Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 3: Ứng dụng chính phủ điện tử

pdf 108 trang ngocly 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 3: Ứng dụng chính phủ điện tử", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_nhung_kien_thuc_co_ban_ve_cong_nghe_thong_tin_va.pdf

Nội dung text: Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 3: Ứng dụng chính phủ điện tử

  1. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử Nag Yeon Lee ICS TRUNG TÂM ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CÁN BỘ QUẢN LÝ THÔNG TIN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ TRUYỀN THÔNG
  2. LỜI GIỚI THIỆU Thế kỷ 21 đã đánh dấu sự tác động lẫn nhau của con người trên toàn cầu. Thế giới đang mở ra cơ hội cho hàng triệu người nhờ công nghệ mới, những thông tin và kiến thức thiết yếu được mở rộng đã cải thiện một cách đáng kể cuộc sống của con người và giúp giảm cảnh nghèo nàn. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi có sự liên kết cùng với việc chia sẻ giá trị, cùng cam kết và thống nhất sự phát triển tổng thể và phù hợp. Trong những năm gần đây, Châu Á Thái Bình Dương được biết đến như khu vực năng động nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Thế giới, khu vực này đã có trên 2 tỷ thuê bao điện thoại, trong đó có 1,4 tỷ thuê bao di động. Tinh đến năm 2008, chỉ riêng Ấn Độ và Trung Quốc đã chiếm ¼ số lượng thuê bao di động trên toàn thế giới. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương được cho là chiếm 40% số lượng người sử dụng internet trên thế giới và đồng thời là thị trường băng rộng lớn nhất, chiếm 39% thị trường toàn cầu. Cùng với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ, nhiều vấn đề được nhắc đến khi khoảng cách số biến mất. Nhưng điều đáng tiếc, khoảng cách số vẫn hiện hữu. Thậm chí 5 năm, sau khi Hội nghị Thế giới về Xã hội thông tin (WSIS) diễn ra ở Geneva vào năm 2003, bất chấp sự phát triển ấn tượng của công nghệ và những cam kết của các nước lớn trong khu vực. Kết quả là truy nhập truyền thông cơ bản vẫn còn xa lạ với nhiều người, đặc biệt là những người nghèo. Hơn 25 quốc gia trong khu vực gồm những nước đang phát triển, đã có gần 10 người sử dụng internet trên 100 dân, phần lớn tập trung ở các thành phố lớn. Trong khi đó ở một vài nước đã phát triển trong khu vực thì tỉ lệ rất cao với hơn 80 người sử dụng internet trên 100 dân. Sự chênh lệch về mức độ phổ cập băng rộng giữa các nước phát triển và đang phát triển vẫn còn giữ một khoảng cách lớn. Để giảm dần khoảng cách số và nhận diện đúng tiềm năng của ICT cho phát triển kinh tế xã hội trong khu vực, những nhà lập pháp ở các nước phát triển cần xây dựng các chính sách ưu tiên và khung điều chỉnh, chỉ định nguồn quỹ, và tạo điều kiện cho xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp ICT và nâng cao kỹ năng ICT cho công dân nước họ. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 3
  3. Trong Kế hoạch Hành động của WSIS có chỉ rõ, " mỗi người sẽ có cơ hội tiếp cận những kỹ năng và kiến thức cần thiết để hiểu, thực hành và đạt được những lợi ích từ Xã hội Thông tin và Kinh tế Tri thức". Trong phần cuối của kế hoạch này đã kêu gọi sự hợp tác quốc tế và khu vực trong những lĩnh vực có tiềm năng, đặc biệt nhấn mạnh vào việc tạo tập một số lượng lớn các chuyên gia ICT. Để hỗ trợ tốt cho lời kêu gọi từ Kế hoạch hành động của WSIS, APCICT đã xây dựng chương trình giảng dạy đầy đủ về ICT – Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước. Chương trình này bao gồm 8 phần có liên kết chặt chẽ với nhau, với mục tiêu truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết giúp các nhà lập pháp xây dựng và thi hành sáng kiến ICT hiệu quả hơn. APCICT là một trong 5 học viện của Ủy ban Kinh tế Xã hội Liên hợp quốc Châu Á Thái Bình Dương. APCICT xúc tiến chương trình phát triển kinh tế xã hội phù hợp và toàn diện ở Châu Á Thái Bình Dương thông qua việc phân tích, chuẩn hóa, khai thác tiềm năng, hợp tác khu vực và chia sẻ kiến thức. Trong quá trình hợp tác với các cơ quan Liên hợp quốc khác, các tổ chức quốc tế, các quốc gia và những tổ chức liên quan, ESCAP, đại diện là APCICT, được giao nhiệm vụ hỗ trợ việc sử dụng, cải tiến và dịch thuật các bài giảng cho các quốc gia khác nhau, phù hợp với các trình độ trung và cao cấp của các nhân viên trong cơ quan nhà nước, với mục đích đưa kỹ năng và kiến thức thu thập được làm gia tăng những lợi ích từ ICT và thiết lập những hành động cụ thể để đạt được mục tiêu phát triển. Noeleen Heyzer TL. Tổng Thư ký Liên hợp quốc và Giám đốc điều hành của ESCAP 4 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  4. LỜI TỰA Chặng đường phát triển của Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT&TT) cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước thực sự là một kinh nghiệm mang tính trí tuệ cao. Bộ giáo trình không chỉ phục vụ cho việc xây dựng các kỹ năng CNTT&TT, mà còn mở đường cho một phương thức mới về xây dựng chương trình giảng dạy - thông qua sự hợp tác của các thành viên và tự chủ về quy trình. Bộ giáo trình là một chương trình mang tính chiến lược của APCICT, phát triển trên cơ sở kết quả khảo sát đánh giá nhu cầu một cách toàn diện được tiến hành trên 20 nước trong khu vực và sự tham khảo ý kiến của các nhân viên thuộc cơ quan nhà nước, thành viên các cơ quan phát triển quốc tế, các viện hàn lâm và cơ sở giáo dục; những nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng về điểm mạnh và điểm yếu của giáo trình đào tạo; thông tin phản hồi từ những người tham gia xây dựng chuỗi bài giảng của APCICT – tổ chức các buổi hội thảo khu vực và quốc gia liên quan đến nội dung bài giảng và các phương pháp đào tạo khoa học; và sự trao đổi góp ý thẳng thắn của các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực ICT phục vụ phát triển. Các hội thảo về giáo trình diễn ra ở các khu vực thu được những lợi ích vô giá từ các hoạt động trao đổi kinh nghiệm và kiến thức giữa những người tham dự đến từ các quốc gia khác nhau. Đó là một quy trình để các tác giả xây dựng nội dung. Việc xây dựng 8 học phần trong bộ giáo trình đánh dấu một sự khởi đầu quan trọng trong việc nâng cao sự hợp tác ở hiện tại và xây dựng các mối liên hệ mới nhằm phát triển các kỹ năng thiết lập chính sách phát triển CNTT&TT khắp khu vực. APCICT cam kết cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật trong việc giới thiệu bộ giáo trình quốc gia như một mục tiêu chính hướng tới việc đảm bảo rằng bộ giáo trình sẽ được phổ biến tới tất cả những nhà lập pháp. APCICT cũng đang xúc tiến một cách chặt chẽ với một số viện đào tạo trong khu vực và quốc tế, những tổ chức có mối quan hệ mật thiết với cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương để cải tiến, dịch thuật và truyền đạt các nội dung của Giáo trình tới những quốc gia có nhu cầu. APCICT đang tiếp tục mở rộng hơn nữa về đối tượng tham gia nghiên cứu giáo trình hiện tại và kế hoạch phát triển một giáo trình mới. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 5
  5. Hơn nữa, APCICT đang xúc tiến nhiều kênh để đảm bảo rằng nội dung Bộ giáo trình đến được nhiều người học nhất trong khu vực. Ngoài phương thức học trực tiếp thông qua các tổ chức lớp học ở các khu vực và quốc gia, APCICT cũng tổ chức các lớp học ảo (AVA), phòng học trực tuyến cho phép những học viên tham gia bài giảng ngay tại chỗ làm việc của họ. AVA đảm bảo rằng tất cả các phần bài giảng và tài liệu đi kèm cũng như bản trình chiếu và bài tập tình huống dễ dàng được truy nhập trực tuyến và tải xuống, sử dụng lại, cải tiến và bản địa hóa, và nó bao gồm nhiều tính năng khác nhau như bài giảng ảo, công cụ quản lý học tập, công cụ phát triển nội dung và chứng chỉ. Việc xuất bản và giới thiệu 8 học phần của bộ giáo trình thông qua các buổi hội thảo khu vực, tiểu khu vực, quốc gia có sự tận tâm cống hiến, tham gia tích cực của nhiều cá nhân và tổ chức. Tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ lòng cảm ơn những nỗ lực và kết quả đạt được của nhóm cộng tác và các đối tác từ các Bộ, ngành, học viện, và các tổ chức khu vực và quốc gia đã tham gia hội thảo về bộ giáo trình. Họ không chỉ cũng cung cấp những thông tin đầu vào có giá trị, phục vụ nội dung của bài giảng, mà quan trọng hơn, họ đã trở thành những người ủng hộ việc truyền đạt bộ giáo trình trên đất nước mình, tạo ra kết quả là những thỏa thuận chính thức giữa APCICT và một số viện đối tác của các quốc gia và trong khu vực để cải tiến và phát hành bài giảng giáo trình chính thức cho đất nước họ. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt cho những nỗ lực cống hiến của nhiều cá nhân nổi bật, những người đã tạo nên thành quả cho bài giảng này. Họ là Shahid Akhtar Cố Vấn Dự án Giáo trình; Patricia Arinto, Biên tập; Christine, Quản lý xuất bản; toàn bộ tác giả bộ giáo trình; và những nhóm APCICT. Chúng tôi hy vọng rằng bộ giáo trình sẽ giúp các quốc gia thu hẹp được những hạn chế của nguồn nhân lực CNTT&TT, xóa bỏ những rào cản nhận thức về CNTT&TT, và xúc tiến ứng dụng CNTT&TT trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và đạt được mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ. Hyeun-Suk Rhee Giám đốc UN-APCICT 6 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  6. VỀ CHUỖI HỌC PHẦN Trong kỷ nguyên thông tin ngày nay, việc truy cập thông tin một cách dễ dàng đang làm thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và giải trí. Nền kinh tế số - còn được gọi là kinh tế tri thức, kinh tế mạng hay kinh tế mới, được mô tả như một sự chuyển tiếp từ sản xuất hàng hóa sang tạo lập ý tưởng. Công nghệ thông tin và truyền thông đang đóng một vai trò quan trọng và toàn diện trên mọi mặt của kinh tế xã hội. Như một kết quả, chính phủ trên khắp thế giới đang quan tâm nhiều hơn tới CNTT&TT trong sự phát triển quốc gia. Đối với các nước, phát triển CNTT&TT không chỉ phát triển về công nghiệp CNTT&TT là một lĩnh vực của nền kinh tế mà còn bao gồm cả việc ứng dụng CNTT&TT trong hoạt động kinh tế, xã hội và chính trị. Tuy nhiên, giữa những khó khăn mà chính phủ các nước phải đối mặt trong việc thi hành các chính sách CNTT&TT, những nhà lập pháp thường không nắm rõ về mặt công nghệ đang sử dụng cho sự phát triển quốc gia. Cho đến khi không thể điều chỉnh được những điều họ không hiểu, nhiều nhà lập pháp né tránh tạo lập các chính sách về CNTT&TT. Nhưng chỉ quan tâm tới công nghệ mà không tạo lập các chính sách thì cũng là một sai lầm vì những nhà công nghệ thường ít có kiến thức về thi hành những công nghệ họ đang phát triển hoặc sử dụng. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước do Trung tâm Đào tạo Phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Liên hợp quốc và Châu Á Thái Bình Dương (UN-APCICT) xây dựng nhằm phục vụ cho: 1. Các nhà hoạch định chính sách về CNTT&TT cả ở mức độ quốc gia và địa phương; 2. Quan chức chính phủ chịu trách nhiệm về phát triển và thi hành các ứng dụng của CNTT&TT; 3. Những nhà quản lý trong lĩnh vực công đang tìm kiếm chức danh quản lý dự án về CNTT&TT. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 7
  7. Bộ giáo trình hướng đến những vấn đề liên quan tới CNTT&TT phục vụ phát triển trên cả khía cạnh chính sách và công nghệ. Mục đích cốt yếu của giáo trình CNTT&TT không tập trung vào kỹ thuật mà truyền đạt sự hiểu biết về những điều công nghệ số có khả năng hoặc đang hướng tới, tác động tới như thế nào trong việc hoạch định chính sách. Các chủ đề trong bài giảng được thiết kế dựa trên phân tích nhu cầu và khảo sát những chương trình đào tạo trên khắp thế giới. Học phần được cấu tạo theo cách mà người học có thể tự học một cách độc lập hoặc bài giảng cho một khóa học. Học phần vừa mang tính chất riêng lẻ nhưng cũng liên kết với những chủ đề và tình huống thảo luận trong phần khác của chuỗi. Mục tiêu là tạo được sự thống nhất ở tất cả các phần. Mỗi phần bắt đầu với việc trình bày một chủ đề và kết quả mà người đọc sẽ thu được. Nội dung các phần được chia thành các mục bao gồm bài tập và tình huống để giúp hiểu sâu hơn những nội dung chính. Bài tập có thể được thực hiện bởi từng cá nhân hoặc một nhóm học viên. Biểu đồ và bảng biểu được cung cấp để minh họa những nội dung của buổi thảo luận. Tài liệu tham khảo được liệt kê để cho người đọc có thể tự tìm hiểu sâu hơn về bài giảng. Việc sử dụng CNTT&TT phục vụ phát triển rất đa dạng, trong một vài tình huống hoặc thí dụ ở bài giảng có thể xuất hiện những mâu thuẫn. Đây là điều đáng tiếc. Đó cũng là sự kích thích và thách thức của quá trình rèn luyện mới và cũng là triển vọng khi tất cả các nước bắt đầu khai thác tiềm năng của CNTT&TT như công cụ phát triển. Hỗ trợ chuỗi học phần còn có một phương thức học trực tuyến – Học viện ảo APCICT (AVA – – với phòng học ảo sẽ chiếu bản trình bày của người dạy dưới dạng video và Power Point của học phần. Ngoài ra, APCICT đã phát triển một kênh cho phát triển CNTT&TT (e-Co Hub – một địa chỉ trực tuyến dành cho những học viên phát triển CNTT&TT và những nhà lập pháp nâng cao kinh nghiệm học tập. E-Co Hub cho phép truy cập những kiến thức về các chủ đề khác nhau của phát triển CNTT&TT và cung cấp một giao diện chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, và hợp tác trong việc nâng cao CNTT&TT phục vụ phát triển. 8 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  8. HỌC PHẦN 3 Học phần này đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về chính phủ điện tử, bao gồm các thành phần chính và khái niệm chung, các quy tắc và các ứng dụng. Phần này sẽ thảo luận lý do hệ thống chính phủ điện tử được xây dựng thông qua việc cung cấp các nghiên cứu chi tiết về hệ thống mẫu và nhận biết về thiết kế mạng. Mục tiêu của học phần Học phần này nhằm mục tiêu: 1. Đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về những thành phần chính của chính phủ điện tử; 2. Miêu tả và đưa ra các ví dụ về các loại dịch vụ hành chính trong chính phủ điện tử; 3. Thảo luận những nhân tố chính làm nên thành công của chính phủ điện tử cũng như các rào cản đối với sự thành công của các dịch vụ chính phủ điện tử. Kết quả thu được Sau khi hoàn thành học phần này, học giả có thể: 1. Thảo luận các ứng dụng ICT có thể hỗ trợ tăng năng lực hoạt động của chính phủ như thế nào; 2. Mô tả các ứng dụng của ICT áp dụng trên mọi phương diện của chính phủ; 3. Phân tích các yếu tố dẫn đến thành công hoặc thất bại của các ứng dụng đặc biệt của chính phủ điện tử. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 9
  9. MỤC LỤC Lời giới thiệu 3 Lời tựa . 5 Về chuỗi học phần 7 Học phần 3 9 Mục tiêu của học phần 9 Kết quả thu được 9 Danh mục các trường hợp nghiên cứu 11 Danh mục các hộp 11 Danh mục các hình 11 Danh mục các bảng 12 Danh mục từ viết tắt 12 1. Tổng quan về những ứng dụng ICT . 15 1.1 Định nghĩa Chính phủ điện tử 15 1.2 Đổi mới dịch vụ cho người dân (G2C) và dịch vụ cho kinh doanh (G2B) 17 1.3 Đổi mới cách thức làm việc của Chính phủ (G2G) . 19 1.4 Lợi ích của việc triển khai thành công ICT trong Chính phủ 21 1.5 Các nhân tố dẫn đến thành công 22 1.6 Nhân tố rủi ro trong việc triển khai Chính phủ điện tử . 25 1.7 Chính phủ điện tử tương lai . 26 2. Các hình mẫu, chiến lược và bản đồ hướng dẫn cho Chính phủ điện tử 27 2.1 Các hình mẫu Chính phủ điện tử 27 2.2 Vấn đề quyền ưu tiên trong Chính phủ điện tử ở các nước đang phát triển . 30 2.3 Kế hoạch Chiến lược Chính phủ điện tử 35 2.4 Triển khai và đánh giá Chính phủ điện tử . . 41 2.5 Ngân sách cho Chính phủ điện tử 45 3. Các dạng trình duyệt ICT và ứng dụng . 47 3.1 Các trình ứng dụng Chính phủ - Công dân (G2C) 48 3.2 Chính phủ tới doanh nghiệp (G2B): Đổi mới dịch vụ kinh doanh 60 3.3 Chính phủ tới Chính phủ (G2G): Đổi mới cách làm việc của Chính phủ 74 3.4 Cơ sở hạ tầng Chính phủ điện tử 88 3.5 Hệ thống quản lý kiến thức 94 3.6 Trình ứng dụng Sức khỏe và Dược: Tăng tiện ích các dịch vụ chăm sóc sức khỏe .100 3.7 Trình ứng dụng quản lý bệnh tật: Các dịch vụ quản lý bệnh tật quốc gia hội nhập 105 10 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  10. Danh mục các trường hợp nghiên cứu 1. PFnet 32 2. Trung tâm cộng đồng số tại Bangladesh 33 3. Bản đồ chỉ dẫn chính phủ điện tử của Hàn Quốc 37 4. Bản đồ chỉ dẫn về chính phủ điện tử của Mongolia 39 5. Dự án ở Campuchia 52 6. Giao dịch điện tử ở Andhra Pradesh, Ấn Độ 61 7. Cải cách hải quan ở Philippines 64 8. Thương mại điện tử ở Hàn Quốc 70 9. Thương mại điện tử ở Thái Lan 71 10. Dự án LGU điện tử ở Philippines 79 11. Hệ thống quản lý tri thức điện tử của Hàn Quốc 97 12. Quản lý tri thức về rủi ro thảm họa ở Ấn Độ 98 13. Hệ thống cảnh báo thảm họa Sahana 106 Danh mục các hộp Hộp 1. Chỉ số Web của LHQ 43 Hộp 2. Nhận định các vấn đề pháp lý liên quan tới thương mại điện tử 67 Hộp 3. Tổ chức y tế thế giới trong vấn đề y tế điện tử 103 Danh mục các hình Hình 1. Các nhân tố dẫn đến thành công trong quá trình triển khai chính phủ điện tử 22 Hình 2. Các hệ thống đối tác chính phủ điện tử 29 Hình 3. Triển khai hệ thống Mexico điện tử quốc gia 30 Hình 4. Kế hoạch hàng năm để triển khai Bản chỉ dẫn chính phủ điện tử của Hàn Quốc 41 Hình 5. Ngân sách truyền thống và đầu tư cho ICT 45 Hình 6. Khung khái niệm về Chính phủ điện tử ở Hàn Quốc 47 Hình 7. Chính phủ điện tử một cửa 48 Hình 8. Sử dụng các dịch vụ G2C ở Hàn Quốc 51 Hình 9. Chính phủ điện tử một cửa truy cập cho công dân Hàn Quốc 51 Hình 10. Cổng dịch vụ trang thông tin bảo hiểm xã hội của Hàn Quốc dựa trên một cơ sở dữ liệu hội nhập 55 Hình 11. Hệ thống đăng ký cư trú của Hàn Quốc 56 Hình 12. Bản đồ khái niệm Hệ thống quản lý nhà đất của Hàn Quốc 58 Hình 13. Khái niệm cho hệ thống quản lý đăng ký xe cơ giới của Hàn Quốc 59 Hình 14. Hệ thống giao dịch chính phủ đơn cửa 60 Hình 15. Hệ thống hải quan điện tử của Hàn Quốc 64 Hình 16. Động cơ của cải cách quản lý tài chính của chính phủ Hàn Quốc 75 Hình 17. Khái niệm về hệ thống chính quyền địa phương số ở Hàn Quốc 78 Hình 18. Khái niệm về hành chính giáo dục số tầm quốc gia ở Hàn Quốc 83 Hình 19. Hướng tới một hệ thống hội nhập của chính phủ 89 Hình 20. Kiến trúc trung tâm máy tính hội nhập chính phủ 90 Hình 21. Phương pháp tư vấn qua điện thoại dùng hình topho ở các Đảo Thái Bình Dương 103 Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 11
  11. Danh mục các bảng Bảng 1. Những thay đổi trong cách làm việc của chính phủ khi có chính phủ điện tử 21 Bảng 2. Các giai đoạn phát triển của chính phủ điện tử tại Hàn Quốc 26 Bảng 3. Các kiểu mẫu chính phủ điện tử dựa theo những tương tác trong những thành phần sử dụng 28 Bảng 4. Bốn bước cốt lõi cho hệ thống chính phủ điện tử 76 Bảng 5. Trao đổi tài liệu điện tử và Tỷ lệ xác thực điện tử giữa các cơ quan chính quyền (tính tới 6/2006) 82 Bảng 6. Giá trị thị trường của học điện tử ở Hàn Quốc 86 Bảng 7. Các dịch vụ chia sẻ chính phủ điện tử được ưu tiên ở Hàn Quốc 93 Bảng 8. So sánh giữa dữ liệu, thông tin và tri thức 95 Bảng 9. Các ví dụ về Chăm sóc sức khỏe điện tử 101 Danh mục từ viết tắt APCICT Trung tâm đào tạo phát triển Công nghệ thông tin Truyền thông Châu Á- Thái Bình Dương Asian and Pacific Training Centre for Information and Communication Technology for Development APDIP Chương trình phát triển thông tin châu Á- Thái Bình Dương Asia-Pacific Development Information Programme ASYCUDA Hệ thống tự động cho dữ liệu hải quan Automated System for Customs Data AusAID Cơ quan Phát triển Quốc tế của Úc Australian Agency for International Development B2B Doanh nghiệp tới Doanh nghiệp Business-to-Business B2C Doanh nghiệp tới người dân Business-to-Citizen B2G Doanh nghiệp tới Chính phủ Business-to-Government BOC Cơ quan hải quan, Philippine Bureau of Customs, Philippines BPR Tái cấu trúc quy trình kinh doanh Business Process Reengineering CIC Trung tâm thông tin cộng đồng, Bangladesh Community Information Centre, Bangladesh EDI Trao đổi thông tin điện tử Electronic Data Interchange eRPTS Hệ thống thuế bất động sản Electronic Real Property Tax System, Philippines ESCAP Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương Economic and Social Commission for Asia and the Pacific FOSS Phần mềm mã nguồn mở và miễn phí Free and Open Source Software 12 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  12. G2B Chính phủ tới doanh nghiệp Government-to-Business G2C Chính phủ tới người dân Government-to-Citizen G2G Chính phủ tới chính phủ Government-to-Government GAIS Hệ thống thông tin hành chính Chính phủ Government Administration Information System, Cambodia GoAP Chính quyền bang Andhra Pradesh Government of Andhra Pradesh, India ICT Công nghệ thông tin và Truyền thông Information and Communication Technology ICTD Công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ phát triển Information and Communication Technology for Development IDRC Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế International Development Research Centre, Canada ILC Trung tâm đào tạo Internet, Bangladesh Internet Learning Centre, Bangladesh INV Dự án Làng mạng thông tin Hàn Quốc Information Network Village, Republic of Korea ISP Kế hoạch chiến lược thông tin Information Strategy Planning IT Công nghệ thông tin Information Technology KADO Cơ quan Hàn quốc về thúc đẩy và cơ hội số Korea Agency for Digital Opportunity and Promotion KMS Hệ thống quản lý tri thức Knowledge Management System LAN Mạng nội bộ Local Area Network LGU Đơn vị chính quyền địa phương Local Government Unit, Philippines MOGAHA Bộ Nội vụ và Chính phủ Hàn Quốc Ministry of Government Administration and Home Affairs, Republic of Korea MOPAS Bộ an ninh và quản lý xã hội Hàn Quốc Ministry of Public Administration and Security, Republic of Korea NCA Cơ quan tin học hóa quốc gia Hàn Quốc National Computerization Agency, Republic of Korea NCC Trung tâm máy tính quốc gia Hàn Quốc National Computer Center, Philippines NDMS Hệ thống quản lý thảm họa quốc gia National Disaster Management System NGO Tổ chức phi chính phủ Non-Governmental Organization NIA Cơ quan thông tin xã hội quốc gia Hàn Quốc National Information Society Agency, Republic of Korea NRI Học viện nguồn lực quốc gia Ấn độ National Resource Institution, India Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 13
  13. NTS Dich vụ thuế quốc gia National Tax Service OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Organisation for Economic Co-operation and Development PC Người quản lý dự án Personal Computer PFnet Hệ thống mạng con người đầu tiên People First Network RIC Trung tâm ICT nông thôn, Bangladesh Rural ICT Centre, Bangladesh RTC Trung tâm công nghệ thông tin Bangladesh Rural Technology Centre, Bangladesh SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ Small and Medium Enterprise TV Tivi Television UN Liên hợp quốc United Nations UNCTAD Hội thảo về thương mại và phát triển Liên Hiệp Quốc United Nations Conference on Trade and Development UNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc United Nations Development Programme UNOPS Cơ quan dịch vụ dự án Liên Hiệp quốc United Nations Office for Project Services WHO Tổ chức Y tế thế giới World Health Organization 14 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  14. 1. TỔNG QUAN VỀ NHỮNG ỨNG DỤNG ICT 1.1 Định nghĩa Chính phủ điện tử Chính phủ điện tử được định nghĩa rộng rãi là những ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông (ICTs) để tăng cường việc thực thi các chức năng và dịch vụ hành chính truyền thống của chính phủ. Chi tiết hơn, chính phủ điện tử là “việc sử dụng các công nghệ số để giúp cho việc vận hành của chính phủ trở nên khả dụng, hiệu quả và cung cấp dịch vụ hành chính tốt hơn”.1 Chính phủ điện tử không phải là một ứng dụng đơn lẻ trong ngắn hạn mà là một quá trình phát triển trong dài hạn giúp cho chính phủ tập trung nhiều hơn vào vấn đề cung cấp dịch vụ cho mỗi công dân. Do vậy, việc vần thiết là phải thiết lập một biểu đồ chỉ dẫn chính phủ điện tử ở mức độ cao (theo cách từ trên xuống dưới ) với một kế hoạch triển khai chi tiết từ cơ sở. Học phần 2 trong chương trình này đã thảo luận về vấn đề tầm nhìn và kế hoạch đặt ra một biểu đồ chỉ dẫn chính phủ điện tử. Học phần này sẽ thảo luận về những triển khai từ cơ sở. Mục đích của chính phủ điện tử là cung cấp một cách hiệu quả hơn các dịch vụ hành chính cho người dân. Nói chung, càng nhiều dịch vụ cung cấp online thì càng có nhiều người sử dụng các dịch vụ này và chính phủ điện tử càng có ảnh hưởng lớn hơn. Do vậy chính phủ điện tử càng cần có nhiều công dân điện tử và kinh doanh điện tử để duy trì ảnh hưởng của nó tới sự hiệu quả và minh bạch của chính phủ trong nước. Tuy nhiên, đạt được số lượng sử dụng lớn không phải là điều dễ dàng. Có một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về tầm quan trọng của việc truy cập nhiều dịch vụ trực tuyến hơn cho công dân điện tử và kinh doanh điện tử đã chỉ ra rằng: Rất nhiều quốc gia tiên phong trong việc triển khai các chương trình chính phủ điện tử từ 5 đến 10 năm trước đã sớm nhận ra rằng mức độ tham gia và sử dụng các dịch vụ hành chính điện tử vẫn ở mức thấp bất chấp việc duy trì đầu tư công vào việc cung cấp dịch vụ, việc cung cấp dịch vụ ngày chỉ thành công trong việc đưa các dịch vụ hành chính sẵn có trên mạng.2 1 Mark Forman, e-Government: Using IT to transform the effectiveness and efficiency of government (2005), 4, 2 World Bank, e-Government for All – Review of International Experience with Enhancing Public Access, Demand and Participation in e-Government Services: Toward a Digital Inclusion Strategy for Kazakhstan, ISG e-Government Practice Technical Advisory Note (Draft version 30 June 2006), 11. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 15
  15. Chính phủ điện tử sẽ chỉ thành công nếu có nhu cầu và sự ủng hộ lớn từ phía đa số người dân. Một vài nhu cầu sẽ đến nếu nhận ra những cơ hội được đưa đến từ việc nhanh chóng giải quyết được thủ tục hành chính. Công dân và doanh nghiệp cũng cần phải được khuyến khích sử dụng các dịch vụ hành chính điện tử thông qua việc cung cấp những nội dung số hấp dẫn, thích đáng và dễ sử dụng. Nói riêng, cần phải triển khai những vấn đề sau để giúp tăng nhu cầu và sự ủng hộ đối với chính phủ điện tử: • Phát triển hạ tầng cơ sở cung cấp dịch vụ chung một cửa - nhiều kênh, bao gồm các trung tâm dịch vụ hành chính “vật lý” và các địa điểm truy nhập công cộng như trung tâm thông tin, trung tâm viễn thông, cổng thông tin web và thông tin di động; • Triển khai các cách thức nhằm tăng cường sự tin tưởng của công chúng vào ICT – tăng cường vấn đề quản lý và các hoạt động tương tác trong môi trường kỹ thuật số; • Khuyến khích sự phát triển của những nội dung di động và trực tuyến hấp dẫn, thân thiện với người sử dụng, bao gồm cả cái gọi là “những ứng dụng chết người”; • Các chương trình ứng dụng có mục đích tăng khả năng truy nhập của các nội dung di động và trực tuyến và ICT. Một vài điều cần làm 1. Chỉ ra một dịch vụ hành chính điện tử có thể đáp ứng nhu cầu cao, hỗ trợ công dân và việc kinh doanh trong quốc gia của bạn. Đưa ra lý do chứng minh tại sao bạn nghĩ dịch vụ đó sẽ trở nên phổ biến. 2. Chỉ ra một dịch vụ hành chính điện tử không phổ biến như ví dụ bạn đưa ra ở câu trả lời thứ nhất và liệt kê những cách thức để thúc đẩy công dân và việc kinh doanh sử dụng hoặc tham gia vào những dịch vụ đó. Bốn mục tiêu sau hoàn toàn có thể đạt được nếu các dự án về chính phủ điện tử được triển khai thành công: • Dịch vụ hành chính trực tuyến • Một chính phủ không cần giấy tờ • Một chính phủ tri thức • Một chính phủ minh bạch 16 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  16. Để đạt được 4 mục tiêu đó, cần phải xây dựng chính phủ điện tử ở cấp độ bang, nhà nước hoặc địa phương. Có ba nhiệm vụ chính cho từng cấp độ của chính phủ: a) đổi mới dịch vụ cho người dân (G2C); b) đổi mới dịch vụ cho kinh doanh (G2B); và c) đổi mới cách thức làm việc của chính phủ (G2G). Những vấn đề thảo luận dưới đây về những ứng dụng của ICT dành cho : a) đổi mới dịch vụ cho người dân (G2C); b) dịch vụ cho kinh doanh (G2B); và c) cách thức làm việc của chính phủ (G2G) tại Hàn Quốc thông qua kế hoạch chính phủ điện tử của nước này sẽ là trường hợp minh hoạ. Hàn Quốc xếp thứ 6 trong danh sách của Liên hiệp quốc về Chỉ số sử dụng chính phủ điện tử, đó là tổng hợp của các yếu tố bao gồm Chỉ số sử dụng web, chỉ số cơ sở hạ tầng viễn thông và chỉ số nguồn vốn nhân lực. Nó tính toán khía cạnh “chính phủ với người dân” (G2C), “chính phủ với chính phủ” (G2G) của chính phủ điện tử. Bản điều tra năm 2008 cũng tính toán thêm cả thành phần “chính phủ với doanh nghiệp” (G2B). 1.2 Đổi mới dịch vụ cho người dân (G2C) và dịch vụ cho kinh doanh (G2B) Dịch vụ G2C bao gồm việc phổ biến thông tin tới công chúng và các dịch vụ cơ bản dành cho người dân trong khi G2B là bao gồm các dịch vụ giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp. Các dịch vụ G2C điện tử hoặc liên quan đến công nghệ ICT tiêu biểu cho hệ thông chia sẻ thông tin rộng lớn của chính phủ và các ứng dụng mới dựa trên Internet là dịch vụ cho phép người dân truy nhập vào hệ thống thông tin và các dịch vụ khác thông qua một cổng thông tin điện tử duy nhất. Những cổng thông tin như thế này có thể cung cấp cho người dân các dịch vụ sau: • Xử lý và phát hành một loạt các giấy phép và chứng chỉ • Thông tin luật pháp và hành chính • Các dịch vụ trả tiền, bao gồm hoàn thuế và các khoản phúc lợi xã hội • Cơ hội tham gia vào các cơ quan chính phủ thông qua việc yêu cầu và bỏ phiếu điện tử Để tạo một cổng hệ thống chia sẻ thông tin cho người dân và xã hội, hệ thống dữ liệu trong vấn đề đăng ký cư trú, bất động sản, phương tiện giao thông, thuế và bảo hiểm cần phải được thống nhất. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 17
  17. Cung cấp hệ thống G2B điện tử cần một mẫu theo kiểu dịch vụ một cửa cho kinh doanh thương mại. Các dịch vụ này bao gồm quan hệ hành chính, thông tin công nghiệp, dịch vụ điện tử như mua bán, nỗ lực và phần thưởng, và các dịch vụ trả tiền như các loại thuế và chi phí công cộng. Dịch vụ điện tử G2B hiệu quả cần có các ứng dụng ICT sau: • Hệ thống thủ tục điện tử hợp nhất – VD như hệ thống thủ tục hành chính một cửa bao gồm tất cả các quy trình liên quan đến thủ tục hành chính, như đăng ký, bỏ thầu, hợp đồng và thanh toán đều được thực hiện thông qua Internet • Một hệ thống hải quan điện tử có thể sắp xếp hợp lý hoá hệ thống quản lý hải quan trong ngành công nghiệp xuất nhập khẩu và hình thành một hành lang chống buôn lậu hiệu quả • Thương mại điên tử để hỗ trợ việc mua bán hành hoá và dịch vụ trực tuyến Những ứng dụng này được thảo luận chi tiết tại Section 2. Tự kiểm tra Sử dụng các định nghĩa ở trên cũng như hiểu biết riêng của bạn về dịch vụ hành chính, chỉ ra những ví dụ sau đâu là của dịch vụ G2C, đâu là dịch vụ G2B. 1. Dịch vụ thuế, ví dụ như thuế và hoàn thuế 2. Các dịch vụ mua bán, bao gồm bỏ thầu, nỗ lực và phần thưởng 3. Dịch vụ bảo hiểm xã hội: y tế, trợ cấp, việc làm và bảo hiểm tai nạn. 4. Đăng ký cư trú 5. Đăng ký kinh doanh 6. Quản lý thông tin bất động sản 7. Hệ thống quản lý phương tiện giao thông 18 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  18. 1.3 Đổi mới cách thức làm việc của Chính phủ (G2G) Ứng dụng G2G điện tử có mục đích cải tổ cách thức hoạt động nội bộ của chính phủ nhằm tăng cường hiệu quả. Chi tiết hơn, việc cải tổ cách thức hoạt động thông qua việc sử dụng ICT được hi vọng là sẽ đạt được các mục tiêu sau: • Những hệ thống báo cáo của chính quyền trung ương và địa phương được kết nối, mang lại sự chính xác. • Tạo ra việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chính phủ theo cách thức chia sẻ dữ liệu cơ sở. Điều này sẽ mang lại sự hiệu quả. • Tạo ra việc chia sẻ sáng kiến và nguồn lực giữa các cơ quan chính phủ. • Cộng tác trong việc đưa ra quyết định là khả thi thông qua hội nghị truyền hình. Tài liệu số sử dụng trong các cơ quan chính phủ và tiến đến một chính phủ không cần giấy tờ là sáng kiến chính của G2C. Thay đổi tài liệu sang hình thức tài liệu điện tử được hi vọng là sẽ mang lại một chính quyền đáng tin cậy, an ninh và hiệu quả. Những ví dụ sau là về dịch vụ G2G tại Hàn Quốc. Hệ thống thông tin tài chính quốc gia hợp nhất: quản lý thời gian thật của các hoạt động tài chính quốc gia bằng cách kết nối 23 hệ thống liên quan đến tài chính đang được vận hành độc lập trong các cơ quan khác nhau của chính phủ. Hệ thống thông tin chính phủ điện tử địa phương: Thông tin hoá 232 hình thức quản lý địa phương, ví dụ như quản lý dân số và bất động sản, tài chính, thuế tại các thành phố lớn và địa phương. Hệ thống thông tin giáo dục và học trực tuyến: Một hệ thống thông tin toàn quốc về các trường học, cơ quan giáo dục địa phương và các đơn vị trực thuộc, và Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực. Trao đổi tài liệu trực tuyến về chính phủ: quá trình vận hành điện tử, bao gồm chuẩn bị, phê chuẩn, đóng góp và bảo quản tất cả các tài liệu liên quan đến chính phủ. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 19
  19. Hệ thống G2G yêu cầu phải đáp ứng các vấn đề sau: • Hình thành quy trình làm việc điện tử • Quy trình tài liệu điện tử • Hệ thống quản lý tri thức Những vấn đề này sẽ được thảo luận chi tiết tại phần 2 và 3. Một vài điều cần làm Chỉ ra những khía cạnh cần phải tăng cường trong quy cách làm việc của cơ quan của bạn. Chỉ ra những ứng dụng của ICTs có thể được sử dụng để tăng năng lực hoạt động của cơ quan đó. 20 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  20. 1.4 Lợi ích của việc triển khai thành công ICT trong Chính phủ Bảng 1 sẽ chỉ ra những điều cần làm để có những thay đổi có lợi cho việc hoạt động của chính phủ nếu sử dụng ICT một cách hiệu quả. Bảng 1. Những thay đổi trong cách làm việc của Chính phủ khi có Chính phủ điện tử Từ Đến Cách thức làm việc của chính phủ dựa trên Cách thức làm việc dựa trên tài liệu điện tử giấy tờ Các thủ tục phụ thuộc vào các phòng ban Các thủ tục phụ thuộc vào dịch vụ Nhiều đầu mối liên lạc và quá nhiều cuộc Một đầu mối liên lạc và trực tuyến, việc gặp gặp riêng (trực tiếp) với các nhân viên riêng các nhân viên chính phủ là không cần chính phủ thiết Việc quản lý thông tin ở mức độ phòng ban, Việc quản lý thông tin ở mức độ chính phủ với quá nhiều thủ tục thừa ở nhiều phòng sử dụng những tiêu chuẩn chung và tập ban khác nhau trung Những thay đổi này trong chính phủ đã làm tăng tính hiệu quả, minh bạch và hợp lý do đã giảm được thời gian làm việc và giảm được các thủ tục rườm rà. Thêm vào đó, chính phủ điện tử giúp xây dựng lòng tin giữa chính phủ và người dân do nó làm tăng sự tương tác trực tiếp giữa người dân và nhân viên của chính phủ, và giúp cho thông tin được phổ biến và luôn có sẵn. Cuối cùng, Giới thiệu ICT có thể giúp cho việc cải tổ trong chính phủ dễ dàng hơn. Nếu việc sử dụng ICT được nhân rộng ở các chính phủ Châu Á, các tổ chức chính phủ tập trung sẽ nhận được những yêu cầu mới và áp lực cạnh tranh mới từ người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Nói chung, dự án chính phủ điện tử sẽ tăng cường nhận thức trong người dân và doanh nghiệp rằng chính phủ đang hiện đại hoá và đi lên. Câu hỏi suy nghĩ Tại quốc gia của bạn, có phải mọi thay đổi trong chính phủ đều do các ứng dụng ICT không? Sáng kiến về chính phủ điện tử được đưa ra có nhận được sự phản ứng tích cực từ người dân không? Hãy minh hoạ. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 21
  21. 1.5 Các nhân tố dẫn đến thành công Trong quá trình triển khai chính phủ điện tử, các nhân tố dẫn đến thành công có thể được chia thành 5 nhóm chính: Hình 1. Các nhân tố dẫn đến thành công trong qua trình triển khai chính phủ điện tử (Nguồn: Soh Bong Yu, “e-Government of Korea: How we have been working with it” (KADO presentation), 25, Tầm nhìn, chủ thể và chiến lược Một kế hoạch dài hạn với một tầm nhìn và chiến lược rõ ràng là rất cần thiết trong việc triển khai chính phủ điện tử. Một cách tiếp cận tủn mủn và cố định sẽ không thực tế. Một cách tiếp cận hiệu quả hơn là phải nhìn xa trông rộng (nhìn từ trên xuống) nhưng phải bắt đầu từ việc nhỏ và các công việc đơn giản (từ dưới lên) trong quá trình triển khai. Tóm lại, một chính phủ điện tử thành công cần phải có: • Một tầm nhìn xa trông rộng từ người lãnh đạo • Một sự ủng hộ mạnh mẽ từ người dân • Một kế hoạch cụ thể 22 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  22. Luật và các quy định Cần phải đặt một kế hoạch về thời gian và nỗ lực trong việc thay đổi luật pháp để có thể đạt được sự ủng hộ trong việc triển khai. Những bộ luật sau đây cần phải được thay đổi để triển khai thành công chính phủ điện tử: • Luật về quyền riêng tư và những vấn đề liên qua • Luật liên quan đến những thay đổi trong kinh doanh và hệ thống thông tin • Luật liên quan dến hệ thống công nghệ thông tin chính phủ và thiết lập một trung tâm máy tính thống nhất Kết cấu tổ chức Những nỗ lực cần phải có trong vấn đề này rất khó tính toán. Việc kết cấu lại tổ chức sẽ chiếm 30-50% nỗ lực. Sự thay đổi trong kết cấu tổ chức sẽ phải được lên kế hoạch tốt và triển khai trong một hệ thống. Để tạo được thay đổi hiệu quả trong kết cấu, cần phải có: • Lãnh đạo tốt với cam kết tốt • Kế hoạch - quản lý IT và quản lý sự thay đổi • Chuẩn bị ngân sách • Phối hợp và cộng tác • Quản lý và thực hiện các biện pháp • Mối quan hệ đối tác giữa Chính phủ - khu vực tư nhân - người dân Quá trình kinh doanh Cách thức kinh doanh hiện tại có thể không nhất thiết là các hiệu quả nhất. Một trong những công cụ để triển khai công việc kinh doanh là Tái cấu trúc quy trình kinh doanh (BPR). BPR là việc cấu trúc lại công việc giữa các cấp cơ quan nhằm tăng cường tính hiệu quả của hệ thống (ví dụ: để giảm thiểu tính không hiệu quả trong công việc). Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin luôn thay đổi một cách nhanh chóng. Các nhân tố cần phải xem xét khi lựa chọn công nghệ hoặc nhà cung cấp là: • Yêu cầu cấp độ ứng dụng công nghệ • Hạ tầng mạng • Liên kết khả năng làm việc • Chuẩn hóa • Năng lực về công nghệ và nhân lực Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 23
  23. Một vài điều cần làm Nếu quốc gia của bạn có kế hoạch về chính phủ điện tử, hãy so sánh kế hoạch đó với danh sách những yếu tố tạo nên thành công đã được nói đến trong chương này. 24 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  24. 1.6 Nhân tố rủi ro trong việc triển khai Chính phủ điện tử Có rất nhiều quốc gia đã không đạt được mục tiêu đề ra khi triển khai chính phủ điện tử. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng 35% chương trình về chính phủ điện tử trên toàn thế giới đã thất bại, 50% thất bại một phần và chỉ có 15% được coi là thành công. Các nhân tố dẫn đến thất bại trong triển khai chính phủ điện tử ở các quốc gia đang phát triển bao gồm:3 • Không nhận được sự đồng thuận từ hệ thống hành chính công - vấp phải sự phản đối từ chính phủ • Kế hoạch và chiến lược không đầy đủ - chính phủ điện tử được coi như là một xu thế thời thượng không có hệ thống • Thiếu nguồn nhân lực – xây dựng thiếu cơ chế và con người • Thiếu kế hoạch đầu tư • Thiếu hệ thống cung cấp công nghệ thông tin • Hệ thống công nghệ thông tin chưa hoàn chỉnh – chưa chú ý đến công nghệ thông tin và định hướng phát triển liên quan đến công nghệ • Triển khai quá nhanh mà không kiểm tra và chuẩn bị kỹ Thách thức lớn nhất là việc nhận thức rằng một giải pháp không phải là phù hợp với mọi trường hợp. Các quốc gia ở khu vực Châu Á -Thái Bình Dương được coi là khu vực có quá nhiều điểm khác nhau về chính trị, kinh tế, xã hội và cần có những cách tiếp cận khác nhau. Một vài điều cần làm Đưa ra một sáng kiến hoặc dự án về chính phủ điện tử cho quốc gia của bạn đã rơi vào trường hợp thất bại hoặc thành công một phần. Mô tả dự án đó và giải thích lý do thất bại của nó. 3 National Information Society Agency, “Bridging Asia through e-Government” (Asia e-Government Forum 2007, Seoul, Republic of Korea, 20 September 2007). Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 25
  25. 1.7 Chính phủ điện tử tương lai Những thuận lợi nhanh chóng trong công nghệ đã mang lại rất nhiều lựa chọn trong việc triển khai chính phủ điện tử. Các công nghệ mới có khả năng cung cấp những dịch vụ hành chính tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp. Do vậy, các giai đoạn của chính phủ điện tử đã được liệt kê trong Bảng 2. Bảng 2. Các giai đoạn phát triển của Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc Vi tính hoá Trực tuyến Tích hợp Rộng khắp/ không giới hạn (giai đoạn 1) (giai đoạn 2) (giai đoạn 3) (giai đoạn 4) Từ những năm 1980 Từ giữa những năm Từ 2000 đến 2007 Khoảng năm 2010 đến đầu 1990 1990 đến 2000 Tự động hoá Mạng Hội tụ Bao quát Dữ liệu đến dữ liệu Máy tính đến máy tính Con người đến con Chủ thể tới chủ thể người Dịch vụ riêng biệt Dịch vụ trực tuyến Dịch vụ một cửa Dịch vụ không giới hạn/vô hình Nguồn : IT Strategy Division, Korea’s IT Strategy and e-Government (Seoul: National Computerization Agency, 2006).4 Đối với trường hợp của Hàn Quốc, giai đoạn 1 đến 3 kết thúc vào năm 2007. Các công nghệ mới như Mạng thông tin băng thông rộng và công nghệ rộng khắp đã giúp cho sự phát triển vượt bậc (giai đoạn 4). Những phát triển mới này trong lĩnh vực ICT đã được thảo luận rõ trong Học phần 4 (Xu hướng của ICT cho Lãnh đạo chính phủ). Trong hầu hết các trường hợp, các chính phủ phải hoàn thành giai đoạn 3 để có thể cung cấp một dịch vụ một cửa cho người dân. Sau đó, các công nghệ mới sẽ được áp dụng nếu cần phát triển hơn. 4 The National Computerization Agency (NCA) was renamed the National Information Society Agency (NIA) in October 2006. 26 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  26. 2. CÁC HÌNH MẪU, CHIẾN LƯỢC VÀ BẢN ĐỒ HƯỚNG DẪN CHO CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 2.1 Các hình mẫu Chính phủ điện tử Rất nhiều tổ chức chính phủ đã nắm lấy cuộc cách mạng số và triển khai trên diện rộng các dịch vụ thông tin công cộng và dịch vụ hành chính trực tuyến cho người sử dụng chính phủ điện tử. Các thành phần sử dụng bao gồm: • Người dân • Doanh nghiệp • Nhân viên chính phủ • Các bộ, ban, ngành, cơ quan chính phủ • Lãnh đạo các hiệp hội • Người đứng đầu cộng đồng, các tổ chức phi chính ohủ • Chính trị gia • Nhà đầu tư nước ngoài • Những thành phần khác Câu hỏi suy nghĩ 1. Có khả năng một tác nhân lại thuộc nhiều thành phần trong người sử dụng chính phủ điện tử không? 2. Ai hoặc nhóm nào được xếp vào nhóm “thành phần khác”? Ông Fang5 đã chỉ ra 8 kiểu mẫu của chính phủ điện tử dựa theo những tương tác trong những thành phần ở trên (xem bảng 3). 5 Zhiyuan Fang, “e-Government in Digital Era: Concept, Practice, and Development,” International Journal of the Computer, the Internet and Management, Vol. 10, No. 2 (2002): 1-22, Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 27
  27. Bảng 3. Các kiểu mẫu Chính phủ điện tử dựa theo những tương tác trong những thành phần sử dụng Kiểu chính phủ điện tử Tương tác giữa những người sử dụng Chính phủ - người dân (G2C) Các dịch vụ hành chính và thông tin một cửa của chính phủ cho người dân. Người dân - chính phủ (C2G) Cho phép trao đổi thông tin và liên hệ giữa người dân và chính phủ. Chính phủ - doanh nghiệp (G2B) Bao gồm các liên lạc điện tử để chính phủ cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin liên lạc họ cần để có thể liên lạc với chính phủ. Một ví dụ là hệ thống thủ tục hành chính điện tử. Doanh nghiệp - chính phủ (B2G) Để quảng cáo sản phẩm và dịch vụ tới chính phủ và giúp cho chính phủ hoạt động hiệu quả hơn thông qua việc nâng cao năng lực quản lý quy trình kinh doanh. Một hệ thống thủ tục hành chính là một ứng dụng tạo điều kiện thuận lợi cho tương tác giữa G2B và B2G. Chính phủ - người lao động Bao gồm các sáng kiến nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho (G2E) việc quản lý các dịch vụ cho người dân và liên hệ thông tin nội bộ giữa các nhân viên chính phủ. Một ví dụ là hệ thống quản lý nguồn nhân lực. Chính phủ - chính phủ (G2G) Cho phép liên lạc trực tuyến và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chính phủ thông qua hệ thống dữ liệu thống nhất. Chính phủ - tổ chức phi lợi Chính phủ cung cấp thông tin cho các tổ chức phi chính nhuận (G2N) phủ, các đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội. Tổ chức phi lợi nhuận - chính Cho phéo trao đổi thông tin và liên lạc giữa chính phủ và các phủ (N2G) tổ chức phi lợi nhuận, các đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội. Do vậy, chính phủ điện tử có thể có quan hệ với hai loại đối tác, đối tác nội bộ và đối tác bên ngoài (xem hình 2). Các đối tác nội bộ bao gồm các đối tác trong các cơ quan chính phủ (hành pháp, lập pháp và tư pháp). Các đối tác bên ngoài bao gồm người dân và các doanh nghiệp. 28 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  28. Hình 2. Các hệ thống đối tác Chính phủ điện tử (Nguồn: Zhiyuan Fang, “e-Government in Digital Era: Concept, Practice, and Development,” International Journal of the Computer, the Internet and Management, Vol. 10, No. 2 (2002): 1-22, Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 29
  29. 2.2 Vấn đề quyền ưu tiên trong Chính phủ điện tử ở các nước đang phát triển Các nghiên cứu và các tài liệu về thực tế tại rất nhiều quốc gia chỉ ra rằng có ba bước cơ bản trong việc phát triển chính phủ điện tử. Đầu tiên là xây dựng hệ thống liên lạc hoặc cơ sở hạ tầng, thứ hai là phát triển nội dung hoặc các ứng dụng và thứ ba là hệ thống hoặc sự thống nhất. Việc tiếp cận ba bước này đã được rất nhiều quốc gia thực hiện như Bangladesh, Trung Quốc, Nhật bản, Mexico và Hàn Quốc. Trong trường hợp của Mexico (như hình 3), hệ thống liên lạc có nghĩa là đầu tư vào các thiết bị số bằng cách cung cấp cho mọi người các công cụ công nghệ thông tin thông qua Trung tâm cộng đồng kỹ thuật số. Quyền ưu tiên trong việc phát triển nội dung và ứng dụng (bước 2) là đào tạo điện tử, chăm sóc sức khoẻ điện tử, nền kinh tế điện tử và chính phủ điện tử. Điều này cũng có nghĩa là trong bước này chính phủ cần phải phát triển các trang web và cổng thông tin điện tử cho các bộ ban ngành. Bước thứ 3 trong một Mexico điện tử là thống nhất và kết nối tất cả các hệ thống và cổng thông tin điện tử để có thể cung cấp dịch vụ hành chính một cửa cho người dân và doanh nghiệp. Hình 3. Triển khai hệ thống Mexico điện tử quốc gia (Nguồn: e-Mexico Portal, 30 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  30. Tại Fiji và quần đảo Solomon, 5 thành phần chính của kế hoạch chính phủ điện tử là: Bản thiết kế chính phủ điện tử, Các ứng dụng chính phủ điện tử, Trung tâm dữ liệu chính phủ, Cơ sở hạ tầng về hệ thống thông tin liên lạc của chính phủ và Trung tâm đào tạo và phát triển ICT. 8 ứng dụng của chính phủ điện tử bao gồm: Đào tạo điện tử cho giáo viên và sinh viên vùng nông thôn, hệ thống học bổng điện tử, hệ thống quản lý nhà tù điện tử, hệ thống dữ liệu về tội phạm, hệ thống phúc lợi xã hội điện tử, hệ thống quản lý tài liệu, thông tin hoá hệ thống hải quan và hệ thống nguồn nhân lực.6 Kết nối là một thách thức với các nước đang phát triển, đặc biệt là các quốc đảo. Quần đảo Solomon đã gặp phải những vấn đề này khi ứng dụng sáng kiến Hệ thống mạng đầu tiên cho mọi người (PFnet). 6 Anand Chand, “e-Government in the South Pacific Region: Case studies from Fiji and Solomon Islands” (paper presented at the Regional Workshop on Asia-Pacific e-Government Initiatives, Bangkok, Thailand, 24-25 April 2006), Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 31
  31. PFnet Tại một làng hẻo lánh tên là Sasamunga trên quần đảo Choiseul, cách Honiara, đảo chính của quần đảo Solomon, khoảng 1000 dặm, người dân đã liên lạc với họ hàng, bạn bè và các cơ quan chính phủ thông qua thư điện tử từ năm 2001. Điều này là đáng ghi nhận vì làng này còn không có cả đường điện và điện thoại. Năm năm trước đây, cách thức liên lạc duy nhất của quần đảo này tới thế giới bên ngoài là qua thư, và phải mất 3-4 tuần để chuyển thư tới Honiara (thông qua vận chuyển nội bộ). Radio tần số thấp được sử dụng để liên lạc ở những trường hợp khẩn cấp. Gửi thư điện tử không cần điện là có thể đối với người dân ở Sasamunga thông qua hệ thống PFnet được thiết lập từ năm 2001 từ một dự án của UNDP-UNOPS. Hệ thống này bao gồm 2000 máy tính xách tay sử dụng năng lượng mặt trời. Thư điện tử được đánh vào máy tính và gửi đi thông qua hệ thống sóng ngắn Radio tới một radio nhận lớn hơn nằm ở các quán Internet cafe tại Honiara nơi có người nhận nó và chuyển tiếp nó tới những địa chỉ cần gửi. Việc này được thực hiện vài lần một ngày, điều đó có nghĩa là luôn có liên lạc giữa những người quản lý gửi thư điện tử tại vùng quê này tới những người quản lý thư tại các quán cafe Internet ở Honiara. Tại mỗi điểm nhận thư điện tử, thư điện tử được “vận chuyển” như sau: Người gửi thư sẽ mang thư viết tay đến bưu điện và đưa cho người quản lý bưu điện, người này sẽ đánh máy thư đó và gửi nó tới quán cafe Internet tại Honiara. Do nhân viên bưu điện nhận thư và có nhiệm vụ đánh máy nó và gửi đến nơi nhận trên danh nghĩa người gửi, nạn mù chữ không phải là sự bắt buộc đối với người sử dụng dịch vụ PF net. PFnet được tài trợ bởi UNDP cho tới khi nó nhận được sự tài trợ từ AusAID, Nhật bản, Liên Minh Châu Âu, Anh, Cơ quan hỗ trợ chính thức của New Zealand và CHND Trung Hoa. Hiện tại, việc tự duy trì được quản lý bởi Hiệp hội tình nguyện viên phát triển nông thôn, một tổ chức phi chính phủ đặt tại Honiara. Hệ thống này có 14 điểm nhận thư điện tử tại quần đảo Solomon, tức là mỗi đảo có 1 điểm. Mỗi điểm nhận thư được đặt tại 1 căn phòng nhỏ, thường là trong bệnh viện đa khoa của đảo đó, trong trường học hoặc một địa điểm dễ đi lại và cơ quan công an. 32 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  32. Tại Bangladesh, chiến lược thành lập kết nối là Trugn tâm cộng đồng số, bao gồm 4 trung tâm: Trung tâm thông tin cộng đồng (CICs), Trung tâm ICT nông thôn (RICs), Trung tâm công nghệ nông thôn ( RTCs), và Trung tâm đào tạo Internet (ILCs).7 Trung tâm cộng đồng số tại Bangladesh Trung tâm CICs tại Bangladesh được thành lập năm 2006 bởi Grameen Phone, nhà cung cấp mạng lớn nhất tại Bangladesh. Hiện này có tới 26 trung tâm CICs trên toàn quốc. Mỗi trung tâm được trang bị ít nhất một máy tính, một máy in, một máy scan, một webcam và một modem nối mạng Internet sử dụng kết nối EDGE. Các Trung tâm cung cấp các dịch vụ thu phí sau cho người dân: thư điện tử, fax, tin nhắn để liên lạc với gia đình và bạn bè ở ngoài nước. Họ cũng sử dụng Internet để truy nhập vào các dịch vụ hành chính trực tuyến, nghiên cứu trực tuyến và đọc tin tức trực tuyến. Các trung tâm CICs vận hành theo chế độ nhượng quyền thương mại với Grameen Phone. Chỉ với một khoản đầu tư nhỏ ở mức 80.000 BDT, một công ty địa phương đã có thể sở hữu một CIC. Kế hoạch đặt ra là thành lập 60,000 trung tâm như vậy tại Bangladesh. Trung tâm RICs được thành lập năm 2006 bởi Mạng lưới số hợp lý do KATALYSH tài trợ. Mỗi trung tâm RIC có một máy điện thoại, một máy tính, một máy in, một máy scan, một kết nối Internet và một máy ảnh kỹ thuật số. Mục đích của RIC là cung cấp dịch vụ thông tin cho các công ty vừa, nhỏ và siêu nhỏ tại vùng nông thôn Bangladesh. Nói riêng, các trung tâm RICs là nhằm phổ biến thông tin kinh doanh tới các doanh nghiệp địa phương trên một số lĩnh vực cụ thể như ngành nông nghiệp chăn nuôi gà, cá và trồng trọt khoai tây. Các trung tâm RICs cũng cung cấp thông tin về các mặt của xã hội, sức khoẻ, giáo dục và thông tin chính phủ. (tiếp ) 7 Ananya Raihan, Community Access Points or Telecentre Movement in Bangladesh (UNPAN e- Government in the Asia and Pacific, 2007), Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 33
  33. Trung tâm cộng đồng số tại Bangladesh (tiếp) Trung tâm RTCs được thành lập ở Rajoir, Madaripur và Sarishabari, Jamalpul năm 2006 bởi Tổ chức thực nghiệm Bangladesh nhằm tăng cường công nghệ cho khu vực nông thôn để phát triển khu vực này. Đặc biệt, công nghệ truyền thống RTCs đã được nâng cấp và các công nghệ mới đã được nâng cao để đáp ứng nhu cầu của khu vực nông thôn. Các công cụ đo chiều cao và trọng lượng và các dụng cụ đo đạc khác là luôn có sẵn để sử dụng và cho người dân thuê dùng. Các dụng cụ đo đạc này bao gồm dụng cụ đo độ ẩm, đo ánh sáng, đo độ pH, đo độ mặn của nước, đo axít, máy xay gia vị, lò vi sóng, máy tách kem trong sữa, nhiệt kế, đo khoáng chất, máy trộn và máy đóng gói. Các dụng cụ có sẵn bao gồm máy tính với kết nối Internet dành cho nông dân, doanh nghiệp và các khách hàng truy nhập để lấy thông tin. Trung Tâm RTCs còn cung cấp thông tin về việc làm cho giới trẻ địa phương thất nghiệp, những công nhân thiếu việc làm. Trung tâm ILCs được thành lập năm 2005, là một chương trình của Hệ thống hỗ trợ trường học trực tuyến quốc tế. Hiện tại có 27 Trung tâm ILCs trong các trường học trên khắp Bangladesh. Mỗi trung tâm được trang bị 5 đến 10 máy tính, một máy scan, một máy ảnh kỹ thuật số và đường kết nối Internet. Trung Tâm ILCs còn đào tạo kỹ năng máy tính cho giáo viên và học sinh trong trường học, đồng thời hợp tác đào tạo dự án và giáo dục. Học phí cho thành viên được thu để tăng ngân sách cho quay vòng đào tạo. Nguồn: Adapted from Ananya Raihan, Community Access Points or Telecentre Movement in Bangladesh (UNPAN e-Government in the Asia and Pacific, 2007), Câu hỏi suy nghĩ Chiến lược nào cho thiết lập kết nối với chính phủ điện tử tại khu vực nông thôn mà nước bạn đang áp dụng? Nếu không có chiến lược nào, hãy đưa ra chiến lược của bạn và giải thích tại sao? 34 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  34. 2.3 Kế hoạch Chiến lược Chính phủ điện tử Một chiến lược rõ ràng là cần thiết để có thể triển khai chính phủ điện tử hiệu quả. Một kế hoạch cụ thể sẽ cung cấp một bản đồ chỉ dẫn cho một tổ chức thay đổi từ trạng thái hiện tại tới tranh thái tốt hơn như mong muốn trong trung hạn và dài hạn. Quá trình thiết lập kế hoạch bao gồm 5 bước8 được nói đến sau đây. Ví dụ sử dụng trong phần này là Bản đồ chỉ dẫn về chính phủ điện tử tại Hàn Quốc. Bước 1: Phân tích môi trường hiện tại. Một phân tích SWOT sẽ được sử dụng đề nhận biết nhân tố bên trong và bên ngoài nào là thích hợp và không thích hợp để đạt được mục tiêu của chính phủ điện tử. SWOT là từ viết tắt của Sức mạnh, sự yếu kém, cơ hội và thách thức. Bước 2: Nói rõ ràng về bản tuyên bố mục tiêu xa. Một bản tuyên bố về mục tiêu xa là bản tuyên bố nói rõ ràng về những điều mà một tổ chức muốn. Nó là bản định hướng cho tương lai và phục vụ cho các thành viên trong tổ chức đó tiến tới đạt được mục tiêu của nó trong tương lai. Ví dụ: Bản tuyên bố của Hàn Quốc về chính phủ điện tử là trở thành “ chính phủ điện tử mở tốt nhất thế giới” vì: • Tăng mức dịch vụ hành chính công lên 85%; • Hoạt động để lọt vào Top 10 các nước hỗ trợ cạnh tranh kinh doanh tốt nhất thế giới; • Giảm việc gặp mặt trong việc đăng ký dịch vụ của người dân xuống chỉ còn 3 lần 1 năm; • Tăng cường tỷ lệ sử dụng các chương trình chính phủ điện tử lên 60%. Một bản tuyên bố về mục tiêu xa sẽ phải rõ ràng. Và trong khi tuyên bố về các ý tưởng mới, nó cũng phải luôn có được các mục tiêu khả thi. Thêm vào đó, nó cũng phải tương đương với giá trị và văn hoá của tổ chức. 8 Adegboyega Ojo, Elsa Estevez, Bernd Friedrich and Tomasz Janowski, “Strategic Planning for Electronic Governance” (presented at the 7th UNeGov.net School on Foundations of Electronic Governance, Cheonan, Republic of Korea, 9-11 October 2007), Cheonan/public/Học phần-2.pdf. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 35
  35. Bước 3: Đưa khả năng trở thành mục tiêu thành công. Thành công là mục tiêu đạt được trong dài hạn (3 đến 5 năm) dựa trên hiện tại. Ví dụ, mục tiêu quốc gia của Hàn Quốc đạt được sẽ là: • Xây dựng một sự dân chủ với người dân. • Xây dựng một xã hội với sự phát triển xã hội công bằng. • Đóng góp vào tiến trình hoà bình và thịnh vượng của khu vực Đông Bắc Á. • Đạt được mục tiêu GDP bình quân đầu người ở mức 20.000USD (mục tiêu này đã đạt được vào năm 2007). Mục tiêu của chính phủ điện tử của Hàn Quốc đạt được là: • Đổi mới cách thức làm việc của chính phủ. • Đổi mới dịch vụ hành chính cho người dân. • Đổi mới cách quản lý nguồn tài nguyên thông tin. • Cải cách hệ thống pháp luật. Bước 4: Xác định chiến lược để hướng tới mục tiêu đạt được phân tích SWOT và đạt được các thành công đã đặt ra. Chiến lược có thể bao gồm các nhiệm vụ và cách thức quản lý cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể đặt ra trong bản đồ chỉ dẫn chính phủ điện tử. Ví dụ một chiến lược là việc xây dựng kế hoạch toàn diện chỉ ra cách thức làm thế nào để chính phủ đạt được các mục tiêu đề ra. Việc triển khai chiến lược là quá trình đưa các chiến lược và chính sách vào thực tiễn thông qua việc phát triển các chương trình, ngân sách và thủ tục. Bước 5: Công thức cụ thể và các mục tiêu có thể đo đạc được trong chiến lược. Mục tiêu là kết quả cuối cùng của một kế hoạch. Các mục tiêu phải cụ thể và có thể đo đạc được vào một thời điểm cụ thể. Đối lập với mục tiêu, mục đích là một tuyên bố có kết thúc mở dành cho những mục tiêu không cần tính toán và không xác đinh thời gian kết thúc. Một ví dụ về mục tiêu là: Ít nhất 95% các doanh nghiệp sẽ sử dụng hệ thống G2B cho tới năm 2009. Một khi đã hoàn thành, kết quả của kế hoạch sẽ là một kế hoạch cụ thể hoặc một bản đồ chỉ dẫn cần sự liên kết tới mọi người và kiểm tra để chắc chắn rằng nó vẫn thích hợp. Bản đồ chỉ dẫn chính phủ điện tử của Hàn Quốc là một ví dụ. 36 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  36. Bản đồ chỉ dẫn Chính phủ điện tử của Hàn Quốc Chính phủ Hàn quốc đã đưa ra một bản đồ chi tiết về chính phủ điện tử sau một quá trình nghên cứu kế hoạch và nó bao gồm phân tích SWOT, kế hoạch chiến lược thông tin (ISP) và BPR. Quy trình này đã được giám sát bởi Tiểu ban của Hội đồng của Tổng thống về vấn đề Củng cố và Phân quyền (Hoặc Hội đồng cải cách chính phủ). Bản đồ này mà kế hoạch năm năm, trong giai đoạn từ 2003-2007. Nó có cụ thể 4 lĩnh vực, 10 điểm chương trình và 31 nhiệm vụ hoặc dự án như sau: Bản đồ chỉ dẫn và chương trình chính phủ điện tử của Hàn Quốc 4 lĩnh vực đổi mới 10 điểm chương trình 31 Dự án chính 1. Đổi mới cách 1. Thiết lập quy trình 1. Quy trình tài liệu điện tử thức làm việc hoạt động điện tử 2. Củng cố hệ thống thông tin tài của chính phủ chính cho trung ương và địa phương 3. Chính phủ điện tử địa phương 4. Hệ thống kế toán điện tử 5. Quốc hội điện tử 6. Dịch vụ hành pháp thống nhất 7. Củng cố hệ thống quản lý công chức 8. Hệ thống ngoại giao điện tử 9. Hệ thống thời gian thực cho quản lý chính sách quốc gia 2. Giải thích hệ thống 10. Giải thích hệ thống quản lý chia sẻ quản lý và chia sẻ thông tin thông tin 3. Dịch vụ định hướng 11. Phát triển hình mẫu tham khảo về về tái cấu trúc quy doanh nghiệp nhà nước trình kinh doanh (tiếp ) Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 37
  37. 4 lĩnh vực đổi mới 10 điểm chương trình 31 Dự án chính 2. Đổi mới dịch vụ 4. Tăng cường dịch vụ 12. Tăng cường dịch vụ hành chính hành chính cho cho người dân trực tuyến cho người dân người dân 13. Thống nhất hệ thống quản lý thiên tai quốc gia 14. Củng cố hệ thống quản lý thông tin kiến trúct 15. Củng cố hệ thống thu thuế trực tuyến 16. Thống nhất dịch vụ phúc lợi xã hội quốc gia 17. Củng cố hệ thống thông tin thực phẩm và thuốc men 18. Củng cố dịch vụ thông tin việc làm 19. Hệ thống thử nghiệm quản lý trực tuyến 5. Tăng cường dịch vụ 20. Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp một hỗ trợ cho doanh cửa (G4B) nghiệp 21. Củng cố dịch vụ thông tin hậu cần trong nước 22. Dịch vụ thương mại điện tử 23. Dịch vụ hỗ trợ toàn diện người nước ngoài 24. Giải pháp ủng hộ xuất khẩu chính phủ điện tử 6. Tăng cường sự tham 25. Giải thích sự tham gia trực tuyến gia trực tuyến của của người dân người dân 3. Đổi mới quản lý 7. Củng cố và chuẩn 26. Hệ thống quản lý nguồn thông tin nguồn thông tin hoá nguồn thông tin chính phủ trên diện rộng 27. Tăng cường mạng lưới liên lạc chính phủ điện tử 28. Thiết lập kiến trúc công nghệ thông tin rộng khắp về chính phủ 8. Tăng cường hệ thống 29. Thiết lập Hệ thống an ninh thông tin an ninh thông tin 9. Tăng cường khả 30. Kết cấu lại hệ thống công nghệ năng sử dụng công thông tin với công chức và tổ chức nghệ thông tin của công chức và tổ chức 4. Cải tổ hệ thống 10. Cải tổ hệ thống pháp 31. Cải tổ hệ thống quy tắc và luật pháp luật pháp luật chính phủ điện tử của chính phủ điện tử Nguồn: National Computerization Agency, 2004 Broadband IT Korea: Informatization White Paper, 20, 38 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  38. Bản đồ chỉ dẫn của Mongolia về triển khai chính phủ điện tử Bản đồ chỉ dẫn về Chính phủ điện tử của Mongolia Năm 2005, Cơ quan ICT (ICTA) của Mongolia đã phát động Chương trình quốc gia điện tử Mongolia và Kế hoạch chính phủ điện tử của Mongolia. Chương trình quốc gia Quốc gia Mongolia có mục đich tăng cường mức sống của người dân thông qua xây dựng một môi trường kinh tế mới, tăng sức cạnh tranh của đất nước và thúc đẩy phát triển bền vững. Chương trình này gồm 16 mục tiêu và kế hoạch hành động được triển khai thông qua các dự án như “PC cho mọi người”. “Hiểu biết về IT cho mọi người dân”. Là một phần của dự án PC cho mọi người, các tổ chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ và các công ty tư nhân đã hợp tác để thành lập Tổ chức cung cấp dịch vụ Internet cho người dân và Hiệp hội các công ty cung cấp máy tính Mongolia. Những tổ chức này đã giúp giảm chi phí cho máy tính truy nhập mạng. Thêm vào đó, luật pháp đã và đang được sửa đổi, như được chỉ ra trong Chương trình Quốc gia điện tử Mongolia, để tạo ra một môi trường luật pháp thuận lợi hơn cho ICTD. Nó không chỉ là những bộ luật liên quan đến ICT đang được sửa đổi mà còn là những bộ luật mới liên quan đến ICTD. Ví dụ Luật Giáo dục có các điều luật về phát triển các chương trình giảng dạy ICT cho Học sinh phổ thông và các chuyên gia ICT. Kế hoạch phát triển chính phủ điện tử của Mongolia đã được phát triển theo một cuộc điều tra về nhu cầu và tình hình cụ thể về ICT của Mongolia, đặc biệt là trong các tổ chức chính phủ. Kế hoạch này sẽ được hoàn thiện thông qua các chiến lược và kế hoạch hành động, bao gồm các hoạt động cụ thể trong khoảng thời gian cụ thể. Mục tiêu là xây dựng một quốc gia mạnh và cạnh tranh tốt thông qua việc xây dựng một chính phủ lấy người dân làm trung tâm, minh bạch và tri thức với việc sử dụng ICT. (tiếp ) Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 39
  39. Bản đồ chỉ dẫn về Chính phủ điện tử của Mongolia (tiếp) 22 dự án trong kế hoạch này tập trung chủ yếu vào việc số hóa các thông tin và thủ tục hành chính, mở rộng việc truy nhập vào các nguồn thông tin được lựa chọn và cung cấp các dịch vụ hành chính trực tuyến. Một dự án là Cổng thông tin điện tử mở đã mở ra một nơi cho người dân và doanh nghiệp bàn luận trực tuyến về các chính sách, bộ luật, quy tắc và tăng cường nhận thức với các tổ chức chính phủ. Một dự án khác là trang web của Cơ quan thuế Mongolia với việc cung cấp tất cả các mẫu và tài liệu liên quan đến thuế. Nguồns: ICTA, Information and communications technology development in Mongolia – 2006: White paper (Ulaanbaatar: ICTA, 2006), Lkhagvasuren Ariunaa, Mongolia: Mobilizing communities for participation in e-government initiatives for the poor and marginalized (Bangkok: UNDP-APDIP, 2005), Lkhagvasuren Ariunaa and Batchuluun Batpurev, “.mn Mongolia,” in Digital Review of Asia Pacific 2007/2008 (New Delhi: Sage, IDRC, Orbicom, 2007), Odgerel Ulziikhutag, Mongolia: e-Government Key Challenges to Enhance Citizen Participation (Bangkok: UNDPAPDIP, 2005), Một vài điều cần làm 1. Chính phủ nước bạn có một bản đồ chỉ dẫn về chính phủ điện tử hoặc một kế hoạch ICT nào không? Tìm và chỉ ra quá trình đưa ra bản đồ chỉ dẫn này. Chỉ ra điểm giống và khác nhau với các ví dụ nêu ở trên. 2. Nếu chính phủ nước bạn chưa có một bản đồ chỉ dẫn về chính phủ điện tử hoặc một kế hoạch ICT nào, hãy đưa ra một bản tóm tắt của bạn về các bước đi trong kế hoạch chiến lược mà bạn nghĩ đang là thách thức đối với chính phủ của bạn và giải thích. Ngoài ra, hãy chỉ ra các chủ thể liên quan đến kế hoạch này trong bản đồ chỉ dẫn về chính phủ điện tử tại quốc gia của bạn. 40 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  40. 2.4 Triển khai và đánh giá Chính phủ điện tử Việc triển khai thành công Chính phủ điện tử phụ thuộc vào việc triển khai từng nhiệm vụ và dự án trong Bản đồ chỉ dẫn về chính phủ điện tử. Với trường hợp của Hàn Quốc, Bộ Nội vụ và Chính phủ Hàn Quốc (MOGAHA) 9 đã đưa ra chỉ dẫn cho dự án và tuyên bố chỉ dẫn này sẽ trở thành luật (Số 142 ngày 30 tháng 3 năm 2004). MOGAHA cũng chỉ định cơ quan máy tính hoá quốc gia (NCA) 10quản lý dự án này. Hai dự án lớn cùng triển khai chính phủ điện tử bao gồm Dự án hỗ trợ chính phủ điện tử và Dự án xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu. Dự án hỗ trợ chính phủ điện tử, ưu tiên thực hiện nhiệm vụ trong bản đồ chỉ dẫn, đã có sự hợp tác của rất nhiều bộ ngành chính phủ, dự án chính sách mới hoặc dự án thông tin hoá khu vực nông thôn với số tiền cụ thể trong ngân sách và chỉ dẫn thực hiện cụ thể mỗi năm. Dự án bản đồ chỉ dẫn chính phủ điện tử của Hàn Quốc được thực hiện như trong hình 4: Hình 4. Kế hoạch hàng năm để triển khai Bản chỉ dẫn Chính phủ điện tử của Hàn Quốc (Nguồn: NIA, ed., 2006 Annual Report for e-Government (Seoul: MOGAHA, 2006), 11, 2003 2004 2005 2006 2007 Chuẩn bị cơ Xây dựng cơ Hệ thống Củng cố Giá trị sở hạ tầng sở hạ tầng phát triển đổi mới đổi mới • Nhiệm vụ quan • BPR/ISP • Xây dựng trọng • Xây dựng • Củng cố hệ thống • Củng cố chính cơ sở hạ hệ thống • Thúc đẩy dịch vụ • Chuẩn bị tầng • Đổi mới quá trình • Đổi mới kế hoạch chung quá trình triển khai chính phủ chi tiết • Cải tổ hệ • Đổi mới • Thúc đẩy • Kết quả • Chuẩn bị thống luật dịch vụ dịch vụ cơ sở hạ pháp tầng 9 During the government reorganization implemented in February 2008, MOGAHA was renamed the Ministry of Public Administration and Security (MOPAS). 10 The NCA was renamed the National Information Society Agency (NIA) in October 2006. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 41
  41. Từ năm 2004 đến tháng 6 năm 2006 đã chi khoảng 516 triệu USD cho 137 nhiệm vụ thúc đẩy chính phủ điện tử, bao gồm 105 dự án hỗ trợ chính phủ điện tử. Hàn Quốc đứng thứ 6 trong bản điều tra của Liên Hiệp quốc năm 2008 về Chính phủ điện tử 11, với tổng điểm ở mức 0.8317. Bản Điều tra của LHQ bao gồm 3 lĩnh vực a) Chỉ số về web, b) Chỉ số cơ sở hạ tầng viễn thông và c) Chỉ số nguồn lực con người12. Chỉ số về Web tính toán số lượng người truy nhập vào các trang web của các cơ quan chính phủ, cung cấp cho các nước thành viên LHQ một xếp hạng về khả năng cung cấp các dịch vụ trực tuyến của chính phủ cho người dân. Chỉ số về Web của Hàn Quốc trong bản điều tra của LHQ là 0.8227. 11 NIA, ed., 2006 Annual Report for e-Government (Seoul: MOGAHA, 2006), 11, 12 United Nations, 2008, United Nations e-Government Survey 2008: From e-Government to Connected Governance (New York: United Nations, 2008), 42 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  42. Hộp 1. Chỉ số Web của Liên Hợp Quốc Giai đoạn I - Điểm nổi bật Sự hiện diện trực tuyến của một chính phủ là bao gồm rất nhiều trang web chính thức. Những trang web này liên kết với các bộ ngành về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, lao động và tài chính có thể có hoặc không tồn tại. Đa số thông tin đều không cập nhật và không có nhiều tương tác với người dân. Giai đoạn II - Tăng cường Chính phủ cung cấp nhiều thông tin hơn về chính sách công và quản lý nhà nước. Có nhiều liên kết đến các tài liệu lưu trữ ( như tài liệu, biểu mẫu, báo cáo, luật và quy định, báo chí) để cho người dân dễ dàng sử dụng. Giai đoạn III - Tương tác Chính phủ đưa ra các dịch vụ trực tuyến, như các biểu mẫu có thể download được dùng cho trả thuế và các đơn từ đăng ký. Thêm vào đó, cổng thông tin hoặc trang web tương tác đang được khởi động thiết kế để đưa ra các dịch vụ giúp tương tác giữa chính phủ và người dân diễn ra thuận lợi hơn. Giai đoạn IV - Thực hiện Chính phủ bắt đầu tự thay đổi bằng cách đưa ra 2 cách thức tương tác giữa chính phủ và người dân. Nó bao gồm các lựa chọn như trả thuế, xin chứng minh thư, xin giấy khai sinh và hộ chiếu, xin cấp lại bằng lái, và các tương tác G2C, và cho phép người dân truy cập các dịch vụ này 24/7. Tất cả đều được thực hiện trực tuyến. Giai đoạn V - Liên kết Chính phủ tự thay đổi bằng cách biến thành một chủ thể kết nối đáp ứng mọi nhu cầu của người dân thông qua một văn phòng. Đây là một mức độ cao nhất của chính phủ điện tử. Nó được miêu tả là: 1. Kết nối theo chiều ngang (giữa các cơ quan nhà nước) 2. Kết nối theo chiều dọc (giữa chính quyền trung ương và địa phương) 3. Kết nối cơ sở hạ tầng (sự tương thích) 4. Kết nối giữa chính phủ và người dân 5. Kết nối giữa các chủ thể (chính phủ, khu vực tư nhân, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ và xã hội dân sự) Thêm vào đó, tham gia trực tuyến và lời hứa với người dân đều được thực hiện bởi chính phủ thông qua quy trình ra quyết định. Nguồn: Abridged from United Nations, United Nations e-Government Survey 2008: From e- Government to Connected Governance (New York: United Nations, 2008), Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 43
  43. Chỉ số cơ sở hạ tầng viễn thông tính toán khả năng đáp ứng của hạ tầng về dịch vụ chính phủ điện tử, bao gồm chỉ số sử dụng điện thoại đối với cả điện thoại di động và cố định, số máy tính cá nhân, số người sử dụng Internet và truy cập băng thông rộng. Chỉ số cơ sở hạ tầng viễn thông của Hàn Quốc năm 2008 là 0.6886. Chỉ số nguồn lực con người bao gồm tỷ lệ biết đọc biết viết, số lượng tỷ lệ giáo dục tiểu học, trung học. Chỉ số nguồn lực con người của Hàn quốc ở mức rất cao 0.9841. 44 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  44. 2.5 Ngân sách cho Chính phủ điện tử Như trong hình 5, Ngân sách cho ICT được tính toán khác hẳn đối với ngân sách truyền thống. Thông thường, ngân sách ICT được coi là một khoản đầu tư dài hạn hơn những khoản phí tổn ngắn hạn khác. Chi phí cho triển khai ICT được sử dụng bằng rất nhiều hình thức. Một trong những hình thức đó là hợp tác nhà nước – tư nhân (sẽ được nói rõ trong Học phần 8). Hình 5. Ngân sách truyền thống và đầu tư cho ICT Ngân sách truyền thống Đầu tư cho ICT Chi phí hàng năm Chi phí trong nhiều năm Chương trình của Hoàn thành chương trình Chương trình xuyên biên giới Chi phí/Lợi nhuận tài chính Chi phí/Lợi nhuận tài chính hoặc phi tài chính Mức độ nỗ lực đối với dòng chảy công việc Thay đổi trong dòng chảy công việc hiện tại Hiệu quả liên tục Hiệu quả cơ cấu Quản lý Đổi mới Giải pháp hiệu quả • Phân loại theo khoản đầu tư • Phân chia theo các văn phòng hợp tác chính phủ điện tử • Hợp tác nhà nước - người dân • Tài trợ cho đổi mới • Đánh giá chi phí và lợi nhuận Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 45
  45. Tại Hàn Quốc, ngân sách cho thông tin hoá năm 2006 là 3.4 tỷ USD, khoảng 917 triệu (26.7%) là dành cho triển khai Chính phủ điện tử, 9.5 triệu (2.8%) là cho thu hẹp khoảng cách về thiết bị số. Ngân sách này được phân bổ theo các lĩnh vực ưu tiên để đạt được hiệu quả lớn nhất, như giảm tài liệu in và tiết kiệm chi phí quản lý.13 Từ năm 2005, Ngân sách Chính phủ điện tử của Hàn Quốc đã chuyển từ quỹ thúc đẩy ICT sang một tài khoản chung khác, và ngân sách cho mỗi dự án Bản đồ chỉ dẫn được thực hiện bởi NCA (sau đó đổi tên là NIA) sau khi hợp tác với MOGANA (sau khi đổi tên thành MOPAS) và được hội đồng cân nhắc kỹ. Một vài điều suy nghĩ Nếu chính phủ nước bạn có một kế hoạch hoặc bản đồ chỉ dẫn chính phủ điện tử, hãy: 1. Chỉ ra đâu là kế hoạch triển khai và phân tích điểm mạnh và điểm yếu của nó. 2. Chỉ ra đâu là ngân sách cho triển khai kế hoạch hoặc bản đồ chỉ dẫn chính phủ điện tử, Ngân sách này được phân bổ như thế nào và nguồn tài trợ từ đâu. Bạn có nghĩ kế hoạch giải ngân này là hợp lý và đưa ra lý do. 13 NIA, ed., 2006 Annual Report for e-Government (Seoul: MOGAHA, 2006), 10, 46 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  46. 3. CÁC DẠNG TRÌNH DUYỆT ICT VÀ ỨNG DỤNG Như đã đề cập ở phần trước, ba khu vực của trình ứng dụng ICT – đổi mới các dịch vụ công (G2C), đổi mới các dịch vụ kinh doanh (G2B) và đổi mới cách làm việc của Chính phủ (G2G) — sẽ đuợc trình bày cụ thể. Phần lớn các ví dụ được lấy từ kinh nghiệm Chính phủ điện tử của Hàn Quốc. Bảng 6 thể hiện khung khái niệm về Chính phủ điện tử của Hàn Quốc. Nó thể hiện truy cập kênh đa chiều tới một cửa sổ đơn nhất, các dạng dịch vụ hội nhập được cung cấp, kết nối phân ban cấp cuối cùng và hội nhập dữ liệu. Hình 6. Khung khái niệm về Chính phủ điện tử ở Hàn Quốc14 (Nguồn: Soh Bong Yu, “Chính phủ điện tử của Hàn Quốc: Chúng ta đã làm việc với nó như thế nào” (KADO trình bày), 5, 14 Since the new Korean government took office on 25 February 2008 the Government organization has been restructured. The Ministry of Information and Communication has been merged with the Ministry of Public Administration and Security (MOPAS) and the Ministry of Government Administration and Home Affairs (MOGAHA) has been renamed the Ministry of Public Administration and Security (MOPAS, The National Computerization Agency (NCA) was renamed the National Information Society Agency (NIA, in October 2006. Both KADO and NIA are under MOPAS. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 47
  47. 3.1 Các trình ứng dụng Chính phủ - Công dân (G2C) Dịch vụ công dân trực tuyến (cổng G2C) Sự thiếu hiệu quả của bộ máy Chính phủ đã được truy nguyên tới tận từng cơ sở dữ liệu quốc gia, ví dụ như: cơ sở dữ liệu về cư trú, chủ đất, xe cơ giới và thuế. Có các cơ sở dữ liệu tách biệt có nghĩa là các công dân phải khai báo thừa, phải qua rất nhiều thủ tục giấy khác nhau và phải đi lại nhiều lần tới các cơ quan hành chính. Để nâng cao hiệu quả hành chính, một hệ thống kế nối các cơ sở dữ liệu chủ chốt và một cổng Chính phủ chính thức cho các dịch vụ công đã được phát triển ở Hàn Quốc. Cổng G2C là một cửa sổ đơn mà thông qua đó các công dân và doanh nghiệp có thể truy cập rất nhiều dịch vụ của Chính phủ sử dụng các kênh đa chiều (xem Bảng 7). Hình 7. Chính phủ điện tử một cửa (Nguồn: National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), 39, Trong hệ thống này, Chính phủ cung cấp rất nhiều dịch vụ khác nhau, bao gồm nhiều loại chứng chỉ ban hành, tư vấn, quy trình đơn dân sự, thanh toán điện tử và phổ biến các thông tin Chính phủ. Một kênh tiếp cận đa chiều là cần thiết để đảm bảo sự tham gia tối đa của công dân và doanh nghiệp vào Chính phủ điện tử vì mỗi nhóm khác nhau sẽ tiếp cận các kênh đó ở mức độ khác nhau. Ví dụ, dân cư nông thôn thường ít tiếp cận các kênh điện tử (như: internet, thư điện tử, điện thoại di động, truyền hình kỹ thuật số) hơn so với 48 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  48. dân cư thành thị.15 Sự khác biệt của các kênh cung cấp một chặng có thể được sử dụng để tăng truy cập vào các dịch vụ Chính phủ điện tử như: • Trung tâm dịch vụ công một chặng, nơi cung cấp dịch vụ một cổng được thực thi bởi một vài cơ quan kết hợp với nhau cho khách hàng chọn lựa hoặc có thể chỉ đáp ứng tương tác mặt đối mặt. Các ví dụ về các trung tâm công như vậy có thể thấy ở Australia, Brazil, Canada, Đức, Ấn Độ, Kazakhstan, Bồ Đào Nha, Nam Phi và Liên hiệp Anh. • Các trung tâm điện thoại - Các điểm truy cập công cộng miễn phí hoặc được hỗ trợ truy cập các dịch vụ Chính phủ điện tử (qua mạng di động, các thư viện, trường học, các trung tâm cộng đồng ). • Các trung tâm điện thoại – Dịch vụ giao hàng qua điện thoại được các trung tâm điện thoại của Chính phủ cung cấp, thường có nguồn cung cấp là các chủ thầu tư nhân. Ví dụ như ở Canada, Italia và Mỹ. • Các cổng Web – Dịch vụ giao hàng qua các cổng Web tự động thân thiện của Chính phủ. Ví dụ như ở Canada, Hàn Quốc, Singapore, Anh và Mỹ. • Chính phủ-M – Dịch vụ giao hàng qua điện thoại di động bằng tin nhắn SMS và được thiết kế đặc biệt cho các cổng Chính phủ - M. Ví dụ như ở Ấn Độ, Philippin và Anh. • Chính phủ - T – Tivi kỹ thuật số tương tác mặt đất – dịch vụ giao hàng điện tử qua các kênh/cổng truyền hình đặc biệt của Chính phủ, với cả phát sóng và theo yêu cầu. Ví dụ như ở Trung Quốc, Italia, Hàn Quốc, Anh và Mỹ.16 Trong trường hợp của Hàn Quốc, phong trào hướng tới chính phủ lấy dân làm trọng tâm, kênh đa chiều và một cửa được khởi đầu bởi việc xây dựng trang chủ chính thức của Chính phủ Hàn Quốc và Trung tâm dịch vụ hỗ trợ tại nhà năm 1997 để cung cấp một cách hệ thống cho công chúng các thông tin hành chính và dịch vụ các biểu mẫu. Tới năm 1999, 20 loại dịch vụ công đã được cung cấp thông qua Trung tâm dịch vụ hỗ trợ tại nhà. Năm 2000, Trung tâm hòa nhập với một hệ thống quản lý hành chính tại nhà, nhờ vậy các công dân có thể gửi các yêu cầu từ máy tính cá nhân của họ và sau đó nhận được các tài liệu qua thư tín. 15 For more information about various types of multi-channel one-stop single access to government services, refer to: World Bank, e-Government for All – Review of International Experience with Enhancing Public Access, Demand and Participation in e-Government Services: Toward a Digital Inclusion Strategy for Kazakhstan, ISG e-Government Practice Technical Advisory Note (Draft version 30 June 2006). 16 Ibid. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 49
  49. Dự án G2C được triển khai năm 2000 để cho phép các công dân truy cập thông tin và sử dụng các dịch vụ trực tuyến một cửa bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu. ISP để củng cố các dịch vụ công dân trực tuyến được thực hiện năm 2003 tạo nền tảng cho các hệ thống G2C chuẩn. Hiện nay các công dân Hàn Quốc có thể nộp, truy cập và thu thập các tài liệu chứng nhận qua các dịch vụ hành chính công trực tuyến G2C bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu, mà không cần tới thăm các cơ quan chính phủ. Tính tới tháng 6/2006, số lượng các dịch vụ cung cấp đã tăng lên chóng mặt, khoảng 5,000 loại hướng dẫn cho dịch vụ công, 630 loại đơn dân sự và 30 loại cấp chứng nhận trực tuyến. Hơn thế nữa, những nỗ lực tăng cường tận dụng dịch vụ cho công cộng và các liên kết với các trang tư nhân như NAVER17 và các trang khác đã dẫn tới tăng đáng kể việc sử dụng dịch vụ: từ chưa tới 1,000 lượt truy cập mỗi ngày năm 2002 khi dịch vụ khởi đầu, lên tới 45,000 lượt truy cập mỗi ngầy tính tới tháng 6/2006 (xem Bảng 8). Một nền tảng vững chắc cho Chính phủ điện tử tiên tiến ở Hàn Quốc được thành lập cùng với việc xây dựng hệ thống dịch vụ internet công và liên kết 5 cơ sở dữ liệu quốc gia, bao gồm, cư trú, đất, xe cơ giới, thuế và bảo hiểm. Hệ thống dịch vụ công mới đã nâng cấp chất lượng sống và sự hiệu quả của hành chính bằng việc cung cấp các dịch vụ đòi hỏi ít giấy tờ hơn và các cá nhân ít phải tới các cơ quan hành chính hơn. Nếu mức trung bình 30% tổng dịch vụ công được truy cập trực tuyến trong vòng 5 năm, dự kiến sẽ kiết kiệm được 1,8 nghìn tỷ Won (khoảng 1,8 tỷ đô la Mỹ) một khi hệ thống hoàn toàn hoàn chỉnh. 17 NAVER ( operated by NHN corporation, is a popular Internet portal site in the Republic of Korea. 50 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  50. Hình 8. Sử dụng các dịch vụ G2C ở Hàn Quốc (Nguồn: NIA, ed., 2006 Báo cáo hàng năm Chính phủ điện tử (Seoul: MOGAHA, 2006), 22, Hình 9 thể hiện cách hoạt động của hệ thống G2C. Hệ thống có thể được chia làm 3 phần: 1) điểm tiếp xúc đơn nơi các công dân truy cập thông tin và dịch vụ Chính phủ ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào qua Internet; 2) hệ thống chia sẻ thông tin được thiết kế cho phép từng bộ chia sẻ thông tin; và 3) cơ sở hạ tầng, như chứng thư điện tử, cổng thanh toán và dịch vụ di động. Hình 9. Chính phủ điện tử một cửa sổ truy cập cho công dân Hàn Quốc (Nguồn: Soh Bong Yu, “Chính phủ điện tử của Hàn Quốc: Chúng ta đã làm việc với nó như thế nào” (KADO trình bày), 19, Ở Campuchia, một hệ thống hội nhập thông tin cho các dịch vụ của Chính phủ đã được thiết lập. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 51
  51. Hệ thống thông tin hành chính Chính phủ (GAIS) Dự án ở Campuhia Dự án Hệ thống thông tin hành chính Chính phủ (GAIS) đã được Chính phủ Hoàng gia Campuchia lên ý tưởng như là dự án tiên phong để giới thiệu ICT cho xã hội Campuchia và đẩy mạnh cải cách hành chính. Tháng 8/2000, Ủy ban phát triển ICT quốc gia được thành lập và ngay lập tức có nhiệm vụ thực hiện GAIS. GAIS bao gồm 4 trình ứng dụng căn bản: 1. Hệ thống chấp thuận điện tử – Cho phép các bộ dễ dàng trao đổi các văn bản và thư điện tử, quản lý văn bản và đưa ra các công bố. 2. Đăng ký nhà đất – để quản lý và truy tìm dữ liệu căn bản về tài sản, chuyển đổi quyền sở hữu, thuế và các số liệu khác. 3. Đăng ký cư trú – để quản lý và truy tìm dữ liệu căn bản về cư trú, những thay đổi trong gia đình, giáo dục và tình trạng việc làm, nợ thuế hay đã nộp, và các số liệu khác. 4. Đăng ký xe cơ giới – để quản lý và truy tìm dữ liệu căn bản về xe cơ giới và chủ xe, quá trình đăng ký, chuyển quyền sở hữu, thông tin điều tra, nợ thuế hay đã nộp và các số liệu khác. Cơ sở hạ tầng cho 4 trình ứng dụng là mạng địa phương và mạng khu vực cho 27 bộ, các ủy ban nhà nước và chính quyền Phnom Penh. Dự án nhằm tăng hiệu quả của các quá trình đăng ký và hệ thống văn bản chứng nhận bằng số hóa thông tin và các cơ quan chính phủ kết nối điện tử. Toàn bộ hệ thống được chủ định tạo doanh thu cho Chính phủ hoàng gia Campuchia. (tiếp ) 52 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  52. Hệ thống thông tin hành chính Chính phủ (GAIS) Dự án ở Campuhia (tiếp) GAIS đã giúp ngăn chặn các tội phạm liên quan tới xe cơ giới và các tài sản khác. Các vụ cướp xe đã giảm đáng kể vì các xe không thể đăng ký lại. Hệ thống cũng giảm chi phí đăng ký cũng như thời gian để đăng ký. Trước khi triển khai GAIS, chi phí đăng ký là vào khoảng từ KHR 20,000 đến KHR 50,000 (USD 5 đến USD 12.50). Đây là chưa kể các lệ phí chính thức khác. Với GAIS, những chi phí phụ trội này đã được cắt giảm. GAIS được triển khai tháng 10/2004 có vai trò như hoa tiêu. Một dự án theo sau, Hệ thống thông tin hành chính tỉnh, đang lập lại mô hình này ở các tỉnh và thành phố khác. Nguồn: Leewood Phu, Cambodia: Con đường tới chính phủ điện tử (Bangkok: UNDP-APDIP, 2005), net/projects/e-government/capblg/casestudies/Cambodia.pdf. Norbert Klein, “.kh Cambodia,” in Digital Review of Asia Pacific 2005/2006 (ORBICOM, IDRC, UNDP-APDIP: 2005), 6PDFs/2005%20C12%20kh%20Cambodia%20124-127.pdf Hệ thống hòa nhập thuế18 Hệ thống thuế hợp nhất trực tuyến ở Hàn Quốc nhằm mục đích tận dụng Dịch vụ thuế tại nhà, cho phép những người nộp thuế tiến hành các thủ tục liên quan tới thuế mà không cần tới sở thuế. Trước đây, Sở thuế quốc gia (NTS) gửi thông báo thuế qua thư điện tử và người nộp thuế phải đích thân tới NTS để nộp các bản kê khai thuế. Người nộp thuế cũng phải đích thân tới ngân hàng để đóng thuế hoặc chuyển khoản trả thuế. Các mục tiêu của hệ thống hội nhập thuế là tăng doanh thu thuế, ngăn ngừa tham nhũng, tăng tính tự giác đóng thuế, thiết lập một cơ quan thuế tiên tiến và đảm bảo dịch vụ công nhanh và chính xác. 18 This section is drawn from National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 53
  53. Hệ thống thuế trực tuyến bao gồm thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế tài sản và các loại thuế khác. Từ 1999 đến 2000, hệ thống hoàn thuế điện tử đã được phát triển như là dự án dẫn đường với các đại lý thuế của Văn phòng Seoul của NTS và chỉ liên quan tới thu thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng. Phạm vi được mở rộng bao gồm thuế rượu và thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2001. 30% của 2,53 triệu trường hợp hoàn thuế và 10% của 2,12 triệu hoàn thuế giá trị gia tăng được nhập điện tử năm 2001. Phạm vi của hệ thống hoàn thuế điện tử được mở rộng đi sâu vào an toàn giao dịch thuế và con dấu thuế. Thêm vào đó, hệ thống trả thuế điện tử được phát triển cho phép trả thuế ngay, ghi nhận và thông báo điện tử. Hơn nữa, các cá nhân và doanh nghiệp có thể đăng ký và xem trực tuyến đăng ký thuế doanh nghiệp, trả thuế, tạm thời bị đình chỉ kinh doanh và đóng cửa doanh nghiệp. Bằng cách xóa những dữ liệu không cần thiết và tăng tốc các vấn đề liên quan tới thuế, hệ thống hội nhập thuế nâng cấp hiệu quả hoạt động và giảm chi phí. Ví dụ, dự kiến hàng năm tiết kiệm tới KRW 146 tỷ (khoảng USD 146 triệu) nhờ xóa sổ các thông báo bằng giấy gửi qua thư. Bản thân người nộp thuế ước tính có thể tiết kiệm tới KRW 300 tỷ (khoảng USD 300 triệu) hàng năm và chi phí đi lại tới các cơ quan thuế, trong khi NTS được dự kiến sẽ tiết kiệm tới KRW 120 tỷ (khoảng USD 120 triệu) hàng năm từ việc quản lý thuế không giấy tờ. Hệ thống bảo hiểm19 Năm 2001, ISP cho việc xây dựng hệ thống thông tin kết nối nội bộ được thiết kế như những trụ cột của Chính phủ điện tử. Cho tới nay, các cơ quan quản lý bốn thị trường bảo hiểm chính điều khiển các hệ thống thông tin độc lập cho dù họ có rất nhiều điểm chung về quy trình hành chính, mục tiêu và các dạng dịch vụ. Với một hệ thống hòa nhập thông tin, các nguồn thông tin từ bốn thị trường bảo hiểm chính, là lương hưu quốc gia, bảo hiểm y tế, bảo hiểm bồi thường tai nạn công nghiệp và bảo hiểm việc làm, bây giờ có thể dễ dàng chia sẻ các hoạt động chung, như các báo cáo và thay đổi. 19 Ibid. 54 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  54. Hình 10. Cổng dịch vụ trang thông tin bảo hiểm xã hội của Hàn Quốc dựa trên một cơ sở dữ liệu hội nhập (Nguồn: National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), 43, Mặc dù mỗi cơ quan vận hành trang chủ riêng, thông tin từ những người và doanh nghiệp được bảo hiểm cũng như từ các văn phòng NTS và MOGAHA được quản lý và chia sẻ bởi tất cả các cơ quan. Hơn 20 cơ quan (loại trừ các doanh nghiệp, bệnh viện, các văn phòng thành phố và tỉnh) được kết nối nội bộ qua hệ thống. Trang chủ của mỗi dịch vụ được coi như là một trung tâm thông tin trực tuyến, mà qua đó các yêu cầu, các thỉnh cầu, ghi chú và thanh toán bảo hiểm đều được tiến hành. Với những thông tin chia sẻ giữa các cơ quan bảo hiểm qua hệ thống hội nhập, số tài liệu yêu cầu, thời gian và chi phí tiến hành đã được giảm một cách đáng kể, dẫn tới hàng năm tiết kiệm được KRW 542,3 tỷ (tương đương USD 542,3 triệu). Hệ thống cũng được kỳ vọng sẽ giúp nhận dạng các công dân những người chưa được bảo hiểm bởi các dịch vụ bảo hiểm hiện hành. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 55
  55. Trình ứng dụng Đăng ký cư trú (thẻ nhận dạng quốc gia)20 Tin học hóa đăng ký cư trú cũng là một công cụ chính của chính phủ điện tử. Ở Hàn Quốc, quá trình này bắt đầu từ hai thập kỷ trước với việc hội nhập một cơ sở dữ liệu duy nhất về tất cả những thông tin liên quan tới đăng ký cư trú của từng cá nhân và việc xây dựng một trung tâm dữ liệu đăng ký thông tin cấp quốc gia. Trong khoảng thời gian 2 (1989-1990), các nhân viên hành chính ở 3,678 văn phòng quận huyện trên khắp cả nước đã thủ công nhập số liệu 5,7 triệu sổ cái. Năm 1998, Trung tâm phát hành thẻ đăng ký cư trú đã được nâng cao hiệu quả bằng cách sử dụng hệ thống đăng ký cư trú trong các mạng của các cơ quan trọng tâm của chính phủ. Năm 2001, hệ thống đăng ký cư trú được phát triển và đưa vào sử dụng rộng rãi. Hệ thống đăng ký cư trú có thể dùng trực tuyến cho tất cả các cơ quan hành chính cần thông tin cho nhiều hoạt động khác nhau. Hệ thống mạng hành chính có thể cung cấp các dịch vụ chính sau: quản lý đăng ký cư trú, thu thuế nhà, tự động phát hành thông báo nhập học tiểu học và phát hành danh sách các cử chi. Đối với các công dân, lợi thế của việc có hệ thống liên kết nội bộ này là nó cho phép bất cứ ai sống ở một quận đăng ký lấy giấy chứng nhận về nơi cư trú của mình ở văn phòng các quận khác, và những thay đổi địa chỉ được tự động cập nhật vào dữ liệu trợ cấp quốc gia, dữ liệu bảo hiểm y tế, dữ liệu đăng ký xe và bằng lái xe. Hình 11. Hệ thống đăng ký cư trú của Hàn Quốc (Nguồn: National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), 15, 20 This section is drawn from National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), 56 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  56. Hệ thống quản lý thông tin nhà đất21 Các hoạt động của chính phủ liên quan tới nhà đất bao gồm phát triển đất định cư, các kế hoạch nhà ở và các kế hoạch tận dụng đất, thu thuế đất, và ngăn chặn đầu cơ nhà đất. Những hoạt động này đòi hỏi có sự quản lý chặt chẽ và hiệu quả các thông tin nhà đất, điều có thể đạt được bằng tin học hóa. Ngay từ năm 1982, sổ cái đăng ký đất và rừng đã được lưu trữ trên các hệ thống máy tính, kết quả là một cơ sở dữ liệu nhà đất về 32 triệu khu đất trên khắp cả nước. Các văn phòng địa phương sau đó được kết nối với mạng trung tâm để xử lý những thông tin thay đổi về nhà đất. Quy trình này mất 6 năm (1985-1990), tăng độ chính xác và tốc độ các dịch vụ công như ban hành các chứng chỉ đăng ký và tổng số sổ cái trực tuyến. Sau đó, vào tháng 2/1991, các dịch vụ được cung cấp trực tuyến, bao gồm ban hành các chứng chỉ đăng ký trực tuyến. Hệ thống đăng ký tên nhà đất được phát triển theo sau sự ra đời của Trung tâm thông tin lãnh thổ quốc gia năm 1997. Từ năm 1998, hệ thống nhà đất đã được hợp nhất với hệ thống hành chính ở 21 quận lớn. Tiếp nối hệ thống nhà đất là các hệ thống quản lý đất và các cao ốc, cũng như các hệ thống hiện hành khác. Việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất và kết nối trực tuyến với các cơ quan hiện hành đã mang lại một sự cải cách cho các dịch vụ hành chính liên quan tới đất, kết quả cụ thể như sau: • Tái cơ cấu quy trình 10 bước thành quy trình 3 bước • Ngăn việc tăng 15% nhân lực cho các dịch vụ hành chính liên quan tới đất • Tăng chất lượng các dịch vụ • Cho phép các công dân truy cập các sổ cái về đất và rừng từ các máy tính tại nhà • Giảm thời gian cho mỗi yêu cầu từ 30 phút xuống 5 phút • Các giao dịch nhà đất và liên quan tới đất càng minh bạch hơn 21 Ibid. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 57
  57. Hình 12. Bản đồ khái niệm Hệ thống quản lý nhà đất của Hàn Quốc (Nguồn: National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), 17, Quản lý xe cơ giới22 Khi số lượng xe cơ giới ở Hàn Quốc vượt quá 10 triệu chiếc, yêu cầu về một hệ thống thông tin để xử lý hiệu quả những yêu cầu hành chính liên quan tới xe cơ giới do việc tăng bùng nổ này mang lại là thiết yếu. Tuy nhiên, phải mất một thập kỷ cho hệ thống quản lý hành chính xe cơ giới hiện hành hoàn thiện. Trọng tâm năm 1991 là đăng ký xe cơ giới và thanh tra, điều này không nâng hiệu quả dịch vụ tự động nói chung vì thiếu tập trung hỗ trợ các dịch vụ như cụ thể hóa xe cơ giới, giấy phép lái xe tạm thời, và quản lý và cấp phát giấy phép lái xe. Năm 1998, một hệ thống quản lý xe cơ giới tiên tiến hơn được phát triển; nó bao gồm toàn bộ các khâu quản lý xe cơ giới, từ đăng ký cho tới thanh tra kiểm tra và vận hành. Một hệ thống quản lý xe hai bánh và máy móc phục vụ xây dựng được bổ sung năm 1999, và hai năm tiếp sau đó là một cơ sở chung cho phép nhiều cơ quan khác nhau thu thập và chia sẻ thông tin liên quan tới xe cơ giới. Hệ thống hội nhập đã tiết kiệm KRW 8.2 tỷ (khoảng USD 8.2 triệu). Nó cũng tiết kiệm rất nhiều thời gian cho cả chính phủ và các công dân, do việc đăng ký một chiếc xe bây giờ mất 20 phút thay cho 1 giờ đồng hồ. 22 Ibid. 58 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  58. Hình 13. Khái niệm cho hệ thống quản lý đăng ký xe cơ giới của Hàn Quốc (Nguồn: National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), 19, Câu hỏi suy nghĩ 1. Trong các dịch vụ G2C được mô tả ở phần này, theo bạn dịch vụ nào cần được ưu tiên nếu xét theo quan điểm của công dân? Vì sao? 2. Dịch vụ hội nhập thuế có thể giúp tăng thu thuế như thế nào? Cần những gì để xây dựng một hệ thống như vậy ở quốc gia bạn? 3. Trong phần này, chúng ta thảo luận 5 dịch vụ lấy dân làm căn bản của G2C. Bạn có thể phân biệt dịch vụ công dân khác có thể trở thành bộ phận của hệ thống G2C? Tự kiểm tra Giải thích luồng công việc cho từng hệ thống sau: a) hệ thống hội nhập thuế; b) hệ thống hội nhập bảo hiểm; c) đăng ký cư trú; d) đăng ký xe cơ giới; và e) hệ thống quản lý đất đai. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 59
  59. 3.2 Chính phủ tới doanh nghiệp (G2B): Đổi mới dịch vụ kinh doanh Hệ thống hội nhập giao dịch điện tử Hàn Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới năm 1994. Điều này đã hướng tâm điểm vào một loạt vấn đề liên quan tới hệ thống giao dịch thủ công, như thiếu hiệu quả do các phương pháp thủ công rườm rà và tham nhũng do giao tiếp quá nhiều người.23 Tuy nhiên quyết định được đưa ra để thiết lập một hệ thống giao dịch điện tử tiên tiến sẽ đảm bảo giao hàng kịp thời, chất lượng của các sản phẩm và giá cả hợp lý căn cứ vào các thông tin giao dịch chính xác, và xây dựng một trường giao dịch hiệu quả và minh bạch cho mọi doanh nghiệp tham gia.24 Hình 14. Hệ thống giao dịch chính phủ đơn cửa (Nguồn: National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), 41, 23 “eGovernment: Saving time and spending less with e-services,” Korea Herald, 17 March 2007, 24 National Computerization Agency, e-Government in Korea (2002), 60 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  60. Hệ thống điện tử được sử dụng có tên gọi Hệ thống giao dịch điện tử của dịch vụ giao dịch công cộng của Hàn Quốc (KONEPS). Đây là một hệ thống trực tuyến cho phép truy cập nhanh và thuận tiện tất cả các giao dịch hành chính công cộng, bao gồm đấu thầu, các hợp đồng, thanh toán và giao hàng. Thông tin giao dịch, bao gồm yêu cầu hóa đơn mua hàng, và công bố thầu công cộng, thưởng hợp đồng và trạng thái hợp đồng, đều được cung cấp trực tuyến, điều này đảm bảo công bằng và minh bạch cho tất cảc các giao dịch. Hệ thống giao dịch điện tử này ban đầu là hệ thống đấu thầu trực tuyến ở Hàn Quốc. Nó được khoảng 770 tổ chức và văn phòng, 35.000 tổ chức công và 160.000 công ty sử dụng.25 So với hệ thống giao dịch điện tử của Hàn Quốc với hệ thống tượng tự của Bang Andhra Pradesh ở Ấn Độ. Giao dịch điện tử ở Andhra Pradesh, Ấn Độ Với việc ban hành Đạo luật IT năm 2000 nhằm công nhận pháp lý đối với những giao dịch điện tử, Chính quyền bang Andhra Pradesh (GoAP) đã nhìn thấy tầm quan trọng của giao dịch điện tử trong việc đáp ứng các mục tiêu của chính phủ điện tử và có được sự kiểm soát. Năm 2002, GoAP mạnh dạn liên kết với các đối tác là các tập đoàn tư nhân ở Ấn Độ để phát triển các quy trình và trình ứng dụng giao dịch điện tử. Sự hợp tác này hướng tới: • Thiết lập một cửa đơn cho các giao dịch • Tiết kiêm tiền và thời gian cho các giao dịch • Chuẩn hóa các quy trình giao dịch của chính phủ • Tạo các cơ hội công bằng cho các doanh nghiệp • Đẩy mạnh minh bạch • Giảm cơ hội cho tham nhũng Từ khi ứng dụng định hướng năm 2003, cổng trang mạng giao dịch điện tử chính phủ đã trở thành nền tảng giao dịch điện tử cho mọi cơ quan của GoAP, bao gồm các cơ quan và các tập đoàn địa phương. Dịch vụ này cũng có ở chính quyền các bang khác. (tiếp ) 25 Ibid. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 61
  61. Giao dịch điện tử ở Andhra Pradesh, Ấn Độ (tiếp) Cổng giao dịch điện tử kết nối những người mua và người cung cấp thông qua bỏ thầu điện tử, danh mục điện tử, hợp đồng, yêu cầu mua và hóa đơn điện tử. Cổng này cũng có phần mềm quản lý bỏ thầu để trợ giúp người mua trong quá trình đấu thầu. Nhũng người cung cấp có thể tải xuống các tài liệu và kiểm tra trạng thái thầu. Tháng 1/2003, Thống đốc bang Andhra Pradesh ban bố một Chỉ thị có nội dung: “Bất cứ nhà thầu một công trình kỹ thuật hoặc giao dịch hàng hoá và dịch vụ có giá trị INR 10,000,000 (khoảng USD 236,500) trở lên bởi Hội đồng các nhà thầu đều sẽ phải nộp đơn qua cổng giao dịch điện tử.” Các giao dịch bao gồm cung cấp dược phẩm, xe cơ giới và các hợp đồng trao tay. Từ 8 cơ quan trọng yếu tận dụng hệ thống và đã thực hiện 564 giao dịch năm 2003, hệ thống này đã phát triển lên gồm 77 cơ quan với 9,981 giao dịch năm 2006. Thời gian quay vòng bỏ thầu đã giảm đáng kể từ 90-135 ngày xuống còn 35-42 ngày. Các thách thức trong việc thành lập hệ thống giao dịch điện tử bao gồm: thiết kế một mô hình kinh doanh xác thực, củng cố hợp tác giữa các cơ quan, khiến những người đặt mua tích trữ phải chấp thuận và sử dụng nền và đảm bảo an ninh hệ thống. Nguồn: Công nghệ thông tin và Ủy ban giao tiếp, “eprocurement.gov.in,” Chính quyền Andhra Pradesh, Ấn Độ, Công nghệ thông tin và Ủy ban giao tiếp, “Chỉ thị của chính phủ:thông qua và cho phép quá trình giao dịch qua thị trường giao dịch điện tử bởi các ban tham gia through” (GO.MS.2.2003), ommunications/ Govt-Gos-Acts/2003/GO.Ms.2.2003.html. K. Bikshapathi, “Case Study on A.P. eProcurement” (Presentation, 2007), K. Bikshapathi, P. RamaRaju và Subhash Bhatnagar, Quy trình điện tử ở Chính quyền bang Andhra Pradesh, Ấn Độ (Washington, D.C.: The World Bank, 2006), 62 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  62. Hệ thống hải quan Trước khi hệ thống hải quan điện tử ở Hàn Quốc ra đời, các nhà xuất nhập khẩu cần trình diện ở các sở hải quan và các trung tâm tài chính để khai báo hàng hóa của họ, trả thuế hải quan và nộp đơn hoàn thuế. Kiểm tra hải quan, giám sát và quản lý ở các sân bay và hải cảng không đồng bộ và mặc dù đáp ứng yêu cầu tối thiểu của khách hàng, chúng vẫn gây ra nhiều bất tiện. Những mục tiêu của việc xây dựng một hệ thống hải quan điện tử là nhằm: a) thiết lập những hệ thống thông tin tạo thuận lợi cho thủ tục hành chính hải quan; b) ngăn chặn buôn lậu; c) giảm chi phí trong lĩnh vực xuất nhập khẩu; và d) nâng cao chất lượng các dịch vụ hải quan. Do vậy, hệ thống hải quan điện tử của Hàn Quốc là một cửa đơn một trạm cho các giao dịch thương mại quốc tế. Các quy trình kiểm tra hải quan như các báo cáo xuất nhập khẩu, cập cảng và dữ liệu quản lý hàng hóa đều được tin học hóa, điều này góp phần quan trọng củng cố khả năng cạnh tranh của các công ty xuất nhập khẩu nội địa. Mặc dù hệ thống hải quan điện tử, kiểm tra hải quan xuất khẩu hiện tại có thể tiến hành trong vòng 2 phút nhưng kiểm tra hải quan nhập khẩu mất trong vòng 1,5 giờ. Đây là một trong những hệ thống kiểm tra hải quan nhanh nhất trong số 169 thành viên của Tổ chức hải quan thế giới. Các thủ tục kiểm tra nhập khẩu phức tạp trước đây mất 2 ngày thì nay có thể hoàn thành trong vòng chỉ 2,5 giờ, nhanh hơn 4 lần so với mức đề xuất của UNCTAD.26 Hệ thống này hàng năm tiết kiệm khoảng KRW 2.5 nghìn tỷ (khoảng USD 2,5 tỷ). Thêm vào đó, hệ thống cũng giúp toàn bộ ngành công nghiệp cắt giảm khoảng KRW 3.878 tỷ hàng năm, nhờ những tác động trực tiếp như giảm thời gian tiết kiệm được KRW 709 tỷ, những tác động gián tiếp như nâng cao năng suất các ngành công nghiệp liên quan và tận dụng tốt các phượng tiện tiết kiệm KRW 2.370 tỷ, và tác động nhỏ tới các lĩnh vực công nghiệp khác tiết kiệm KRW 798 tỷ.27 26 Korea Herald, op. cit. 27 Ibid. Học phần 3 Ứng dụng Chính phủ điện tử 63