Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 8: Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ phát triển

pdf 130 trang ngocly 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 8: Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ phát triển", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_nhung_kien_thuc_co_ban_ve_cong_nghe_thong_tin_va.pdf

Nội dung text: Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 8: Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ phát triển

  1. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển Richard Labell ICS TRUNG TÂM ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CÁN BỘ QUẢN LÝ THÔNG TIN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ TRUYỀN THÔNG
  2. LỜI GIỚI THIỆU Thế kỷ 21 đã đánh dấu sự tác động lẫn nhau của con người trên toàn cầu. Thế giới đang mở ra cơ hội cho hàng triệu người nhờ công nghệ mới, những thông tin và kiến thức thiết yếu được mở rộng đã cải thiện một cách đáng kể cuộc sống của con người và giúp giảm cảnh nghèo nàn. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi có sự liên kết cùng với việc chia sẻ giá trị, cùng cam kết và thống nhất sự phát triển tổng thể và phù hợp. Trong những năm gần đây, Châu Á Thái Bình Dương được biết đến như khu vực năng động nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Thế giới, khu vực này đã có trên 2 tỷ thuê bao điện thoại, trong đó có 1,4 tỷ thuê bao di động. Tinh đến năm 2008, chỉ riêng Ấn Độ và Trung Quốc đã chiếm ¼ số lượng thuê bao di động trên toàn thế giới. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương được cho là chiếm 40% số lượng người sử dụng internet trên thế giới và đồng thời là thị trường băng rộng lớn nhất, chiếm 39% thị trường toàn cầu. Cùng với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ, nhiều vấn đề được nhắc đến khi khoảng cách số biến mất. Nhưng điều đáng tiếc, khoảng cách số vẫn hiện hữu. Thậm chí 5 năm, sau khi Hội nghị Thế giới về Xã hội thông tin (WSIS) diễn ra ở Geneva vào năm 2003, bất chấp sự phát triển ấn tượng của công nghệ và những cam kết của các nước lớn trong khu vực. Kết quả là truy nhập truyền thông cơ bản vẫn còn xa lạ với nhiều người, đặc biệt là những người nghèo. Hơn 25 quốc gia trong khu vực gồm những nước đang phát triển, đã có gần 10 người sử dụng internet trên 100 dân, phần lớn tập trung ở các thành phố lớn. Trong khi đó ở một vài nước đã phát triển trong khu vực thì tỉ lệ rất cao với hơn 80 người sử dụng internet trên 100 dân. Sự chênh lệch về mức độ phổ cập băng rộng giữa các nước phát triển và đang phát triển vẫn còn giữ một khoảng cách lớn. Để giảm dần khoảng cách số và nhận diện đúng tiềm năng của ICT cho phát triển kinh tế xã hội trong khu vực, những nhà lập pháp ở các nước phát triển cần xây dựng các chính sách ưu tiên và khung điều chỉnh, chỉ định nguồn quỹ, và tạo điều kiện cho xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp ICT và nâng cao kỹ năng ICT cho công dân nước họ. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 3
  3. Trong Kế hoạch Hành động của WSIS có chỉ rõ, " mỗi người sẽ có cơ hội tiếp cận những kỹ năng và kiến thức cần thiết để hiểu, thực hành và đạt được những lợi ích từ Xã hội Thông tin và Kinh tế Tri thức". Trong phần cuối của kế hoạch này đã kêu gọi sự hợp tác quốc tế và khu vực trong những lĩnh vực có tiềm năng, đặc biệt nhấn mạnh vào việc tạo tập một số lượng lớn các chuyên gia ICT. Để hỗ trợ tốt cho lời kêu gọi từ Kế hoạch hành động của WSIS, APCICT đã xây dựng chương trình giảng dạy đầy đủ về ICT – Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước. Chương trình này bao gồm 8 phần có liên kết chặt chẽ với nhau, với mục tiêu truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết giúp các nhà lập pháp xây dựng và thi hành sáng kiến ICT hiệu quả hơn. APCICT là một trong 5 học viện của Ủy ban Kinh tế Xã hội Liên hợp quốc Châu Á Thái Bình Dương. APCICT xúc tiến chương trình phát triển kinh tế xã hội phù hợp và toàn diện ở Châu Á Thái Bình Dương thông qua việc phân tích, chuẩn hóa, khai thác tiềm năng, hợp tác khu vực và chia sẻ kiến thức. Trong quá trình hợp tác với các cơ quan Liên hợp quốc khác, các tổ chức quốc tế, các quốc gia và những tổ chức liên quan, ESCAP, đại diện là APCICT, được giao nhiệm vụ hỗ trợ việc sử dụng, cải tiến và dịch thuật các bài giảng cho các quốc gia khác nhau, phù hợp với các trình độ trung và cao cấp của các nhân viên trong cơ quan nhà nước, với mục đích đưa kỹ năng và kiến thức thu thập được làm gia tăng những lợi ích từ ICT và thiết lập những hành động cụ thể để đạt được mục tiêu phát triển. Noeleen Heyzer TL. Tổng Thư ký Liên hợp quốc và Giám đốc điều hành của ESCAP 4 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  4. LỜI TỰA Chặng đường phát triển của Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT&TT) cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước thực sự là một kinh nghiệm mang tính trí tuệ cao. Bộ giáo trình không chỉ phục vụ cho việc xây dựng các kỹ năng CNTT&TT, mà còn mở đường cho một phương thức mới về xây dựng chương trình giảng dạy - thông qua sự hợp tác của các thành viên và tự chủ về quy trình. Bộ giáo trình là một chương trình mang tính chiến lược của APCICT, phát triển trên cơ sở kết quả khảo sát đánh giá nhu cầu một cách toàn diện được tiến hành trên 20 nước trong khu vực và sự tham khảo ý kiến của các nhân viên thuộc cơ quan nhà nước, thành viên các cơ quan phát triển quốc tế, các viện hàn lâm và cơ sở giáo dục; những nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng về điểm mạnh và điểm yếu của giáo trình đào tạo; thông tin phản hồi từ những người tham gia xây dựng chuỗi bài giảng của APCICT – tổ chức các buổi hội thảo khu vực và quốc gia liên quan đến nội dung bài giảng và các phương pháp đào tạo khoa học; và sự trao đổi góp ý thẳng thắn của các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực ICT phục vụ phát triển. Các hội thảo về giáo trình diễn ra ở các khu vực thu được những lợi ích vô giá từ các hoạt động trao đổi kinh nghiệm và kiến thức giữa những người tham dự đến từ các quốc gia khác nhau. Đó là một quy trình để các tác giả xây dựng nội dung. Việc xây dựng 8 học phần trong bộ giáo trình đánh dấu một sự khởi đầu quan trọng trong việc nâng cao sự hợp tác ở hiện tại và xây dựng các mối liên hệ mới nhằm phát triển các kỹ năng thiết lập chính sách phát triển CNTT&TT khắp khu vực. APCICT cam kết cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật trong việc giới thiệu bộ giáo trình quốc gia như một mục tiêu chính hướng tới việc đảm bảo rằng bộ giáo trình sẽ được phổ biến tới tất cả những nhà lập pháp. APCICT cũng đang xúc tiến một cách chặt chẽ với một số viện đào tạo trong khu vực và quốc tế, những tổ chức có mối quan hệ mật thiết với cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương để cải tiến, dịch thuật và truyền đạt các nội dung của Giáo trình tới những quốc gia có nhu cầu. APCICT đang tiếp tục mở rộng hơn nữa về đối tượng tham gia nghiên cứu giáo trình hiện tại và kế hoạch phát triển một giáo trình mới. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 5
  5. Hơn nữa, APCICT đang xúc tiến nhiều kênh để đảm bảo rằng nội dung Bộ giáo trình đến được nhiều người học nhất trong khu vực. Ngoài phương thức học trực tiếp thông qua các tổ chức lớp học ở các khu vực và quốc gia, APCICT cũng tổ chức các lớp học ảo (AVA), phòng học trực tuyến cho phép những học viên tham gia bài giảng ngay tại chỗ làm việc của họ. AVA đảm bảo rằng tất cả các phần bài giảng và tài liệu đi kèm cũng như bản trình chiếu và bài tập tình huống dễ dàng được truy nhập trực tuyến và tải xuống, sử dụng lại, cải tiến và bản địa hóa, và nó bao gồm nhiều tính năng khác nhau như bài giảng ảo, công cụ quản lý học tập, công cụ phát triển nội dung và chứng chỉ. Việc xuất bản và giới thiệu 8 học phần của bộ giáo trình thông qua các buổi hội thảo khu vực, tiểu khu vực, quốc gia có sự tận tâm cống hiến, tham gia tích cực của nhiều cá nhân và tổ chức. Tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ lòng cảm ơn những nỗ lực và kết quả đạt được của nhóm cộng tác và các đối tác từ các Bộ, ngành, học viện, và các tổ chức khu vực và quốc gia đã tham gia hội thảo về bộ giáo trình. Họ không chỉ cũng cung cấp những thông tin đầu vào có giá trị, phục vụ nội dung của bài giảng, mà quan trọng hơn, họ đã trở thành những người ủng hộ việc truyền đạt bộ giáo trình trên đất nước mình, tạo ra kết quả là những thỏa thuận chính thức giữa APCICT và một số viện đối tác của các quốc gia và trong khu vực để cải tiến và phát hành bài giảng giáo trình chính thức cho đất nước họ. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt cho những nỗ lực cống hiến của nhiều cá nhân nổi bật, những người đã tạo nên thành quả cho bài giảng này. Họ là Shahid Akhtar Cố Vấn Dự án Giáo trình; Patricia Arinto, Biên tập; Christine, Quản lý xuất bản; toàn bộ tác giả bộ giáo trình; và những nhóm APCICT. Chúng tôi hy vọng rằng bộ giáo trình sẽ giúp các quốc gia thu hẹp được những hạn chế của nguồn nhân lực CNTT&TT, xóa bỏ những rào cản nhận thức về CNTT&TT, và xúc tiến ứng dụng CNTT&TT trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và đạt được mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ. Hyeun-Suk Rhee Giám đốc UN-APCICT 6 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  6. VỀ CHUỖI HỌC PHẦN Trong kỷ nguyên thông tin ngày nay, việc truy cập thông tin một cách dễ dàng đang làm thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và giải trí. Nền kinh tế số - còn được gọi là kinh tế tri thức, kinh tế mạng hay kinh tế mới, được mô tả như một sự chuyển tiếp từ sản xuất hàng hóa sang tạo lập ý tưởng. Công nghệ thông tin và truyền thông đang đóng một vai trò quan trọng và toàn diện trên mọi mặt của kinh tế xã hội. Như một kết quả, chính phủ trên khắp thế giới đang quan tâm nhiều hơn tới CNTT&TT trong sự phát triển quốc gia. Đối với các nước, phát triển CNTT&TT không chỉ phát triển về công nghiệp CNTT&TT là một lĩnh vực của nền kinh tế mà còn bao gồm cả việc ứng dụng CNTT&TT trong hoạt động kinh tế, xã hội và chính trị. Tuy nhiên, giữa những khó khăn mà chính phủ các nước phải đối mặt trong việc thi hành các chính sách CNTT&TT, những nhà lập pháp thường không nắm rõ về mặt công nghệ đang sử dụng cho sự phát triển quốc gia. Cho đến khi không thể điều chỉnh được những điều họ không hiểu, nhiều nhà lập pháp né tránh tạo lập các chính sách về CNTT&TT. Nhưng chỉ quan tâm tới công nghệ mà không tạo lập các chính sách thì cũng là một sai lầm vì những nhà công nghệ thường ít có kiến thức về thi hành những công nghệ họ đang phát triển hoặc sử dụng. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước do Trung tâm Đào tạo Phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Liên hợp quốc và Châu Á Thái Bình Dương (UN-APCICT) xây dựng nhằm phục vụ cho: 1. Các nhà hoạch định chính sách về CNTT&TT cả ở mức độ quốc gia và địa phương; 2. Quan chức chính phủ chịu trách nhiệm về phát triển và thi hành các ứng dụng của CNTT&TT; 3. Những nhà quản lý trong lĩnh vực công đang tìm kiếm chức danh quản lý dự án về CNTT&TT. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 7
