Nội dung kiến thức thông tin – Information Literacy
Bạn đang xem tài liệu "Nội dung kiến thức thông tin – Information Literacy", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
noi_dung_kien_thuc_thong_tin_information_literacy.pdf
Nội dung text: Nội dung kiến thức thông tin – Information Literacy
- BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006 NỘI DUNG KIẾN THỨC THÔNG TIN – Information Literacy ThS. TRẦN MẠNH TUẤN, NCVC. Viện Thông tin Khoa học Xã hội 1. Từ khoảng cuối những năm 1990, vấn đề rủi ro khó lường hết được, thì thái độ, kiến thức thông tin đã thu hút sự quan hành vi sử dụng thông tin trở thành tâm đặc biệt của rất nhiều người. Lúc nội dung chuẩn mực đạo đức của con này, người dùng tin đang phải đối diện người trong xã hội thông tin. với những thay đổi rất sâu sắc từ phía Ðó chính là các vấn đề của kiến hoạt động thông tin, nhất là sự gia tăng thức thông tin. không ngừng các nguồn tin, sự phát triển Người ta nhận ra rằng, mỗi người, của các loại hình sản phẩm và dịch vụ tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, sự thông tin và bản thân nhu cầu khai thác, hiểu biết và kinh nghiệm của mình, sử dụng thông tin trong mọi lĩnh vực có thể khai thác được các nguồn hoạt động của mình. thông tin ở những mức độ khác nhau, Trong điều kiện và bối cảnh các có thể nhận được hay không nhận nguồn thông tin số hóa gia tăng đột biến, được các thông tin mà mình cần. Vì thì người dùng tin trực tiếp phải tự tìm thế, mỗi người đều phải chú ý đến cách khai thác, lựa chọn và tiếp cận đến việc trau dồi và rèn luyện những tri các nguồn thông tin mà mình cần. Khi thức và kỹ năng về thông tin, tức là một vấn đề nào đó của cuộc sống đặt ra, bằng cách này hay cách khác, trang bị thì con người luôn cần tự phải biết hình và làm giàu cho mình kiến thức thông thành cho mình được nhu cầu thông tin - tin. biết cách biểu đạt nhu cầu đó. Từ đó, sẽ Kiến thức thông tin là sự hiểu hình thành nên cho họ một định hướng biết, tri thức, kỹ năng; thái độ, các cho việc tìm ra các giải pháp nhằm thỏa hành vi cụ thể của mỗi thành viên của mãn nhu cầu thông tin của mình. Khi con cộng đồng, mỗi con người trong xã người có thể khai thác, truy cập được hội trong việc khai thác, sử dụng các mọi nguồn tài nguyên thông tin tại mọi nguồn/hệ thống thông tin. nơi và vào mọi lúc, thì không phải người dùng tin luôn có được sự trợ giúp của các 2. Kiến thức thông tin là một phạm trù chuyên gia thông tin theo như những luôn thay đổi, chịu sự tác động của phương thức truyền thống trước kia. Khi nhiều yếu tố xã hội phức tạp, mà việc khai thác, sử dụng thông tin có thể trước hết là vào nhu cầu, quy mô, mang đến cho mỗi cá nhân hay cộng trình độ ứng dụng các thành tựu khoa đồng những lợi ích quan trọng cũng như học, kỹ thuật vào các quá trình thông có thể đem đến cả những thách thức hay tin-thư viện; vào sự hình thành, phát 21
- BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006 triển và phương thức hoạt động, vận • kỹ năng khai thác các nguồn, hành của các nguồn/hệ thống thông tin, hệ thống thông tin tự động vào cách thức mà thông tin được sử dụng hoá: Kiến thức thông tin sẽ phục vụ các mục tiêu, lợi ích phát triển. giúp trả lời câu hỏi có thể đáp Hoạt động thông tin càng phát triển thì ứng được nhu cầu thông tin trình độ kiến thức thông tin của con nhờ các kỹ năng nào? người trong xã hội càng được nâng cao. • khai thác, sử dụng một cách Trình độ của kiến thức thông tin sẽ là hợp lý các nguồn/hệ thống một trong những chỉ số quan trọng phản thông tin: Kiến thức thông tin ánh mức độ thông tin được sử dụng trong giúp trả lời câu hỏi thông tin mỗi xã hội, phản ánh sự bình đẳng của nào cần được sử dụng và hành việc khai thác, sử dụng thông tin đối với vi sử dụng như thế nào được mỗi thành viên trong xã hội. coi là hợp lý? Như vậy, kiến thức thông tin sẽ phụ Ðó chính là nội dung của kiến thuộc chặt chẽ vào các yếu tố thời gian - thức thông tin. Dưới đây là phần phân bởi nó luôn thay đổi - và không gian - tích theo từng vấn đề nêu trên. bởi nó gắn chặc với mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia cụ thể. Trong bài viết này, chúng tôi xét thấy cách thức hình thành và biểu đạt Việc phân tích ý nghĩa và mối quan nhu cầu thông tin là một vấn đề phức hệ của kiến thức thông tin đối với sự tạp, liên quan đến những khía cạnh phát triển kinh tế-xã hội mỗi cộng đồng, tâm lý, nhận thức, tập quán, của quốc gia sẽ giúp đánh giá được vai trò con người. Bởi thế vấn đề này còn của thông tin, cũng như xây dựng và cần được nghiên cứu ở nhiều phương triển khai các chính sách khuyến khích diện rất khác nhau, ví dụ quan hệ sử dụng thông tin trong xã hội. Tuy giữa thông tin và nhu cầu nhận thức. nhiên, bài viết này không đề cập tới khía Bởi thế, vấn đề phức tạp này xin cạnh đó, mà chỉ tập trung bàn về nội được trình bày trong một dịp khác. dung của kiến thức thông tin. Dưới đây là các phân tích đối với một Ngày nay, khi đề cập đến kiến thức số khía cạnh khác của kiến thức thông tin, người ta quan tâm đến các khả thông tin. năng ở người dùng tin trực tiếp với tư 2.1. Khả năng lựa chọn, xác định cách là thành viên của cộng đồng, công các nguồn/hệ thống thông tin thích dân của một đất nước trong việc: hợp • cách thức hình thành và biểu đạt Mỗi người, tuỳ thuộc vào nhu cầu được nhu cầu thông tin? và điều kiện cụ thể của mình mà cần • lựa chọn, xác định được các khai thác, sử dụng những thông tin nguồn/hệ thống thông tin có thể xác định. Có thể nói, tương ứng với đáp ứng nhu cầu tin: Kiến thức mỗi loại nhu cầu và mỗi nhóm người thông tin sẽ giúp trả lời câu hỏi có dùng tin, tương ứng với những mục thể đáp ứng được nhu cầu tin ở đích khai thác, sử dụng thông tin mà đâu? tồn tại các loại thông tin khác nhau. 22
- BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006 Bởi vậy, để có thể khai thác, sử dụng có đầy đủ các nguồn thông tin cần thiết. hiệu quả thông tin, để giảm bớt các chi Chính việc xác định được đầy đủ các phí về thời gian, công sức cho việc tìm nguồn/hệ thống thông tin cần thiết tin thì trước hết, con người cần có khả trước một nhu cầu cụ thể, mới có thể năng xác định được một cách đúng, và xây dựng được một chiến lược tìm tin sau đó là đầy đủ các nguồn/hệ thống phù hợp và có độ tin cậy cao. thông tin nào khả dĩ đáp ứng được nhu Có một hình ảnh rất đắt phản ánh cầu của mình. vai trò của kiến thức về sự phân bố Hiện tồn tại một số loại cơ quan các nguồn/hệ thống thông tin: Người thông tin-thư viện khác nhau, theo các đi tìm kiếm thông tin trên Internet dấu hiệu phân chia khác nhau. Dựa vào được ví như một người cầm trên tay tính chất của nguồn tài liệu mà cơ quan một ngọn nến nhỏ, để tìm cái mà trực tiếp quản lý, người ta