Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 2: Công nghệ thông tin và truyền thông cho phát triển chính sách, quy trình và quản trị
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 2: Công nghệ thông tin và truyền thông cho phát triển chính sách, quy trình và quản trị", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_nhung_kien_thuc_co_ban_ve_cong_nghe_thong_tin_va.pdf
Nội dung text: Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 2: Công nghệ thông tin và truyền thông cho phát triển chính sách, quy trình và quản trị
- Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước Học phần 2 Công nghệ thông tin và truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị Emmanuel C.Lallana ICS TRUNG TÂM ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CÁN BỘ QUẢN LÝ THÔNG TIN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ TRUYỀN THÔNG
- LỜI GIỚI THIỆU Thế kỷ 21 đã đánh dấu sự tác động lẫn nhau của con người trên toàn cầu. Thế giới đang mở ra cơ hội cho hàng triệu người nhờ công nghệ mới, những thông tin và kiến thức thiết yếu được mở rộng đã cải thiện một cách đáng kể cuộc sống của con người và giúp giảm cảnh nghèo nàn. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi có sự liên kết cùng với việc chia sẻ giá trị, cùng cam kết và thống nhất sự phát triển tổng thể và phù hợp. Trong những năm gần đây, Châu Á Thái Bình Dương được biết đến như khu vực năng động nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Thế giới, khu vực này đã có trên 2 tỷ thuê bao điện thoại, trong đó có 1,4 tỷ thuê bao di động. Tinh đến năm 2008, chỉ riêng Ấn Độ và Trung Quốc đã chiếm ¼ số lượng thuê bao di động trên toàn thế giới. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương được cho là chiếm 40% số lượng người sử dụng internet trên thế giới và đồng thời là thị trường băng rộng lớn nhất, chiếm 39% thị trường toàn cầu. Cùng với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ, nhiều vấn đề được nhắc đến khi khoảng cách số biến mất. Nhưng điều đáng tiếc, khoảng cách số vẫn hiện hữu. Thậm chí 5 năm, sau khi Hội nghị Thế giới về Xã hội thông tin (WSIS) diễn ra ở Geneva vào năm 2003, bất chấp sự phát triển ấn tượng của công nghệ và những cam kết của các nước lớn trong khu vực. Kết quả là truy nhập truyền thông cơ bản vẫn còn xa lạ với nhiều người, đặc biệt là những người nghèo. Hơn 25 quốc gia trong khu vực gồm những nước đang phát triển, đã có gần 10 người sử dụng internet trên 100 dân, phần lớn tập trung ở các thành phố lớn. Trong khi đó ở một vài nước đã phát triển trong khu vực thì tỉ lệ rất cao với hơn 80 người sử dụng internet trên 100 dân. Sự chênh lệch về mức độ phổ cập băng rộng giữa các nước phát triển và đang phát triển vẫn còn giữ một khoảng cách lớn. Để giảm dần khoảng cách số và nhận diện đúng tiềm năng của ICT cho phát triển kinh tế xã hội trong khu vực, những nhà lập pháp ở các nước phát triển cần xây dựng các chính sách ưu tiên và khung điều chỉnh, chỉ định nguồn quỹ, và tạo điều kiện cho xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp ICT và nâng cao kỹ năng ICT cho công dân nước họ. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 3
- Trong Kế hoạch Hành động của WSIS có chỉ rõ, " mỗi người sẽ có cơ hội tiếp cận những kỹ năng và kiến thức cần thiết để hiểu, thực hành và đạt được những lợi ích từ Xã hội Thông tin và Kinh tế Tri thức". Trong phần cuối của kế hoạch này đã kêu gọi sự hợp tác quốc tế và khu vực trong những lĩnh vực có tiềm năng, đặc biệt nhấn mạnh vào việc tạo tập một số lượng lớn các chuyên gia ICT. Để hỗ trợ tốt cho lời kêu gọi từ Kế hoạch hành động của WSIS, APCICT đã xây dựng chương trình giảng dạy đầy đủ về ICT – Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước. Chương trình này bao gồm 8 phần có liên kết chặt chẽ với nhau, với mục tiêu truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết giúp các nhà lập pháp xây dựng và thi hành sáng kiến ICT hiệu quả hơn. APCICT là một trong 5 học viện của Ủy ban Kinh tế Xã hội Liên hợp quốc Châu Á Thái Bình Dương. APCICT xúc tiến chương trình phát triển kinh tế xã hội phù hợp và toàn diện ở Châu Á Thái Bình Dương thông qua việc phân tích, chuẩn hóa, khai thác tiềm năng, hợp tác khu vực và chia sẻ kiến thức. Trong quá trình hợp tác với các cơ quan Liên hợp quốc khác, các tổ chức quốc tế, các quốc gia và những tổ chức liên quan, ESCAP, đại diện là APCICT, được giao nhiệm vụ hỗ trợ việc sử dụng, cải tiến và dịch thuật các bài giảng cho các quốc gia khác nhau, phù hợp với các trình độ trung và cao cấp của các nhân viên trong cơ quan nhà nước, với mục đích đưa kỹ năng và kiến thức thu thập được làm gia tăng những lợi ích từ ICT và thiết lập những hành động cụ thể để đạt được mục tiêu phát triển. Noeleen Heyzer TL. Tổng Thư ký Liên hợp quốc và Giám đốc điều hành của ESCAP 4 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- LỜI TỰA Chặng đường phát triển của Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT&TT) cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước thực sự là một kinh nghiệm mang tính trí tuệ cao. Bộ giáo trình không chỉ phục vụ cho việc xây dựng các kỹ năng CNTT&TT, mà còn mở đường cho một phương thức mới về xây dựng chương trình giảng dạy - thông qua sự hợp tác của các thành viên và tự chủ về quy trình. Bộ giáo trình là một chương trình mang tính chiến lược của APCICT, phát triển trên cơ sở kết quả khảo sát đánh giá nhu cầu một cách toàn diện được tiến hành trên 20 nước trong khu vực và sự tham khảo ý kiến của các nhân viên thuộc cơ quan nhà nước, thành viên các cơ quan phát triển quốc tế, các viện hàn lâm và cơ sở giáo dục; những nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng về điểm mạnh và điểm yếu của giáo trình đào tạo; thông tin phản hồi từ những người tham gia xây dựng chuỗi bài giảng của APCICT – tổ chức các buổi hội thảo khu vực và quốc gia liên quan đến nội dung bài giảng và các phương pháp đào tạo khoa học; và sự trao đổi góp ý thẳng thắn của các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực ICT phục vụ phát triển. Các hội thảo về giáo trình diễn ra ở các khu vực thu được những lợi ích vô giá từ các hoạt động trao đổi kinh nghiệm và kiến thức giữa những người tham dự đến từ các quốc gia khác nhau. Đó là một quy trình để các tác giả xây dựng nội dung. Việc xây dựng 8 học phần trong bộ giáo trình đánh dấu một sự khởi đầu quan trọng trong việc nâng cao sự hợp tác ở hiện tại và xây dựng các mối liên hệ mới nhằm phát triển các kỹ năng thiết lập chính sách phát triển CNTT&TT khắp khu vực. APCICT cam kết cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật trong việc giới thiệu bộ giáo trình quốc gia như một mục tiêu chính hướng tới việc đảm bảo rằng bộ giáo trình sẽ được phổ biến tới tất cả những nhà lập pháp. APCICT cũng đang xúc tiến một cách chặt chẽ với một số viện đào tạo trong khu vực và quốc tế, những tổ chức có mối quan hệ mật thiết với cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương để cải tiến, dịch thuật và truyền đạt các nội dung của Giáo trình tới những quốc gia có nhu cầu. APCICT đang tiếp tục mở rộng hơn nữa về đối tượng tham gia nghiên cứu giáo trình hiện tại và kế hoạch phát triển một giáo trình mới. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 5
- Hơn nữa, APCICT đang xúc tiến nhiều kênh để đảm bảo rằng nội dung Bộ giáo trình đến được nhiều người học nhất trong khu vực. Ngoài phương thức học trực tiếp thông qua các tổ chức lớp học ở các khu vực và quốc gia, APCICT cũng tổ chức các lớp học ảo (AVA), phòng học trực tuyến cho phép những học viên tham gia bài giảng ngay tại chỗ làm việc của họ. AVA đảm bảo rằng tất cả các phần bài giảng và tài liệu đi kèm cũng như bản trình chiếu và bài tập tình huống dễ dàng được truy nhập trực tuyến và tải xuống, sử dụng lại, cải tiến và bản địa hóa, và nó bao gồm nhiều tính năng khác nhau như bài giảng ảo, công cụ quản lý học tập, công cụ phát triển nội dung và chứng chỉ. Việc xuất bản và giới thiệu 8 học phần của bộ giáo trình thông qua các buổi hội thảo khu vực, tiểu khu vực, quốc gia có sự tận tâm cống hiến, tham gia tích cực của nhiều cá nhân và tổ chức. Tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ lòng cảm ơn những nỗ lực và kết quả đạt được của nhóm cộng tác và các đối tác từ các Bộ, ngành, học viện, và các tổ chức khu vực và quốc gia đã tham gia hội thảo về bộ giáo trình. Họ không chỉ cũng cung cấp những thông tin đầu vào có giá trị, phục vụ nội dung của bài giảng, mà quan trọng hơn, họ đã trở thành những người ủng hộ việc truyền đạt bộ giáo trình trên đất nước mình, tạo ra kết quả là những thỏa thuận chính thức giữa APCICT và một số viện đối tác của các quốc gia và trong khu vực để cải tiến và phát hành bài giảng giáo trình chính thức cho đất nước họ. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt cho những nỗ lực cống hiến của nhiều cá nhân nổi bật, những người đã tạo nên thành quả cho bài giảng này. Họ là Shahid Akhtar Cố Vấn Dự án Giáo trình; Patricia Arinto, Biên tập; Christine, Quản lý xuất bản; toàn bộ tác giả bộ giáo trình; và những nhóm APCICT. Chúng tôi hy vọng rằng bộ giáo trình sẽ giúp các quốc gia thu hẹp được những hạn chế của nguồn nhân lực CNTT&TT, xóa bỏ những rào cản nhận thức về CNTT&TT, và xúc tiến ứng dụng CNTT&TT trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và đạt được mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ. Hyeun-Suk Rhee Giám đốc UN-APCICT 6 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- VỀ CHUỖI HỌC PHẦN Trong kỷ nguyên thông tin ngày nay, việc truy cập thông tin một cách dễ dàng đang làm thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và giải trí. Nền kinh tế số - còn được gọi là kinh tế tri thức, kinh tế mạng hay kinh tế mới, được mô tả như một sự chuyển tiếp từ sản xuất hàng hóa sang tạo lập ý tưởng. Công nghệ thông tin và truyền thông đang đóng một vai trò quan trọng và toàn diện trên mọi mặt của kinh tế xã hội. Như một kết quả, chính phủ trên khắp thế giới đang quan tâm nhiều hơn tới CNTT&TT trong sự phát triển quốc gia. Đối với các nước, phát triển CNTT&TT không chỉ phát triển về công nghiệp CNTT&TT là một lĩnh vực của nền kinh tế mà còn bao gồm cả việc ứng dụng CNTT&TT trong hoạt động kinh tế, xã hội và chính trị. Tuy nhiên, giữa những khó khăn mà chính phủ các nước phải đối mặt trong việc thi hành các chính sách CNTT&TT, những nhà lập pháp thường không nắm rõ về mặt công nghệ đang sử dụng cho sự phát triển quốc gia. Cho đến khi không thể điều chỉnh được những điều họ không hiểu, nhiều nhà lập pháp né tránh tạo lập các chính sách về CNTT&TT. Nhưng chỉ quan tâm tới công nghệ mà không tạo lập các chính sách thì cũng là một sai lầm vì những nhà công nghệ thường ít có kiến thức về thi hành những công nghệ họ đang phát triển hoặc sử dụng. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước do Trung tâm Đào tạo Phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Liên hợp quốc và Châu Á Thái Bình Dương (UN-APCICT) xây dựng nhằm phục vụ cho: 1. Các nhà hoạch định chính sách về CNTT&TT cả ở mức độ quốc gia và địa phương; 2. Quan chức chính phủ chịu trách nhiệm về phát triển và thi hành các ứng dụng của CNTT&TT; 3. Những nhà quản lý trong lĩnh vực công đang tìm kiếm chức danh quản lý dự án về CNTT&TT. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 7
- Bộ giáo trình hướng đến những vấn đề liên quan tới CNTT&TT phục vụ phát triển trên cả khía cạnh chính sách và công nghệ. Mục đích cốt yếu của giáo trình CNTT&TT không tập trung vào kỹ thuật mà truyền đạt sự hiểu biết về những điều công nghệ số có khả năng hoặc đang hướng tới, tác động tới như thế nào trong việc hoạch định chính sách. Các chủ đề trong bài giảng được thiết kế dựa trên phân tích nhu cầu và khảo sát những chương trình đào tạo trên khắp thế giới. Học phần được cấu tạo theo cách mà người học có thể tự học một cách độc lập hoặc bài giảng cho một khóa học. Học phần vừa mang tính chất riêng lẻ nhưng cũng liên kết với những chủ đề và tình huống thảo luận trong phần khác của chuỗi. Mục tiêu là tạo được sự thống nhất ở tất cả các phần. Mỗi phần bắt đầu với việc trình bày một chủ đề và kết quả mà người đọc sẽ thu được. Nội dung các phần được chia thành các mục bao gồm bài tập và tình huống để giúp hiểu sâu hơn những nội dung chính. Bài tập có thể được thực hiện bởi từng cá nhân hoặc một nhóm học viên. Biểu đồ và bảng biểu được cung cấp để minh họa những nội dung của buổi thảo luận. Tài liệu tham khảo được liệt kê để cho người đọc có thể tự tìm hiểu sâu hơn về bài giảng. Việc sử dụng CNTT&TT phục vụ phát triển rất đa dạng, trong một vài tình huống hoặc thí dụ ở bài giảng có thể xuất hiện những mâu thuẫn. Đây là điều đáng tiếc. Đó cũng là sự kích thích và thách thức của quá trình rèn luyện mới và cũng là triển vọng khi tất cả các nước bắt đầu khai thác tiềm năng của CNTT&TT như công cụ phát triển. Hỗ trợ chuỗi học phần còn có một phương thức học trực tuyến – Học viện ảo APCICT (AVA – – với phòng học ảo sẽ chiếu bản trình bày của người dạy dưới dạng video và Power Point của học phần. Ngoài ra, APCICT đã phát triển một kênh cho phát triển CNTT&TT (e-Co Hub – một địa chỉ trực tuyến dành cho những học viên phát triển CNTT&TT và những nhà lập pháp nâng cao kinh nghiệm học tập. E-Co Hub cho phép truy cập những kiến thức về các chủ đề khác nhau của phát triển CNTT&TT và cung cấp một giao diện chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, và hợp tác trong việc nâng cao CNTT&TT phục vụ phát triển. 8 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- HỌC PHẦN 2 Các chính phủ trên thế giới đang ngày càng hướng đến các công nghệ CNTT cho việc phát triển (ICTD), không chỉ phát triển ngành công nghiệp CNTT&TT cho nền kinh tế mà còn sử dụng CNTT&TT để đem lại sự tăng trưởng về kinh tế cũng như chính trị và xã hội. Đặc biệt là các chính phủ mong muốn phát triển chính sách CNTT&TT cho phát triển, giải quyết các lĩnh vực như môi trường thể chế và pháp lý thuận lợi, truy cập vào cơ sở hạ tầng thiết yếu, đẩy mạnh phát triển kỹ năng CNTT&TT cơ bản, phát triển nội dung và các ứng dụng CNTT&TT phù hợp cho việc phát triển, và nâng cao việc phát triển và nghiên cứu về CNTT&TT để đưa ra các giải pháp đổi mới. Học phần này tập trung vào vấn đề xây dựng chính sách và quản trị CNTT&TT cho phát triển, thảo luận các vấn đề cốt yếu của chính sách và quản trị CNTT&TT cho phát triển, và đưa ra cách thức cho các chính phủ để họ có thể đánh giá tiến trình của mình và so sánh với các nước khác. Mục tiêu của học phần Học phần này nhằm mục tiêu: 1. Cung cấp thông tin thiết yếu về các khía cạnh khác nhau của các chính sách và chiến lược quốc gia, các công cụ pháp lý để thúc đẩy sử dụng CNTT&TT cho phát triển; 2. Thảo luận các vấn đề liên quan đến việc phát triển và triển khai chính sách CNTT&TT cho phát triển; 3. Trình bày cách thức cho các chính phủ để họ có thể đánh giá tiến trình của mình và so sánh với các nước khác. Kết quả thu được Sau khi hoàn thành học phần này, học giả có thể: 1. Mô tả quy trình chính sách CNTT&TT cho phát triển; 2. Phân tích các chính sách CNTT&TT chính; 3. Thảo luận các vấn đề chính về quản trị CNTT&TT. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 9
- MỤC LỤC Lời giới thiệu . 3 Lời tựa 5 Về chuỗi học phần 7 Học phần 2 9 Mục tiêu của học phần 9 Kết quả thu được 9 Danh mục các trường hợp nghiên cứu 11 Danh mục các hộp 11 Danh mục các hình 11 Danh mục các bảng 11 1. Phát triển chính sách CNTT&TT cho phát triển 13 1.1 Mô hình phát triển CNTT&TT . 17 1.2 Cải cách công nghệ, pháp lý và thể chế 26 1.3 Phát triển chính sách CNTT&TT các bên liên quan . 36 2. Các yếu tố của chính sách CNTT&TT cho phát triển quốc gia 43 2.1 Phát triển năng lực CNTT&TT . . 44 2.2 Xây dựng nền công nghiệp thông tin truyền thông 53 2.3 Quản lý hành chính điện tử 69 3. Quản trị CNTT&TT 83 3.1 Khung quản trị CNTT&TT . 84 3.2 Quản trị đầu tư CNTT&TT 92 Phụ lục 100 Chú giải thuật ngữ 100 Ghi chú cho giảng viên 105 Về tác giả 108 10 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Danh mục các trường hợp nghiên cứu 1. Cải tổ ngành viễn thông của Philippin 15 2. Công nghệ số và bản quyền: Trường hợp của New Zealand 29 3. Chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT của Singapore 50 4. Trung Quốc – Trung tâm sản xuất CNTT&TT của thế giới 54 5. Ấn Độ - Ngôi nhà quyền lực về phần mềm toàn cầu 59 6. Hàn Quốc - Từ Chất bán dẫn đến Đa phương tiện 63 7. Chiến lược Công nghiệp nội dung số ở Ai-len 66 8. Quy hoạch phần mềm nguồn mở Malaysia 73 9. Tính tương hợp trong ngành An ninh công cộng ở Brazil 76 Danh mục các hộp Hộp 1. Nhà nước, thị trường và xã hội dân sự - thống nhất hay rời rạc? 23 Hộp 2. Các bước để lập công thức chính sách và chiến lược CNTT&TT cho phát triển 25 Hộp 3. Giấy phép thông tin truyền thông 33 Hộp 4. Các nguyên tắc của đối tác đa bên 39 Hộp 5. Tại sao các dự án chính phủ thất bại 78 Hộp 6. "Nguyên tắc đầu tư CNTT toàn chính phủ" của Úc 93 Danh mục các hình Hình 1. Chiến lược điện tử - Khai thác Công nghệ của Anh: Chuyển sang giáo dục và các dịch vụ trẻ em 48 Danh mục các bảng Bảng 1. Bảng so sánh các cơ quan CNTT-TT ở châu Á 87 Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 11
- 12 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- 1. PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH CNTT&TT CHO PHÁT TRIỂN Mục đích của phần này: • Miêu tả vai trò của nhà nước, thị trường và xã hội công dân trong việc xây dựng chính sách CNTT&TT; • Thảo luận nhu cầu cải tổ thể chế và pháp lý cho việc phát triển CNTT&TT; • Miêu tả vấn đề liên quan trong việc phát triển chính sách CNTT&TT. Việc sử dụng CNTT-TT cho phát triển đòi hỏi sự chủ động thúc đẩy chính sách công. Nó đòi hỏi không chỉ tầm nhìn mà còn cả chiến lược và kế hoạch hành động. Cách tiếp cận "để tự nhiên" sẽ là không ổn bởi vì CNTT-TT rất tốn kém và sử dụng nó không hợp lý sẽ gây lãng phí tài nguyên có giá trị. Triển vọng của CNTT-TT sáng sủa nhưng nguy cơ thất bại cũng cao. Trước khi chúng ta tiếp tục thảo luận chính sách CNTT-TT cho phát triển, đầu tiên chúng ta thảo luận về "chính sách". Chính sách là kế hoạch hành động. Nó được định nghĩa chính thức là "tập hợp các quyết định liên quan được thực hiện bởi chính trị gia hoặc nhóm các chính trị gia liên quan đến việc lựa chọn các mục tiêu và phương tiện nhằm đạt được mục tiêu trong trường hợp cụ thể mà các quyết định nên thuộc quyền lực của các chính trị gia"1. "Chính sách công" là phản ứng của chính phủ đối với các vấn đề liên quan đến lợi ích chung. Nó được gắn với các luật pháp (pháp lý) của quốc gia, quy định, quyết định và hành động của chính phủ2. 1 William Jenkins. “Policy Analysis: A Political and Organizational Perspective,” in Wikipedia, “Policy,” Wikimedia Foundation, Inc., 2 Legislation or ‘statutory law’ is law that has been promulgated (or ‘enacted’) by a legislature or other governing body. The term may refer to a single law, or the collective body of enacted law, while ‘statute’ is also used to refer to a single law. (Wikipedia, “Legislation,” Wikimedia Foundation, Inc., Regulation is “a legal restriction promulgated by government administrative agencies through rulemaking supported by a threat of sanction or a fine.” (Wikipedia, “Regulation,” Wikimedia Foundation, Inc., Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 13
- Một điều quan trọng là thực hiện cũng là chính sách. Một tuyên bố chính thức (dưới dạng chỉ thị hoặc quy định) không cần thiết để nói rằng một chính sách tồn tại. Ví dụ như việc sử dụng rộng rãi phần mềm bản quyền trong chính phủ và việc thiếu một chính sách chính thức về việc sử dụng phần mềm mã nguồn mở ngụ ý về một chính sách ủng hộ phần mềm có bản quyền trên thực tế. Tóm lại, chính sách công là những gì được nêu rõ trong các tuyên bố và các văn bản, cũng như những gì được thực hiện bởi chính phủ. Cho dù chính sách công vì lợi ích công nhưng chính sách công không phải luôn luôn thể hiện giải pháp tốt nhất có thể cho một vấn đề hoặc là khía cạnh nhất định. Việc xây dựng chính sách công không chỉ đáp ứng về mặt khoa học và kỹ thuật đối với một vấn đề mà nó còn là giải pháp tốt nhất đáp ứng nhu cầu chính đáng của các bên liên quan. Và bởi vì các bên liên quan thường có các quan điểm khác nhau về những gì tạo nên giải pháp tốt nhất, chính sách công tốt thể hiện cho giải pháp tốt nhất có thể chấp nhận. Một lý do tại sao chính sách không nhất thiết phải thể hiện các giải pháp kỹ thuật tốt nhất có thể là chính sách mới luôn được xây dựng trong biên độ của những cái hiện có. Chính sách cũ hoạt động như một hạn chế cho những chính sách mới. Ví dụ, các chính sách cũ có thể đã tạo ra những quyền lợi mà nhấn vào cái hiện có (không có chính sách mới) hoặc ít nhất là một chính sách mới mà không làm tồi tệ đi. Trường hợp cải tổ ngành viễn thông ở Philippin minh họa yếu tố “chính trị” của việc phát triển chính sách ICT. 14 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Cải tổ ngành Viễn thông của Philippin Việc tự do hóa của ngành công nghiệp viễn thông ở Philippin được khởi xướng bởi một liên minh cải cách đã chiến lược hóa các giai đoạn dẫn đến mở cửa thị trường. Công ty điện thoại đường dài Philippin (PLDT), độc quyền tư nhân hiện nay, đã không ủng hộ việc tấn công vào vị trí êm ấm của họ và chống lại chiến dịch quảng cáo của chính họ. Tuy nhiên khi vấn đề trở nên sáng tỏ thì Tổng thống Ramos đã phá vỡ cam kết kiểm soát độc quyền của mình, chủ sở hữu PLDT đã chấp chận thỏa hiệp đã được thương lượng. Ngay khi đạt được thỏa hiệp này, các chi tiết cụ thể về tự do hóa đã được gửi đến Ủy ban Viễn thông Quốc gia – cơ quan quản lý nhà nước, và Cục Truyền thông và Vận tải – cơ quan xây dựng chính sách. Việc tự do hoá ở Philippin đã được thực hiện bởi cam kết của Tổng thống và nhiệm vụ của nhóm các nhà cải cách đặc biệt. Những nhà cải cách này không phải là người hưởng lợi trực tiếp của việc gia nhập thị trường, trái ngược với trường hợp của Malaysia. Tại Philippin, đối tượng thụ hưởng của gia nhập thị trường chủ yếu là doanh nghiệp lớn. Một khi sự tín nhiệm chính sách được xây dựng và nhà nước thể hiện quyết tâm của mình để mở cửa ngành này thì các doanh nghiệp này nhiệt tình bước vào thị trường viễn thông. Không giống như ở Malaysia, nhiều cơ quan đã tham gia vào các nỗ lực cải tổ ở Philippin. Trường hợp của Malaysia, nơi mà quyền lực được tập trung trong tay của Thủ tướng Chính phủ, việc tạo thuận lợi cho sự thay đổi chính sách và ban hành các cải cách chính sách tương đối dễ dàng hơn. Ở Philippines, nơi mà quyền lực phân tán trong ba phái khác nhau của chính phủ và nơi mà thành phần kinh tế hùng mạnh ảnh hưởng đến các bộ phận của bộ máy quan liêu nhà nước thì cải tổ chính sách phức tạp hơn, cần nhiều áp lực từ chính phủ bên ngoài cũng như sự ủng hộ của các quan chức chủ chốt. Nguồn: Abridged from Lorraine Carlos Salazar, Getting a Dial Tone: Telecommunications Liberalization in Malaysia and the Philippines (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2007). Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 15
