Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 1: Mối liên hệ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa

pdf 109 trang ngocly 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 1: Mối liên hệ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_nhung_kien_thuc_co_ban_ve_cong_nghe_thong_tin_va.pdf

Nội dung text: Giáo trình Những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước - Học phần 1: Mối liên hệ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa

  1. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa Usha Rani Vyasulu Reddi ICS TRUNG TÂM ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CÁN BỘ QUẢN LÝ THÔNG TIN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ TRUYỀN THÔNG
  2. LỜI GIỚI THIỆU Thế kỷ 21 đã đánh dấu sự tác động lẫn nhau của con người trên toàn cầu. Thế giới đang mở ra cơ hội cho hàng triệu người nhờ công nghệ mới, những thông tin và kiến thức thiết yếu được mở rộng đã cải thiện một cách đáng kể cuộc sống của con người và giúp giảm cảnh nghèo nàn. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi có sự liên kết cùng với việc chia sẻ giá trị, cùng cam kết và thống nhất sự phát triển tổng thể và phù hợp. Trong những năm gần đây, Châu Á Thái Bình Dương được biết đến như khu vực năng động nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Thế giới, khu vực này đã có trên 2 tỷ thuê bao điện thoại, trong đó có 1,4 tỷ thuê bao di động. Tinh đến năm 2008, chỉ riêng Ấn Độ và Trung Quốc đã chiếm ¼ số lượng thuê bao di động trên toàn thế giới. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương được cho là chiếm 40% số lượng người sử dụng internet trên thế giới và đồng thời là thị trường băng rộng lớn nhất, chiếm 39% thị trường toàn cầu. Cùng với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ, nhiều vấn đề được nhắc đến khi khoảng cách số biến mất. Nhưng điều đáng tiếc, khoảng cách số vẫn hiện hữu. Thậm chí 5 năm, sau khi Hội nghị Thế giới về Xã hội thông tin (WSIS) diễn ra ở Geneva vào năm 2003, bất chấp sự phát triển ấn tượng của công nghệ và những cam kết của các nước lớn trong khu vực. Kết quả là truy nhập truyền thông cơ bản vẫn còn xa lạ với nhiều người, đặc biệt là những người nghèo. Hơn 25 quốc gia trong khu vực gồm những nước đang phát triển, đã có gần 10 người sử dụng internet trên 100 dân, phần lớn tập trung ở các thành phố lớn. Trong khi đó ở một vài nước đã phát triển trong khu vực thì tỉ lệ rất cao với hơn 80 người sử dụng internet trên 100 dân. Sự chênh lệch về mức độ phổ cập băng rộng giữa các nước phát triển và đang phát triển vẫn còn giữ một khoảng cách lớn. Để giảm dần khoảng cách số và nhận diện đúng tiềm năng của ICT cho phát triển kinh tế xã hội trong khu vực, những nhà lập pháp ở các nước phát triển cần xây dựng các chính sách ưu tiên và khung điều chỉnh, chỉ định nguồn quỹ, và tạo điều kiện cho xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp ICT và nâng cao kỹ năng ICT cho công dân nước họ. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 3
  3. Trong Kế hoạch Hành động của WSIS có chỉ rõ, " mỗi người sẽ có cơ hội tiếp cận những kỹ năng và kiến thức cần thiết để hiểu, thực hành và đạt được những lợi ích từ Xã hội Thông tin và Kinh tế Tri thức". Trong phần cuối của kế hoạch này đã kêu gọi sự hợp tác quốc tế và khu vực trong những lĩnh vực có tiềm năng, đặc biệt nhấn mạnh vào việc tạo tập một số lượng lớn các chuyên gia ICT. Để hỗ trợ tốt cho lời kêu gọi từ Kế hoạch hành động của WSIS, APCICT đã xây dựng chương trình giảng dạy đầy đủ về ICT – Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước. Chương trình này bao gồm 8 phần có liên kết chặt chẽ với nhau, với mục tiêu truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết giúp các nhà lập pháp xây dựng và thi hành sáng kiến ICT hiệu quả hơn. APCICT là một trong 5 học viện của Ủy ban Kinh tế Xã hội Liên hợp quốc Châu Á Thái Bình Dương. APCICT xúc tiến chương trình phát triển kinh tế xã hội phù hợp và toàn diện ở Châu Á Thái Bình Dương thông qua việc phân tích, chuẩn hóa, khai thác tiềm năng, hợp tác khu vực và chia sẻ kiến thức. Trong quá trình hợp tác với các cơ quan Liên hợp quốc khác, các tổ chức quốc tế, các quốc gia và những tổ chức liên quan, ESCAP, đại diện là APCICT, được giao nhiệm vụ hỗ trợ việc sử dụng, cải tiến và dịch thuật các bài giảng cho các quốc gia khác nhau, phù hợp với các trình độ trung và cao cấp của các nhân viên trong cơ quan nhà nước, với mục đích đưa kỹ năng và kiến thức thu thập được làm gia tăng những lợi ích từ ICT và thiết lập những hành động cụ thể để đạt được mục tiêu phát triển. Noeleen Heyzer TL. Tổng Thư ký Liên hợp quốc và Giám đốc điều hành của ESCAP 4 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  4. LỜI TỰA Chặng đường phát triển của Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT&TT) cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước thực sự là một kinh nghiệm mang tính trí tuệ cao. Bộ giáo trình không chỉ phục vụ cho việc xây dựng các kỹ năng CNTT&TT, mà còn mở đường cho một phương thức mới về xây dựng chương trình giảng dạy - thông qua sự hợp tác của các thành viên và tự chủ về quy trình. Bộ giáo trình là một chương trình mang tính chiến lược của APCICT, phát triển trên cơ sở kết quả khảo sát đánh giá nhu cầu một cách toàn diện được tiến hành trên 20 nước trong khu vực và sự tham khảo ý kiến của các nhân viên thuộc cơ quan nhà nước, thành viên các cơ quan phát triển quốc tế, các viện hàn lâm và cơ sở giáo dục; những nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng về điểm mạnh và điểm yếu của giáo trình đào tạo; thông tin phản hồi từ những người tham gia xây dựng chuỗi bài giảng của APCICT – tổ chức các buổi hội thảo khu vực và quốc gia liên quan đến nội dung bài giảng và các phương pháp đào tạo khoa học; và sự trao đổi góp ý thẳng thắn của các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực ICT phục vụ phát triển. Các hội thảo về giáo trình diễn ra ở các khu vực thu được những lợi ích vô giá từ các hoạt động trao đổi kinh nghiệm và kiến thức giữa những người tham dự đến từ các quốc gia khác nhau. Đó là một quy trình để các tác giả xây dựng nội dung. Việc xây dựng 8 học phần trong bộ giáo trình đánh dấu một sự khởi đầu quan trọng trong việc nâng cao sự hợp tác ở hiện tại và xây dựng các mối liên hệ mới nhằm phát triển các kỹ năng thiết lập chính sách phát triển CNTT&TT khắp khu vực. APCICT cam kết cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật trong việc giới thiệu bộ giáo trình quốc gia như một mục tiêu chính hướng tới việc đảm bảo rằng bộ giáo trình sẽ được phổ biến tới tất cả những nhà lập pháp. APCICT cũng đang xúc tiến một cách chặt chẽ với một số viện đào tạo trong khu vực và quốc tế, những tổ chức có mối quan hệ mật thiết với cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương để cải tiến, dịch thuật và truyền đạt các nội dung của Giáo trình tới những quốc gia có nhu cầu. APCICT đang tiếp tục mở rộng hơn nữa về đối tượng tham gia nghiên cứu giáo trình hiện tại và kế hoạch phát triển một giáo trình mới. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 5
  5. Hơn nữa, APCICT đang xúc tiến nhiều kênh để đảm bảo rằng nội dung Bộ giáo trình đến được nhiều người học nhất trong khu vực. Ngoài phương thức học trực tiếp thông qua các tổ chức lớp học ở các khu vực và quốc gia, APCICT cũng tổ chức các lớp học ảo (AVA), phòng học trực tuyến cho phép những học viên tham gia bài giảng ngay tại chỗ làm việc của họ. AVA đảm bảo rằng tất cả các phần bài giảng và tài liệu đi kèm cũng như bản trình chiếu và bài tập tình huống dễ dàng được truy nhập trực tuyến và tải xuống, sử dụng lại, cải tiến và bản địa hóa, và nó bao gồm nhiều tính năng khác nhau như bài giảng ảo, công cụ quản lý học tập, công cụ phát triển nội dung và chứng chỉ. Việc xuất bản và giới thiệu 8 học phần của bộ giáo trình thông qua các buổi hội thảo khu vực, tiểu khu vực, quốc gia có sự tận tâm cống hiến, tham gia tích cực của nhiều cá nhân và tổ chức. Tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ lòng cảm ơn những nỗ lực và kết quả đạt được của nhóm cộng tác và các đối tác từ các Bộ, ngành, học viện, và các tổ chức khu vực và quốc gia đã tham gia hội thảo về bộ giáo trình. Họ không chỉ cũng cung cấp những thông tin đầu vào có giá trị, phục vụ nội dung của bài giảng, mà quan trọng hơn, họ đã trở thành những người ủng hộ việc truyền đạt bộ giáo trình trên đất nước mình, tạo ra kết quả là những thỏa thuận chính thức giữa APCICT và một số viện đối tác của các quốc gia và trong khu vực để cải tiến và phát hành bài giảng giáo trình chính thức cho đất nước họ. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt cho những nỗ lực cống hiến của nhiều cá nhân nổi bật, những người đã tạo nên thành quả cho bài giảng này. Họ là Shahid Akhtar Cố Vấn Dự án Giáo trình; Patricia Arinto, Biên tập; Christine, Quản lý xuất bản; toàn bộ tác giả bộ giáo trình; và những nhóm APCICT. Chúng tôi hy vọng rằng bộ giáo trình sẽ giúp các quốc gia thu hẹp được những hạn chế của nguồn nhân lực CNTT&TT, xóa bỏ những rào cản nhận thức về CNTT&TT, và xúc tiến ứng dụng CNTT&TT trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và đạt được mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ. Hyeun-Suk Rhee Giám đốc UN-APCICT 6 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  6. VỀ CHUỖI HỌC PHẦN Trong kỷ nguyên thông tin ngày nay, việc truy cập thông tin một cách dễ dàng đang làm thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và giải trí. Nền kinh tế số - còn được gọi là kinh tế tri thức, kinh tế mạng hay kinh tế mới, được mô tả như một sự chuyển tiếp từ sản xuất hàng hóa sang tạo lập ý tưởng. Công nghệ thông tin và truyền thông đang đóng một vai trò quan trọng và toàn diện trên mọi mặt của kinh tế xã hội. Như một kết quả, chính phủ trên khắp thế giới đang quan tâm nhiều hơn tới CNTT&TT trong sự phát triển quốc gia. Đối với các nước, phát triển CNTT&TT không chỉ phát triển về công nghiệp CNTT&TT là một lĩnh vực của nền kinh tế mà còn bao gồm cả việc ứng dụng CNTT&TT trong hoạt động kinh tế, xã hội và chính trị. Tuy nhiên, giữa những khó khăn mà chính phủ các nước phải đối mặt trong việc thi hành các chính sách CNTT&TT, những nhà lập pháp thường không nắm rõ về mặt công nghệ đang sử dụng cho sự phát triển quốc gia. Cho đến khi không thể điều chỉnh được những điều họ không hiểu, nhiều nhà lập pháp né tránh tạo lập các chính sách về CNTT&TT. Nhưng chỉ quan tâm tới công nghệ mà không tạo lập các chính sách thì cũng là một sai lầm vì những nhà công nghệ thường ít có kiến thức về thi hành những công nghệ họ đang phát triển hoặc sử dụng. Bộ giáo trình Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước do Trung tâm Đào tạo Phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Liên hợp quốc và Châu Á Thái Bình Dương (UN-APCICT) xây dựng nhằm phục vụ cho: 1. Các nhà hoạch định chính sách về CNTT&TT cả ở mức độ quốc gia và địa phương; 2. Quan chức chính phủ chịu trách nhiệm về phát triển và thi hành các ứng dụng của CNTT&TT; 3. Những nhà quản lý trong lĩnh vực công đang tìm kiếm chức danh quản lý dự án về CNTT&TT. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 7
  7. Bộ giáo trình hướng đến những vấn đề liên quan tới CNTT&TT phục vụ phát triển trên cả khía cạnh chính sách và công nghệ. Mục đích cốt yếu của giáo trình CNTT&TT không tập trung vào kỹ thuật mà truyền đạt sự hiểu biết về những điều công nghệ số có khả năng hoặc đang hướng tới, tác động tới như thế nào trong việc hoạch định chính sách. Các chủ đề trong bài giảng được thiết kế dựa trên phân tích nhu cầu và khảo sát những chương trình đào tạo trên khắp thế giới. Học phần được cấu tạo theo cách mà người học có thể tự học một cách độc lập hoặc bài giảng cho một khóa học. Học phần vừa mang tính chất riêng lẻ nhưng cũng liên kết với những chủ đề và tình huống thảo luận trong phần khác của chuỗi. Mục tiêu là tạo được sự thống nhất ở tất cả các phần. Mỗi phần bắt đầu với việc trình bày một chủ đề và kết quả mà người đọc sẽ thu được. Nội dung các phần được chia thành các mục bao gồm bài tập và tình huống để giúp hiểu sâu hơn những nội dung chính. Bài tập có thể được thực hiện bởi từng cá nhân hoặc một nhóm học viên. Biểu đồ và bảng biểu được cung cấp để minh họa những nội dung của buổi thảo luận. Tài liệu tham khảo được liệt kê để cho người đọc có thể tự tìm hiểu sâu hơn về bài giảng. Việc sử dụng CNTT&TT phục vụ phát triển rất đa dạng, trong một vài tình huống hoặc thí dụ ở bài giảng có thể xuất hiện những mâu thuẫn. Đây là điều đáng tiếc. Đó cũng là sự kích thích và thách thức của quá trình rèn luyện mới và cũng là triển vọng khi tất cả các nước bắt đầu khai thác tiềm năng của CNTT&TT như công cụ phát triển. Hỗ trợ chuỗi học phần còn có một phương thức học trực tuyến – Học viện ảo APCICT (AVA – – với phòng học ảo sẽ chiếu bản trình bày của người dạy dưới dạng video và Power Point của học phần. Ngoài ra, APCICT đã phát triển một kênh cho phát triển CNTT&TT (e-Co Hub – một địa chỉ trực tuyến dành cho những học viên phát triển CNTT&TT và những nhà lập pháp nâng cao kinh nghiệm học tập. E-Co Hub cho phép truy cập những kiến thức về các chủ đề khác nhau của phát triển CNTT&TT và cung cấp một giao diện chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, và hợp tác trong việc nâng cao CNTT&TT phục vụ phát triển. 8 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  8. HỌC PHẦN 1 Mối liên hệ giữa Công nghệ thông tin truyền thông và những thành tựu của Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ xuất hiện khi thì rõ ràng khi thì mờ nhạt tùy từng thời điểm. Tuy nhiên, mối liên hệ này đang tồn tại và chúng đáng được xây dựng và giải thích. Môđun này mời bạn đọc khám phá những quy mô khác nhau của các mối liên hệ thông qua nghiên cứu các trường hợp ứng dụng của Công nghệ thông tin truyền thông trong các ngành phát triển chủ chốt tại các nước Châu Á Thái Bình Dương. Môđun này cũng nêu bật các vấn đề chủ chốt và các điểm quyết định, từ chính sách đến thực hiện, trong việc sử dụng các ứng dụng Công nghệ thông tin truyền thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển. Mục tiêu là để thúc đẩy sự hiểu biết tốt hơn về cách làm thế nào để sử dụng Công nghệ thông tin truyền thông trong phát triển kinh tế xã hội, và để trang bị cho hoạch định chính sách và quản lý chương trình với sự định hướng phát triển trong khuôn khổ dựa trên Công nghệ thông tin truyền thông và được Công nghệ thông tin truyền thông hỗ trợ can thiệp trong nhiều lĩnh vực xã hội. Mục tiêu của học phần Học phần này nhằm mục tiêu: 1. Tranh luận trường hợp Công nghệ thông tin truyền thông phục vụ cho phát triển; 2. Mô tả mối quan hệ vĩ mô giữa các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và Công nghệ thông tin truyền thông 3. Tăng cường hiểu biết rõ hơn về cách sử dụng Công nghệ thông tin truyền thông để đạt được sự phát triển kinh tế xã hội; 4. Đưa ra khuôn khổ của sự phát triển theo định hướng dựa trên Công nghệ thông tin truyền thông và những dự án được Công nghệ thông tin truyền thông hỗ trợ và can thiệp trong nhiều lĩnh vực xã hội. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 9
  9. Kết quả thu được Sau khi nghiên cứu xong mô-đun này, độc giả sẽ có thể: 1. Đưa ra lý do cho việc sử dụng Công nghệ thông tin truyền thông để đạt được mục tiêu phát triển; 2. Trích dẫn và thảo luận về các ví dụ về ứng dụng Công nghệ thông tin truyền thông trong các lĩnh vực phát triển trọng điểm đặc biệt là xoá đói giảm nghèo, nông nghiệp, giáo dục, y tế, giới tính, chính phủ và quản trị, và thảm họa và quản lý rủi ro; 3. Thảo luận về những thách thức đối với việc sử dụng hiệu quả Công nghệ thông tin truyền thông nhằm mục đích phát triển; 4. Thảo luận về các yếu tố then chốt trong việc thiết kế và triển khai thực hiện Công nghệ thông tin truyền thông cho các dự án phát triển và các chương trình. 10 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  10. MỤC LỤC Lời giới thiệu 3 Lời tựa 5 Về chuỗi học phần . . 7 Học phần 1 . 9 Mục tiêu của học phần 9 Kết quả thu được 10 Danh mục các trường hợp nghiên cứu 12 Danh mục các hộp 12 Danh mục các hình 12 Danh mục các bảng 12 Danh mục từ viết tắt 13 1. Giới thiệu . 15 2. Các mục tiêu thiên niên kỷ và Công nghệ thông tin truyền thông: Bức tranh toàn cảnh 19 2.1 Giới thiệu tóm tắt các mục tiêu thiên niên kỷ 19 2.2 Công nghệ thông tin là gì và công nghệ thông tin có thể giúp chúng ta làm những gì? 27 2.3 Khắc phục khoảng cách về kỹ thuật số 33 3. Những ứng dụng của Công nghệ thông tin truyền thông đối với phát triển 47 3.1 Công nghệ thông tin và xóa đói giảm nghèo 48 3.2 Công nghệ thông tin truyền thông và giáo dục 58 3.3 Công nghệ thông tin truyền thông và bình giới đẳng 66 3.4 Công nghệ thông tin và y tế 72 3.5 Công nghệ thông tin truyền thông và việc quản lý nguồn tài nguyên tự nhiên . 79 3.6 Công nghệ thông tin và quản lý Chính phủ 84 3.7 Công nghệ thông tin truyền thông và hòa bình 90 4. Các yếu tố quan trọng trong việc sử dụng công nghệ thông tin truyền thông phục vụ cho mục tiêu phát triển 95 4.1 Chính sách công nghệ thông tin truyền thông phục vụ cho phát triển . 95 4.2 Xây dựng kế hoạch can thiệp công nghệ thông tin truyền thông phục vụ cho phát triển 100 Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 11
  11. Danh mục các trường hợp nghiên cứu 1. Trung tâm thông tin mạng, Mông cổ 41 2. Hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ: SIDS 44 3. Gỗ và máy tính: Dự án bản Nangi tại Nepall 45 4. Sáng kiến mạng Thread Hunza tại Pakistan 50 5. Công nghệ thông tin truyền thông và Đề án quốc gia của Ấn Độ cho việc bảo 51 lãnh việc làm ở nông thôn 6. Làng e-Choupal, Ấn Độ 54 7. Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương 56 8. Viện Đại học Mở quốc gia Ấn Độ 59 9. SchoolNet và Model truy cập Cộng đồng cho Nam Thái Bình Dương 60 10. Đại học ảo cho khu vực Thịnh vượng chung các quốc gia nhỏ (VUSSC) 62 11. Mạng People First ở quần đảo Solomon 63 12. Câu chuyện về dự án Điện thoại Grameen tại Bangladesh 68 13. Salaam Wanita, Malaysia 70 14. Y học từ xa ở Pakistan 75 15. Mạng truy cập y tế toàn cầu phục vụ nghiên cứu các sáng kiến 77 16. Hệ thống quản lý nội dung không gian địa lý Tikiwiki, tại các nước quần đảo ở Thái Bình Dương 80 17. Hệ thống cảnh báo sớm sóng thần cho Đông Nam Á 82 18. Cơ quan thuế trực tuyến của Mông Cổ 87 Danh mục các hộp Hộp 1. Các chỉ tiêu và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 20 Hộp 2. Hướng dẫn thực hành tốt cho việc sử dụng của công nghệ thông tin truyền thông phục vụ phát triển 101 Danh mục các hình Hình 1. Sự ưu tiên tại các quốc gia của Uỷ ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương 16 Danh mục các bảng Bảng 1. Sự phân loại các nước trong tiến bộ đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ 23 Bảng 2. Sự phân loại trong sử dụng công nghệ thông tin truyền thông hiện nay 28 Bảng 3. Điểm mạnh và điểm yếu của các công nghệ thông tin truyền thông khác nhau 29 Bảng 4. Mật độ sử dụng điện thoại ở các nước kém phát triển trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương 33 Bảng 5. Sự thâm nhập và sử dụng Internet trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương 36 Bảng 6. Cơ hội và lợi ích thu được từ việc ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông trong giáo dục 58 12 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  12. Danh mục từ viết tắt ADPC Trung tâm dự báo thiên tai Châu Á Asian Disaster Preparedness Centre AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải Acquired Immunodeficiency Syndrome APCICT Trung tâm đào tạo phát triển Công nghệ thông tin Truyền thông Châu Á- Thái Bình Dương Asian and Pacific Training Centre for Information and Communication Technology for Development APDIP Chương trình phát triển thông tin châu Á- Thái Bình Dương Asia-Pacific Development Information Programme ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asian Nations AusAID Cơ quan Phát triển Quốc tế của Úc Australian Agency for International Development AVA Học viện ảo APCICT APCICT Virtual Academy BPoA Chương trình hành động Barbados Barbados Programme of Action CENWOR Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ, Sri Lanka Centre for Women’s Research, Sri Lanka CD Đĩa compact Compact Disc COL Cộng đồng học tập Commonwealth of Learning DANIDA Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch Danish International Development Agency DVD Đầu kĩ thuật số Digital Video Disc ENRAP Mạng kiến thức Phát triển nông thôn ở Châu Á / Thái Bình Dương Knowledge Networking for Rural Development in Asia/Pacific Region ESCAP Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương Economic and Social Commission for Asia and the Pacific FM Tần số điều chế Frequency Modulation FOSS Phần mềm mã nguồn mở miễn phí Free and Open Source Software GeoCMS Hệ thống quản lí nội dung không gian địa lý Geospatial Content Management System GIS Hệ thống thông tin địa lý Geographic Information System HINARI Tiếp cận mạng y tế toàn cầu để nghiên cứu các sáng kiến Health InterNetwork Access to Research Initiative HIV Suy giảm miễn dịch virus của con người diệt Human Immunodeficiency Virus ICT Công nghệ thông tin truyền thông Information and Communication Technology Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 13
  13. ICTD Công nghệ thông tin truyền thông nhằm mục tiêu phát triển Information and Communication Technology for Development IDRC Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế, Canada International Development Research Centre, Canada IFAD Quỹ Phát triển Nông nghiệp quốc tế International Fund for Agricultural Development ISRO Tổ chức Nghiên cứu Vũ trụ Ấn Độ Indian Space Research Organization IT Công nghệ thông tin Information Technology KADO Tổ chức Phát triển Khu vực Karakoram Karakoram Area Development Organization LDC Quốc gia kém phát triển nhất Least Developed Country MDG Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Millennium Development Goal MIGIS Hệ thống thông tin địa lý tương tác trên Điện thoại di động của Trung Quốc Mobile Interactive Geographic Information System, China NFE Giáo dục không chính thức Non-Formal Education NGO Tổ chức phi chính phủ Non-Governmental Organization NIOS Viện đại học mở quốc gia Ấn Độ National Institute of Open Schooling, India NREGA Đạo luật bảo đảm việc làm ở nông thôn Ấn độ, năm 2005 National Rural Employment Guarantee Act, 2005 India OCHA Văn phòng Điều phối các hoạt động nhân đạo Office for the Coordination of Humanitarian Affairs OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển Organisation for Economic Co-operation and Development PFnet Mạng con người đầu tiên ở Quần đảo Solomon People First Network, Solomon Islands PIC Trung tâm Internet công cộng, Mông Cổ Public Internet Centre, Mongolia PPP Hợp tác công tư Public Private Partnership SARS Hội chứng hô hấp cấp tính nặng Severe Acute Respiratory Syndrome SIDS Các quốc gia quần đảo nhỏ đang phát triển Small Island Developing States SIDSNet Mạng tại các quốc gia quần đảo nhỏ đang phát triển Small Island Developing States Network SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ Small and Medium Enterprise WHO Dịch vụ tin nhắn ngắn Short Message Service 14 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  14. 1. GIỚI THIỆU Khu vực Châu Á Thái Bình Dương là nơi cư trú của ¼ dân số trên thế giới. So với phần còn lại của thế giới, khu vực này có tính đa dạng lớn nhất, với các nền văn minh cổ cũng như trẻ nhất, và bao gồm các quốc gia đông dân nhất trên lục địa châu Á cũng như các quốc gia thưa thớt xa xôi vùng hải đảo của Thái Bình Dương. Con người sống ở đây với các loại chủng tộc và tôn giáo khác nhau, bên cạnh sự giàu có vẫn còn tồn tại đói nghèo một cách đáng sợ. Trong khu vực này cũng tồn tại các nền kinh tế thế giới phát triển nhanh nhất cùng với các nước kém phát triển và các nước trong quá trình chuyển đổi. Do đó, thách thức phát triển mà khu vực châu Á Thái Bình Dương đặt ra cho nhà tài trợ trong cộng đồng toàn cầu, các cơ quan phát triển và các học viên là rất lớn. Không có một sự phù hợp cho tất cả các quốc gia và một giải pháp hoạt động thành công ở một nước nhưng cũng có thể thất bại ở nước khác trong khu vực. Vì lý do này có lẽ, nhu cầu quan trọng để phân đoạn các quốc gia trong khu vực trên cơ sở một số các thông số phổ biến và sau đó tìm cách giải quyết sáng tạo những thách thức của phát triển là cần thiết. Mục tiêu 13 và 14 của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) là trách nhiệm của cộng đồng toàn cầu với nhiệm vụ đặc biệt giải quyết các nhu cầu của các quốc gia quần đảo, quốc gia thuộc miền núi, các quốc gia kín trong lục địa và các quốc gia kém phát triển nhất. Uỷ ban Kinh tế và Xã hội của Liên hiệp quốc tại châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) cũng xác định mục tiêu cao tại các nước quần đảo đang phát triển ở Thái Bình Dương, các nước kém phát triển (LDC), các nước giáp biển và các nước có nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi. Mặc dù tính đa dạng của mình, các quốc gia với mục tiêu cao phải đối mặt với vấn đề thường gặp. Họ có diện tích và dân số nhỏ, thị trường nhỏ, con người, kĩ thuật và tài nguyên thiên nhiên có giới hạn. Các quốc gia quốc đảo và các cộng đồng miền núi xa xôi cũng phải tiếp xúc với sự thay đổi chính của môi trường như sóng thần và động đất. Về mặt chính trị, các quốc gia này ngày càng nhận thức được sự dễ bị tổn thương và sợ hãi của mình - họ có thể dễ dàng trở thành thứ yếu và phụ thuộc vào công nghệ, hệ thống, hàng hoá, dịch vụ và các tài liệu của các quốc gia lớn khác đã phát triển thành công. Đồng thời họ nhận ra rằng họ không đủ khả năng để bị loại ra khỏi dòng chảy chính của sự phát triển thế giới. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 15
  15. Hình 1. Sự ưu tiên tại các quốc gia của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương Do đó đặt ra nhu cầu là tìm cách tiếp cận mới và các giải pháp để giải quyết nhu cầu phát triển của các quốc gia có mục tiêu cao. Trong thời đại của xã hội tri thức, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông có thể đổi mới phương pháp tiếp cận và tìm ra những giải pháp vượt ra ngoài khả năng. Môđun này xem xét các vấn đề của sự phát triển ở quốc gia có mục tiêu cao thông qua lăng kính của ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông đặc biệt là máy tính và lướt web dựa trên công nghệ kĩ thuật số.1 Môđun tìm cách thiết lập liên hệ giữa các ứng dụng của công nghệ thông tin truyền thông và các thành tựu của mục tiêu thiên niên kỷ, và tranh luận cho việc áp dụng khôn ngoan và có ý nghĩa của công nghệ thông tin để phát triển các mục tiêu thiên niên kỷ. Những lưu ý lúc bắt đầu là rất quan trọng, tuy nhiên, không có cách nào khác là sử dụng công nghệ thông tin để giải quyết các mục tiêu thiên niên kỷ và mỗi nước phải xác định mục tiêu riêng, mục tiêu chung, chiến lược, con đường để thực hiện. Môđun này chỉ đơn giản là giới thiệu người đọc mối liên kết giữa các mục tiêu thiên niên kỷ và các chiến lược công nghệ thông tin truyền thông, và chỉ ra cách áp dụng các chiến lược nhằm đạt được hiệu quả hơn. 1 Công nghệ cũ hơn như đài phát thanh và truyền hình sẽ được thảo luận khi chúng được gắn kết với công nghệ kỹ thuật số. 16 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  16. Phần giới thiệu sau đây sẽ cung cấp tổng quan về các mục tiêu thiên niên kỷ và công nghệ thông tin truyền thông. Tiếp theo phần mô tả các ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông trong các lĩnh vực phát triển khác nhau. Việc thảo luận sự phát triển các lĩnh vực là riêng biệt, điều quan trọng cần lưu ý là các ứng dụng trong một lĩnh vực, ví dụ trong giáo dục, sẽ có lợi ích xoay quanh cho các ngành khác. Phần cuối cùng của mô-đun giúp hiểu rõ những thách thức lớn khi thực hiện chương trình và khi thực hiện dự án. Phần này đặc biệt quan trọng đối với những người tham gia vào các nhiệm vụ thực hiện dự án. Mô-đun này cung cấp một bối cảnh chung của các vấn đề được thảo luận. Do đó, trong khi một số người có thể sẽ thấy những thông tin mới, những người khác có thể thấy nó thô sơ. Ngoài ra nó còn có mục đích sư phạm, một số dự phòng được xây dựng trong mô-đun này là một phần, và trong loạt các môđun khác. Đây là bản chất của các trường này phức tạp, cùng một vấn đề có thể được khám phá từ những quan điểm khác nhau, điều này làm cho các trường hợp trở nên thách thức và thú vị hơn. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 17
  17. 18 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  18. 2. CÁC MỤC TIÊU THIÊN NIÊN KỶ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG: BỨC TRANH TOÀN CẢNH Phần này nhằm mục đích: • Đánh giá sự tiến bộ của khu vực đã đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ; • Mô tả các tính năng chính của công nghệ thông tin truyền thông; • Cung cấp tổng quan về cách sử dụng chiến lược công nghệ thông tin để giúp giải quyết các vấn đề của sự phát triển. 2.1 Giới thiệu tóm tắt các mục tiêu thiên niên kỷ Việc thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ vào năm 2000 và các mục tiêu thiên niên kỷ của tất cả 189 quốc gia thành viên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc là một bước ngoặt của sự hợp tác toàn cầu. Trong khi tầm quan trọng của phát triển con người đã được nhắc lại trong nhiều thập kỷ tại các diễn đàn khác nhau và hội nghị toàn cầu, đây là lần đầu tiên mà tất cả các bên liên quan - các quốc gia và các chính phủ, nhà tài trợ và các cơ quan phát triển, phi chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự - thừa nhận rằng trừ khi họ đạt đến được một sự hiểu biết và cam kết chung, nếu không mục tiêu phát triển công bằng sẽ không bao giờ đạt được. Ý nghĩa của các mục tiêu thiên niên kỷ Các Mục tiêu thiên niên kỷ (Hộp 1) là những chiến lược hỗ trợ rộng rãi nhất và cụ thể nhất để giảm đói nghèo mà các cộng đồng toàn cầu có liên quan đang nỗ lực đấu tranh. Đối với quốc tế, hệ thống bao gồm các nhà tài trợ và các cơ quan viện trợ kỹ thuật, các mục tiêu tạo thành một chương trình nghị sự chung hỗ trợ cho sự phát triển. Đối với các quốc gia, các mục tiêu thiên niên kỷ có nghĩa là một cam kết thỏa thuận quốc tế chống lại các tiêu chuẩn tối thiểu của sự phát triển mà hiệu suất của chúng sẽ được kiểm tra. Nếu các mục tiêu được đáp ứng, hơn một tỷ người sống trong nghèo đói sẽ có cuộc sống ý nghĩa hơn với tự do và nhân phẩm tốt hơn. Một trong số tám mục tiêu đều có chỉ tiêu cụ thể, tất cả đều quan trọng, các nước sẽ là một phần quan trọng của quá trình này nhằm đạt được các mục tiêu vào năm 2015. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 19
  19. Hộp 1. Các chỉ tiêu và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Mục tiêu 1: Xóa đói giảm nghèo Chỉ tiêu 1: Giảm một nửa tỷ lệ người dân có thu nhập ít hơn 1 USD một ngày giữa năm 1990 và 2015 Chỉ tiêu 2: Giảm một nửa tỷ lệ người dân bị đói giữa năm 1990 và 2015 Mục tiêu 2: Đạt phổ cập giáo dục tiểu học Chỉ tiêu 3: Đảm bảo rằng, vào năm 2015, trẻ em ở khắp mọi nơi, trai cũng như gái, sẽ có thể hoàn thành một khóa học hết tiểu học Mục tiêu 3: Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ Chỉ tiêu 4: Loại bỏ bất bình đẳng giới trong giáo dục tiểu học và trung học vào năm 2005 và trong tất cả các cấp học trước 2015 Mục tiêu 4: Giảm tỉ lệ trẻ tử vong Chỉ tiêu 5: Giảm 2/3 tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuôit giữa năm 1990 và 2015 Mục tiêu 5: Cải thiện sức khỏe bà mẹ Chỉ tiêu 6: Giảm 3/4 tỷ lệ tử vong bà mẹ giữa năm 1990 và 2015 Mục tiêu 6: Phòng chống HIV / AIDS, sốt rét và các bệnh khác Chỉ tiêu 7: Chặn đứng sự lây lan của HIV/ AIDS vào năm 2015 Chỉ tiêu 8: Chặn đứng vào năm 2015, và bắt đầu đẩy lùi tỷ lệ mắc bệnh sốt rét và các bệnh chính Mục tiêu 7: Đảm bảo tính bền vững môi trường Chỉ tiêu 9: Đưa các nguyên tắc phát triển bền vững vào các chính sách quốc gia và chương trình để làm thay đổi sự mất mát tài nguyên môi trường Chỉ tiêu 10: Giảm một nửa tỷ lệ người dân không được tiếp cận bền vững nguồn nước uống an toàn vào năm 2015 Chỉ tiêu 11: Đến năm 2020, đạt được một cải tiến đáng kể trong đời sống của ít nhất là 100 triệu cư dân khu ổ chuột Mục tiêu 8: Xây dựng quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển Chỉ tiêu 12: Xây dựng thêm một quy tắc mở dựa trên dự đoán, phân biệt đối xử trong thương mại và hệ thống Chỉ tiêu 13: Giải quyết các nhu cầu đặc biệt của các nước kém phát triển Chỉ tiêu 14: Giải quyết các nhu cầu đặc biệt của đất nước bị đóng kín và phát triển đảo nhỏ (thông qua Chương trình hành động vì sự phát triển bền vững của các quốc gia có đảo nhỏ và kết quả của khoá họp đặc biệt thứ 22 của Đại Hội đồng) Chỉ tiêu 15: Thỏa thuận toàn diện với các vấn đề nợ của các nước đang phát triển thông qua các quốc gia và các biện pháp quốc tế để làm cho vấn đề nợ bền vững trong dài hạn Chỉ tiêu 16: Hợp tác với các nước đang phát triển, phát triển và thực hiện chiến lược hợp khuôn khổ và năng suất làm việc cho thanh niên Chỉ tiêu 17: Hợp tác với các công ty dược phẩm, cung cấp giá cả phải chăng, thiết yếu đối với thuốc ở các nước đang phát triển Chỉ tiêu 18: Hợp tác với khu vực tư nhân, tuyên truyền vể lợi ích của công nghệ mới, đặc biệt là thông tin và truyền thông Nguồn: UNDP, Báo cáo phát triển con người ở khu vực - Thúc đẩy công nghệ thông tin truyền thông cho phát triển con người ở Châu Á: Nhận thức các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (New Delhi: UNDP, Elsevier, 2005), # rhdr. 20 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  20. Ngoài ra một phần của cam kết toàn cầu là chiến lược và kế hoạch hành động đòi hỏi các chương trình ở mức độ toàn cầu và cấp quốc gia được hỗ trợ bởi các hoạt động ở cấp khu vực. Ở cấp độ toàn cầu hệ thống Liên Hợp Quốc sẽ làm việc hướng tới việc đạt được các mục tiêu thông qua cốt lõi các yếu tố như theo dõi, phân tích chiến dịch, vận động, và các hoạt động đang trong quá trình thực hiện. Ở cấp quốc gia, điều quan trọng là có thể cho phép các khung chính sách, quan hệ đối tác, nghiên cứu và hoạt động mà các quốc gia theo đuổi thông qua đối thoại chính sách và quá trình định hướng thiết lập chiến lược quốc gia dự kiến trong các văn bản chiến lược giảm nghèo hoặc trong những kế hoach và chiến lược quốc gia tương tự. Sự phát triển của các mục tiêu thiên niên kỷ Từ năm 2004 đã có một số đánh giá giữa kỳ sự tiến bộ của toàn cầu và khu vực đáp ứng các mục tiêu ở các vùng khác nhau của thế giới. Đến năm 2007, mới được nửa thời gian xác định của 15 năm, tiếng chuông cảnh báo đã vang lên. Báo cáo Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 20072 cho thấy sự tiến bộ toàn cầu là không đồng đều và mặc dù một số lợi ích có thể nhìn thấy rõ và được phổ biến rộng rãi ngay cả trong khu vực, nơi những thách thức là lớn nhất, tuy nhiên phần lớn của thế giới sẽ bỏ lỡ các mục tiêu năm 2015. Báo cáo của các cơ quan quốc tế về Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ: Tiến bộ ở châu Á và Thái Bình Dương năm 20073 cho thấy việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ ở khu vực này có tiến bộ tốt hơn nhiều hơn vùng châu Phi cận Sahara, nhưng khu vực có 5 quốc gia đông dân nhất trên thế giới này (Bănglađét, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia và Pakíttan) vẫn là khu vực chiếm hơn 2/3 trong số những người sống ở nông thôn không có điều kiện vệ sinh cơ bản, với những đứa trẻ thiếu cân, và trong điều kiện nghèo đói, thiếu thốn. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương là bộ phận chủ yếu để đạt được đa số lớn các mục tiêu thiên niên kỷ vào năm 2015, như thể hiện trong Bảng 1. Mục tiêu giảm một nửa số người đói và nghèo, đạt phổ cập giáo dục tiểu học, và loại trừ sự chênh lệch giới tính ở mọi cấp giáo dục đang dần đạt được và khu vực cũng có thể đáp ứng các mục tiêu này. 2 United Nations, The Millennium Development Goals Report 2007 (New York: United Nations, 2007), http:// www.un.org/millenniumgoals/pdf/mdg2007.pdf. 3 ADB, ESCAP and UNDP, The Millennium Development Goals: Progress in Asia and the Pacific 2007 (Bangkok: ADB, ESCAP and UNDP, 2007), Report2007.pdf. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 21
  21. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh vẫn còn cao và tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS tiếp tục tăng. Môi trường suy thoái cũng là vấn đề đáng quan tâm. Bản báo cáo lập luận rằng để xem xét tiến độ thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ thì nhìn nhận một mình quốc gia đó là không đủ vì ngay cả những quốc gia đang đi đúng hướng để đạt được mục tiêu của họ vẫn có thể có mức đói nghèo và tỷ lệ tử vong trẻ em cao, trong khi các nước khác ngoài sự theo dõi có thể gần đạt được mục tiêu. Đối với điều này, cần có một cái nhìn toàn diện hơn về tiến độ tổng thể của mỗi nước. Mặc dù có những điểm tương đồng trên toàn khu vực châu Á Thái Bình Dương, sự tương phản trong mục tiêu của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á và Thái Bình đối với các quốc gia cần phải được xác định và mô tả (xem Bảng 1). Các nước kém phát triển vẫn có tỉ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em và bệnh lao cao. Các nước ở trung tâm châu Á đang có xu hướng đi chậm lại so với các mục tiêu liên quan đến sức khỏe và giảm tỷ lệ tử vong trẻ em . Tiến trình này cũng đang chậm trong việc cung cấp nước sạch và vệ sinh cơ bản. Khoảng cách về các con số gây khó khăn trong việc đánh giá tiến bộ trong các tiểu vùng Thái Bình Dương nhưng các mối lo ngại của khu vực tương tự như ở Trung Á. Trung Quốc và Ấn Độ đang cho thấy sự tiến bộ ấn tượng hướng tới đạt được các mục tiêu lớn nhưng có sự khác biệt trong nội bộ đất nước, với số lượng lớn người dân nghèo mà các chỉ số theo mục tiêu 1 đến 4 và mục tiêu 6 không đạt được. 22 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  22. Bảng 1. Sự phân loại các nước trong tiến bộ đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ (tiếp ) Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 23
  23. Bảng 1. Sự phân loại các nước trong tiến bộ đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ (tiếp) Nguồn: ADB, ESCAP and UNDP, The Millennium Development Goals: Progress in Asia and the Pacific 2007, (Bangkok: ADB, ESCAP and UNDP, 2007), 33, 24 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  24. Câu hỏi suy nghĩ 1. Các mục tiêu thiên niên kỷ chính mà quốc gia bạn đã được là gì? 2. Mục tiêu thiên niên kỷ nào quốc gia bạn gần đạt được? 3. Mục tiêu thiên niên kỷ nào quốc gia bạn có khả năng không đạt được? Vì sao? Những lý do của sự khác nhau lớn trong việc thực hiện của các quốc gia khác nhau ở châu Á Thái Bình Dương đối với việc đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ vào năm 2015 là đa dạng như chính bản thân các quốc gia này. Nói chung, cần thiết phải đầu tư công lớn hơn cho giáo dục và y tế. Ví dụ, chi tiêu công cho giáo dục vẫn còn rất thấp ở Nam Á và cho đến gần đây, khu vực công đầu tư vào y tế gần như không tồn tại ở Afghanistan. Nhiều quốc gia nhận được rất ít viện trợ quốc tế đặc biệt là bởi vì các nhà tài trợ đang ngày càng tính đến hiệu quả viện trợ gắn với sự phân bổ giúp đỡ của họ. Mặt khác, rất khó để tương quan những kết quả của xã hội với chi tiêu công, vì các mối quan hệ thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố xã hội khác. Một số quốc gia xếp hạng rất cao trong giáo dục nhưng lại xếp hạng thấp trong xoá đói giảm nghèo. Một số quốc gia khác có mức tăng trưởng cao nhưng nội bộ đất nước lại có sự chia rẽ bất bình đẳng. Do đó cần phải cẩn thận khi xem xét các chỉ số chung của phát triển con người như tuổi thọ khi sinh, tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ tổng tuyển sinh để phân tích mức độ phát triển và tiến bộ trong từng mục tiêu thiên niên kỷ. Từ các báo cáo tiến độ khu vực này còn nhiều việc phải làm nếu các chính phủ trong khu vực còn lo lắng về việc đưa ra các mục tiêu thiên niên kỷ. Điều rõ ràng là ngoài sự cần thiết phải tăng cường đầu tư trong các lĩnh vực xã hội, còn là nhu cầu đầu tư tốt đối với quản trị thực hành và triển khai các chiến lược khác nhau song song để đẩy nhanh tiến độ đối với việc đạt được các mục tiêu. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 25
  25. Báo cáo cuối cùng của các dự án thiên niên kỉ của Liên Hiệp quốc xác định 4 lý do tại sao các mục tiêu thiên niên kỷ không thể đạt được là: quản trị kém, tham nhũng, nghèo nàn trong lựa chọn chính sách và sự những quyền con người cơ bản không được thực hiện . Đôi khi bản thân các quốc gia nghèo là một vấn đề: một số địa phương và chính phủ của quốc gia đó quá nghèo để có những khoản đầu tư cần thiết. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo thế giới sẽ không tiếc công sức để giúp đồng bào, phụ nữ và trẻ em thoát khỏi tình trạng nghèo hèn và mất nhân tính do đói nghèo Tất cả hiến pháp của các quốc gia cũng tuyên bố cam kết để mang đến cho tất cả các công dân của họ một cuộc sống đàng hoàng và thoát khỏi đói nghèo. Mặc dù quá trình thay đổi tiến bước chậm, các chính phủ cam kế rằng những thay đổi này sẽ diễn ra một khoảng thời gian nhỏ nhất trong vòng 15 năm (2000-2015). Đây là lĩnh vực mà vai trò của công nghệ thông tin truyền thông trở nên quan trọng - công nghệ thông tin truyền thông được coi như là các công cụ mà chính phủ các nước có thể triển khai trong chương trình xoá đói giảm nghèo của họ để thúc đẩy tăng trưởng. Thật vậy, trong 10 năm qua, khả năng sử dụng hiệu quả máy tính và Internet đã trở thành một động lực chính thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng ở một số nước châu Á. Công nghệ thông tin truyền thông có thể được dùng để cải thiện và cung cấp dịch vụ công bằng, để tạo điều kiện cho những quá trình lập kế hoạch phức tạp và phối hợp các yếu tố, và để cho phép chia sẻ thông tin nhiều hơn, tiếp cận và giám sát các nỗ lực chính. Vấn đề thực hiện bám sát những nỗ lực trong các lĩnh vực xã hội trọng điểm ở các nước đang phát triển. Nhưng khi công nghệ thông tin truyền thông được sử dụng để tạo thuận lợi cho phương pháp tiếp cận thích hợp và hiệu quả các giải pháp mở rộng, quá trình thực hiện và tổng chi phí hoạt động có thể sẽ thấp hơn. Nhận thức được điều này, các nước trong khu vực đã nêu ra mong muốn để khai thác công nghệ thông tin truyền thông nhằm mục tiêu phát triển. Một số khu vực đầy hứa hẹn cho việc tích hợp công nghệ thông tin là việc cung cấp thuốc cứu bệnh, mở rộng quy mô của tiếp cận giáo dục và nâng cao đào tạo giáo viên, bổ sung mở rộng nông thôn bằng cách cung cấp một liên kết trực tiếp đến cộng đồng nông dân, và tạo ra những cảnh báo sớm và hệ thống giảm nhẹ thiên tai cho các vị trí địa lý nhạy cảm. Trong những khả năng này, không cường điệu tí nào khi nói rằng việc đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ gắn bó chặt chẽ với việc sử dụng công nghệ thông tin truyền thông và, vì những lý do này, sự hiểu biết công nghệ là bắt buộc. 26 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  26. Tiểu kết • Tiến trình đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ là không đồng đều. Trong khi ở một số quốc gia có thể nhìn thấy được rõ và lợi ích phổ biến của các tiến trình này và Châu Á Thái Bình Dương đang làm tốt hơn so với tiểu vùng Sahara ở châu Phi, các nước kém phát triển vẫn có tỉ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em cao nhất trong khu vực, tỷ lệ mắc bệnh lao và HIV/AIDS tiếp tục tăng, và khu vực đang đi ngược lại với sự bền vững. Có sự cách biệt lớn trong những con số ở các nước khu vực Thái Bình Dương và phân biệt lớn ở các nước đặc biệt là Ấn Độ và Trung quốc. • Cần có sự đầu tư công lớn hơn trong giáo dục và y tế. • Hệ thống quản trị nghèo nàn, sự lựa chọn chính sách nghèo, tham nhũng và không thực thi những quyền con người cơ bản là yếu tố cản trở tiến bộ nhanh chóng. • Công nghệ thông tin truyền thông có thể được sử dụng để tạo thuận lợi cho phương pháp tiếp cận tích hợp và hiệu quả của các giải pháp mở rộng trong các lĩnh vực quan trọng của phát triển, chẳng hạn như xoá đói giảm nghèo, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, quản lí nguồn tài nguyên tự nhiên và quản lí rủi ro do thiên tai. Điều cần thiết bây giờ là cần phải chuyển tử chỗ hiểu công nghệ thông tin truyền thông là gì cho đến làm thế nào để phát triển công nghệ thông tin truyền thông, hay nói cách khác, để hướng tới một sự hiểu biết hơn về các tính chất của công nghệ thông tin truyền thông và các điều kiện và bối cảnh giúp tối ưu trong việc sử dụng những công cụ chiến lược này. 2.2 Công nghệ thông tin là gì và công nghệ thông tin có thể giúp chúng ta làm những gì? Định nghĩa về công nghệ thông tin truyền thông rất khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và điều kiện sử dụng. Trong giới hạn thảo luận của môđun này, chúng tôi áp dụng các định nghĩa theo Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP): Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 27
  27. Công nghệ thông tin truyền thông là các công cụ xử lý thông tin cơ bản - là một chuỗi các sản phẩm đa dạng, các ứng dụng và dịch vụ được sử dụng để sản xuất, lưu trữ, xử lý, cung cấp và trao đổi thông tin. Chúng bao gồm các các công nghệ thông tin truyền thông đã cũ như đài phát thanh, truyền hình và điện thoại, và những công nghệ thông tin truyền thông mới như máy vi tính, vệ tinh và công nghệ không dây và mạng Internet. Những công cụ khác nhau hiện nay có thể làm việc cùng nhau, và kết hợp để tạo thành "Nối mạng thế giới"- một cơ sở hạ tầng lớn với sự kết nối dịch vụ điện thoại, tiêu chuẩn hóa phần cứng máy tính, mạng Internet, đài phát thanh và truyền hình đến tất cả các ngóc ngách của thế giới. Công nghệ thông tin truyền thông có thể được phân loại rộng rãi trong thế giới kỹ thuật số một cách đồng bộ và không đồng bộ. Dữ liệu được nhận theo một dòng liên tục trong khi đọc dữ liệu thông tin kỹ thuật số tương tự chỉ sử dụng những vùng riêng. Các chương trình truyền hình và đài phát thanh cũ, cũng như ghi máy chiếu phim là những thiết bị tương tự. Nhưng các phương tiện truyền thông đang nhanh chóng trở thành kỹ thuật số và vì vậy có thể dễ dàng được sử dụng với các thiết bị kỹ thuật số khác như đầu DVD. Máy tính có thể xử lý dữ liệu kỹ thuật số - đây là lí do mà tại sao ngày nay hầu hết thông tin được lưu trữ dưới dạng kỹ thuật số. Bảng 2 cho biết sự khác nhau trong sử dụng công nghệ thông tin truyền thông trên thế giới. Bảng 2. Sự phân loại trong sử dụng công nghệ thông tin truyền thông hiện nay 28 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  28. Điểm mạnh và điểm yếu Cả công nghệ kĩ thuật số cũ và mới đều thúc đẩy khả năng sử dụng cá nhân và có thể phục vụ nhu cầu đa thành phần, các chức năng và các nhóm người dùng. Nhưng có sự khác biệt lớn trong khả năng của chúng. Một sự lựa chọn khôn ngoan phụ thuộc vào sự hiểu biết về thế mạnh cũng như hạn chế của chúng được minh họa trong bảng 3. Bảng 3. Điểm mạnh, điểm yếu của các công nghệ thông tin truyền thông khác nhau Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 29
  29. Trong những thập kỷ trước đó, việc sử dụng các công nghệ cũ ( ví dụ là đài phát thanh và truyền hình) trong việc hỗ trợ các nỗ lực phát triển rất rộng rãi. Tiềm năng tiếp cận và dễ dàng truy cập là những ưu điểm để sử dụng đài phát thanh và truyền hình, và các nhà tài trợ và các cơ quan hỗ trợ kỹ thuật đã ủng hộ việc khai thác các công nghệ này. Một trong những thành công lâu nhất của ứng dụng tại Châu Á Thái Bình Dương là việc sử dụng vệ tinh dựa trên đài phát thanh và truyền hình cho giáo dục ở Đại học Nam Thái Bình Dương. Các ví dụ khác bao gồm các Đài phát thanh Diễn đàn nông thôn trong thập niên 1950, các thử nghiệm ở Ấn Độ với SITE những năm 1975-1976, Đài phát thanh truyền hình Đại học ở Trung Quốc . Mặc dù các mục tiêu cụ thể và các chiến lược thông qua đã được xác định bởi nhu cầu và điều kiện của địa phương, các dự án này hỗ trợ công nghệ thông tin theo một mẫu hình quen thuộc. Các nước sử dụng công nghệ mới nhất để vượt qua rào cản về cơ sở hạ tầng, khoảng cách nghèo đói, thiếu trường học và trường cao đẳng, và mù chữ. Mỗi nước thực hiện các khoản đầu tư lớn trong việc tạo ra mạng lưới công nghệ quốc gia và quốc tế, tạo điều kiện cho việc cung cấp các nội dung. Mỗi nước đầu tư vào phát triển nội dung, với các chuyên gia nội dung, giáo viên, nhà sản xuất và các nhà nghiên cứu liên kết với nhau trong các nhóm liên ngành để phát triển tài liệu giáo dục mà sẽ có liên quan đến các ưu tiên quốc gia và bối cảnh văn hóa xã hội. Để các phương pháp thành công, các chương trình này đã gặp phải một số vấn đề và thách thức. Chúng bao gồm các thách thức trong việc làm thế nào để làm giảm sự cứng nhắc áp đặt bởi một mô hình đồng bộ (đặc biệt, được xây dựng trong sự cứng nhắc của lịch truyền hình) và làm thế nào để tạo ra một sự cân bằng âm thanh giữa sức mạnh của hình ảnh trực quan truyền hình, đòi hỏi và kích thích trí tuệ hoạt động nhằm nghiên cứu, qua đó có động cơ thúc đẩy người học thực hành các hoạt động đó. Ngoài ra, các chương trình này phải giải quyết các vấn đề về quy hoạch tập trung và triển khai so với việc bảo đảm sự liên quan của địa phương và đáp ứng nhu cầu, yêu cầu của khu vực. Các chương trình này phải đối mặt với khó khăn thách thức về truy cập, sự bình đẳng và khả năng tương tác. Hơn nữa, một số chương trình đã vượt qua phạm vi của phát triển công nghệ đang nổi lên trong các cuộc cách mạng kỹ thuật số. Ngay cả khi chi phí công nghệ đã giảm, việc nâng cấp và thay thế các thiết bị lạc hậu vẫn là một bài toán đau đầu. 30 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  30. Ngày nay, tất cả những nỗ lực giáo dục công nghệ thông tin hỗ trợ có quy mô lớn đều sử dụng công nghệ kỹ thuật số để tăng cường truy cập đồng thời thúc đẩy tương tác giữa các học viên với nhau và giữa học viên và giáo viên, với chi phí thấp hơn. Như so sánh các điểm mạnh và điểm yếu của công nghệ thông tin truyền thông cũ và công nghệ thông tin truyền thông kĩ thuật số mới ở (Bảng 3), công nghệ thông tin truyền thông kĩ thuật số được so sánh như là những công cụ thông tin. Vì lý do này, sử dụng công nghệ thông tin truyền thông kĩ thuật số trong các nỗ lực nhằm đáp ứng những mục tiêu thiên niên kỷ cần phải được nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu tiến hành việc sử dụng công nghệ thông tin truyền thông trong phát triển đã ghi nhận cả thành công và thất bại. Các nghiên cứu cho thấy sự đa dạng của kinh nghiệm trong chính sách, quy hoạch, thiết kế, triển khai công nghệ được sử dụng trong bối cảnh khác nhau tại mỗi quốc gia. Nhưng trong những nghiên cứu này, so với công nghệ thông tin truyền thông cũ, công nghệ thông tin truyền thông kỹ thuật số được thay đổi khác nhau. Với những công nghệ cũ hơn như máy in, đài phát thanh và truyền hình, các hình thức, sản xuất quy định về nội dung và các phương pháp phát ra vẫn còn tập trung và lối mòn. Các công nghệ truyền thông kĩ thuật số mới có khả năng cởi mở hơn và có thể được sở hữu và điều hành bởi một nhóm cá nhân hoặc xã hội - tức là quyền sở hữu đã chuyển sang tay của người xử lý điều khiển từ xa hoặc bằng chuột hoặc điện thoại di động. Việc sử dụng các công nghệ là theo nhu cầu và mong muốn của mình và trong điều kiện một không gian riêng. Điều này đã dẫn đến sự đa dạng trong cả hai hình thức và nội dung, và khả năng nội địa hóa về ngôn ngữ, văn hóa, thiết kế, nội dung và sử dụng. Một xu hướng chính thúc đẩy việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số là sự hội tụ. Hội tụ là sự liên kết một cách liền mạch của công nghệ viễn thông với tất cả các phương tiện truyền thông, văn bản, âm thanh, đồ họa, hình ảnh động và video được phân phối trên một nền tảng phổ biến trong khi cho phép người dùng chọn bất kỳ sự kết hợp tương tác của các phương tiện truyền thông bất kì. Nó cũng có nghĩa là các kết nối mạng của tất cả các công nghệ khác nhau trong một hình thức mà khó có thể phân biệt với các hình thức khác: các công cụ viễn thông giống nhau - tức là điện thoại di động - ví dụ điện thoại di động có thể là kênh phát cho văn bản, âm thanh, video, e-mail, tin nhắn SMS và tìm kiếm trên Internet, từ người gửi đến người nhận, từ một điểm xuất xứ đến nhiều điểm tiếp nhận, và từ nhiều điểm để đến bất kỳ số lượng người nhận nào. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 31
  31. Tiểu kết • Cả công nghệ thông tin truyền thông cũ và mới đều là những công cụ quan trọng trong công tác phát triển. • Tuy nhiên, ngày càng có xu hướng sử dụng các công nghệ kỹ thuật số. • Sử dụng các công nghệ kỹ thuật số mới có lợi thế là khuếch tán và phân tán sản xuất và sở hữu được kích hoạt bởi sự hội tụ công nghệ. 32 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  32. Một vài điều cần làm Thành lập các nhóm nhỏ gồm 3-4 người mỗi nhóm và thảo luận sự kết hợp của công nghệ thông tin truyền thông cũ và mới nào sẽ hữu ích nhất cho việc cung cấp dịch vụ, và thúc đẩy sự tham gia lớn hơn của xã hội trong các nhóm dân số sau: a. Nông dân b. Phụ nữ ở nông thôn c. Trẻ em ở các vùng nông thôn xa d. Những người trẻ đã hết học Xác định một cách ngắn gọn các dịch vụ mà bạn nghĩ rằng nên đưa ra (ví dụ như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, tiếp cận với nguồn tài nguyên kiến thức), và giải thích lý do bạn chọn công nghệ thông tin truyền thông đó để đưa ra với nhóm dân số đã chọn. 2.3 Khắc phục khoảng cách về kỹ thuật số Trước khi xem xét các phần sau, cần xem xét số liệu thống kê về mật độ sử dụng điện thoại và sự thâm nhập của công nghệ thông tin truyền thông ở các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Bảng 4. Mật độ sử dụng điện thoại ở các nước kém phát triển trong khu vực Châu Á – TBD * Số liệu năm 2004 # Số liệu năm 2003 Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 33
  33. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương đại diện cho sự phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông rộng rãi với mật độ người sử dụng điện thoại (số lượng các đường dây điện thoại trên 100 người) khác nhau, từ nước cao là 53% tại Hồng Kông đến các nước có tỷ lệ ít hơn 1% ở một số các quốc gia Đông Nam Á (ví dụ như Bangladesh và Campuchia). Theo Uỷ ban về kinh tế và xã hội tại châu Á và khu vực Thái Bình Dương: Tại các nước kém phát triển kín trong lục địa (loại trừ Afghanistan vì thiếu dữ liệu), số lượng các đường dây điện thoại cố định trên mỗi 100 dân đã tăng 15,03% trong giai đoạn 1998-2003. Bhutan có đường dây cố định nhiều hơn đáng kể so với Nepal và nhiều hơn ba lần so với các đường dây điện thoại cố định của Lào. Điện thoại cố định tại 3 nước kém phát triển kín trong lục địa đã tăng cao hơn so với các nước kém phát triển trung bình. Bangladesh và Campuchia có tỷ lệ người sử dụng điện thoại thấp hơn một phần trăm, con số này là rất thấp so với các nước còn lại của khu vực. Tại quần đảo Solomon, tình hình trở nên tồi tệ trong giai đoạn 1998-2003 với số lượng đường dây điện thoại giảm 7%. Tỷ lệ tăng trung bình ở đây là 4,6%, với mức người sử dụng điện thoại trung bình là 3,27%. Đây là vùng có số người sử dụng điện thoại cao hơn ba nước kém phát triển với mức trung bình là 2,08 chủ yếu do thâm nhập rất thấp ở Nepal và Lào. Maldives xếp hạng với tỷ lệ cao là 10,2 và tăng 7,2% trong giai đoạn 1998-2003. Mật độ người sử dụng điện thoại tại các quốc gia kín trong lục địa mà không phải là nước kém phát triển là cao hơn đáng kể so với các nước kém phát triển, với trung bình là 8,79 trong năm 2003. Armenia, Azerbaijan và Kazakhstan có mật độ người sử dụng điện thoại tương đối cao khoảng 13% trong khi Tajikistan có tỷ lệ thấp nhất - 3,7%, mà là thấp hơn cả tỷ lệ của Maldives và Samoa, và cả nước kém phát triển. Ở Kyrgyzstan và Turkmenistan đã thấy sự giảm xuống, dẫn đến một sự gia tăng trung bình thấp cho toàn bộ nhóm là 18% trong giai đoạn 1998-2003. Đây cũng là con số thấp so với tỷ lệ trung bình trên thế giới là với sự tăng 5,2% trong cùng giai đoạn. 34 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  34. Số liệu về sự xâm nhập của điện thoại di động có chiều hướng hứa hẹn hơn. Các khu vực có thể tự hào về thị trường di động đang phát triển nhanh nhất ở Trung Quốc và Ấn Độ, có tỷ lệ thâm nhập cao nhất ở Trung Á, và các sáng kiến tiên phong tại Bangladesh. Afghanistan, nơi có mật độ người sử dụng điện thoại rất thấp - tỷ lệ thâm nhập di động là 15% (tính đến tháng năm năm 2007). Đối với việc sử dụng Internet (xem Bảng 5), Châu Á nơi chiếm hơn 2/3 dân số thế giới, lại chỉ chiếm 1/3 sử dụng toàn cầu. Hầu hết sự sử dụng này là tập trung trong các quốc gia phát triển của châu Á, như Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc và Singapore. Việc sử dụng Internet của Châu Đại Dương thậm chí còn nghèo hơn, chiếm 2% trong sử dụng toàn cầu, trong đó có Australia và New Zealand đã chiếm đến 96% . Ý nghĩa của những thống kê này là vô cùng quan trọng để tạo cơ sở hạ tầng và cung cấp kết nối ở mức giá phải chăng nếu các sáng kiến công nghệ thông tin truyền thông và sự cung cấp truyền thông tới các nước này được hoạch định và thực thi. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 35
  35. Bảng 5. Sự thâm nhập và sử dụng Internet trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương (tiếp ) 36 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  36. Bảng 5. Sự thâm nhập và sử dụng Internet trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương (tiếp) *Không bao gồm Trung Quốc Nguồn: Repurposed from Internet World Stats, “Asia Marketing Research, Internet Usage, Population Statistics and Information,” Miniwatts Marketing Group, Những bất bình đẳng và khoảng cách gây ra bởi sự phát triển không đồng đều của viễn thông và công nghệ thông tin truyền thông đã dẫn tới sự phân chia kỹ thuật số. Khoảng cách về kỹ thuật số thực sự là những khoảng trống. Sự phân chia công nghệ là sự phân chia khoảng cách lớn trong cơ sở hạ tầng và sự phân chia trong nội dung. Rất nhiều thông tin trên trang web chỉ đơn giản là không phù hợp với nhu cầu thực sự của người dân. Và gần 70% các trang web trên thế giới là bằng tiếng Anh, làm trở ngại tiếng nói và quan điểm địa phương. Vẫn tồn tại sự bất bình đẳng giới trong phụ nữ và trẻ em gái khi họ được hưởng ít hơn quyền truy cập công nghệ thông tin so với nam giới và trẻ em trai. Điều này vẫn xảy ra ở các nước giàu cũng như các nước nghèo. Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan Phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Xã hội Thông tin 10/12/2003, Geneva, Thụy Sỹ. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 37
  37. Thuật ngữ "khoảng cách về thuật số" được sử dụng để mô tả khoảng cách giữa các cá nhân và xã hội- giữa những người có nguồn lực để tham gia vào nền kinh tế tri thức và những người không có nguồn lực để tham gia . Về cơ bản đây là sự bất bình đẳng sâu sắc trong giới tính, thu nhập, và sự phát triển. Tờ The Economist đã chỉ ra, "Ngày càng ít người ở các nước nghèo có máy tính riêng và có thể truy cập Internet đơn giản chỉ vì họ quá nghèo, họ mù chữ, hoặc họ có mối quan tâm khác cấp bách hơn, chẳng hạn như thực phẩm, y tế và an ninh". Đồng thời, các sự phân chia về kỹ thuật cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại của bất bình đẳng xã hội. Theo Chen và Wellman, "Cá nhân, nhóm xã hội và các quốc gia không phát triển theo xu thế của công nghệ kĩ thuật số có thể bị loại trừ khỏi nền kinh tế tri thức. Nói cách khác, nếu sự bất bình đẳng tồn tại từ trước sẽ ngăn chặn con người sử dụng máy tính và Internet, những bất bình đẳng có thể tăng khi Internet trở thành công cụ hiệu quả trong tìm kiếm việc làm, tìm kiếm thông tin và tham gia vào các hoạt động dân sự hay kinh doanh. Vì vậy, giải quyết vấn đề phân chia về kỹ thuật số không đơn giản chỉ làm cho công nghệ thông tin có sẵn. Đây là cố gắng sử dụng công nghệ thông tin truyền thông để giải quyết và thu hẹp khoảng cách trong nhiều lĩnh vực hướng tới việc đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ. Sự phân chia kỹ thuật số tự nó sẽ không hết được. Cần phải có một chính sách phát triển bao quát tập trung vào các chiến lược xoá đói giảm nghèo rõ ràng và cho phép chính sách quốc gia về công nghệ thông tin truyền thông nhằm mục tiêu phát triển, là tiền đề để thành lập các cơ sở hạ tầng, tổ chức và là công cụ thu hẹp khoảng cách số và thúc đẩy tiếp cận phổ cập. Chiến lược đầu tư duy nhất cho cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông và bỏ qua các ưu tiên phát triển quan trọng có thể gây phản tác dụng. Nhiều quốc gia cần phải giải quyết khó khăn cơ bản hơn để phát triển kinh tế, chẳng hạn như cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản, mở cửa thị trường, phá vỡ sự độc quyền viễn thông, việc đưa ra một quy phạm pháp luật và chế định có hiệu quả là cần thiết. Các nước mà bỏ qua những vấn đề này mà chỉ tập trung vào tin học và truy cập Internet có thể sẽ lãng phí nguồn lực khan hiếm ví dụ như năng lực để tận dụng lợi thế của công nghệ thông tin vẫn còn chưa phát triển. Nói cách khác, những nỗ lực để giải quyết khoảng cách về kỹ thuật số cần phải được định hướng nhằm thúc đẩy tiếp cận phổ cập trong khi tạo ra cơ hội sử dụng công nghệ thông tin ở cấp độ cộng đồng. 38 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  38. Một vài điều cần làm Xác định ít nhất năm yếu tố chịu tác động của khoảng cách kỹ thuật số tại nước bạn. Đối với mỗi yếu tố, đưa ra danh sách chiến lược thông qua đó nhằm giải quyết vấn đề này. Tăng cường tiếp cận phổ cập Tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin truyền thông đang liên quan đến nhiều lĩnh vực, chính phủ ở các nước nghèo có thể tập trung hơn vào kênh nguồn lực khan hiếm về tài chính và chính trị để phát triển vốn xã hội và con người, xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản, và tạo ra một sân chơi bình đẳng cho khu vực tư nhân. Tham gia khu vực tư nhân không chỉ có thể tăng tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng mà còn làm giảm gánh nặng về kho bạc chính phủ, trong đó sẽ giúp chính phủ tập trung vào các khu vực cần đầu tư công nhiều nhất. Nói cách khác, chính phủ có vai trò tiên quyết khi đưa ra các điều kiện cho ngành công nghệ thông tin truyền thông phát triển. Đầu tư chính thức và không chính thức cho giáo dục là một ưu tiên. Bằng chứng quốc tế cho thấy rằng giáo dục là cần thiết cho việc đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ và điều này không chỉ đối với những người trực tiếp liên quan đến giáo dục. Tiếp cận vào trung học và giáo dục đại học cho phép phát triển nguồn nhân lực, mà lần lượt làm đổi mới và tăng trưởng quy mô rất lớn. Trong điều kiện cần giải quyết khoảng cách về kỹ thuật số, giáo dục là quan trọng bởi vì nó cung cấp các kỹ năng cần thiết để thích ứng và sử dụng công nghệ thông tin truyền thông. Thật vậy, giáo dục ngày càng trở nên quan trọng để sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông cơ bản. Một ưu tiên thứ ba là việc tạo ra các cơ sở hạ tầng vật lý trong các liên kết viễn thông. Sự đầu tư của chính phủ là cần thiết bởi vì kết nối những người nghèo nhất không nhất thiết phải thu hút họ đến với khu vực tư nhân – khu vực mà nhu cầu thị trường là một động lực quan trọng và chi phí cao trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn dễ gây ra nản chí. Ngay cả khi giả định rằng các khu vực tư nhân không ngại đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn, Chính phủ đã đóng vai trò bộ điều tiết, thiết lập các tiêu chuẩn, tạo ra một sân chơi bình đẳng, thúc đẩy nhiều hơn và thậm chí tăng trưởng thông qua bãi bỏ quy định. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 39
  39. Ở cấp độ cộng đồng, chính phủ có thể xem xét cơ hội để tạo cơ sở vật chất phục vụ chung và phục vụ những dịch vụ mở rộng có thể tiếp cận được và cung cấp truy cập cho địa phương. Hai việc làm này cần phải thực hiện song song. Cuối cùng nhà cung cấp cần phải tạo ra các cổng dữ liệu năng động, nơi những kiến thức phát triển cụ thể được lưu trữ và cập nhật. Cuối cùng người sử dụng, cần phải tạo ra những trung tâm điện thoại hoặc các kiốt có thể cho phép truy cập dễ dàng những kiến thức được lưu giữ trong các cổng đó. Sử dụng các trung tâm điện thoại Giống như việc sử dụng các thiết lập đài phát thanh cộng đồng và truyền hình cộng đồng trước đây, các bốt trung tâm điện thoại có thể là một nguồn tài nguyên chung của một làng - tức là một cơ sở đó sẽ đem lại lợi ích cho tất cả mọi người trong làng. Trung tâm điện thoại là các vị trí chiến lược cơ sở cung cấp truy cập công cộng với các dịch vụ và ứng dụng dựa trên công nghệ thông tin truyền thông. Tùy thuộc vào kích thước của chúng và mức độ của các dịch vụ được cung cấp, các trung tâm này thường được điều hành bởi một người quản lý và một số ít các nhân viên bán thời gian hoặc tình nguyện viên. Có rất nhiều loại trung tâm điện thoại. Ở một số nơi, trung tâm điện thoại có thể cung cấp dịch vụ đơn giản cơ bản như gọi điện thoại và dịch vụ fax, photocopy và in ấn, dịch vụ đánh máy, và có thể thực hiện sổ sách kế toán cho các doanh nghiệp rất nhỏ. Những trung tâm điện thoại đơn giản có rất nhiều tiềm năng giúp hoạt động thương mại thành công và phát triển thành nhiều trung tâm điện thoại có mục đích - nơi một loạt các dịch vụ có thể được cung cấp. Một số trung tâm điện thoại có thể là những tiệm cà phê nơi một người có thể vào và truy cập Internet. Đây cũng là những nơi tiềm năng rất tốt để phát triển thành trung tâm điện thoại đa mục đích cung cấp các dịch vụ cộng đồng có giá trị trong khi quá trình thương mại hóa đang diễn ra nhanh chóng. Ở những nơi khác có thể trung tâm điện thoại là "những cửa hàng thông tin", nơi mọi người có thể vào và thông tin truy cập về giá cả (ví dụ như phòng để biết thông tin về nông nghiệp). Mạng e-Choupal ở Ấn Độ là một trong những mạng được tài trợ bởi những nỗ lực của một công ty tư nhân. Một số các trung tâm này là các viện nhỏ một phần cung cấp, đào tạo sử dụng máy tính và xử lý văn bản, một phần cũng cung cấp dịch vụ truy cập Internet. Các trung tâm điện thoại khác cung cấp dịch vụ cho chính phủ, bao gồm cả truy cập thông tin của chính phủ như các hồ sơ tài sản và phương tiện thanh toán cho các khoản thuế và các hoá đơn. Những cơ sở chính phủ điện tử đang được thương mại hóa tại các làng có thể tiết kiệm rất nhiều thời gian, tiền bạc và năng lượng cho người dân. Một ví dụ về loại hình này là Trung tâm Thông tin Internet ở Mông Cổ. Có bốn trung tâm như vậy ở bốn tỉnh. 40 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  40. Trung tâm thông tin mạng, Mongolia Dự án này được triển khai trên 4 tỉnh: Erdenet, Khovd, Dornod, và Umnugovi trên 4 miền Bắc, Tây, Đông và Nam Mông Cổ. Trung tâm thông tin được biết đến với cái tên: Trung tâm mạng công cộng (Trung tâm thông tin mạng Mông cổ) cung cấp những cơ sở vật chất và dịch vụ dưới đây cho các thành viên và khách hàng: 6 máy tính, modem và các thiết bị liên quan, bộ truy cập 6 cổng, bộ kết nối Internet, thư điện tử, fax. Trang chủ và các trang web, dịch vụ điện thoại tại địa phương, trung tâm thông tin tại Erdenet và Dornod được kết nối Internet thông qua cổng vệ tinh băng rộng VSAT với tốc độ 64Kbps. Theo yêu cầu của nhà tài trợ dự án, Trung tâm thông tin mạng Mông cổ cung cấp dịch vụ Internet miễn phí cho các trường phổ thông, các cơ quan chính phủ tại địa phương và các tổ chức phi Chính phủ. Các trường phổ thông và các doanh nghiệp phải trả kinh phí truy cập Internet. Thư viện địa phương là một trong các thành viên của Hội đồng quản trị Trung tâm thông tin mạng Mông cổ. Trung tâm thông tin mạng Mông cổ cũng hợp tác chặt chẽ với cơ quan nhà nước tại địa phương vì đó là nơi cung cấp mặt bằng cho các Trung tâm thông tin mạng Mông cổ. Nguồn điện, việc kết nối, ngôn ngữ và sự thâm nhập của máy tính cũng nảy sinh nhiều vấn đề. Tuy nhiên, các trung tâm thông tin cũng hoạt động tốt và tạo được lòng tin. Đó là điều cảnh báo các cộng đồng liên quan về các vấn đề tiềm tàng của Internet đối với quá trình phát triển. Mặc dù tính ưu việt của nó là phục vụ quá trình dạy học và giao tiếp, nhưng cũng có những bằng chứng về những hậu quả của nó đối với sự phát triển nền tảng cộng đồng. Câu hỏi suy nghĩ Liệu một trung tâm thông tin giống như Trung tâm thông tin mạng Mông cổ có phù hợp ở nước bạn không? Tại sao? Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 41
  41. Một lời cảnh báo về trung tâm thông tin: Nó có vẻ như rất đơn giản nhưng cũng giống như những điều đơn giản khác: chỉ khi nào tất cả các lĩnh vực cùng hoạt động với nhau thì mới thành công. Có rất nhiều ví dụ về cả thất bại và thành công của các trung tâm thông tin. Nhiều mô hình thất bại tại các nước đang phát triển. Thất bại là do thiếu "bí quyết" và "cách làm" về: • Tài chính và sức chịu đựng: Thường bị thiếu kiến thức và kỹ năng trong việc nâng cao nguồn lực, kế hoạch quảng bá và kinh doanh và vấn đề giá cả. • Mô hình vận hành và sở hữu: Thiếu kiến thức và kĩ năng trong việc làm thế nào để thiết lập và vận hành trung tâm thông tin như một nguồn lực hữu ích cho cộng đồng • Nguồn nhân lực: Nhiều nhà quản lý và nhân viên của trung tâm thông tin không được trả lương tương xứng với công sức của họ. Các trung tâm này hoạt động chủ yếu dựa vào tình nguyện viên. Cả hai yếu tố này đều gây khó khăn cho việc thúc đẩy và giữ chân các nguồn nhân lực. • Đào tạo và nâng cao năng lực: Các nhà quản lý và nhân viên thường không được đào tạo cho các hoạt động chuyên ngành. Họ vật lộn với những khác biệt trong quản lý một trung tâm thông tin khi họ tìm tòi về các doanh nghiệp, quảng bá, huy động cộng đồng và thông tin liên lạc. Mặt khác, những trường hợp thành công đã chứng tỏ được rằng phải tính đến những điều kiễn dẫn tới thành công và thất bại, như nỗ lực của địa phương và các trung tâm thông tin để xây dựng website và các cổng thông tin thông qua dải hệ thống kỹ thuật số. Những trung tâm thông tin tại các cộng đồng nhỏ đã thành công tại cả những nước lớn và những nước nhỏ riêng biệt. Ví dụ như Úc và Canada đã kết nối được các cộng đồng từ xa với các dịch vụ của chính phủ thông qua các "trạm thông tin" và các ki-ốt tương tự. Đối với những quốc đảo nhỏ, quốc gia vùng vịnh hay vùng núi với dân số phân tán và tách biệt, các trung tâm thông tin có thể là minh chứng cho một chiến lược phát triển trung tâm có hỗ trợ của công nghệ thông tin truyền thông. 42 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  42. Một vài điều cần làm Thiết lập một kế hoạch xây dựng một trung tâm thông tin tại một địa phương trên đất nước của bạn, trung tâm sẽ cung cấp những trang thiết bị gì và áp dụng mô hình nào bền vững và phù hợp với địa phương đó. Tạo liên kết cho những quốc gia vùng núi, vùng vịnh và vùng đảo Những quốc gia nhỏ vùng núi, vùng vịnh và vùng đảo có nhiều đặc điểm chính giống nhau. Điều đầu tiên là những nước này có dân số thấp và nền kinh tế cũng nhỏ, thị trường nhỏ nguồn nhân lực, kỹ thuật thì hạn chế. Thứ hai, họ đều có khó khăn về khoảng cách: các phần của những quốc đảo nhỏ bị chia cắt bởi đại dương trong khi các quốc gia vùng núi thì có những ngọn núi không thể đi qua được. Tất cả những nước này đều có dân cư phân tán và đều khó khăn trong giao thông và vận tải với hệ thống thông tin liên lạc nghèo nàn. Thứ ba, tất cả những nước này đều phải chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, cơn lốc của toàn cầu hóa, tự do hóa và tư nhân hóa đang diễn ra như vũ bão trên thế giới. Một số nước trong nhóm này nằm giữa những quốc gia đầy quyền lực về chính trị và kinh tế và một số ít thì lại nằm trong đám tranh chấp thiểu số đe dọa phá hủy bất cứ thứ gì mà họ đã đạt được qua nhiều thập kỉ phát triển. Các quốc đảo bị ảnh hưởng nhiều của thảm họa môi trường ví dụ như nước biển dâng cao, các phương tiện kiếm sống suy giảm vì các nguồn tài nguyên giảm sút do độ mặn tăng, ô nhiễm nguồn nước, tràn dầu, và ô nhiễm hạt nhân; các nguồn bệnh nguy hiểm từ bên ngoài ví dụ như bệnh sốt rét, cúm; nguy hiểm về kỹ thuật như hỏng hóc vệ tinh và cáp. Các quốc gia vùng núi và vùng vịnh cũng có những vấn đề đặc biệt về nông nghiệp, sự cô lập, động đất, lở đất và những thảm họa khác. Không thể có giải pháp đơn lẻ cho những thách thức do vị trí địa lý và các phương pháp thông thường sẽ không được áp dụng. Những giải pháp ngoài luồng là cần thiết, như đối với các mối quan hệ trong khu vực. Hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ được ứng dụng các nguyên tắc hợp tác và hội tụ các cơ hội, lợi ích và công nghệ là minh chứng cho điều này. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 43
  43. Hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ: SIDS Hệ thống này được thiết lập vào năm 1997 theo chương trình hành động Barbados năm 1994. Mục tiêu ban đầu là hỗ trợ sự phát triển của các quốc đảo nhỏ thông qua công nghệ thông tin truyền thông. Hệ thống này phản ánh một vài thách thức quan trọng mà các quốc đảo nhỏ phải đối mặt như: (1) Sự phân tán, cô lập và tách biệt địa lý; (2) Hệ thống quản lý và liên lạc nghèo nàn; (3) Năng lực kĩ thuật và nhân lực hạn chế; và (4) Nhu cầu hỗ trợ quốc tế để giảm những bất cập về kinh tế, môi trường của các quốc đảo nhỏ. Nhờ có công nghệ thông tin truyền thông đã kết nối các vùng phân tán và bị tách biệt tới một cơ sở với kỹ thuật tinh thông, giáo dục và kiến thức nhằm nâng cao phúc lợi xã hội, giảm nghèo qua đổi mới, nâng cao năng lực quốc gia và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khan hiếm. Qua trang web của Hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ, các quốc gia được liên kết sẽ duy trì liên lạc với nhau để chia sẻ thông tin về lĩnh vực y tế, bảo tồn, giáo dục, nước sạch và vệ sinh an toàn, du lịch, phát triển nhân lực. Hệ thống này cũng tìm kiếm các cách thức thuận tiện hóa việc trao đổi lẫn nhau thông qua Chương trình hỗ trợ kĩ thuật SIDS, là chương trình hỗ trợ trực tuyến của các chuyên gia. Hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ cũng được đề nghị sử dụng như một cổng thông tin cho trường Công-xoc-xiom của một quốc đảo nhỏ và được tán thành tại Cuộc họp Quốc tế tại Mauritius 2005. Hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ là một chủ trương mạnh mẽ hướng tới phát triển ý thức và cơ sở vật chất về internet. Trong khu vực phục vụ, nó hoạt động như một công cụ truyền tải kĩ thuật cho các vùng miền Nam và hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ với nhau.Trong vấn đề chia sẻ hợp tác và hiểu biết, hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ thúc đẩy sự kết nối và thông tin giữa các thành viên qua hệ thống email và phòng trò chuyện nội bộ, ở đó họ có thể trao đổi thông tin và liên hệ với các chuyên gia. Hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ còn cung cấp lịch công tác và hoạt động sắp tới, cho phép chính phủ triển khai các kế hoạch một cách chiến lược với nhân lực hạn chế. Hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ tăng cường quản lý tìm kiếm và dữ liệu với vai trò là một cơ sở cung cấp thông tin cho công chúng trên đảo, tìm kiếm học thuật, nghị quyết, quyết định của Liên hợp quốc và các chỉ thị phát triển, cùng với các thống kê trong quốc gia và khu vực. Cuối cùng, hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ xây dựng ý thức về những thách thức trung tâm đang đè nặng lên sự phát triển của quốc đảo, do đó tăng cường thông tin của hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ trong vòng chính trị thế giới, điều ảnh hưởng tới dòng chảy của nguồn lực tài chính và hỗ trợ kỹ thuật. Nguồn: SIDS net, "về SIDS net", các phần phát triển của Liên hợp quốc 44 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  44. Câu hỏi suy nghĩ Một sáng kiến giống như hoạt động của hệ thống phát triển quốc đảo nhỏ dành cho các quốc gia vùng vịnh có thể tiến hành ở Trung Á không? Yếu tố chính của sự cộng tác này là gì? Trong khi một sáng kiến có hỗ trợ của công nghệ thông tin truyền thông yêu cầu sự can thiệp chính sách rộng rãi của Chính phủ, thì những kết quả ấn tượng qua hoạt động cộng đồng đơn lẻ có thể đạt được. Dự án tại bản Nangi – Nepal là một ví dụ. Gỗ và máy tính: Dự án bản Nangi tại Nepal Nangi là một bản với 800 dân và ở trên độ cao 7300m miền Tây Nepal, gần dãy Annapurna và Dhaulagiri của Himalayas. Hành trình tới bản này mất 6- 9 tiếng nếu đi từ thị trấn gần nhất, thị trấn Beni và phải leo qua vài bản và cánh rừng khác. Bản Nangi không có nhà máy nào. Dân ở đây đều là nông dân với công cụ lao động là những chiếc cày, bừa cán gỗ, lưỡi sắt, rìu, liềm, đục và búa. Không có bất cứ công cụ cơ động nào. Khoảng 10 năm trước, dưới sự lãnh đạo của Mahabir Pun, một giáo viên trong bản, Nangi bắt tay vào nỗ lực tận dụng internet. Ban đầu, máy tính được để trong hộp gỗ, một máy phát năng lượng hydro được khai thác và thông tin được kết nối thông qua mạng kết nối không dây nối với 4 bản khác và trung tâm internet tại Pokhara, một thành phố lớn cách đó khoảng 22 dặm từ trạm điện gần nhất. Một tá các điểm truy cập đã được kết nối với hệ thống ISP thông qua thiết bị bán sỉ từ nhà sản xuất. Sau 11 năm, Pun và dân bản đã xây một trường trung học (với một thư viện), một vườn thực vật, một phòng khám với máy quay kết nối trực tiếp tới Pokhara, một cơ sở sản xuất đồ gỗ, tiệm sản xuất giấy và máy may, một khu cắm trại cho trekker (gồm cả dịch vụ email), một trại nuôi cá và bò Tây tạng. Phòng máy tính gồm các thiết bị được tài trợ từ các nguồn khác nhau. Các liên kết sẵn có tới thế giới bên ngoài và tiếp cận các vấn đề của một nước đang phát triển đòi hỏi sự đầu tư lớn về cơ sở vật chất từ các chính phủ hoặc cơ quan viện trợ. Dự án trường học tại Bản Nangi chứng minh rằng những sáng kiến giá thành thấp có thể tạo nên khác biệt lớn. Các dự án nhỏ như Nangi thành công vì họ tập trung vào giải quyết các vấn đề địa phương và những tồn tại của địa phương với nhau bằng một chất xúc tác hoặc sự thay đổi tại địa phương đó. Nguồn: Ruth, Stephen và Jiwan Giri, “xác định lợi thế: một câu chuyện về thành công tại vùng núi Nepal,” Công nghệ thông tin tại nước đang phát triển, Tập 17, số. 3, tháng 2007: 7-10, Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 45
  45. Câu hỏi suy nghĩ Liệu một sáng kiến giống như dự án tại Bản Nangi có thể được mở rộng hoặc/và áp dụng lại không?Điều cần thiết để thành công là gì? Các yếu tố có thể tính tới khi áp dụng lại mô hình này? Tiểu kết • Khoảng cách về kỹ thuật số là khoảng cách giữa cá nhân và xã hội với sự tiếp cận các nguồn lực trong thời đại thông tin. • Những khoảng cách về kỹ thuật số là phản ánh của chênh lệch kinh tế và xã hội bao gồm cả thu nhập, giới tính và văn hóa. • Việc tập trung vào khoảng cách kỹ thuật số yêu cầu một viễn cảnh rộng lớn nằm trong phạm vi công nghệ thông tin. • Việc phát triển tiếp cận toàn cầu thông qua cơ sở kỹ thuật vật lý cũng như các dịch vụ thông thường khác hoặc các trung tâm thông tin trên mức độ cộng đồng là cần thiết. • Việc thiết lập các cổng và các kho thông tin cùng với việc xây dựng quan hệ hợp tác trong nước và trong khu vực để chia sẻ thông tin cũng cần thiết. Một vài điều cần làm Tiến hành liên tục những yêu cầu sau: 1. Thu thập thông tin thống kế vĩ mô về các mục tiêu thiên niên kỷ tại nước bạn theo những nguồn sẵn có 2. Thu thập thông tin thống kê về quá trình thâm nhập của công nghệ thông tin truyền thông ở nước bạn theo những nguồn sẵn có. 3. Những số liệu thống kê đó cho bạn thấy gì về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa khi ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông như một công cụ trong quá trình phát triển không ngừng? Liệu công nghệ thông tin truyền thông có thể được dùng như công cụ phát triển không? Phân tích theo khía cạnh chiến lược quốc gia 4. Chỉ rõ tổ chức nào hoặc tổ chức liên hiệp nào sẽ thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển công nghệ thông tin truyền thông tại nước bạn 5. Sẽ cần những gì đề đưa chính sách đó vào thực hiện? Lập kế hoạch nhiệm vụ và thời gian biểu. 46 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  46. 3. NHỮNG ỨNG DỤNG CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN Phần này nhằm mục đích: • Mô tả các ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là sự trực tiếp liên quan với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ; • Xác định các nguyên tắc thực hành tốt từ nghiên cứu trường hợp được lựa chọn với các ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông trong các lĩnh vực phát triển được ưu tiên. Công nghệ thông tin truyền thông được sử dụng rất nhiều, do tính chất của nó mà những ứng dụng rất đa ngành và đa hướng. Ví dụ, trong khi triển khai công nghệ thông tin truyền thông để giảm nghèo có thể tập trung vào việc cung cấp các cơ hội tạo ra thu nhập, nó cũng có thể giúp đưa phụ nữ vào trong các hoạt động kinh tế chính, do đó giải quyết được mục tiêu phát triển song song. Tuy nhiên, trong mục đích của cuộc thảo luận, phần này mô tả các ứng dụng khác nhau của công nghệ thông tin với tham chiếu đặc biệt đến vai trò của công nghệ thông tin truyền thông trong việc giúp đạt được mục tiêu phát triển cụ thể. Các mục tiêu được tách ra thành các lĩnh vực phát triển. Sự đề cập chính ở đây là có 2 cách tiếp cận đối với việc triển khai công nghệ thông tin truyền thông. Một là trực tiếp và hướng tới mục tiêu hưởng lợi cuối cùng và sử dụng công nghệ thông tin truyền thông để liên kết trực tiếp với các nhà cung cấp dịch vụ. Thứ hai là gián tiếp và hỗ trợ - tức là nó chỉ hướng tới các mục tiêu phát triển chính sách, cơ sở hạ tầng, hỗ trợ hệ thống và nội dung, và lần lượt sẽ đem lại lợi ích cho người hưởng lợi cuối cùng. Cả hai phương pháp này đều quan trọng đối với việc đạt được mục tiêu phát triển, nhưng mỗi một cách tiếp cận cần được lên kế hoạch khác nhau đối với từng chính sách, và ở các cấp thực hiện. Cần phải có nỗ lực để xem xét cả hai cách tiếp cận này, tuy nhiên phải đặt trong bối cảnh của từng mục tiêu thiên niên kỷ riêng lẻ. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 47
  47. 3.1 Công nghệ thông tin và xóa đói giảm nghèo Mục tiêu 1 - Xóa đói giảm nghèo Chỉ tiêu 1: Giảm một nửa tỷ lệ người dân có thu nhập dưới một đô la một ngày giai đoạn 1999-2005. Chỉ tiêu 2: Giảm một nửa tỷ lệ người dân bị đói giai đoạn 1900- 2015. Công nghệ thông tin truyền thông đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và có ảnh hưởng lớn đối với xoá đói giảm nghèo. Những quốc gia có mức độ phát triển kinh tế cao cũng là các quốc gia có tỷ lệ thâm nhập của công nghệ thông tin truyền thông cao. Bằng chứng là doanh nghiệp và công nghiệp được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng thông tin. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông và phát triển nguồn nhân lực đã làm tăng mức tăng trưởng cao ở các nước như Ấn Độ và Trung Quốc, chuyển đổi những nước này thành các nền kinh tế mạnh mẽ trong xã hội thông tin Tác động biến đổi của công nghệ thông tin truyền thông đã được nhìn thấy trong hầu hết các khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sử dụng công nghệ thông tin truyền thông, các doanh nghiệp nhỏ đã có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nội bộ bằng cách giảm chi phí liên quan với truyền thông nội bộ (qua phòng ban nội bộ) và giao tiếp bên ngoài với khách hàng; khám phá thị trường mới, phát triển một cơ sở khách hàng toàn cầu và tăng lượng nhu cầu; và cải thiện quản lý hàng tồn kho, giảm lãng phí và do đó tăng lợi nhuận. Mặc dù chính phủ đầu tư vào cơ sở hạ tầng truyền thông là cần thiết – đây là hình thức nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các ưu đãi tốt nhất mà các chính phủ có thể cung cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng công nghệ thông tin truyền thông để tăng năng suất nhằm loại bỏ khó khăn và tạo ra một môi trường thuận lợi thông qua việc đăng ký đơn giản và các yêu cầu pháp lí, cung cấp các kỹ năng kinh doanh và tài chính giáo dục, các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên kết tới các công ty lớn hơn và chấp nhận lợi nhuận về thuế. 48 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  48. Công nghiệp và sự tăng trưởng dẫn đầu ở ngành tư nhân được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin trong một số trường hợp cũng góp phần xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, người nghèo được hưởng lợi ít hơn từ loại hình phát triển này hơn những người giàu. Chính phủ cần phải giải quyết đói nghèo trực tiếp và không chỉ thông qua các can thiệp trong nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng dự đoán rằng cuối cùng sẽ đem lại lợi ích cho người nghèo. Nghèo đói cũng có rất nhiều khía cạnh bao gồm thiếu thu nhập cơ bản; không tiếp cận được với đất, tín dụng và dịch vụ; tình trạng đói thường xuyên, không có tiếp cận giáo dục cơ bản hoặc chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là cho trẻ em và bà mẹ; tỷ lệ tử vong cao và tuổi thọ thấp; nhiễm HIV/AIDS, sốt rét và bệnh lao; thiếu sinh kế bền vững và tiếp cận với việc làm cho những người trẻ tuổi; và dễ bị tổn thương với thiên tai và xung đột. Đối với tất cả các khía cạnh, sự can thiệp của công nghệ thông tin truyền thông một cách trực tiếp và gián tiếp - tức là sử dụng công nghệ thông tin để cung cấp dịch vụ cho người nghèo, và cung cấp nhiều hơn nữa các can thiệp hỗ trợ như sắp đặt các nguồn tài nguyên thiên nhiên – đây là bước quan trọng trong chiến lược xóa đói giảm nghèo. Mạng Thread Hunza là một sáng kiến địa phương tài trợ địa phương cho các vùng xa xôi hẻo lánh của Pakistan để cải thiện tiếp cận thị trường toàn cầu cho các máy dệt địa phương và các thương nhân, qua đó nâng cao năng suất, thu nhập của họ và chất lượng cuộc sống. Sáng kiến này đại diện cho cách tiếp cận trực tiếp của công nghệ thông tin được sử dụng để liên kết người nghèo với thị trường. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 49
  49. Sáng kiến mạng Thread Hunza tại Pakistan Tổ chức phát triển khu vực Karakoram (KADO) là tổ chức nhằm phát triển địa phương phi lợi nhuận, hoạt động để cải thiện các cơ sở kinh tế xã hội và điều kiện sống về thể chất và sự cô lập về kinh tế của dân số nông thôn ở thung lũng Hunza -Pakistan. KADO tập trung đặc biệt vào phụ nữ, nghệ nhân, nhà sản xuất nhỏ, và đặc biệt tập trung đối với những người thiệt thòi. Công việc của tổ chức này bao gồm: • Phát huy và làm hồi sinh những ngành nghề truyền thống liên quan đến phụ nữ và cá nhóm đối tượng thiệt thòi; • Sử dụng thông tin công nghệ để xoá đói nghèo và phát triển ở các vùng nông thôn; • Hồi sinh và phát huy lễ hội, nghệ thuật và văn hóa; • Phục hồi chức năng của những người có nhu cầu đặc biệt; • Xây dựng năng lực của các tổ chức địa phương; • Giải quyết các vấn đề môi trường ở Hunza. KADO gần đây đã hỗ trợ hai trung tâm đào tạo khả năng đọc viết trong làng nhằm cung cấp đào tạo các ứng dụng phần mềm cho phụ nữ nông thôn. Các trung tâm này đang được hoạt động trên một cơ sở chi phí trong quan hệ đối tác với các cộng đồng địa phương. KADO cũng đã bắt tay vào sáng kiến thương mại điện tử với hàng thủ công bằng cách phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC) Pan Asia Networking để quảng bá sản phẩm địa phương làm bởi phụ nữ và nghệ nhân khuyết tật. Theo dự án về Công nghệ Thông tin và Truyền thông nhằm mục tiêu phát triển, được tài trợ bởi IDRC, KADO còn cung cấp dịch vụ Internet. KADO tin có thể việc thúc đẩy sinh kế bền vững và xoá đói nghèo ở các vùng nông thôn thông qua nghiên cứu hành động trong ứng dụng và hội nhập của công nghệ thông tin truyền thông. Nguồn: Tổ chức phát triển khu vực Karakoram và mạng Thread Hunza, 50 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  50. Câu hỏi suy nghĩ Thread Net cung cấp một giải pháp sáng tạo cho các vấn đề địa phương. Tuy nhiên, nó phải đối mặt với nhiều vấn đề của sự can thiệp kỹ thuật số quy mô nhỏ, chẳng hạn như tính bền vững và khả năng mở rộng. Làm thế nào để dự án này tăng cường và bền vững? Điều quan trọng không kém để giải quyết các khía cạnh đa chiều của nghèo đói là việc tạo ra các hệ thống dựa trên hiệu quả công nghệ thông tin để hỗ trợ các chương trình công cộng lớn nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo. Một ví dụ là hệ thống SINAR của Malaysia, một cơ sở dữ liệu về người nghèo ở các thành phố được chứng minh rất hữu ích cho các chính phủ và các cơ quan nhà tài trợ trong nỗ lực cung cấp dịch vụ cho lĩnh vực này. Một ví dụ khác là việc sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin do chính phủ của bang Andhra Pradesh, Ấn Độ hỗ trợ một cam kết cung cấp việc làm cho vùng nông thôn nghèo ít nhất trong vòng 100 ngày kể từ ngày theo Đạo luật bảo đảm Việc làm cho vùng nông thôn (NREGA). Công nghệ thông tin truyền thông và Đề án quốc gia của Ấn Độ cho việc bảo lãnh việc làm ở nông thôn Ở bang Andhra Pradesh, Ấn Độ, công nghệ thông tin truyền thông đang được sử dụng hiệu quả trong việc đảm bảo việc làm ở nông thôn (NREGA) năm 2005, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là mang lại 100 ngày làm việc được trả công mỗi năm cho các vùng nông thôn. NREGA đảm bảo việc làm cho người nghèo nông thôn thông qua các dự án cơ sở hạ tầng nông thôn. Chương trình này phổ biến tại 13.000 làng ở 13 quận, huyện. Vấn đề tồn tại trong thực hiện chương trình bao gồm sự chậm trễ trong việc chuẩn bị dự toán của các kỹ sư, xu hướng phóng đại các số liệu, sự thiếu minh bạch trong việc chuẩn bị dự toán, không chuẩn bị trong dự toán có sự giám sát công chúng, không tính toán trước đối với vấn đề ngôn ngữ địa phương. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 51
  51. Để giải quyết những trở ngại này, chính phủ của Andhra Pradesh đặt máy tính tại 659 làng trung gian và sử dụng phần mềm phát triển đặc biệt để tạo ra thẻ công việc, báo cáo dự toán, đơn đặt hàng công việc ban đầu, đo lường, đơn đặt hàng và trả tiền lương phiếu. Các cổng Web tạo ra cho chương trình này cho phép bất cứ ai cũng có thể xem chi tiết của bất kỳ khía cạnh nào trong chương trình. Kết quả cho đến nay cho thấy hơn 4 triệu người nghèo được cấp thẻ công việc mà họ có thể tìm kiếm việc làm, và hơn 500.000 người nghèo đã được cung cấp các việc làm dưới sự chỉ đạo của NREGA. Tài khoản tiết kiệm cho những người sử dụng đã được mở và thanh toán trực tiếp cũng tại các tài khoản này nhằm loại bỏ tham nhũng. Hệ thống hiện nay cung cấp thông tin cập nhật không chỉ để hoạch định chính sách và nhân sự dự án cho người dân mà còn cho người nghèo và các cộng đồng làng theo Đạo luật bảo đảm Việc làm cho vùng nông thôn. Với sự giúp đỡ này, người nghèo có thể truy cập bất kỳ chương trình liên quan đến thông tin và tìm kiếm khắc phục những phiền muộn, từ đó đảm bảo trách nhiệm xã hội của chính phủ. Một số yếu tố đem đến cho sự thành công của sáng kiến NREGA, một trong số đó là môi trường chính sách pháp luật cho phép phù hợp, chính trị là một phần của nhà nước để thực hiện các biện pháp giảm nghèo, sự hợp tác giữa chính quyền bang và ngành công nghiệp Công nghệ thông tin, và sự hỗ trợ hệ thống quản lý chương trình và theo dõi có hiệu quả của người dân. Nguồn: Bảo đảm việc làm cho người dân vùng nông thôn- Andhra Pradesh, Vụ phát triển nông thôn, Chính phủ Andhra Pradesh, 52 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  52. Câu hỏi suy nghĩ Bạn có suy nghĩ gì về những hạn chế của chương trình NREGA? Bạn nghĩ những hạn chế này sẽ được giải quyết như thế nào? Có rất nhiều sáng kiến ở châu Á minh họa việc sử dụng công nghệ thông tin truyền thông để chứng minh mối liên kết quan trọng giữa cộng đồng nông thôn và các thị trường toàn cầu, và để cung cấp các thông tin cần thiết quản lý các chương trình xóa đói giảm nghèo (ví dụ lập bản đồ nghèo đói bằng cách sử dụng phần mềm thích hợp). Dẫn chứng từ những thí nghiệm này đã chỉ ra rằng hiệu quả sử dụng công nghệ thông tin truyền thông có thể giúp nông dân cải thiện canh tác của họ bằng cách giúp họ truy cập thông tin về nông nghiệp để biết thị trường đang phát triển như thế nào. Ví dụ, ở Việt Nam, các ngôi làng nghề như Bát Tràng và Hội An đã tạo ra trang web riêng của họ để quảng cáo cho sản phẩm của mình. Tại Ấn Độ, e- Choupal và các làng trung tâm đã thành công trong việc kết nối các làng nghèo đến các thị trường bên ngoài. Cả hai đều có những sáng kiến cụ thể nhắm mục tiêu theo nhu cầu của những người nghèo nhất. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 53
  53. Làng e-Choupal, India e-Choupal đã được thử nghiệm với công nghệ thông tin truyền thông, một công ty đa quốc gia đã giải quyết những thách thức đặt ra bởi các tính năng độc đáo của nông nghiệp Ấn Độ, như các trang trại bị phân mảnh, cơ sở hạ tầng yếu, và sự tham gia của nhiều giai đoạn trung gian. Dự án có sự pha trộn khôn ngoan và khả năng của những kiốt quản lý Internet của nông dân (gọi là sanchalaks) tự cho phép truy cập thông tin cộng đồng nông nghiệp bằng ngôn ngữ địa phương về thời tiết, giá cả thị trường, thực hành khoa học nông nghiệp và quản lý rủi ro. Các kiốt cũng giúp nông dân mua đầu vào trang trại và bán nông sản ngay trước cửa nhà riêng của nông dân, điều này làm giảm đáng kể chi phí giao dịch. Chất lượng đẳng cấp thế giới trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ là đảm bảo thông qua một số sản phẩm và dịch vụ quan hệ đối tác cụ thể với các nhà lãnh đạo trong các lĩnh vực có liên quan, bên cạnh công nghệ thông tin truyền thông. Trong khi lợi ích nông dân tăng lên thông qua nâng cao năng suất nông nghiệp và giá cả cao hơn, công nghệ thông tin truyền thông cũng đem lại lợi ích chi phí thấp hơn từ mạng mua sắm (mặc dù giá chào bán tốt hơn cho nông dân) do việc loại bỏ các chi phí trong chuỗi cung ứng mà không tăng thêm giá trị. Thực hiện từ tháng 6 năm 2000, dự án làng e-Choupal hiện nay là lớn nhất trong số tất cả các dự án can thiệp dựa trên Internet ở nông thôn Ấn Độ. Dịch vụ ở làng e-Choupal ngày hôm nay đã giúp người nông dân đạt hơn 3.500.000 loại cây trồng (đậu nành, cà phê, lúa mì, gạo, đậu, tôm) tại hơn 38.500 thôn, thông qua gần 6.500 kiốt trên chín tiểu bang (Madhya Pradesh, Haryana, Uttaranchal, Karnataka, Andhra Pradesh, Uttar Pradesh, Maharashtra, Rajasthan và Kerala). Những vấn đề gặp phải trong việc thiết lập và quản lý các làng điện tử Choupal liên quan chủ yếu đến bất cập cơ sở hạ tầng, bao gồm cung cấp điện, viễn thông và kết nối băng thông. Ngoài ra một thách thức nữa là làm thế nào để truyền đạt kỹ năng cho người sử dụng Internet lần đầu ở vùng sâu vùng xa và không thể tiếp cận của nông thôn Ấn Độ. Nguồn: Adapted from OneChoupal, “About e-Choupal,” ITC Limited, and “e-Choupal: Empowering Indian farmers,” ITC Limited, 54 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  54. Câu hỏi suy nghĩ Bạn nghĩ gì về những nhân tố đem đến thành công cho dự án ở làng Choupan? Liệu có thể phát triển một dự án tương tự ở nước bạn không? Giải thích tại sao phát triển được? Hoặc nếu không thể phát triển thì tại sao? Cũng như cung cấp hỗ trợ trực tiếp cho cộng đồng nông nghiệp là việc xây dựng hệ thống nông nghiệp, xây dựng năng lực trong nghiên cứu và mở rộng, và nâng cao kỹ năng và kiến thức cho các quan chức chính phủ và nông nghiệp làm việc đối với các mục tiêu thiên niên kỷ là rất quan trọng. Mạng kiến thức toàn cầu có sẵn cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương (ENRAP) là một trong những cổng duy nhất mà hỗ trợ cả chính phủ và các tổ chức nông nghiệp nhằm xây dựng năng lực cá nhân và thể chế trong nghiên cứu mở rộng nông nghiệp. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 55
  55. Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương ENRAP là sự hợp tác giữa Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD) và Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canada được thành lập để mang lại những lợi ích của việc truy cập và chia sẻ tài nguyên thông tin toàn cầu nhằm hỗ trợ các dự án Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp phát triển nông thôn trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Bây giờ nó đang ở giai đoạn thứ ba và sẽ tiếp tục hoạt động cho đến năm 2010. Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương phát triển kỹ năng trong việc tiếp cận, quản lý và chia sẻ kiến thức có liên quan cho các mục tiêu và thực hiện dự án của Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp. Người sử dụng tiềm năng của hệ thống chia sẻ các kiến thức bao gồm các cán bộ dự án và các đối tác của họ làm việc trực tiếp với các cộng đồng nông thôn và giúp đưa những kiến thức này trở thành có sẵn ở cấp sở. Dự án tìm kiếm cách thúc đẩy một nền văn hóa để chia sẻ kiến thức và học tập trong tất cả các bên liên quan của dự án Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp. Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương điều tra các chiến lược, quy trình, phương pháp và công nghệ để hỗ trợ giao thông nông thôn và mạng lưới kiến thức, và phát triển các khuyến nghị cho các hoạt động trong tương lai. Nó khởi xướng nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực kiến thức và ứng dụng mạng Internet tại địa phương, quốc gia và quốc tế. Phương pháp và giải pháp thực tiễn bồi dưỡng tham gia ở cấp cơ sở là một trọng tâm đặc biệt. Bản tin điện tử địa phương, thông tin thị trường nông nghiệp phổ biến và chia sẻ các thư viện điện tử là những ví dụ của Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương hỗ trợ các hoạt động. Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương bao gồm các nhóm được lựa chọn các dự án trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Các nước khác không nhận được hỗ trợ trực tiếp từ Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương có thể hưởng lợi từ tài liệu đào tạo miễn phí, tài liệu, cơ sở dữ liệu có sẵn trên trang web ENRAP ( kỹ thuật tư vấn và phân bổ không gian làm việc trên trang web Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương. Dự kiến trong tương lai tất cả các dự án Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp tại Châu Á Thái Bình Dương sẽ tham gia vào các hoạt động Mạng kiến thức cho Phát triển nông thôn tại Châu Á Thái Bình Dương và đóng góp vào hệ thống chia sẻ kiến thức. Nguồn: Adapted from IDRC, IFAD, "Knowledge Networking for Rural Development in Asia/Pacific Region," module=htmlpages&func=display&pid=5. 56 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước
  56. Câu hỏi suy nghĩ Những nguồn lực toàn cầu và tổ chức quốc tế nào đang giúp phát triển hệ thống nông nghiệp ở các quốc gia ? Bạn có biết bất kỳ tổ chức nào đang giúp đỡ phục vụ lợi ích của quốc gia / khu vực bạn không? Tiểu kết • Có đủ bằng chứng cho thấy rằng có sự kết nối trực tiếp giữa đầu tư vào công nghệ thông tin truyền thông và năng suất kinh tế. • Việc sử dụng công nghệ thông tin truyền thông của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được thể hiện tại kết quả trong cải tiến thực tiễn kinh doanh để giúp giảm chi phí giao dịch và thông tin liên lạc, hỗ trợ cho việc quản lý hàng tồn kho, và cung cấp truy cập đến các thị trường toàn cầu, do đó tăng năng suất và lợi nhuận. • Mặc dù tăng trưởng kinh tế không phải là một bảo đảm để giảm nghèo, nhưng nó là điều cần thiết cho duy trì xóa đói giảm nghèo về lâu dài. • Can thiệp Công nghệ thông tin truyền thông trực tiếp xoá đói giảm nghèo nhờ liên kết những người nghèo đến các thị trường và thị trường thông tin. • Can thiệp như vậy có thể dưới hình thức các chương trình của chính phủ, phi chính phủ can thiệp và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp các dự án của khu vực tư nhân. Một vài điều cần làm Hãy tìm các dự án phát triển ở nước bạn có mục tiêu cụ thể như (i) các doanh nghiệp vừa và nhỏ và (ii) các cộng đồng nghèo (ví dụ như các cộng đồng nghèo đô thị). Xác định vai trò của công nghệ thông tin truyền thông (nếu có) trong các dự án này. Học phần 1 Mối liên hệ giữa ứng dụng Công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa 57
  57. 3.2 Công nghệ thông tin truyền thông và giáo dục Mục tiêu 2 - Đạt được phổ cập giáo dục tiểu học Chỉ tiêu 3: Đảm bảo rằng đến năm 2015, trẻ em ở mọi nơi, trai cũng như gái sẽ hoàn thành bậc tiểu học Quyền được giáo dục tốt được công nhận là một quyền cơ bản, vì giáo dục là đầu vào quan trọng đảm bảo việc xoá bỏ đói nghèo và các hình thức bất bình đẳng trong xã hội. Tuy nhiên, bất bình đẳng xã hội và kinh tế đã tạo ra một tình huống mà đa số trẻ em trên thế giới không được thực hiện quyền cơ bản này. Đối với các nước đang phát triển, thách thức là làm thế nào để cung cấp chất lượng giáo dục cho tất cả các cấp khi đang đối mặt với sự khan hiếm các nguồn lực, mà trong lĩnh vực giáo dục được thể hiện trong tình trạng thiếu trầm trọng phòng học, sách giáo khoa và các giáo viên, và nhiều thứ khác nữa Công nghệ thông tin truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các thách thức này. Cụ thể hơn, công nghệ thông tin truyền thông có thể cung cấp cho các trường học nguồn lực, nâng cao chất lượng dạy và học, và nâng cao hiệu quả hành chính và giảng dạy (xem Bảng 6). Bảng 6. Cơ hội và lợi ích thu được từ việc ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông trong giáo dục Cơ hội Lợi ích Cơ hội tiếp cận tài liệu học tập Tài liệu học tập ở bất cứ đâu và có thể chất lượng cao, không phân biệt vị trí truy cập bất cứ lúc nào Kết nối người học Hợp tác học tập Tính tương tác Công nghệ thông tin truyền thông nối mạng cho phép sự tác động lẫn nhau giữa người học, giáo viên và học viên Không gian không hạn chế Khoàng cách, tình trạng bị cô lập không còn là yếu tố quyết định chất lượng hoặc chi phí học tập Quản lý học tập Việc tổ chức tuyển sinh, đánh giá, và chứng nhận có thể giảm chi phí quản lý giáo dục 58 Những kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin và Truyền thông cho Lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước