công lao động quốc tế là ở đâu? + Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam – Smith có thể giúp giải thích được một phần nhỏ của thương mại quốc tế, đó là sự trao đổi buôn bán giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất khác nhau. Còn giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất khá giống nhau (ví dụ: giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau hoặc các nước đang phát triển với nhau) cùng có lợi thế về một sản phẩm hoặc một số sản phẩm nào đó, họ có thể trao đổi buôn bán với nhau được không thì học thuyết của Adam - Smith không giải thích được. 2.2.3. Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Adam Smith (1723 – 1790) là nhà kinh tế học cổ điển người Anh. Trong cuộc đời của mình ông có nhiều tác phẩm về kinh tế nổi tiếng, nhất là cuốn “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776. Cũng nhờ tác phẩm này mà ông được suy tôn là “cha đẻ của kinh tế học”. a. Nội dung của học thuyết lợi thế tuyệt đối Theo Adam Smith, lợi thế của một nước có thể là lợi thế tự nhiên hay lợi thế do nỗ lực của nước đó. + Lợi thế tự nhiên: Liên quan đến các điều kiện tự nhiên như khí hậu, vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên + Lợi thế do nỗ lực: Là lợi thế có được do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự lành nghề. Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra một sản phẩm khi nó có thể sản xuất ra sản phẩm đó với chi phí thấp hơn các nước khác. Theo Adam Smith, lợi thế tuyệt đối chính là cơ sở của thương mại quốc tế. Các quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất các loại sản phẩm mà họ có lợi thế tuyệt đối và trao đổi với các quốc gia khác để lấy các sản phẩm mà họ không có lợi thế tuyệt đối. Chính vì thế mà sự trao đổi buôn bán giữa các quốc gia dựa trên sự tự nguyện và các bên cùng có lợi. Mô hình thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối Giả sử có hai quốc gia A và B cùng tiến hàng sản xuất 2 loại sản phẩm X và Y. Trong đó: - Quốc gia A có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất sản phẩm X. - Quốc gia B có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất sản phẩm Y. Theo quan điểm của Adam Smith thì: - Quốc gia A nên chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm X. 21
  20. - Quốc gia B nên chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm Y. Sau đó hai quốc gia sẽ tiến hành trao đổi sản phẩm với nhau thông qua hành vi xuất nhập khẩu. Cụ thể: - Quốc gia A xuất khẩu sản phẩm X, nhập khẩu sản phẩm Y. - Quốc gia B xuất khẩu sản phẩm Y, nhập khẩu sản phẩm X. Kết quả là sản lượng của cả hai mặt hàng sẽ tăng lên và cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn. b. Ưu điểm và hạn chế của học thuyết * Ưu điểm: So với học thuyết trọng thương, học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith tiến bộ hơn ở 3 điểm sau: Quan điểm về bản chất giàu có của các quốc gia. Theo Adam Smith, sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào số lượng hàng hoá mà quốc gia đó sản xuất ra chứ không phải phụ thuộc vào lượng tiền tệ, vàng bạc, đá quý mà quốc gia đó tích luỹ được. + Quan điểm về lợi ích thu được từ thương mại quốc tế. Adam Smith bác bỏ quan điểm trọng thương coi thương mại quốc tế như là một trò chơi phải có kẻ thắng người thua. Ngược lại ông chứng minh rằng thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho cả hai nước tham gia thông qua việc thực thi một nguyên tắc cơ bản là phân công lao động. + Quan điểm về chính sách ngoại thương của Chính phủ. Adam Smith khẳng định rằng thương mại tự do có lợi cho tất cả các quốc gia và Chính phủ nên thực hiện chính sách “không can thiệp” vào hoạt động thương mại quốc tế nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung. * Hạn chế: - Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith không giải thích được tất cả các trường hợp sau: + Nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra tất cả các mặt hàng thì quốc gia đó cần thiết phải tham gia vào thương mại quốc tế hay không? + Nếu một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra bất cứ một mặt hàng thì liệu quốc gia đó có thể tham gia vào thương mại quốc tế được không và chỗ đứng của họ trong phân công lao động quốc tế là ở đâu? - Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith có thể giúp giải thích được một phần nhỏ của thương mại quốc tế, đó là sự trao đổi buôn bán giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất khác nhau. Còn giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất khá giống nhau (ví dụ: Giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau hoặc các nước đang phát triển với nhau) cùng có lợi thế về một sản phẩm hoặc một số sản phẩm nào đó, họ có thể trao đổi, buôn bán với nhau được không thì học thuyết của Adam Smith không giải thích được. 22
  21. 2.2.3. Học thuyết về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) của David Ricardo David Ricardo (1773 – 1823) là nhà kinh tế học người Anh (gốc Do Thái). Ông được C.Mác đánh giá là người “đạt đến đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển”. Tác phẩm nổi tiếng của ông là “Nguyên lý kinh tế chính trị và thuế” xuất bản năm 1817. a. Các giả thiết sử dụng khi nghiên cứu: Lý thuyết này được xây dựng dựa trên 6 giả thiết. - Trên thế giới chỉ có 2 quốc gia sản xuất ra hai loại hàng hoá, trong đó mỗi quốc gia có lợi thế so sánh tương đối về một mặt hàng. - Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và có thể di chuyển tự do trong nước nhưng không thể di chuyển lao động ra nước ngoài. (Điều đó cõ nghĩa là trong quá trình tạo ra sản phẩm người ta chỉ coi trọng yếu tố lao động). - Công nghệ sản xuất ở cả hai nước không đổi. - Chi phí sản xuất không đổi. - Không có chi phí vận tải và thương mại giữa các nước hoàn toàn tự do. - Sở thích tiêu dùng là như nhau ở cả hai quốc gia. b. Nội dung của học thuyết lợi thế so sánh Tư tưởng chính của David Ricardo về thương mại quốc tế được thể hiện ở các điểm sau: - Mọi nước luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế. Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước do chỉ chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu sản phẩm của mình để đổi lấy hàng hoá nhập khẩu từ các nước khác. - Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn so với các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi loại sản phẩm thì vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế, bởi vì mỗi nước có lợi thế so sánh nhật định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh nhất định về các mặt hàng khác. - Lợi thế so sánh chỉ sự khác biệt về chi phí sản xuất tương đối (chi phí cơ hội). - Một số quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một mặt hàng nào đó nếu nước đó có chi phí sản xuất tương đối (chi phí cơ hội) sản xuất mặt hàng đó thấp hơn so với các nước khác. Hay nói một cách khác, có năng suất lao động tương đối cao hơn các nước khác. - Xác định lợi thế so sánh của một quốc gia theo công thức sau: Giả sử có hai quốc gia A và B cùng sản xuất hai mặt hàng X và Y. Quốc gia A có lợi thế so sánh trong sản xuất mặt hàng X nếu Chi phí sản xuất ra một đơn vị Chi phí sản xuất ra một đơn vị hàng hoá X của nước A hàng hoá X của nước B < Chi phí sản xuất ra một đơn vị Chi phí sản xuất ra một đơn vị hàng hoá Y của nước A hàng hoá Y của nước B 23
  22. Chú ý: + Lợi thế so sánh là một khái niệm có tính tương đối, nghĩa là trong một thế giới gồm 2 quốc gia, khi đã xác định được một quốc gia có lợi thế so sánh về một mặt hàng nào đó thì có thể rút ra kết luận là quốc gia thứ hai có lợi thế so sánh về mặt hàng kia. + Để đảm bảo thương mại quốc tế giữa hai nước có thể diễn ra thì giá quốc tế hay tỷ lệ trao đổi quốc tế phải nằm trong khoảng giới hạn hai tỷ lệ trao đổi nội địa + Nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế vượt ra khỏi phạm vi giới hạn nói trên thì một trong hai quốc gia sẽ từ chối tham gia vào buôn bán. + Nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế đúng bằng tỷ lệ trao đổi nội địa của một trong hai quốc gia thì quốc gia đó sẽ không có lợi gì, còn toàn bộ lợi ích sẽ thuộc về quốc gia kia. c. Ưu điểm và hạn chế của học thuyết * Ưu điểm: David Ricardo đã khắc phục được những hạn chế của Adam Smith, khẳng định mọi quốc gia đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế, dù cho quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối trong tất cả các mặt hàng hay không có lợi thế tuyệt đối về bất kỳ mặt hàng nào. * Hạn chế: + Các phân tích của David Ricardo không tính đến cơ cấu tiêu dùng của một nước, cho nên dựa vào lý thuyết của ông không thể xác định giá cả tương đối mà các nước dùng để trao đổi sản phẩm. + Các phân tích của David Ricardo không để cập đến chi phí vận tải, bảo hiểm và hàng rào bảo hộ ngày càng tăng trong khi các yếu tố này lại có tính chất quyết định đến hiệu quả thương mại quốc tế. + Khi nghiên cứu lợi thế so sánh, trong chi phí sản xuất, David Ricardo mới chỉ tính đến yếu tố duy nhất là lao động và đồng nhất lao động trong tất cả các ngành sản xuất. Chính vì vậy mà David Ricardo chưa thể tìm ra nguyên nhân tại sao năng suất lao động của nước này lại thấp hơn hay cao hơn năng suất lao động của nước kia, không giải thích được nguồn gốc phát sinh thuận lợi của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên không giải thích được nguyên nhân sâu xa của thương mại quốc tế. + Lý thuyết so sánh của David Ricardo đã miêu tả nền kinh tế thế giới ở mức độ chuyên môn hoá quá mức mà chúng ta thấy không có trong thế giới hiện thực. 2.3. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 2.3.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chính sách thương mại quốc tế a. Khái niệm Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và công cụ, biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định, phù hợp với định hướng, chiến lược, mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Là một bộ phận trong chính sách Kinh tế đối ngoại của một quốc gia. Chính sách kinh tế đối ngoại bao gồm: chính sách thương mại quốc tế, chính sách đầu tư nước ngoài, chính sách cán cân thanh toán quốc tế 24
  23. b. Đặc điểm - Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng nhanh, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất, điều đó đưa đến tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc gia ra thị trường thế giới - Tốc độ tăng trưởng của thương mại “vô hình” nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của thương mại “vô hình” thể hiện sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu hàng xuất – nhập khẩu của mỗi quốc gia. Điều này đã kéo theo nhiều quốc gia đang có sự đầu tư phát triển nhiều lĩnh vực dịch vụ - Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc với các xu hướng chính sau: + Giảm đáng kể tỷ trọng của nhóm hàng lương thực, thực phẩm và đồ uống + Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng nguyên vật liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và khí đốt + Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế tạo, nhất là máy móc, thiết bị và những mặt hàng tinh chế + Giảm tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng nhiều lao động giản đơn, tăng nhanh những mặt hàng kết tinh lao động thành thạo, lao động phức tạp - Tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao tăng nhanh - Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau, không những về mặt chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng và các tiêu chuẩn khác gắn với trách nhiệm xã hội và quyền lợi người tiêu dùng. Trình độ phát triển của các quan hệ thị trường càng cao, càng mở rộng phạm vi thị trường sang các lĩnh vực tài chính – tiền tệ và chính công cụ tài chính – tiền tệ này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế. Đi đôi với các quan hệ mậu dịch, sự phân công lao động quốc tế, hợp tác đầu tư, hợp tác khoa học và kỹ thuật, chuyển giao công nghệ ngày càng đa dạng và phong phú, bổ sung cho nhau và thúc đẩy nhau phát triển. - Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hoá diễn ra liên tục, đòi hỏi phải năng động, nhạy bén khi gia nhập thị trường thế giới. Các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao có sức cạnh tranh mạnh mẽ trong khi các sản phẩm, nguyên liệu thô ngày càng mất giá, kém sức cạnh tranh. - Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hoá thương mại, song mặt khác, giữa các liên kết kinh tế quốc tế cũng hình thành các hàng rào mới, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn. - Vai trò của GATT/WTO ngày càng quan trọng trong điều chỉnh thương mại quốc tế. Có thể coi WTO là một tổ chức quốc tế có uy lực nhất trong điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. Các thể chế điều chỉnh của GATT/WTO ngày càng có hiệu lực đối với nhiều nước, mức độ điều chỉnh và tính chất điều chỉnh cũng ngày càng sâu sắc và hiệu quả hơn. Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO vào ngày 11/01/2007 là một thành công, mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ kinh tế quốc tế. 25
  24. c. Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia có thể thay đổi qua mỗi thời kỳ nhưng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhiệm vụ này thể hiện trên 2 mặt: - Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế trên cơ sở khai thác triệt để lợi thế so sánh của nước mình nhằm tăng nhanh quy mô xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trên thị trường thế giới. - Bảo vệ thị trường nội địa và sản xuất trong nước, hạn chế sự cạnh tranh bất lợi từ bên ngoài. d. Ý nghĩa của việc nghiên cứu chính sách thương mại quốc tế Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận trong chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia. Chính sách kinh tế đối ngoại bao gồm chính sách thương mại quốc tế (chính sách ngoại thương); chính sách đầu tư nước ngoài; chính sách cán cân thanh toán quốc tế Chính sách kinh tế đối ngoại cùng với chính sách ngoại giao tạo thành chính sách đối ngoại của một quốc gia. Chúng lại là một bộ phận cấu thành của chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chính sách thương mại quốc tế phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước, hỗ trợ mạnh mẽ cho quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, hình thành quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗi nước vào phân công lao động quốc tế. Ngoài ra, nó có vai trò to lớn trong việc khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế, phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế. 2.3.2. Các hình thức của chính sách thương mại quốc tế Mỗi một quốc gia đều có chính sách thương mại quốc tế riêng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của mỗi nước trong từng thời kỳ. Chính sách thương mại quốc tế của các nước được tiến hành phân loại theo 2 cách sau: a. Theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động thương mại quốc tế * Chính sách mậu dịch tự do Là chính sách thương mại quốc tế, trong đó Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết hoạt động thương mại quốc tế, mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa để cho hàng hóa, dịch vụ, vốn, sức lao động tự do lưu thông giữa trong và ngoài nước nhằm tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển trên cơ sở quy luật tự do cạnh tranh. - Đặc điểm của chính sách mậu dịch tự do: + Nhà nước không sử dụng hoặc giảm thiểu đến mức thấp nhất các công cụ điều tiết thương mại quốc tế trước hết là đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Các công cụ đó là hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan. Đây là 2 công cụ điều tiết thương mại quốc tế phổ biến. 26
  25. + Thúc đẩy mở rộng xuất khẩu bằng cách bỏ thuế xuất khẩu và các biện pháp khuyến khích khác. + Mở rộng thị trường nội địa cho hàng hóa nước ngoài tự do xâm nhập, bằng cách xóa bỏ hàng rào thuế quan, sau đó là các trở ngại khác. + Quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ được tiến hành một cách tự do giữa trong và ngoài nước. + Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, thương mại trong nước đều được điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường . - Ưu điểm của chính sách mậu dịch tự do: + Mọi trở ngại trong thương mại quốc tế bị loại bỏ, tạo điều kiện thúc đẩy sự tự do lưu thông hàng hóa giữa các nước. + Làm cho hàng hóa trên thị trường nội địa phong phú, đa dạng hơn, giúp người tiêu dùng có điều kiện để lựa chọn những sản phẩm phù hợp với nhu cầu và khả năng thanh toán của mình. + Tạo môi trường cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa từ đó kích thích các nhà sản xuất trong nước phát triển và hoàn thiện mình. + Đối với những nước phát triển, các nhà sản xuất đã đủ sức cạnh tranh với nước ngoài thì chính sách này giúp các nhà kinh doanh bành trướng ra ngoài. + Tạo điều kiện tự do phát triển thương mại quốc tế và thương mại nội địa nhằm làm suy yếu hoặc xóa bỏ chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước khác, tạo cơ sở cho các nhà kinh doanh nội địa dễ dàng thâm nhập và phát triển trên thị trường mới. - Nhược điểm của chính sách mậu dịch tự do: + Do thị trường trong nước được điều tiết chủ yếu bởi quy luật tự do cạnh tranh cho nên nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng, không ổn định và bị lệ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị ở bên ngoài. + Khi các nhà sản xuất trong nước chưa đủ mạnh thì dễ bị phá sản trước sự tấn công của hàng ngoại nhập. Chính vì vậy mà hiện nay, ngay cả các nước có nền kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật đều không thực hiện chính sách mậu dịch tự do đối với một số mặt hàng đã đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và chỉ thực hiện trong một thời gian nhất định. * Chính sách bảo hộ mậu dịch Là chính sách thương mại quốc tế mà trong đó Nhà nước sử dụng các biện pháp để bảo vệ thị trường nội địa trước sự cạnh tranh của hàng ngoại nhập. Đồng thời Nhà nước còn giúp đỡ các nhà kinh doanh trong nước bành trướng ra thị trường nước ngoài bằng cách giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu - Ưu điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch: + Giảm bớt sự cạnh tranh của hàng ngoại nhập, giúp các nhà sản xuất kinh doanh trong nước phát triển và tăng cường sức mạnh trên thị trường nội địa. 27
  26. + Tăng cường sức mạnh cho các nhà kinh doanh xuất khẩu để giúp họ từng bước thâm nhập vào thị trường thế giới. - Nhược điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch: + Làm tổn thương đến sự phát triển của thương mại quốc tế, dẫn đến sự cô lập kinh tế của một nước. + Bảo hộ quá chặt chẽ dẫn đến sự trì trệ và bảo thủ của các nhà sản xuất kinh doanh trong nước, quá trình sản xuất kinh doanh trong nước chậm được đổi mới, chất lượng sản phẩm thấp không đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hoạt động kinh doanh và đầu tư sẽ không mang lại hiệu quả. + Bảo hộ mậu dịch dẫn tới sự thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước vì hàng hóa ở thị trường nội địa kém đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng hàng hóa ít được cải thiện, giá cả hàng hóa đắt b. Theo mức độ tiếp cận của nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới * Chính sách hướng nội: Là chính sách mà nền kinh tế ít có quan hệ với thị trường thế giới, mà phát triển tự lực cánh sinh bằng sự can thiệp của Nhà nước. Với mô hình này Nhà nước thực hiện chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng xuất khẩu. - Ưu điểm chính sách hướng nội: + Thị trường nội địa được bảo hộ chặt chẽ nhờ đó mà nền công nghiệp trong nước có điều kiện thuận lợi để phát triển, đặc biệt là ở những nước có ngành công nghiệp nội địa chưa phát triển, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên. + Là mô hình phát triển dựa vào nguồn tài lực bên trong, cho nên mọi tiềm lực quốc gia đều được huy động cao độ cho phát triển kinh tế. + Nền kinh tế trong nước ít chịu tác động của thị trường nước ngoài, nên tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy thấp nhưng ổn định. - Nhược điểm chính sách hướng nội: + Hàng hóa sản xuất không mang tính cạnh tranh nên chất lượng thường thấp, kiểu dáng chậm được đổi mới, giá thành cao. + Nhiều ngành kinh tế phát triển kém hiệu quả vì việc phát triển kinh tế không dựa vào lợi thế của đất nước mà chỉ dựa vào nhu cầu của nền kinh tế đóng cửa. + Do kim ngạch xuất khẩu thấp, nguồn thu ngoại tệ ít nên cán cân thương mại quốc tế bị mất cân đối. + Vay nợ nước ngoài lớn, khả năng trả nợ khó khăn. Với những ưu, nhược điểm trên, chính sách hướng nội được nhiều nước trên thế giới lựa chọn thực hiện trong giai đoạn đầu khi nền kinh tế chưa phát triển. * Chính sách hướng về xuất khẩu Là chính sách mà nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực phát triển. Tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và khu vực, chuyên môn hóa vào sản xuất các sản phẩm mà quốc gia có lợi thế. 28
  27. Chính sách hướng về xuất khẩu tạo điều kiện để các nước từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, làm gia tăng thương mại giữa các nước, làm cho nền kinh tế phát triển năng động do các doanh nghiệp phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước, đồng thời làm cho chất lượng sản phẩm ngày càng cao. 2.4. CÁC NGUYÊN TẮC CHỦ YẾU ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 2.4.1. Nguyên tắc tương hỗ Còn gọi là nguyên tắc có đi có lại. - Theo nguyên tắc này, các bên tham gia trong quan hệ buôn bán, cam kết dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng trên cơ sở tương xứng nhau trong quan hệ buôn bán với nhau. - Mức độ ưu đãi và điều kiện nhân nhượng phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Bên yếu hơn sẽ bị lép vế và thường bị buộc phải chấp nhận điều kiện do bên có tiềm lực kinh tế mạnh hơn đưa ra. - Trong thực tế, những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng này chỉ mang tính hình thức. Việc áp dụng nguyên tắc này thường gây bất lợi cho những bên yếu hơn. Trong thực tiễn quan hệ kinh tế quốc tế, nguyên tắc có đi có lại còn được thể hiện theo hướng không thiện chí, được gọi là trả đũa thương mại. Theo quy định của WTO, biện pháp trả đũa thương mại chỉ được coi là hợp pháp nếu biện pháp này được thực hiện trên cơ sở phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Ví dụ minh hoạ: Vụ chiến tranh gà vịt Đây là vụ tranh chấp giữa Hoa Kỳ và EEC thời kỳ 1962-1964 có liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Đây là thời kỳ căng thẳng trong quan hệ buôn bán giữa Hoa Kỳ và EEC, kéo dài từ tháng 7-1962 đến tháng 1-1964, bắt đầu bằng sự kiện Đức tăng thuế nhập khẩu 3 lần đối với gia cầm xuất khẩu từ Hoa Kỳ, làm Hoa Kỳ thiệt hại khoảng 26 triệu USD. Cơ quan giải quyết tranh chấp của GATT cho phép Hoa Kỳ áp dụng biện pháp trả đũa. Hoa Kỳ đã đánh thuế nhập khẩu bổ sung đối với rượu Cognac xuất khẩu từ Pháp, xe tải xuất khẩu từ Đức, tinh bột xuất khẩu từ Hà Lan. Ngày nay các nước ít áp dụng nguyên tắc này trong điều chỉnh quan hệ buôn bán giữa các nước. 2.4.2. Nguyên tắc ngang bằng dân tộc Còn gọi là nguyên tắc đãi ngộ quốc gia - Theo nguyên tắc này, các bên tham gia trong quan hệ buôn bán cam kết sẽ dành cho nhau những đối xử ngang bằng ở cả hai quốc gia (trừ quyền bầu cử, ứng cử và tham gia nghĩa vụ quân sự). Điều này có nghĩa là mọi công dân, công ty của nước A khi sinh sống đặt trụ sở ở nước B thì được hưởng các quyền lợi và nghĩa vụ như công dân và công 29
  28. ty của nước B và ngược lại. Nếu nước A và B ký kết hiệp định quan hệ thương mại dựa trên nguyên tắc đãi ngộ quốc gia. - Thực tế áp dụng nguyên tắc này cho thấy các nước công nghiệp phát triển bao giờ cũng thuận lợi hơn so với các nước kinh tế kém phát triển. Vì vậy tính chất ngang bằng trong thực tế chỉ là hình thức. 2.4.3. Nguyên tắc nước được ưu đãi nhất Còn được gọi là nguyên tắc “Tối huệ quốc”( MFN). Điều I của GATT đã nêu rõ: MFN phải được coi là nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong quan hệ thương mại quốc tế. - Theo tập quán quốc tế, khi một nước cam kết cho một nước khác được hưởng chế độ tối huệ quốc thì phải dành cho nước đó tất cả những ưu đãi mà mình đã và sẽ dành cho một nước thứ ba trong quan hệ kinh tế và buôn bán về các mặt như: Thuế quan, mặt hàng trao đổi, tàu bè chuyên chở, Ví dụ: Nếu Hoa Kỳ áp dụng MFN đối với Việt Nam. Giả sử Hoa Kỳ có chính sách giảm thuế nhập khẩu đồ len dạ Australia từ 20% xuống còn 10% thì đương nhiên Việt Nam cũng được hưởng chính sách ưu đãi đó. MFN là quy chế phát triển quan hệ thương mại có lịch sử khá lâu dài. Được áp dụng lần đầu tiên vào năm 1860 trong quan hệ giữa Anh và Pháp. Có tài liệu chứng minh nó được áp dụng từ thế kỷ XII dù khi đó chưa có tên gọi là MFN. Trong 2 cuộc chiến tranh thế giới, MFN hầu như không được áp dụng. Từ năm 1941 (khi Hoa Kỳ ký Hiến chương Đại Tây Dương) và nhất là từ khi GATT ra đời và hoạt động (1948), MFN trở thành nguyên tắc ngày càng được sử dụng rộng rãi trong quan hệ kinh tế quốc tế. MFN cùng với nguyên tắc đối xử quốc gia tạo nên nền tảng của nguyên tắc không phân biệt đối xử (NonDiscrimination) trong quan hệ thương mại quốc tế. Trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước khác, MFN được ghi nhận trong các hiệp định song phương về thương mại và đầu tư. Trong quan hệ thương mại với EU, Việt Nam được hưởng MFN của EU lần đầu tiên vào năm 1939. Khi trở thành thành viên của WTO, Việt Nam được hưởng, đồng thời phải áp dụng MFN với tất cả 149 thành viên còn lại của WTO. Do đó, có quan điểm cho rằng không nên hiểu MFN là chế độ quan hệ thương mại ưu đãi mà điểm cơ bản của MFN là đối xử bình đẳng với các nước cùng được hưởng MFN. Xuất phát từ quan điểm này, từ năm 1999, Hoa Kỳ đã chính thức sử dụng thuật ngữ NTR (Normal Trade Relations), nghĩa là quy chế Quan hệ thương mại bình thường để thay thế cho thuật ngữ MFN. Quy chế NTR của Hoa Kỳ được chia thành hai loại: NTR phê chuẩn hàng năm và NTR vĩnh viễn hay PNTR (Permanent Normal Trade Relations). Tháng 12-2006, Hoa Kỳ đã phê chuẩn quy chế PNTR cho Việt Nam, đánh dấu giai đoạn mới trong quan hệ hai nước Việt Nam Hoa Kỳ. - Mục tiêu của nguyên tắc tối huệ quốc: 30
  29. Giảm bớt sự phân biệt đối xử trong quan hệ buôn bán giữa các nước, làm cho điều kiện cạnh tranh của hàng hoá các nước tiến ngang bằng nhau, từ đó thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. - Cách thức áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc: + Áp dụng chế độ tối huệ quốc vô điều kiện (thường áp dụng ở các nước châu Âu): Nghĩa là được hưởng mặc nhiên mọi quyền lợi, ưu đãi, miễn giảm mà một trong các bên đã, đang và sẽ dành cho một nước thứ ba. + Áp dụng chế độ tối huệ quốc có điều kiện (Hoa Kỳ): nghĩa là các quốc gia chỉ được hưởng tối huệ quốc nếu chấp nhận những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội mà quốc gia cho hưởng đòi hỏi. Ví dụ: Nghị viện Hoa Kỳ thông qua điều khoản Jackson Vanik sửa đổi (trong Đạo luật thương mại 1974): Hoa Kỳ từ chối áp dụng MFN đối với các nước “hạn chế quyền di cư tự do” nhằm chống lại các nước xã hội chủ nghĩa cũ trong thời kỳ chiến tranh lạnh. - Các trường hợp không đưa vào tối huệ quốc: + Không áp dụng tối huệ quốc trong quan hệ thương mại đường biên. + Không áp dụng tối huệ quốc trong quan hệ thương mại truyền thống (đã có mối quan hệ từ lâu đời, tín nhiệm mặt hàng của nhau). + Không áp dụng tối huệ quốc trong trường hợp có những ưu đãi và thuận lợi đặc biệt về thuế quan các khu vực mậu dịch tự do hoặc các tổ chức, liên kết kinh tế quốc tế. 2.5. CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 2.5.1. Thuế quan a. Khái niệm Thuế quan là những khoản tiền tệ mà người chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện cho nước sở tại. Thuế quan có thể phân thành 3 loại: thuế quan xuất khẩu, thuế quan nhập khẩu và thuế quan quá cảnh. Hiện nay, ở các quốc gia thuế quan xuất khẩu rất ít được sử dụng vì nó sẽ làm hạn chế quy mô xuất khẩu của hàng hóa. Thuế quan quá cảnh được áp dụng đối với các quốc gia có điều kiện, vị trí đặc biệt thực hiện các nghiệp vụ trung chuyển hàng hóa (tái xuất khẩu và chuyển khẩu). Thuế quan nhập khẩu được áp dụng khá phổ biến và rộng rãi ở tất cả các quốc gia trên thế giới. b. Vai trò của thuế quan - Thuế quan có vai trò điều tiết xuất khẩu và nhập khẩu, bởi vì lượng hàng hoá xuất khẩu hoặc nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ hàng hoá, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả. Giá cả lên xuống làm tăng hoặc giảm sức cạnh tranh của hàng hoá. Thuế quan đánh thấp hay cao ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa, do đó thông qua mức thuế quan đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu, chính phủ gián tiếp điều tiết xuất nhập khẩu hàng hoá. 31
  30. Ví dụ: Nếu đánh thuế xuất khẩu vào hàng hoá A → làm tăng giá hàng hoá A ở thị trường nước ngoài → giảm sức cạnh tranh ở thị trường nước ngoài → giảm cung hàng hoá A ở thị trường nước ngoài. Nếu đánh thuế nhập khẩu hàng hoá B → làm tăng giá hàng hoá B ở thị trường trong nước → giảm sức cạnh tranh ở thị trường trong nước → giảm cung hàng hoá B ở thị trường trong nước. - Thuế quan có tác dụng bảo hộ thị trường nội địa, bởi vì đánh thuế cao vào những hàng hoá nhập khẩu, giúp hàng hoá trong nước có giá rẻ có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu. Đặc biệt thuế quan giúp các doanh nghiệp sản xuất “non trẻ” ở trong nước có thời gian để trưởng thành và sinh lời, có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu trong tương lai. Vì những doanh nghiệp non trẻ thường chi phí sản xuất ban đầu cao, chưa có thị trường rộng lớn cho nên những doanh nghiệp này có thể bị bóp chết trong “trứng nước”, khi bị hàng hoá ngoại cạnh tranh. - Thuế quan có tác dụng tăng thu cho ngân sách Nhà nước, vì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, gồm thuế VAT, thuế thu nhập - Thuế nhập khẩu có tác dụng làm giảm bớt nạn thất nghiệp, vì khi đánh thuế cao đòi hỏi phải mở rộng quy mô sản xuất thay thế nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. - Thuế quan là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp lực đối với các bạn hàng buộc họ phải nhượng bộ trong khi đàm phán. Chẳng hạn Mỹ đòi EU phải giảm từ 30-50% trợ cấp trong nông nghiệp, nếu không Mỹ sẽ tăng mức thuế đánh vào nông sản của EU nhập khẩu vào thị trường Mỹ. - Giảm thuế quan là biện pháp quan trọng để đẩy nhanh tiến độ hội nhập khu vực và thế giới về kinh tế. Đa số các hiệp định song phương và đa phương đều dùng biện pháp cơ bản là giảm thuế nhập khẩu để thực hiện tiến trình toàn cầu hoá. Ví dụ: Tháng 1/2003 các nước ASEAN – 6 đã giảm thuế nhập khẩu xuống còn ở mức 0% - 5% và dự kiến đến năm 2010 thị trường chung của các nước ASEAN hình thành thì thuế nhập khẩu giảm xuống bằng 0. - Xem xét tác động của thuế quan (thuế nhập khẩu) thông qua mô hình Ghi chú Đường S: Đường cung hàng hóa A Đường D: Đường cầu hàng hóa A PW : Giá thế giới trong điều kiện thương mại tự do PW + t : Giá thế giới trong điều kiện đánh thuế nhập khẩu S□P(W+1) PW FA = a S□ABDE = c S∆AEF = b S∆BDC = d 32
  31. P Pmax S E PW + t A B PW a b c d F E D C D Pmin 0 QS1 QS2 QE QD2 QD1 Q Hình 2.1. Tác động của thuế quan nhập khẩu + Trong điều kiện không có thuế quan mức giá hàng hóa A là Pw Ở mức giá PW người mua sẵn sàng mua một lượng QD1 hàng hóa A, người sản xuất trong nước chỉ muốn sản xuất và bán ra một lượng QS1 hàng hóa A (∆Q). QD1 > QS1 nên để thỏa mãn nhu cầu trong nước thì phải nhập khẩu một lượng ∆Q = QD1 - QS1 hàng hóa A. + Giả sử lúc này nước nhập khẩu hàng hóa A và Chính phủ đánh thuế nhập khẩu hàng hóa A làm cho giá hàng hóa A tăng lên mức PW + t . Ở mức giá PW + t người mua sẵn sàng mua một lượng hàng hóa A là QD2, người sản xuất lại muốn sản xuất ở mức QS2 và lúc này đất nước phải nhập khẩu một lượng hàng hóa A là QD2 - QS2 để thỏa mãn nhu cầu trong nước. - Như vậy có thể thấy được tác động của thuế quan như sau: + Tác động về giá: Làm cho giá hàng hóa tăng lên. + Tác động về tiêu dùng: Lượng tiêu dùng giảm sút một lượng là QD1 - QD2. + Tác động về sản xuất: Sản xuất gia tăng một lượng là QS2 – QS1. + Tác động về buôn bán: Làm cho lượng hàng hóa nhập khẩu giảm một lượng = lượng tiêu dùng giảm sút + lượng sản xuất gia tăng = (QD1 - QD2) + (QS2 – QS1). + Tác động về mặt ngân sách Nhà nước: Thuế quan sẽ đem lại cho ngân sách Nhà nước một khoản thu bằng khối lượng nhập khẩu x thuế / 1 đơn vị = c. 33
  32. + Tác động về phân phối lại: - Lợi ích của người sản xuất tăng lên do gia tăng khối lượng sản xuất. Nếu không có thuế thì thặng dư sản xuất = S∆PW FPmin Nếu bị đánh thuế thì thặng dư sản xuất = S∆P(W+t) APmin → Phần lợi ích gia tăng = S∆P(W+t) APmin - S∆PW FPmin = a - Lợi ích của người tiêu dùng giảm. Trước khi có thuế quan, thặng dư tiêu dùng = S∆Pmax CPW Sau khi có thuế quan, thặng dư tiêu dùng = S∆Pmax BP(W+1) → Phần lợi ích của người tiêu dùng giảm = S∆Pmax CPW - S∆Pmax BP(W+1) = a + b + c + d. - Lợi ích của Chính phủ: Thu ngân sách Nhà nước tăng lên. Phần thu từ thuế của Chính phủ gia tăng = S□ABDE = c - Lợi ích của xã hội bị giảm = b + d 2.5.2. Các biện pháp phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩu a. Hình thức cấm hẳn nhập khẩu một số loại mặt hàng nào đó Tuỳ vào chính sách kinh tế của từng nước mà Chính phủ đưa ra danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu. Đây là hình thức bảo hộ mậu dịch tuyệt đối, loại hoàn toàn đối thủ cạnh tranh trên thị trường nội địa. Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu, biện pháp cấm nhập khẩu ngày càng giảm vai trò, vì đây là biện pháp gây nên những trở ngại không thể vượt qua đối với hoạt động thương mại quốc tế. Theo tinh thần của các Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) các nước chỉ xác định danh mục hàng cấm nhập khẩu đối với các mặt hàng ảnh hướng lớn đến an ninh, xã hội của quốc gia. . b. Hạn ngạch nhập khẩu (quota) - Khái niệm: Hạn ngạch là một công cụ phổ biến trong hàng rào phi thuế quan, được hiểu là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập khẩu từ một thị trường trong một thời gian nhất định (thường là một năm) thông qua hình thức cấp giấy phép (quota xuất nhập khẩu). Quota nhập khẩu là hình thức phổ biến hơn, còn quota xuất khẩu ít được sử dụng và nó cũng tương đương với biện pháp “Hạn chế xuất khẩu tự nguyện”. Hạn ngạch nhập khẩu đưa tới sự hạn chế số lượng nhập khẩu, đồng thời gây ảnh hưởng đến giá nội địa của hàng hoá. Do mức cung thấp, giá cân bằng sẽ cao hơn so với giá trong điều kiện thương mại tự do. Như vậy, hạn ngạch nhập khẩu tác động tương đối giống với thuế nhập khẩu. Do hạn ngạch nhập nên giá hàng nhập nội địa sẽ tăng lên và nó cho phép các nhà sản 34
  33. xuất trong nước thực hiện một quy mô sản xuất với hiệu quả thấp hơn là so với điều kiện thương mại tự do. Như vậy, hạn ngạch nhập khẩu cũng dẫn tới sự lãng phí nguồn lực của xã hội giống như đối với thuế nhập khẩu – là công cụ quan trọng để thực hiện chiến lược sản xuất hay thay thế nhập khẩu, bảo hộ nền sản xuất nội địa. Đối với chính phủ và các doanh nghiệp, hạn ngạch cho biết trước số lượng hàng nhập khẩu (điều này lại khác với thuế quan nhập khẩu vì nó phụ thuộc vào mức độ co dãn của quan hệ cung cầu). Hạn ngạch nhập khẩu mang tính chắc chắn hơn là thuế nhập khẩu nên một số nhà sản xuất nội địa ưa thích hơn, những người tiêu dùng lại bị thiệt thòi nhiều hơn, còn người được hưởng lợi nhiều nhất là nhà nhập khẩu chứ không phải Nhà nước. Trong thực tiễn, người ta thường quy định hạn ngạch nhập khẩu cho một số loại sản phẩm đặc biệt hay cho sản phẩm với thị trường đặc biệt, hạn ngạch xuất khẩu được quy định theo mặt hàng, theo nước và theo khoảng thời gian nhất định. Xu hướng hiện nay các quốc gia ít sử dụng công cụ hạn ngạch và họ dùng thuế quant hay thế dần hạn ngạch.Việc sử dụng thuế quan thay thế cho hạn ngạch và các công cụ định lượng khác được gọi là thuế hoá. Đây chính là quy định có tính chất bắt buộc đối với các nước thành viên WTO (Điều XI GATT). So sánh hạn ngạch và thuế quan Hạn ngạch Thuế quan + Hạn ngạch nhập khẩu là một công cụ của + Thuế nhập khẩu là một công cụ của hàng hàng rào phi thuế quan. rào thuế quan. + Thông qua hạn ngạch, Nhà nước có thể + Thông qua thuế quan thì khó dự báo được dự báo trước được số lượng hàng sẽ nhập vì lúc này khối lượng hàng hoá nhập khẩu khẩu trong từng thời kỳ. phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường. + Hạn ngạch không mang lại thu nhập cho + Thuế quan mang lại thu nhập cho Chính Chính phủ mà mang lại thu nhập cho doanh phủ (làm tăng ngân sách cho Nhà nước) nghiệp + Hạn ngạch tạo ra sự bất bình đẳng trong + Thuế quan nhập khẩu không gây ra hiện kinh doanh. tượng đó, tất cả các doanh nghiệp đều phải chịu thuế nhập khẩu. c. Giấy phép nhập khẩu * Khái niệm Giấy phép nhập khẩu là một văn bản do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp cho nhà nhập khẩu cho phép họ được nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài. * Phân loại: - Giấy phép chung, có những đặc điểm cơ bản sau: + Được cấp công khai, rộng rãi. + Doanh nghiệp muốn được cấp phải hội đủ những điều kiện nhất định (giấy phép thành lập công ty, vốn, nhân sự ). 35
  34. + Quy định ngành hàng kinh doanh. + Không quy định số lượng và giá trị hàng nhập khẩu. + Không quy định thời hạn sử dụng giấy phép. Loại giấy phép này thường được áp dụng ở nhữg nền kinh tế phi thị trường, thông qua giấy phép Nhà nước thực hiện quản lý độc quyền ngoại thương. Loại giấy phép này ngày nay càng ngày càng ít được áp dụng. - Giấy phép riêng: Muốn được cấp phải thoả mãn các điều kiện khác. Ví dụ phải có hạn ngạch. + Được cấp kín đáo và mang tính chất bí mật. + Giấy phép riêng được cấp từng lần, trên đó ghi rõ tên, địa chỉ của doanh nghiệp được cấp. + Quy định rõ số lượng và giá trị hàng hoá được phép nhập khẩu. + Ghi rõ chủ hàng và thị trường nhập khẩu. + Ghi rõ thời hạn hiệu lực. d. Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật Đây là hình thức bảo hộ mậu dịch thông qua việc nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu như: + Quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường. + Quy định về an toàn lao động. + Quy định về mẫu mã, bao bì, kiểu sáng, chất lượng sản phẩm. + Đăc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với động và thực vật tươi sống, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái đối với các máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ (không có chất phế thải độc hại, tiếng ồn không quá mức cho phép ). Những quy định này xuất phát từ các đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội và phản ánh trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại. Tuy nhiên, trên thực tế người ta thường khéo léo sử dụng các quy định này một cách thiên lệch giữa các công ty trong nước với các công ty nước ngoài và biến chúng thành công cụ cạnh tranh có lợi cho nước chủ nhà trong quan hệ thương mại quốc tế. Về mặt kinh tế, những quy định này có tác dụng bảo hộ đối với thị trường trong nước, hạn chế và làm méo mó dòng vận động của hàng hoá trên thị trường thế giới. Hiện nay theo thống kê của các nhà nghiên cứu có khoảng 1/3 kim ngạch buôn bán của thế giới gặp cản trở do các nước đặt ra quá nhiều tiêu chuẩn. Để khắc phục tình trạng này, người ta ban hành các tiêu chuẩn quốc tế thống nhất (ISO), đó chính là tổ chức quốc tế về chất lượng sản phẩm. Nói chung, những nước phát triển có lợi hơn các nước chậm phát triển trong việc áp dụng các quy định này. e. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện Đây là một hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu, mà theo đó, một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc 36
  35. gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách “tự nguyện”, nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết. Thực chất đây là những cuộc thương lượng mậu dịch giữa các bên để hạn chế bớt sự xâm nhập của hàng ngoại, tạo công ăn việc làm cho thị trường trong nước. Khi thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện nó cũng có tác động kinh tế như một hạn ngạch xuất khẩu tương đương. Tuy nhiên, hạn ngạch xuất khẩu mang tính chủ động và thường là biện pháp tự bảo vệ thị trường trong nước hoặc nguồn tài nguyên trong nước, còn hạn chế xuất khẩu tự nguyện thực ra lại mang tính miễn cưỡng và gắn với những điều kiện nhất định. Hình thức này được áp dụng cho các quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở một số mặt hàng nào đó. 2.5.3. Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu a. Tín dụng xuất khẩu Đây là hình thức khuyến khích xuất khẩu bằng cách Nhà nước lập các quỹ tính dụng xuất khẩu hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng thương mại, đảm bảo gánh chịu rủi ro nhằm tăng cường tín dụng cho hoạt động xuất khẩu và thông qua đó thúc đẩy xuất khẩu. Tín dụng xuất khẩu có thể được cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho nhà sản xuất hoặc xuất khẩu trong nước, giúp họ đẩy mạnh xuất khẩu. Tín dụng còn có thể được nước xuất khẩu cấp cho các nước nhập khẩu hoặc nhà nhập khẩu (thông qua các hình thức gia hạn thanh toán, trả chậm, ưu đãi về điều kiện vay và lãi suất ) để khuyến khích họ nhập hàng của mình. Cũng giống như trợ cấp xuất khẩu, tín dụng xuất khẩu thường được các nước phát triển sử dụng nhiều hơn và chủ yếu áp dụng cho các nhóm hàng thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ đồng bộ. b. Trợ cấp xuất khẩu Bên cạnh các công cụ nhằm hạn chế nhập khẩu còn có những công cụ dùng để nâng đỡ hoạt động xuất khẩu. Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước. Bên cạnh đó, Chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi đối với các bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất, và để xuất khẩu ra bên ngoài. Đây chính là các khoản tín dụng “viện trợ” mà Chính phủ các nước công nghiệp phát triển áp dụng khi cho các nước đang phát triển vay (thường có kèm theo các điều kiện chính trị). Giả sử, để nâng đỡ một ngành sản xuất nào đó, Chính phủ sẽ trợ cấp trực tiếp một khoản tiền nhất định cho bộ phận sản phẩm được đem vào xuất khẩu. Khi ấy các nhà sản xuất trong nước sẽ thu lợi về chính khoản tiền trợ cấp đó. Nhưng tác động của việc trợ cấp sẽ lan truyền sang các khâu khác, cụ thể là: - Mức cung thị trường nội địa bị giảm do mở rộng quy mô xuất khẩu, giá cả thị trường nội địa tăng lên,người tiêu dùng trong nước sẽ bị thiệt một khoản tiền nhất định. - Chi phí ròng của xã hội phải bỏ ra để bảo hộ việc khuyến khích xuất khẩu gây thiệt hại cho xã hội gồm có chi phí nội địa tăng lên do sản xuất thêm nhiều sản phẩm để xuất khẩu (chi phí cận biên nội địa tăng lên), đồng thời gồm cả chi phí do giảm mức tiêu dùng trong nước. Lưu ý là lợi ích mà nhà sản xuất thu được nhỏ hơn chi phí mà xã hội phải bỏ thêm. Như vậy, trợ cấp xuất khẩu đưa đến cái hại nhiều hơn là cái lợi. Nhưng trong thực tế nó vẫn được 37
  36. sử dụng để phục vụ cho một mục đích cụ thể nào đó. Bởi vậy, cần phải cân nhắc thận trọng trong khi áp dụng công cụ này. c. Bán phá giá Bán phá giá là biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, cần lên án và khắc phục. Tuy nhiên WTO không đặt việc bán phá giá ra ngoài vòng pháp luật. Thay vào đó, WTO cho phép các thành viên áp dụng các biện pháp chống phá giá, đồng thời có cơ chế tự điều chỉnh vấn đề này. Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADA) đặt ra các tiêu chí nghiêm ngặt để xác định thế nào là một hành vi bán phá giá. Hiệp định quy định một sản phẩm sẽ bị coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Hiệp định quy định ba phương thức tính giá trị thông thường của sản phẩm đó tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Trường hợp không sử dụng được phương thức này thì có thể lựa chọn hai phương thức còn lại: căn cứ vào giá bán của nước xuất khẩu tại một nước khác; hoặc tính theo kiểu tổng hợp giá thành sản xuất, các chi phí có liên quan cùng với lợi nhuận tối thiểu của nhà sản xuất và xuất khẩu. Hiệp định cũng quy định cụ thể việc so sánh một cách hợp lý giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường. Trên thực tế, hành vi chống bán phá giá là hành vi đánh thuế nhập khẩu bổ sung đối với một loại hàng cụ thể từ một nước xuất khẩu cụ thể nào đó, nhằm cân bằng giữa giá hàng nhập và giá trị thực của nó, nhằm giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất trong nước tại nước nhập khẩu. Việc đánh thuế chống bán phá giá phải tuân thủ các điều kiện sau đây: - Nước nhập khẩu phải xác lập được bằng chứng, thông qua việc điều tra ở cấp quốc gia, rằng nhập khẩu tăng đang gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa (ví dụ: doanh thu giảm, lợi nhuận giảm, tăng số người lao động thất nghiệp ) - Chính phủ nước nhập khẩu chỉ tiến hành điều tra nếu có đơn khiếu nại của các nhà sản xuất nội địa có sản lượng chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng nội địa. Điều tra bán phá giá sẽ được chấm dứt ngay trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền cho rằng: mức độ phá giá không lớn, ít hơn 2% giá xuất khẩu sản phẩm, hoặc kim ngạch nhập khẩu hàng bị bán phá giá là không đáng kể, dưới 3% tổng lượng nhập khẩu sản phẩm tương tự. Tuy nhiên, điều tra vẫn có thể được tiến hành nếu tổng cộng hàng nhập khẩu của một số nước chiếm trên 7% tổng khối lượng nhập khẩu, cho dù lượng hàng nhập khẩu của mỗi nước chiếm ít hơn 3% khối lượng nhập khẩu nói trên. Nếu kết luận là có tồn tại việc bán phá giá và sản xuất trong nước bị tổn hại, thì thông qua đàm phán, nước xuất khẩu phải cam kết nâng giá lên mức thoả thuận để tránh phải chịu thuế chống bán phá giá. Nếu giá bán không được điều chỉnh tăng lên, nước nhập khẩu có quyền áp thuế chống bán phá giá. Hiệp định cũng quy định các thủ tục cụ thể về việc khởi kiện các vụ tranh chấp bán phá giá, quá trình điều tra, các điều kiện đảm bảo để tất cả các bên liên quan đều có mặt để trình chứng cứ. Các biện pháp chống bán phá giá sẽ hết thời hạn sau 5 năm kể từ ngày bắt đầu áp dụng, trừ trường hợp kết luận điều tra cho rằng nếu dừng áp dụng thì sẽ dẫn đến tổn thất cho nước nhập khẩu. 38
  37. Mục đích của bán phá giá là đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá đến thị trường nhất định, nhằm tiêu thụ hàng tồn kho hoặc cạnh tranh với nhà sản xuất và nhập khẩu khác của nước nhập hàng, chiếm giữ thị trường, sau đó có thể nâng giá trở lại và cuối cùng đạt lợi nhuận cao. Bán phá giá có tác hại kinh tế ghê gớm đối với nước nhập hàng. Mặc dù ban đầu người tiêu dung được hưởng lợi do mua hàng hoá giá rẻ, nhưng về lâu dài sẽ tổn hại đến ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa cùng loại. Còn đối với Nhà nước và các hãng sản xuất của nước xuất hàng bán phá giá, thì bán phá giá là công cụ lợi hại để cạnh tranh tiêu diệt đối thủ và cuối cùng là công cụ giành lợi nhuận độc quyền cao. Trong quan hệ thương mại quốc tế hiện nay của Việt Nam, một số hàng hoá có lợi thế của Việt Nam bị các nước coi là hàng bán phá giá. Ví dụ: cá basa, cá tra xuất khẩu sang Hoa Kỳ, giày dép xuất khẩu sang châu Âu, xe đạp xuất khẩu sang Trung Đông Trong các vụ kiện về bán phá giá chống lại các doanh nghiệp Việt Nam, các kết luận của cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có xu hướng bất lợi cho phía Việt Nam. Lý do của vấn đề là các nước này đều vin vào quy chế “nền kinh tế phi thị trường” của Việt Nam, theo đó khi xác định giá trị thông thường, các nước này không căn cứ vào giá thị trường ở Việt Nam mà sử dụng giá thị trường của “nước thay thế”, do đó dễ dàng chứng minh được rằng giá trị thông thường bán trên thị trường nội địa của Việt Nam (nước xuất khẩu) cao hơn giá xuất khẩu, từ đó kết luận được là hàng hoá Việt Nam bán phá giá. Trong cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường (NME) trong thời gian 12 năm, kể từ khi gia nhập WTO, vì mục đích áp thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng (thuế chống trợ cấp xuất khẩu). Ngược lại, tại thị trường Việt Nam, chúng ta đã phải đối mặt với hàng nước ngoài bán phá giá. Trong pháp luật Việt Nam, chúng ta đã có Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam (2004), tạo cơ sở pháp luật cho việc tấn công lại các doanh nghiệp nước ngoài bán phá giá trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, để sử dụng được công cụ pháp luật này, các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước cần phải có năng lực nhất định. Trong tương lai, các tranh chấp liên quan đến bán phá giá vẫn có xu hướng phát triển mạnh. d. Phá giá tiền tệ Phá giá tiền tệ (hay phá giá hối đoái) là hình thức biến tướng của phá giá. Đặc điểm của biện pháp này là thông qua các thủ thuật tác động vào tỷ giá hối đoái làm cho đồng tiền nội tệ mất giá so với một, một nhóm hoặc tất cả các đồng tiền ngoại tệ để hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn khi tính bằng ngoại tệ và do vậy có lợi thế cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường nước ngoài. Khác với bán phá giá hàng hoá, trong trường hợp áp dụng phá giá hối đoái, giá bán thị trường nước ngoài không thấp hơn giá bán trong nước. Bên cạnh đó, phá giá hối đoái có tác động đến tất cả các mặt hàng và tất cả các thị trường liên quan. Phá giá hối đoái thường được sử dụng khi Nhà nước cần cân đối lại tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với cán cân thương mại và cán cân thanh toán. Đây là biện pháp sử dụng không thường xuyên và cần phải nghiên cứu kỹ trước khi áp dụng, vì nó có tác động dây chuyền đến nhiều vấn đề của đời sống kinh tế - xã hội. e. Một số biện pháp khác Ngoài các biện pháp thường được sử dụng nêu trên, để khuyến khích xuất khẩu, trong thực tiễn chính sách thương mại quốc tế còn sử dụng một số biện pháp khác sau đây: - Hệ thống thuế nội địa: Các loại thuế nội địa như thuế thu nhập, thuế lợi tức, thuế VAT cũng có thể được sử dụng nhằm khuyến khích xuất khẩu thông qua các quy định miễn, 39
  38. giảm thuế đối với nhà sản xuất hoặc xuất khẩu thì hàng hoá được xuất khẩu ra nước ngoài. Để hạn chế nhập khẩu, có thể sử dụng biện pháp đánh thuế VAT (hoặc thuế doanh thu) ngay khi hàng được nhập khẩu. Để khuyến khích xuất khẩu, các nước thường hoàn thuế VAT cho hàng xuất khẩu. - Cơ quan quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái: Biện pháp này được áp dụng để khuyến khích xuất khẩu (áp dụng tỷ giá kế toán nội bộ cao hơn) hoặc hạn chế nhập khẩu (hạn chế bán ngoại tệ cho nhà nhập khẩu). - Độc quyền mua bán: Nhà nước có thể quy định độc quyền ngoại thương cho những doanh nghiệp Nhà nước để kiểm soát dễ dàng hơn hoạt động xuất – nhập khẩu, hoặc quy định hạn chế đối với các nhà kinh doanh nước ngoài khi thực hiện các hợp đồng mua sắm của Chính phủ. - Quy định về chứng thư khi làm thủ tục xuất – nhập khẩu: các quy định về chứng thư như xuất xứ sản phẩm, kiểm định, kiểm dịch có thể được sử dụng như một công cụ nhằm hạn chế luồng hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu. - Thưởng xuất khẩu: Nhà nước sử dụng quỹ thưởng xuất khẩu để thưởng cho những nhà xuất khẩu đạt những tiêu chí xét thưởng nhằm khuyến khích xuất khẩu. Theo quy định của WTO, thưởng xuất khẩu bị coi là một biện pháp trợ cấp xuất khẩu bị cấm. Quy chế thưởng xuất khẩu ở Việt Nam được thực hiện từ năm 1998, nhưng theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ bỏ biện pháp này kể từ khi gia nhập. - Đặt cọc nhập khẩu: Chính phủ nước nhập khẩu có thể quy định chủ hàng nhập khẩu phải đặt cọc một khoản tiền nhất định nếu muốn nhận giấy phép nhập khẩu. Biện pháp này, tuỳ theo tỷ lệ đặt cọc, có tác dụng nhất định hạn chế lượng hàng nhập khẩu. 2.6. NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM 2.6.1. Ưu điểm - Tốc độ tăng trưởng ngoại thương Việt Nam khá cao qua các năm (trung bình trên 20%/năm) và cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất xã hội (cao hơn khoảng 2- 3 lần). Điều đó làm cho quy mô của kim ngạch xuất – nhập khẩu cũng tăng lên nhanh chóng. - Thị trường trong hoạt động ngoại thương của Việt Nam ngày càng mở rộng và đã chuyển mạnh từ đơn thị trường sang đa thị trường. Trước năm 1986, thị trường chủ yếu của Việt Nam là Liên Xô và Đông Âu (chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất – nhập khẩu). Từ năm 1987, với chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước theo hướng đa phương hoá trong quan hệ bạn hàng và đa dạng hoá trong các loại sản phẩm nên hiện nay Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hơn 165 quốc gia trên thê giới, trong đó ký hiệp định thương mại song phương với 72 nước, các bạn hàng lớn nhất của Việt Nam hiện nay là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, EU, Mỹ - Nền ngoại thương Việt Nam đã từng bước xây dựng được những mặt hàng có quy mô lớn được thị trường thế giới chấp nhận như: dầu khí, gạo, thuỷ sản, dệt may, giày dép Việc xây dựng những mặt hàng trên cho phép chúng ta khai thác được những lợi thế so sánh của nền kinh tế Việt Nam trong phân công lao động và hợp tác quốc tế. - Nền ngoại thương Việt Nam đã chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh, phát huy quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, chuyển từ vay nợ để nhập khẩu là chủ yếu sang đẩy mạnh xuất khẩu để lấy kim ngạch xuất khẩu trang trải cho nhập khẩu, nâng cao dần hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động ngoại thương. 40
  39. - Cùng với quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, sự tham gia vào các định chế kinh tế quốc tế và đàm phán gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, cơ chế, chính sách của Việt Nam đã được đổi mới mạnh mẽ theo hướng tăng tự do hoá thương mại và đầu tư, giảm thiểu mức độ, phạm vi can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực buôn bán quốc tế. Điều đó đang góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương Việt Nam trong thời kỳ mới – hội nhập toàn cầu. 2.6.2. Hạn chế - Quy mô xuất – nhập khẩu còn quá nhỏ bé so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. - Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam còn trong tình trạng lạc hậu, chất lượng thấp, mặt hàng manh mún, sức cạnh tranh yếu (gần 40% kim ngạch xuất khẩu là hàng nông, lâm, thuỷ sản; 30% kim ngạch xuất khẩu là hàng khoáng sản; trên 20% kim ngạch xuất khẩu là hàng gia công). Tỷ lệ này cho thấy: hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng nguyên liệu, hàm lượng khoa học công nghệ thấp, do đó chịu nhiều thua thiệt trong buôn bán quốc tế. - Thị trường ngoại thương Việt Nam còn nhiều bấp bênh, chủ yếu là thị trường của các nước trong khu vực và các thị trường qua trung gian, còn thiếu những hợp đồng lớn và dài hạn. - Công tác quản lý hoạt động xuất – nhập khẩu còn thiếu đồng bộ và nhất quán, khi thì cứng nhắc, thủ tục rườm rà, khi thì buông lỏng, dễ dãi. Trong hoạt động xuất – nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa giữ được chữ tín với bạn hàng nước ngoài, nhiều khi giao hàng không đúng chất lượng quy định, bị phạt hợp đồng, gây hậu quả nghiêm trọng; trình độ nghiệp vụ ngoại thương của nhiều cán bộ còn non yếu. - Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại đang là vấn đề “quốc nạn” cần sớm được giải quyết một cách thoả đáng - Tuy cơ chế, chính sách đang được tiếp tục đổi mới theo hướng nới lỏng sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực buôn bán quốc tế, nhưng hiện tại cơ chế, chính sách cũng như việc tổ chức thực thi lại đang bộc lộ không ít bất cập, đòi hỏi phải tiếp tục tháo gỡ. Ví dụ: các văn bản hướng dẫn còn thiếu, không kịp thời; chỉ đạo thực hiện quá chung chung Điều đó đang làm cản trở, gây thiệt hại không nhỏ cho cả Nhà nước và các nhà kinh doanh trong và ngoài nước. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Trình bày khái niệm, đặc điểm, vai trò của thương mại quốc tế? 2. Trình bày những điểm giống và khác nhau giữa hai học thuyết về thương mại quốc tế của Adam Smith và David Ricardo? 3. Hãy cho biết bản chất của học thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của David Ricardo và ý nghĩa của học thuyết này? 4. Trình bày khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chính sách thương mại quốc tế? 5. Hãy cho biết các nguyên tắc chủ yếu điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế? 6. Trình bày những hiểu biết về thuế quan và vai trò của thuế quan? 7. Trình bày các biện pháp phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế? 8. Trình bày các biện pháp khuyến khích xuất khẩu. Liên hệ thực tế của Việt Nam? 9. Trình bày ưu điểm và hạn chế của chính sách ngoại thương của Việt Nam? 41
  40. Bài tập: Cho mô hình thương mại quốc tế sau đây: Quốc gia Quốc gia I Quốc gia II Sản phẩm/ giờ X 1 6 Y 2 4 a. Xác định lợi thế của các quốc gia trong mô hình trên. Các quốc gia nên xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng nào? Vì sao? b. Xác định tỷ lệ trao đổi quốc tế để cả hai quốc gia cùng có lợi? c. Tính tỷ lệ trao đổi quốc tế để lợi ích của các quốc gia là ngang bằng nhau TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đảng cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế 2. PGS.TS. Đỗ Đức Bình, TS. Nguyễn Thường Lạng (Chủ biên), Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2004 3. PGS.TS. Đỗ Đức Bình, TS. Bùi Anh Tuấn (Chủ biên), Kinh tế học quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2002 4. TS. Đinh Xuân Quý, Kinh tế Việt Nam trước thềm hội nhập, Nhà xuất bản Thống kê, 2005 5. GS.TS Võ Thanh Thu, Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, 2003 6. Giáo trình kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân, 2002 7. Giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam, Học viện Quan hệ quốc tế 8. Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế 42