- Câu hỏi suy nghĩ 1. Nỗ lực của đất nước bạn trong việc tự do hóa ngành viễn thông khác nhau thế nào so với Philippin và Malaysia? 2. Dựa trên tình huống đưa ra, theo bạn yếu tố nào sẽ làm thuận lợi việc tự do hóa? 3. Theo bạn có những rào cản nào đối với việc tự do hóa ngành viễn thông? Một điều cũng rất quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách để tính đến việc các chính sách đã không được lường trước hậu quả. Điệu này được minh họa trong trường hợp tin học hóa hồ sơ đất đai (CLR) của dự án Bhoomi3 ở Karnataka, Ấn độ. Trong nghiên cứu của Amit Prakash và Rahul De’ về việc sử dụng Bhoomi ở các quận Mandya và Koppal kết luận rằng những biến động trong bối cảnh xã hội do các hệ thống hành chính và lịch sử dẫn đến kết quả không lường trước được. Theo Prakash và De’: Khi chúng ta thấy tác động cấu trúc thông qua việc sử dụng dự án Bhoomi ở Mandya (theo nghĩa là người nông dân được tạo điều kiện tiếp cận tín dụng nhiều hơn thông qua các kênh chính thức và với giả định rằng tín dụng chính thức có tác động phát triển tích cực đến người nông dân) mà các nhà thiết kế dự án mong muốn có, tuy nhiên ở Koppal việc sử dụng dự án có xu hướng tăng cường cho mối quan hệ đất đai hiện tại (bóc lột) mà trái với những gì mà các sáng kiến cải tổ đất đai đòi hỏi - đất cho dân cày4 (CLR và Bhoomi là những bổ sung mới nhất trong danh sách này). Có thể không tránh được hậu quả không lường trước được nhưng điều quan trọng là trong giai đoạn hoạch định chính sách các nhà hoạch định chính sách đánh giá bối cảnh cũng như các tác động tiềm tàng của việc can thiệp để giảm thiểu hậu quả không lường trước được. 3 Department, “Bhoomi,” Karnataka State Government, 01.kar.nic.in/Bhoomi/Home.htm. 4 Amit Prakash and Rahul De’, “Enactment of Technology Structures in ICT4D Projects: A Study of Computerization of Land Records in India” (paper presented at the 11th Pacific-Asia Conference on Information Systems, Aukland, New Zealand, 3-6 July 2007), 11 16 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- 1.1 Mô hình phát triển CNTT&TT Người ta đã gợi ý rằng mô hình phát triển chi phối chuyển từ phát triển theo cơ chế nhà nước sang cơ chế thị trường năm 19785. Chiến lược phát triển mới - cuối cùng được đặt tên là “Thoả ước Washington" sau khi trụ sở Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đặt ở thành phố này và là nơi quyền lực của chính phủ Mỹ - “nhấn mạnh thu gọn bộ máy chính phủ, bãi bỏ quy định, đẩy nhanh quá trình tự do hoá và tư nhân hoá”6. Cách tiếp cận ủng hộ thị trường cũng được chấp nhận trong lĩnh vực phát triển CNTT&TT7. Việc phát triển CNTT&TT ủng hộ thị trường được ghi trong Tuyên bố Geneva của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Xã hội thông tin (WSIS) do đó: Các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho sự cạnh tranh lành mạnh, có thể dự đoán và ổn định ở tất cả các mức độ cần được phát triển và triển khai bằng phương thức mà không chỉ thu hút đầu tư tư nhân cho phát triển cơ sở hạ tầng CNTT&TT nhiều hơn mà còn cho phép các nghĩa vụ dịch vụ phổ cập để đáp ứng ở những nơi mà các điều kiện thị trường truyền thống không thực hiện được8. Việc dịch chuyển sự phát triển CNTT&TT từ cơ chế nhà nước sang cơ chế thị trường được xem là giải pháp chủ đạo cho việc phát triển hạ tầng thông tin, đặc biệt là ngành viễn thông. Cho đến giữa những năm 1970, ngành viễn thông được xem là dịch vụ do chính phủ cung cấp (một số trường hợp độc quyền tư nhân). Ngày nay thì trường hợp này không còn nữa. Điều đáng chú ý là nguyên tắc đầu tiên trong các nguyên tắc chung của sáng kiến chính sách Internet toàn cầu cho “Những kinh nghiệm tốt nhất về cải tổ ngành Viễn thông” là: 5 David Howell, The Edge of Now: New Questions for Democracy in the Networked Age (London: Pan Books, 2001), 59. 6 Joseph Stiglitz, Making Globalization Work (London: Penguin Books, 2006), 17. 7 The term ‘ICT development’ should be distinguished from ‘ICT for development’. ICT development refers to development of ICT infrastructure and ICT-related industries. 8 See WSIS, “Declaration of Principles – Building the Information Society: A global challenge in the new Millennium,” itu.int/wsis/docs/geneva/official/dop.html. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 17
- 1) Chính phủ không nên là nhà cung cấp các dịch vụ viễn thông, các công ty tư nhân cung cấp sẽ hoạt động hiệu quả hơn. Vai trò của chính phủ là chịu trách nhiệm về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức và thể chế chính sách. Việc chuyển giao trách nhiệm cho khu vực tư nhân và giới thiệu những đối thủ cạnh tranh phải được thực hiện thông qua dàn xếp minh bạch (các hợp đồng quản lý, cho thuê vốn, sang nhượng, bán tài sản và các quyền hoạt động).9 Ngay cả mục tiêu đảm bảo truy cập phổ cập không còn được chấp nhận như là một biện minh cho dịch vụ do chính phủ cung cấp dịch vụ: Sự thành công của những nỗ lực truy cập phổ cập sẽ phụ thuộc vào thước đo lớn về sự thành công của việc tư nhân hóa và cạnh tranh. Các yếu tố lợi nhuận quan trọng nhất cho đầu tư nông thôn liên quan đến các điều chỉnh chính sách (đặc biệt là về kết nối và giá cước) nhiều hơn là đến rủi ro và điều chỉnh tài chính.10 Sự thay đổi theo hướng thị trường trong phát triển CNTT-TT cũng được thể hiện trong thực tế. Theo Hiệp hội viễn thông quốc tế (ITU), “năm 2004 đánh dấu một mốc quan trọng trong việc mở ra các dịch vụ viễn thông cơ bản để cạnh tranh vì” các dịch vụ cơ bản hiện đang được cung cấp dưới điều kiện cạnh tranh tại 54% quốc gia trên thế giới.11 Theo Scott H. Jacobs, nguyên Phụ trách chương trình cải tổ luật của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), dịch vụ quản lý công, các lợi ích chính của cải tổ theo hướng thị trường là: 9 Global Internet Policy Initiative, Best Practices for Telecommunications Reform (May 2002), 1, 10 Ibid., 2. 11 ITU, Trends in Telecommunication Reform 2004/05: Licensing in an era of convergence - Summary (Geneva: ITU, 2004), 3, E.pdf. 18 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- • Đẩy mạnh lợi ích của người tiêu dùng bằng cách giảm giá các dịch vụ và sản phẩm như điện, giao thông và y tế, và bằng cách tăng sự lựa chọn và chất lượng dịch vụ; • Giảm cấu trúc giá của các lĩnh vực xuất nhập khẩu để tăng tính cạnh tranh tại các thị trường trong khu vực và trên toàn cầu; • Chỉ ra sự thiếu linh hoạt và đổi mới trong sự trọng cung của nền kinh tế mà sẽ càng ngày càng kiềm chế nền kinh tế phát triển; • Giúp tăng tỷ lệ việc làm bằng cách tạo ra các cơ hội việc làm mới, và bằng cách giảm nhu cầu tài chính cho an ninh xã hội, mà đặc biệt quan trọng trong dân trưởng thành.12 Philippin và Singapore là những ví dụ về lợi ích của chính sách truyền thông theo hướng thị trường. Tại Philippin, trong 6 năm đầu của thị trường viễn thông cạnh tranh đã lắp đặt nhiều đường dây điện thoại hơn so với 30 năm dưới chế độ độc quyền. Ngày nay, Philippin là một trong những thị trường di động cạnh tranh nhất tại Châu Á. Với trường hợp của Singapore, sự tự do hoá viễn thông “bùng nổ” của nước này đã dẫn đến sự đầu tư lớn hơn, phát triển cơ sở hạ tầng và các lợi ích phụ tích cực cho các ngành khác. Cục phát triển CNTT-TT Singapore (IDA) ước tính rằng “tổng đầu tư phát sinh từ các hoạt động mới (bao gồm điện thoại di động 3G và các khoản đầu tư không dây cố định) theo tự do hoá thị trường đầy đủ là gần 3 tỷ đô Singapore (1,8 tỷ USD) trong 3 năm gần đây với 2,500 việc làm mới được tạo ra.13 Tuy nhiên, những người chỉ trích việc tiếp cận thị trường cho rằng Singapore đã quan tâm quá ít tới các vấn đề về tính công bằng, việc làm và cạnh tranh, tới tốc độ và trình tự của cải cách, hoặc cách tiến hành tư nhân hoá”.14 Một sự đồng thuận mới - Thỏa ước Post Washington - đã xuất hiện để nhắm vào những vấn đề này. Thỏa ước mới, theo Kanishka Jayasuriya, 12 Scott H. Jacobs, “The Second Generation of Regulatory Reforms” (paper prepared for delivery at the IMF Conference on Second Generation Reform, Washington, D.C., USA, 8-9 November 1999), 13 See IDA, Singapore’s Telecom Liberalization Draws ATT, MCI WorldCom and Other Global Players (Press Release, 3 April 2000), 14 Joseph Stiglitz, Making Globalization Work, 17. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 19
- vạch ra một nhà nước mạnh - dù được tái cơ cấu - theo hướng điều tiết hơn là định trước cho thị trường tự do. Hiện người ta đã công nhận rằng trong trường hợp không có các cơ cấu như một chính sách cạnh tranh lành mạnh, sự xoá bỏ điều tiết có thể dẫn đến một sự chuyển giao quyền lực từ nhà nước sang 15 các tập đoàn đầu sỏ tư nhân mạnh. Vì vậy, nhìn chung hiện nay người ta đã công nhận rằng việc tạo ra một chính sách điều tiết độc lập phải đi kèm với tự do hoá thị trường viễn thông.16 Một chính sách điều tiết độc lập được coi là cần thiết để bảo vệ khỏi các hành vi phi cạnh tranh của người điều hành có ưu thế (trước đây là độc quyền) và để thiết lập các thước đo cạnh tranh mà nếu không có nó thì người chơi mới không thể bước vào thị trường. Trong số các bài học kinh nghiệm từ việc tư nhân hoá ngành viễn thông của Argentina có tầm quan trọng của một chính sách điều tiết độc lập mạnh: Một môi trường thể chế ổn định, đáng tin cậy sẽ giảm rủi ro đầu tư trong lĩnh vực này và giảm tỷ suất lợi nhuận mong muốn mà các nhà đầu tư tư nhân mong muốn tham gia. Thiết lập một chế độ thể chế ổn định, đáng tin cậy trước khi tư nhân hóa sẽ tăng giá trị của hãng viễn thông tư nhân đối với người mua tiềm năng bằng cách giảm các nguy cơ liên quan đến việc mua. Đến lượt mình, điều này sẽ ảnh hưởng đến giá do chính phủ quy định. Do không kịp thiết lập một chế độ như vậy, chính phủ Argentina đã nhận được một mức giá bán thấp hơn và tăng xác suất về việc người mua sẽ được hưởng một khoản lợi nhuận bất thường.17 Có bằng chứng cho thấy vai trò của nhà nước trong phát triển CNTT-TT không chỉ đơn giản là cho phép thị trường vận hành đầy đủ. Theo ghi nhận của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz: 15 Kanishka Jayasuriya, Governance, Post Washington Consensus and the New Anti Politics (Southeast Asia Research Center Working Papers Series No. 2, 2001), 3, 16 See, for instance, Global Internet Policy Initiative, Best Practices for Telecommunications Reform. 17 Alice Hill and Manuel Angel Abdala, Regulation, Institutions, and Commitment : Privatization and Regulation in the Argentine Telecommunications Sector, Policy Research Working Paper Series 1216 (Washington, D.C.: The World Bank, 1993), wds.worldbank.org/servlet/WDSContentServer/WDSP/IB/1993/11/01/000009265_3961005141505/Rend ered/PDF/multi_page.pdf. 20 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Thị trường rất cần thiết; thị trường giúp phân bổ nguồn lực, đảm bảo rằng các nguồn lực này đang triển khai hiệu quả, điều này đặc biệt quan trọng khi nguồn lực khan hiếm [Nhưng] quan trọng không kém [là] làm chính phủ trở nên mạnh và 18 sự pha trộn đúng giữa chính phủ và thị trường có thể là gì. Stiglitz nhấn mạnh sự cần thiết phải cân bằng nhà nước và thị trường. Nhưng nó cũng rất quan trọng đối với việc công nhận vai trò của các tổ chức xã hội công dân, thường được biết đến như là các tổ chức phi chính phủ (NGOs) trong việc phát triển. Các tổ chức xã hội dân sự có thế mạnh là khiến vai trò của họ trong phát triển trở nên quan trọng. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB): Trong số những thế mạnh đặc biệt của các NGO là họ phục vụ như cầu nối cho cộng đồng chịu ảnh hưởng và đáp ứng nhu cầu địa phương. NGOs sử dụng cách tiếp cận đổi mới để phát triển, giúp đảm bảo dự án được triển khai như dự kiến, duy trì tính liên tục trong triển khai dự án, ủng hộ sự minh bạch cao và khả năng quản trị tốt, và tạo tiếng nói đối với các nhóm dễ bị tổn thương và/hoặc chịu thiệt thòi.19 Kể từ năm 1987, ADB đã làm việc với các tổ chức phi chính phủ, coi đây là "một phương tiện hữu hiệu để bổ sung nỗ lực cho các lĩnh vực hoạt động đã được lựa chọn. "ADB đã công nhận rằng họ có thể “nâng cao hiệu quả hoạt động của mình bằng việc đưa ra các khả năng đặc biệt và sự thành thạo của các tổ chức phi chính phủ"20. Năm 1998, ADB đã xác định" ba lĩnh vực hợp tác rộng rãi với các NGO, bao gồm hợp tác trong cho vay và các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật (TA), lập trình và làm việc cấp quốc gia, và phát triển chính sách".21 Theo Yvonne Asamoah, các tổ chức phi chính phủ "có vai trò đặc biệt quan trọng trong trường hợp các quỹ nhà nước còn hạn chế, địa vị chính trị còn mong manh, các thảm họa thiên nhiên gây nên bởi cả các tình huống dự đoán được và không dự đoán được, xung đột dân tộc căng thẳng và mức thu nhập theo đầu người hạn chế khả năng mua các hàng hoá và dịch vụ cần thiết - xã hội, giáo dục và kinh tế".22 18 Joseph Stiglitz, Making Globalization Work, 48. 19 ADB, ADB-Government-NGO Cooperation: A Framework for Action, 2003-2005 (May 2003), 2, 20 Ibid. 21 Ibid., 3. 22 Yvonne Asamoah, NGOs, Social Development and Sustainability (12 September 2003), Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 21