  7. Bộ giáo trình hướng đến những vấn đề liên quan tới CNTT&TT phục vụ phát triển trên cả khía cạnh chính sách và công nghệ. Mục đích cốt yếu của giáo trình CNTT&TT không tập trung vào kỹ thuật mà truyền đạt sự hiểu biết về những điều công nghệ số có khả năng hoặc đang hướng tới, tác động tới như thế nào trong việc hoạch định chính sách. Các chủ đề trong bài giảng được thiết kế dựa trên phân tích nhu cầu và khảo sát những chương trình đào tạo trên khắp thế giới. Học phần được cấu tạo theo cách mà người học có thể tự học một cách độc lập hoặc bài giảng cho một khóa học. Học phần vừa mang tính chất riêng lẻ nhưng cũng liên kết với những chủ đề và tình huống thảo luận trong phần khác của chuỗi. Mục tiêu là tạo được sự thống nhất ở tất cả các phần. Mỗi phần bắt đầu với việc trình bày một chủ đề và kết quả mà người đọc sẽ thu được. Nội dung các phần được chia thành các mục bao gồm bài tập và tình huống để giúp hiểu sâu hơn những nội dung chính. Bài tập có thể được thực hiện bởi từng cá nhân hoặc một nhóm học viên. Biểu đồ và bảng biểu được cung cấp để minh họa những nội dung của buổi thảo luận. Tài liệu tham khảo được liệt kê để cho người đọc có thể tự tìm hiểu sâu hơn về bài giảng. Việc sử dụng CNTT&TT phục vụ phát triển rất đa dạng, trong một vài tình huống hoặc thí dụ ở bài giảng có thể xuất hiện những mâu thuẫn. Đây là điều đáng tiếc. Đó cũng là sự kích thích và thách thức của quá trình rèn luyện mới và cũng là triển vọng khi tất cả các nước bắt đầu khai thác tiềm năng của CNTT&TT như công cụ phát triển. Hỗ trợ chuỗi học phần còn có một phương thức học trực tuyến – Học viện ảo APCICT (AVA – – với phòng học ảo sẽ chiếu bản trình bày của người dạy dưới dạng video và Power Point của học phần. Ngoài ra, APCICT đã phát triển một kênh cho phát triển CNTT&TT (e-Co Hub – một địa chỉ trực tuyến dành cho những học viên phát triển CNTT&TT và những nhà lập pháp nâng cao kinh nghiệm học tập. E-Co Hub cho phép truy cập những kiến thức về các chủ đề khác nhau của phát triển CNTT&TT và cung cấp một giao diện chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, và hợp tác trong việc nâng cao CNTT&TT phục vụ phát triển. 8 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  8. HỌC PHẦN 8 CNTT&TT ngày càng trở nên phổ biến, do đó, Chính phủ các nước trên thế giới tiến hành các dự án và kế hoạch về Chính phủ điện tử để đẩy mạnh việc cung cấp dịch vụ tới người dân thông qua việc ứng dụng CNTT&TT. Ở nhiều quốc gia, năng lực cả về tài chính và công nghệ của Chính phủ còn hạn chế. Điều này làm giảm khả năng và hiệu quả của Chính phủ trong việc ứng dụng CNTT&TT để cung cấp các dịch vụ đến người dân. Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước có thể tiếp cận với nhiều phương thức hiệu quả và ý nghĩa trong việc đầu tư và nâng cao trình độ chuyên môn để có thể cung cấp các dịch vụ công ở mức độ cao nhất với chi phí hợp lý. Học phần này thảo luận về các cách thức huy động vốn đầu tư khác nhau cho các dự án CNTT&TT phục vụ phát triển và các dự án Chính phủ điện tử. Sự hợp tác công – tư (public- private partnership) được xem như một cách huy động vốn có hiệu quả cho các sáng kiến và các dự án cung cấp dịch vụ dựa trên CNTT&TT và các dự án Chính phủ điện tử ở các nước đang phát triển. Mục tiêu của học phần Học phần này nhằm mục tiêu: 1. Thảo luận về các vấn đề ảnh hưởng đến đầu tư trong việc triển khai dự án CNTT&TT, đặc biệt là việc đầu tư cho Chính phủ điện tử; 2. Mô tả các cơ chế tài chính khác nhau cho các dự án CNTT&TT phục vụ phát triển; 3. Mô tả hình thức hợp tác công - tư như một cách thức huy động vốn đầu tư cho các dự án CNTT&TT phục vụ phát triển và các dự án Chính phủ điện tử; 4. Phác thảo những vấn đề chính cần quan tâm khi quyết định phương thức huy động vốn đầu tư nào được sử dụng để thực hiện các dự án CNTT&TT phục vụ phát triển và các dự án Chính phủ điện tử. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 9
  9. Kết quả thu được Sau khi hoàn thành học phần này, học giả có thể: 1. Mô tả các cơ chế huy động vốn đầu tư khác nhau cho các dự án CNTT&TT phục vụ cho phát triển và các dự án Chính phủ điện tử; 2. Thảo luận về hình thức hợp tác công - tư như một kênh để huy động vốn đầu tư cho các dự án CNTT&TT phục vụ phát triển và Chính phủ điện tử; 3. Chuẩn bị một chiến lược huy động nguồn lực; 4. Phát triển bản dự thảo kế hoạch đầu tư cho dự án CNTT&TT trong đó có đề cập đến các vấn đề mà những nhà đầu tư thường quan tâm khi tham gia các dự án Chính phủ điện tử và các hoạt động CNTT&TT phục vụ phát triển. 10 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  10. MỤC LỤC Lời giới thiệu 3 Lời tựa . 5 Về chuỗi học phần . 7 Học phần 8 . 9 Mục tiêu của học phần 9 Kết quả thu được 10 Danh mục các hình 13 Danh mục các bảng 13 Danh mục từ viết tắt 14 1. Sự phổ biến của CNTT&TT và sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu 17 1.1 Tại sao lại đầu tư vào CNTT&TT phục vụ phát triển? 18 1.2 Những vấn đề ảnh hưởng đến đầu tư vào các dự án CNTT&TT 22 1.3 Những cơ hội thu hút đầu tư vào các dự án CNTT&TT . 24 2. Các hình thức huy động vốn đầu tư . 31 2.1 Đầu tư để triển khai CNTT&TT 31 2.2 Huy động vốn đầu tư cho các dịch vụ ứng dụng CNTT&TT . 33 2.3 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT 34 2.4 Lựa chọn một phương thức huy động vốn đầu tư 41 2.5 Hợp tác công – tư 45 3. Hợp tác công – tư (PPP) . 49 3.1 Bối cảnh 49 3.2 Khái niệm và phân loại 51 3.3 Những mặt lợi và hại của mô hình hợp tác công –tư . 59 3.4 Các nguyên tắc thực hiện 62 4. Hợp tác công – tư và các dự án Chính phủ điện tử 67 4.1 Những xu hướng trong Chính phủ điện tử 67 4.2 Những lý do áp dụng hình thức PPP cho dự án Chính phủ điện tử 71 4.3 Những dự án Chính phủ điện tử nào phù hợp với hình thức PPP . . 75 4.4 Tiêu chuẩn đề thành công với các dự án Chính phủ điện tử áp dụng mô hình PPP 77 4.5 Các ví dụ điển hình của hình thức PPP trên thế giới 80 Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 11
  11. 5. Những rủi ro của các dự án áp dụng mô hình PPP đối với CPĐT . 87 5.1 Các rủi ro liên quan tới các dự án CNTT&TT 87 5.2 Quản lý các dự án CNTT&TT để giảm rủi ro 89 5.3 Những rủi ro trong dự án PPP 90 5.4 Quản lý và giảm nhẹ rủi ro trong dự án PPP cho Chính phủ điện tử 94 6. Những kênh đầu tư khác 103 6.1 Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) 103 6.2 Nguồn vốn đầu tư mạo hiểm 111 6.3 Các công ty đa quốc gia 113 6.4 Các tổ chức tài chính (các tổ chức tài chính quốc tê) 114 6.5 Tài trợ giữa các Chính phủ 115 7. Chuẩn bị chiến lược huy động nguồn lực . 117 7.1 Tổng quan về huy động nguồn lực 117 7.2 Chuẩn bị hồ sơ đệ trình huy động vốn 119 Phụ lục 124 Tham khảo 124 Lưu ý với giảng viên 126 Giới thiệu về tác giả 128 Lời cảm ơn 129 12 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  12. Danh mục các hình Hình 1. Đóng góp của CNTT&TT vào sự tăng trưởng kinh tế 18 Hình 2. Thị trường tiêu dùng của CNTT&TT giai đoạn 2000-2008 19 Hình 3. Mật độ điện thoại di động 21 Hình 4. Giảm khí thải nhà kính ở Mỹ trong một vài hoạt động mẫu 28 Hình 5. Các yếu tố cản trở chính trong kinh doanh 46 Hình 6. Chuỗi các mức độ tham gia của khu vực tư nhân trong mô hình PPP 55 Hình 7. Phân bổ rủi ro trong các dự án PPP 94 Hình 8. Ví dụ biểu đồ Gantt thể hiện một hệ thống hỗ trợ ra quyết định cho quản lý dự án ICT 100 Hình 9. Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tính trên thế giới và nhóm các nền kinh tế 104 Danh mục các bảng Bảng 1. Danh sách các Quỹ đầu tư tài chính Nhà nước 26 Bảng 2. Bảng liệt kê những công việc sử dụng những hình thức hợp tác công – tư khác nhau 53 Bảng 3. Một số điều kiện tiên quyết để hình thức PPP thành công 65 Bảng 4. Tóm tắt các dự án PPP theo lĩnh vực tại EU 81 Bảng 5. Tóm tắt các dự án PPP theo lĩnh vực tại các nước ngoài EU 82 Bảng 6. Những mẫu rủi ro trong việc chuẩn bị dự án và các cơ chế giảm nhẹ 95 Bảng 7. Những mẫu rủi ro trong bước xây dựng dự án và các cơ chế giảm nhẹ 96 Bảng 8. Những mẫu rủi ro trong bước thực hiện dự án và các cơ chế giảm nhẹ 97 Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 13
  13. Danh mục từ viết tắt ABT Hiệp định về viễn thông cơ bản Agreement on Basic Telecommunication AMS Hệ thống quản lý người Mỹ American Management Systems APCICT Trung tâm đào tạo phát triển Công nghệ thông tin Truyền thông Châu Á- Thái Bình Dương Asian and Pacific Training Centre for Information and Communication Technology for Development AVA Lớp học ảo của APCICT APCICT Virtual Academy BOO Hợp đồng Xây dựng – sở hữu – vận hành Build-Own-Operate BOOT Hợp đồng Xây dựng – sở hữu – vận hành – chuyển giao Build-Own-Operate-Transfer BOT Hợp đồng Xây dựng – sở hữu – chuyển giao Build-Own-Transfer BRICS Nhóm 5 quốc gia: Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi Brazil, Russia, India, China and South Africa CIO Chức danh giám đốc CNTT Chief Information Officer CMS Hệ thống quản lý nội dung Content Management System CRM Quản lý quan hệ khách hàng Customer Relationship Management DAC Ủy ban Hỗ trợ Phát triển của khối OECD Development Assistance Committee DB Hợp đồng Thiết kế - xây dựng Design-Build DFID Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh Department for International Development, United Kingdom ECM Quản trị nội dung Enterprise Content Management EMF Khung quản lý tiên tiến Enhanced Management Framework ERP Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp Enterprise Resource Planning ESCAP Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương Economic and Social Commission for Asia and the Pacific FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ General Agreement on Trade in Service GoC Chính phủ Canađa Government of Canada HP Công ty Hewlett Packard (HP) Hewlett Packard 14 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  14. IDRC Trung tâm nghiên cứu phát triển thế giới của Canada International Development Research Centre IFI Thể chế tài chính quốc tế International Financial Institution ITU Liên minh viễn thông thế giới International Telecommunication Union MDG Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Millennium Development Goal NASCIO Hiệp hội quốc gia các giám đốc thông tin nhà nước National Association of State Chief Information Officers NGO Tổ chức phi Chính phủ Non-Governmental Organization ODA Viện trợ phát triển chính thức Official Development Assistance OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Organization for Economic Co-operation and Development OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ Organization of the Petroleum Exporting Countries PFI Sáng kiến tài chính tư nhân, Anh Private Finance Initiative, United Kingdom PPD Đối thoại công – tư Public-Private Dialogue PPP Hợp tác công –tư Private Public Partnership RBM Quản lý dựa trên hiệu quả Results-Based ManagementHiệp hội công nghiệp thu âm Hoa Kỳ SDNP Chương trình phát triển bền vững mạng lưới của UNDP Sustainable Development Networking ProgrammeRecording Industry SME Công ty vừa và nhỏ Small and Medium Enterprise SWF Quỹ đầu tư tài chính Nhà nước Sovereign Wealth Fund TNC Công ty đa quốc gia Transnational Corporation UNCTAD Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên hợp quốc United Nations Conference on Trade and Development Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 15
  15. Một vài điều cần làm Xây dựng tình huống: Tầm quan trọng của CNTT&TT phục vụ phát triển ở nước bạn Gợi ý: Hãy đánh giá tầm quan trọng của CNTT&TT phục vụ phát triển ở nước bạn bằng cách sử dụng các câu hỏi định hướng sau đây: 1. Đâu là những nguồn lực chính trong việc lập quỹ cho các hoạt động CNTT&TT ở nước bạn? 2. Có đủ các nguồn lực cho việc thực hiện CNTT&TT phục vụ phát triển hay không? 3. Có một chiến lược huy động nguồn lực CNTT&TT phục vụ phát triển hay không? Nó là gì? Nó có đang hoạt động không? 4. Có hay không một bản kế hoạch chi tiết hay một dạng tương tự như vậy cho CNTT&TT quốc gia? 5. Kế hoạch hay Chiến lược CNTT&TT quốc gia và Chính phủ điện tử đã được triển khai thực hiện chưa? Lựa chọn một sự miêu tả thích hợp nhất dưới đây và giải thích sự lựa chọn đó. a) Không có chiến lược b) Chưa hề bắt đầu c) Vừa mới bắt đầu d) Đang triển khai e) Đã ngừng lại Chú ý: Khi thực hiện bài tập này trong một khóa đào tạo, nó sẽ rèn luyện những học viên tham gia khóa đào tạo tự giới thiệu với giảng viên về bản thân và sự hiểu biết của họ về CNTT&TT phục vụ phát triển. Nó cũng sẽ cho phép rèn luyện các học viên học hỏi từ những học viên khác và bài tập này cũng có thể coi như phần mở đầu tìm hiểu của khóa học. 16 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  16. 1. SỰ PHỔ BIẾN CỦA CNTT&TT VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TOÀN CẦU Phần này nhằm mục đích: • Cung cấp một cái nhìn tổng quan về các vấn đề kinh tế và tài chính toàn cầu tác động đến quyết định đầu tư của các dự án CNTT&TT; • Phác thảo các cơ hội đầu tư trong khi lập kế hoạch cho các dự án CNTT&TT. Rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến việc đầu tư vào các dự án CNTT&TT và các nhà lãnh đạo nhà nước cần phải được nắm rõ chúng để có khả năng quyết định chọn lựa phương thức tốt nhất mang đến sự phát triển và nguồn tài chính cho dự án CNTT&TT. Các xu hướng hiện tại của thương mại và tài chính, hiện trạng của nền kinh tế thế giới và những xu hướng của những dòng vốn cũng như các xu hướng triển khai và sử dụng CNTT&TT cần được quan tâm khi lựa chọn những chiến lược huy động vốn thích hợp. Nhờ internet, những thông tin này xuất hiện nhiều và cập nhật trên các trang thông tin hàng đầu về tài chính, kinh doanh hay các thông tin tổng hợp quốc tế hoặc qua các dịch vụ tin tức như Reuters, Bloomberg, Associated Press, Agence France-Presse; các dịch vụ tin tức quốc gia như: Xinhua, các hãng phát thanh truyền hình quốc tế như: BBC, CNN và Al-Jezeera; và / hoặc các chuyên mục kinh doanh và tài chính của các tờ báo quốc gia và quốc tế. Các tin tức về đầu tư cũng đôi khi bị tính phí bởi thuộc các dịch vụ phải đóng phí của một số nguồn được liệt kê trên đây và các công ty đầu tư như Standard và Poors. Nắm vững kiến thức về các xu hướng tài chính không phải là kiến thức cần thiết duy nhất của một nhà kinh tế hay một nhà hoạch định cấp cao làm việc trong các Bộ tài chính hay kế hoạch hay các Bộ có chức năng tương đương và các cơ quan hữu quan (ví dụ như: Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, ). Tất cả các nhà quản lý và nhà hoạch định của nhà nước cần phải quan tâm đến các phân tích và tin tức về tài chính để có thể đưa ra nhiều kịch bản đầu tư khác nhau để đầu tư vào CNTT&TT trong lĩnh vực công. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 17
  17. 1.1 Tại sao lại đầu tư vào CNTT&TT phục vụ phát triển? Có rất nhiều lý do khác nhau để giải thích tại sao một đất nước muốn đầu tư vào CNTT&TT phục vụ phát triển, bao gồm mong muốn duy trì và/hoặc thúc đẩy lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh thông qua thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cung cấp giáo dục phổ cập, mở rộng sự tiếp cận các dịch vụ xã hội. Phát triển kinh tế tiếp tục là mục tiêu chính của các nước. Với nhóm những người tài trợ, xóa đói giảm nghèo và đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs) là những mục tiêu chính của việc hỗ trợ phát triển bao gồm cả việc đầu tư cho các hoạt động CNTT&TT phục vụ phát triển. Trong nền kinh tế thông tin toàn cầu, thông tin và tri thức là những yếu tố chính của sản xuất. Báo cáo gần đây của Liên minh viễn thông thế giới (ITU) chỉ ra rằng các vùng miền ở khắp nơi trên thế giới đang được hưởng lợi rõ ràng từ những tác động của CNTT&TT tới nền kinh tế của họ1 (xem trong Hình 1). Hình 1. Đóng góp của CNTT&TT vào sự tăng trưởng kinh tế (Nguồn: ITU, Viễn thông thế giới/Báo cáo phát triển CNTT&TT 2006: Measuring ICT for Social and Economic Development (Geneva: ITU, 2006), 44, 1 ITU, Viễn thông thế giới/Báo cáo phát triển CNTT&TT 2006: Measuring ICT for Social and Economic Development (Geneva: ITU, 2006), issues/resources /wtdr2006-e.pdf. 18 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  18. Ở các nước đang phát triển, sự phổ biến của CNTT&TT “mang đến những cơ hội mới để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và để đa dạng hóa các hoạt động sản xuất và xuất khẩu”2. Hạ tầng CNTT&TT được đề cập đến như là yếu tố thiết yếu của lợi thế cạnh tranh của các quốc gia. Thậm chí những quốc gia đã phát triển trên thế giới cũng thúc đẩy các dịch vụ phổ biến nhất của CNTT&TT, với trọng tâm chủ yếu là băng rộng, đặc biệt là có dây cũng như băng rộng không dây với tất cả các biến thể của nó. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới (OECD) báo cáo rằng ở các nước Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi (BRICS), tỷ lệ tiêu dùng cho CNTT&TT gia tăng ấn tượng và tỷ lệ này tăng vượt cả các nước OECD. Hình 2. Thị trường tiêu dùng của CNTT&TT giai đoạn 2000-2008 (USD giá hiện tại, được đổi tương đương 2000 = 100) (Nguồn: OECD, Communications Outlook 2007 (Paris: OECD, 2007), 280, 2 UNCTAD, Báo cáo kinh tế thông tin 2007-2008 - Science and technology for development: The new paradigm of ICT (New York and Geneva: United Nations, 2007), 11, Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 19
  19. Dung lượng Internet quốc tế đang tăng lên hàng năm ở mức 2 con số và vào khoảng 45%. Theo tạp chí Broadband Properties3, 10 thị trường băng rộng tăng trưởng nhanh nhất là Hy Lạp, Philippines, Inđônesia, Ailen, Ấn Độ, Ucraina, Thái Lan, Việt Nam, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ. Đáng ghi nhận là 5 trong số các nước này nằm ở Châu Á. Tóm lại, ở khắp nơi đều có sự tăng trưởng đáng kể trong lĩnh vực CNTT&TT. Sự thâm nhập của CNTT&TT đã dẫn đến cái mà một số nhà nghiên cứu tại Mỹ đã gọi là “tin học mọi nơi mọi lúc” – Ubiquitous computing4. Hiện nay, CNTT&TT dành cho tất cả mọi người và làm nhiều việc khác nhau. Rất nhiều những hoạt động thủ công và nặng nhọc tốn nhiều năng lượng (energy- intensive) trước đây đã được tự động hóa, tăng tốc tốc độ thực hiện công việc và giảm lượng cácbon thải ra từ những hoạt động đó. Hai công nghệ nổi bật nhờ khả năng của chúng trong việc thúc đẩy sự phổ biến của CNTT&TT và thúc đẩy việc sử dụng các thiết bị, ứng dụng CNTT&TT một cách rộng rãi và tăng trưởng mạnh mẽ, đó là công nghệ truyền tín hiệu không dây, công nghệ này cho phép thực hiện điện toán di động và công nghệ băng rộng, công nghệ này cho phép truy cập nhanh tới các đơn vị xử lý máy tính phân tán, các thiết bị và ứng dụng liên quan. Tuy nhiên, không phải ai cũng có lợi nhờ sự phổ cập của dịch vụ không dây. Dù 58% thuê bao di động nằm ở các nước đang phát triển và số lượng thuê bao di động tăng lên gấp ba lần trong 5 năm qua, thì theo Báo cáo kinh tế thông tin 2007-20085 của Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), khoảng 40 nước đang phát triển mật độ di động chỉ đạt 10% dân số. Mặc dù 40% thuê bao dịch vụ di động trên thế giới nằm ở Châu Á, tỷ lệ mật độ tính trên phần trăm dân số ở các nước nghèo hơn trong vùng như Myanmar và Nê-pan vẫn ở mức thấp. Sẽ có sự tăng trưởng mạnh mẽ ở những quốc gia có quy định để khuyến khích cạnh tranh như ở Mông Cổ, hay ở những quốc gia thúc đẩy đầu tư vào hạ tầng CNTT&TT như ở Trung Quốc. Ở Trung Á, tỷ lệ mật độ thấp hơn 5% (xem trong Hình 3). 3 Broadband Properties Magazine, 4 Wikipedia, “Ubiquitous computing,” Wikimedia Foundation, Inc., 5 Trích từ xuất bản của UNCTAD 20 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  20. Hình 3. Mật độ điện thoại di động Nguồn: UNCTAD, Information Economy Report 2007-2008 - Science and Technology for development: The new paradigm of CNTT&TT (New York and Geneva: United Nations, 2007), 23, Cùng với sự tăng trưởng trong doanh thu từ CNTT&TT, dịch vụ thương mại điện tử và Chính phủ điện tử cũng tăng trưởng đầy ý nghĩa. Số người mua sắm trực tuyến nhiều hơn, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển. Tất cả các dạng của thương mại điện tử đều phát triển mạnh. Tuy nhiên, một trong những hạn chế chính của tỷ lệ tăng trưởng thương mại điện tử ở các nước đang phát triển là tỷ lệ hấp thu CNTT&TT của những công ty vừa và nhỏ (SMEs). Các công ty vừa và nhỏ rất quan trọng bởi chúng là động lực tạo ra việc làm và tăng trưởng. Nhiều quốc gia đang tiếp tục nỗ lực để thúc đẩy năng lực của các công ty vừa và nhỏ trong việc sử dụng CNTT&TT. Chúng bao gồm cả việc sử dụng điện thoại di động để trao đổi công việc, nhờ đó, ở các quốc gia đang phát triển, thiết bị di động trở thành phổ biến nhất trong các thiết bị CNTT&TT. Sử dụng điện thoại di động trong hoạt động kinh doanh đã được chứng minh là làm tăng sự thoải mái trong công việc đối với tất cả các bên liên quan. Giao tiếp với các nhà cung ứng hay với các khách hàng được tăng lên và hiệu quả được hiện rõ, hiệu quả trong việc tiết kiệm chi phí và phạm vi thị trường mở rộng hơn. Các cơ chế huy động vốn khác nhau có thể đóng những vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp CNTT&TT của một quốc gia. Những nguồn đầu tư đó cũng được trích ra để huy động vốn cho các vườn ươm doanh nghiệp nơi mà cung cấp một nền móng vững trãi về doanh nghiệp điện tử cho các chủ doanh nghiệp vừa mới khởi nghiệp. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 21
  21. Tương tự như thương mại điện tử, Chính phủ điện tử tiếp tục tăng trưởng đáng kể trên khắp thế giới.6 Tuy nhiên, những nước đang phát triển tiếp tục gặp khó khăn trở ngại trong việc cung cấp các dịch vụ của Chính phủ điện tử bởi thiếu nguồn lực và vốn. Nhiều quốc gia đã phát triển những chiến lược và những kế hoạch CPĐT nhưng thiếu hụt các nguồn lực để triển khai chúng. Việc này đang hạn chế việc triển khai các dịch vụ Chính phủ điện tử cùng với những lợi ích mà nó mang lại. 1.2 Những vấn đề ảnh hưởng đến đầu tư vào các dự án CNTT&TT Để nền kinh tế thông tin ở các nước đang phát triển tiếp tục tăng trưởng, cầu và cung của hàng hóa và dịch vụ CNTT&TT cần phải được duy trì ổn định. Cùng với nó, nhà nước phải đảm bảo để tất cả các thành viên của cộng đồng có thể được hưởng lợi từ một xã hội tri thức. Khu vực tư nhân có thể tiếp tục cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà người dân sẵn sàng chi trả để được cung cấp, nhà nước tiếp tục đảm bảo một môi trường điều tiết khuyến khích. Chính sách cạnh tranh lành mạnh, một thị trường mở, cạnh tranh và tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ và đặc biệt là các hàng hóa, dịch vụ CNTT&TT đều có khả năng tham gia thị trường, một chế độ điều tiết được phát triển tốt, có thể dự báo về phương thức hoạt động của nhà nước, tôn trọng luật pháp và sự khuyến khích của nhà nước là tất cả những điều kiện cần cho điều này xảy ra. Một số nguyên lý này đã được lưu trong Hiệp định thương mại toàn cầu của WTO, hiện nay, rất nhiều quốc gia đã ký kết hiệp định. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về viễn thông cơ bản (ABT) của WTO đặc biệt khuyến khích tự do hóa thương mại trong thị trường toàn cầu.7 6 United Nations, UN e-Government Survey 2008: From e-Government to Connected Governance (New York: United Nations, 2008), 7 Tina James, ed. An Information Policy Handbook for Southern Africa: A Knowledge Base for Decision- Makers (Ottawa: IDRC, 2001), 22 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  22. Ở nhiều quốc gia mới nổi, đặc biệt là ở Châu Á, sự tăng lên của tầng lớp trung lưu đang đảm bảo cho nhu cầu đối với các dịch vụ CNTT&TT tiếp tục tăng trưởng vì sự gia tăng của thu nhập thuần. Nhưng để đảm bảo cộng đồng có thể được hưởng những lợi ích từ nền kinh tế thông tin, việc tiếp tục đầu tư vào hạ tầng CNTT&TT và vào CPĐT là cần thiết. Điều này nói dễ hơn là làm, có những vấn đề cấp bách khác giành sự quan tâm của Chính phủ. Thậm chí với sự tăng trưởng ngân sách từ thu thuế và thu từ các doanh nghiệp nhờ sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân và sự tăng lên của tầng lớp trung lưu, chi phí để cung cấp các dịch vụ công và Chính phủ điện tử cũng rất đáng kể. Những khó khăn khác cũng xuất hiện. Có rất nhiều mục tiêu toàn cầu ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới. Chúng sẽ có ảnh hưởng lên năng lực của các nước trong việc bảo đảm nguồn đầu tư cần để thực hiện CPĐT, cũng như năng lực của các nước trong việc huy động vốn nói chung. Một số vấn đề được trình bày dưới đây: • Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn (sub-prime crisis) ở Mỹ đã làm ảnh hưởng đến thị trường tài chính toàn cầu và đã làm dự báo tăng trưởng ở nhiều quốc gia phát triển và rất phát triển bị sai lệch bởi sự giảm cầu và sự gia tăng yêu cầu vay mượn của các thể chế tài chính. Như một hệ quả, thế giới đang nắm chắc một sự suy thoái toàn cầu. Dưới những điều kiện này, những bên cho vay sẽ khó khăn hơn trong việc cho vay tiền và thương mại cùng với sản xuất cho xuất khẩu của các quốc gia ở Châu Á và ở khắp nơi trên thế giới đang phải trải qua một thời kỳ khó khăn. • Việc chi phí năng lượng cao thậm chí còn có thể tăng hơn nữa đã làm gia tăng chi phí hoạt động kinh doanh trong khu vực nhà nước và tư nhân, cũng như chi phí cuộc sống của người tiêu dùng. Trong khi giá năng lượng đã rơi tự do vì sự suy thoái toàn cầu, các nhà phân tích dự báo rằng nhu cầu năng lượng của thế giới sẽ “gia tăng thêm 50% từ năm 2005 đến năm 2030”, điều này có thể dẫn đến một sự tăng giá. “Giá tăng cao nhất là ở các nền kinh tế không thuộc khối OECD”8. • Chi phí lương thực tăng lên đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới tất cả các quốc gia, đặc biệt là vùng Châu Á Thái Bình Dương. Sự tăng giá của năng lượng và lương thực đang được trông đợi sẽ có thể làm xao lãng những nguồn lực để phát triển và mở rộng CNTT&TT và các dịch vụ cung cấp. 8 Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, International Energy Outlook 2008 (Washington D.C.: Energy Information Administration, US Department of Energy, 2008), 7, Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 23
  23. • Việc thiếu hụt hạ tầng phát điện ở các nước như Trung Quốc và Nam Phi có nghĩa là nguồn đầu tư sẽ phải được huy động để giải quyết vấn đề này. Thiếu nguồn năng lượng rẻ tương đối và phù hợp, những nước này sẽ không thể cung cấp đủ điện cho nền kinh tế của họ và không thể đáp ứng được nhu cầu lớn và ngày càng tăng của người dân. • Nhu cầu năng lượng tăng lên là kết quả của việc tăng dân số và khí thải nhà kính ở khắp nơi. Sự thay đổi khí hậu dẫn đến một thách thức nghiêm trọng cho nhiên liệu hóa thạch hiện nay dựa trên mô hình phát triển kinh tế. Người dân ở khắp nơi trên thế giới đang kêu gọi để cho môi trường nơi họ sinh sống trong sạch hơn. • Với việc biến đổi khí hậu, những thiên tai ngày càng nhiều và chi phí cho việc xử lý thiên tai cũng lớn hơn nhiều. Những người nghèo đang bị đe dọa vì họ định cư trên những khu vực của thế giới mà có nguy cơ xảy ra thiên tai nghiêm trọng nhất. Việc đề cao công tác chuẩn bị sẵn sàng đối phó với thiên tai và những chiến lược thâu tóm cũng như thực hiện giảm nhẹ thiên tai sẽ sinh ra một khoản chi phí lớn về hậu cần và tài chính đối với các nước trên thế giới. 1.3 Những cơ hội thu hút đầu tư vào các dự án CNTT&TT Ở một khía cạnh khác, có một số phát triển khả quan đáng ghi nhận. Gia tăng sự giàu có của một số nước đang phát triển: Một vài đất nước đang tăng dự trữ ngoại tệ như một kết quả tăng lên của các hoạt động kinh tế. Ví dụ, nguồn dự trữ ngoại hối của Trung Quốc giữ ở mức trên 1.5 nghìn tỷ USD vào cuối năm 20079. Tăng vai trò của các Quỹ đầu tư tài chính Nhà nước (Sovereign wealth funds - SWFs): Với sự gia tăng của ngân sách từ các khoản phí, thuế và/ hoặc tiền thuê khai thác mỏ, xuất khẩu dầu và khoáng sản (ví dụ ở các nước vùng vịnh hay ở Nga) hoặc từ cán cân thương mại lớn và rất thuận lợi như ở Trung Quốc và Singapore, nhiều nước thu được một khoản ngoại hối lớn và đang trông đợi cơ hội để đầu tư những nguồn vốn mới có này. Cơ quan quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ thuộc Bộ Năng lượng đã ước lượng “các thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ - OPEC thu được 671 tỷ USD với doanh thu ròng xuất khẩu dầu trong năm 2007, tăng lên 10% so với năm 2006.”10 Bốn nước vùng vịnh chiếm khoảng hơn một nửa của số thu nhập đó. OPEC cũng chiếm khoảng hơn một phần ba lượng sản xuất dầu trên toàn thế giới. 9 Chinability, “China’s foreign exchange reserves, 1977-2008,” 10 US Energy Information Administration, “OPEC Revenues Fact Sheet,” 24 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  24. Các Quỹ đầu tư tài chính Nhà nước là một phương tiện tài chính được tạo ra để giúp các quốc gia quản lý và đầu tư phần thu nhập dư thừa của mình. Một số quỹ đã cứu cho những ngân hàng lớn nhất của Mỹ bằng cách bơm ồ ạt nhiều tỷ đô tiền mặt để mua thị phần hoặc góp vốn vào các công ty. Trang The Globe and Mail chỉ ra rằng các nước OPEC đang: Xây dựng các quỹ đầu tư lớn ra nước ngoài để nó quay vòng tiền từ dầu mỏ vào các nền kinh tế phương Tây, đáng chú ý là khoản lợi tức hàng năm của Quỹ đầu tư quốc gia Kuwait – Kuwait Investment Authority đầu tư 3 tỷ đô la Mỹ vào Citigroup Inc. và 2 tỷ đô la vào cổ phiếu của Merrill Lynch & Co.Inc. Năm ngoái, Quỹ đầu tư quốc gia Kuwait đã đầu tư 7,5 tỷ đô la vào Citigroup Inc. Sự quay vòng của những đồng đô la xăng dầu được coi là một sự hưởng lợi từ nền kinh tế thế giới, nó đưa đến một sự chuyển đổi quyền lực tài chính tới những nước giàu hàng hóa và ngày càng xa các nước tiêu thụ. Tuy nhiên, các nước OPEC đối mặt với việc gia tăng áp lực để đảm bảo các Quỹ nhà nước được hoạt động bằng việc chấp nhận các quy định của phương Tây trong việc quản lý và sự minh bạch. Chúng tôi đang ở lãnh thổ không được ghi trên bản đồ với những dòng tài chính đang chảy về một nhóm nhỏ các nước, David Pumphrey – Viện sỹ có thâm niên ở Trung tâm chiến lược và nghiên cứu quốc tế ở Washington, nói. Chúng tôi đang thấy một sự lập lại thế cân bằng của các quốc gia trên thế giới và họ sẽ đóng những vai trò khác nhau trong tương lai, vì vậy các quốc gia đã được thiết lập sẽ phải tạo ra được một vị trí để tham gia.11 Xu hướng này cũng gần như đang tiếp diễn và tạo thành một cơ hội cho Chính phủ các nước cố gắng mở rộng các dự án hay các đầu tư của họ vào CNTT&TT. Ngân hàng thế giới – World Bank, đã khuyến khích các Quỹ đầu tư tài chính Nhà nước đầu tư vào các nước nghèo12. Bảng 1 thể hiện danh sách mới nhất (2/2009) của các Quỹ đầu tư tài chính Nhà nước trích từ trang web Wikipedia. 11 Shawn McCarthy, “Barrelling Ahead: Cartel members are using record crude prices to finance their global ambitions,” The Globe and Mail, 8 May 2008, 12 Christopher Swann, “World Bank Urges Sovereign Wealth Funds to Invest in Africa,” Bloomberg, 12 April 2008, Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 25
  25. Bảng 1. Danh sách các Quỹ đầu tư tài chính Nhà nước Nước Tên Tên quỹ Tài Thàn Nguồn viết tắt sản h lập (Tỷ USD) United Arab ADIA Cơ quan đầu tư Abu Dhabi 627 1976 Dầu mỏ Emirates Abu Dhabi Trung Quốc CIC Công ty đầu tư Trung Quốc 288.8 2007 Phi hàng hóa Singapore GIC Công ty đầu tư của GoS 247.5 1981 Phi hàng hóa Kuwait KIA Cơ quan đầu tư Kuwait 202.8 1953 Dầu mỏ Nga RNWF Quỹ đầu tư quốc gia 168.0* 2008 Dầu mỏ Trung Quốc NSSF Quỹ an ninh xã hội quốc gia 146.5 2000 Phi hàng hóa Trung Quốc HKMA Hong Kong Monetary 139.7 1998 Phi hàng hóa Hong Kong Authority Investment Portfolio Singapore TH Temasek Holdings 122 1974 Phi hàng hóa Libya LIA Libyan Investment Authority 70 2006 Dầu mỏ Qatar QIA Qatar Investment Authority 65 2003 Dầu mỏ Mỹ APF Quỹ thường xuyên Alaska 26.7 1976 Dầu mỏ Alaska Malaysia KN Khazanah National 25 1993 Phi hàng hóa Iran OSF Quỹ bình ổn dầu mỏ 23.0 1999 Dầu mỏ Chile SESF Quỹ bình ổn kinh tế xã hội 21.8 1985 Đồng Tiểu Vương ICD Công ty đầu tư Dubai 19.6 2006 Dầu mỏ quốc Ả Rập Dubai Tiểu Vương MDC Công ty phát triển Mubadala 14.7 2002 Dầu mỏ quốc Ả Rập Abu Dhabi Việt Nam SCIC Công ty đầu tư vốn nhà 0.5 2006 Phi hàng hóa nước Nguồn: Wikipedia, “Sovereign wealth fund,” Wikimedia Foundation, Inc., 26 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  26. Theo Tạp chí Nhà kinh tế - The Economist Magazine, có khoảng 29 Quỹ đầu tư tài chính quốc gia trên thế giới, chúng được giám sát bởi ngân hàng Morgan Stanley, một ngân hàng đầu tư đồng đô la Mỹ, và các quỹ được ước tính có khoảng 2.9 nghìn tỷ đô la Mỹ13. Nó được dự báo sẽ tăng lên đáng kể trong những năm tới. Những dự án được nhà nước tài trợ có thể được xem xét những sự đầu tư an toàn tương đối cho những Quỹ đầu tư tài chính Nhà nước này nếu trong những tình huống thích hợp. Ứng dụng CNTT&TT và sinh ra rất ít hoặc không sinh ra cácbon: Vai trò của CNTT&TT trong việc giảm khí thải nhà kính và đóng góp trong việc thay đổi khí hậu là chủ đề đang làm gia tăng các nghiên cứu và tranh luận. Theo một số người, CNTT&TT có đóng góp đáng kể vào việc giảm khí thải nhà kính và chống lại biến đổi khí hậu. Việc ứng dụng CNTT&TT còn giúp giảm tiêu thụ nguyên liệu (ví dụ: giao dịch không cần giấy tờ) và như vậy hạn chế được tác động đến môi trường của các hoạt động và tiêu thụ của con người. Theo một nghiên cứu mới đây được thực hiện bởi Viện Người tiêu dùng Mỹ - American Consumer Institute, và Bộ Năng lượng Mỹ14, ứng dụng CNTT&TT đã cắt giảm cho nước Mỹ lượng khí thải nhà kính đáng kể. Hình 4 tổng kết những điều thấy được từ nghiên cứu này. 13 The Economist, “Sovereign-wealth funds: Asset-backed insecurity,” 17 January 2008, 14 Joseph P. Fuhr Jr. and Stephen B. Pociask, Broadband Services: Economic and Environmental Benefits (The American Consumer Institute, 2007), Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 27
  27. Hình 4. Giảm khí thải nhà kính ở Mỹ trong một vài hoạt động mẫu (Nguồn: Joseph P. Fuhr Jr. and Stephen B. Pociask, Broadband Services: Economic and Environmental Benefits (The American Consumer Institute, 2007), Tóm tắt nghiên cứu Giảm khí thải nhà kính trong một số hoạt động mẫu (Triệu tấn) Hiện nay Dự báo Những lĩnh vực được ứng dụng công nghệ tiết kiệm trong 10 được năm tới Hiệu quả thương mại điện tử xanh • Doanh nghiệp – Doanh nghiệp, Doanh nghiệp – 37.5 206.3 Người dân • Người dân – Người dân N.A N.A Hiệu quả viễn thông xanh • Hiệu quả trực tiếp trong việc lái xe 45.0 247.7 • Hiệu quả gián tiếp giảm tắc nghẽn 4.8 N.A • Công sở không được xây dựng 28.1 28.1 • Năng lượng tiết kiệm cho công sở 56.8 312.4 Hội nghị từ xa • Giảm đi công tác 36.3 199.8 Phương tiện điện tử • Thư từ, bưu phẩm 1.4 7.3 • Đĩa CD nhựa 0.5 2.5 • Báo giấy 7.9 57.4 • Giấy ở công sở 2.9 N.A • Giấy sử dụng cho các hộ gia đình 0.7 N.A Khám bệnh từ xa • Y tá đến nhà khám bệnh 1.6 N.A N.A - Không có số liệu 28 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  28. Việc phát triển trang web về biến đổi khí hậu tạo ra một nguồn thông tin khác về vai trò của CNTT&TT trong việc làm nhẹ và giúp thích nghi với sự biến đổi khí hậu15. ITU chịu trách nhiệm thực hiện những khuyến nghị liên quan đến CNTT&TT xanh (e-environment)– và những vấn đề khác được bàn tại Hội nghị thượng đỉnh về xã hội thông tin – WSIS. Chi phí gia tăng trong hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc và Ấn Độ: Tiền lương và các chi phí khác trong việc hoạt động kinh doanh ở Trung Quốc và Ấn Độ đang tăng lên. Điều này tạo ra những cơ hội kinh doanh và đầu tư tại các quốc gia ở Châu Á nơi có chi phí lao động rẻ hơn như ở Campuchia, Lào, Việt Nam và có thể cả ở Thái Lan. Một vài câu hỏi suy nghĩ Có rất nhiều yếu tố có thể làm ảnh hưởng đến sự phổ biến của CNTT&TT. Các bạn chia thành các nhóm, mỗi nhóm từ 4 – 8 người để tranh luận về những vấn đề đó. Chú ý đến những câu hỏi sau đây: 1. Những yếu tố nào đang ảnh hưởng đến việc triển khai CNTT&TT ở nước bạn? (một vài ví dụ tiêu biểu như việc lập kế hoạch, lãnh đạo, nhu cầu xã hội, trình độ chuyên môn, năng lực và sự sẵn sàng điện tử). 2. Có nhu cầu CNTT&TT nào ở mỗi khu vực? (ví dụ như người lao động trong khu vực công, các cơ quan nhà nước và trong khu vực tư nhân). 3. Có thể làm được gì để thúc đẩy sự phổ biến của CNTT&TT? Đâu là những cơ hội để thúc đẩy việc triển khai CNTT&TT ở đất nước của bạn? 15 See ITU, “ICTs and e-Environment,” and Green IT/Broadband and Cyber-infrastructure, Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 29
  29. 30 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  30. 2. CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ Phần này nhằm mục đích: • Cung cấp cái nhìn tổng quan về các hình thức đầu tư khác nhau cho các dự án hạ tầng CNTT&TT, Thương mại điện tử (TMĐT) và Chính phủ điện tử (CPĐT); • Phác thảo các yếu tố cần được quan tâm xem xét khi lựa chọn các hình thức đầu tư; • Thảo luận xem sự sự hợp tác công tư có thể được đặc biệt thúc đẩy như thế nào thông qua sự đối thoại giữa khu vực công và khu vực tư nhân (những cuộc thoại này là sự cộng tác giữa khu vực công và khu vực tư nhằm mục đích đạt được sự phát triển trong khu vực tư nhân thông qua các cải cách kinh tế khả thi). 2.1 Đầu tư để triển khai CNTT&TT Các quốc gia đã làm gì để thu hút đầu tư cần thiết cho việc xây dựng hạ tầng và các ứng dụng để tăng cường lợi thế cạnh tranh của họ trong nền kinh tế thông tin toàn cầu? Nếu thị trường đang được vận hành với đường lối mở, công bằng và minh bạch, việc huy động vốn để triển khai hạ tầng CNTT&TT được trông đợi có thể có triển vọng. Nếu thị trường đủ lớn và có cạnh tranh trong việc cung cấp hạ tầng và các dịch vụ, bao gồm cả việc cung cấp hạ tầng Internet xương sống, thì các dịch vụ TMĐT và dịch vụ CPĐT đi theo sau. Vấn đề là ở chỗ hầu hết các nước đang phát triển không có tiềm lực hoặc thị trường để đảm bảo cạnh tranh trong việc cung cấp các hạ tầng và dịch vụ viễn thông đắt đỏ. Trong tình huống đó, Nhà nước sẽ cần phải tham gia vào tìm nguồn đầu tư cho hạ tầng viễn thông, nhờ đó nền kinh tế thông tin sẽ được xây dựng. Nhà nước cũng cần phải đảm bảo đầu tư nhà nước làm lợi cho nhiều người sử dụng nhất và nhờ đó có được khả năng lớn nhất để thúc đẩy các mục tiêu phát triển của quốc gia. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 31
  31. Các quốc gia với hạ tầng viễn thông băng thông lớn và có thể truy cập được, có căn cứ tốt hơn để thu hút đầu và cạnh tranh trong nền kinh tế thông tin toàn cầu. Khái niệm các mạng truy nhập mở là dựa trên ý tưởng rằng để đảm bảo lợi thế lớn nhất của việc sử dụng đầu tư nhà nước vào hạ tầng viễn thông, Nhà nước đã ủy thác chia tách giữa sự sở hữu và khai thác hạ tầng truyền tải như mạng cáp quang cho một bên và việc cung cấp các dịch vụ mạng cho một bên khác. Điều này đã khuyến khích việc cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ và quan trọng hơn, nó đảm bảo giá truy cập và sử dụng hạ tầng là cạnh tranh và phản ánh đúng các chi phí hoạt động và chi phí vốn của hạ tầng. Các mạng truy cập mở áp dụng hầu hết ở các quốc gia nơi mà có ít hoặc chưa hề có cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ hạ tầng viễn thông, như ở các nước nhỏ và các nước nghèo, các nước không giáp biển và các đảo nhỏ đang phát triển nhà nước. Những quốc gia này được đặc trưng bởi việc truy cập bị hạn chế vào hạ tầng mạng xương sống (kết nối), mà hậu quả là chi phí tăng cao cho tất cả người sử dụng, bao gồm cả những nhà cung cấp dịch vụ internet thứ cấp. Trong các mạng truy cập mở, chi phí cho việc truy cập vào hạ tầng được đặt ở mức thấp nhất có thể và mọi người trả cùng một giá cho việc truy nhập vào hạ tầng mạng. Điều này đã cho phép các nhà đầu tư và các nhà cung cấp các dịch vụ điện tử tập trung chuyên vào cung cấp những dịch vụ và vào việc cạnh tranh với các nhà cung cấp khác trong không gian internet quốc gia. Mô hình quản trị để quản lý mạng truy cập mở là rất quan trọng. Các mô hình quản lý và quản trị khuyến khích việc đầu tư và cạnh tranh, những điều này lần lượt sẽ thúc đẩy số lượng và chất lượng của các dịch vụ cung cấp tới cộng đồng và khuyến khích cạnh tranh về giá và cuối cùng, giá cả sẽ thấp hơn và dịch vụ được cải thiện. Mô hình quản trị có thể bao gồm một Ủy ban Nhà nước hoặc cơ quan tương đương bao gồm các đại diện của cơ quan nhà nước và khu vực tư nhân, bao gồm các nhà cung cấp cũng như nhân dân. Một môi trường điều tiết viễn thông vững mạnh và một cơ quan điều tiết mạnh cũng là những thành tố quan trọng trong mô hình này. Các Nhà nước cần duy trì và / hoặc tăng cường hoặc thực hiện các chính sách thích hợp để khuyến khích những cơ chế thị trường và sự cạnh tranh trong việc cung cấp của dịch vụ băng rộng cố định và không dây. Nhà nước cần đảm bảo để hạ tầng sẵn sàng cho thị trường giá trị lớn và đảm bảo các nhà cung cấp hiện tại và các nhà cung cấp khác được ngăn chặn khỏi việc thiết lập những sự độc quyền trên thực tế, sự độc quyền này sẽ hạn chế sự lựa chọn, làm tăng giá và cản trở sự triển khai và lợi ích của hạ tầng truy cập và các dịch vụ mạng. 32 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  32. Tóm lại, hầu hết đều đồng ý rằng bằng việc cho phép và khuyến khích những cơ chế thị trường và cạnh tranh thông qua việc tạo ra một môi trường thích hợp, các Nhà nước có thể khuyến khích đầu tư vào triển khai hạ tầng CNTT&TT, đặc biệt là hạ tầng băng rộng và hạ tầng không dây, và các dịch vụ dựa trên nền CNTT&TT bao gồm dịch vụ thương mại điện tử và Chính phủ điện tử. Hạ tầng truy nhập băng rộng ở dạng mạng xương sống cáp quang và mạng băng rộng không dây tốc độ cao cũng như rất nhiều công nghệ kết nối khác như DSL và cáp tốt nhất là để cho khu vực tư nhân, trừ trường hợp nó không được quan tâm đến tính thương mại cho việc khu vực tư nhân xây dựng hạ tầng đó (ví dụ như ở cộng đồng xa xôi hẻo lánh, nghèo đói và thiểu số). Các chính sách truy nhập phổ cập và các nguồn vốn thích hợp có thể được đặt đúng chỗ để đảm bảo rằng các trợ cấp xã hội có thể khuyến khích các nhà cung cấp thương mại cung cấp dịch vụ ở các địa phương mà không quan tâm đến vấn đề thương mại. Các chính sách truy nhập phổ cập và các quỹ tài trợ hữu ích trong việc mở rộng phạm vi của các mạng điện thoại di động và khả năng truy cập Internet. 2.2 Huy động vốn đầu tư cho các dịch vụ ứng dụng CNTT&TT Các dịch vụ thị trường thương mại điện tử chủ yếu là các cơ hội mua bán hàng hóa và dịch vụ được thuận lợi hoặc được chấp thuận thông qua việc sử dụng các dịch vụ CNTT&TT. Trong khi các hoạt động thương mại điện tử không yêu cầu đầu tư nhiều từ khu vực nhà nước cho CNTT&TT, chúng chỉ yêu cầu các cơ quan nhà nước thiết lập các chính sách điều tiết rõ ràng và thực hiện các cơ chế để xây dựng sự bảo vệ và kiến thức của người tiêu dùng, và một môi trường tin cậy cho các giao dịch thương mại điện tử. Trên thực tế, ở một vài nước, khó khăn lớn nhất phải đối mặt là sự thiếu hiểu biết về thương mại điện tử. Người tiêu dùng cần phải được thuyết phục rằng họ sẽ được đảm bảo khi mua hàng hóa trên mạng nếu không thì đơn giản là họ sẽ không mua. Việc cung cấp các dịch vụ công, theo truyền thống các quốc gia sẽ dựa vào những nguồn lực của nhà nước, việc này thông thường là tăng quỹ từ các nguồn thường xuyên như thuế, tiền cấp phép, cũng như là viện trợ phát triển thích hợp. Nhưng do các nhu cầu cạnh tranh được đưa ra và các nguồn lực hạn chế để đầu tư cho các hoạt động Chính phủ điện tử nên các kịch bản tạo đầu tư khác nhau cần được quan tâm. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 33
  33. Khu vực công có thể được lợi rất nhiều từ các giải pháp đầu tư khác nhau nếu cơ quan nhà nước và các cấp chính quyền sẵn sàng quan tâm đến việc đưa các đối tác tư nhân đến bàn thảo luận để thu hút những tiềm lực về trình độ kỹ thuật, công nghệ và tài chính của họ. Tùy thuộc vào độ khẩn cấp của các nhiệm vụ công cần phải được hoàn thiện và các tiềm lực về tài chính và các tiềm lực khác mà họ có, các cơ quan nhà nước có thể tính toán dùng ít hay nhiều vốn của khu vực tư nhân để đầu tư và thực hiện các dịch vụ công. Các quỹ đầu tư tư nhân theo truyền thống của các khu vực tư nhân trực tiếp, bao gồm từ các nguồn như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI). Trong trường hợp này, nhu cầu của thị trường sẽ quyết định nguồn đầu tư nào sẽ được lựa chọn. Một kế hoạch kinh doanh được thảo và đưa ra những lựa chọn để giành được những khoản đầu tư và tạo ra lợi nhuận. Hạ tầng viễn thông và dịch vụ Chính phủ điện tử được tính toán / cân nhắc kỹ để có lợi nhất cho khu vực tư nhân đầu tư bởi vì chúng hữu hình và rất lớn ở một số quốc gia (những quốc gia nhỏ), đôi khi chúng được thực hiện độc quyền. Bởi vì hầu hết các nhà cung cấp viễn thông hướng đến lợi nhuận, đầu tư vào hạ tầng viễn thông được coi như một khoản đầu tư chắc chắn được trông đợi sẽ mang lại lợi nhuận. Các dự án hạ tầng viễn thông sẽ thu hút vốn đầu tư từ các nguồn thường xuyên và từ các nguồn đầu tư khác. Các dự án CPĐT cũng được thực hiện trên nền tảng độc quyền và những điều này có thể thu hút mạnh mẽ sự quan tâm về lợi ích thương mại vì lý do này cũng như nhiều lý do khác nữa. Các sáng kiến thương mại điện tử sẽ được phát triển bởi các cơ quan tài chính nhà nước và các nhà cung cấp khu vực tư khai thác các cơ hội thị trường và hiểu rõ về nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ. Không mong đợi rằng khu vực công sẽ đầu tư trực tiếp cho các sáng kiến TMĐT nhưng các cơ quan nhà nước có thể tạo ra các cơ chế và các dịch vụ khác nhau để có thể khuyến khích khu vực tư để thúc đẩy TMĐT. Hệ thống mua sắm điện tử công cộng là một trong những cơ chế này. 2.3 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT Có rất nhiều hình thức huy động vốn đầu tư khác nhau, phụ thuộc vào việc thực hiện dự án. Các phương thức hay các phương pháp chính được phác thảo dưới đây. 34 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  34. Nhà nước là người góp vốn duy nhất Nhà nước phát triển các kế hoạch, các chương trình và các dự án; ngân sách để thực hiện dự án được tạo ra; và tăng các khoản thuế để đầu tư cho các dự án. Nhà nước sở hữu và thực hiện dự án. Chúng bao gồm cả các dự án được tài trợ bởi các nhà tài trợ quốc tế cung cấp vốn thông qua các đối tác khu vực công trong các nước đang phát triển. Nhà nước có một bản kế hoạch triển khai cùng nguồn ngân sách, và thực hiện dự án dựa trên các điều khoản đã được nhất trí và các thủ tục rõ ràng. Ví dụ như cơ quan nhà nước hoặc một Bộ có một kế hoạch CPĐT được tài trợ thông qua Kho bạc Nhà nước. Các công ty tư nhân sau đó được thỏa thuận để cung cấp các dịch vụ phù hợp với dự án. Khu vực công không chỉ giám sát công việc trực tiếp mà còn có toàn quyền sở hữu và giám sát tất cả các mặt của dự án. Khu vực công cũng có thể lựa chọn việc thuê các nhà cung cấp tư nhân trên cơ sở hợp đồng để chịu trách nhiệm cung cấp các hàng hóa và dịch vụ nêu rõ trong điều khoản hợp đồng. Khu vực tư nhân có vai trò nhỏ hoặc không có vai trò gì trong việc phát triển và thiết kế dự án. Phía nhà nước là bên duy nhất chịu trách nhiệm về ý tưởng và thiết kế của dự án, họ làm chủ và thực hiện những dự án cung cấp hàng hóa công cộng. Trong trường hợp này, Nhà nước gánh hết các rủi ro của dự án. Các phương thức đầu tư hỗn hợp Những phương thức này bao gồm hình thức thuê ngoài, các hình thức hợp đồng khác nhau, sự chia sẻ chi phí cho việc góp vốn, ở hầu hết các công đoạn, là từ khu vực công và cơ quan nhà nước làm chủ sở hữu các dịch vụ hoặc sản phẩm/hạ tầng. Khu vực công có thể đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện những dự án này. Trong phương thức này, không có sự nhượng lại các dịch vụ công cho nhà cung cấp thứ ba và thậm chí là thông qua một bên thứ ba có thể cung cấp các dịch vụ, nó vẫn cân nhắc đến sự khai thác của phía nhà nước. Các nhà cung cấp trong khu vực tư nhân có thể được thuê ngoài dựa trên cơ sở hợp đồng để thực hiện các khâu của một dịch vụ công, nhưng nhà nước vẫn kiểm soát và làm chủ tất cả các giai đoạn của dự án. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 35
  35. Nhượng quyền cho khu vực tư Trong kịch bản này, các cơ quan nhà nước sẽ đàm phán để nhượng quyền cho một hoặc nhiều nhà cung cấp tư nhân để xây dựng, làm chủ hoặc thực hiện hoặc chuyển giao một dịch vụ công dưới các điều khoản được thỏa thuận có thể bao gồm cả sự kết hợp giữa quyền sở hữu và thực hiện. Các cơ quan nhà nước có thể hoặc không dự toán chi ngân sách cho dự án. Các công ty tư nhân gánh vác hầu hết hoặc tất cả các rủi ro tài chính, và việc vận hành, sở hữu sự nhượng quyền trên cơ sở hợp đồng với các cơ quan nhà nước trong một khoảng thời gian xác định. Nó thường được áp dụng cho các dự án cánh đồng xanh (greenfield projects) - dự án không chịu tác động của các dự án trước đó. Hợp đồng nhượng quyền dựa trên hợp tác công - tư yêu cầu những mối quan hệ rất mật thiết giữa các bên đối tác, cũng như sự giám sát mạnh mẽ và liên tục. Chúng có thể thu hút vốn FDI bởi rất nhiều trường hợp các nhà cung cấp dịch vụ khu vực nhà nước (ví dụ như các cơ quan nhà nước) sử dụng sức mạnh thị trường để cung cấp các dịch vụ công. Thông thường không có cạnh tranh ở những dịch vụ này và không có nhà cung cấp dịch vụ thay thế, mà cộng đồng cần phải sử dụng dịch vụ. Do vậy, với các nhà đầu tư tư nhân, việc tài trợ đầu tư cho những dịch vụ này có thể là cơ hội rất lớn hứa hẹn mang lại lợi nhuận. Với nhà nước, mô hình này có thể mang lại rủi ro như chi phí dịch vụ cao. Việc tính toán để cân bằng trong quyền lợi của đôi bên chính là chìa khóa. Nhiều bên công – tư tham gia hợp tác Nhiều đối tác liên quan trong những mô hình này, bao gồm các khu vực công và tư, xã hội, các nhà tài trợ, các tổ chức phi Chính phủ. Tiêu biểu là các dự án phát triển trung tâm viễn thông hoặc phương tiện truy nhập cộng đồng hay các dự án truy nhập phổ cập. Với những dự án này, việc tư vấn phức tạp và các giải pháp được đưa ra cần phải tiếp cận theo nhiều mặt. Những nguồn lực tiềm năng cho nguồn vốn đầu tư của loại hình hợp tác công tư này bao gồm cả Quỹ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và Quỹ đầu tư nhà nước (SWF). Một trong những lý do để mô hình này càng được khuyến khích bởi các nhà tài trợ là bởi nó dựa trên năng lực của các đối tác địa phương. Bằng việc tập trung vào kết quả có thể ước lượng, đánh giá được chứ không phải tập trung vào sản lượng, dự án sẽ thực tế hơn cũng như dễ dàng phù hợp với thay đổi của điều kiện và tình huống, và có trách nhiệm hơn với các vấn đề khi chúng nảy sinh. 36 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  36. Phương thức huy động vốn đầu tư này cũng khuyến khích sự tăng trưởng để giảm nghèo đói – Pro-poor growth, hay phát triển kinh tế mà mục tiêu là vì người nghèo. Sự hợp tác giữa công – tư nói chung mang lại những lợi ích chắc chắn cho những thành tựu đạt được của các mục tiêu thiên niên kỷ. Chúng có thể giúp những nước nghèo đạt được: • Các mục tiêu phát triển đa dạng • Những khoản lãi được duy trì • Củng cố về tổ chức và duy trì chi phí tiêu dùng và phát triển kết quả trong tương lai • Tập trung mạnh vào xóa đói giảm nghèo • Hỗ trợ về chính sách và cho cộng đồng một cách sâu rộng • Các cấu trúc và những chỉ số quản lý dự án dựa trên cơ sở thực tế thực hiện, cũng như hiệu quả trong việc quản lý dự án hay quản lý dựa trên cơ sở kết quả. Ví dụ các dự án truy nhập phổ cập hướng đến khách hàng ở vùng sâu xa và nghèo đói, nơi mà luôn nghèo hơn các cộng đồng khác ở trong nước đang bàn. Bởi lý do này hoặc lý do khác, những cộng đồng này không được cung cấp dịch vụ bởi các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông quốc gia. Một chính sách truy nhập phổ cập được tạo ra bởi Quỹ truy nhập phổ cập cần phải đầu tư để cung cấp dịch vụ thoại và internet cho những cộng đồng này. Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và dịch vụ di động được khuyến khích đấu thầu để sử dụng nguồn vốn đầu tư từ Quỹ truy nhập phổ cập để cung cấp các dịch vụ cần thiết dựa trên cơ sở thương mại cho những cộng đồng có liên quan. Loại dự án này thu hút sự hợp tác giữa khu vực công và tư để cung cấp các dịch vụ viễn thông cơ bản. Sự đóng góp từ thiện của khu vực tư nhân Một cách thức huy động vốn đầu tư khác dựa trên sự đóng góp từ thiện của các doanh nghiệp lớn, đặc biệt các công ty đa quốc gia. Cách thức huy động vốn đầu tư này cũng được coi như một hình thức biến đổi của mô hình hợp tác đa bên giữa công và tư. Các tổ chức từ thiện đầu tư từ những doanh nhân thành công bao gồm: • Quỹ tài trợ Ford • Quỹ tài trợ Rockefeller Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 37
  37. • Quỹ tài trợ Bill và Melinda Gates (25 tỷ đô la Mỹ trợ cấp cho giáo dục và sức khỏe) • Các cơ quan và các quỹ tài trợ tình nguyện tư nhân ở các nước thành viên của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) trong khối OECD. (tài trợ từ những nguồn này tăng từ 8.8 tỷ đô la Mỹ trong năm 2002 lên 14.6 tỷ đô la Mỹ trong năm 2006).17 Những đóng góp bằng tiền mặt của các đoàn thể cũng được xem là một nguồn huy động quỹ quan trọng. Ước lượng chỉ 500 công ty trong tạp chí Fortune 500 Global mang lại khoảng 12 tỷ đô la Mỹ tiền mặt quyên góp và các đóng góp hàng hóa dịch vụ vào khoảng từ 10-15 tỷ đô la Mỹ mỗi năm.18 Hoạt động từ thiện của liên hiệp công ty có liên quan tới sản xuất và các quá trình maketing. Do vậy, những đóng góp ở các nước nghèo dường như ít hơn bởi vì những thị trường này nhỏ hoặc là nghèo. Tuy nhiên, những nguồn vốn này là nguồn tài chính rất quan trọng so với FDI và trợ cấp phát triển. Ước lượng có khoảng từ 10-15% trong tổng số đóng góp của 500 công ty được xếp hạng trong tạp chí Fortune 500 Global dành cho các nước thu nhập thấp. Tuy nhiên, các nhà cung cấp tư nhân nhận ra rằng họ cần phải làm việc gần gũi với người dân ở địa phương và cộng đồng để những khoản đầu tư của họ sinh lời. Trường hợp của các công ty dầu mỏ, đặc biệt là Shell, đang khai thác ở vùng Châu thổ sông Niger ở Nigeria là một ví dụ hoàn hảo. Sự náo động trong xã hội trực tiếp buộc việc khai thác dầu ở vùng Châu thổ ở giữa các dân địa phương mà cảm thấy họ bị tước quyền công dân. Các công ty nhận ra tầm quan trọng của việc hỗ trợ an ninh địa phương để đảm bảo cho khoản đầu tư của mình. Nhiều khoản tiền tới thông qua biếu tặng cho các dự án xã hội ở cấp độ địa phương và cộng đồng. Những khoản sau đây chỉ là ví dụ nhỏ: • Tập đoàn Tata của Ấn Độ tặng 2.7% tổng thu nhập và công ty Viễn thông Pakistan tặng 0.074%. • Tập đoàn Cisco đóng góp cho việc tạo lập năng lực CNTT&TT thông qua Viện hàn lâm Cisco, Viện đã đào tạo nhiều chuyên gia CNTT&TT ở khắp các nước đang phát triển. 38 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  38. • Trong những năm 1990, Công ty Hewlett Packard (HP) hợp tác với Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) trong việc tạo ra trang thiết bị và các dạng thức khác của việc hỗ trợ hiệu quả cho Chương trình phát triển bền vững mạng lưới (SDNP) của UNDP. Những đóng góp này được coi như những món quà. UNDP và HP đầu tiên phải thiết lập nền tảng của sự hợp tác và cam kết dựa trên những phiên đàm phán và thảo luận kéo dài để đảm bảo sự trung lập của UNDP và để đảm bảo rằng dự án sẽ được coi là trái với những mối quan tâm cao nhất của các bên tham gia và cấu thành UNDP. • Ở Cộng hoà Trinidad và Tobago, tập đoàn BP đã tuyên bố rằng sẽ đầu tư 10 triệu đô la Mỹ vào trường Đại học Trinidad và Tobago mới nhằm phát triển nghiên cứu chất lượng cao trong khoa học và công nghệ. Tập đoàn này đang có kế hoạch trong những năm tới sẽ đầu tư hơn 500 triệu đô la Mỹ được coi như là kết quả của việc nhận thức gia tăng về những khó khăn thách thức trong phát triển của toàn cầu và nguyên tắc cơ bản là phát triển thương mại cũng là một phần của sự phát triển tổng thể. • Tập đoàn khai khoáng Barrick Gold, một trong những nhà sản xuất vàng lớn nhất thế giới, đã đầu tư 3.4 triệu đô la Mỹ cho một đường ống dẫn nước có chiều dài 47 km ở Tanzania. Dựa trên những việc đã thấy, có thể rằng khoảng 10-15% trong tổng số đóng góp từ 500 công ty được xếp hạng trong tạp chí Fortune 500 Global, hoặc từ một nơi nào đó vào khoảng 2 tỷ đến 4 tỷ đô la Mỹ được đóng góp cho các hoạt động ở các nước có thu nhập thấp. Nếu như sự đóng góp của các công ty đa quốc gia, các công ty lớn trong nước và khu vực và trợ cấp tư nhân trực tiếp cũng được tính đến thì khoản trợ cấp của khu vực tư nhân có khả năng còn lớn hơn FDI. Với những công ty hoạt động ở các nước đang phát triển, những khoản đầu tư cho xã hội đã mang lại những lợi thế đòn bẩy đầy ý nghĩa cho các công ty trong việc đạt được các mục tiêu trong nước. “Tìm những nguồn tốt nhất” dựa trên kiểm nghiệm thị trường Để tìm nguồn cung tốt nhất, nhà nước mở thầu để chọn nhà thầu cung cấp các dịch vụ và đưa ra yêu cầu khắc phục những vấn đề phát sinh, thị trường sẽ tìm ra giải pháp hiệu quả nhất có thể về chi phí và vẫn đảm bảo yêu cầu hoặc còn đáp ứng vượt các yêu cầu đã đưa ra cho nhà thầu về các dịch vụ và sản phẩm cần cung cấp. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 39
  39. Đây là kịch bản cạnh tranh, trong đó việc kiểm nghiệm thị trường chính là cơ hội để thấy cái mà thị trường sẽ đem lại và những ý tưởng sáng tạo được tạo ra nhằm cung cấp dịch vụ công với mức giá thấp nhất cho nhà nước và cho những người nộp thuế. Vì vậy, các cơ quan nhà nước mời thầu theo Luật đấu thầu nhà nước hoặc các văn bản pháp lý tương đương để nhận hồ sơ thầu của khu vực tư nhân. Việc lựa chọn nhà thầu được dựa trên mức giá dự thầu thấp nhất và hỗ trợ bởi chất lượng của bản hồ sơ kỹ thuật dự thầu. Chính phủ Singapore đã chọn chiến lược lựa chọn nhà nguồn cung tốt nhất thông qua kiểm nghiệm thị trường. Nếu một công ty tư nhân có thể cung ứng dịch vụ rẻ hơn và hiệu quả hơn một công ty nhà nước thì nó sẽ được thuê để cung cấp dịch vụ đó. Các doanh nghiệp nhà nước cần phải minh chứng sự tồn tại của mình qua việc cùng tham gia cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ ngoài nhà nước để giành được dự án. Điều này cũng có thể cổ vũ sự hợp tác với khu vực tư nhân và thậm chí tạo cho doanh nghiệp nhà nước khả năng cạnh tranh và năng suất cao hơn trong thời gian dài. Lợi ích hay giá trị lâu dài của cách tiếp cận này vẫn đang được nhìn thấy nhưng ý tưởng này chắc chắn là một ý tưởng mới lạ. Một vài điều cần làm Chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 8 người và cùng thảo luận về các vấn đề sau đây: 1. Những phương thức huy động vốn nào sẽ sử dụng ở nước của bạn và những phương thức nào không được sử dụng? 2. Phương thức huy động vốn nào được sử dụng nhiều nhất? Tại sao? 3. Làm thế nào để tăng cường việc sử dụng các mô hình khác nhau trong quốc gia của bạn? 4. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự lựa chọn những phương thức huy động vốn khác nhau ở nước bạn? 40 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  40. 2.4 Lựa chọn một phương thức huy động vốn đầu tư Mỗi phương thức huy động vốn được giới thiệu trên đây đều có những ưu điểm và nhược điểm. Việc chọn lựa thực hiện theo phương thức nào sẽ cần phải có những tính toán kỹ lưỡng cụ thể. Dưới đây sẽ thảo luận một vài vấn đề cần quan tâm. Mức độ nhu cầu Một nhu cầu bức thiết với hạ tầng hay dịch vụ ở những nơi mà những nguồn huy động vốn thông thường không có sẵn tạo ra những sự lựa chọn trong những kịch bản tài chính khác nhau. Nếu môi trường kinh doanh có lợi, các doanh nghiệp tư nhân đầu tư và kinh doanh vào nó có những cơ hội để tạo ra lợi nhuận thực sự thì nó sẽ thu hút các doanh nghiệp tư nhân. Chia sẻ, phân bố và tránh rủi ro Một trong những lý do quan trọng nhất cho việc quan tâm đến sự hợp tác giữa khu vực tư nhân và nhà nước là để tránh hoặc giảm thiểu hóa rủi ro. Với sự hợp tác giữa khu vực tư nhân và nhà nước trong một vài trường hợp những rủi ro tài chính có thể được các đối tác tư nhân gánh vác hoàn toàn. Trong những dự án đặc biệt lớn, chi phí dự án có thể được chia sẻ. Tất nhiên, đối tác tư nhân sẽ được thúc đẩy bởi động cơ lợi nhuận và các nhà cung cấp nhà nước sẽ đảm bảo rằng những khoản tiền phí trả cho doanh nghiệp tư nhân sẽ không làm nổi lên những hình thức rủi ro khác – ví dụ như: dân chúng không chấp nhận đề nghị và lật đổ chính quyền hoặc tạo ra những xáo động trong cộng đồng để thể hiện sự không hài lòng. Một cách để giảm thiểu rủi ro cho các nhà tài trợ hay các khách hàng nhà nước là thực hiện mở thầu dự án rộng rãi và công khai. Điều này sẽ mang lại các mức giá bỏ thầu khắc nghiệt của cạnh tranh, và cho phép Chính phủ đầu tiên là đo được mức độ quan tâm của nhà cung cấp trong khu vực tư nhân, cũng như khả năng của họ trong những công việc cần triển khai. Khi nào cũng vậy, bỏ thầu công khai và cạnh tranh tăng chất lượng của những dự thầu trong khi cùng với đó là giảm chi phí của việc thu mua. Nếu như các công ty dự thầu không có hồ sơ năng lực phù hợp hoặc không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản, Chính phủ có thể quyết định hủy bỏ dự án hoặc mở thầu lại. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 41
  41. Có một vài dự án mà đã được thực hiện với rủi ro tài chính không trực tiếp với những đối tác nhà nước. Trong những trường hợp này, đó là đối tác tư nhân chấp nhận tất cả các rủi ro tài chính. Sự sẵn sàng về chuyên môn kỹ thuật Trong những dự án phức tạp, có thể có đòi hỏi một sự kết hợp của nhiều kỹ năng và khả năng khác nhau. Khu vực tư nhân có thể tạo ra được một hàng rào chống lại những nguy cơ và rủi ro của các dự án phức tạp. Khai thác các kỹ năng của khu vực tư nhân có thể là giải pháp sẵn sàng duy nhất trừ trường hợp mò mẫm. Đồng thời, khi giải quyết vấn đề với hệ thống và ứng dụng CNTT&TT được kế thừa, khu vực tư nhân có thể là nguồn sẵn có duy nhất thành thạo chuyên môn kỹ thuật. Thêm vào đó, khu vực tư nhân đã được thử nghiệm và cung cấp các dịch vụ trực tuyến trong một thời gian dài và những chuyên môn kỹ thuật này có thể hữu ích trong việc giúp các quốc gia vừa mới bắt đầu tìm hiểu về Chính phủ điện tử để cung cấp dịch vụ. Đồng thời, khu vực tư nhân, thông qua việc liên doanh với các công ty quốc tế và thậm chí với các công ty đa quốc gia, có thể sử dụng những bài học rút ra từ các quốc gia khác đã có kinh nghiệm trong việc triển khai Chính phủ điện tử. Trên thực tế, các nhà cung câp tư nhân có thể chuyên về việc cung cấp Chính phủ điện tử và các dịch vụ có liên quan cho các quốc gia trên thế giới. Ví dụ Công ty tư vấn Atos đã phát triển các tư vấn chuyên môn kỹ thuật trong việc xây dựng các thỏa thuận cộng tác giữa nhà nước và tư nhân. Công ty Accenture (Công ty tư vấn lớn nhất trên thế giới và đứng đầu về dịch vụ và phần mềm máy tính trong bảng xếp hạng 500 của tạp chí Fortune Global năm 2007), đã là chuyên gia trong lĩnh vực Chính phủ điện tử. Nhiều công ty tư vấn quốc tế lớn cũng như các công ty nhỏ và các nhà tư vấn cá nhân đều nâng cao năng lực chuyên môn của mình. 42 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  42. Sự ủng hộ của cộng đồng Sự hiểu biết của cộng đồng về sự hợp tác tăng cường giữa khu vực công với khu vực tư cần phải được tính đến. Ở nhiều quốc gia, công chúng có thể băn khoăn về việc thiết lập hay củng cố mối quan hệ giữa những cơ quan quyền lực và những doanh nghiệp ưu tú. Bởi vậy, việc lựa chọn sự hợp tác giữa công và tư hay các cơ chế tài chính khác cần phải được thực hiện một cách công khai và minh bạch, và cần phải thực hiện báo cáo thường xuyên và công khai về quá trình thực hiện dự án có cả các chỉ số kiểm toán độc lập và được công bố. Mặt khác sự kháng cự hay náo loạn có thể là phản ứng của dân chúng, đặc biệt là khi dự án liên quan đến những dịch vụ công thiết yếu hay áp đặt phí khi cung cấp các dịch vụ công nào đó. Thiếu sự ủng hộ của người dân trong các dự án đặc biệt cũng tạo ra cho những chính khách nguy cơ như họ có thể mất đi sự ủng hộ trên chính trường và sẽ mất đi chiếc ghế của mình trong Chính phủ nếu công chúng nghĩ họ đang đứng đằng sau những dự án này. Giảm kích cỡ của các dịch vụ công Sử dụng các cơ chế tài chính khác nhau có thể cho phép các Chính phủ tăng cường cung cấp dịch vụ công và không cần phải gia tăng số lượng công nhân viên chức tham gia. Đây có thể là một điều quan trọng cần phải tính đến khi có nhu cầu giảm chi phí của Chính phủ và giảm kích cỡ của dịch vụ công. Sự sẵn sàng về vốn / tài chính / cơ hội đầu tư Chính phủ có thể không có nguồn quỹ để đầu tư cho Chính phủ điện tử. Mặt khác, các nhà đầu tư tư nhân có thể sẵn sàng và rất quan tâm tới việc làm đối tác của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công theo thỏa thuận. Trong một số trường hợp cộng tác giữa công và tư, các đối tác tư nhân cung cấp toàn bộ tài chính để đổi lấy các khoản thanh toán, phí hay doanh thu thực hiện trong một khoảng thời gian xác định. Trong trường hợp này, dự án có thể được xem là một hoạt động lấy từ nguồn quỹ bên ngoài mà không tác động trực tiếp lên ngân khố quốc gia hay kho bạc nhà nước. Đương nhiên, có sự liên quan này kéo dài hơn, nhưng chúng có thể được nghiên cứu và kiểm tra trong suốt khâu nghiên cứu và kiểm tra của dự án. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 43
  43. Nhận thức được lợi thế thương mại của các dịch vụ được cung cấp Một trong những lý do của khu vực tư nhân quan tâm đến việc cung cấp các dịch vụ công hiển nhiên là kiếm tiền. Không phải tất cả các dịch vụ công đều được xem xét thu hút về mặt thương mại nhưng nhiều dịch vụ công là những dịch vụ duy nhất có và người sử dụng có thể không có sự lựa chọn khác. Điều này dẫn đến độc quyền tự nhiên hoặc sức mạnh thị trường tuyệt đối được kết hợp với việc cung cấp các dịch vụ đang nói đến. Một vài dịch vụ là độc quyền tư nhiên ví dụ như bến cảng, đường ray xe lửa và các dịch vụ, sân bay, cầu đường và trạm thu phí cầu đường. Nhà nước có thể sử dụng độc quyền tự nhiên này để thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân trong khi cố đảm bảo những lợi ích của cộng đồng được tôn trọng. Đây là một bước thận trọng nhưng tiếp đó là khả năng và cơ hội có được những lợi ích to lớn cho cả hai bên và cho cả cộng đồng thông qua những dịch vụ nhiều hơn và tốt hơn. Sự sẵn sàng hợp tác với khu vực tư nhân Khả năng hợp tác làm việc chặt chẽ với khu vực tư nhân có thể mang đến cho các cơ quan nhà nước nhiều cách thức khác nhau để triển khai công việc. Trong một vài lĩnh vực như lĩnh vực quốc phòng trong những quốc gia như Mỹ, một sự hợp tác làm việc chặt chẽ giữa các nhà cung cấp nhà nước và tư nhân đã tạo ra một sự hợp tác tin cậy, sự tin cậy này tạo ra những lợi ích to lớn cho toàn bộ lĩnh vực. Các nhà cung cấp trong khu vực công hiểu rõ về các công ty tư nhân, kỹ năng của họ và cái kết quả mà họ tạo ra khi làm việc sát cánh bên nhau liên tục trong các dự án hay trong các nhiệm vụ. Lợi ích chung Lợi ích chung có thể đem lại những nền tảng cho việc thúc đẩy hợp tác. Trong một số trường hợp, cách tiếp cận theo sự hợp tác giữa nhà nước và tư nhân có thể chỉ là một giải pháp trước mắt khi cần cung cấp dịch vụ công bởi vì không có vốn, không có chuyên môn kỹ thuật, không có chính sách để chào bán và phát triển dự án. Trong những trường hợp này, khu vực tư nhân có thể thấy được cơ hội to lớn mà cơ quan nhà nước không thể nhận thấy từ vị trí của họ. Khi động cơ lợi nhuận được đưa vào, những vấn đề cần được quan tâm mới nổi lên và chúng có thể là những cơ sở để thương lượng và có lẽ là cả để thực hiện. 44 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  44. Mang đến những lợi ích thấy rõ, về thương mại và các mặt khác, của dự án được đề nghị, các nhà cung cấp tư nhân có thể được chuẩn bị để dốc toàn lực để tăng sự nhận thức, quảng cáo những cơ hội, nắm được công chúng và ảnh hưởng đến người ra quyết định của Chính phủ để phát triển dự án. Với những nhà cung cấp nhà nước, lợi thế có thể là sự sẵn sàng cung cấp các dịch vụ mà những nhà cung cấp khác sẽ không có khả năng cung cấp tới cộng đồng, đạt được điểm trên chính trường và những điểm khác trong tiến trình thực hiện. 2.5 Hợp tác công - tư Điều kiện tiên quyết cho một số cách thức huy động vốn mà được đề cập trong học phần này là khả năng cộng tác làm việc của khu vực công và khu vực tư. Mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa những người liên quan sẽ được liên kết tới cạnh tranh, với những nước mà công việc gần với khu vực tư nhân thì thông thường được xem là cạnh tranh hơn. Nghiên cứu chỉ ra rằng các quốc gia với một môi trường kinh doanh tốt hơn sẽ có những đặc điểm sau đây: • Tỷ lệ tăng trưởng nhanh hơn khi đo bởi tổng sản phẩm quốc dân (GNP) • Có khả năng thu hút đầu tư hơn • Tỷ lệ nghèo đói giảm hơn • Đối thoại tốt hơn giữa khu vực công và tư Tuy nhiên, trong nhiều quốc gia có những sự khác nhau lớn giữa khu vực công và tư và điều này đã tạo nên những khó khăn, nếu không phải là không thể, trong việc hợp tác cùng nhau trong những công việc mà phục vụ những lợi ích chung của họ. Một trong những vấn đề lớn là thiếu sự đối thoại giữa hai bên. Điều này dẫn đến thiếu hiểu biết và ngăn cản hợp tác. Đối thoại là chìa khóa để phát triển mối quan hệ hợp tác làm việc khăng khít giữa khu vực công và tư. Đối thoại công – tư Quá trình đối thoại giữa hai bên tư nhân và nhà nước hay gọi tắt là đối thoại công - tư đã mở ra một phương thức để khuyến khích khu vực công và khu vực tư bàn luận những vấn đề liên quan chung và cuối cùng là làm việc cùng nhau. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 45
  45. Quan trọng hơn, đối thoại công tư là điều kiện đầu tiên và tiên quyết để xem xét các cơ chế đầu tư khác nhau như đầu tư nhờ sự hợp tác giữa công và tư. Không có sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công và tư trong quá trình sự hợp tác giữa công và tư, những cơ chế huy động vốn khác nhau này sẽ không xuất hiện. các nhà tài trợ khuyến khích các cuộc đối thoại công tư ở những quốc gia mà khu vực nhà nước và tư nhân không làm việc với nhau đủ chặt chẽ. Có mối liên quan chặt chẽ giữa thái độ kinh doanh của nhà nước và khả năng của đất nước trong khi làm việc với khu vực tư nhân. Các quốc gia nơi mà môi trường kinh doanh thân thiện (business-friendly) dựa trên nhiều đánh giá khác nhau như những đánh giá được công bố hàng năm trong báo cáo “làm kinh doanh – Doing business” được thực hiện bởi Ngân hàng thế giới được mong đợi là các thí sinh cho mô hình hợp tác mà có thể mang lại kết quả trong những giải pháp đầu tư khác nhau như PPP và các phương tiện đầu tư khác. Một vài yếu tố cản trở kinh doanh cũng sẽ cản trở cơ hội hợp tác làm việc với khu vực tư nhân. Những yếu tố này được tổng kết lại trong Hình 5. Hình 5. Các yếu tố cản trở chính trong kinh doanh (Nguồn: Benjamin Herzberg, “Engaging stakeholders through competitiveness partnerships” (presentation made at the International Workshop on PPD, Paris, France, 2006)) Các vụ án, trộm cắp, mất trật tự xã hội, 2% Tay nghề và việc đào tạo lao động, 5% Các chính sách điều tiết Hành động ngăn cản và chính sách kinh tế không chắc chắn, 23% cạnh tranh, 5% Hạ tầng, 9% Thuế, 17% Sự không ổn định trong kinh tế vĩ mô, 18% Tham nhũng, 10% Tài chính, 10% 46 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  46. Để xây dựng sự hợp tác làm vững chắc thêm những cơ chế huy động vốn khác nhau, cần phải có một sự cam kết giữa các bên. Đối thoại giữa nhà nước và tư nhân giúp xây dựng những thỏa thuận theo một phương pháp được kết cấu. Đối thoại giữa nhà nước và tư nhân thu hút việc phát triển những cơ chế để đưa các bên lại với nhau. Đầu tiên, các đối tác khu vực nhà nước đã nhận ra tầm quan trọng của PPP và quan trọng hơn là họ nhận ra lợi thế của việc hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân. Một Văn phòng hợp tác kinh doanh hay các phòng, ban tương đương trong Bộ thương mại hay các Bộ tương đương có thể được tạo ra để nghiên cứu sâu hơn về khu vực tư nhân, những mối quan tâm hay khó khăn mà họ phải đối mặt khi triển khai kinh doanh. Về phần mình, các đối tác tư nhân có thể sắp xếp theo các nhóm ngành công nghiệp và tạo ra các nhóm làm việc nhỏ hơn đại diện cho những vấn đề liên quan đến lĩnh vực của họ, (ví dụ như hiệp hội của người lao động, hiệp hội ngành, nhóm thương mại). Việc lập nhóm của khu vực tư nhân có thể được che trở bởi Phòng thương mại và công nghiệp hay các phòng, ban tương đương. Một số những cơ chế được sử dụng để đưa nhà nước và tư nhân đến gần với nhau như: • Diễn đàn quốc gia; • Nhóm làm việc; • Những sáng kiến ở địa phương, khu vực như các hội chợ, các triển lãm, các hội nghị bàn tròn; • Những hoạt động được sự ủng hộ của nhà nước thu hút khu vực tư nhân; • Những hội đồng đầu tư để đưa các nhà đầu tư và Chính phủ đến với nhau và bàn thảo về các ý tưởng và các cơ hội. • Những thỏa thuận hợp tác yêu cầu chặt chẽ về mặt thời gian dưới hình thức những thỏa thuận đã được thương lượng giữa nhà nước và tư nhân về các vấn đề liên quan chung, bao gồm các thỏa thuận để thực hiện những cải cách kinh tế. Một ví dụ của nó là “Sáng kiến máy ủi” - ‘Bulldozer Initiative’ của Bosnia để thông qua “50 cải cách kinh tế trong 150 ngày”. Nhiệm vụ cao cả giao phó cho sáng kiến này tạo ra một ý thức khẩn trương và đà từ khi khởi đầu. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 47
  47. Sự hỗ trợ của các nhà tài trợ, các doanh nghiệp kinh doanh lớn và Chính phủ cùng những nhà lãnh đạo nhà nước là quan trọng. Dựa vào tầm quan trọng trong việc kết hợp khối nhà nước và tư nhân hợp tác làm việc chặt chẽ với nhau thì sẽ không khó để đảm bảo sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế. Một đội chuyên môn hay một khu vực thực hành đã nổi lên quanh những cuộc đối thoại nhà nước và doanh nghiệp. Những nguồn hữu ích có thể tìm trên trang web Một vài câu hỏi suy nghĩ Chia thành các nhóm từ 4-8 người và thảo luận về các vấn đề dưới đây: 1. Khu vực nhà nước hợp tác với khu vực tư nhân như thế nào ở nước bạn? 2. Khu vực nhà nước và tư nhân hiểu về nhau như thế nào? 3. Có hay không những lĩnh vực mà khu vực tư nhân hợp tác chặt chẽ với khu vực nhà nước hơn trong những lĩnh vực khác? 4. Có thể làm gì để cổ vũ sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa nhà nước và tư nhân? 48 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  48. 3. HỢP TÁC CÔNG – TƯ (PPP) Phần này nhằm mục đích: • Làm rõ về hợp tác giữa nhà nước – tư nhân và các mô hình hợp tác khác nhau giữa nhà nước – tư nhân; • Thảo luận về ưu và nhược điểm của mô hình hợp tác giữa nhà nước – tư nhân; • Phác thảo những nguyên tắc triển khai mô hình hợp tác giữa nhà nước – tư nhân. 3.1 Bối cảnh16 Việc xây dựng các công trình công cộng sử dụng vốn tư nhân đã được thực hiện từ thời xa xưa. Những điều luật nhượng quyền chính thức đã tồn tại từ những năm 530 sau công nguyên. Ở Châu Âu vào thế kỷ 16 và 17, những công trình công cộng như xây dựng kênh, lát đường, thu gom rác thải, chiếu sáng công cộng, phân phối thư tín và vận tải công cộng đã được các quốc vương quyết định trao cho các nhà đầu tư tư nhân.17 Trong những năm gần đây, việc để khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng đã tăng lên trông thấy và được xem như một cách để tiết kiệm tiền cho Chính phủ trong khi vẫn cung cấp được các dịch vụ tốt hơn. Vào năm 1992, Vương quốc anh đã rơi vào suy thoái và phải chấp nhận sự sụp đổ của hạ tầng công cộng. Kho bạc nhà nước không có sẵn tiền và nhà nước lúc đó đã không muốn tăng thuế. Để vực dậy nền kinh tế, một khoản đầu tư lớn từ khu vực tư nhân đã được đề xuất. Bằng việc thu hút khu vực tư nhân để cung cấp các dịch vụ công cộng, có thể thu được những lợi ích sau đây: 16 Phần này được rút ra từ một báo cáo mang tên "Bối cảnh Nghiên cứu về Quan hệ đối tác công tư (PPPs) trong Chính phủ điện tử" đã được chuẩn bị bởi Richard Labelle trong hợp đồng của Công ty tư vấn Atos của London khi thực hiện dự án tại Mông Cổ năm 2007. Báo cáo là một nỗ lực tập thể và phản ánh sự đóng góp của các thành viên khác, đặc biệt là Rahzeb Chowdury của Atos ở London. Tác giả muốn cảm ơn Atos cho phép sao chép các phần của báo cáo ở đây. 17 H.K. Yong and Windhu Hidranto, “My Say: Private finance in public works,” The EdgeDaily, 21/2/2006, Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 49
  49. • Khả năng chi tiêu của nhà nước sẽ tăng lên; • Những rủi ro có thể được chuyển sang cho khu vực tư nhân; • Có thể đạt được việc tăng giá trị của đồng tiền.18 Sự nỗ lực được chứng minh thành công và từ đó, Chính phủ Anh đã sử dụng mô hình hợp tác giữa nhà nước – tư nhân để huy động một phần lớn trong các dự án công cộng. Chính phủ của Thủ tướng Blair đã nhận định sáng kiến tài chính tư nhân – PFI (tức là nhà nước chỉ lập kế hoạch và giám sát, còn giao toàn bộ việc thiết kế, xây dựng, tài chính và vận hành đều giao cho tư nhân) - như một phương thức để các nhà thầu tư nhân trả chi phí xây dựng và sau đó họ sẽ cho nhà nước thuê lại các dự án đã hoàn thiện. Điều này cho phép Chính phủ xây dựng thêm các bệnh viện mới, các trường học mới và nhà tù mới mà không cần phải tăng thuế. Về phía mình, nhà thầu được phép giữ bất kỳ khoản tiền mặt còn lại nào sau quá trình thiết kế và xây dựng thêm vào khoản tiền cho thuê”19. Chính phủ Anh đã tham gia 620 dự án hợp tác giữa nhà nước – tư nhân trị giá 60 tỷ euro, và 450 dự án vẫn đang hoạt động. Lúc đầu, những dự án được đầu tư vốn hầu như để xây dựng hạ tầng. Điều này đã thay đổi một chút khi các dịch vụ cũng được thực hiện bởi các đối tác trong khu vực tư nhân thông qua đấu thầu và thỏa thuận hợp đồng hợp tác nhà nước và tư nhân. Quan điểm cho rằng khu vực tư nhân có thể mang lại những lợi ích to lớn để cung cấp đầu tư công cộng đã trở nên thịnh hành ở một số quốc gia. Theo Hội đồng hợp tác công - tư Canada, số lượng của hợp tác giữa nhà nước – tư nhân cho các dự án phát triển hạ tầng tăng lên mạnh mẽ ở Châu Á, Châu Úc và Châu Âu. Nước Anh đã áp dụng mô hình hợp tác giữa nhà nước – tư nhân thành công hơn 17 năm, trong khi đó Úc đã làm hơn 10 năm nay. Hợp tác giữa nhà nước – tư nhân cũng rất hữu ích với hạ tầng ở quy mô nhỏ hơn và cung cấp dịch vụ. Ở Ấn Độ, hợp tác giữa nhà nước – tư nhân đã được công nhận khi trở thành cơ chế cung cấp thành công cho rất nhiều dịch vụ công ở mức độ địa phương và cộng đồng, bao gồm cả ở mức độ làng xã. “Trong rất nhiều dự án của Ấn Độ phát triển phần mềm, đào tạo, nhập liệu, lưu trữ thủ công và duy trì đã được giao cho khu vực tư nhân. Bhatnagar cũng báo cáo rằng những công ty tư nhân đã nhận được hợp đồng để “phát triển ứng dụng Chính phủ điện tử như một sản phẩm”. Trong một số trường hợp, những dịch vụ này có thể được kết hợp với việc thiết lập và hoạt động thương mại của phương tiện truy nhập công cộng và cộng đồng mà cung cấp cả dịch vụ viễn thông tư nhân cũng như công cộng. 18 Tóm lược từ tài liệu của M. Rathbone, "Tổng quan về quan hệ hợp tác công tư" (Bài trình bày phục vụ cho Chính phủ Brunei, 2006). 19 BBC News, "Quan hệ hợp tác công tư là gì" 12/2/2003, 50 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  50. Hơn bao giờ hết, nhà nước không thể duy trì hạ tầng và không thể đủ sức để xây dựng hạ tầng mới với ngân sách nhà nước hạn chế. Trong một nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc lẫn nhau trong đó tăng lên những tiêu dùng thuộc công khố có tác động trực tiếp đến các hoạt động kinh tế vĩ mô và cạnh tranh, nhà nước thường không thể tăng thuế vì mục tiêu này. Hình thức hợp tác nhà nước và tư nhân càng được xem như một cách để đáp ứng nhu cầu cải thiện hạ tầng và dịch vụ công cộng với mức chi phí trực tiếp được hạn chế với ngân sách nhà nước. Hơn nữa, nhiều Chính phủ nhận ra rằng việc thiết lập phí sử dụng các dịch vụ công cộng là rất quan trọng để hạn chế sự sử dụng. Một ví dụ cho việc này là việc sử dụng hạ tầng đường xá. Thông thường, người tham gia giao thông khi phải trả phí cho việc sử dụng đường sẽ thay vì việc trả phí này mà giảm nhu cầu của mình và tắc nghẽn giao thông vì thế cũng sẽ giảm. Số tiền thu được tăng lên cũng là một lợi thế - dưới dạng giá trị tài chính được kết hợp với việc cung cấp các dịch vụ và hạ tầng công cộng. Việc kêu gọi nhà nước bán hoặc cho tư nhân thuê những nguồn lực này dưới một dạng hợp đồng hợp tác giữa nhà nước – tư nhân vì thế mà trở nên thu hút hơn. Việc kéo các nhà đầu tư tham gia có nhiều lợi thế khác. Theo Price water house Coopers, một công ty tư vấn quản lý, chúng bao gồm: • Toàn bộ chi phí cho vòng đời sản phẩm – một phương pháp đánh giá hay so sánh các vật liệu xây dựng và các cấu thành bằng việc xem xét chi phí cài đặt, vòng đời, chi phí hoạt động và bảo trì; • Các kỹ năng quản lý đổi mới khác; • Chuyển giao rủi ro; • Đồng vận trong thiết kế, xây dựng, hoạt động; • Tạo ra nhiều tác dụng khác. 3.2 Khái niệm và phân loại Hội đồng hợp tác giữa nhà nước – tư nhân Canađa định nghĩa hợp tác giữa nhà nước – tư nhân là: cùng thực hiện công việc giữa nhà nước và tư nhân, được xây dựng dựa trên chuyên môn của mỗi bên để đáp ứng tốt nhất những nhu cầu đã được chỉ rõ của cộng đồng thông qua sự phân phối hợp lý các nguồn lực, các rủi ro và các kết quả. Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 51
  51. World Bank định nghĩa: Sự hợp tác giữa nhà nước – tư nhân là một nỗ lực hợp tác được duy trì giữa khu vực công (các cơ quan nhà nước) và các doanh nghiệp tư nhân để đạt được một mục đích chung (ví dụ như dự án đường xá) trong khi vẫn theo đuổi lợi ích riêng của các bên. Hợp tác giữa nhà nước – tư nhân là hiện thân cho cách tiếp cận mới lạ trong việc thực hiện và quản lý dự án. Nó được xem như là một cách thức có tiềm năng lớn và mới lạ để đối phó với những yêu cầu và nhược điểm của sự hỗ trợ phát triển quốc tế, miễn là những yêu cầu và những nguy cơ tiềm ẩn được nhận ra và được sẵn sàng đối phó. Có rất nhiều loại hình hợp tác giữa nhà nước – tư nhân và chúng có thể đóng những vai trò khác nhau trong vòng đời dự án. Một vài loại hình hợp tác khác nhau giữa nhà nước – tư nhân được nhóm lại bằng những mục nhỏ dưới đây: Hạ tầng kinh tế • Các công trình xử lý cấp, thoát nước • Các lò hỏa táng • Các đường cao tốc và các trạm thu phí cầu đường • Hệ thống nhà máy năng lượng và khí đốt Hạ tầng xã hội: • Phương tiện giáo dục, những trường bách khoa • Bệnh viện • Bộ Quốc phòng: • Tòa nhà cơ quan nhà nước • Cơ sở thể thao • Các công trình hạ tầng công nghệ thông tin chính Cũng có những hình thức hợp tác giữa nhà nước – tư nhân để cung cấp các dịch vụ. 52 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  52. Bảng 2. Bảng liệt kê những công việc sử dụng những hình thức hợp tác công – tư khác nhau Nguồn: World Economic Forum, Building on the Monterrey Consensus: The Growing Role of Public-Private Partnerships in Mobilizing Resources for Development (Geneva: World Economic Forum, 2005), 24, Loại hình Vai trò của Mục tiêu chính của PPP PPP khu vực tư Cải Nghiên Thiết Cung Xây Giám nhân cách cứu và kế và cấp dựng sát khung phát xây dịch năng lực thực pháp lý triển dựng vụ con hiện sản người và phẩm cơ quan Nhà đầu tư Người được tư nhân nhượng độc quyền, BOT Nhà cung Nhà thầu ứng Thiết kế và Nhà thầu xây dựng Nhà khai Nhà thầu thác Nhiều bên Tham gia/ tham gia đồng đầu tư thực hiện Tập thể từ Tài trợ/ thiện Đồng đầu tư Liên minh Ủng hộ kinh doanh Thực hiện PPP Khu vực đổi thông thường mới PPP Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 53
  53. Hợp đồng PPP giống như một hình thức nhượng quyền PPP đại khái là một hợp đồng của hình thức nhượng quyền, ở khía cạnh nào đó những hồ sơ nhượng quyền chỉ ra quyền, đặc quyền, và những nghĩa vụ của nhà đầu tư tư nhân. Những điều khoản nhượng quyền, theo nghĩa rộng hơn, thường được sử dụng để thể hiện bất kỳ dạng thỏa thuận nào mà nhà nước đã chỉ định quyền cung cấp một dịch vụ đặc biệt trong những điều kiện quyền lực thị trường có ý nghĩa. Sự nhượng quyền được đấu thầu theo quy trình mở thầu với các hoạt động được chấp nhận trong đấu thầu công khai. Như vậy, những sự nhượng quyền trong hoàn cảnh này bao gồm, những hợp đồng BOO (Xây dựng – sở hữu – vận hành), hợp đồng BOT (Xây dựng – vận hành – chuyển giao), hợp đồng quản lý và dịch vụ, cho thuê. Về mặt điều kiện quyền lực thị trường, việc lựa chọn những mô hình này là trong điều kiện thị trường cung ứng của một dịch vụ là độc quyền tự nhiên. Các cơ sở hạ tầng như cầu cảng, sân bay và những ngành dựa trên hệ thống dẫn như điện và khí đốt là những ví dụ cổ điển của các lĩnh vực được đặc trưng bởi cung cấp độc quyền tự nhiên trong một số các phân đoạn của nó. Các mức độ hợp tác công – tư Hợp tác giữa nhà nước – tư nhân có thể được xem xét trong một chuỗi liên tục các mức độ cung cấp dịch vụ giữa nhà nước và tư nhân. Hình 6 chỉ ra chuỗi các mức độ từ những hợp đồng đơn giản đến mức độ hoàn toàn tư nhân hóa trong việc cung cấp các dịch vụ công. Trong hình vẽ này, sự tham gia của khu vực tư nhân được đánh giá tăng dần từ trái sang phải. 54 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  54. Hình 6. Chuỗi các mức độ tham gia của khu vực tư nhân trong mô hình PPP (Nguồn: World Bank, Toolkit for Public Private Partnerships in Highways: Choosing the right PPP option (2002), and Hợp tác công - tư HĐ nhượng Nhượng Hợp đồng quyền Xây Hợp đồng quyền vận Hoàn toàn tư công việc dựng – Vận quản lý và hành và nhân hóa và dịch vụ hành – Chuyển duy trì bảo trì giao Thấp Cao Mức độ tham gia của khu vực tư nhân PPP có hai hình thức cơ bản: Nhượng quyền vận hành và nhượng quyền đầu tư. Ở mô hình nhượng quyền vận hành, nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu với công trình công cộng mà được sử dụng để cung cấp các dịch vụ. Trong nhượng quyền đầu tư, khu vực tư nhân chịu trách nhiệm cung cấp vốn và vận hành các công trình. Nhượng quyền có thể được dùng cho cả các dự án đầu tư cho hạ tầng đã có sẵn hay các dự án hoàn toàn mới (hay còn gọi là “Nhượng quyền cánh đồng xanh”). Những nghĩa vụ đầu tư của người được nhượng quyền sẽ được bao hàm trong thỏa thuận chuyển nhượng, và có thể được chỉ rõ cả về các khoản tiền cũng như các điều khoản về số lượng, ví dụ như các nghĩa vụ cung cấp dịch vụ tới một số lượng người tiêu thụ mới xác định. Những nghĩa vụ về vận hành bao gồm một cách đặc trưng những tiêu chuẩn thực hiện, phần tiền kiếm được của bên được nhượng quyền sẽ phụ thuộc vào những khoản phí sử dụng mà gắn liền với (như đã được chỉ rõ trong hợp đồng) chất lượng, sự sẵn sàng và mức độ thỏa mãn mang đến cho người sử dụng. Trong mô hình này thì cả rủi ro vận hành và rủi ro đầu tư phần lớn đều chuyển sang khu vực tư nhân. PPP được nhóm theo các phân loại dưới đây: Học phần 8 Các hình thức huy động vốn đầu tư cho dự án CNTT&TT phục vụ phát triển 55
  55. 1. Các hợp đồng dịch vụ Đây là một loại hình thỏa thuận cổ điển trong việc cung cấp hàng hóa dịch vụ. Những nguồn vốn được chỉ định để thực hiện những công việc được xác định trước, một hợp đồng được thảo ra và người thắng thầu được chọn để thực hiện những công việc được yêu cầu. Trong tình huống này, cơ quan nhà nước trả cho nhà thầu theo chất lượng của sản phẩm được bàn giao dựa trên các điều khoản định rõ đã cấu thành. Khách hàng là cơ quan nhà nước vẫn giữ tất cả quyền thiết kế, quyền ra quyết định, cũng như quyền sở hữu và kiểm soát các hoạt động cho đến khi dự án được hoàn thành. Đây thường không được xem như là một PPP vì có rất ít rủi ro và nó là một cách thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của khu vực nhà nước. Tuy nhiên, những mối quan hệ làm việc gần gũi với khu vực tư nhân có thể được thiết lập dựa trên nền tảng của số lượng lớn các thỏa thuận cung cấp hay các hợp đồng thuê ngoài các dịch vụ và hàng hóa và đây có thể là nền tảng mà trên đó PPP có thể phát triển. 2. Hợp đồng quản lý và duy trì Đây là một thỏa thuận chuyển nhượng vận hành mà khu vực tư nhân có thỏa thuận quản lý hay duy trì một tiện ích hay một dịch vụ công, ví dụ như một công ty hợp đồng cung cấp dịch vụ chuyên trợ giúp về sử dụng và vận hành các phần cứng và phần mềm trong lĩnh vực CNTT&TT. 3. Nhượng quyền vận hành và duy trì Trong kịch bản này, các doanh nghiệp tư nhân đã được lựa chọn sẽ nhận được một sự nhượng quyền để vận hành và duy trì dịch vụ công. Cơ quan nhà nước tiếp tục sở hữu dịch vụ và nhượng lại việc vận hành cho nhà cung cấp tư nhân thường là trong một khoảng thời gian xác định. Có hai hình thức: Hợp đồng quản lý và duy trì, và cho thuê vận hành và duy trì. Đây là một mẫu khác của hình thức nhượng quyền vận hành. 56 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước