Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 4: Xu hướng Công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo cơ quan nhà nước

pdf 130 trang ngocly 70
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 4: Xu hướng Công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo cơ quan nhà nước", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_nhung_kien_thuc_co_ban_ve_cong_nghe_thong_tin_va.pdf

Nội dung text: Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 4: Xu hướng Công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo cơ quan nhà nước

  1. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước Rajnesh D. Singh ICS TRUNG TÂM ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CÁN BỘ QUẢN LÝ THÔNG TIN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ TRUYỀN THÔNG
  2. LỜI GIỚI THIỆU Thế kỷ 21 đã đánh dấu sự tác động lẫn nhau của con người trên toàn cầu. Thế giới đang mở ra cơ hội cho hàng triệu người nhờ công nghệ mới, những thông tin và kiến thức thiết yếu được mở rộng đã cải thiện một cách đáng kể cuộc sống của con người và giúp giảm cảnh nghèo nàn. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi có sự liên kết cùng với việc chia sẻ giá trị, cùng cam kết và thống nhất sự phát triển tổng thể và phù hợp. Trong những năm gần đây, Châu Á Thái Bình Dương được biết đến như khu vực năng động nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Thế giới, khu vực này đã có trên 2 tỷ thuê bao điện thoại, trong đó có 1,4 tỷ thuê bao di động. Tinh đến năm 2008, chỉ riêng Ấn Độ và Trung Quốc đã chiếm ¼ số lượng thuê bao di động trên toàn thế giới. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương được cho là chiếm 40% số lượng người sử dụng internet trên thế giới và đồng thời là thị trường băng rộng lớn nhất, chiếm 39% thị trường toàn cầu. Cùng với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ, nhiều vấn đề được nhắc đến khi khoảng cách số biến mất. Nhưng điều đáng tiếc, khoảng cách số vẫn hiện hữu. Thậm chí 5 năm, sau khi Hội nghị Thế giới về Xã hội thông tin (WSIS) diễn ra ở Geneva vào năm 2003, bất chấp sự phát triển ấn tượng của công nghệ và những cam kết của các nước lớn trong khu vực. Kết quả là truy nhập truyền thông cơ bản vẫn còn xa lạ với nhiều người, đặc biệt là những người nghèo. Hơn 25 quốc gia trong khu vực gồm những nước đang phát triển, đã có gần 10 người sử dụng internet trên 100 dân, phần lớn tập trung ở các thành phố lớn. Trong khi đó ở một vài nước đã phát triển trong khu vực thì tỉ lệ rất cao với hơn 80 người sử dụng internet trên 100 dân. Sự chênh lệch về mức độ phổ cập băng rộng giữa các nước phát triển và đang phát triển vẫn còn giữ một khoảng cách lớn. Để giảm dần khoảng cách số và nhận diện đúng tiềm năng của ICT cho phát triển kinh tế xã hội trong khu vực, những nhà lập pháp ở các nước phát triển cần xây dựng các chính sách ưu tiên và khung điều chỉnh, chỉ định nguồn quỹ, và tạo điều kiện cho xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp ICT và nâng cao kỹ năng ICT cho công dân nước họ. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 3
  3. Trong Kế hoạch Hành động của WSIS có chỉ rõ, " mỗi người sẽ có cơ hội tiếp cận những kỹ năng và kiến thức cần thiết để hiểu, thực hành và đạt được những lợi ích từ Xã hội Thông tin và Kinh tế Tri thức". Trong phần cuối của kế hoạch này đã kêu gọi sự hợp tác quốc tế và khu vực trong những lĩnh vực có tiềm năng, đặc biệt nhấn mạnh vào việc tạo tập một số lượng lớn các chuyên gia ICT. Để hỗ trợ tốt cho lời kêu gọi từ Kế hoạch hành động của WSIS, APCICT đã xây dựng chương trình giảng dạy đầy đủ về ICT – Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước. Chương trình này bao gồm 8 phần có liên kết chặt chẽ với nhau, với mục tiêu truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết giúp các nhà lập pháp xây dựng và thi hành sáng kiến ICT hiệu quả hơn. APCICT là một trong 5 học viện của Ủy ban Kinh tế Xã hội Liên hợp quốc Châu Á Thái Bình Dương. APCICT xúc tiến chương trình phát triển kinh tế xã hội phù hợp và toàn diện ở Châu Á Thái Bình Dương thông qua việc phân tích, chuẩn hóa, khai thác tiềm năng, hợp tác khu vực và chia sẻ kiến thức. Trong quá trình hợp tác với các cơ quan Liên hợp quốc khác, các tổ chức quốc tế, các quốc gia và những tổ chức liên quan, ESCAP, đại diện là APCICT, được giao nhiệm vụ hỗ trợ việc sử dụng, cải tiến và dịch thuật các bài giảng cho các quốc gia khác nhau, phù hợp với các trình độ trung và cao cấp của các nhân viên trong cơ quan nhà nước, với mục đích đưa kỹ năng và kiến thức thu thập được làm gia tăng những lợi ích từ ICT và thiết lập những hành động cụ thể để đạt được mục tiêu phát triển. Noeleen Heyzer TL. Tổng Thư ký Liên hợp quốc và Giám đốc điều hành của ESCAP 4 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  4. LỜI TỰA Chặng đường phát triển của Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT&TT) cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước thực sự là một kinh nghiệm mang tính trí tuệ cao. Bộ giáo trình không chỉ phục vụ cho việc xây dựng các kỹ năng CNTT&TT, mà còn mở đường cho một phương thức mới về xây dựng chương trình giảng dạy - thông qua sự hợp tác của các thành viên và tự chủ về quy trình. Bộ giáo trình là một chương trình mang tính chiến lược của APCICT, phát triển trên cơ sở kết quả khảo sát đánh giá nhu cầu một cách toàn diện được tiến hành trên 20 nước trong khu vực và sự tham khảo ý kiến của các nhân viên thuộc cơ quan nhà nước, thành viên các cơ quan phát triển quốc tế, các viện hàn lâm và cơ sở giáo dục; những nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng về điểm mạnh và điểm yếu của giáo trình đào tạo; thông tin phản hồi từ những người tham gia xây dựng chuỗi bài giảng của APCICT – tổ chức các buổi hội thảo khu vực và quốc gia liên quan đến nội dung bài giảng và các phương pháp đào tạo khoa học; và sự trao đổi góp ý thẳng thắn của các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực ICT phục vụ phát triển. Các hội thảo về giáo trình diễn ra ở các khu vực thu được những lợi ích vô giá từ các hoạt động trao đổi kinh nghiệm và kiến thức giữa những người tham dự đến từ các quốc gia khác nhau. Đó là một quy trình để các tác giả xây dựng nội dung. Việc xây dựng 8 học phần trong bộ giáo trình đánh dấu một sự khởi đầu quan trọng trong việc nâng cao sự hợp tác ở hiện tại và xây dựng các mối liên hệ mới nhằm phát triển các kỹ năng thiết lập chính sách phát triển CNTT&TT khắp khu vực. APCICT cam kết cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật trong việc giới thiệu bộ giáo trình quốc gia như một mục tiêu chính hướng tới việc đảm bảo rằng bộ giáo trình sẽ được phổ biến tới tất cả những nhà lập pháp. APCICT cũng đang xúc tiến một cách chặt chẽ với một số viện đào tạo trong khu vực và quốc tế, những tổ chức có mối quan hệ mật thiết với cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương để cải tiến, dịch thuật và truyền đạt các nội dung của Giáo trình tới những quốc gia có nhu cầu. APCICT đang tiếp tục mở rộng hơn nữa về đối tượng tham gia nghiên cứu giáo trình hiện tại và kế hoạch phát triển một giáo trình mới. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 5
  5. Hơn nữa, APCICT đang xúc tiến nhiều kênh để đảm bảo rằng nội dung Bộ giáo trình đến được nhiều người học nhất trong khu vực. Ngoài phương thức học trực tiếp thông qua các tổ chức lớp học ở các khu vực và quốc gia, APCICT cũng tổ chức các lớp học ảo (AVA), phòng học trực tuyến cho phép những học viên tham gia bài giảng ngay tại chỗ làm việc của họ. AVA đảm bảo rằng tất cả các phần bài giảng và tài liệu đi kèm cũng như bản trình chiếu và bài tập tình huống dễ dàng được truy nhập trực tuyến và tải xuống, sử dụng lại, cải tiến và bản địa hóa, và nó bao gồm nhiều tính năng khác nhau như bài giảng ảo, công cụ quản lý học tập, công cụ phát triển nội dung và chứng chỉ. Việc xuất bản và giới thiệu 8 học phần của bộ giáo trình thông qua các buổi hội thảo khu vực, tiểu khu vực, quốc gia có sự tận tâm cống hiến, tham gia tích cực của nhiều cá nhân và tổ chức. Tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ lòng cảm ơn những nỗ lực và kết quả đạt được của nhóm cộng tác và các đối tác từ các Bộ, ngành, học viện, và các tổ chức khu vực và quốc gia đã tham gia hội thảo về bộ giáo trình. Họ không chỉ cũng cung cấp những thông tin đầu vào có giá trị, phục vụ nội dung của bài giảng, mà quan trọng hơn, họ đã trở thành những người ủng hộ việc truyền đạt bộ giáo trình trên đất nước mình, tạo ra kết quả là những thỏa thuận chính thức giữa APCICT và một số viện đối tác của các quốc gia và trong khu vực để cải tiến và phát hành bài giảng giáo trình chính thức cho đất nước họ. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt cho những nỗ lực cống hiến của nhiều cá nhân nổi bật, những người đã tạo nên thành quả cho bài giảng này. Họ là Shahid Akhtar Cố Vấn Dự án Giáo trình; Patricia Arinto, Biên tập; Christine, Quản lý xuất bản; toàn bộ tác giả bộ giáo trình; và những nhóm APCICT. Chúng tôi hy vọng rằng bộ giáo trình sẽ giúp các quốc gia thu hẹp được những hạn chế của nguồn nhân lực CNTT&TT, xóa bỏ những rào cản nhận thức về CNTT&TT, và xúc tiến ứng dụng CNTT&TT trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và đạt được mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ. Hyeun-Suk Rhee Giám đốc UN-APCICT 6 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  6. VỀ CHUỖI HỌC PHẦN Trong kỷ nguyên thông tin ngày nay, việc truy cập thông tin một cách dễ dàng đang làm thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và giải trí. Nền kinh tế số - còn được gọi là kinh tế tri thức, kinh tế mạng hay kinh tế mới, được mô tả như một sự chuyển tiếp từ sản xuất hàng hóa sang tạo lập ý tưởng. Công nghệ thông tin và truyền thông đang đóng một vai trò quan trọng và toàn diện trên mọi mặt của kinh tế xã hội. Như một kết quả, chính phủ trên khắp thế giới đang quan tâm nhiều hơn tới CNTT&TT trong sự phát triển quốc gia. Đối với các nước, phát triển CNTT&TT không chỉ phát triển về công nghiệp CNTT&TT là một lĩnh vực của nền kinh tế mà còn bao gồm cả việc ứng dụng CNTT&TT trong hoạt động kinh tế, xã hội và chính trị. Tuy nhiên, giữa những khó khăn mà chính phủ các nước phải đối mặt trong việc thi hành các chính sách CNTT&TT, những nhà lập pháp thường không nắm rõ về mặt công nghệ đang sử dụng cho sự phát triển quốc gia. Cho đến khi không thể điều chỉnh được những điều họ không hiểu, nhiều nhà lập pháp né tránh tạo lập các chính sách về CNTT&TT. Nhưng chỉ quan tâm tới công nghệ mà không tạo lập các chính sách thì cũng là một sai lầm vì những nhà công nghệ thường ít có kiến thức về thi hành những công nghệ họ đang phát triển hoặc sử dụng. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước do Trung tâm Đào tạo Phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Liên hợp quốc và Châu Á Thái Bình Dương (UN-APCICT) xây dựng nhằm phục vụ cho: 1. Các nhà hoạch định chính sách về CNTT&TT cả ở mức độ quốc gia và địa phương; 2. Quan chức chính phủ chịu trách nhiệm về phát triển và thi hành các ứng dụng của CNTT&TT; 3. Những nhà quản lý trong lĩnh vực công đang tìm kiếm chức danh quản lý dự án về CNTT&TT. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 7
  7. Bộ giáo trình hướng đến những vấn đề liên quan tới CNTT&TT phục vụ phát triển trên cả khía cạnh chính sách và công nghệ. Mục đích cốt yếu của giáo trình CNTT&TT không tập trung vào kỹ thuật mà truyền đạt sự hiểu biết về những điều công nghệ số có khả năng hoặc đang hướng tới, tác động tới như thế nào trong việc hoạch định chính sách. Các chủ đề trong bài giảng được thiết kế dựa trên phân tích nhu cầu và khảo sát những chương trình đào tạo trên khắp thế giới. Học phần được cấu tạo theo cách mà người học có thể tự học một cách độc lập hoặc bài giảng cho một khóa học. Học phần vừa mang tính chất riêng lẻ nhưng cũng liên kết với những chủ đề và tình huống thảo luận trong phần khác của chuỗi. Mục tiêu là tạo được sự thống nhất ở tất cả các phần. Mỗi phần bắt đầu với việc trình bày một chủ đề và kết quả mà người đọc sẽ thu được. Nội dung các phần được chia thành các mục bao gồm bài tập và tình huống để giúp hiểu sâu hơn những nội dung chính. Bài tập có thể được thực hiện bởi từng cá nhân hoặc một nhóm học viên. Biểu đồ và bảng biểu được cung cấp để minh họa những nội dung của buổi thảo luận. Tài liệu tham khảo được liệt kê để cho người đọc có thể tự tìm hiểu sâu hơn về bài giảng. Việc sử dụng CNTT&TT phục vụ phát triển rất đa dạng, trong một vài tình huống hoặc thí dụ ở bài giảng có thể xuất hiện những mâu thuẫn. Đây là điều đáng tiếc. Đó cũng là sự kích thích và thách thức của quá trình rèn luyện mới và cũng là triển vọng khi tất cả các nước bắt đầu khai thác tiềm năng của CNTT&TT như công cụ phát triển. Hỗ trợ chuỗi học phần còn có một phương thức học trực tuyến – Học viện ảo APCICT (AVA – – với phòng học ảo sẽ chiếu bản trình bày của người dạy dưới dạng video và Power Point của học phần. Ngoài ra, APCICT đã phát triển một kênh cho phát triển CNTT&TT (e-Co Hub – một địa chỉ trực tuyến dành cho những học viên phát triển CNTT&TT và những nhà lập pháp nâng cao kinh nghiệm học tập. E-Co Hub cho phép truy cập những kiến thức về các chủ đề khác nhau của phát triển CNTT&TT và cung cấp một giao diện chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, và hợp tác trong việc nâng cao CNTT&TT phục vụ phát triển. 8 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  8. HỌC PHẦN 4 Trong mấy thập kỷ qua, việc sử dụng hệ thống công nghệ thông tin đã tác động một cách toàn diện vào phương thức chúng ta sống, làm việc và giải trí. Thị trường và các mô hình kinh doanh mới nổi lên để hỗ trợ tiếp nhận, dự trữ, xử lý, phân tích và công bố thông tin, và điều này đang tiếp tục mở ra và thay đổi ở mức độ nhanh chóng. Các công ty công nghệ chiếm tỷ trọng thị trường chứng khoán toàn cầu tương đương với các công ty công nghiệp hàng hóa và truyền thống; và công nghệ thông tin đang tiếp tục được mong đợi như một phương thức mới để cải thiện điều kiện kinh tế xã hội và được coi như một công cụ để đạt được mục tiêu thiên nhiên kỷ (MDGs). Câu hỏi đặt ra là tất cả sự phát triển công nghệ này xuất phát từ đâu và được định hướng tới đâu? Học phần này sẽ cố gắng trả lời câu hỏi đó và cung cấp một vài vấn đề quan trọng trong xu hướng hiện tại và tương lai của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT). Nội dung bài giảng cũng sẽ xem xét một vài những đánh giá kỹ thuật và chính sách quan trọng khi đưa ra các quyết định phát triển CNTT&TT trong bối cảnh địa phương và khu vực. Mục tiêu của học phần Học phần này nhằm mục tiêu: 1. Cung cấp một số nét tổng quan về sự phát triển của CNTT&TT và vai trò của nó trong môi trường toàn cầu biến động ngày nay; 2. Miêu tả những công nghệ hiện tại và đang nổi lên và các ảnh hưởng của nó; 3. Miêu tả những thành phần chính của hạ tầng CNTT&TT, và những đánh giá về chính sách và công nghệ. Kết quả thu được Sau khi hoàn thành học phần này, học giả có thể: 1. Mô tả những công nghệ hiện tại và đang nổi lên và những ảnh hưởng của nó; 2. Miêu tả những thành phần chủ yếu của hạ tầng CNTT&TT; 3. Xác định những quan điểm chính sách và triển khai chính trong các quyết định phát triển hạ tầng CNTT&TT ở địa phương/quốc gia; 4. Miêu tả hiện trạng của hạ tầng, dự án và chương trình CNTT&TT trong điều kiện phát triển và xu hướng của công nghệ hiện tại, và những vấn đề chính sách liên quan. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 9
  9. MỤC LỤC Lời giới thiệu 3 Lời tựa 5 Về chuỗi học phần 7 Học phần 4 . 9 Mục tiêu của học phần 9 Kết quả thu được 9 Danh mục các trường hợp nghiên cứu 11 Danh mục các hình 12 Danh mục các bảng 12 Danh mục từ viết tắt 13 1. Đổi mới công nghệ: Phát triển băng rộng 17 1.1 Sự giới thiệu về kỷ nguyên thông tin 18 1.2 Khoảng cách số 21 1.3 Truy cập tới công nghệ thông tin và truyền thông . 25 1.4 Sự phát triển viễn thông . . 32 2. Khối nhà mạng 37 2.1 Giải pháp kết nối . 38 2.2 Thiết bị mạng . 41 3. Internet: Kỷ nguyên thông tin 47 3.1 Giới thiệu 48 3.2 Các yếu tố hạ tầng Internet 51 3.3 Ứng dụng Internet 58 3.4 Các tổ chức Internet . 67 3.5 Ipv6 . 74 3.6 Điện toán thế hệ tiếp theo . . 79 3.7 Băng rộng . 85 3.8 Khả năng tương tác 96 4. Kết nối tới tổ chức . 99 4.1 Xem xét về phần cứng . 100 4.2 Phần mềm miễn phí và nguồn mở (FOSS) 106 4.3 Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu .112 4.4 Quy trình phát triển phần mềm . 114 4.5 Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp 117 4.6 Mạng nội bộ Intranet . 119 10 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  10. Phụ lục 124 Phần đọc thêm . 124 Điểm lưu ý cho Giảng viên 126 Về tác giả 129 Danh mục các trường hợp nghiên cứu Tóm tắt công nghệ 1. Điện toán đám mây 19 2. Hội tụ thiết bị: Điện thoại của tôi là máy tính 35 3. Ethernet 43 4. VoIP: Internet như một phương tiện điện thoại 62 5. RFID 81 6. IPTV: Internet như phương tiện phát thanh truyền hình 87 7. Cáp cấu trúc 103 8. Phần mềm như một dịch vụ 116 9. Mạng riêng ảo để kết nối đa địa chỉ 121 Điểm nhấn 1. Vai trò của chính sách trong việc khắc phục khoảng cách số 29 2. Sử dụng điện thoại di động để giảm dần khoảng cách số 31 3. Cáp quang tới gia đình và cáp quang tới máy bàn 40 4. Mạng cáp phía Nam 45 5. Báo cáo lưu lượng Internet 58 6. Thư rác 59 7. Dự án SETI@home 84 8. AirJaldi: mạng vô tuyến ở Himalayas 94 9 Nội địa hóa và lợi thế của phần mềm nguồn mở 109 Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 11
  11. Danh mục các hình Hình 1. Ví dụ về hệ thống hoạt động trên nền tảng Web: Zimdesk 21 Hình 2. Tỷ lệ điện thoại trên 100 dân theo khu vực, 1994 – 2006 23 Hình 3. Truy cập tới thứ bậc CNTT&TT 25 Hình 4. Alexander Graham Bell nói vào trong chiếc điện thoại, 1876 33 Hình 5. Nokia E61i: một Smartphone hội tụ ở mức cao 35 Hình 6. Cáp viễn thông dưới biển SEA-ME-WE 38 Hình 7. Trạm vệ tinh mặt đất, Cộng hòa Kiribati 44 Hình 8. Mạng cáp phía Nam 45 Hình 9. Thuê bao Internet ở các khu vực và loại hình truy cập, 2006 49 Hình 10. Số lượng người sử dụng Internet trên thế giới tính đến 12/2007 50 Hình 11. Cấu tạo của một tên miền cơ bản 52 Hình 12. Máy chủ gốc ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương 55 Hình 13. Rạp hát Kodak, Los Angeles, Mỹ khi thể hiện trên Google Maps 61 Hình 14. Luồng cuộc gọi IP: Thiết bị IP đến thiết bị IP 63 Hình 15. Luồng cuộc gọi VoIP: Thiết bị IP tới PSTN 63 Hình 16. Luồng cuộc gọi VoIP: PSTN tới PSTN 64 Hình 17. Mô hình tổ chức ICANN 71 Hình 18. Phân phối Ipv6 – RIR tới LIR/ISP 76 Hình 19. Phân phối Ipv4 - RIR tới LIR/ISP 77 Hình 20. Mạng xã hội Facebook, 79 Hình 21. Trang web mạng Linkedln 80 Hình 22. µ-chip của Hitachi, một trong những thẻ RFID nhỏ nhất của thế giới, kich thước 0,4x0,4 mm 81 Hình 23. Đầu đọc thẻ Octopus ở một trạm MTR 82 Hình 24. RFID của Hitachi kích thước 0.05x0.05 mm, so sánh với sợi tóc của con người 83 Hình 25. Tivi Braun HF1, 1959 87 Hình 26. Truyền hình Bloomberg trực tiếp trên internet 88 Hình 27. Một đường ADSL điển hình 90 Hình 28. Một nút trong đường trục lưới vô tuyến Dharamsala 94 Hình 29. Mô hình cáp ISO/IEC 104 Hình 30. Kết nối an toàn tới máy chủ web sử dụng trình duyệt web 119 Hình 31 Ví dụ một VPN trên itnernet 121 Danh mục các bảng Bảng 1. Các tiêu chí về truy cập và hạ tầng CNTT&TT được đề xuất bởi Hợp tác đánh giá CNTT&TT phục vụ phát triển 24 Bảng 2. Cơ quan đăng ký internet khu vực 73 12 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  12. Danh mục từ viết tắt 3G Thế hệ thứ 3 Third Generation ADSL Đường dây thuê bao số bất đối xứng Asymmetric Digital Subscriber Line AM Điều biến về biên độ Amplitude Modulation APCICT Trung tâm đào tạo phát triển CNTT&TT Châu Á - Thái Bình Dương Asian and Pacific Training Centre for Information and Communication Technology for Development APNIC Trung tâm Thông tin mạng Châu Á – Thái Bình Dương Asia Pacific Network Information Centre ARPA Ban Dự án nghiên cứu phát triển Advanced Research Projects Agency ARPANET Liên hiệp Dự án nghiên cứu phát triển Advanced Research Projects Agency Network ccTLD Tên miền cao cấp mã quốc gia Country Code Top Level Domain CERN Tổ chức nghiên cứu hạt nhân Châu Âu European Organization for Nuclear Research CO Văn phòng Trung tâm Central Office CPE Thiết bị dân dụng Customer-Premises Equipment CPU Thiết bị xử lý trung tâm Central Processing Unit CRT Đèn chân không Cathode Ray Tube DBMS Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu Database Management System DNS Hệ thống tên miền Domain Name System DoS Từ chối dịch vụ Denial-of-Service DSL Đường dây thuê bao số Digital Subscriber Line DSLAM Bộ đa công đường dây thuê bao số Digital Subscriber Line Access Multiplexer DVD Đầu đĩa đa năng số hay Đầu đĩa video số Digital Versatile Disc or Digital Video Disc ERP Kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp Enterprise Resource Planning ESCAP Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình Dương Economic and Social Commission for Asia and the Pacific FDDI Giao diện dữ liệu phân phối sợi Fiber Distributed Data Interface FLOPS Truyền hoạt động điểm trên mỗi giây Floating point Operations Per Second Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 13
  13. FM Điều biến tần Frequency Modulation FOSS Phần mềm nguồn mở Free and Open Source Software FSF Nguồn gốc phần mềm nguồn mở Free Software Foundation FTP Giao thức truyền tệp File Transfer Protocol FTTD Kéo dây tới văn phòng Fibre to the Desktop FTTH Kéo dây tới gia đình Fibre to the Home GHz Gigahertz GIS Hệ thống thông tin địa lý Geographic Information System GSM Hệ thống truyền thông di động toàn cầu Global System for Mobile Communication gTLD Tên miền cấp cao chung Generic Top Level Domain LAN Mạng nội bộ Local Area Network IAB Ban kiến trúc Internet Internet Architecture Board IANA Cơ quan cấp số Internet Internet Assigned Numbers Authority ICANN Công ty cấp tên và đánh số Internet Internet Corporation for Assigned Names and Numbers ICT Công nghệ Thông tin và Truyền thông Information and Communication Technology IEEE Viện thiết kế điện và điện tử Institute of Electrical and Electronics Engineers IESG Ban chỉ đạo thiết kế Internet Internet Engineering Steering Group IETF Ban kỹ thuật Internet Internet Engineering Task Force IGF Diễn đàn điều hành Internet Internet Governance Forum IP Giao thức Internet Internet Protocol IPTV Truyền hình giao thức Internet Internet Protocol Television IPv4 Giao thức internet phiên bản thứ 4 Internet Protocol version 4 IPv6 Giao thức internet phiên bản thứ 6 Internet Protocol version 6 IRTF Cơ quan nghiên cứu Internet Internet Research Task Force ISOC Xã hội Internet Internet Society 14 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  14. ISP Nhà cung cấp dịch vụ Internet Internet Service Provider ITU Liên minh viễn thông thế giới International Telecommunication Union IXP Điểm trung chuyển Internet Internet Exchange Point LCD Màn hình tinh thể lỏng Liquid Crystal Display MAN Mạng khu vực đô thị Metropolitan Area Networks MDG Mục tiêu thiên nhiên kỷ Millennium Development Goal MHz Megahertz Megahertz MMS Dịch vụ tin nhắn đa phương tiện Multimedia Messaging Service NAP Điểm truy nhập mạng Network Access Point NAT Mã hóa địa chỉ Internet Network Address Translation NRO Tổ chức tài nguyên số Number Resource Organization NSFNet Mạng thiết lập khoa học quốc gia National Science Foundation Network OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Organisation for Economic Co-operation and Development PAN Mạng dùng riêng Personal Area Network PC Máy tính cá nhân Personal Computer PDA Thiết bị số cá nhân Personal Digital Assistant PSTN Mạng điện thoại chuyển mạch công cộng Public Switched Telephone Network RFC Yêu cầu đánh giá Request for Comment RFID Nhân dạng tần số vô tuyến Radio Frequency Identification RIR Đăng ký internet khu vực Regional Internet Registry SaaS Phần mềm như dịch vụ Software as a Service SCCN Mạng cáp phía Nam Southern Cross Cable Network SCS Mạng cáp cấu trúc Structured Cabling System SMS Dịch vụ tin nhắn ngắn Short Messaging Service sTLD Bảo trợ tên miền cấp cao Sponsored Top Level Domain Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 15
  15. TCO Tổng chi phí sở hữu Total Cost of Ownership TCP/IP Giao thức điều khiển truyền dẫn/giao thức Internet Transmission Control Protocol/Internet Protocol TLD Tên miền cấp cao Top Level Domain UN Liên hợp quốc United Nations UNCTAD Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc United Nations Conference on Trade and Development UPS Thiết bị lưu trữ điện Uninterruptible Power Supply USA Hợp chủng quốc Hoa Kỳ United States of America USB Chuẩn truyền dữ liệu cho thiết bị ngoại vi Universal Serial Bus UTP Cặp xoắn trần Unshielded Twisted Pair VoIP Thoại trên giao thức Internet Voice over Internet Protocol VPN Mạng riêng ảo Virtual Private Network W3C Cơ quan World Wide Web World Wide Web Consortium WAN Mạng diện rộng Wide Area Network Wi-Fi Wireless Fidelity WiMax Worldwide Interoperability for Microwave Access WLAN Mạng nội hạt vô tuyến Wireless Local Area Network WSIS Hội nghị Xã hội Thông tin Thế giới World Summit on the Information Society WWW World Wide Web 16 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  16. 1. ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ: PHÁT TRIỂN BĂNG RỘNG Mục này tập trung vào: • Mô tả các công nghệ chính đã hình thành nền công nghệ thông tin ngày nay; • Thảo luận những vấn đề liên quan đến khoảng cách số, và một vài phương pháp đánh giá nó từ hoàn cảnh thực tế về truy cập và hạ tầng; • Cung cấp những kiến thức cơ bản về truy cập công nghệ thông tin và truyền thông; • Phác thảo những quan điểm chính sách liên quan tới kế hoạch công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) quốc gia. Quan điểm chính sách Mục này xem xét những vấn đề dưới đây theo khía cạnh chính sách: • Thành lập Ban Chỉ đạo CNTT&TT quốc gia có nhiệm vụ đánh giá những những tiến bộ chủ yếu trong công nghệ và cung cấp các thông tin một cách kịp thời và phù hợp cho kế hoạch tổng thể quốc gia; • Xây dựng chiến lược CNTT&TT quốc gia trên cơ sở thu thập thông tin từ tất cả các đối tượng có liên quan, xác định xu hướng công nghệ toàn cầu và nhu cầu trong nước; • Những hoạt động thống kê để hỗ trợ kế hoạch và phát triển CNTT&TT; • Những nỗ lực điều chỉnh chính sách nhằm thúc đẩy tự do hóa thị trường và cạnh tranh, có sự cân đối giữa chi phí truy cập và dịch vụ dự phòng để đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ đáp ứng yêu cầu một cách hợp lý; • Xây dựng chính sách thông qua khảo sát các hình thức truy cập, đặc biệt là về tiềm năng của điện thoại và vùng phủ sóng di động. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 17
  17. 1.1 Sự giới thiệu về kỷ nguyên thông tin Trong vài thập kỷ gần đây, việc sử dụng hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) đã làm thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và giải trí. Những thị trường và doanh nghiệp mới đã nổi lên để hỗ trợ thu thập, dự trữ, quy trình, phân tích và công bố thông tin và điều này cũng đang tiếp tục để mở ra và phát triển với tốc độ nhanh chóng. Kinh tế công nghiệp truyền thông được chuyển dịch sang kinh tế tri thức, như Ấn Độ và Malaysia. Các công ty công nghệ đang chiếm một tỷ lệ tương đương với các ngành công nghiệp hàng hóa truyền thống trên thị trường chứng khoán toàn cầu, và CNTT đang tiếp tục được trông đợi như một phương thức mới để cải thiện điều kiện kinh tế xã hội và là công cụ thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỉ (MDGs). Câu hỏi đặt ra là tất cả sự phát triển công nghệ này xuất phát từ đâu và được định hướng tới đâu? Mục này sẽ cố gắng trả lời câu hỏi đó và cung cấp một vài vấn đề quan trọng trong xu hướng hiện tại và tương lai của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT). Sự phát triển vượt bậc của công nghệ đã tạo một cuộc cánh mạng về cách chúng ta truyền dẫn và trao đổi thông tin. Gần như chắc chắn rằng sự đột phá quan trọng đầu tiên phải kể đến phát minh về bảng mã cùa Morse năm 1837, cho phép chuyển đổi các hoạt động vật lý sang các xung điện có thể truyền đi khoảng cách dài. Tiếp theo phát minh này, một đường dây điện thoại được thử nghiệm để truyền dẫn dữ liệu giữa Washington, DC và Baltimore, Maryland ở Mỹ. Năm 1858, đường dây điện thoại đầu tiên được thiết lập dọc theo Atlantic, mở ra giai đoạn của truyền thông quốc tế. Năm 1875, Alexander Graham Bell phát minh ra điện thoại, mở ra một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực truyền thông cá nhân bắt đầu. Thời kỳ 1910 - 1920 đã xuất hiện trạm sóng vô tuyến, và vào những năm 1940 truyền hình cũng hình thành, âm thanh và hình ảnh đồng thời. Máy tính điện tử đầu tiên được tạo ra vào năm 1943, và với phát mình ra bộ vi xử lý vào những năm 1970, bắt đầu quá trình hiện thực hóa công cuộc đưa máy tính tới mọi người. Những năm 1980, máy tính cá nhân đã được giới thiệu tới công chúng. IBM đã công bố máy tính cá nhân IBM tại Mỹ vào năm 1981, và sau đó là những khu vực khác trên thế giới. Trong khi những công ty khác đang triển khai sản phẩm máy tính cá nhân, IBM cũng cung cấp những sản phẩm đầu tiên với các tiêu chuẩn mở trên thị trường. Hầu hết những sản phẩm máy tính cá nhân này sử dụng hệ điều hành tương tự nhau, cho phép người sử dụng có thể tương tác với các máy khác để chia sẻ dữ liệu và ứng dụng. 18 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  18. Những năm 1990, máy tính để bàn đạt được xung lượng với sự sự tiến bộ nhanh chóng trong công nghệ và sức mạnh xử lý, và giá bán giảm. Kỷ nguyên internet trở thành xu thế chủ đạo, hợp tác toàn cầu và công việc tại nhà nhanh chóng trở thành biểu tượng của kỷ nguyên thông tin. Sự hình thành mạng World Wide Web trở thành chất xúc tác để chuyển hướng từ nghiên cứu sang được chấp nhận rộng rãi, và ngày nay Internet và những công nghệ liên quan của nó đang điều khiển hoạt động kinh doanh và kinh tế toàn cầu. Nhưng sự đổi mới không dừng ở đó. Internet đang mang lại những phương thức làm việc mới. Một ví dụ điển hình là điện thoại qua internet. Máy tính đám mây đang hình thành ngày một nhanh hơn, có lẽ là giai đoạn tiến triển tiếp theo trong công cuộc phổ biến máy tính. Mục này sẽ xem xét một vài sự phát triển công nghệ chính đang tồn tại, và xu hướng đang hình thành trong hiện tại và tương lai. Ngoài ra khoảng cách số cũng được đề cập một cách tóm lược và đề xuất một vài công cụ đánh giá (tập trung vào truy cập và hạ tầng và cung cấp những khía cạnh khác nhau về truy cập ICT). T óm tắt công nghệ Điện toán đám mây Điện toán đám mây là một thuật ngữ được sử dụng để miêu tả sự gia tăng chia sẻ nguồn lực máy tính từ những thiết bị cá nhân tới hệ thống thiết bị trung tâm. Cụm từ “đám mây” trong điện toán đám mây được hiểu như mạng trung tâm và một ví dụ điển hình của internet, mặc dù nó cũng có khả năng chia sẻ tốt trên các máy tính cá nhân (thí dụ một tổ chức có thể duy trì một hệ thống nội bộ trên mạng riêng lẻ để phục vụ công việc). Trong điện toán đám mây, thay vì cài đặt và chạy những ứng dụng trên máy tính cá nhân, các ứng dụng sẽ được thiết lập tại các máy trung tâm chạy trên nền internet sử dụng công nghệ web. Những ứng dụng này được chạy trên hạ tầng được thiết kế đặc biệt để xử lý những yêu cầu của người sử dụng mà phân tán ở các thành phố, quốc gia hoặc thế giới. (tiếp ) Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 19
  19. T óm tắt công nghệ Điện toán đám mây (tiếp) Khi công nghệ phần cứng cải thiện và chi phí kết nối giảm, điện toán đám mây trở thành một sự lựa chọn phù hợp hơn điện toán truyền thống. Đối với những người sử dụng di động, thuận lợi lớn nhất là họ có khả năng để truy cập những ứng dụng thông thường từ bất cứ nơi nào. Điều này cũng có nghĩa là các ứng dụng có thể truy cập từ những thiết bị di động nhỏ hơn máy tính xách tay (thí dụ máy tính Palmtop hay Smartphone). Cũng có những lợi ích từ mặt chi phí khi triển khai điện toán đám mây: hạ tầng phần cứng được được lắp đặt ở những khu vực chi phí thấp (giả thiết chi phí thiết bị và kết nối là ưu tiên hàng đầu); một tổ hợp lớn những người sử dụng chia sẻ nguồn lực, tối đa hóa mức độ sử dụng; và công cụ quản lý dễ dàng để nâng cấp và cập nhật tới trung tâm. Trường hợp thông thường trong thế giới công nghệ, đổi mới không chỉ dừng lại ở những ứng dụng từ “đám mây”. Hiện nay, các công ty đang làm việc hoàn toàn trên hệ thống web. “Đám mây” được thiết kế để làm việc như một máy tính, những hệ thống trên cơ sở trình duyệt internet này cung cấp cho người sử dụng giao diện và những tính năng cơ bản của một máy tính trên một trình duyệt Internet. Điều này giúp những người không có máy tính có khả năng tiếp cận các ứng dụng trên máy tính. Hình 1a. Ví dụ về hệ thống hoạt động trên nền tảng web: Desktoptwo (Nguồn: 20 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  20. Hình 1b. Ví dụ về hệ thống hoạt động trên nền tảng web: ZimDesk (Nguồn: 1.2 Khoảng cách số Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa khoảng cách số như sau: Khoảng cách giữa các cá nhân, gia đình, doanh nghiệp và khu vực địa lý ở các mức độ kinh tế xã hội khác nhau liên quan đến cơ hội của họ trong việc truy cập những công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) và sử dụng internet cho các hoạt động khác nhau. Khoảng cách số phản ánh những điểm khác nhau giữa và trong các quốc gia1 1 OECD, “Bảng chú giải thuật ngữ thống kê: khoảng cách số, “ Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 21
  21. CNTT&TT đóng một vai trò quan trọng trong bất kỳ nền kinh tế nào ngày nay. Một số chính phủ sử dụng CNTT&TT để cải thiện chức năng quản lý và điều hành. Một số khác sử dụng CNTT&TT phục vụ cho y tế và giáo dục. Sau đó một vài nền kinh tế đã thu được những kết quả từ các ngành công nghiệp CNTT&TT. Lĩnh vực gia công CNTT&TT của Ấn Độ được mong đợi sẽ đạt con số 75 tỷ đôla doanh thu từ xuất khẩu phần mềm và dịch vụ trong năm 2010 một ví dụ điển hình trong việc xây dựng các ngành công nghiệp liên quan đến CNTT&TT2. Đề cạnh tranh trong thị trường toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ, các nền kinh tế không chỉ sử dụng CNTT&TT như một công cụ mà còn là một chiến lược để thúc đẩy mọi lĩnh vực trong nền kinh tế. Điều này yêu cầu một khoản đầu tư lớn vào hạ tầng và trung tâm, môi trường chính sách thúc đẩy đổi mới và tăng trưởng. Vì lý do này, không phải tất cả các nền kinh tế trong thế giới đang phát triển có khả năng tận dụng hết các cơ hội do CNTT&TT mang lại. Khoảng cách số hình thành từ đây. Khoảng cách số được đo lường như thế nào? Một vài chỉ dẫn thường được sử dụng là: • Hạ tầng truy cập – máy tính, và những thiết bị và hệ thống khác mà có khả năng truy cập (ví dụ điện thoại di động, tivi, trung tâm truy cập công cộng) • Hạ tầng truyền thông – băng thông internet, vùng phủ sóng di động, điện thoại, internet/băng thông • Mật độ điện thoại hay số lượng điện thoại trên 100 dân trong khu vực (hình 2) • Thu nhập gia đình (và có hay không khả năng để mua và là thuê bao CNTT&TT) • Chương trình giảng dạy kỹ năng CNTT&TT trong giáo dục • Mức độ sử dụng CNTT&TT theo giới tính và truyền thông ở khu vực thiểu số. • Chính sách chính phủ về truy cập (chính phủ điện tử, chính sách cạnh tranh/điều chỉnh, biểu thuế) 2 NASSCOM, 22 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  22. Hình 2. Tỷ lệ điện thoại trên 100 dân theo khu vực, 1994 - 2006 (Nguồn: Ban Phát triển viễn thông, “Phát triển CNTT&TT toàn cầu”, ITU, Hợp tác trong việc đánh giá CNTT&TT phục vụ phát triển là một sáng kiến mang tầm quốc tế, nhiều tổ chức (như là Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế OECD, Liên minh Viễn thông Thế giới ITU, Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc UNCTAD, Ủy ban Khu vực Liên hợp quốc, và Ngân hàng Thế giới) nhằm cải thiện chất lượng của các dữ liệu và tiêu chí CNTT&TT, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Một danh mục các tiêu chí chính được đưa ra để thu thập dữ liệu ở các quốc gia theo một cách thức thống kê giống nhau về xã hội thông tin, bao gồm: • Hạ tầng và truy nhập CNTT&TT • Truy cập và sử dụng CNTT&TT của gia đình và cá nhân • Sử dụng CNTT&TT của doanh nghiệp • Thương mại trong sản phẩm CNTT&TT Tiêu chí về hạ tầng và truy cập được đánh giá dựa trên việc sử dụng và truy cập của cá thể, và hầu hết các tiêu chí tính trên đầu người. Có 10 tiêu chí chính và 2 tiêu chí mở rộng, tổng cộng 12 tiêu chí. Các tiêu chí cung cấp thống kê trên hai hình thức truy cập thông tin được đánh giá quan trọng ở các nước đang phát triển. Việc sử dụng các tiêu chí này trong thống kê quốc gia là một phương pháp đi đầu để đánh giá một vài tiêu chí CNTT&TT quan trọng và góp phần chuẩn hóa ở mức độ toàn cầu. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 23
  23. Bảng 1. Các tiêu chí về truy cập và hạ tầng CNTT&TT được đề xuất bởi Hợp tác đánh giá CNTT&TT phục vụ phát triển Tiêu chí chính A1 Số điện thoại cố định trên 100 dân A2 Số điện thoại di động trên 100 dân A3 Số máy tính trên 100 dân A4 Số thuê bao internet trên 100 dân A5 Số thuê bao internet băng rộng trên 100 dân A6 Băng thông internet quốc tế trên 100 dân A7 Phần trăm dân số được phủ sóng điện thoại di động A8 Cước truy cập internet (20 giờ mỗi tháng), tỷ lệ phần trăm trên thu nhập bình quân đầu người A9 Cước di động (100 phút mỗi tháng), tỷ lệ phần trăm trên thu nhập bình quân đầu người A10 Tỷ lệ điểm truy cập internet công cộng trên số người dân Tiêu chí mở rộng A11 Số đài thu thanh trên 100 dân A12 Số tivi trên 100 dân Nguồn: ITU, “Hợp tác đánh giá CNTT&TT phục vụ phát triển: danh sách tiêu chí chính,” Câu hỏi suy nghĩ Xem xét những tiêu chí được đề nghị ở trên. Những tiêu chí này có liên quan thế nào đến việc đánh giá khoảng cách số? Có tiêu chí nào bạn cho rằng phù hợp với đất nước của bạn, hoặc có lẽ ở mức độ toàn cầu? 24 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  24. Một vài điều cần làm Xem xét những tiêu chí được đề nghị ở trên và sắp xếp chúng theo thứ tự ưu tiên. Bao gồm cả những tiêu chí đánh giá khác mà bạn cho rằng phù hợp. Đối tượng được đào tạo để thu thập số liệu bao gồm nhiều quốc gia. 1.3 Truy cập tới công nghệ thông tin và truyền thông Quy tắc cơ bản để hiểu được và tiến tới loại bỏ khoảng cách số là nhận thức được ý nghĩa của “truy cập tới công nghệ thông tin và truyền thông”. Hình 3 tổng hợp những điểm chính theo phương pháp thứ bậc. Hình 3. Truy cập tới thứ bậc CNTTT&TT (Credit: Rajnesh D.Signh) Truy cập tới nội dung bản địa Truy cập tới nội dung Truy cập tới Internet Truy cập tới hạ tầng cung cấp internet Truy cập tới thiết bị điện toán Truy cập tới nguồn điện Truy cập tới kỹ năng/giáo dục điện toán Truy cập tới nguồn lực tài chính Truy cập tới nguồn lực tài chính xác định khả năng đầu tư vào giáo dục và đào tạo những kỹ năng cần thiết để sử dụng hiệu quả CNTT&TT, mua những thiết bị và dịch vụ cần thiết, và bảo dưỡng chúng. Truy cập tới kỹ năng điện toán là cần thiết để khai thác, hiểu và tương tác với CNTT&TT. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 25
  25. Truy cập tới nguồn điện là cần thiết cho thiết bị điện toán cũng như hạ tầng truyền thông. Truy cập tới thiết bị điện toán là cần thiết để tương tác và sử dụng CNTT&TT Truy cập tới hạ tầng cung cấp internet là cần thiết để có được kết nối internet. Kết nối tới internet cho phép định hướng và sử dụng sức mạnh của thông tin và các dịch vụ trực tuyến. Chi phí truy cập internet cũng là một đánh giá quan trọng ở đây. Truy cập tới nội dung cho phép tìm các ứng dụng và dịch vụ quan tâm. Truy cập tới nội dung bản địa cho phép tìm các ứng dụng và dịch vụ có ngôn ngữ địa phương, và điều này có sự quan tâm đặc biệt tại thế giới đang phát triển nơi mà phần lớn dân số không đọc hoặc viết được tiếng Anh, ngôn ngữ chi phối trên internet. Câu hỏi suy nghĩ Xem xét những nội dung của truy cập tới CNTT&TT được trình bày ở trên. Nó có liên quan tới hoàn cảnh của bạn? Bạn có thể xác định một vài nội dung khác cần có? Một vài điều cần làm Từ những nội dung của truy cập tới CNTT&TT được trình bày ở trên, chọn một hoặc hai điểm bạn cho là quan trọng nhất và miêu tả chúng ảnh hưởng tới khoảng cách số như thế nào. Học viên có thể thực hành theo nhóm. 26 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  26. Truy cập tới CNTT&TT có nhiều thành phần tiềm năng, và mỗi thành phần tương ứng với các thách thức. Thông thường, công nghệ không phải là vấn đề bởi vì giải pháp kỹ thuật cho nó hầu như luôn có. Vấn đề quan trọng nhất thường liên quan tới chính sách – ví dụ thúc đẩy môi trường chính sách sẽ làm giảm bớt vấn đề truy cập theo lối chính thể luận, và công suất lưu trữ, hoặc là con người hay tài chính. Chính phủ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự thiếu hụt về truy cập bởi việc thực thi một chiến lược CNTT&TT quốc gia hiệu quả và tạo môi trường chính sách thúc đẩy cạnh tranh, đổi mới và kết quả cuối cùng là tăng trưởng kinh tế. Nếu tài chính và những yếu tố liên quan không phải là vấn đề, vấn đề truy cập có thể được giải quyết hay không? Đối với những vùng nông thôn điển hình không truy cập internet và nguồn điện, cách duy nhất để liên lạc với thế giới bên ngoài là thông qua sử dụng dịch vụ điện thoại vô tuyến lạc hậu. Chúng ta có thể cung cấp truy cập CNTT&TT thế nào tới các làng ở đây? Một vài khả năng là: Truy cập internet qua vệ tinh – Thiết lập trạm vệ tinh mặt đất để cung cấp 2 phương thức truyền thông thông qua internet tới thế giới bên ngoài. Kết nối nội hạt – Thiết lập một mạng khu vực nội hạt trên cơ sở wifi phủ sóng làng xóm và vùng phụ cận. Nguồn điện – Thiết lập hệ thống điện mặt trời với chất lượng pin đủ để cung cấp một cách tự động hệ thống mở rộng trong lúc thời tiết khắc nghiệt hoặc điều kiện tương tự. Điện thoại – Thiết lập hệ thống điện thoại giao thực internet (VoIP) có khả năng rộng khắp làng xã thông qua hệ thống wifi. Điện thoại Wifi di động cũng có thể được sử dụng trong trường hợp cần thiết. VoIP cho bộ chuyển điện thoại tương tự cũng có thể được sử dụng để cung cấp điện thoại chuẩn trong mỗi gia đình trong các làng để có được phương phức tương tác giống nhau khi sử dụng hệ thống. Nội dung bản địa – Thiết lập các tệp và máy chủ web bản địa cho các làng. Khuyến khích các làng học kỹ năng máy tính và đóng góp nội dung tới máy chủ, và xây dựng các nguồn thông tin của bản địa (ví dụ như dữ liệu nông nghiệp, thời tiết, sự kiện cộng đồng). Ngoài ra, máy chủ có thể cung cấp các lưu trữ về tệp và các ứng dụng truy cập thường xuyên để tối thiểu hóa băng thông với bên ngoài. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 27
  27. Thiết bị điện toán – Cung cấp cho mỗi gia đình một thiết bị điện toán công năng thấp (ví dụ như một chiếc máy tính xách tay loại thấp được cung cấp bởi các tổ chức khác nhau theo các chương trình như Máy tính cho trẻ em, Cùng Intel đến trường, và ASUS EeePC). Đào tạo cộng đồng – Cung cấp các khóa đào tạo cho những lớp người già và trẻ theo cùng một cách cho phép họ tận dụng được những cơ hội mà công nghệ mang lại. Chú ý: liên quan đến những công nghệ hiện tại và đang nổi lên trong giáo trình này, có nhiều thông tin hơn về những công nghệ và các bài tập tình huống tại AirJaldi: Mạng không dây ở Himalayas trong phần sau của giáo trình này. Phần trước đã đề cập rằng công nghệ hầu hết có khả năng giải quyết về vấn đề truy cập. Thách thức lớn hơn thuộc về chính sách. Để thực hiện tốt những định hướng về CNTT&TT, chính phủ thiết lập một tổ chuyên trách CNTT&TT quốc gia có thể hợp tác với các đối tượng khác nhau (cả bên trong và ngoài) và đưa ra các hướng dẫn và ý kiến về chiến lược CNTT&TT. Thông thường, sự giúp đỡ bên ngoài sẽ mang lại nhiều sáng kiến và điều này cần được mở rộng. 28 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  28. Điểm nhấn Vài trò của chính sách trong việc khắc phục khoảng cách số Chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc khắc phục khoảng cách số và thúc đẩy nền kinh tế tri thức trong tương lai. Vai trò này có thể là sự cho phép, thúc đẩy và khuyến khích. Chính phủ có thể hành động như một sự cho phép bởi việc xúc tiến các dự án hạ tầng và cung cấp cho tư nhân những chính sách tài chính và môi trường cần thiết để đổi mới. Chính sách tài chính có thể là giảm thuế mua thiết bị CNTT&TT, giúp giảm giá thành của các dự án hạ tầng CNTT&TT, do vậy sẽ khuyến khích đầu tư hạ tầng. Sự giảm thuế mua thiết bị CNTT&TT tạo ra hai tác động đồng thời: 1) giảm chi phí của CNTT&TT trong kinh doanh; và 2) hạ thấp chi phí thiết bị CNTT&TT cho khách hàng. Giá thấp sẽ có nhiều người mua máy tính, nhu cầu về dịch vụ cũng tăng, thúc đẩy công nghiệp dịch vụ CNTT&TT (bao gồm nhu cầu lớn hơn cho các dịch vụ viễn thông/internet). Thuế giảm có thể khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào CNTT&TT để cải thiện quy trình kinh doanh. Khoản thuế được giảm để doanh nghiệp có điều kiện thuê lao động có bằng cấp về CNTT&TT. Một sự gia tăng về nhu cầu đối với những người có bằng cấp kéo theo tăng số người được đào tạo về CNTT&TT và cải thiện chất lượng đào tạo. Cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ là quan trọng. Trên cơ sở điều kiện quốc gia, cần có chiến lược bãi bõ các rằng buộc và thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông, nhất là trong vấn đề mở rộng cổng kết nối quốc tế. Trong hầu hết các mô hình kinh tế đang phát triển, chính phủ luôn là đối tượng sử dụng CNTT hoặc có nguồn nhân lực sử dụng CNTT lớn nhất. Với việc tiến tới chính phủ điện tử, chính phủ có thể tạo ra chất xúc tác cho việc giảm dần khoảng cách số trong khi vẫn cải thiện được hiệu quả điều hành và thuận tiện hơn cho việc truy cập các dịch vụ trực tuyến của chính phủ. Tác động ngược lại, khối tư nhân sẽ có cơ hội để đầu tư vào CNTT&TT và cung cấp hàng hóa trực tiếp tới chính phủ hoặc các doanh nghiệp khác. Như là một hiệu ứng dòng chảy: nhân viên chính phủ, đóng vai trò là những người dẫn dắt, được khuyến khích truyền đạt lại cách thức truy cập CNTT cho người thân của họ trên cơ sở những điều họ thấy và học được khi làm việc. Điều này bắt đầu một vòng tuần hoàn cho đến cuối cùng là hướng đến nhu cầu truy cập dịch vụ tốt hơn. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 29
  29. Một giáo trình CNTT&TT phù hợp, thích đáng và được trông đợi trong trường học là nhiệm vụ chính khác cho sự hỗ trợ của chính phủ. Trẻ em phải được tiếp cận CNTT&TT sớm nhất ở mức có thể, bắt đầu với mức độ cơ bản, và tiến tới các mức độ tăng dần và cao hơn. Chính phủ nên cung cấp cho các trường những nguồn lực cần thiết thông qua thúc đẩy hợp tác song phương và đa phương nhằm tận dụng các sự trợ giúp. Nhiệm vụ ưu tiên khác của chính phủ là đào tạo CNTT&TT và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vùng nông thôn. Chẳng hạn như thiết lập hệ thống thông tin nông nghiệp cho nông dân với việc cập nhật mùa vụ, thời tiết và giá cả thị trường trong các khu vực nông thôn, đào tạo kế toán và quản lý doanh nghiệp cơ bản cho các doanh nghiệp nhỏ, trong đó có cả các phần mềm kế toán cơ bản. Chú ý: Phần thảo luận chi tiết hơn về chính sách hướng đến giảm dần khoảng cách số, tham khảo tới Học phần 1: Liên kết giữa các ứng dụng CNTT&TT và sự phát triển và Học phần 2: CNTT&TT phục vụ phát triển, quy trình và nguyên tắc trong Bộ giáo trình. Câu hỏi suy nghĩ Bạn có đồng ý rằng giảm dần khoảng cách số thường không phải là vấn đề mà thách thức lớn hơn chính là đưa ra một chính sách phù hợp và hiệu lực? Tại sao có hoặc không? Một vài điều cần làm Đối với người đọc Xác định 3 – 5 công cụ chính sách cần thiết để giảm dần khoảng cách số ở đất nước của bạn. Có thách thức nào về mặt kỹ thuật tới chúng? Giải thích về câu trả lời của bạn. Đối với các học viên Thực hiện thảo luận bàn tròn về “công nghệ không phải là vấn đề giảm dần khoảng cách số. Vấn đề quan trọng hơn là chính sách phù hợp và hiệu lực.” Có 3 – 5 học viên trong một nhóm thảo luận bàn tròn với 10 phút chuẩn bị và 20 phút thảo luận. 30 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  30. Điểm nhấn Sử dụng điện thoại di động để giảm dần khoảng cách số Điện thoại di động có thể giúp giảm khoảng cách số, đặc biệt ở các nước phát triển? Trong khi một chiếc điện thoại di động không có nhiều ứng dụng như môt chiếc máy tính cá nhân (mặc dù khoảng cách đang hẹp dần với các thế hệ Smartphones mới; xem phần điểm nhấn công nghệ - vùng phủ thiết bị: Điện thoại của tôi như máy tính trong phần sau của giáo trình này), nhưng điện thoại di động có thể là một giải pháp phù hợp. Xem xét những vấn đề dưới đây: • Điện thoại di động rẻ, một vài mẫu có giá thấp hơn 40 đôla Mỹ ở các nước đang phát triển. • Điện thoại di động có thời lượng sử dụng pin dài, do vậy phù hợp với những nơi nguồn điện hạn chế. • Hạ tầng chính để hỗ trợ dịch vụ điện thoại di động thường sẵn sàng trong thực tế và được phủ sóng ở khu vực dân cư. Các nước đang phát triển thường có một tỷ lệ cao hơn về điện thoại di động so với điện thoại cố định, do khó khăn khi triển khai đường truyền dẫn của điện thoại cố định. • Nhiều điện thoại di động có trình duyệt web, cũng như tính năng Dịch vụ nhắn tin ngắn (SMS) và Dịch vụ nhắn tin đa phương tiện (MMS). Một số còn có đài FM và đèn pin. • Các dịch vụ thông tin khác nhau có khả năng được cung cấp trên dịch vụ di động, như là website hỗ trợ truy cập bởi điện thoại di động. Điều này cũng tạo ra những cơ hội kinh doanh tại đất nước. • Dịch vụ điện thoại di động trả trước cho phép nạp tiền ở mệnh giá thấp và có khả năng kiểm soát tài khoản. Điều này tạo cơ hội cho những người thu nhập thấp được sử dụng dịch vụ. • Trong cộng đồng, một người (hay một nhóm người) có thể thiết lập cuộc gọi nhóm với mức cước thấp. Điều này cũng tạo ra những cơ hội kinh doanh. • Giao dịch thương mại thông qua điện thoại di động cũng được tiến hành ở nhiều thị trường. Điều này bao gồm ngân hàng di động và giao dịch tài chính (ví dụ những giao dịch giá trị thấp như chuyển tiền từ tài khoản điện thoại này sang tài khoản khác). Việc truy cập thông tin tốc độ cao trên điện thoại di động tạo ra những cơ hội kinh doanh để hỗ trợ giao dịch tài chính. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 31
  31. Danh sách những tiện ích ở trên đề nghị rằng điện thoại di động mang lại một ý nghĩa thực sự để giảm dần khoảng cách số trong các nước đang phát triển. Việc tìm hiểu để sử dụng một chiếc điện thoại cũng dễ hơn nhiều học để sử dụng máy tính cá nhân, chỉ có một vài chức năng để thao tác. Với công nghệ phát triển nhanh chóng hướng tới hội tụ thiết bị, điện thoại di động với nhiều tính năng đang được thiết kế cho thế giới đang phát triển. Sự thành công cuối cùng của hầu hết các dự án phụ thuộc lớn vào mức độ bền vững và mô hình kinh doanh khỏe mạnh. Tuy nhiên, điện thoại di động có hiệu quả trong việc giúp giảm dần khoảng cách số, và môi trường điều chỉnh phù hợp phải được đưa ra để đảm bảo rằng dịch vụ điện thoại di động mở ra và đáp ứng với nhu cầu thị trường. Thứ hai, bảng phí dịch vụ nên khuyến khích sử dụng rộng rãi, bao gồm cho cả những người có thu nhập thấp và khu vực khó khăn về kinh tế. Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo rằng những nhu cầu này được đáp ứng thông qua các chính sách phù hợp. Chẳng hạn như tự do hóa thị trường và thúc đẩy cạnh tranh, xem xét lại bảng phí truy cập, và đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ đưa ra các dịch vụ theo yêu cầu với việc tối đa hóa lợi ích trong giới hạn công nghệ và giá truy cập phù hợp. 1.4 Sự phát triển viễn thông Hệ thống viễn thông hiện tại mà chúng ta đang sử dụng có lẽ bắt đầu với phát minh về mã Morse, tiếp theo là điện báo và điện thoại. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ dẫn tới sự hình hành đài truyền thanh, máy tính và internet đang hình thành tương lai của viễn thông. Sự biến đổi của điện thoại cỡ nhỏ phát minh bởi Alexander Graham Bell (hình 4) tới một chiếc điện thoại hội tụ mà có thể sử dụng được trình duyệt internet và mua bán hàng và dịch vụ ở bấy kỳ địa điểm nào trên thế giới, đã thể hiện sự phát triển vượt trội nhất trong lịch sử phát triển viễn thông. 32 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  32. Hình 4. Alexander Graham Bell nói vào trong chiếc điện thoại, 1876 (Nguồn: 1876_Bell_Speaking_into_Telephone.jpg) Sự hội tụ muốn nói đến sự phát triển của những thiết bị điện tử từ mục đích và chức năng đơn lẻ sang thiết bị đa chức năng. Nhiều đặc điểm và chức năng được cài đặt trên một thiết bị, do đó người sử dụng có thể dùng những thiết bị giống nhau để truy cập đa chức năng. Một vài thiết bị điển hình của sự hội tụ thiết bị là Smartphone, trong đó tích hợp điện thoại di động với nhiều chức năng khác như máy ảnh, nghe nhạc và trình duyệt web (xem Tóm tắt Công nghệ - Hội tụ thiết bị: Máy điện thoại của tôi là máy tính phần sau của giáo trình này), và các máy in đa năng bao gồm tích hợp máy in, quét ảnh, và máy fax, v.v. vào trong một thiết bị. Hội tụ không hạn chế mức độ dịch vụ tới người sử dụng. Tùy thuộc vào mạng và mức độ dịch vụ, chẳng hạn như thoại, dữ liệu, video được cung cấp bởi một nhà cung cấp dịch vụ (sử dụng internet dung lượng trung bình). Hội tụ các nhà khai thác muốn nói tới một nhà cung cấp dịch vụ kết hợp với các ngành công nghiệp khác. Một ví dụ là nhà khai thác viễn thông đưa ra dịch vụ truyền hình. Điều này làm mờ đi ranh giới của các dịch vụ và lĩnh vực truyền thống, và các doanh nghiệp, tổ chức cũng đang không ngừng cạnh tranh với các đối thủ mới, và mở rộng các mô hình kinh doanh khác để đảm bảo hoạt động kinh doanh tiếp tục. Đôi khi điều này cũng có nghĩa rằng sự hợp tác giữa các nhà cạnh tranh nhằm mục đích đảm bảo cho nguồn thu nhập của họ vẫn có khả năng được tăng lên ngay cả trong một môi trường bấp bênh. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 33
  33. Hội tụ ở tất cả các loại thiết bị có lẽ sẽ diễn ra nhanh hơn. Chẳng hạn thiết bị Số Cá nhân (PDA) được giới thiệu đầu những năm 1980 sử dụng cho lịch điện tử thay thế lịch in. PDA của ngày nay được tích hợp cao hơn với các chức năng thoại, PDA, truy cập internet và đa phương tiện. Tốc độ phát triển công nghệ gấp đôi cùng với nhu cầu khách hàng cao hơn đã tạo điều kiện cho các công ty cài đặt nhiều chức năng vào trong một thiết bị, và bắt đầu hiện thực khả năng thương mại của khái niệm hội tụ. Sự phát triển của thiết bị trò chơi máy tính (thiết bị điều khiển) là một mô hình khác của hội tụ thiết bị. Thời điểm đầu tiên giới thiệu ra thị trường, thiết bị điều khiển trò chơi đơn giản cung cấp sự đáp lại tới máy tính, cho phép người chơi thao tác bằng tay để điều khiển nhân vật trong trò chơi máy tính (ví dụ tay điều khiển di chuyển một nhân vật hay một đồ vật quanh màn hình). Các thiết bị điều khiển trò chơi hiện nay cũng mang chút ít những đặc điểm giống với thiết bị cầm tay trước đây. Những thiết bị điều khiển trò chơi như Sony Playstation và Microsoft Xbox là những hệ thống giải trí có độ tích hợp cao, có thể cung cấp truy cập internet, phim và âm thanh chất lượng cao, và thậm chí như một đầu đọc DVD và ổ lưu trữ. Tự kiểm tra Bạn đang sử dụng loại điện thoại di động nào? Nó có giống một thiết bị hội tụ hay không? Tại sao có hoặc không? Một vài điều cần làm Làm một cuộc điều tra về điện thoại đi động mà bạn hoặc đồng nghệp của bạn sử dụng. Kiểm tra xem có bao nhiêu thiết bị hội tụ. 34 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  34. Tóm tắt công nghệ Hội tụ thiết bị: Điện thoại của tôi là máy tính Phát hành đầu năm 2007, Nokia E61i (hình 5) có lẽ là một ví dụ tốt nhất ở thời điểm đó về hội tụ thiết bị. Hơn một chiếc điện thoại, những tính năng gần như một chiếc máy tính thông thường. Ngoài tính năng một chiếc điện thoại di động GSM, Nokia E61i còn bao gồm: • Bán phím QWERTY đầy đủ, cách sắp xếp tương tự như bàn phím chuẩn, có phím điều khiển lên xuống. • Màn hình hiển thị 320x240 điểm ảnh và 24 bít, hiển thị được 16 triệu màu. • Chíp xử lý 220MHz • Bộ nhớ trong 64MB • Khe thẻ nhớ hỗ trợ thẻ dung lượng lưu trữ lên tới 2GB • Truy cập mạng vô tuyến WiFi hỗ trợ IEEE 802.11b và IEEE 802.11g • Bluetooth, hồng ngoại và cổng USB • Chức năng thoại trên giao thức internet • Chức năng loa ngoài • Ứng dụng Internet: trình duyệt web, thư điện tử, tin nhắn. • Ứng dụng quản lý thông tin cá nhân: lịch, ghi chú công việc, báo thức, nhắc việc, danh bạ, công cụ kết nối Microsoft Outlook • Ứng dụng văn phòng: soạn thảo, bảng tính, trình bày, đọc file PDF, nén, quản lý tệp. • Ứng dụng đa phương tiện: nghe MP3, RealPlayer cho video và ghi âm • Máy quay hai triệu điểm ảnh • Hỗ trợ in trực tiếp qua cổng Bluetooth • Hỗ trợ mạng riêng ảo • Thời gian đàm thoại lên tới 9 giờ và để ở chế độ im lặng được 17 ngày Với những chức năng này, Nokia E61i cho phép cung cấp hầu hết các ứng dụng liên quan tới công việc văn phòng và những người sử dụng thông thường. Khi nhà cung cấp dịch vụ di động đưa ra các dịch vụ phù hợp (ví dụ thoại và dữ liệu/Internet), thiết bị này có thể thay thể một chiếc máy tính, nhất là đối với những người có nhu cầu di động cao. Hình 5. Nokia F61i: một Smartphone hội tụ ở mức cao (Nguồn: Rajnesh D.Singh) Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 35
  35. Nhiều nền kinh tế đã ứng dụng CNTT&TT thành công như một công cụ cho phát triển và tiến bộ (Hồng Kông, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Đài Loan là những ví dụ trong khu vực) thông qua việc đầu tư sớm vào cơ sở hạ tầng CNTT&Thông tin và Truyền thông, đưa ra những chiến lược và chính sách dựa trên CNTT&TT để thúc đẩy tăng trưởng. Thành lập Nhóm đặc trách CNTT&TT quốc gia bao gồm tất cả các đối tượng liên quan như công dân và nhóm người sử dụng. Cùng với việc thành lập Nhóm đặc trách CNTT&TT thì việc xây dựng chiến lược CNTT&TT quốc gia vững mạnh hoặc cải thiện chính sách hiện nay cũng cần được thực hiện sớm. Tuy nhiên, nhu cầu về hạ tầng quốc gia phù hợp cho CNTT&TT hỗ trợ tăng trưởng chưa thể được đề cấp đầy đủ. Trong phần tiếp theo sẽ xem xét một số yếu tố hạ tầng và thảo luận một vài xu hướng đang nổi lên khi phát triển hạ tầng CNTT&TT quốc gia và các chính sách chiến lược điều chỉnh. Tự kiểm tra 1. Đánh giá hiện trạng hạ tầng CNTT&TT trong đất nước của bạn. Những vấn đề còn hạn chế (về mặt kỹ thuật, hạ tầng, nguồn nhân lực và khía cạnh chính sách), bạn kiến nghị cần bổ sung chính sách nào. 2. Việc sử dụng điện toán đám mây có giảm dần khoảng cách số? Tại sao có hoặc không? 3. Bạn thấy được vai trò gì của Smartphones trong tương lai? Liệu chúng có thể thay thế được máy tính xách tay? Tại sao có hoặc không? Tham khảo Textually.org, “Archives for Mobile Phone Project – Third Word,” htttp://www.textually.org/textually/archives/cat_mobile_phone_projects_third _word.htm. 36 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  36. 2. KHỐI NHÀ MẠNG Mục này tập trung vào: • Miêu tả những khối nhà mạng chính đã tạo ra hệ thống truyền thông hiện đại ngày nay; • Cung cấp kiến thức về công nghệ mới và xu hướng liên quan tới hệ thống truyền thông tòa nhà; • Xác định những vấn đề chính sách liên quan đến hệ thống truyền thông tòa nhà. Công nghệ đang tiếp tục đổi mới nhanh chóng, đặc biệt ở các nước phát triển. Điều này cũng là thách thức cho các nước đang phát triển phải đối phó với sự thay đổi này khi không có những nguồn lực cần thiết, và họ phải lựa chọn giữa tập trung vào công nghệ mới hoặc để lỡ nó hoàn toàn, đồng nghĩa với việc gia tăng khoảng cách số. VoIP là một ví dụ, ngày nay những địa chỉ web chứa những video (như YouTube) yêu cầu một lưu lượng băng thông lớn để hoạt động hiệu quả. Để hiểu đúng được những thách thức mang tính kỹ thuật khi sự đổi mới đang diễn ra ở thời điểm hiện nay, những nhà chính sách và thi hành ở các nước đang phát triển nhận thức đúng được về các khối tòa nhà với hệ thống mạng truyền thông hiện đại là điều rất quan trọng. Mục này sẽ xem xét một vài khối tòa nhà này và tìm hiểu một vài công nghệ mới và những xu hướng đang nổi lên. Quan điểm chính sách Khi bạn đọc mục này, xem xét những vấn đề dưới đây trên khía cạnh chính sách: • Sử dụng công nghệ thích hợp cho hạ tầng tương lai – ví dụ, triển khai mạng cáp quang thay vì mạng cáp đồng đối với những kết nối đường trục quan trọng; • Khảo sát tiềm năng của mạng cáp vùng và khu vực phụ cận phục vụ lưu trữ và ổn định của hệ thống; • Ước định lợi ích của hạ tầng cáp quốc gia hiện đại; • Đối với lĩnh vực cung cấp dịch vụ Internet, cần đảm bảo một thị trường công bằng, đặc biệt là đối với những thiết bị truyền thông cá nhân và dịch vụ cổng kết nối quốc tế; • Trong điều kiện địa hình cản trở việc cung cấp dịch vụ khi sử dụng hệ thống cáp thì phương án sử dụng hệ thống vô tuyến hoặc vệ tinh để triển khai dịch vụ là khả thi. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 37
  37. 2.1 Giải pháp kết nối Hai hoặc nhiều hệ thống có khả năng kết nối với nhau, do vậy phải có giải pháp kết nối giữa chúng. Giải pháp này có thể là kết nối vật lý như là cáp, hoặc vô tuyến cho điện thoại di động. Trong mục này, giải pháp kết nối nói đến những kết nối chuyên dụng (có dây hoặc vô tuyến) giữa hai nút mạng, khác với những kết nối ảo giữa hai hệ thống thông qua internet. Kết nối vật lý truyền thống là cáp đồng. Tuy nhiên, trong thập kỷ trước, cáp quang đã được sử dụng một cách nhanh chóng, đặc biệt khi kết nối ở những khoảng cách lớn. Những kết nối xuyên đại dương (chẳng hạn như liên kết Mỹ với Châu Phi, Châu Á, Châu Âu và Thái Bình Dương (hình 6 hệ thống cáp Đông Nam Á – Trung Đông – Tây Âu hay SEA-ME-WE) đều sử dụng cáp quang, có khả năng truyền tải một lượng thông tin lớn hơn rất nhiều so với cáp đồng. Nó cũng tránh được nhiễu điện tử vì nó sử dụng ánh sáng để truyền thông tin thay vì xung lực điện như cáp đồng. Hình 6. Cáp viễn thông dưới biển SEA-ME-WE Các nút: 1. Marseille, Pháp; 2. Annaba, Algeria; 3. Bizerte, Tunisia ; 4. Palermo, Ý ; 5. Alexandria, Ai Cập; 6. Cairo, Ai Cập; 7. Suez, Ai CẬp; 8. Jeddah, Saudi Arabia; 9, Fujairah, United Arab emirates; 10. Karachi, Pakistan; 11. Mumbai, Ấn Độ; 12. Colombo, Sri Lanka; 13. Chennal, Ấn Độ; 14. Cox’s Bazar, Bangladesh; 15. Satun, Thái Lan; 16. Melaka/Malacca, Malaysia; 17. Tuas, Singapore (Nguồn: J.P.Lon, SEA-ME-WE-4-Route.png) 38 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  38. Việc sử dụng cáp quang đã được tiến hành ở nhiều quốc gia, khu đô thị và thậm chí trong các tòa nhà. Nhiều nền kinh tế đã triển khai mạng cáp quang như một phần trong chiến lược hạ tầng quốc gia vì những ưu điểm của nó về băng thông và triệt tiêu xung lực, và được coi là tiềm năng của hạ tầng đường trục tương lai. Với cáp đồng, thường có khả năng cao cho sự đột nhập vì sử dụng tín hiệu điện để truyền dẫn thông tin. Tuy nhiên điều này sẽ khó thực hiện với cáp quang vì nó sử dụng ảnh sáng để truyền dẫn thông tin. Do vậy cáp quang sử dụng cho các hệ thống cần bảo mật tốt hơn. Ở khu vực đô thị, nhiều thành phố đã sử dụng mạch vòng nội hạt quang (chủ yếu được khai thác bởi nhà cung cấp viễn thông) nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh và nhu cầu khách hàng tốt hơn. Một hoặc nhiều cáp vật lý có thể kết nối tới những vị trí trung tâm trong thành phố, và nhà cung cấp dịch vụ có khả năng thiết lập mạng ảo (ví dụ kết nối giữa các điểm trên một mạng truyền thông mà không cần thiết mở thêm đường kết nối vật lý giữa các điểm) giữa bất kỳ hai hay nhiều điểm trong mạng. Tại thời điểm ban đầu, cáp quang thường sử dụng để kết nối giữa các tầng của tòa nhà hoặc các tòa nhà với nhau (ví dụ trong môi trường trường học). Cáp quang cũng đang được sử dụng để cung cấp những kết nối tốc độ cao, chống nhiễu giữa các máy chủ, thậm chí giữa các gia đình hoặc máy để bàn. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 39
  39. Điểm nhấn Cáp quang tới gia đình và cáp quang tới máy bàn Cáp quang tới gia đình (FTTH) đã được triển khai ở một vài nước, dịch vụ được cung cấp tới khách hàng thông qua cáp quang. Thông thường, cáp quang được sử dụng để cung cấp những kết nối trong mạng hoặc giữa các nhà cung cấp dịch vụ, và sau đó kết nối tới các máy trạm (được nhắc đến như “đầu cuối”) bởi cáp đồng hoặc công nghệ vô tuyến. Với FTTH, cáp quang được sử dụng để truyền tín hiệu tới các máy trạm. Điều này cho phép truyền dữ liệu dung lượng lớn, cũng như các gói dịch vụ (ví dụ internet, thoại và truyền hình) trên đường truyền tốc độ cao. FTTH được thương mại hóa trên một số thị trường Châu Á như Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Đài Loan. Cáp quang tới máy bàn là một hình thức đưa kết nối quang tới máy tính của người sử dụng. Hình thức này phù hợp trong môi trường hợp tác (mặc dù nó chưa được triển khai rộng rãi vì lý do chi phí) cần có kết nối tốc độ cao, hoặc ở các môi trường xung lực điện lớn (như ở các nhà máy). Một vài máy chủ cũng sử dụng cáp quang, thay vì cáp đồng để tăng khả năng truyền dẫn. Kết nối vô tuyến thường được sử dụng cho các kết nối điểm-điểm có chi phí triển khai cáp cao (vì rằng địa hình, cấu trúc, môi trường và các vấn đề khác), hay được triển khai cho kết nối di động (ví dụ mạng điện thoại di động), hay các kết nối điểm-đa điểm ở những khu vực phân tán. Bời vì giải pháp vô tuyến thông thường sử dụng tần số vô tuyến được cấp phép, cơ quan quản lý tần số quốc gia sẽ cấp phát tần số vô tuyến với các yêu cầu kỹ thuật và phí tần số. Sự triển khai của mạng WiFi hay mạng vô tuyến nội bộ (LAN) thường được sử dụng ở phạm vi tần số 900MHz, 2.4GHz hoặc 5GHz, mặc dù vẫn có một vài loại tần số cần có giấy phép và phí, phụ thuộc vào chính sách từng quốc gia. Một điểm đáng chú ý là bất kỳ ai có đủ khả năng để truy cập cũng có thể kết nối trên tần số sử dụng WiFi và không cần giấy phép cho việc sử dụng riêng lẻ. Thiết bị WiFi rẻ và thích hợp cho việc triển khai các mạng ở gia đình và văn phòng. Điều này có thể gây ra các vấn đề về tắc nghẽn. Hơn nữa, do thiết bị lò vi sóng cũng sử dụng tần số ở mức tương tự (cả các thiết bị khác như điện thoại kéo dài, chuông báo chộm, cừa điện ), cho nên vấn đề độ tin cậy cần được xem xét và việc sử dụng WiFi cho các hoạt động yêu cầu độ bảo mật cao cần cẩn trọng hơn. 40 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  40. 2.2 Thiết bị mạng Phần trước đã miêu tả các giải pháp kết nối giữa hai hoặc nhiều hệ thống. Mục này sẽ xác định các thiết bị sẽ được sử dụng ở điểm cuối của kết nối. Thiết bị kết nối người sử dụng (CPE) là một thiết bị ở cuối của đường dây do nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lắp đặt. Thiết bị này như một cổng để ngưởi sử dụng kết nối với mạng. Thông thường những thiết bị này được sở hữu bởi nhà cung cấp dịch vụ và là một phần chi phí dịch vụ. Hiện nay, nhiều nước đã coi CPE không phải là một phần của mạng, khách hàng có thể lựa chọn CPE hoặc do một đối tác thứ ba cung cấp. Thiết bị CPE được cài đặt những thông số cần thiết để có thể truy cập tới mạng của nhà cung cấp dịch vụ. Một vài thiết bị chỉ với một mục đích – ví dụ kết nối tới nhà cung cấp dịch vụ và kết nối với thiết bị của khách hàng. Những thiết bị khác có thể đa chức năng: tương tác với mạng của nhà cung cấp dịch vụ cũng như thiết bị của khách hàng, và các dịch vụ khác (ví dụ điều hướng, bảo mật). Các thiết bị CPE phải kể đến là modems tương tự và DSL, thiết bị đầu cuối mạng, thiết bị đầu cuối dữ liệu, hệ thống tổng đài nội bộ tự động (PABX). Bộ tập trung và bộ đa công là những thiết bị điển hình được sử dụng bởi các nhà cung cấp dịch vụ để xây dựng và truyền tải mạng. Bộ tập trung được sử dụng giữa những kết nối có tốc độ chậm tới các kết nối có tốc độ cao hơn. Ứng dụng phổ biến là các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng bộ tập trung để kết nối modem quay số của khách hàng. Bộ đa công sẽ chuyển một vài các tín hiệu đầu vào và được kết hợp với nhau cho một đầu ra để truyền dẫn. Điều này có thể được các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng để truyền thông tin tới các điểm khác của mạng hoặc để kết nối tới các nhà cung cấp mạng khác. Bộ điều hướng được sử dụng để kết nối hai hoặc nhiều mạng. Một ví dụ là mạng nội bộ của một tổ chức kết nối với mạng công cộng (như Internet). Bộ chia mạng được sử dụng để kết nối những người sử dụng trong mạng phần cứng nội bộ vào một điểm vật lý. Trong phần trước, thiết bị chia mạng cũng được sử dụng cho mục đích này. Nhưng bộ chia mạng cung cấp băng thông và tốc độ cao hơn. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 41
  41. Bộ chia mạng cung cấp băng thông chính xác trên mỗi cổng, trong khi thiết bị chia mạng chia sẻ đều nhau ở tất cả các cổng. Do vậy, bộ chia mạng có nhiều tính năng hơn. Trong khi thiết bị chia mạng có thể xuất hiện vấn đề xung đột (khi hai cổng truyền dẫn ở cùng một thời điểm) mà khó xảy ra ở bộ chia mạng. Tủ mạng là một hệ thống trung tâm để dẫn cáp đến các tầng tòa nhà (hoặc toàn bộ tòa nhà). Tủ mạng phổ biến bao gồm một vài loại giá gác và thiết bị. Nó cũng có thể bao gồm quạt mát và bộ lưu trữ điện. Mạng nội hạt (LAN) là mạng thiết kế trong một khu vực nhỏ như văn phòng, gia đình, tòa nhà hoặc một vài tòa nhà trong khu trường học. Tốc độ kết nối trong mạng LAN cao và có liên quan tới những loại mạng khác (ví dụ như WANs). Mạng diện rộng (WAN) là mạng thiết kế trên một khu vực địa lý rộng, phân tán. Mạng này có thể là trong một thành phố, một đất nước hoặc giữa các nước, hoặc giữa các lục địa. WAN chủ yếu được sử dụng để liên kết các LAN của các tổ chức ở những vị trí khác nhau. Mạng nội hạt vô tuyến (WLAN) là việc sử dụng công nghệ vô tuyến để thiết lập mạng LAN. Công nghệ WLAN cũng được sử dụng cho các kết nối điểm- điểm, hay điểm-đa điểm trên khoảng cách rộng. Mạng đô thị (MAN) là một mạng lớn hơn mạng LAN nhưng trong một khu vực địa lý có ranh giới (ví dụ một thành phố). Một mạng MAN thường được xây dựng bởi một tổ chức và các dịch vụ được cung cấp tới nhiều tổ chức và cá nhân. Mạng cá nhân (PAN) được sử dụng để kết nối giữa các thiết bị riêng lẻ hoặc nhóm thiết bị riêng lẻ (chẳng hạn quanh một chiếc bàn). Phạm vi của mạng PANs thường khoảng vài mét. 42 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  42. Tóm tắt công nghệ Ethernet Ethernet thuộc họ công nghệ mạng LAN được chuẩn hóa bởi Viện Điện và Điện tử theo chuẩn 802.3. Qua các năm, Ethernet trở thành sự lựa chọn để triển khai những điểm cuối của mạng, thay thế các công nghệ như Mạng mã thông báo vòng tròn và Giao diện sợi phân phối dữ liệu (FDDI). Ethernet có khả năng sử dụng cho cáp xoắn (cáp xoắn dày là 10Base-5 và cáp xoắn mỏng là 10Base-2), cáp xoắn đồng đôi (đôi xoắn trần hay UTP) và cáp quang. Mạng LAN không dây (hay Wifi), chuẩn hóa theo chuẩn IEEE 802.11, cũng sử dụng Ethernet dưới công nghệ đó. Tốc độ dữ liệu có khả năng ở hiện tại là: • 10Mbps – tương ứng 10Base-T Ethernet • 100Mbps – tương ứng 100Base-T (đối với cáp đồng) hoặc Ethernet tốc độ cao • 1000Mbps – tương ứng 1000Base-T (đối với cáp đồng) hoặc Gigabit Ethernet • 10000Mbs – tương ứng với 10Gbase-xx (phụ thuộc vào thiết bị) hoặc 10-Gigabit Ethernet IEEE đang chuẩn bị giới thiệu thế hệ tiếp theo của mạng Ethernet, với tốc độ 100Gigabit Ethernet (hay 100GbE). Tiêu chuẩn này hướng tới mục tiêu gấp đôi tốc độ: 40Gbit/s khi chạy trên các thiết bị khác nhau, và đạt 100Gbit/s khi chạy trên cáp quang chuyên dụng và thuận lợi về khoảng cách (tới 40km). Một số vấn đề khác về viễn thông, đặc biệt liên quan đến nhà cung cấp dịch vụ và hạ tầng, được liệt kê bên dưới. Văn phòng trung tâm (CO) thường muốn nói đến tổng đài điện thoại và thiết bị đi kèm. Mỗi một khu vực sẽ có tổng đài điện thoại để kết nối các cuộc gọi trong khu vực hoặc ra bên ngoài, phụ thuộc vào số khách hàng gọi. CO cũng thường cung cấp các kết nối dữ liệu cùng với thoại, được tích hợp cùng trên một mạng truyền thông. Cổng quốc tế đề cập đến một loại tổng đài điện thoại đặc biệt kết nối các quốc gia khác nhau, giúp thuận tiện cho các cuộc gọi quốc tế. Một cổng quốc tế thông thường bao gồm cả thoại và dữ liệu, và sử dụng nhiều phương tiện kết nối khác nhau như cáp quang ngầm, cáp trên đất liền và vệ tinh. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 43
  43. Trạm mặt đất (hay trạm vệ tinh mặt đất) là điểm kết nối trong truyền thông vệ tinh và được thiết kế để tương tác với vệ tinh cung cấp dịch vụ truyền thông. Trạm mặt đất thường được sử dụng để kết nối một cổng quốc tế với một mạng khác. Tuy nhiên, cũng có những ứng dụng mà trạm mặt đất cung cấp kết nối tới những điểm trong một nước. Hình 7 thể hiện trạm vệ tinh mặt đất ở nước Cộng hòa Kiribati trong vùng đảo Thái Bình Dương. Hình 7. Trạm vệ tinh mặt đất, Cộng hòa Kiribati (Credit: Rajnesh D.Singh) Nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) cung cấp phương thức truy cập tới Internet và các dịch vụ khác. Về phương diện lịch sử, các ISP do các công ty viễn thông đảm nhiệm. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại quy định này đã được bãi bỏ ở nhiều nước, do đó khối tư nhân và các tổ chức khác cũng cung cấp các dịch vụ Internet. Có nhiều loại hình nhà cung cấp dịch vụ Internet, một vài là các ISP ảo, mua các dịch vụ từ các ISP khác và bán trực tiếp cho khách hàng mà không cần phải xây dựng hạ tầng, một số khác sở hữu hạ tầng và khai thác trên đó, còn một số nữa thì cung cấp các dịch vụ kết nối Internet tới các ISP khác. 44 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  44. Điểm nhấn Mạng cáp phía Nam Mạng cáp phía Nam (SCCN) là một hệ thống cáp quang dưới biển bắt đầu từ bờ biển phía tây nước Mỹ tới Thái Bình Dương (xem hình 8 về sơ đồ bố trí cáp). Hệ thống có một tuyến dự phòng trong trường hợp sự cố, đảm bảo mạng được thông suốt. Mạng này được xây dựng bởi một nhóm các công ty bao gồm Viễn thông New Zealand (50%), SingTel-Optus (40%) và Verizon Business (10%). Mức đầu tư ban đầu khoảng 1,3 tỷ đô la Mỹ và kéo dài 25 năm. Hình 8. Mạng cáp phía Nam (Nguồn: J.P.Lon, Cable-Route.png/375px-Southem-X-Cable-Route.png) Đi vào hoạt động từ tháng 11 năm 2001, SCCN đã có dung lượng 80Gbps và cung cấp hầu hết các tuyến chính tới các điểm truyền dẫn Internet ở bờ biển phía tây của nước Mỹ. Các điểm kết nối là: 1. Alexandria, NSW, Úc; 2. Brookvale, NSW, Úc; 3. Suva, Fiji; 4. Whenuapai, New Zealand; 5. Takapuna, New Zealand; 6. Kahe Point, Hawail, Mỹ; 7. Spencer Beach, Hawail, Mỹ; 8. Hillsboro, Oregon, Mỹ; 9. San Jose, California, Mỹ (Kết nối duy nhất trên mặt đất); 10. Vịnh Morro, California, USA. Tháng 2 năm 2003, dung lượng hệ thống được tăng lên 480Gbps. Kế hoạch năm 2008 được nâng cấp lên 860Gbps. Thời điểm hiện nay dung lượng hệ thống đã đạt 2400Gbps (2,4Tbps). Ngoài Úc, New Zealand và Hawaii, SCCN đã kết nối Fiji (một quốc gia thuộc đảo Thái Bình Dương) trực tiếp tới điểm phân chia Internet của nước Mỹ trên đường truyền tốc độ cao, nhằm thu hút các doanh nghiệp CNTT&TT ở Fiji cung cấp dịch vụ cho các khách hàng Mỹ. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 45
  45. Tự kiểm tra 1. Bạn có thấy vai trò quan trọng của mạng cáp khu vực? Mạng này có tác động gì trong việc cung cấp và chi phí dịch vụ trong đất nước của bạn? 2. Việc đầu tư hạ tầng trong tương lai quan trọng thế nào đến kế hoạch quốc gia? 3. Trong đất nước của bạn có sử dụng dịch vụ truyền thông vệ tinh hay không? Nếu có, hãy nêu một thí dụ điển hình về nhu cầu sử dụng dịch vụ này như một phương án thay thế dịch vụ truyền thông truyền thống? 46 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  46. 3. INTERNET: KỶ NGUYÊN THÔNG TIN Mục này tập trung vào: • Miêu tả những yếu tố chính tạo nên internet ngày nay; • Thảo luận về các ứng dụng và công nghệ internet, và những ảnh hưởng tới phương thức chúng ta truyền thông hiện nay và tương lai; • Cung cấp một vài kinh nghiệm của các tổ chức trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến kỹ thuật và chính sách của internet; • Xác định những công nghệ và xu hướng đang nổi lên liên quan tới sự phát triển và đổi mới của internet; • Phác thảo những quan điểm chính sách liên quan tới sự phát triển của Internet. Quan điểm chính sách Khi bạn đọc xong mục này, xem xét những vấn đề dưới đây theo khía cạnh chính sách: • Thúc đẩy cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ Internet và đảm bảo rằng có sự phân tách mạch vòng nội hạt phù hợp (ví dụ có sự độc lập giữa hạ tầng và dịch vụ trên đó); • Liên kết các cơ quan chính phủ và các trường học bằng hạ tầng thích hợp, và thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến có thể; • An toàn và ổn định của hạ tầng internet quốc gia trong các hệ thống tên miền (DNS), trạm trung chuyển (IXPs) và dự trữ kết nối quốc tế; • Trách nhiệm pháp lý tới các vấn đề bảo mật, an ninh (ví dụ luật chống thư rác và bảo vệ khách hàng trên Internet) • Tối đa hóa cơ hội do công nghệ Internet mang lại để cung cấp dịch vụ và thông tin. • Đưa ra những điều chỉnh phù hợp để đảm bảo sự đổi mới của công nghệ Internet và việc sử dụng tiếp tục được phát triển (ví dụ tự do hóa cung cấp dịch vụ VoIP và phát triển Internet băng rộng theo cả hai khía cạnh là truy cập và giá cước); Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 47
  47. • Tận dụng các công nghệ mới và triển khai chiến lược phát triển hạ tầng (ví dụ triển khai giao thức Internet phiên bản 6 (Ipv6) và sử dụng mạng vô tuyến cho các kết nối ở các khu vực đồi núi và phân tán); • Xây dựng môi trường thúc đẩy sự phát triển mạng cộng đồng, đặc biệt ở môi trường nông thôn khi mà sự cung cấp các dịch vụ mang tính thương mại khó triển khai; • Khai thác các cơ hội để phát triển mạng khu vực và vùng phụ cận để giảm sự phụ thuộc vào những đường quốc tế; • Trao đổi với các tổ chức khu vực và quốc tế về các vấn đề chính sách internet và CNTT&TT; • Sử dụng tiêu chuẩn mở trong triển khai hệ thống nhằm đảm bảo khả năng tương tác giữa các hệ thống; • Đảm bảo rằng các công cụ điều chỉnh và tạo lập chính sách CNTT&TT của chính phủ là đi trước một bước và thúc đẩy sự tham gia của các đối tượng ở tất cả các lĩnh vực, có năng lực để tìm kiếm và nắm bắt xu hướng công nghệ mới. 3.1 Giới thiệu Internet được miêu tả tốt nhất như là “mạng của mạng”. Nó tồn tại như một chuỗi mạng máy tính được kết nối và truy cập toàn cầu sử dụng giao thức Internet (IP) để trao đổi thông tin. Trong vài thập kỷ Internet đã chuyển từ một mạng nghiên cứu sang mô hình như ngày nay và trở thành một phần trong cuộc sống hàng ngày của con người trên toàn thế giới. Sự tăng trưởng và ảnh hưởng một cách phi thường của Internet trong thập kỷ trước (xem hình 9 về hiện trạng thuê bao Internet theo khu vực năm 2006). Truyền thông thoại trên Internet, nhật ký cá nhân, đài phát thanh trên Internet, truyền hình trên Internet, mạng xã hôi, điện toán đám mây, và các ứng dụng trên Internet tất cả đóng góp lớn lao trong việc phổ cập và coi Internet như là phương thức truyền thông đầu tiên được lựa chọn. Internet đã tạo ra nhiều doanh nghiệp và ngành công nghiệp có thu nhập hàng tỷ đô la, trở thành một phần quan trọng trong kinh tế toàn cầu. 48 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  48. Hình 9. Thuê bao Internet ở các khu vực và loại hình truy cập, 2006 (Nguồn: ITU, Triệu Tỷ lệ thuê bao băng rộng S thu bao Internet S thuê bao bng rng S thuê bao DSL Châu Á-TBD Châu Âu Châu Mỹ Châu Phi Có lẽ chất xúc tác cho sự bùng nổ của Internet là từ phát minh ra World Wide Web năm 1989 bởi Tim Berners-Lee ở Tổ chức Nghiên cứu hạt nhân Châu Âu (CERN). Nhờ điều này mà đã hình thành giao diện dễ sử dụng để quản lý thông tin và nguồn lực trên Internet, do vậy đến nay trình duyệt Internet đã trở một trong những ứng dụng sử dụng nhiều nhất trên máy tính. Theo Internetworldstats.com, có khoảng 1,3 tỷ người sử dụng Internet trên thế giới tính đến 31 tháng 12 năm 2007. Nghiên cứu bởi Hiệp hội Hệ thống Internet cũng chỉ ra có trên 500 triệu máy chủ cho đến tháng 1 năm 2008. Các số liệu trên cho thấy mức độ tăng trưởng vượt bậc của Internet. Mối quan tâm hiện nay là sự mở rộng truy cập tới hàng tỷ người còn chưa được tiếp cận và việc đảm bảo về mặt an toàn và ổn định cho tất cả người sử dụng trên Internet. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 49
  49. Hình 10. Số lượng người sử dụng Internet trên thế giới tính đến 12/2007 (Nguồn: Craig Roth, nltsWayOneoftheBiggestChangestothe_A419/WorldInterentUsers2.gif) Châu Á Châu Âu Bắc Mỹ Châu Mỹ Latinh/ Caribe Châu Phi Trung Đông Châu Đại Dương/ Úc Internet ở Châu Á có sự phát triển ấn tượng kể từ khi nó được giới thiệu (xem hình 10 về số lượng người sử dụng Internet trên thế giới). Số người sử dụng (bao gồm cả thuê bao Internet băng rộng) ở khu vực Đông Á (ví dụ như Hàn Quốc) đang dẫn đầu thế giới và đang tiếp tục triển khai Ipv6, phiên bản tiếp theo của công nghệ Internet (xem thông tin nhiều hơn về Ipv6 ở phần sau). Ở hầu hết các quốc gia, chính phủ đều đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai mạnh mẽ công nghệ Internet. Chẳng hạn như ở Hàn Quốc, Chính phủ đưa ra các định hướng rõ ràng cho mạng quốc gia và đầu tư một lượng tiền lớn để kết nối tất cả các cơ quan chính phủ và công cộng thông qua mạng tốc độ cao. Chính phủ tiên phong trong việc đặt mục tiêu quốc gia: năm 2005 có 80% gia đình Hàn Quốc sẽ được truy cập Internet ở tốc độ 20Mbps hoặc cao hơn. Về mặt tương tự thì sự phát triển của Ipv6 cũng nhận được sự hỗ trợ quan trọng của chính phủ. Điều này xuất phát từ việc xác định nhu cầu số lượng kết nối lớn tới dân số ở các nước Châu Á (đơn giản là không đủ địa chỉ IP với phiên bản Ipv4 hiện tại để phục vụ đầy đủ dân số Châu Á), và tiềm năng của các thiết bị khác cũng cần địa chỉ IP để phục vụ công nghiệp CNTT&TT. Hơn nữa, với nhiều ngôn ngữ và chữ viết ở Châu Á đã dẫn tới các ngôn ngữ địa phương trên Internet. Tại Châu Á, nhiều trang thông tin điện tử sử dụng các ngôn ngữ địa phương, là nhân tố quan trọng để đưa những người dân bản địa tiếp cận được Internet. Ở thời điểm hiện tại đã cho phép sử dụng các chữ viết địa phương để lập tên miền một cách dễ dàng. 50 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  50. 3.2 Các yếu tố hạ tầng Internet Không còn nghi ngờ về vai trò của internet như một phần quan trọng của kinh tế toàn cầu, là một phần thiết yếu của hạ tầng quốc gia giống như điện, vận tải và nước. Điều gì thực sự cấu tạo nên hạ tầng Internet và các dịch vụ chính nào cần để bảo đảm Internet duy trì? Ngoài các dịch vụ tiện lợi, an toàn, nguồn lực con người và kỹ thuật, các tổ chức với chức năng quản trị và sắp xếp ở khu vực và quốc tế (các tổ chức Internet sẽ được thảo luận ở phần sau trong giáo trình này), một vài yếu tố cũng cần đến để duy trì các chức năng của Internet như dưới đây. Hệ thống tên miền (DSN) DNS rất quan trọng nhưng là phần vô hình của Internet. World Wide Web là một hình thức truy cập điển hình sử dụng DNS. Tương tự thì thư điện tử được gửi cũng gắn với tên miền của người gửi. Ví dụ, sử dụng Google để tìm kiếm một vài thứ, một người sẽ đánh ”www.google.com” vào trong trình duyệt web. Để truy cập tới hòm thư Hotmail của anh/chị nào đó, người đó sẽ phải đánh www.hotmail.com (hoặc www.yahoo.com với tài khoản Yahoo). ”Google.com”, ”hotmail.com” và ”yahoo.com” là các tên miền. Một địa chỉ thư điện tử Hotmail như [email protected] sẽ sử dụng tên miền hotmail.com. Những tên miền thường dễ nhớ và sử dụng. Vì các máy tính và những thiết bị khác sử dụng địa chỉ IP để kết nối interrnet, do đó nó đơn giản chỉ cần thiết lập địa chỉ IP (Ipv4) gồm bốn nhóm số cách nhau bởi dấu chấm (ví dụ 202.62.124.238). Những số này sẽ cho phép một thiết bị kết nối internet. Mỗi thiết bị kết nối tới Internet sẽ chỉ có một địa chỉ IP duy nhất. Khi một tên miền được sử dụng để truy cập Internet (ví dụ đánh chữ www.google.com trên trình duyệt web), tên miền của Internet sẽ được liên kết tới địa chỉ IP để tìm kiếm thông tin của các máy chủ trên internet. Quy trình này được gọi là yêu cầu hệ thống tên miền. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 51
  51. Một yêu cầu DNS thường dễ thực hiện, nhiều yêu cầu cơ bản được đáp ứng hàng ngày. Hiện tại có hàng tỷ địa chỉ IP được thiết lập, và hàng tỷ yêu cầu DNS được thực hiện mỗi ngày. Chỉ mỗi một người thực hiện những công việc hàng ngày đã tạo ra hàng trăm hoặc nhiều hơn nữa về yêu cầu mỗi ngày. Với hàng trăm triệu người đang sử dụng internet ở bất kỳ thời điểm nào, các địa chỉ IP cũng được cập nhật và cài đặt mới hàng ngày, đã tạo ra số lượng các yêu cầu đáng kinh ngạc. Do vậy, hạ tầng internet cũng phải được thiết lập đảm bảo phục vụ tất cả các yêu cầu. Tấn công từ chối dịch vụ (DoS) có thể được sử dụng để phá hoại internet. Các cuộc tấn công thực hiện bằng việc làm quá tải máy chủ internet thông qua gửi nhiều yêu cầu khiến cho máy chủ không thể xử lý được và dừng cung cấp dịch vụ. Vấn đề an toàn internet sẽ được thảo luận chi tiết ở Học phần 6 – Vấn đề cá nhân và an toàn mạng và thông tin trong Bộ giáo trình. Ba từ cuối trong địa chỉ “www.google.com” muốn nói tới tên miền cấp cao hoặc đầu tiên. Tên miền cấp cao là GOV, INFO, NET, ORG và một số khác. Hai ký tự để chỉ tên miền quốc gia (ví dụ AU – Úc, FJ – Fiji, HK-Hồng Kong, IN - Ấn Độ, RU – Nga, TV-Tuvalu, và VN-Việt Nam) cũng được coi là tên miền cấp cao. Tên miền cấp hai thường là tên của website. Với ví dụ trên, Google là tên miền cấp hai. Có hàng triệu tên miền cấp hai dưới đuôi COM. Tuy nhiên, có duy nhất một tên miền cấp hai Google dưới một tên miền cấp cao. Cũng có khả năng một tên miền cấp hai sử dụng nhiều tên miền cấp cao như google.com và google.net, hai tên miền này có thể ở hai máy chủ khác nhau và chức năng cũng khác nhau. Ba ký tự đầu tiên của tên miền (ví dụ www) chỉ dẫn tên của máy chủ (xem hình 11). Nó chỉ rõ tên của máy chủ với địa chỉ IP trong tên miền đó. Hình 11. Cầu tạo của một tên miền cơ bản Tên máy chú Tên miền 52 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  52. Nhà cung cấp tên miền Để tránh lặp lại một tên miền đã được cấp phát, các chương trình sẽ kiểm tra lại tên miền đó trên cơ sở dữ liệu, cho biết ai sở hữu và tên máy chủ của mỗi tên miền. Cơ sỡ dữ liệu tên miền được quản lý bởi một tổ chức hoặc công ty. Ví dụ, một công ty Mỹ gọi là Giải pháp mạng quản lý tên miền .COM. Khi một ai đó yêu cầu cung cấp một tên miền .COM, một nhân viên thuộc Giải pháp mạng (công ty cung cấp dịch vụ đăng ký tên miền) sẽ xử lý để bổ sung tên miền vào cơ sở dữ liệu. Quy trình này thường mất phí, gọi là phí đăng ký tên miền, và có sự thỏa thuận chia sẻ doanh thu giữa các nhà dịch vụ. Quy trình cũng được tiến hành tương tự với các tên miền khác như ORG và NET. Các công ty và tổ chức lớn có hàng chục vạn địa chỉ IP và hệ thống máy chủ để lưu trữ các địa chỉ hay tên miền máy chủ của họ. Ví dụ, Google có vài nghìn máy tính và máy chủ để lưu trữ cho tên miền google.com. Tương tự, tất cả các tên miền cấp cao của các quốc gia (gọi là tên miền cấp quốc gia hay ccTLD) được quản lý ở mỗi nước và do một tổ chức được chỉ định quản lý. Nhiều ccTLD đã được thương mại hóa thành công. Ví dụ tên miền cấp quốc gia TV thuộc nước Tuvalu (trong quần đảo Thái Bình Dương) được cấp phép cho các đài truyền hình, mang lại nguồn thu đáng kể cho một quốc đảo nhỏ bé. Theo nghĩa này, ccTLD như một loại hàng hóa, cung cấp các địa chỉ tên miền đặc biệt mang nghĩa của một thứ gì đó. Ví dụ ccTLD của Niue (cũng trong quần đảo Thái Bình Dương) được dịch sang “new” trong tiếng Thụy Điển và đã được thương mại hóa thành công. Máy chủ tên miền Một cơ sở dữ liệu được lưu trữ với một hệ thống tên miền. Ví dụ, Google khai thác với tên miền google.com. Tên miền đó được duy trì trên tất cả các máy chủ và công ty có thể thay đổi cơ sở dữ liệu khi họ muốn hoặc cần. Điều này giúp phân chia các yêu cầu cho các máy chủ. Các yêu cầu được xử lý bởi các tên miền đã đăng ký, các tên miền này do một người quản lý, và bản ghi được lưu trữ trên máy chủ. Có hàng triệu máy chủ DNS do hàng hiệu người quản lý trên khắp thế giới, điều này đã tạo cho DNS phổ biến. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 53
  53. Một DNS chấp nhận các yêu cầu từ các ứng dụng máy tính hoặc các DNS khác và được chuyển đổi từ tên miền thành địa chỉ IP. Các máy chủ sẽ thực hiện các yêu cầu theo một trong bốn cách: 1. Chỉ dẫn một địa chỉ IP vì nó thực sự biết địa chỉ IP của tên miền đó. 2. Kết nối tới máy chủ tên miền khác để tìm được địa chỉ IP của tên miền đó. 3. Chỉ dẫn một địa chỉ IP của một máy chủ mà có thể biết được địa chỉ IP của tên miền đó. 4. Thông báo lỗi về tên miền yêu cầu là sai hoặc không có. Khi nhập một địa chỉ trên trình duyệt web, trình duyệt sẽ kết nối tới một máy chủ để chuyển đổi tên miền thành địa chỉ IP. Sau đó trình duyệt sử dụng địa chỉ IP để yêu cầu hiển thị trang web từ máy chủ chứa địa chỉ IP đó. Máy chủ có đường kết nối internet và thường do các ISP cung cấp. Hiện nay, các máy chủ thường được chỉ định một cách tự động khi kết nối tới các ISP. Vì rằng, máy tỉnh hiểu được tên máy chủ được yêu cầu, Trình duyệt web sẽ kết nối tới máy chủ và yêu cầu “chuyển đổi tên miền này tới một địa chỉ IP”. Nếu máy chủ biết được địa chỉ IP, nó sẽ có thông tin phản hồi về địa chỉ IP đó cho trình duyệt. Trong trường hợp không biết địa chỉ đó, nó sẽ tìm kiếm thông qua việc kết nối tới máy chủ gốc. Mỗi máy chủ nội bộ sẽ biết được địa chỉ của tất cả các máy chủ gốc. Các máy chủ gốc sẽ biết được địa chỉ IP của tất cả các máy chủ mà lưu trữ tên miền cấp cao. Với trường hợp trên, máy chủ sẽ hỏi máy chủ gốc cho tên miền www.google.com và máy chủ gốc sẽ trả lời “Tôi không biết địa chỉ IP của www.google.com mà ở đây có địa chỉ IP của máy chủ tên miền .COM có thể chứa nó, theo cách như vậy sẽ tìm được đường dẫn của trang yêu cầu. Bởi vậy, máy chủ gốc là một phần quan trọng trong toàn bộ hệ thống internet. Hiện tại có 13 máy chủ gốc được chỉ định trên thế giới được đánh thứ tự A đến M, và được duy trì bởi các tổ chức khác nhau. Mỗi máy chủ sẽ có nhiều thiết bị hỗ trợ trong trường hợp cần thiết, và những máy chủ gốc có hàng trăm các hệ thống lưu trữ trên khắp thế giới. Các máy chủ gốc dự trữ có các bản sao thông tin từ máy chủ gốc. Máy chủ gốc được cập nhật vài lần trong một ngày và sau đó những thông tin được cập nhật này sẽ được lưu trữ trong trường hợp hệ thống DNS yêu cầu máy chủ gốc tra cứu thông tin về tên miền không biết ở máy chủ nội bộ. 54 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  54. Hình 12. Máy chủ gốc ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương (Nguồn: APNIC, Mỗi quốc gia có khả năng để thiết lập một máy chủ gốc dự trữ thông qua các tổ chức duy trì các máy chủ gốc khác nhau. Hình 12 cho thấy các máy chủ gốc ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương tính đến tháng 3 năm 2008. Một máy chủ gốc dự trữ giúp duy trì sự ổn định của Internet bởi việc cung cấp các truy cập nội hạt tới các thông tin chứa trên máy chủ gốc thay vì phải truy cập thông tin từ nước ngoài. Điều này giúp giảm thời gian xử lý và giải phóng băng thông quốc tế. Tuy nhiên, số lượng người sử dụng Internet cũng có tác động đến nó: nhiều người sử dụng đồng nghĩa với việc máy chủ gốc yêu cầu nhiều băng thông hơn. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 55
  55. Kết nối ngang hàng và truyền dẫn Thỏa thuận kết nối ngang hàng thường được phát sinh giữa hai ISP để họ có thể trao đổi lưu lượng của khách hàng tới mỗi mạng khác mà không mất phí (đây là trường hợp chuẩn mực mặc dù đôi khi vẫn phát sinh chi phí). Hai ISP sẽ thiết lập một đường kết nối vật lý giữa hai mạng của họ và trao đổi tuyến thông tin mà mỗi mạng xác định được vị trí và đường dẫn nào cần sử dụng. Theo cách này, họ biết được hướng tải xuống của khách hàng, nhưng hướng tải lên thì không. Một vài lợi ích của việc kết nối ngang hàng là có khả năng truyền dẫn một lượng lớn dữ liệu giữa hai ISP mà không cần đến kết nối tới đường trục Internet. Điều này cũng làm giảm sử dụng băng thông, tiết kiệm chi phí truyền dẫn, và cải thiện tốc độ truy cập cho mỗi khách hàng của các ISP. Truyền dẫn là một hình thức khác của kết nối giữa các ISP. Nó thường được sử dụng cho kết nối từ một ISP tới một ISP có hướng tải lên lớn và cung cấp đường kết nối tới đường trục Internet toàn cầu. Theo cách đó, một ISP truyền dẫn bán lại băng thông Internet tới các ISP để phục vụ thị trường nội địa. Giá kết nối được tính theo tốc độ truy cập mỗi tháng (ví dụ 10Mbits/giây mỗi tháng). Thỏa thuận này cũng có thể yêu cầu các ISP có hướng tải xuống trả cước trên cơ sở lưu lượng sử dụng thêm trong tháng và chi phí sẽ tăng lên. Truyền dẫn (hay truyền dẫn quốc tế) là phương thức kết nối đầu tiên của thế giới đang phát triển tới Internet toàn cầu. Các ISP phải trả phí lưu lượng quốc tế khi kết nối với Internet và cả lưu lượng trong nước. Việc trả phí lưu lượng trong nước tức là các ISP trả cho kết nối tới các máy chủ dự trữ. Điểm trung chuyển Internet (IXPs) Các IXP đóng góp một phần quan trọng trong việc đảm bảo định tuyến Internet hiệu quả và ổn định. IXP được phát huy giá trị khi có nhiều hơn hai ISP yêu cầu kết nối. Về cơ bản một IXP là một sự mở rộng khái niệm kết nối ngang hàng: hạ tầng vật lý (như trong ngang hàng nhưng trên phạm vi lớn hơn và nhiều đối tượng tham gia) được đặt tại vị trí cho phép các ISP trao đổi lưu lượng Internet giữa các mạng của họ mà không mất chi phí. Các IXP có thể là một nhà khai thác mang tính thương mại hoặc được thiết lập trên cơ sở không lợi nhuận, chi phí hoạt động IXP được chia sẻ cho các đối tượng tham gia kết nối. 56 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  56. IXP cung cấp hai lợi ích chính: chi phí thấp và cải thiện chất lượng dịch vụ. Không có IXP, lưu lượng kết nối ISP (trong nước và quốc tế) sẽ được trao đổi ở nước ngoài, đặc biệt là truyền dẫn vệ tinh hoặc cáp quang dưới biển. Chi phí truyền dẫn của các ISP được trả cho các lưu lượng trong nước và ngoài nước. Hầu hết các quốc gia thuê truyền dẫn vệ tinh, điều này gây ra sự chậm chễ rất lớn tới mạng. Không có IXP, lưu lượng trong nước cũng được trao đổi ở bên ngoài quốc gia và làm chậm kết nối tới người sử dụng và trở thành rào cản cho các hoạt động kinh doanh trên Internet. Các IXP khu vực đang được xúc tiến bởi một số các tổ chức, bao gồm Xã hội Internet và Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế OECD, đặc biệt trong các nước đang phát triển. Câu hỏi suy nghĩ Bạn nghĩ gì về khái niệm IXP? Bạn có thấy nó cải thiện truy cập và ổn định Internet như thế nào? Bạn cho rằng cần có một hoặc nhiều hơn IXP trong đất nước của bạn? Một số việc cần làm Hình thành những nhóm nhỏ và xem xét các vấn đề của IXP và hiện trạng cung cấp Internet trong đất nước của bạn, và trả lời những câu hỏi dưới đây: 1. Bạn có thấy những giá trị khi có IXP? Tại sao có hoặc không? 2. Đề nghị giải pháp để có được IXP trong đất nước của bạn. Cần một sự can thiệp chính sách hay do các ISP đưa ra các sáng kiến? Đường truyền quốc tế dự phòng Đường truyền quốc tế dự phòng được xem như là một chức năng chính của hạ tầng Internet quốc gia. Thông thường ở các nước đang phát triển cổng kết nối quốc tế có một đường kết nối tới đường trục Internet. Với sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào Internet như một phương tiện trong kinh doanh, truyền thông, giải trí và nghiên cứu, sự liên tục của mạng là rất quan trọng và nhà cung cấp cổng kết nối quốc tế phải được khuyến khích lập dự phòng trên đường truyền của họ tới đường trục Internet. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 57
  57. Điểm nhấn Báo cao lưu lượng Internet Báo cáo lưu lượng Internet thể hiện luồng dữ liệu trên thế giới. Nó biểu diễn bằng giá trị từ 0 đến 100, với giá càng cao thì cho biết kết nối nhanh hơn và độ sẳn sàng cao hơn. Báo cáo được cập nhật 5 phút một lần và sử dụng “ping” để đánh giá thời gian quay vòng dọc theo đường kết nối chính của Internet toàn cầu. Báo cáo được thể hiện trên địa chỉ 3.3 Ứng dụng Internet Có khuynh hướng trong công chúng xác định giao diện của Internet – ví dụ world wide web – như chính là Internet. Điều này không đúng. Internet là một kết nối vật lý của mạng vòng quanh thế giới để chia sẻ nguồn lực theo các hình thức khác nhau. Một trong những nguồn lực này là World Wide Web. Mục này sẽ trình bày về vấn đề này và một vài ứng dụng phổ biến đang nổi lên trên interent. World Wide Web (hay Web) Web là một hệ thống tài liệu siêu văn bản liên kết với nhau (văn bản trên một máy tính sẽ hướng người sử dụng đến một tài liệu liên quan khác theo nhu cầu) thông qua Internet. Những tài liệu (hay trang) bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh, video và những phương thức truyền thông khác. Thư điện tử Thư điện tử là một phương pháp tạo, gửi, nhận và lưu trữ thư tín trên hệ thống truyền thông điện tử, phổ biến nhất là Internet. 58 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  58. Điểm nhấn Thư rác Thư rác, thư số lượng lớn không được yêu cầu hoặc thư thương mại không mong muốn là một sự lạm dụng ở phạm vi lớn hệ thống thư tín điện tử để gửi những thư không được yêu cầu (như quảng cáo) tới một số lượng lớn người nhận. Đôi khi nó cũng liên quan đến vấn đề gian lận và hoạt động tội phạm trên Internet. Chi phí của việc gửi thư rác số lượng lớn rất thấp: một chút chi phí cho việc quản lý danh sách địa chỉ thư do người tạo thư rác sở hữu (danh sách thường được mua từ các cá nhân hoặc công ty tìm kiếm địa chỉ thư điện tử trên Internet và bán những địa chỉ thu được cho người gửi thư rác). Luật chống thư rác thường không được ra ở hầu hết các văn bản chính sách, nên có rất ít trở ngại cho những người tạo thư rác. Vấn đề thư rác đang tăng nhanh tới mức độ nghiêm trọng khi mà khoảng 80% hoặc hơn lưu lượng thư điện tử là thư rác. Chi phí cho việc loại bỏ thư rác thường cao. Ở các nước đang phát triển, nếu 80% lưu lượng thư điện tử là thư rác, tương ứng với rất nhiều băng thông bị lãng phí, chi phí cuối cùng do người sử dụng chịu với tốc độ truy cập chậm và giá cước truy cập cao phải trả cho các ISP. Hơn nữa, hệ thống máy tính sẽ lãng phí do việc xử lý những thư không thích hợp, mọi người sử dụng thời gian để đọc và thỉnh thoảng bị lừa bị bởi những tín nhắn giả mạo (ví dụ thưởng tiền, quả tặng, 10 năm được may mắn). Vấn đề an toàn có thể liên quan khi những mã độc được đính kèm trong các thư này, có thể gây ảnh hưởng tới hệ thống máy tính hoặc dữ liệu người sử dụng. Do đó, luật pháp chống thư rác nên được coi như là một phần trong chiến lược CNTT&TT quốc gia ở các nước đang phát triển khi chi phí cho việc ngăn chặn vấn đề này cao hơn mức có thể. Thư rác và các vấn đề liên quan sẽ được thông tin nhiều hơn trong Học phần 5 - Quản trị Internet và Học phần 6 – An toàn và tính riêng tư trong mạng và thông tin trong Bộ giáo trình. Học phần 4 Xu hướng Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo cơ quan Nhà nước 59