đã chia các cơ mình cần trong một nhà kho khổng lồ quan này thành 5 loại chính: không có ánh sáng. Khi đó, anh ta chỉ 1) Các cơ quan chủ yếu lưu giữ các có thể thấy được những gì rất gần với xuất bản phẩm1. ngọn nến mà thôi, và vì thế, chỉ có thể tìm được những gì rất gần chỗ 2) Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và anh ta đứng tức là anh ta phải biết 2 tạo lập các tư liệu khoa học . được cái mà mình cần tìm có thể 3) Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và đang được cất giữ ở nơi nào. tạo lập các loại ấn phẩm phân Hình ảnh đó có thể mở rộng ra đối 3 tích- tổng hợp thông tin . với các quá trình tìm tin nói chung, 4) Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và bởi thực tế, tìm tin trên Internet mới tạo lập các cơ sở dữ liệu4. chỉ là một nơi mà người dùng tin phải tiến hành tìm kiếm thông tin. 5) Các cơ quan chủ yếu quản trị và khai thác các mạng thông tin5. Ðể nâng cao trình độ hiểu biết về sự phân bố các nguồn/hệ thống thông Có thể thấy, nếu không xác định tin cần tiến hành theo những phương được đúng và đầy đủ các loại thông tin, thức khác nhau, tuỳ thuộc vào những và sau đó là các loại nguồn/hệ thống điều kiện cụ thể. Một trong số các thông tin tương ứng, sẽ rất khó tìm được phương thức đó là việc tạo nên các nhóm nguồn/hệ thống thông tin có 1 Gồm sách, báo, tạp chí, kiên quan mật thiết với nhau theo 2 Gồm các báo cáo khoa học, các công trình tư liệu quyền lợi/sự quan tâm của người khoa học, kết quả các đề tài khoa học, báo cáo điền dùng tin. Sử dụng phương thức này, dã, thông tin điều tra cơ bản, trên các website hiện nay rất phổ biến 3 Gồm các tổng luận, tổng quan khoa học, báo cáo thường niên của các tổ chức, ngành khoa học, tạo ra các đường liên kết (link) đến 4 Gồm các loại hình tài liệu số hoá, chủ yếu là các các nhóm website khác. Trong các CSDL như các CSDLTM và được lưu giữ trên các đia loại sản phẩm thông tin truyền thống, CD-ROM, sau này có thể được tồn tại dưới dạng các các nguyên lý xây dựng chỉ dẫn trích OPAC, 5 dẫn khoa học (Science Citation Index Hiện tại được xem là các ICP, ISP và IXP: các nhà quản trị các mạng thông tin, cổng thông tin,. SCI) về bản chất cũng là việc tạo nên 23
- BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006 một tập hợp tài liệu có liên quan mật người tìm, song do bản chất phức tạp thiết với nhau. và không thể thuần nhất của mọi loại 2.2. Vấn đề kỹ năng khai thác các nguồn/hệ thống thông tin mà tính nguồn/hệ thống thông tin chất phức tạp của các loại ngôn ngữ tư liệu được hệ thống sử dụng luôn là Việc áp dụng các thành tựu khoa học, trở ngại đối với quá trình tìm tin. công nghệ vào các quá trình thông tin Trường hợp xảy ra phổ biến khi mà không ngừng được gia tăng. Ngoài ra, do bộ sưu tập của hệ thống mang tính cá sự phát triển nguồn tin theo những dạng biệt, ví dụ như các tài liệu, tư liệu về thức mới cũng luôn diễn ra. Do đó, thành các khía cạnh địa lý, sinh học, môi phần và dạng thức của các nguồn/hệ trường tự nhiên, lịch sử, văn hoá, văn thống thông tin không ngừng được đổi học-nghệ thuật, dân tộc, . của các mới theo những khả năng rất khác biệt cộng đồng, khu vực. Lúc này, rõ nhau. Ðiều đó đặt ra thực tế là để có thể ràng, đối với người dùng tin, các trở khai thác được đầy đủ mọi nguồn/hệ ngại về việc hiểu rõ và sử dụng thuần thống thông tin, người tìm tin cần hiểu rõ thục ngôn ngữ tư liệu của hệ thống là được các các nguyên tắc, các phương không hề đơn giản. Ngoài ra, cũng pháp tổ chức, quản lý của các nguồn/hệ chính ở các bộ sưu tập mang tính đặc thống thông tin. Ðây là một vấn đề thù này mà thông thường cấu trúc các không hề đơn giản: Trong bối cảnh CSDL do hệ thống tạo lập và phát nguồn tin không ngừng gia tăng, các giải triển cũng có những đặc điểm riêng pháp công nghệ được sử dụng để quản trị biệt, từ đó dẫn đến cách thức khai chúng cũng luôn biến đổi và rất đa dạng, thác, truy cập các nguồn tin này có thì việc hiểu rõ khả năng thích ứng của những đặc điểm cá biệt, tức là muốn nguồn tin với yêu cầu, và sau đó là các khai thác được đầy đủ các khả năng kỹ năng cần thiết để khai thác ở mức hợp của chúng, cần sự hiểu biết và các kỹ lý các nguồn tin là vấn đề luôn đặt ra đối năng đặc biệt, thường không có trong với người dùng. các nguồn/hệ thống thông tin khác. Như vẫn biết, mỗi nguồn/hệ thống Các kỹ năng khai thác thông tin thông tin thường sử dụng một/một số trong các hệ thống OPAC do Viện phương pháp cụ thể để quản trị các bộ Thông tin KHXH tạo lập, phản ánh sưu tập của mình. Cụ thể hơn, trong số các nguồn tài liệu cổ, quý hiếm lưu đó, yếu tố tác động trực tiếp đến người giữ tại Thư viện Trường Viễn Ðông dùng tin là ngôn ngữ tư liệu mà hệ thống Bác cổ trước đây, hệ thống CSDL về đó sử dụng. Ðặc trưng này được phản các tư liệu văn hoá-dân tộc-nhân ánh qua hệ thống từ vựng và các quy chủng học do Bảo tàng dân tộc học định về sự liên kết các đơn vị từ vựng để Việt Nam tạo lập, cũng như các kỹ biểu diễn các lệnh tìm đối với người năng được sử dụng để khai thác ngân dùng tin. hàng dữ liệu nhãn hiệu hàng hóa mà Tuy rằng các nhà quản trị và thiết kế WIPO tạo lập, các OPAC được phát các hệ thống thông tin luôn hướng đến triển trên website tạo nên sự đơn giản, thân thiện đối với luôn đòi hỏi ở 24
- BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006 người tìm tin các kỹ năng hoàn toàn khác • Các OPAC phản ánh nguồn tài biệt nhau, Tương ứng với các trường hợp nguyên thông tin (như sách, liệt kê trên, đó là việc kiểm soát thông tin báo, tạp chí, danh mục,). trong các trường địa danh cổ và hiện tại, • Các CSDL phản ánh về các địa danh hành chính và phi hành chính; CSDL OPAC đó (Vì trên thực các trường từ khóa dân tộc địa lý, địa- tế, ngày càng có nhiều CSDL, văn hóa; việc tìm kiếm thông tin theo các nên để hỗ trợ cho người dùng biểu trưng, hình ảnh phản ánh các nhãn hiểu biết về các CSDL trước hiệu hàng hoá; kiểu tìm kiếm thông tin khi họ truy cập, khai thác, đã theo các tên sinh học và tên vùng địa lý xuất hiện loại CSDL siêu dữ là nơi cư trú, khu vực sinh thái của các liệu này. Và cũng là vì hướng loài chim, đến sự thuận tiện đối với Chỉ khi đó, tức là khi người dùng tin người dùng, người quản trị nắm rõ và sử dụng một cách thuần thục CSDL mà đã xuất hiện các ngôn ngữ tư liệu trong các quá trình tìm tiêu chuẩn siêu dữ liệu, mà tin thì các tính năng và năng lực của các Doubline Core là tiêu biểu mà nguồn thông tin này mới được khai thác, nhiều người biết đến). Cùng khám phá một cách đầy đủ. với các CSDL này là các Ðể có được khả năng đó, cần đến CSDL dẫn đường có chức kiến thức thông tin. năng chỉ dẫn đối với người dùng con đường hợp lý nhất Các nhà quản trị hệ thống thông tin để truy cập đến các ngân hàng cũng luôn nghĩ đến vấn đề trên và tìm dữ liệu các CSDL dạng mọi khả năng để trợ giúp người dùng tin. pathfinder. Chính vì thế, bên cạnh sự gia tăng khối lượng và chủng loại trong các nguồn • Các CSDL về tập hợp các loại tin/hệ thống thông tin, thì hệ thống các ngôn ngữ tư liệu mà hệ thống công cụ trợ giúp người dùng cũng luôn sử dụng. Lần đầu tiên, OCLC thu hút sự quan tâm của các nhà quản trị đưa ra CSDL quản trị DDC, và các mạng thông tin. Chính vì thế, đã dần gọi là Web Dewey. Sau này, hình thành và phổ biến hệ thống mục lục đối với các hệ thống khác, cần các nguồn tin trực tuyến kết hợp với hiểu một cách đầy đủ về các nhau Co-operative Online Resource CSDL phản ánh ngôn ngữ tư Catalog (CORC) trên các website một liệu, như CSDL quản trị bước phát triển ở mức cao hơn các thesaurus, quản trị các loại OPAC được khởi xướng bởi OCLC từ bảng phân loại được sử dụng năm 1998. cũng như quản trị hệ thống đề mục chủ đề tức là mọi loại Xét về thành phần cấu tạo, có thể ngôn ngữ tư liệu mà một hệ thấy CORC bao gồm 3 loại CSDL khác thống thông tin cụ thể sử dụng nhau: để định chỉ số cho các loại đối tượng của mình. Trở lại ví dụ nêu trên, thuộc nhóm này là 25
- BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006 các loại CSDL quản trị các các từ Việc khai thác, sử dụng thông tin khoá là tên địa lý, tên các cộng mang lại cho con người sự hiểu biết, đồng tộc người, tên thương mại quyền lợi và nhiều khi cả quyền lực. của các sản phẩm, tên sinh học, Ðó là bản chất hay một đặc điểm cơ tên vùng sinh thái, bản của xã hội ngày nay - xã hội đang 2.3. Vấn đề lựa chọn thông tin và hành hướng đến xã hội thông tin, xã hội vi khai thác sử dụng thông tin đang chứa đựng trong đó một nền kinh tế dựa trên thông tin và tri thức. Như đã biết, ngày càng có nhiều thông tin xuất hiện. Ðương nhiên, các Vì mục đích phát triển bền vững thông tin phù hợp luôn được người dùng của mỗi cộng đồng, quốc gia, mà tin cần đến, song đã xuất hiện hiện tượng thông tin được xem xét như một loại dư thừa thông tin, theo nghĩa, lượng hàng hoá đặc biệt. Vì thế, đã hình thông tin tỏ ra phù hợp với mỗi người sẽ thành các chính sách thông tin cho ngày càng lớn, và trong số đó, lại thường mỗi quốc gia, qua đó kích thích việc xuất hiện hiện tượng nhiễu tin, tức là sự tạo lập và khai thác, sử dụng thông trà trộn của nhiều thông tin về hình thức tin trên các phạm vi thông qua sự dường như là phù hợp, song trên thực tế phát triển cơ sở hạ tầng thông tin lại không phù hợp. Ngoài ra, trà trộn vào quốc gia và thị trường thông tin trên các thông tin có thể truy cập được lại có phạm vi quốc gia. cả các thông tin chính xác và không Với sự trợ giúp của các phương chính xác, các thông tin đúng các thông tiện tin học và truyền thông, với tin sai, các thông tin được cập nhật và những ưu đãi mà chính sách thông tin các thông tin đã lỗi thời, Nói rộng ra, mang lại, hiện nay, con người với trong số các thông tin luôn sẵn sàng cho những thao tác đơn giản, một chi phí phép mỗi người có thể khai thác, sử hợp lý, có thể khai thác, truy cập dụng, có cả những thông tin mà việc sử được rất nhiều nguồn thông tin tại dụng nó giúp con người đáp ứng được mọi nơi và vào mọi lúc. Từ đó có thể các nhu cầu sống, học tập, làm việc của thấy từ phía người dùng tin trực tiếp, mình, cũng như có cả những thông tin cần xác định rõ một mặt, trách nhiệm kìm hãm hay tiềm ẩn sự nguy hại cho của mình đối với các thông tin mà quá trình phát triển nói chung. Luôn tồn mình khai thác, sử dụng, bao gồm cả tại những thông tin mà việc sử dụng nó trách nhiệm về kinh tế và các trách giúp hoàn thiện nhân cách con người, nhiệm tinh thần khác. bên cạnh các loại thông tin mà việc sử Trước đây, các cơ quan thông tin dụng nó sẽ làm phương hại đến các quan thư viện xác định quyền sở hữu của hệ cùng tồn tại và phát triển, đến thuần mình đối với các bộ sưu tập. Ngày phong mỹ tục, đến các giá trị đạo đức và nay, khi mà các nguồn tin số hoá giá trị xã hội của cộng đồng. được luân chuyển, khai thác và dĩ Vì thế rất cần đến khả năng lựa chọn nhiên được quản lý trên các mạng thông tin ở mỗi con người. thông tin, thì quyền đó được thể hiện dưới dạng quyền cho phép người dùng tin khai thác, truy cập thông tin 26
- BẢN TIN THƯ VIỆN - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THÁNG 8/2006 với những điều kiện và mức độ khác hiện nay, khi mà thông tin được sử nhau. Vì thế, người dùng tin luôn cần dụng như một nguồn lực của mọi quá hiểu rõ những ưu đãi mà mình được trình phát triển, kiến thức thông tin hưởng cũng như những nội dung chính lại có vai trò rất quan trọng. Kiến của bản quyền trong khai thác, sử dụng thức thông tin vừa là phương tiện để thông tin. Hiện nay, khi Việt Nam trở con người tận dụng được mọi lợi thế thành thành viên của Hiệp hội các nước mà xã hội dành cho họ, đồng thời lại tham gia công ước Bernne, thành viên là chỉ số quan trọng phản ánh trình độ của các tổ chức như WIPO cũng như các và khả năng thích ứng của mỗi cá hiệp định song phương, đa phương khác, nhân, cộng đồng trong xu thế phát thì các vấn đề về bản quyền lại càng trở triển hiện nay. Trong xã hội hiện nay, thành một vấn đề mà người dùng tin cần con người cần biết cách vận dụng sự đặc biệt quan tâm. Nếu vấn đề bản quyền hiểu biết, tri thức có sẵn để giải quyết không được giải quyết và tôn trọng một các nhiệm vụ mà thực tiễn đặt ra. Ðó cách căn bản thì mọi động lực đối với là tri thức về việc sử dụng tri thức - việc tạo lập nội dung thông tin, mọi lao meta-knowledge. Muốn vậy, trước động sáng tạo của các nhà khoa học, các hết, con người cần biết cách tìm kiếm tác giả, sớm muộn cũng sẽ bị triệt tiêu. các thông tin phản ánh các tri thức Ðây cũng là một khía cạnh cần được đó, tức là biết cách khai thác, sử dụng quan tâm của kiến thức thông tin. Biểu các nguồn/hệ thống thông tin và biết hiện của kiến thức thông tin ở khía cạnh rõ trách nhiệm đối với việc khai thác này chính là một thái độ sử dụng hợp lý sử dụng thông tin. Ðó là nội dung của (fair use) của người dùng tin kiến thức thông tin. 3. Kiến thức thông tin, bản thân nó không phải là vấn đề mới. Song trong bối cảnh Danh mục tài liệu tham khảo chính 1. Các báo cáo khoa học trình bày tại Hội thảo Tăng cường công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ thông tin thư viện do Trung tâm Thông tin Tư liệu KHCN Quóc gia tổ chức tại Cát Bà, Hải Phòng ngày 8 và 9 tháng 7 năm 2003. 2. Handbook of Special Librarianship and Information Work: 7th edi./ Edited by A. Scammell.- London: ASLIB. 1998. 3. Scales B.J., Lindsay E.B. Qualitative Assessment of Student Attitudes toward Information Literacy.// Portal Libraries and the acdemy. 2005. Vol. 5. Number 4. October. pp. 513 526. 27