- Vai trò của các NGO trong phát triển đã được công nhận trong Thỏa ước Post Washington: Thuật ngữ của hệ thuyết chính sách mới gồm xã hội dân sự, xây dựng thể chế, mạng lưới an sinh và đặc biệt là quản trị, được bổ sung vào thuật ngữ của thỏa ước Washington với “thị trường mở”, “bãi bỏ thể chế”, “tự do hóa” và “điều chỉnh cơ cấu”.23 Xem xét tất cả những điều này, thách thức phát triển đối với các nhà hoạch định chính sách đang tìm cách khai thác sức mạnh của CNTT-TT cho sự phát triển là phải tìm ra sự cân bằng giữa nhà nước, thị trường và xã hội dân sự trong chiến lược phát triển của đất nước họ (xem Hộp 1). 23 Kanishka Jayasuriya, Governance, Post Washington Consensus and the New Anti Politics, 3. 22 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Hộp 1. Nhà nước, thị trường và xã hội — thống nhất hay rời rạc? Đối với các nhà tài trợ, xã hội dân sự là một lực lượng để dân chủ hóa và là thành phần của dân chủ hóa, cũng như là một bộ phận tự nhiên của một nền kinh tế thị trường [D] Các nhà tài trợ thường xuyên tham khảo khả năng của xã hội dân sự, để kiểm soát được nhà nước, tạo xung lực cho phát triển xã hội và thúc đẩy các giá trị dân chủ. Bằng cách giảm sức mạnh của nhà nước và tăng cường vai trò của thị trường, người ta cho rằng xã hội dân sự sẽ phát triển và khuyến khích tự do hóa kinh tế hơn nữa. Ngoài ra, xã hội dân sự, nhà nước, thị trường được giả định để tạo thành một tổng thể hữu cơ, cộng sinh có đặc trưng là thống nhất chứ không rời rạc và hợp tác chứ không xung đột. Do vậy, người ta kỳ vọng rằng xã hội dân sự sẽ có chức năng làm trung gian hòa giải và cân bằng quyền lực giữa nhà nước và thị trường, kiểm tra về đạo đức đối với thị trường, và tương tự là duy trì sự nguyên vẹn dân chủ của nhà nước. Sự thống nhất ba bên giữa nhà nước, thị trường và xã hội dân sự cũng tạo ra ranh giới rõ ràng giữa ba nhân tố đó, các chức năng và vai trò riêng biệt, và sự hài hòa và cân bằng hữu cơ. Tuy nhiên, nhiều tổ chức trong xã hội dân sự được tài trợ từ cả các nhà tài trợ nhà nước và tư nhân để thay đổi địa vị . Ở một số quốc gia, các quan chức nhà nước tự lập tổ chức phi chính phủ của riêng mình, coi đây là một cách để làm việc sáng tạo hơn, tiếp cận các nguồn lực khác nhau, và có được các cơ hội mới. Tương tự, một số tổ chức phi chính phủ không khác gì một công ty nhỏ, được thành lập để trốn thuế và thu lợi cá nhân. Hơn nữa, cơ chế đại diện ba bên có vẻ tạo được sự phân chia quyền lực công bằng - hoặc ít nhất là không mơ hồ - giữa ba nhân tố đó, ba lĩnh vực quyền lực thực sự riêng biệt. Tuy nhiên, các tổ chức nằm trong xã hội dân sự không muốn có cùng mức độ quyền lực. Ví dụ, các hội doanh nghiệp muốn có các nguồn lực tốt hơn và đòn bẩy chính trị lớn hơn so với các công đoàn hay các nhóm xã hội. Sức mạnh của thị trường vì thế thấm vào và hình thành các bộ phận của xã hội dân sự. Như Wood (1990) đã lập luận một cách rất thuyết phục rằng, sự xếp cạnh nhau một dãy nhiều mảng thể chế khác nhau trong một khoảng nhận thức của xã hội dân sự đã ngụy trang cho logic tính tổng của chủ nghĩa tư bản mà về cơ bản gắn kết những thế chế khác nhau này lại với nhau và làm cho chúng có nghĩa. (tiếp ) Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 23
- Hộp 1. Nhà nước, thị trường và xã hội — thống nhất hay rời rạc? (tiếp) Dù nhà nước có thể chào đón các tổ chức từ thiện và phúc lợi ủng hộ cho những người vô gia cư, người già và người bị bệnh, nhưng không phải vì điều này giúp giảm chi tiêu nhà nước, mà nó sẽ dễ dàng hơn cho các nhóm biện hộ khi việc xúc tiến đi ngược lại chính sách của chính phủ hoặc các tổ chức mà đòi hỏi tính hợp pháp của nhà nước Tương tự như vậy, các doanh nghiệp có thể tài trợ cho phát triển cộng đồng, nhưng họ có thể ít tiếp nhận hơn những đòi hỏi của các tổ chức lao động hoặc các nhóm môi trường về những tiêu chuẩn tối thiểu về lao động và môi trường. Vì vậy, sự tương tác giữa nhà nước, thị trường, và xã hội dân sự được che phủ bởi các mục đích và giá trị mâu thuẫn mà khi giải quyết nó có thể không dành ưu đãi đặc biệt cho phương tiện sống của xã hội dân sự cũng như cho bảo đảm ổn định. Các liên minh, liên kết không phải lúc nào cũng hiển nhiên hoặc có lợi cho sự phân bổ lại quyền lực và sự giàu có. Nguồn: Jude Howell and Jenny Pearce, in New Roles and Relevance: Development NGOs and The Challenge of Change, ed. David Lewis and Tina Wallace (Kumarian Press, 2000), 76-78. Quoted in Anup Shah, “Nongovernmental Organizations in Development Issues,” Câu hỏi suy nghĩ 1. Ở nước của bạn, xã hội dân sự có vai trò gì trong quản trị? 2. Mô tả mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự ở đất nước của bạn. Một vài điều cần làm Theo bạn, sự pha trộn là gì? Xác định số lượng pha trộn hiện tại cũng như pha trộn tương lai giữa nhà nước, thị trường và các tổ chức phi chính phủ trong chiến lược CNTT-TT của đất nước bạn. Sử dụng tỷ lệ phần trăm để xác định “sự chia sẻ” của mỗi bộ phận trên trong sự pha trộn hiện tại và tương lai. Nhóm những thành viên đến từ một quốc gia vào một nhóm để thực hiện bài tập này. 24 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Chính sách CNTT-TT thành công và công thức chiến lược gồm một vài bước sau (Hộp 2). Hộp 2. Các bước để lập công thức chính sách và chiến lược CNTT&TT cho phát triển 1. Phác thảo tầm nhìn và một kịch bản ngắn/dài hạn cho phát triển CNTT-TT. Việc này sẽ gồm các kết quả hoặc tiêu chuẩn đo lường được dựa trên khung thời gian đã cho. Do đó, nó có thể có đóng vai trò quan trọng để thực hiện các bài tập tập nhìn nhằm mục đích này. 2. Đánh giá tình hình hiện tại dựa trên những tham vấn, nghiên cứu, sự kiện và con số, nhận thức và quan sát. (Hoạt động này sẽ giúp bạn thấy rõ hơn vị trí của mình và sẽ hướng dẫn bạn các bước để bạn đạt đến các mục tiêu đã đặt ra). 2.1 Xem lại các chính sách và kế hoạch hiện tại, pháp chế cũng như các chính sách đề xuất và hướng chính sách. Ngoài ra, còn có các vấn đề khác liên quan đến CNTT-TT có thể cần được xem xét. Đó là việc truy cập thông tin, các chính sách và quy định viễn thông, các quy định tần số và vô tuyến, các chính sách thương mại điện tử và chính phủ điện tử. 2.2 Xem xét bối cảnh khu vực, gồm các thỏa thuận thương mại tự do, v.v mà có thể ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách. 3. Thực hiện các tham vấn đại diện và bảo đảm rằng những bộ phận có vai trò thứ yếu gồm những người như phụ nữ, người nghèo, người dân nông thôn, thanh niên và người khuyết tật. Cũng có thể cần thiết để soạn thảo một kế hoạch của “các bên liên quan” gồm lịch trình và phương pháp luận của tham vấn. Nó gồm các thảo luận nhóm tập trung (FGDs), các cuộc họp bàn tròn, tham vấn và trao đổi trực tuyến. Tham vấn phải được liên tục. 4. Dự thảo một kế hoạch hành động (để thực hiện thực tế). Kế hoạch này cần bao gồm một danh sách đề xuất các dự án, kết quả và các chỉ số thành công dự kiến, các kết quả và giải trình dự kiến, đánh giá và giảm thiểu rủi ro, chi phí và các yêu cầu nguồn lực chi tiết khác. Kế hoạch cũng phải đưa ra một lịch trình thực hiện. Nó cũng có thể rất quan trọng để đưa ra một sự giải thích / lý do hợp lý để có những phần ưu tiên. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 25
- Hộp 2. Các bước để lập công thức chính sách và chiến lược CNTT&TT cho phát triển (tiếp) 5. Chỉ rõ sự sắp xếp về thể chế để thực hiện. Thể chế này cần có trách nhiệm về chiến lược và kế hoạch hành động. Trong nhiều trường hợp, cơ quan hoặc tổ chức này được liên kết với hoặc gắn với một quan chức chính phủ cấp cao, người ra quyết định, người có thẩm quyền và nhận được sự hỗ trợ đầy đủ của chính phủ. 6. Đưa vào các cơ chế theo dõi và đánh giá. Quan trọng là các chỉ số thành công được thiết lập, chia sẻ, bình luận và thoả thuận thông qua hình thức tham vấn và cởi mởi. Nguồn: Adapted from Richard Labelle, CNTT-TT Policy Formulation and e-Strategy Development: A Comprehensive Guidebook (Bangkok: UNDP-APDIP, 2005), Câu hỏi suy nghĩ Bước nào trong việc xây dựng chính sách CNTT-TT mà bạn cho rằng các nhà hoạch định chính sách sẽ thấy nhiều thử thách nhất? Tại sao? 1.2 Cải cách công nghệ, pháp lý và thể chế Luật và thể chế chịu ảnh hưởng của những thay đổi về công nghệ. Việc sử dụng CNTT-TT ngày càng nhiều trong nền kinh tế, chính trị và xã hội đòi hỏi phải xem xét lại luật pháp quốc gia và nếu cần thiết bãi bỏ những luật bị coi là rào cản đối với việc chuyển đổi công nghệ và phát triển CNTT-TT. 26 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật và công nghệ được quy định rõ ràng trong luật hợp đồng. Ở hầu hết các nước, chữ ký là yêu cầu pháp lý để hoàn thiện hợp đồng. Hiện nay, hầu như tất cả các luật đều yêu cầu phải có chữ ký viết tay bằng mực trên giấy. Thực tế, chúng ta thường không đặt vấn đề chữ ký là gì - cho đến khi xuất hiện một hình thức ký mới dựa trên một công nghệ khác. “Chữ ký số” có chức năng tương đương với một chữ ký “viết tay”: cả hai biểu thị sự thỏa thuận của cá nhân với hợp đồng. Tuy nhiên, chữ ký số, một dạng mật mã không đối xứng, thường không được chấp nhận là phương tiện để hoàn thiện hợp đồng theo luật của nhiều nước. Vấn đề là các hợp đồng hiện nay có thể là hợp đồng điện tử. Người ta cho rằng sự công nhận chữ ký số là hợp pháp rất cần để thúc đẩy thương mại điện tử. Do đó, một số quốc gia đã thông qua luật thương mại điện tử, theo đó công nhận chữ ký số và chữ ký viết tay là hợp pháp như nhau. Các mô hình kinh doanh cũng dựa trên (hoặc thừa nhận sự tồn tại của) một công nghệ ưu việt. Việc kinh doanh sách là một ví dụ. Sách được in trên giấy, rồi phân phối và bán dưới dạng đó. Chi phí quan trọng của một cuốn sách là chi phí in. Chi phí phân phối của một cuốn sách cũng phụ thuộc vào việc nó được in trên giấy. (Nhiều người trong chúng ta mua sách từ eBay đôi khi phải trả chi phí gửi cuốn sách đó qua bưu điện nhiều hơn là chi phí của chính cuốn sách đó). Nhưng điều gì xảy ra với một cuốn sách nếu nó không được in trên giấy và được phân phối dưới dạng điện tử? Có nên trả cùng mức giá cho một cuốn sách tải trên mạng và một cuốn sách in? Các nhà xuất bản có nên bỏ chi phí in và phân phối khỏi giá của cuốn sách tải trên mạng? Nếu sách có thể được tải trên mạng, thì điều gì sẽ xảy ra với nhà sách? v.v Đây không chỉ là trăn trở vu vơ. Các nhà hoạch định chính sách cần suy nghĩ về những điều này bởi vì sự thay đổi công nghệ thường nhanh hơn các cải cách pháp luật và thể chế. Do đó, nếu các quy tắc cũ vẫn được sử dụng để quản trị những điều mới, thì điều này sẽ trở nên tồi tệ khi luật cũ cản trở thực hiện các điều mới (tốt hơn). Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 27
- Hãy lấy âm nhạc làm ví dụ. Trong thời gian gần đây (thời gian mà hầu hết các nhà hoạch định chính sách cùng thời sẽ nhớ), âm nhạc được lưu và bán thông qua các bản ghi (nhựa). Các bản ghi này hoặc là Long Playing/ Albums (chạy 33 vòng/phút) hoặc là đơn (chạy 45 vòng/phút) do sử dụng nhựa vinyl. Vinyl là chất được yêu thích vì nó linh hoạt và khó vỡ (trong điều kiện sử dụng bình thường). Điều gì sẽ xảy đến với ngành công nghiệp âm nhạc khi chúng ta có thể lưu và chơi nhạc bằng các phương tiện khác? Chúng ta có nên vẫn mua nhạc dưới dạng Long Playing/Album không? Khi chúng ta thay thế đĩa CD cho nhựa vinyl, câu trả lời là có. Nhưng hiện tại, chúng ta có thể tải nhạc và sử dụng MP3 để nghe? Việc tải nhạc làm nảy sinh những câu hỏi mới. Tại sao lại tải album của chỉ một nhạc sĩ/nhóm nhạc cụ thể? Tại sao không tải các bài hát cụ thể? Và khi bạn đã tải được tất cả các bài hát yêu thích của các nhạc sĩ yêu thích của mình, tại sao không biên soạn chúng thành một album? Điều gì ngăn cản bạn làm việc này? Có còn hợp lý (hay đúng đắn) không nếu các công ty thu âm vẫn kiên quyết làm theo cách mua bán âm nhạc cũ? Chính phủ có nên quy định các hình thức mua bán âm nhạc khác dựa trên những cái đang được cho phép hiện nay hay không? Phải thừa nhận rằng, câu trả lời cho những vấn đề này không đến một cách dễ dàng. Nhưng điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách hiểu được rằng vấn đề quan trọng làm cơ sở cho tranh luận việc sao chép lậu và bảo vệ sở hữu trí tuệ là mối quan hệ giữa công nghệ với luật. New Zealand là một trong số vài nước đã thực hiện các bước để hưởng ứng cuộc tranh luận này như xem xét luật bản quyền của mình. 28 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Công nghệ số và bản quyền: Trường hợp của New Zealand Việc thay đổi và phát triển công nghệ, áp dụng các công nghệ mới thường làm nảy sinh các vấn đề về tính ứng dụng, sự phù hợp và vận hành của các luật và thể chế hiện hành. Điều này đặc biệt đúng với luật bản quyền, một sản phẩm của công nghệ. Từ Luật bản quyền của Anh năm 1709 (Đạo luật của Anne), lịch sử bản quyền đã cho thấy khung pháp lý phát triển và tiến hóa cùng với sự thay đổi công nghệ. Máy in, máy hát, máy chơi piano tự động, phát sóng, máy photocopy, máy ghi hình và máy tính - Bản quyền đã phát triển để đáp ứng nhu cầu về công nghệ mới và đảm bảo rằng bản quyền bảo vệ lợi ích của người tạo ra bản quyền và sở hữu bản quyền, người sử dụng các tài liệu bản quyền và lợi ích công cộng rộng lớn hơn. Việc sử dụng ngày càng nhiều công nghệ kỹ thuật số trong thương mại, công nghệ thông tin, truyền thông và các ngành công nghiệp giải trí có quan hệ đặc biệt đối với luật bản quyền. Công nghệ kỹ thuật số cho phép các công trình có bản quyền được sao chép, thao tác và phổ biến với một nỗ lực và chi phí thấp nhất mà các công nghệ tương tự không sánh được. Chìa khoá của vấn đề là liệu Luật bản quyền hiện hành (hiện không có quy định nào về từ 'kỹ thuật số' trong luật này), có khả năng đối phó được việc sử dụng các tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số và trực tuyến hay không, và liệu Luật này có cần cải tổ để đáp ứng các nhu cầu về bản quyền tác giả, sở hữu và sử dụng hay không. Những tác giả và người sở hữu bản quyền lo ngại về việc họ không thể kiểm soát được việc sao chép và lan truyền các công trình của mình trên internet. Người sử dụng có bản quyền thì lo ngại công nghệ kỹ thuật số sẽ hạn chế khả năng truy cập các tài liệu có bản quyền. Bản quyền là một gói các quyền được pháp luật quy định liên quan đến việc thể hiện các ý tưởng và thông tin trong tác phẩm gốc. Luật bản quyền nhằm tạo ra sự cân bằng giữa lợi ích cạnh tranh: tức một mặt là giữa lợi ích của tác giả và chủ sở hữu tài liệu bản quyền, mặt khác là lợi ích của những người sử dụng của tài liệu đó. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 29
- Công nghệ số và bản quyền: Trường hợp của New Zealand (tiếp) Tác giả bản quyền và chủ sở hữu bản quyền tìm kiếm sự bảo vệ cho các công trình của mình để họ có thể kiểm soát và thu được khoản lợi nhuận thương mại hợp lý từ việc sử dụng tài liệu đó. Bản quyền hỗ trợ tác giả và chủ sở hữu bản quyền bằng cách cung cấp một khuôn khổ các quy tắc giúp quản lý thị trường các công trình sáng tạo Bản quyền vì thế có chức năng như một sự khuyến khích theo hai cách quan trọng, bằng cách khuyến khích: • Người sáng tạo sáng tạo ra các công trình có bản quyền và nhà đầu tư đầu tư vào việc tạo ra các công trình đó; và • Người sở hữu bản quyền tiếp tục phát triển các công trình đó và phổ biến nó cho xã hội. Tuy nhiên, Luật bản quyền cũng phải công nhận những nhu cầu của người sử dụng tác phẩm bản quyền bằng cách đảm rằng việc bảo vệ bản quyền không quá hạn chế nhu cầu của người được quyền sử dụng và của cộng đồng nói chung được tiếp cận với các tác phẩm bản quyền. Mặc dù New Zealand có ít dân nhưng nước này đã tạo ra những con người có tài năng và khả năng sáng tạo rộng rãi. Cách quản trị bản quyền hiệu quả là một nhân tố công nhận giá trị của một lực lượng lao động sáng tạo đối với sự phát triển kinh tế và văn hóa. Nó có thể cung cấp nhiều ưu đãi mà khuyến khích: • Cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước sử dụng và đầu tư vào các tài năng và kỹ năng sáng tạo của New Zealand; • Tiếp tục phát triển thị trường xuất khẩu liên quan đến các ngành công nghiệp dựa trên bản quyền; và • Tạo ra các công trình có đóng góp và phản ánh được nền văn hóa và bản sắc dân tộc của New Zealand. 30 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Công nghệ số và bản quyền: Trường hợp của New Zealand (tiếp) Trong khi New Zealand tạo ra một lượng lớn những người có tài năng và kỹ năng sáng tạo thì nước này lại là nước nhập khẩu ròng của nhiều sản phẩm mà là đối tượng để tổ chức bảo vệ bản quyền tại các nước khác. Một chế độ bản quyền hiệu quả cũng đảm bảo rằng người New Zealand được tiếp cận các công trình bản quyền nước ngoài và, quan trọng hơn, thông tin chứa trong các tác phẩm bản quyền. Do đó, hệ thống quản trị bản quyền của New Zealand tiếp tục cung cấp một mức độ bảo vệ tương xứng với các đối tác thương mại và giao ước quốc tế cung cấp là rất quan trọng. Do đó, bất kỳ cải cách nào về luật bản quyền của New Zealand đều cần được đi theo hướng: tiếp tục khuyến khích đổi mới trong nước và phổ biến các công trình bản quyền đến người New Zealand; tạo điều kiện tăng trưởng thị trường xuất khẩu của ngành công nghiệp dựa trên bản quyền, và tính đến các giao ước quốc tế, hiện tại và tương lai, trong định hình luật trong nước. Nguồn: Abridged from New Zealand Ministry of Economic Development, Digital Technology and the Copyright Act 1994: A Discussion Paper (2001), 991.aspx. Câu hỏi suy nghĩ 1. Có cần luật bản quyền không? Tại sao có hoặc tại sao không? 2. Chính sách bản quyền của nước bạn khác với của New Zealand như thế nào? Không phải chỉ các luật mới cần thay đổi. Các thể chế cũng cần thay đổi để phù hợp với công nghệ số.24 24 Regulation is defined as “rule or order issued by an agency of the executive branch of government which has the force of law. Regulations must be authorized by the statute and generally provide more details on a particular subject than does the authorizing statute.” (Law Library, “A Glossary of Terms for First Year Law Students,” George Mason University School of Law, Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 31
- Trong điện thoại truyền thống, việc cung cấp dịch vụ và các trang thiết bị được tích hợp bởi thiết kế kỹ thuật. Do đó, nó có nghĩa chỉ một công ty cung cấp cả dịch vụ (như thoại) và mạng thực hiện giúp dịch vụ (thoại). Ví dụ, PLDT ở Philippines trong những năm tiền cạnh tranh là một công ty được cấp giấy phép để vận hành mạng (chuyển mạch) và cung cấp dịch vụ thoại và dữ liệu cho người tiêu dùng. Trường hợp cũng tương tự ở lĩnh vực phát sóng truyền hình: công ty truyền hình vận hành một mạng với các chương trình được công ty đó xây dựng hoặc đi mua. Công nghệ Internet, đặc biệt là giao thức Internet (IP), đã được phép tách biệt rõ ràng giữa các thiết bị và dịch vụ mạng. Thiết bị mạng (mạng chuyển mạch gói mang lưu lượng) không còn ràng buộc với các dịch vụ mà chúng cung cấp (như truy cập Internet, thoại qua IP, dữ liệu). Sự thay đổi về công nghệ này tạo cơ hội cho chính quyền xây dựng các quy chế công nhận và dựa vào việc tách riêng các thiết bị mạng và dịch vụ. Ví dụ, các nhà cung cấp mạng có thể được cấp giấy phép khác giấy phép của các nhà cung cấp dịch vụ. Một công ty có thể chỉ kinh doanh mạng và kiếm tiền đơn giản bằng việc chuyển dữ liệu (theo kịch bản này, dữ liệu cũng bao gồm thoại, âm nhạc và đa phương tiện) từ điểm này của mạng tới các điểm khác. Sẽ có các công ty khác có thể cung cấp các dịch vụ như điện thoại, tải nhạc, video theo yêu cầu và trò chơi. Các nhà cung cấp dịch vụ không cần phải sở hữu mạng nhưng họ có thể sử dụng mạng của công ty mà được thiết lập chủ yếu để cung cấp các thiết bị mạng. Một thay đổi kỹ thuật khác mà ảnh hưởng đến thể chế là hội tụ. Nói rộng hơn, hội tụ đề cập đến "lấn sân giữa các ngành trong lĩnh vực truyền thông".25 Hội tụ, theo OECD, có ba khía cạnh - kỹ thuật, chức năng và hợp tác. Hội tụ về mặt kỹ thuật có nghĩa là, một chế độ truyền dẫn duy nhất (cáp đồng trục hoặc cáp quang) đồng thời truyền được thông tin đa dạng: thoại, văn bản, dữ liệu, âm thanh, hình ảnh"26. Trước đây bạn cần từng loại cáp khác nhau cho Internet, TV và điện thoại, với hội tụ bạn chỉ cần một dây cáp cho tất cả các dịch vụ này (và các dịch vụ khác như video theo yêu cầu và truyền hình trả tiền). Tuy nhiên, trong khi điều này là có thể về mặt kỹ thuật, thì trong nhiều trường hợp thể chế lại không cho phép điều này xảy ra. Có thể cấp phép cho hội tụ. Đây là lý do tại sao ITU khuyến khích các chính phủ để xem xét cấp phép vượt đơn giản là để làm thuận lợi cho xu hướng hội tụ (xem Hộp 3). 25 Robert E. Babe, Convergence and the New Technologies, 26 Ibid. 32 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Hộp 3. Giấy phép thông tin truyền thông Trong quá trình cải cách lĩnh vực thông tin truyền thông trong những năm 1980 và 1990, nhiều quốc gia ban đầu sử dụng giấy phép như một phương tiện để kiểm soát gia nhập thị trường và áp đặt các nghĩa vụ pháp lý. Và ngay cả sau giai đoạn đầu của tự do hóa thị trường, quá trình cấp phép ở một số nước là một phương tiện gác cổng để kiểm soát gia nhập thị trường. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên mới của hội tụ này, ngày càng nhiều nhà hoạch định chính sách đặt câu hỏi về tiện ích của cấp phép và yêu cầu giấy phép được điều chỉnh để đạt được các mục tiêu chính sách mà không cản trở phát triển thị trường và thúc đẩy công nghệ. Những băn khoăn này được chia thành hai hướng quan trọng: phát triển các dịch vụ một cách bùng phát thậm chí không giấy phép, và phát triển khung giấy phép hội tụ mà phá vỡ các dịch vụ truyền thống và việc cấp phép cho công nghệ. Từ cấp phép cá nhân tới ủy quyền nói chung Tại một số quốc gia ngày nay, yêu cầu cấp phép cho nhiều dịch vụ đang được nới lỏng để loại bỏ rào cản gia nhập thị trường và thúc đẩy cạnh tranh. Thay vì yêu cầu cấp phép cá nhân và các quy trình thủ tục dài dòng, các ủy quyền nói chung đang ngày càng được sử dụng rộng rãi để tăng số lượng dịch vụ. Ví dụ điển hình của xu hướng này có thể được thấy ở các nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU), họ đã tạo bước tiến lớn khi sáng tạo ra một loại giấy phép duy nhất cho tất cả các hãng truyền thông điện tử. Từ giấy phép dịch vụ riêng biệt tới các giấy phép chung Luật Truyền thông và Đa phương tiện (CMA) của Malaysia ban hành vào năm 1999 đã thiết lập một khung pháp lý rõ ràng để phù hợp với hội tụ. Đặc biệt, CMA giới thiệu một chế độ cấp phép trung lập công nghệ và dịch vụ cho CNTT-TT và truyền hình giúp nước này giảm từ 31 loại giấy phép riêng biệt xuống còn 4 loại giấy phép chung. Khung cấp phép thống nhất Tiếp theo, một số nước đã bắt đầu giới thiệu các biện pháp để tạo ra một mô hình cấp phép thống nhất. Các bước đi của Ấn Độ theo hướng hình thành chế độ cấp phép thống nhất giúp đi sâu theo hướng này. Trong một văn bản tham khảo ban hành tháng 3 năm 2004, các Cơ quan quản lý viễn thông của Ấn Độ đã đề xuất một vài mô hình cấp phép thống nhất. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 33
- Tính trung lập của công nghệ và dịch vụ Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc chuyển sang một khung cấp phép hội tụ là đạt được tính trung lập công nghệ. Thuật ngữ này được dùng để chỉ việc một người được cấp phép có khả năng lựa chọn công nghệ và thiết bị mà anh ta sẽ sử dụng để cung cấp dịch vụ đã được cấp phép. Ví dụ, dự án phổ cập nông thôn trợ cấp dịch vụ điện thoại trả tiền có thể được coi là trung lập công nghệ nếu người chủ được phép chọn công nghệ hoặc kiến trúc tối ưu về kinh tế để cung cấp dịch vụ. Ngoài việc thử nghiệm trung lập công nghệ, ngày càng nhiều chính phủ chuyển sang cấp phép trung lập dịch vụ. Điều này cho phép người được cấp phép dựa theo tín hiệu từ thị trường để xác định dịch vụ nào đang được ưa thích và hiệu quả nhất về chi phí. Giấy phép chung sau đó cho phép các nhà điều hành đưa ra nhiều loại dịch vụ đa dạng và các ứng dụng phù hợp với biến động về nhu cầu của thị trường. Khung cấp phép hội tụ kết hợp tính trung lập công nghệ và dịch vụ làm tăng phạm vi của các ứng dụng và dịch vụ mà mỗi nhà điều hành có thể cung cấp, trong đó sử dụng lựa chọn công nghệ của riêng họ. Nhiều quốc gia như Úc, các nước thành viên EU và Malaysia đã áp dụng chế độ cấp phép hội tụ. Nguồn: Abridged from ITU, Trends in Telecommunication Reform 2004/05: Licensing in an era of convergence – Summary (Geneva: ITU, 2004), TTR.7-2004-SUM-PDF-E.pdf. Câu hỏi suy nghĩ Xu hướng cấp phép CNTT-TT nào được mô tả ở trên bạn sẽ áp dụng tại đất nước của mình? Tại sao? Tranh luận rất đơn giản. Luật và thể chế phải theo kịp các thay đổi về công nghệ. Với sự ra đời của công nghệ số, đặc biệt là internet, xuất hiện nhu cầu thay đổi sự điều chỉnh của luật và thể chế đối với mạng và cơ sở hạ tầng. Các nhà cung cấp dịch vụ có thể được coi là một nhóm khác với các nhà cung cấp thiết bị mạng. 34 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Các nhà hoạch định chính sách không thể trì hoãn khi đối mặt với sự thay đổi về kỹ thuật vì sẽ nảy sinh vấn đề khi các luật cũ được dùng để điều chỉnh công nghệ mới. Các nhà hoạch định chính sách (và các nhà làm luật) cần đánh giá mức độ pháp luật hiện hành và các quy định đã được thiết lập cản trở hoặc gây trở ngại cho việc phổ biến công nghệ mới và phát triển các doanh nghiệp mới. Cụ thể, họ nên xác định rõ liệu luật hoặc các quy định có hay không: 1. Tạo rào cản nhân tạo ngăn cản đạt được lợi ích dịch vụ hội tụ đầy đủ; 2. Tạo những thành kiến phi lý giúp ưu đãi hoặc làm chậm một phân đoạn của ngành công nghiệp so với các phân đoạn khác; 3. Nhắm vào các cơ hội và yêu cầu dịch vụ công cộng và lợi ích công cộng mới một cách tương xứng, 4. Tạo điều kiện tương xứng cho việc ứng dụng các khả năng dịch vụ và công nghệ mới theo hướng mở rộng phát triển mạng và dịch vụ đến những vùng và đối tượng chưa được phục vụ.27 Một vài điều cần làm Xác định các luật và quy định tại nước bạn mà có thế đang: • Tạo rào cản nhân tạo ngăn cản đạt được lợi ích dịch vụ hội tụ đầy đủ; • Tạo những thành kiến phi lý giúp ưu đãi hoặc làm chậm một phân đoạn của ngành công nghiệp so với các phân đoạn khác; • Nhắm vào các cơ hội và yêu cầu dịch vụ công cộng và lợi ích công cộng mới một cách tương xứng, và • Tạo điều kiện tương xứng cho việc ứng dụng các khả năng dịch vụ và công nghệ mới theo hướng mở rộng phát triển mạng và dịch vụ đến những vùng và những người chưa được phục vụ. Nhóm các thành viên đến từ cùng một quốc gia thành nhóm để làm bài tập này. 27 ICT Regulation Toolkit, “Module 7: New Technologies and Their Impacts on Regulation,” infoDev and ITU, Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 35
- 1.3 Phát triển chính sách CNTT&TT các bên liên quan Cho đến nay chúng ta đã kiểm tra hai vấn đề liên quan đến hoạch định chính sách CNTT-TT công cộng – phát triển chính sách CNTT-TT theo hướng thị trường và mối quan hệ giữa luật/cải cách luật và thay đổi công nghệ. Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét sự cần thiết phải thu hút các bên liên quan tham gia hoạch định chính sách CNTT-TTD. Các bên liên quan là những cá nhân, nhóm hoặc tổ chức có lợi ích trong chính sách đang được xây dựng. Một định nghĩa khác về các bên liên quan là "bất cứ người nào có ảnh hưởng quan trọng hoặc chịu ảnh hưởng bởi hành động đưa ra quyết định của một người khác”.28 Ví dụ, các bên liên quan trong các dự án liên quan đến CNTT-TT trong giáo dục gồm học sinh, phụ huynh, người sử dụng lao động, các cơ quan chính phủ, cộng đồng, sinh viên tốt nghiệp, các công ty máy tính và các công ty đa phương tiện. Các vấn đề CNTT-TTD khác nhau có các bên liên quan khác nhau. Các bên liên quan tới CNTT-TT trong giáo dục là khác với các bên liên quan trong CNTT-TT trong y tế. Các bên liên quan đại diện cho các lợi ích khác nhau và có các công tác khác nhau. Tuy nhiên, như các nhà lãnh đạo thế giới đã ghi chú tại WSIS: Các chính phủ, cũng như khu vực tư nhân, xã hội dân sự và Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong phát triển xã hội thông tin cũng như trong các quá trình ra quyết định. Xây dựng một xã hội thông tin lấy con người làm trung tâm là một nỗ lực chung đòi hỏi sự hợp tác của tất cả các bên liên quan.29 Việc tin tưởng vào sự hoạch định chính sách của các bên liên quan xuất phát từ sự tin tưởng rằng các nhóm khác nhau có thể tập hợp lại với nhau vì một mục đích chung, chẳng hạn như sử dụng CNTT-TT để phát triển. Sự hợp tác đa bên: 28 Jacques Chevalier, Stakeholder Analysis and Natural Resource Management (June 2001), server.carleton.ca/~jchevali/STAKEH2.html. 29 WSIS, “Declaration of Principles – Building the Information Society: A global challenge in the new Millennium,” 36 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- 1. Thúc đẩy sự bình đẳng trong chính sách CNTT&TT và thực hiện chính sách này; 2. Mở rộng khả năng phân tích để giải quyết các vấn đề chính sách CNTT&TT; 3. Đẩy mạnh vận động và tham gia; 4. Đẩy mạnh phát triển các chương trình hành động tập trung và toàn diện; 5. Khuyến khích chia sẻ kỹ năng và đổi mới; 6. Cung cấp một nền tảng quan trọng để đào tạo lớp chuyên gia mới; 7. Tạo sự cân bằng giữa định hướng thị trường và định hướng phát triển; 8. Thúc đẩy sự quản trị tốt vì quan hệ đối tác tạo cơ hội cho các nhóm khác nhau xác định các mâu thuẫn, chỗ trống hoặc trùng lặp giữa các chính sách và chương trình tương ứng, và phối hợp công việc tốt hơn trong tương lai; 9. Tạo đòn bẩy cho nguồn tài chính của các bên tham gia; 10. Thúc đẩy cả những người lãnh đạo và nhân viên- đó là, quan hệ đối tác tạo ra nền tảng để khuyến khích những người còn hạn chế và cùng tạo ra các nhân tố tiến bộ; 11. Thúc đẩy quyền sở hữu và cam kết hành động; và 12. Giúp nâng cao sự tin tưởng giữa các nhóm thường nghi ngờ và thù địch nhau.30 Một nhân tố quan trọng của hoạch định chính sách đa bên là phân tích đa bên, theo đó "đề cập một loạt các công cụ để xác định và mô tả của các bên liên quan trên cơ sở các thuộc tính, các mối quan hệ và lợi ích liên quan đến vấn đề hoặc nguồn lực đã nêu".31 Trong tiến hành phân tích đa bên, bên cân nhắc các bước sau đây: 30 Lishan Adam, Tina James and Alice Munyua Wanjirar, Frequently Asked Questions about Multi- Stakeholder Partnerships in ICTs for Development: A guide for national ICT policy animators (Melville: Association for Progressive Communications, 2007), 8-9, 31 Lishan Adam, Tina James and Alice Munyua Wanjirar, Frequently Asked Questions about Multi- Stakeholder Partnerships in ICTs for Development: A guide for national ICT policy animators (Melville: Association for Progressive Communications, 2007), 8-9, Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 37
- 1. Xác định mục đích phân tích chính. 2. Nâng cao sự hiểu biết của hệ thống và các nhà ra quyết định trong hệ thống. 3. Xác định các bên liên quan chính. 4. Điều tra lợi ích, đặc điểm và hoàn cảnh của bên liên quan. 5. Xác định mô hình và bối cảnh của tương tác giữa các bên liên quan. 6. Xác định lựa chọn cho quản lý.32 Một cách tiếp cận chi tiết hơn về phân tích đa bên được cung cấp bởi Đánh giá Nhanh của Hệ thống kiến thức nông nghiệp (RAAKS), phương pháp định hướng các bên đã được phát triển để đánh giá các bên liên quan và mạng lưới của họ theo cách có hệ thống và sự tham gia. Nó bao gồm ba giai đoạn và 16 bước. Giai đoạn A: Xác định vấn đề 1. Xác định mục tiêu 2. Xác định các bên liên quan 3. Vạch ra danh sách nhiệm vụ 4. Xác định môi trường 5. Làm rõ-xác định lại vấn đề Giai đoạn B: Phân tích các khó khăn và thuận lợi 1. Tác động 2. Các bên 3. Kiến thức mạng 4. Hội nhập 5. Nhiệm vụ 6. Phối hợp 7. Truyền thông 8. Nắm bắt được tổ chức xã hội cho sự đổi mới Giai đoạn C: Chiến lược - kế hoạch hành động 1. Kiến thức quản lý 2. Bên tiềm năng – Ai có thể làm gì? 3. Cam kết chiến lược cho kế hoạch hành động33 Để thành công trong quan hệ đối tác đa bên liên quan trong CNTT-TT, các nhà hoạch định chính sách nên ghi nhớ Các nguyên tắc của đối tác đa bên do Global Knowledge Partnership soạn thảo (xem Hộp 4). 32 Ibid. 33 For more details see “Introduction: problem, purpose and design,” 38 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Hộp 4. Các nguyên tắc của đối tác đa bên NGUYÊN TẮC 1 Biết thời điểm áp dụng cách tiếp cận đối tác đa ngành trong CNTT-TT là việc công nhận sự kết hợp của ba tính năng sau đây: những khía cạnh của chương trình phát triển bền vững mà CNTT có thể làm nhiệm vụ như một người kích hoạt (enabler); các thách thức liên tục đối với việc triển khai CNTT-TT như là một người kích hoạt phát triển bền vững, trong một số trường hợp đặc biệt, việc thiết kế các giải pháp do cá nhân hoặc các mối quan hệ hợp đồng thực hiện bị thất bại; và những thách thức CNTT-TTD liên tục, do tính phức tạp của chúng, đòi hỏi phải điều chỉnh chiến lược các nguồn lực từ doanh nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự. NGUYÊN TẮC 2 Trước khi đồng ý tham gia quan hệ đối tác, giá trị dự án đáp ứng các yêu cầu chính để tham gia cần được cân nhắc một cách khách quan về khả năng thay thế và rủi ro. NGUYÊN TẮC 3 Quan hệ đối tác CNTT-TT đa bên sẽ hoạt động hiệu quả nhất khi lợi ích của mỗi bên nằm ở chỗ tích cực tìm kiếm giải pháp đáp ứng được lợi ích của cả các bên khác, tức là khi quan hệ đối tác này được tăng cường chung. NGUYÊN TẮC 4 Quan hệ đối tác thành công là được xây dựng trên năng lực và nguồn lực bổ sung, đồng thời đáp ứng các thông số của thiết kế chiến lược nào đó. NGUYÊN TẮC 5 Các nguồn lực và năng lực đóng góp cho quan hệ đối tác cần phải được lấy từ các tổ chức đối tác càng gần với nòng cốt của tổ chức càng tốt để giữ được sự liên quan của quan hệ đối tác tới mục tiêu và các hoạt động hàng ngày của tổ chức, và để khai thác tính hiệu quả trong đóng góp hiện tại của các đối tác, có nghĩa là chi phí có thể thay đổi làm cơ sở, thay vì đưa ra chi phí mới, cố định. (tiếp ) Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 39
- Hộp 4. Các nguyên tắc của đối tác đa bên (tiếp) NGUYÊN TẮC 6 Bất kể loại đối tác CNTT-TT đa bên nào, sự đồng thuận trước đó nên được tìm kiếm cho hình thức văn bản viết nào đó xác định, ở mức tối thiểu: tầm nhìn được chia sẻ của quan hệ đối tác; các mục tiêu của từng đối tác cho quan hệ đối tác và sự phân chia vai trò và trách nhiệm. Tình trạng đạo đức và pháp lý của tài liệu sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh. NGUYÊN TẮC 7 Khi đánh giá kết quả của quan hệ đối tác CNTT-TT đa bên, cần quan tâm xác định sự đóng góp gia tăng của các hoạt động đối tác trên các yếu tố bên ngoài và phương án thay thế khả thi nhất, nghĩa là Giá trị gia tăng của hợp tác = Giá trị của kết quả hợp tác - (nhân tố bên ngoài + các thay thế khả thi nhất). Nguồn: Abridged from Global Knowledge Partnership, Multi-stakeholder Partnerships: Issue Paper (Kuala Lumpur: Global Knowledge Partnership Secretariat), Câu hỏi suy nghĩ Theo kinh nghiệm của bạn, nguyên tắc của quan hệ đối tác đa bên thường bị bỏ qua hoặc không thấy được? Tại sao bạn nghĩ là trường hợp đó? Một vài điều cần làm Bên liên quan CNTT của bạn là ai? Xác định các bên liên quan, lợi ích chính của họ, và điểm mạnh và điểm yếu tương ứng của họ đối với các dự án CNTT-TTD sau đây: • CNTT-TT trong Y tế • CNTT-TT trong Giáo dục • CNTT-TT trong Nông nghiệp • CNTT-TT trong Quản lý thiên tai Lập những thành viên đến từ một quốc gia thành một nhóm để làm bài tập này. 40 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Tự kiểm tra 1. Vai trò của chính phủ trong CNTT-TT cho phát triển là gì? 2. Chiến lược CNTT-TT theo hướng thị trường nghĩa là gì? Làm thế nào để thể hiện điều này trong phát hạ tầng thông tin? 3. Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong phát triển là gì? 4. Cuộc cách mạng số tác động đến luật, đặc biệt là luật bản quyền như thế nào? 5. Các bên liên quan CNTT-TT là ai? Tại sao việc thu hút họ lại quan trọng? Đọc thêm Considine, Mark. 2005. Making Public Policy: Institutions, Actors, Strategies. Cambridge, UK: Polity. Hanna, Nagy K. 2003. Why National Strategies are needed for CNTT-TT enabled Development. ISG Staff Working Papers. Labelle, Richard. 2005. CNTT-TT Policy Formulation and e-Strategy Development: A Comprehensive Guidebook. Bangkok: UNDP-APDIP. Lallana, Emmanuel C. 2004. An Overview of CNTT-TT Policies and e-Strategies of Select Asian Economies. Bangkok: UNDP-APDIP. Missika-Wierzba, Bathylle and Mark Nelson. 2006. A Revolution in Capacity Development? Africans Ask Tough Questions. Washington, D.C.: World Bank Institute. Stiglitz, Joseph. 2007. Making Globalization Work. London: Penguin Books. Tipson, Frederick S. and Claudia Frittelli. 2003. Global Digital Opportunities National Strategies of “CNTT-TT for Development.” Markle Foundation. UNDP Evaluation Office. 2001. Information Communications Technology for Development. UNDP Essentials: Synthesis of Lessons Learned. New York: UNDP. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 41
- 42 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- 2. CÁC YẾU TỐ CỦA CHÍNH SÁCH CNTT&TT CHO PHÁT TRIỂN QUỐC GIA Phần này nêu bật và thảo luận các vấn đề liên quan đến ba nhân tố trong chính sách CNTT&TT quốc gia toàn diện, cụ thể là xây dựng năng lực, xây dựng lĩnh vực CNTT&TT của nền kinh tế và quản trị điện tử. Theo đánh giá của các nhà bình luận khác, "mục tiêu chính của chính sách CNTT-TT quốc gia là cân bằng lợi ích và rủi ro của việc sử dụng CNTT-TT rộng rãi phù hợp với mục tiêu phát triển quốc gia".34 Do đó, chính sách CNTT-TT quốc gia cần có một vài nhân tố quan trọng. Phần này thảo luận về ba yếu tố gồm phát triển nguồn nhân lực, xây dựng ngành công nghiệp CNTT-TT và quản trị điện tử. Hai nhắc nhở quan trọng trước khi chúng ta bước vào thảo luận: Trước tiên, xây dựng một chính sách CNTT-TT quốc gia không phải là hoạt động trong một lúc. Không nên đặt kế hoạch đạt được tất cả các mục đích CNTT-TT quốc gia trong một tài liệu. Những nước thành công hơn đã làm một loạt chính sách CNTT-TT quốc gia với các kế hoạch mới xây dựng trên nền tảng của các kế hoạch trước đó. Ví dụ, Hàn Quốc đã bắt đầu Kế hoạch thúc đẩy tin học hóa (1996-2000) với mục tiêu đạt mức thông tin hoá cấp thế giới vào năm 2010. Sau đó là Cyber Korea 21 (1999-2002) với mục tiêu xây dựng xã hội tri thức hàng đầu. Kế hoạch thứ ba là Tầm nhìn Hàn Quốc điện tử 2007 (2002- 2007) với mục tiêu “Xây dựng Hàn Quốc điện tử nước đứng đầu toàn cầu". Kế hoạch quốc gia gần đây nhất là Tầm nhìn Hàn Quốc CNTT băng thông rộng 2007, trong đó đặt ra kế hoạch Hàn Quốc tương lai với các mục tiêu sau đây: • Chính phủ điện tử để nâng cao tính hiệu quả và minh bạch của các dịch vụ công; • Chuyển đổi điện tử để tăng tính cạnh tranh toàn cầu; • Xây dựng mạng truyền thông băng rộng và tìm kiếm động cơ mới cho tăng trưởng; • Nhận thức rõ nhà nước phúc lợi số; • Tăng hợp tác CNTT toàn cầu.35 34 Association for Progressive Communications, “Part 3: Policy and regulation,” ICT Policy Handbook, 35 Dong-pyo Hong, presentation for Workshop on Technology Innovation and Economic Growth, Hangzhou, China, 25-26 May 2005, Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 43
- Hai là, phần này không thảo luận về sự phát triển của cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia (NII) - đó là, mạng băng thông rộng có khả năng mang thoại, dữ liệu, văn bản, hình ảnh và video (đa phương tiện) trong một chế độ tương tác phục vụ cho các nhu cầu thông tin của một quốc gia. Sự cần thiết phải phát triển NII đã được công nhận. Rất nhiều quốc gia ưu tiên phát triển NII trong chính sách CNTT-TT của mình. Thật không may, mối quan tâm về NII đã làm lu mờ các yếu tố khác của chính sách CNTT-TT quốc gia. Một phần là cố gắng điều chỉnh lại sự quan trọng quá mức đã được dành cho phát triển cơ sở hạ tầng, một phần bởi các giới hạn về không gian và thời gian, và một phần vì sự phát triển truyền thông đã được thảo luận trong phần trước, nên trọng tâm của thảo luận tiếp theo sẽ tập trung vào các nhân tố quan trọng không kém khác của chính sách CNTT-TT quốc gia, cụ thể là: xây dựng năng lực, phát triển lĩnh vực CNTT-TT của nền kinh tế và quản trị điện tử. 2.1 Phát triển năng lực CNTT&TT Nhiều chính phủ ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng thông tin đã nhanh chóng nhận ra rằng truy cập không chỉ có nghĩa là cung cấp kết nối internet. Thậm chí nếu kết nối internet là miễn phí đối với một cộng đồng, nếu không ai trong cộng đồng đó biết cách sử dụng internet, thì việc truy cập internet của cộng đồng đó là vô nghĩa. Như Bridges.org đã ghi nhận: Công nghệ vẫn sẽ là không đủ nếu mọi người không hiểu làm thế nào để sử dụng nó hiệu quả như một phần cuộc sống công việc của họ, hoặc nếu họ không được đào tạo để sử dụng nó, hoặc nếu họ không thể hình dung được việc làm thế nào để có thể sử dụng nó. Mọi người sẽ chỉ được khuyến khích sử dụng CNTT-TT khi họ hiểu rõ nó sẽ tác động tích cực đến cuộc sống hàng ngày của họ. Hơn thế, điều quan trọng là mọi người hiểu được tiềm năng rộng lớn hơn của công nghệ, để sử dụng được quyền làm những điều mới cho bản thân và sử dụng công nghệ một cách sáng tạo mà không dự án hay chính sách nào có thể hình dung được.36 Vì vậy, phát triển năng lực CNTT-TT là một mục tiêu chính sách quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào đang tìm cách khai thác sức mạnh của CNTT-TT cho phát triển. 36 See “Real Access/Real Impact criteria,” bridges.org, 44 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- OECD định nghĩa 'năng lực' là “khả năng của con người, tổ chức, xã hội tạo thành một tổng thể quản lý công việc của họ một cách thành công”37 và “phát triển năng lực” là “quá trình con người, tổ chức, xã hội tạo thành một tổng thể tháo gỡ, tăng cường, sáng tạo, thích ứng và duy trì năng lực theo thời gian”38. Trọng tâm của cuộc thảo luận tiếp theo là phát triển năng lực CNTT-TT cho công dân. Các nhà hoạch định chính sách đang đối mặt với hai vấn đề chung liên quan đến phát triển năng lực CNTT-TT. Vấn đề thứ nhất là bảo đảm mọi công dân có khả năng cơ bản để thành công trong Kỷ nguyên Thông tin. Vấn đề thứ hai là phát triển kỹ năng CNTT-TT chuyên nghiệp để mở rộng ngành CNTT-TT và nền kinh tế nói chung của đất nước một cách bền vững. Chúng ta sẽ đề cập đến CNTT-TT trong giáo dục trước, sau đó sẽ thảo luận về phát triển các kỹ năng CNTT-TT. CNTT-TT trong giáo dục Thành công trong một xã hội thông tin đòi hỏi các kỹ năng khác với những kỹ năng hữu dụng của xã hội công nghiệp. Khi công nhận điều này, một số quốc gia đã chuyển hướng sang định rõ các kỹ năng CNTT-TT cơ bản cho công dân của họ. Ví dụ, vào tháng 2/2008, Hội đồng Chính sách phổ cập CNTT-TT quốc gia Hoa Kỳ đã đề xuất một tập hợp các tiêu chuẩn CNTT-TT quốc gia để xác định các kỹ năng CNTT-TT cơ bản cho mọi sinh viên.39 Tiêu chuẩn này được xem là bước đi đầu tiên hướng tới tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập CNTT-TT. Vương quốc Anh cũng đã xác định “Kỹ năng về các tiêu chuẩn CNTT-TT” có vai trò quan trọng như các tiêu chuẩn hiện hành về khả năng đọc, viết và tính toán đối với người lớn.40 37 OECD, The Challenge of Capacity Development: Working Towards Good Practice (Paris: OECD, 2006), 12. 38 Ibid. 39 Reuters, “National ICT Literacy Standards Set” (21 February 2008), 40 Department for Education and Skills, National Standard for Adult Literacy, Numeracy and ICT (London: Qualifications and Curriculum Authority, 2005), Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 45
- Nhưng các kỹ năng CNTT-TT cơ bản không phải là kỹ năng duy nhất mà xã hội thông tin yêu cầu. Các chuyên gia còn nêu cái gọi là “các kỹ năng thế kỷ 21” đối với việc phát triển như sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng đọc hiểu thông tin, các kỹ năng giao tiếp và các kỹ năng tư duy bậc cao khác.41 Trong khi hệ thống giáo dục của một quốc gia mặc nhiên được coi là có một vai trò quan trọng trong phát triển cả các kỹ năng CNTT-TT và kỹ năng thế kỷ 21, một cuộc khảo sát toàn cầu của Ngân hàng Thế giới về CNTT-TT trong các sáng kiến giáo dục cho thấy những điều sau: • Người sử dụng cho rằng CNTT-TT tạo được sự khác biệt tích cực. • CNTT-TT được sử dụng khác nhau trong các môn học khác nhau ở trường. • Tác động tích cực của việc sử dụng CNTT-TT trong giáo dục chưa được chứng minh. • Các tác động tích cực của CNTT-TT trong giáo dục sẽ hiệu quả hơn khi được liên kết với sư phạm. • ‘Hướng dẫn với sự trợ giúp của máy tính’ được xem như là nâng cao rất nhanh hiệu quả của sinh viên trong các kỳ thi được tiêu chuẩn hóa, nhiều lựa chọn trong một số lĩnh vực. • CNTT-TT là ít hiệu quả hơn (hoặc thậm chí là vô hiệu) khi các mục tiêu sử dụng của nó không rõ ràng. • Có một sự mâu thuẫn quan trọng giữa phương pháp sư phạm truyền thống và sư phạm “mới”, và giữa kiểu sát hạch trước đây và kiểu sát hạch theo tiêu chuẩn.42 Từ các phát hiện của Ngân hàng Thế giới, rõ ràng là CNTT-TT trong các chương trình giáo dục mà chỉ tập trung vào công nghệ và không dựa trên một phương pháp sư phạm thích hợp phần lớn là thất bại. CNTT-TT trong giáo dục không đơn giản đặt các máy tính có truy cập Internet vào trường học. Phương pháp đơn giản thái quá khác mà cần phải tránh là hạn chế việc sử dụng máy tính trong trường học để dạy phổ cập CNTT-TT. Sau đây là một số câu hỏi nên xem xét trong chính sách sử dụng CNTT-TT trong giáo dục: 41 For further discussion of 21st century skills, see “Framework for 21st Century Learning,” Partnership for 21st Century Skills, 42 Michael Trucano, Knowledge Map: CNTT-TT in Education (Washington, D.C.: infoDev / World Bank, 2005), 5-6, 46 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- • Tuổi thích hợp để bắt đầu CNTT-TT trong giáo dục là gì? • Chúng ta có thể thay đổi cách dạy như thế nào để tận dụng lợi thế của công nghệ số và nội dung đa phương tiện? • CNTT-TT có thể được sử dụng như thế nào để giảng dạy toán học hay khoa học? Một việc quan trọng không kém là phải nhớ rằng chiến lược CNTT-TT trong giáo dục cần có tầm hơn CNTT-TT trong trường học. CNTT-TT trong giáo dục không chính quy và người lớn cần phải là một phần của chiến lược CNTT-TT quốc gia trong giáo dục. Vương quốc Anh đã đưa ra một cách tiếp cận thú vị về CNTT-TT trong giáo dục (xem hình 1). Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 47
- Hình 1. Chiến lược điện tử - Khai thác Công nghệ của Anh: Chuyển sang giáo dục và các dịch vụ trẻ em (Nguồn: Department for Education and Skills, Harnessing Technology: Transforming Learning and Children’s Services (Crown Copyright, 2005), 15, Các kỹ năng CNTT cho phát triển Chính phủ các nước cũng cần phải thiết kế các chương trình giúp tạo ra một lực lượng lao động với các kỹ năng CNTT-TT chuyên nghiệp. Điều này không chỉ đảm bảo nền kinh tế sẽ có một ngành CNTT-TT sôi động mà còn có khả năng giành được một số dự án CNTT-TT đang được nơi khác thực hiện. Mục tiêu dài hạn hơn là thu được lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua áp dụng nhanh chóng công nghệ mới. 48 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Nhu cầu về kỹ năng CNTT-TT tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng tăng.43 Tổng nhu cầu đối với các chuyên gia trong ngành công nghiệp cung ứng CNTT-TT dự kiến sẽ tăng mạnh và đạt khoảng 17 triệu trong năm 2010. Nhu cầu về chuyên gia trong các ngành sử dụng CNTT-TT sẽ tăng nhanh hơn và đạt mức 73 triệu người trong năm 2010. Về các kỹ năng CNTT-TT cụ thể, tạp chí Computer World đã xác nhận các kỹ năng sau được gọi là “kỹ năng đang nóng” của năm 2010: kiến trúc tổng thể, lãnh đạo dự án, vạch ra quy trình kinh doanh, lập kế hoạch dự án, dự thảo ngân sách và lập kế hoạch, quản lý nhà cung cấp bên thứ ba, phân tích hệ thống, thiết kế hệ thống, thiết kế mạng, kiểm tra hệ thống, lập kế hoạch và quản lý an ninh CNTT và quản trị lưu trữ.44 Tạp chí này cũng xác định những kỹ năng sau là “kỹ năng nguội”: lập trình, viết mã, thử nghiệm hệ thống, hỗ trợ và giúp đỡ và các kỹ năng về pháp lý. Không may là các viện quốc gia về đào tạo CNTT-TT hiện nay vẫn được coi là chưa đáp ứng được nhu cầu về chuyên gia công nghệ thông tin cả về số lượng (số lượng cần thiết) và chất lượng về các kỹ năng CNTT-TT mà các sinh viên tốt nghiệp có. Trong số các hành động được đề xuất để lấp chỗ trống về nhu cầu và cung ứng kỹ năng có: • Kiểm soát CNTT-TT về chất lượng giáo dục thông qua giám sát liên tục chương trình giảng dạy và sư phạm CNTT-TT bởi một cơ quan có thẩm quyền quốc gia; • Thành lập các trung tâm chứng nhận kỹ năng quốc gia và khu vực với các kỳ kiểm tra nhân viên kế toán được đào tạo toàn diện (mà phải đỗ để nhận được chứng nhận để thực hành); • Sự tương tác không ngừng giữa ngành công nghiệp CNTT-TT, chính phủ và các trường để phát triển và thiết kế các khóa học truyền đạt những kiến thức và kỹ năng CNTT-TT phù hợp, bao gồm cả các kỹ năng nhận thức.45 43 Ravi Raina, APDIP e-Note 13 - CNTT-TT Skill Development in the Asia-Pacific Region - Part one: the gap between demand and supply (Bangkok: UNDP-APDIP, 2007), 2, The data cited in subsequent paragraphs, unless indicated otherwise, is from this publication. 44 Stacy Collett, “Hot Skills, Cold Skills: The IT worker of 2010 won’t be a technology guru but rather a ‘versatilist’,” Computerworld, 17 July 2006, Number=3. 45 Ravi Raina, APDIP e-Note 17 - CNTT-TT Skill Development in the Asia-Pacific Region - Part two: Bridging the gap between demand and supply (Bangkok: UNDP-APDIP, 2007), 2, Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 49
- Cũng phải thừa nhận rằng để đáp ứng nhu cầu, rất cần các phương pháp đào tạo đổi mới. Các chương trình phát triển kỹ năng CNTT-TT thông qua giáo dục từ xa / đào tạo từ xa, tự học theo các tài liệu trên Web, Hệ thống quản lý học tập điện tử (LMS), và các cộng đồng học tập, chia sẻ kiến thức là những lựa chọn chiến lược để tìm hiểu.46 Một điều quan trọng nữa là mở rộng nguồn lao động có kỹ năng triển vọng về CNTT-TT bằng cách phát triển một chương trình đào tạo CNTT-TT cho những người hiện đang làm việc trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế nhưng muốn chuyển sang lĩnh vực CNTT-TT. Kế hoạch phát triển các kỹ năng chuyên về CNTT-TT của Singapore cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách một mô hình mà họ có thể cân nhắc khi thực hiện kế hoạch của mình. Chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT của Singapore Trong vài thập niên gần đây, công nghệ thông tin truyền thông đã thay đổi đáng kể bức tranh toàn cầu, phá vỡ các rào cản về địa lý và văn hóa đối với thông tin và các thị trường, và buộc mọi người thay đổi cách nghĩ và cách làm. Cuộc cách mạng số này đã thấy được sự bùng nổ của mô hình doanh nghiệp đổi mới có thể được thực hiện bởi thông tin truyền thông, tạo ra một thế hệ tiên phong về kinh tế như Google, eBay and Skype. Nhìn về phía trước, sự tăng tốc của tiến bộ công nghệ thông tin truyền thông thậm chí sẽ tạo áp lực cạnh tranh lớn hơn cho các nền kinh tế và các công ty, đồng thời cũng tạo ra các cơ hội phát triển to lớn cho những người có khả năng nổi trội trong cuộc đua. Phải chăng một đất nước hoặc công ty thành công trong việc này là do khả năng của họ trong phát triển, thu hút và duy trì nhân lực tài năng có khả năng khai thác công nghệ thông tin truyền thông một cách sáng tạo. (tiếp theo ) 46 Ibid. 50 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT của Singapore (tiếp) Trái với bức tranh toàn cầu này, tầm nhìn đối với Singapore là phải có một lực lượng lao động “hiểu biết” và nhân lực có khả năng cạnh tranh toàn cầu trong lĩnh vực thông tin truyền thông để mang lại khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế quốc gia. Các mục tiêu: Để đạt được tầm nhìn này, IDA phải đặt mục tiêu: • Tăng số lượng việc làm trong lĩnh vực thông tin truyền thông từ 55,000 lên khoảng 170,000 vào năm 2015. Dự kiến tạo ra 25,000 việc làm khác không thuộc lĩnh vực thông tin truyền thông, để tăng số lượng việc làm này lên khoảng 70,000. Tổng cộng, số việc làm mới được tạo ra sẽ khoảng 80,000. Các đột phá chiến lược Để thực hiện tầm nhìn và mục tiêu, cần có các đột phá chiến lược: • Phát triển năng lực công nghệ thông tin truyền thông trong các ngành kinh tế then chốt Việc làm cho lãnh đạo các doanh nghiệp tin tưởng hơn vào giá trị chiến lược của thông tin truyền thông đối với tổ chức của họ và nâng cao trình độ về kỹ năng thông tin truyền thông trong lực lượng lao động là rất cần thiết, giúp họ khai thác thông tin truyền thông để nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Các chương trình của đột phá chiến lược này là nhằm vào lãnh đạo các doanh nghiệp và lực lượng lao động chung để: a. Phát triển quan điểm tiếp thu công nghệ của những nhà ra quyết định; b. Trang bị cho lực lượng lao động bằng những kỹ năng thông tin truyền thông tinh vi hơn. (tiếp theo ) Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 51
- Chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT của Singapore (tiếp) • Phát triển đội ngũ chuyên gia về công nghệ thông tin truyền thông có khả năng cạnh tranh toàn cầu Cần xây dựng lực lượng các chuyên gia công nghệ thông tin truyền thông hiểu biết sâu về công nghệ, về doanh nghiệp và có khả năng tạo ra các tài sản trí tuệ. Các chương trình của đột phá chiến lược này là nhằm vào đội ngũ chuyên gia về công nghệ thông tin truyền thông để: a. Phát triển các chiến lược gia về công nghệ b. Phát triển các nhà công nghệ • Phát triển, thu hút và giữ được các tài năng CNTT-TT Cần đảm bảo rằng việc thu hút các tài năng CNTT-TT cho phát triển công nghiệp và thu hút những người trẻ tuổi sẽ trở thành những nhà lãnh đạo và lực lượng lao động trong tương lai là nhằm tiến hành đổi mới công nghệ một phần cuộc sống hàng ngày của họ. Các chương trình của đột phá chiến lược này nhằm vào sinh viên và nhằm: a. Thu hút những sinh viên bản địa và nước ngoài sáng giá vào ngành nghề CNTT-TT; b. Giúp người trẻ chủ động trong sử dụng các đổi mới CNTT-TT bất kỳ khi nào họ có thể. Ngoài ba đột phá chiến lược trên, chúng tôi tìm cách lấp khoảng cách số và xây dựng một xã hội toàn diện nơi CNTT-TT được sử dụng như một người chủ trương bình đẳng để trao quyền và giúp ích người cao tuổi, người nghèo và người khuyết tật. Điều này được thực hiện thông qua một loạt các chương trình nâng cao nhận thức CNTT-TT để giúp những người ít hiểu công nghệ hơn cảm thấy thoải mái với công nghệ, cung cấp truy cập CNTT-TT và các công cụ để giúp những người bị thiệt thời tăng cường khà năng lao động, hòa nhập vào môi trường này và mang lại một cuộc sống đầy đủ, tự chủ hơn. Nguồn: Abridged from IDA Singapore, “Manpower,” 52 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Câu hỏi suy nghĩ 1. Tại sao việc có chính sách về phát triển nguồn nhân lược CNTT-TT lại quan trọng? 2. Bạn nghĩ các mục tiêu để phát triển lực lượng lao động am hiểu CNTT-TT của nước bạn là gì? Một vài điều cần làm Ưu tiên xây dựng năng lực – tranh luận Theo bạn ưu tiên của chính phủ nước bạn nên là gì, tích hợp CNTT-TT trong giáo dục hay các kỹ năng CNTT-TT chuyên nghiệp? Đưa ra các luận điểm cho cả hai vấn đề trên trước khi quyết định. Có thể chia học viên thành hai nhóm: một nhóm sẽ tranh luận về việc CNTT-TT trong giáo dục nên là ưu tiên của chính phủ và nhóm kia sẽ bảo vệ quan điểm về phát triển các kỹ năng CNTT-TT chuyên nghiệp. 2.2 Xây dựng nền công nghiệp thông tin truyền thông Ngành công nghiệp CNTT-TT của một quốc gia rất quan trọng, vừa đóng vai trò như một ngành kinh tế quan trọng vừa là động lực thúc đẩy tăng năng suất và cải tiến chất lượng dịch vụ cho toàn bộ nền kinh tế. Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, các chính phủ cần hành động nhanh chóng và dứt khoát để đảm bảo tạo môi trường thích hợp cho ngành này phát triển và có vai trò đầy đủ trong thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc gia và xã hội. Cuộc thảo luận này về phát triển nền CNTT-TT được chia làm 3 phần: 1) Sản xuất CNTT-TT; 2) Gia công và phát triển phần mềm toàn cầu; 3) Công nghiệp nội dung. Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 53
- Sản xuất CNTT-TT Ngành sản xuất phần cứng CNTT-TT là ngành công nghiệp sản xuất lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới.47 Thậm chí, quan trọng hơn là nhiều sự tăng trưởng đã diễn ra tại các quốc gia công nghiệp kiểu mới ở châu Á. Các nước đầu tiên trở thành nước quan trọng trong sản xuất CNTT-TT là Singapore, Đài Loan, Malaysia và Thailand, sau đó là Trung Quốc (ồ ạt), Philippines, Indonesia và gần đây là Ấn Độ. Châu Á rõ ràng đã nổi lên như một khu vực trung tâm của sản xuất CNTT-TT. Sự nổi lên của Trung Quốc với vai trò là người lãnh đạo toàn cầu về sản xuất CNTT-TT rất đáng để chúng ta nhìn vào. Chính sách “Hỗ trợ Chính sách Chính phủ Mạnh” rất quan trọng trong thành công của Trung Quốc. Bài học kinh nghiệm 1: Chiến lược công nghiệp CNTT&TT Quốc gia Trung Quốc — Trung tâm sản xuất CNTT&TT của thế giới Trung Quốc đã nổi lên như một trung tâm sản xuất CNTT-TT của thế giới. Mảng thiết bị di động chiếm hơn một nửa của ngành công nghiệp viễn thông và mảng phần cứng chiếm đến hơn 70% của ngành công nghiệp CNTT của Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc đang trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với các công ty sản xuất CNTT hàng đầu của Mỹ. Đặc biệt là sau khi Tập đoàn Lenovo của Trung Quốc đã mua hãng máy tính cá nhân IBM. Lenovo hiện đang là người chơi lớn thứ ba sau Dell và Hewlett Packard trên thị trường máy tính cá nhân toàn cầu. Hoạt động sản xuất sôi động tại Trung Quốc chủ yếu hướng tới xuất khẩu; thị trường nội địa cho ngành công nghiệp viễn thông Trung Quốc thực đang suy yếu so với xuất khẩu mạnh mẽ. Xuất khẩu CNTT-TT rất quan trọng đối với thương mại quốc tế của Trung Quốc, chiếm hơn 28,5% tổng xuất khẩu. Phần cứng máy tính và viễn thông chiếm khoảng 79% xuất khẩu CNTT-TT. Điện thoại di động chiếm phần lớn nhất trong xuất khẩu viễn thông của Trung Quốc. (tiếp ) 47 Irene Schipper and Esther de Haan, CSR issues in CNTT-TT Hardware Manufacturing Sector: SOMO CNTT-TT Sector Report (Amsterdam: SOMO, 2005), 11, TT_Sector_Report_2005_NL.pdf. 54 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
- Trung Quốc — Trung tâm sản xuất CNTT&TT của thế giới (tiếp) Thị trường phần mềm CNTT của Trung Quốc vẫn đang trong giai đoạn phát triển, mặc dù thị trường đang bị ảnh hưởng bởi hiện 90% sản phẩm trên thị trường là vi phạm. Tổng đầu tư nội địa của ngành công nghiệp CNTT-TT Trung Quốc rất đáng kể. Chính phủ Trung Quốc chiếm hơn 30% đầu tư nội địa. Ngành công nghiệp sản xuất chiếm trên 21% của tổng đầu tư nội địa. Gần đến 60% đầu tư CNTT-TT là dành cho công nghiệp CNTT: khoảng 30% khoản đầu tư này là cho nâng cấp phần mềm. Ngành công nghiệp viễn thông là nhà đầu tư lớn về thiết bị và hệ thống CNTT. Mảng điện thoại di động nhận lượng đầu tư lớn nhất năm 2005. Hỗ trợ Chính sách Chính phủ Mạnh Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện một số chính sách để biến nước này thành nhà sản xuất các sản phẩm và dịch vụ CNTT-TT lớn nhất thế giới. Việc giảm thuế và cho phép nước ngoài tham gia các hoạt động nghiên cứu và phát triển đã thu hút được lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài đáng kể cho ngành công nghiệp CNTT-TT của Trung Quốc. Kế hoạch năm năm lần thứ 10 (2001-2005) đã nhấn mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới trong ngành công nghiệp CNTT, với việc tập trung phát triển các giải pháp thương mại điện tử và gói phần mềm bảo mật dựa trên Linux. Kế hoạch năm năm lần thứ 11 tập trung phát triển phần mềm cơ bản, hệ thống tích hợp, phần mềm được triển khai trên quy mô lớn, xây dựng các dự án Internet thế hệ tiếp theo, cũng tạo đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như máy tính hiện đại với hệ thống máy tính petaflop, nền tảng máy tính lưới và các máy tính teraflop được sản xuất theo phương diện thương mại. (tiếp ) Học phần 2 Công nghệ thông tin và Truyền thông cho phát triển Chính sách, Quy trình và Quản trị 55
- Trung Quốc — Trung tâm sản xuất CNTT&TT của thế giới (tiếp) Ngành công nghiệp CNTT của Trung Quốc đã được giải phóng đến một mức độ cao và đã trở nên có sức cạnh tranh sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2010. Trung Quốc cũng đã mở cửa ngành công nghiệp viễn thông cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các quy định về viễn thông là nhằm chuẩn hóa thị trường viễn thông, đảm bảo bảo mật cho người sử dụng viễn thông. Chính phủ đã cho phép các công ty nước ngoài liên doanh với các công ty viễn thông của Trung Quốc với cổ phần lên đến 49% trong lĩnh vực điện thoại di động và các dịch vụ cố định; trong các dịch vụ di động giá trị gia tăng, các công ty này có thể chiếm mức 50% cổ phần. Việc bãi bỏ quy định dự kiến sẽ giảm cạnh tranh và các nhà đầu tư nước ngoài sẽ thấy dễ dàng hơn khi tham gia thị trường. Để thúc đẩy thương mại CNTT-TT, Chính phủ Trung Quốc đã miễn tất cả các loại thuế thương mại cho ngành công nghiệp và đã thành lập hơn 50 khu vực thương mại tự do công nghệ cao. Khu vực Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào năm 2010 và sẽ tạo thuận lợi cho lưu thông tự do về thông tin và công nghệ giữa các quốc gia thành viên, nhờ thỏa thuận ASEAN điện tử. Chính phủ Trung Quốc cũng qui định tất cả các tổ chức chính phủ phải mua các sản phẩm CNTT có giá trị thương mại được sản xuất trong nước. Họ đã đặt kế hoạch tiếp tục đầu tư mạnh cho cơ sở hạ tầng CNTT- TT. Chính phủ cũng thực hiện các chính sách về quyền sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt. Họ đã được thúc đẩy quản trị điện tử bằng cách quản lý trực tuyến các ứng dụng cho nhiều tổ chức chính phủ khác nhau. Chính phủ Trung Quốc cũng đang đầu tư vào giáo dục kỹ thuật và thành lập các trung tâm giáo dục cấp cao hơn để phát triển lực lượng lao động có tay nghề cao. Nguồn: Abridged from Frost and Sullivan, “Country Industry Forecast-VI,” Businessworld, 56 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước



